Hoạt động giáo dục và đào tạo luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học, muốn nâng cao chất lượng đào tạo tất yếu phải xây dựng thư viện hiện đại như một lẽ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.32.02.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TSKH BÙI LOAN THÙY
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Cô PGS.TSKH Bùi Loan Thùy đã nhiệt
tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
“Triển khai mô hình thư viện đa năng tại Trường Đại học Cảnh sát nhân dân”
Xin cảm ơn Quý Thầy, Cô Khoa Thư viện Thông tin học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức khoa học, kinh nghiệm quý báu giúp tác giả hoàn thành khóa học và thực hiện đề tài của mình
Tác giả cũng chân thành cảm ơn Ban giám đốc và đồng nghiệp tại Trung tâm Lưu trữ và thư viện Trường Đại học Cảnh sát nhân dân đã tạo điều kiện giúp đỡ cũng như cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết giúp tác giả hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh, động viên tác giả trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, bảng biểu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa công bố ở công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Mỹ Hương
Trang 57 LT & TV Lưu trữ và Thư viện
8 NCKH Nghiên cứu khoa học
9 TNTT Tài nguyên thông tin
Trang 61.3 Cơ sở pháp lý về hoạt động của thư viện trường đại học 17 1.4 Một số mô hình thư viện đa năng của các trường đại học
1.4.1 Không gian học tập mở trong nước
Thư viện Beanland & không gian học tập mở tại Trường Đại học RMIT Việt nam
23
1.4.2.1 Không gian học tập mở Chevalier tại Đại học Khoa học và
1.4.2.2 Không gian học tập mở tại thư viện trường Đại học quốc
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN ĐA NĂNG
2.1 Sơ lược lịch sử hình thành và chức năng nhiệm vụ của
2.1.1 Lịch sử hình thành trường đại học Cảnh sát nhân dân 36 2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của trường đại học cảnh sát nhân dân 37 2.2 Sơ lược lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ
2.2.1 Sơ lược lịch sử hình thành trung tâm lưu trữ và thư viện 40 2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của trung tâm Lưu trữ và Thư viện 41
2.3 Đề án xây dựng thư viện đa năng tại trường đại học cảnh
sát nhân dân – Quá trình triển khai và thực trạng hoạt
Trang 72.3.1 Giới thiệu đề án xây dựng mô hình Thư viện đa năng tại
2.3.2 Quá trình triển khai đề án xây dựng mô hình thư viện đa
năng tại trường đại học cảnh sát nhân dân 54 2.3.2.1 Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 – triển khai mô
2.3.2.2 Nhận xét, đánh giá về tình hình triển khai thư viện đa năng
2.3.2.3 Giai đoạn từ năm 2013-2017 – Triển khai mô hình thư
2.3.2.4 Đánh giá, nhận xét về hiện trạng hoạt động của trung tâm
2.4 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng thư viện đa năng của
sinh viên trường đại học Cảnh sát nhân dân 65
CHƯƠNG 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG THƯ VIỆN ĐA NĂNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
3.1 Định hướng phát triển thư viện trong các trường đại học
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện
3.2.1.1 Hoàn thiện các dịch vụ của đề án thư viện đa năng 81
3.2.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện 89 3.2.2.2 Cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị thư viện 92 3.2.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên thông tin 92 3.2.2.4 Tổ chức các hoạt động thu hút người sử dụng 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chất lượng giáo dục đại học luôn gắn chặt với chất lượng của đội ngũ cán bộ, giảng viên, sinh viên và được quyết định bởi các nhân tố như chương trình đào tạo, phương thức
đào tạo và cơ sở vật chất trong đó có thư viện
