Dạng đề phân tích một đoạn trích văn xuôi / thơ: Lưu ý xác định vị trí của đoạn trích trong tổng thể tác phẩm; nhận ra giá trị biểu đạt nội dung trong mạch nội dung tư tưởng chung của [r]
Trang 1TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÔN TẬP THI HỌC KÌ II MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
1 Phương thức biểu đạt - Nhắc lại câu lệnh của đề khi trình bày câu trả lời
(lưu ý này dành cho tất cả những câu hỏi đọc hiểu khác)
- Có 6 phương thức biểu đạt, 6 thao tác lập luận, 6 phong cách ngôn ngữ, lưu ý tránh nhầm lẫn thuật ngữ
- Lưu ý yêu cầu của đề:
+ Xác định phương thức biểu đạt / thao tác lập luận
chính được sử dụng trong văn bản.
+ Xác định những phương thức biểu đạt / thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản
2 Thao tác lập luận
3 Phong cách ngôn ngữ
4 Kết cấu diễn đạt Móc xích, song hành, diễn dịch, quy nạp, tổng – phân
– hợp Bám vào câu chủ đề (ý chính của đoạn) để xác định
5 Xác định nội dung chính
của văn bản Để trả lời tốt dạng câu hỏi này cần lưu ý:- Xác định đề tài được đề cập đến trong văn bản
- Phân biệt sự khác biệt giữa chủ đề và đề tài
+ Đề tài: Đối tượng được bàn đến trong văn bản + Chủ đề: Đề tài đó được tác giả nhận định, đánh giá, bàn luận như thế nào?
Để đặt tên và khái quát nội dung của văn bản tốt cần diễn đạt các từ khóa có khả năng khái quát chủ đề văn bản
6 Đặt nhan đề cho văn bản
7 Nêu ý nghĩa / tác dụng
của biện pháp tu từ được
sử dụng trong văn bản
- Cần xác định từ ngữ / hình ảnh có sử dụng biện pháp tu từ trước khi nêu ý nghĩa / tác dụng
- Phân biệt giữa 2 khái niệm “ý nghĩa” và “tác dụng” + Tác dụng: góp phần làm tăng tính hình tượng của ngôn ngữ, làm cho văn bản sinh động, hấp dẫn
+ Ý nghĩa: giá trị biểu đạt của từ ngữ / hình ảnh tu từ được xác lập cụ thể trong văn cảnh
8 Trả lời câu hỏi logic
được đặt ra từ nội dung
văn bản
- Lưu ý câu lệnh:
+ Theo tinh thần văn bản, tại sao….? Học sinh sẽ bám sát mạch lập luận, diễn đạt của văn bản
+ Theo anh/chị, tại sao…? Học sinh dựa vào chính
Trang 2kiến, khả năng suy luận của bản thân để lí giải.
9 Hiểu nghĩa của từ / của
câu / đoạn văn bản
- Lưu ý: Nghĩa gốc / nghĩa chuyển
- Dựa vào văn cảnh để xác định
- Lưu ý đến đặc trưng thể loại của văn bản để có cách hiểu phù hợp (tự sự / trữ tình / nghị luận / thuyết minh / …)
10 Nhận diện hình ảnh / từ
ngữ trong việc việc thể
hiện một nội dung nào
đó của văn bản
Ví dụ: Xác định những hình ảnh / hình ảnh thể hiện
vẻ đẹp của quê hương Việt Nam trong đoạn thơ X
11 Những dạng câu hỏi
khác về ngữ pháp, kiểu
câu, phép liên kết…
HS xem chủ đề đọc hiểu Tiếng Việt
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
1 Viết đoạn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ (2.0 điểm)
- Lưu ý:
+ Vấn đề nghị luận thường được đặt ra từ văn bản của phần đọc hiểu
+ Yêu cầu của đề thường bám sát vào một khía cạnh cụ thể của đề tài Do vậy cần đọc kĩ yêu cầu của đề để xác định từ khóa Ví dụ: Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ của bản thân về tác hại của thói dối trá / hay về giá trị của sự khiêm
tốn Đề sẽ không yêu cầu học sinh bàn chung chung về thói dối trá hay sự khiêm tốn mà
chỉ định một khía cạnh cụ thể của vấn đề: tác hại hoặc giá trị, ý nghĩa…
- Cách thức triển khai:
+ Dẫn dắt giới thiệu vấn đề
+ Nêu ngắn gọn khái niệm / giải thích vấn đề
+ Triển khai nhiệm vụ trọng tâm: Bình bàn, mổ xẻ vấn đề xoay quanh từ khóa của đề Có
sự lí giải, vận dụng lí lẽ, dẫn chứng để trình bày quan điểm, đánh giá, nhận thức của bản thân về vấn đề
+ Phê phán
+ Đúc kết bài học nhận thức – hành động
2 Viết bài nghị luận văn học (5.0 điểm)
Những văn bản văn học HS cần lưu ý để ôn tập:
+ Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân
+ Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường
+ Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài
+ Vợ Nhặt – Kim Lân
+ Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành
+ Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi
+ Chiếc thuyền ngoài xa- Nguyễn Minh Châu
Trang 3- Các dạng đề:
+ Phân tích nhân vật / hình tượng văn học / một đoạn trích của văn bản / một yếu tố về
nội dung, nghệ thuật của văn bản (ví dụ: tình huống truyện trong Vợ nhặt, vẻ đẹp sử thi trong Rừng xà nu…) Ở dạng đề phân tích này, học sinh cần đọc kĩ câu lệnh có yêu cầu
định hướng vấn đề hay không hay chỉ phân tích chung chung về đề tài Nếu có định hướng, học sinh phải biết xác định khía cạnh được định hướng (của nhân vật, tác phẩm…) để quy nạp ý hướng đến giải quyết yêu cầu của đề
Dạng đề phân tích nhân vật: Lưu ý các phương diện từ ngoại hình, hành động – lời nói (tính cách), số phận… Tùy vào yêu cầu cụ thể của đề mà học sinh linh hoạt chú trọng, xoáy sâu vào khía cạnh nào đó của nhân vật (thường là tính cách, số phận)
Dạng đề phân tích tình huống truyện: Lưu ý xác định – gọi tên tình huống; phân tích giá trị - ý nghĩa của tình huống đối với việc xây dựng tính cách nhân vật cũng như thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện; từ đó góp phần thể hiện tư tưởng nhà văn
Dạng đề phân tích một đoạn trích văn xuôi / thơ: Lưu ý xác định vị trí của đoạn trích trong tổng thể tác phẩm; nhận ra giá trị biểu đạt nội dung trong mạch nội dung tư tưởng chung của toàn tác phẩm Cần nằm chắc nội dung – nghệ thuật chung của cả tác phẩm, từ đó nhận diện – xác định nội dung cụ thể của đoạn trích (đã góp phần thể hiện nội dung nào của tổng thể văn bản); lưu ý các đường nét nghệ thuật gắn với đặc trưng thể loại của văn bản
+ Phân tích, bình giảng để bàn luận, làm sáng tỏ một nhận định Lưu ý: giải thích nhận định; xác định phạm vi bàn luận của nhận định (nhân vật, tình huống, cho tiết…), chọn lọc các luận chứng – luận cứ để làm sáng tỏ nhận định, hoặc để trình bày nhận thức, quan điểm của bản thân về nhận định Cần có thao tác quy nạp vấn đề sau khi phân tích – chứng minh bàn luận…
+ So sánh (chi tiết – chi tiết / nhân vật – nhân vật…) Lưu ý chỉ ra sự giống và khác của hai đối tượng Khi so sánh cần phải có tiêu chí rõ ràng Ví dụ, khi so sánh nhân vật, phải cân nhắc đến số phận, xuất thân, tính cách, ứng xử trong cùng một tình huống…
III ĐỀ MINH HỌA
ĐỀ 1
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện theo yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
(1) Bấy lâu, ở Việt Nam, các bản báo cáo kinh tế định kì công bố rộng rãi thường chỉ nhắc đến GDP (gross domestic product - tổng sản phẩm quốc nội), là giá trị tính bằng tiền của tổng hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra trên lãnh thổ Việt Nam trong khoảng
Trang 4thời gian một năm Theo định nghĩa, những thứ do người nước ngoài tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam đều được gộp vào GDP của Việt Nam Chỉ số GDP lạnh lùng không cho biết bao nhiêu phần trăm trong số đó được dành cho người Việt.
(2) Trong khi đó, GNP (gross national product - tổng sản phẩm quốc dân) là tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ do người quốc tịch Việt Nam sản xuất ra trong một năm, ở cả trong và ngoài lãnh thổ nước mình Chỉ tiêu này sẽ cho biết rõ thu nhập bình quân trong một năm mà mỗi người Việt Nam được hưởng Song đã từ lâu lắm, những chỉ tiêu này không được nhắc đến trong các báo cáo định kì cũng như trong bản tin của giới truyền thông.
(3) Ở các nước phát triển, GDP và GNP thường cách nhau không xa Vì phần của nước ngoài sản xuất tại một nước nào đó cũng xấp xỉ với phần do dân nước đó sản xuất
ra ở nước ngoài, và người ta chuyển sang dùng GDP cho tiện lợi Nhưng đối với những nước đang phát triển như nước ta, đầu tư rất ít ra nước ngoài mà nhận rất nhiều đầu tư của nước ngoài như Việt Nam thì GNP bao giờ cũng thấp hơn GDP Đầu tư nước ngoài càng lớn thì khoảng cách GDP-GNP càng xa Và đối với nhân dân tăng trưởng GNP bao nhiêu phần trăm chắc chắn quan trọng hơn là tăng trưởng GDP bao nhiêu phần trăm.
(Theo Hải Văn, Không để chỉ số tăng trưởng GDP làm lạc
hướng chúng ta, báo điện tử Thanhnienonline, 23/11/2007)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt được vận dụng kết hợp trong văn
bản nghị luận trên
Câu 2 (0.5 điểm) Xác định thao tác nghị luận chính được sử dụng trong đoạn (3).