Thư viện là một bộ phận hợp thành của trường đại học, là nhân tố không thể thiếu trong quá trình đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của một trường Hoạt động giáo dục và đào tạo luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và nghiên cứu khoa học, muốn nâng cao chất lượng đào tạo tất yếu phải xây dựng thư viện hiện đại như một lẽ tự nhiên bởi xét đến cùng, chỉ có thư viện – với nguồn tài nguyên thông tin khổng lồ và dịch vụ hoàn hảo của mình – mới đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên.[33,34,47,56,58]
Sứ mệnh của thư viện các trường đại học luôn song hành với sứ mệnh và mục tiêu của nhà trường Giáo dục đại học Việt nam hiện nay yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy – lấy người học làm trung tâm, nâng cao năng lực tự học và học tập suốt đời của người học Trong xu thế đó, các thư viện ĐH cũng phải thay đổi một cách tích cực để để tiếp tục khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp giáo dục Ở Việt nam, trong hơn một thập niên gần đây, thư viện các trường đại học đã được đầu tư phát triển khá nhanh về cả cơ sở vật chất lẫn các loại hình dịch vụ tiện ích theo các mô hình thư viện đại học hiện đại trên thế giới.[32,36,72]
Hệ thống các trường đại học thuộc lực lượng vũ trang nhân dân nhiều trường cũng
đã có những đầu tư thích đáng cho thư viện kể cả về cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật cũng như gia tăng về số lượng và chất lượng các sản phẩm và dịch vụ thông tin để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và học tập của cán bộ giảng viên và sinh viên Nổi bật lên trong số đó là thư viện của Học viện kỹ thuật quân sự và thư viện của Học viện Cảnh sát nhân dân.[31,38,39]
Từ năm 2007, được sự quan tâm của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường thư viện trường đại học Cảnh sát nhân dân được xây dựng một dự án thư viện mới với tên gọi “Thư viện đa năng trường đại học cảnh sát nhân dân” Mục đích xây dựng thư viện là:1) để phục
vụ tốt yêu cầu giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập của giảng viên và sinh viên nhà trường, góp phần phấn đấu thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của trường là: đào tạo nguồn nhân
Trang 9lực cho lực lượng cảnh sát nhân dân (CSND) của các tỉnh, thành đơn vị phía nam có trình
độ nghiệp vụ chuyên sâu và nắm bắt trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến: đạt các tiêu chí đào tạo người cảnh sát nhân dân có trình độ chính trị, nắm vững pháp luật, giỏi về nghiệp
vụ và thành thạo về ngoại ngữ tin học; 2) Xây dựng một thư viện Đa năng hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm các điều kiện cần thiết để xây dựng trường CSND thành một trung tâm nghiên cứu khoa học của lực lượng CSND ở phía Nam, có hướng phát triển
và khả năng hội nhập với khu vực và quốc tế.[17]
Mặc dù, được triển khai từ năm 2007, với mô hình được phác thảo hoàn chỉnh trên văn bản, nhưng do những khó khăn khách quan xảy ra khi năm 2007 trường bắt đầu chuyển trụ sở hoạt động từ cơ sở Thủ Đức sang cơ sở Quận 7 vẫn duy trì hoạt động ở cả hai cơ sở, kèm theo tình trạng ngắt quãng, chậm cấp kinh phí của Bộ Công an dành cho việc đầu tư cơ sở vật chất và trụ sở mới, nguồn nhân lực cũng không được bổ sung thêm…trở thành những nguyên nhân làm hạn chế khả năng thực hiện đề án thư viện đa năng trong thực tế và cho đến nay mô hình này vẫn đang được nhà trường xem xét triển khai theo tình hình thực tế của nhà trường
Trong đề án công tác năm học mỗi năm, nhiệm vụ xây dựng một thư viện đa năng hiện đại vẫn đang là một trong những nhiệm vụ được nhà trường quan tâm trong nhiệm vụ công tác năm học hàng năm Vì vậy, việc tìm hiểu những ưu khuyết điểm của mô hình thư viện đa năng đã được đề ra; xem xét, phân tích tính phù hợp, đầy đủ của các chức năng đã
có trong đề án cũng như hiệu quả của việc áp dụng mô hình này trong thực tiễn của trường