Câu 3 (1.0 điểm) Từ “lạnh lùng” trong đoạn (1) được hiểu ở nghĩa gốc hay nghĩa
chuyển? Nêu ý nghĩa biểu đạt của từ này trong ngữ cảnh đoạn (1)
Câu 4 (1.0 điểm) Dựa vào tinh thần văn bản, hãy giải thích tại sao không thể đánh
giá chất lượng cuộc sống mà người dân ở các nước đang phát triển được thụ hưởng từ chỉ
số GDP?
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về trách nhiệm của người trẻ đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Câu 2 (5.0 điểm) Phân tích hình tượng nhân vật Tnú trong tác phẩm của nhà văn
Nguyễn Trung Thành để làm bật vẻ đẹp của tuổi trẻ Việt Nàm thời chống Mĩ
Trang 5ĐỀ 2
I ĐỌC HIỂU (7.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện theo yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ cánh rừng xa
Trăng hồng như quả chín
Lửng lơ lên trước nhà
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kỳ
Trăng tròn như mắt cá
Chẳng bao giờ chớp mi
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi
Trăng bay như quả bóng
Bạn nào đá lên trời
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ lời mẹ ru Thương Cuội không được học
Hú gọi trâu đến giờ!
Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ đường hành quân Trăng soi chú bộ đội
Và soi vàng góc sân
Trăng ơi từ đâu đến?
Trăng đi khắp mọi miền Trăng ơi có nơi nào Sáng hơn đất nước em
(Trần Đăng Khoa, Góc sân và khoảng trời, NXB Văn hoc dân tộc, 1999)
Câu 1 (0.5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0.5 điểm) Văn bản trên sử dụng những phương thức biểu đạt nào?
Câu 3 (1.0 điểm) Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng xuyên suốt trong những
câu thơ “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng tròn như mắt cá”, “Trăng bay như quả
bóng”.
Câu 4 (1.0 điểm) Anh/chị hiểu thế nào về ý nghĩa của hai câu thơ: “Trăng ơi từ đâu đến /
Hay từ lời mẹ ru”?
II LÀM VĂN
Câu 1 (2.0 điểm) Từ ý nghĩa được gợi ra trong văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị
hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) với chủ đề: Ngay từ thời trẻ thơ, mỗi con người cần
phải có lòng tự hào dân tộc
Câu 2 (5.0 điểm) Bàn về truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân có ý kiến cho
rằng: “Nhà văn dùng “Vợ nhặt” để làm cái đòn bẩy nâng con người lên trong tình nhân
ái Câu chuyện Vợ nhặt đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng”
(Hoài Việt, Nhà văn trong nhà trường: Kim Lân, NXB Gáo dục, 1999,
tr.39)
Trang 6Phân tích hình tượng bà cụ Tứ để làm bật lên“những tia sáng ấm lòng” về “tình
nhân ái” của con người.
ĐỀ 3
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn thơ sau đây và thực hiện theo yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
(1) Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển Chữ S bao đời hình chiếc mỏ neo Neo lịch sử qua thăng trầm biến động Giữa khơi xa vẫn thong thả nhịp: “chèo”
(2) Nhà Giàn dựng những tán cây bằng thép Bốn mùa tươi – không thể héo lá cờ!
Chim biển đứng co chân nhìn người không chớp mắt Khay rau viền xanh mướt những tâm tư
(Trích Tổ quốc tôi ba nghìn cây
số biển – Nguyễn Ngọc Phú, Làng biển
Kim Đôi, 02/10/2011 Vietnamnet.vn)
Câu 1 (0.5 điểm) Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ gì?
Câu 2 (0.5 điểm) Trong khổ thơ (1), đất nước hình chữ S của ta được tác giả liên
tưởng đến hình ảnh gì?
Câu 3 (1.0 điểm) Nêu ý nghĩa của biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng trong câu
thơ: “Bốn mùa tươi – không thể héo lá cờ”.
Câu 4 (1.0 điểm) Hai câu thơ sau đã nêu bật vẻ đẹp gì của dân tộc Việt Nam qua
bao đời nay?
Neo lịch sử qua thăng trầm biến động
Giữa khơi xa vẫn thong thả nhịp: “chèo”
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ ý nghĩa được gợi ra trong đoạn thơ trên, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của anh/chị về trách nhiệm của tuổi trẻ Việt Nam đối với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc
Câu 2 (5.0 điểm)
Ở phần đầu của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa, hình ảnh của người đàn bà hàng chài trong mắt của nghệ sĩ Phùng được miêu tả trực tiếp như sau: “Một người đàn bà
trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch Mụ rỗ mặt Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”
Trang 7Kết thúc truyện ngắn này, hình ảnh của người đàn bà hàng chài lại hiện lên trong
tâm tưởng Phùng: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy
hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng nhìn thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vũng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phết có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng
vì kéo lưới suốt đêm”.
(Nguyễn Minh Châu, Ngữ Văn 12, Tập
hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.91 và tr.98) Phân tích sự thay đổi nhận thức của nghệ sĩ Phùng qua cách nhìn của anh về người đàn bà hàng chài, từ đó nêu bật quan niệm của Nguyễn Minh Châu về mối quan hệ giữa cuộc sống và nghệ thuật