hiện nay là một nhiệm vụ cần thiết Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Triển khai mô
hình thư viện đa năng tại trường đại học Cảnh sát nhân dân” làm đề tài nghiên cứu
luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cải tiến chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ/chức năng của thư viện đại học đáp ứng nhu cầu học tập và giảng dạy đã được nhiều thư viện đại học trên giới tiến hành từ những năm 1990 và đã đem lại những thành công nhất định Khoảng hơn một thập niên trở lại đây, các thư viện đại học cũng bắt đầu có sự vận dụng thành tựu này vào trong hoạt động của thư viện Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo những tài liệu sau đây để có cái nhìn tổng quan về tình tình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Những nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của Nicole Kay Peterson (2013) “The developing role of the university
Trang 10library as a student learning commons: Implications to the interior spaces within” Công
trình nghiên cứu chỉ ra rằng Thư viện đại học phát triển thành trung tâm học tập và thực sự trở thành trung tâm của khuôn viên trường đại học Thư viện không phải là nhà, nơi làm việc mà là nơi để sinh viên học tập và hoạt động xã hội Theo xu hướng thiết kế và cải tạo, thư viện gần đây tập trung chủ yếu vào việc chuyển thư viện thành không gian mở Nơi một trong những vai trò của thư viện được thiết kế thành quán café, khu vực hợp tác để tụ họp và tương tác, các không gian mở rộng lớn thay cho phòng nghiên cứu nhỏ Nghiên cứu khảo sát không gian thư viện thu hút người sử dụng và cách họ sử dụng thư viện Các phân tích được sử dụng để chỉ ra cách sinh viên sử dụng không gian nghiên cứu trong thư viện
và làm thế nào để các không gian nội thất của thư viện được thiết kế đáp ứng hành vi và sở thích của sinh viên.[67]
Đề tài “The relationship between academic library usage and perceived personal
performance in Kuwait” của Awadh Alharbi do Đại học Công nghệ Queensland cấp bằng
năm 2012, nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc sử dụng thư viện đại học và khả năng nhận thức của sinh viên ở Kuwait Qua khảo sát nhận thức của ba nhóm NDT trong thư viện đại học Kuwait: nhóm sinh viên trả lời có sự cải thiện điểm số nhờ việc sử dụng thư viện; nhóm nghiên cứu và nhà quản lý cung cấp cái nhìn sâu sắc, tích cực vào chất lượng của thư viện Đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình có thể áp dụng cho bất kỳ thư viện đại học là thư viện đại học cần cung cấp không gian sinh hoạt cho sinh viên, nhóm nghiên cứu giống như các hoạt động xã hội Bên cạnh đó, sử dụng quan điểm
“thư viện cải thiện hiệu suất nhận thức của cá nhân” để phát triển các dịch vụ thư viện và tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả người sử dụng Những cải tiến này có thể được thực hiện trong thiết kế các khóa đào tạo về thư viện.68]
Luận án Tiến sĩ của tác giả Alison Wiles do Trường Đại học Đông London cấp năm
2015 “Library usability in higher education: how user experience can
form library policy”Nghiên cứu này là một cuộc điều tra kinh nghiệm người sử dụng và
khả năng sử dụng thư viện các trường đại học ở Vương quốc Anh Mục đích để kiểm tra sự khác biệt giữa kinh nghiệm sử dụng và những kỳ vọng về sử dụng thư viện đại học của người dùng tin (NDT) Bên cạnh đó dựa vào kinh nghiệm sử dụng thư viện để xây dựng chính sách cải thiện kỹ năng sử dụng thư viện Nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi yêu cầu NDT tại thư viện trường đại học ở Vương quốc Anh người tham gia đưa ra ý kiến của mình về 12 tính năng sử dụng và kỳ vọng của họ trong mỗi tính năng Từ đó có thể tính
Trang 11toán được khoảng cách giữa làm thế nào để đánh giá tính năng sử dụng thư viện và làm thế nào để sử dụng tính năng đó.[70]
Ngoài ra, cuộc khảo sát trang Web của 121 trường đại học Vương quốc Anh được tiến hành để xem những chính sách thư viện đại học, yếu tố kinh nghiệm người sử dụng có tồn tại trong những chính sách đó và như vậy chính sách bao quát là gì? Kết quả nghiên cứu cho thấy có khoảng cách rất lớn giữa kỳ vọng và kinh nghiệm xảy ra Một trong những khoảng cách lớn là tính đầy đủ của các thông tin mà người dùng truy xuất Điều này có thể cải thiện bằng cách cải thiện hiệu suất của thư viện, hoặc kiểm soát kỳ vọng của người dùng Kinh nghiệm người dùng và khả năng sử dụng là lĩnh vực quan trọng trong cách nhìn của chuyên gia thư viện và nhà nghiên cứu Bằng cách lấy “kinh nghiệm sống” của người dùng kết hợp với kinh nghiệm sử dụng thư viện thì thư viện đại học trở thành nơi có
sự cải tiến liên tục [69,71]
Trên các tạp chí chuyên ngành cũng có một số bài viết nghiên cứu về thư viện đại
học như: “Working together: library value at the University of Nottingham” của nhóm tác
giả Claire Creaser, Susanne Cullen, Ruth Curtis, Nicolas Darlington, Jane Maltby, Elizabeth Newall, Valerie Spezi, (2014), đăng trên tạp chí Performance Measurement and Metrics, Volume: 15 Issue: 1/2.Bài viết là sự tổng hợp kết quả của 2 dự án về giá trị của thư viện đại học đối với giảng dạy và nghiên cứu trong các cơ sở giáo dục đại học Một là
dự án “The Working Together (WT)” được tài trợ bởi Nhà xuất bản SAGE, nghiên cứu giá trị của thư viện đại học đối với việc giảng dạy và nghiên cứu ở Mỹ, Anh, Scandinavi
Dự án “The Raising Academic Impact (RAI)” của đại học Nottingham, nhằm tăng
cường tác động của thư viện đại học tại các khoa trong trường đại học bằng việc đánh giá nhận thức và thái độ đối với các dịch vụ thư viện hiện tại và nhu cầu tương lai của đội ngũ giảng viên Bài viết đã chỉ ra những phát hiện quan trọng từ 2 nghiên cứu trên là có sự khác biệt về giá trị do thư viện mang lại và giá trị thực của NDT có được từ thư viện Do vậy, chìa khóa để gia tăng giá trị của thư viện đối với giảng viên và cán bộ nghiên cứu chính là truyền thông và quảng bá Những phát hiện này sẽ giúp các thư viện đại học phát triển các dịch vụ gắn liền với nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu ở các trường đại học
Những nghiên cứu ở trong nước
Tham luận “Không gian học tập chung – Learning Commons” của thạc sĩ Nguyễn Minh Hiệp đã trình bày trong hội thảo chức tại trường đại học Kỹ thuật Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh vào việc phát triển một không gian học tập với những trang
Trang 12thiết bị hiện đại, không gian rộng rãi tiện nghi và đặc biệt là việc phát triển mạnh mẽ những dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn…không chỉ từ các chuyên viên thư viện mà còn từ những bộ phận hỗ trợ học tập khác
Phạm Thị Thanh Vân (2013), Luận văn Thạc sĩ: “Nâng cao hiệu quả hoạt động
không gian học tập mở tại thư viện đại học RMIT Việt nam
Nguyễn Hồng Sinh với bài viết “Yêu cầu đối với thư viện đại học trước những thay
đổi của giáo dục đại học”
Vũ Dương Thúy Ngà với bài viết “Bàn về một số yêu cầu đặt ra đối với thư viện đại
học trong công cuộc thực hiện đổi mới giáo dục đại học Việt Nam”
Nhìn vào tổng thể các công trình nghiên cứu về thư viện đại học, có thể thấy, nhiều công trình đã đề cập đến vai trò của thư viện đại học trong việc hỗ trợ học tập, giảng dạy
và NCKH Đồng thời cũng nêu ra một số thách thức và đề xuất các giải pháp giúp cho thư viện đại học ngày càng phát huy hơn nữa vai trò của mình trong hoạt động của các trường đại học Các công trình này nghiên cứu về thư viện đại học bằng những nghiên cứu cụ thể như: về xây dựng tài nguyên số, về hoạt động phục vụ, xây dựng mô hình thư viện…nhằm mục đích thỏa mãn hơn nữa nhu cầu NDT Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị giúp cho thư viện đại học ở Việt nam nói chung và Thư viện ĐHCSND nói riêng có thể học tập xây dựng và phát triển thư viện
Những nghiên cứu về thư viện đa năng tại trường ĐH CSND
Lê Thị Hoài Dương (2014), Luận văn thạc sĩ, Đổi mới hoạt động thư viện tại trường
ĐH CSND
Nguyễn Thị Mỹ Hương, (2014), Nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp cơ sở, "Xây dựng
và khai thác nguồn lực thông tin điện tử tại Thư viện Trường Đại học cảnh sát nhân dân - Thực trạng và giải pháp"
Võ Thị Kim Chung, (2016), đề tài khoa học cấp cơ sở, "Công tác tư liệu thư viện của
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân từ năm 2010 đến năm 2016"
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu khả năng triển khai mô hình thư viện đa năng của trường đại học Cảnh sát nhân dân đề xuất giải pháp để triển khai một cách phù hợp và hiệu quả mô hình này tại trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13Với mong muốn đạt được mục đích như đã đề ra, luận văn thực hiện những nhiệm vụ
- Nghiên cứu mô hình thư viện đa năng của trường, đưa ra được những ưu khuyết điểm của mô hình đã có;
- Đề xuất những giải pháp góp phần triển khai mô hình thư viện đa năng trong thực tiễn phù hợp và hiệu quả
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình thư viện đa năng được phác thảo từ năm 2007 và hoạt động triển khai mô hình này từ năm 2007 đến nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động triển khai mô hình thư viện đa năng tại trường ĐH CSND từ năm 2007 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Những phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng để hoàn thành luận văn:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập những tài liệu, thông tin liên quan đến chứcnăng, nhiệm vụ của thư viện trường đại học; những tài liệu liên quan đến công tác triển khai xây dựng mô hình thư viện đa năng tại trường ĐH CSND
- Phương pháp điều tra bằng cách lập bảng hỏi: để thu thập những thông tin về sự phù hợp của mô hình thư viện đa năng so với nhu cầu của người sử dụng thư viện; đánh giá của người sử dụng về lợi ích, thế mạnh và hạn chế của mô hình thư viện đa năng khi đưa vào ứng dụng trong thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Quan sát hiện trạng của thư viện trường ĐH CSND về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương thức phục vụ, nguồn nhân lực…để phục vụ cho việc đánh giá khả năng, tính hiệu quả và mức độ phù hợp khi triển khai mô hình thư viện đa năng tại trường
Trang 14- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ lãnh đạo, quản lý về chủ trương, chính sách, phương hướng phát triển và đầu tư cho thư viện đa năng Phỏng vấn đội ngũ nhân viên về công tác phục vụ, chất lượng các dịch vụ, nguồn tài nguyên thông tin cũng như cơ
sở vật chất của thư viện trường ĐH CSND cũng như những đóng góp của họ vào việc thực hiện đề án mô hình thư viện đa năng trong thực
- Phương pháp phân tích; tổng hợp: phân tích những số liệu, thông tin thu được từ phương pháp quan sát, phỏng vấn, điều tra, nghiên cứu tài liệu…để rút ra tính phù hợp với người sử dụng, tính hiệu quả của mô hình cũng như việc đạt được những mục đích đã đề ra khi triển khai mô hình thư viện đa năng tại thư viện trường
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài góp phần khẳng định vị trí, vai trò và ý nghĩa của việc triển khai mô hình thư viện đa năng trong trường đại học Đề tài cũng góp phần làm rõ đặc thù về hoạt động xây dựng thư viện đa năng tại các thư viện trường đại học thuộc lực lượng công an nhân dân
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thực tiễn hoạt động xây dựng thư viện đa năng tại trường
ĐH CSND
Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc triển khai Đề án thư viện
đa năng của trường và …
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động của thư viện trường đại học
Chương 1 trình bày những nội dung về hoạt động thư viện ở Việt nam: cơ sở lý luận
về hoạt động thư viện và hoạt động lưu
trữ của thư viện, cơ sở pháp lý về hoạt động của thư viện trường đại học, không gian học tập đa năng tại các trường đại học trong nước và nước ngoài
Chương 2: Hiện trạng hoạt động của thư viện đa năng tại trường Đại học Cảnh sát nhân dân
Chương 2 của luận văn tập trung giới thiệu về Trường ĐH CSND, thư viện Đa năng của Trường ĐH CSND, phân tích kết quả khảo sát hiện trạng hoạt động của thư viện đa năng; những thành quả và hạn chế trong quá trình triển khai mô hình thư viện đa năng
Trang 15Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện đa năng tại trường Đại học Cảnh sát nhân dân
Chương 3 đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả các dịch vụ của thư viện đa năng được đưa ra dựa trên định hướng chiến lược phát triển thư viện của BCA và của Ban lãnh đạo trường ĐH CSND thông qua và những phân tích kết quả khảo sát hiện trạng sử dụng thư viện của sinh viên cũng như những khó khăn và hạn chế của thư viện đa năng
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động thư viện
Khái niệm về hoạt động thư viện
Theo UNESCO thì thư viện được định nghĩa như sau: “Thư viện, không phụ thuộc
vào tên gọi của nó, là bất cứu bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn, và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu, khoa học, giáo dục hoặc giải trí” [28]
Theo Pháp lệnh thư viện Việt nam: Thư việnlà nơi thu thập, lưu giữ, xử lý, bảo
quản tài liệu để đáp ứng nhu cầu thông tin của người đọc
Hoạt động thư viện là công việc nghiệp vụ do thư viện tiến hành, bao gồm: thu thập, xử lý, bảo quản và tổ chức sử dụng chung tài liệu trong xã hội (Điểm 3 Khoản 1 Điều 3 TCVN 10274:2013)
Hoạt động thư viện là các hoạt động về tổ chức, quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và
sử dụng thư viện (Khoản 7 Điều 2 Dự thảo luật thư viện)
Khái niệm “hoạt động thư viện” trong luận văn được hiểu là quá trình thu thập, xử
lý, lưu trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng thông tin trong một cơ quan hay tổ chức nhằm đáp ứng NCT của NDT
Nội dung các hoạt động thư viện
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 18/2014/TT-BVHTTDL ngày 08 tháng 12 năm 2014 quy định về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của thư viện Nội dung cụ thể như sau:
- Xây dựng nguồn TNTT: Xây dựng nguồn TNTT nhằm tạo lập, tăng cường và nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin của thư viện đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng Xây dựng nguồn TNTT bao gồm một số nội dung chính sau đây: Xác định chính sách phát triển nguồn TNTT phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng người sử dụng mà thư viện có trách nhiệm phục vụ; Tổ chức thu thập tài liệu bằng các hình thức khác nhau (mua tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành hoặc các tổ chức, doanh nghiệp có chức năng kinh doanh, xuất nhập khẩu sách, báo theo quy định của pháp luật, nhận theo chế độ lưu chiểu các xuất bản phẩm của cơ quan, tổ chức có thẩm
Trang 17quyền; Tự chuyển dạng tài liệu theo quy định của pháp luật; mua quyền truy cập CSDL, tài liệu điện tử; Liên thông tài liệu giữa các thư viện trong nước; Mượn, trao đổi tài liệu với các tổ chức, cá nhân trong nước, trao đổi tài liệu với thư viện, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tài liệu do tổ chức, cá nhân chuyển giao, hiến tặng); Thực hiện thanh lọc tài liệu.Việc xây dựng nguồn TNTT thư viện phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quy mô, loại hình thư viện và nhu cầu của đối tượng người sử dụng mà thư viện có trách nhiệm phục vụ
- Xử lý tài liệu: Tài liệu bổ sung vào thư viện được xử lý theo quy tắc, quy trình của nghiệp vụ thư viện để phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng Xử lý tài liệu bao gồm: xử lý hình thức và xử lý nội dung Việc xử lý tài liệu phải tuân thủ theo các quy tắc, quy chuẩn của nghiệp vụ thư viện; tận dụng kết quả xử lý nội dung tài liệu của các thư viện lớn, đầu ngành để đảm bảo tính chính xác, thống nhất và tiết kiệm thời gian, công sức
và kinh phí của thư viện
- Tổ chức bộ máy tra cứu: Bộ máy tra cứu của thư viện giúp người sử dụng tra cứu, tìm thông tin, tài liệu có ở trong hoặc ngoài thư viện Bộ máy tra cứu bao gồm một số hình thức chủ yếu như: Hệ thống tra cứu mục lục truyền thống; hệ thống tra cứu điện tử và kho tài liệu tra cứu Bộ máy tra cứu phải được tổ chức khoa học, chính xác, thống nhất, phản ánh đầy đủ các tài liệu có trong thư viện, cập nhật kịp thời các tài liệu mới bổ sung vào thư viện; tiếp cận được với nguồn thông tin, tài liệu bên ngoài thư viện đồng thời dễ tra cứu đối với người sử dụng
- Tổ chức tài liệu: Tổ chức tài liệu để xác định vị trí của tài liệu trong thư viện giúp cho công tác quản lý, bảo quản và phục vụ người sử dụng được nhanh chóng, dễ dàng Các hình thức tổ chức tài liệu trong thư viện gồm: Tài liệu giấy, tài liệu số và tài liệu đa phương tiện Việc tổ chức tài liệu trong thư viện phải đảm bảo tính khoa học, phù hợp với quy mô, loại hình, nội dung vốn tài liệu, mục đích và đối tượng sử dụng; bảo đảm thuận lợi cho việc phục vụ người sử dụng và bảo quản, giữ gìn an toàn cho tài liệu
- Bảo quản tài liệu: Thực hiện việc bảo quản tài liệu để có thể sử dụng được lâu dài, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước Các hình thức bảo quản tài liệu giấy trong thư viện bao gồm: Tổ chức, sắp xếp tài liệu khoa học, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường; gia cố, đóng bìa; làm vệ sinh, khử nấm mốc; phục chế kịp thời các tài liệu hư hỏng trong quá trình sử dụng; chuyển dạng tài liệu quý hiếm Việc bảo quản tài liệu phải được thực hiện với mọi tài liệu khi đưa ra phục vụ cũng như lưu trữ trong thư viện và phải tuân
Trang 18thủ quy trình, nguyên tắc, tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật và phù hợp với từng loại hình tài liệu; việc chuyển dạng tài liệu theo phương thức số hóa phải đảm bảo tính tương thích về mặt công nghệ trong tương lai cho định dạng dữ liệu được dùng để số hóa
- Kiểm kê, thanh lọc tài liệu: Kiểm kê tài liệu nhằm đánh giá hiện trạng VTL của thư viện trong một giai đoạn, từ đó đề ra các biện pháp củng cố, nâng cao chất lượng VTL thư viện; kiểm kê tài liệu được thực hiện đối với tất cả các kho tài liệu được tổ chức trong thư viện; kiểm kê tài liệu phải được thực hiện thường xuyên định kỳ, gắn với công tác thanh lọc tài liệu trong thư viện; việc kiểm kê đột xuất được thực hiện trong các trường hợp thay đổi viên chức phụ trách kho tài liệu hoặc khi có thiên tai, hỏa hoạn, hoặc khi có yêu cầu của đơn vị trực tiếp quản lý thư viện Thanh lọc tài liệu nhằm nâng cao chất lượng VTL, tiết kiệm chi phí cho công tác tổ chức kho và bảo quản tài liệu, góp phần giảm bớt thời gian tìm tài liệu phục vụ NDT, tiết kiệm ngân sách nhà nước Việc thanh lọc tài liệu được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 21/2012/BVHTTDL ngày 28 tháng 12 năm
2012 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
- Tổ chức dịch vụ thư viện: Đây là một trong những hoạt động chuyên môn, nghiệp
vụ quan trọng nhất của thư viện, nhằm cung cấp thông tin, tri thức đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của người sử dụng Dịch vụ thư viện được tổ chức theo phương thức dịch vụ thư viện truyền thống hoặc dịch vụ thư điện tử, bao gồm: Dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu; dịch vụhỗ trợ việc học tập ngoài nhà trường; dịch vụ văn hóa
và giải trí; dịch vụ truy cập máy tính công cộng; dịch vụ tư vấn, hỗ trợ về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện và một số dịch vụ hỗ trợ Việc tổ chức dịch vụ thư viện phải phù hợp, đáp ứng nhu cầu của đối tượng sử dụng mà thư viện có trách nhiệm phục vụ; bảo đảm việc tiếp cận bình đẳng, thuận lợi và dễ dàng cho người sử dụng
- Biên soạn ấn phẩm thông tin thư viện: Biên soạn ấn phẩm thông tin thư viện nhằm phổ biến, quảng bá, giới thiệu VTL thư viện; tài liệu mới xuất bản, bổ sung vào thư viện; đồng thời cũng chỉ chỗ nguồn tài liệu, giúp người sử dụng tiếp cận được tài liệu phù hợp với nhu cầu Ấn phẩm thông tin thư viện được biên soạn dưới dạng giấy, điện tử, bao gồm một số loại hình chủ yếu như: Thông tin thư mục, thông tin chọn lọc, chuyên đề có tóm tắt nội dung tài liệu và một số loại hình khác Việc biên soạn ấn phẩm thông tin thư viện phải kịp thời, thường xuyên; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình thư viện và đối tượng người sử dụng mà thư viện có trách nhiệm phục vụ
- Hoạt động truyền thông, vận động: Hoạt động truyền thông, vận động của thư viện
Trang 19nhằm thu hút người sử dụng tới thư viện, sử dụng dịch vụ thư viện, bao gồm một số hình thức chủ yếu sau: Trưng bày, triển lãm giới thiệu sách mới, chuyên đề; tổ chức các sự kiện văn hóa tại thư viện; tổ chức lấy ý kiến đánh giá của công chúng; xây dựng mạng lưới tổ chức, cá nhân có liên quan để phát triển hoạt động thư viện Hoạt động truyền thông, vận động của thư viện phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng phục vụ của thư viện và tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan
- Thống kê thư viện: Thông kê thư viện nhằm đánh giá kết quả hoạt động, mức độ đáp ứng của thư viện đối với nhu cầu của người sử dụng; qua đó cung cấp các số liệu cần thiết để cơ quan quản lý thư viện và thư viện có căn cứ xây dựng kế hoạch, duy trì và cải thiện các dịch vụ từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ của thư viện Một số nội dung thống kê chủ yếu bao gồm: Thống kê về tài liệu, thống kê về người sử dụng và một
số nội dung thống kê khác tùy theo từng loại hình thư viện, yêu cầu của cơ quan trực tiếp quản lý thư viện và cơ quan quản lý nhà nước về thư viện Thống kê thư viện phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về thống kê
1.2 Cơ sở lý luận về hoạt động lưu trữ
Khái niệm về hoạt động lưu trữ và công tác lưu trữ
Lưu trữ là cất giữ và sắp xếp, hệ thống hoá tài liệu để tiện tra cứu, khai thác [27] Theo từ điển lưu trữ Việt Nam của Cục Lưu trữ Nhà nước năm 1992 ghi: Lưu trữ là: “1 Giữ lại các văn bản, tài liệu của cơ quan hoặc cá nhân để làm bằng chứng và tra cứu khi cần thiêt 2 Cơ quan hoặc đơn vị làm nhiệm vụ bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ”
Hoạt động lưu trữ (theo khoản 1, Điều 2, Luật Lưu trữ, 2011) là hoạt động thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị, bảo quản, thống kê, sử dụng tài liệu lưu trữ [5]
Tài liệu lưu trữ ở đây được hiểu là bao gồm văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật
ký, hồi bút, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác (Theo Điều 2 khoản 3 Luật Lưu trữ, số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011) [5]
Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của nhà nước bao gồm tất cả những vấn
đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, công tác NCKH lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trang 20Công tác lưu trữ ra đời do đòi hỏi khách quan của việc quản lý, bảo quản và tổ chức
sử dụng tài liệu để phục vụ xã hội Vì vậy, công tác lưu trữ được tổ chức ở tất cả các quốc gia trên thế giới và là một trong những hoạt động được các Nhà nước quan tâm
Nhiệm vụ công tác lưu trữ
- Tổ chức khoa học tài liệu lưu trữ
Đây là tổng hợp các khâu nghiệp vụ cơ bản của công tác lưu trữ liên quan đến việc phân loại, xác định giá trị, chỉnh lý và sắp xếp tài liệu một cách khoa học phục vụ thuận lợi, nhanh chóng, chính xác cho công tác tra tìm tài liệu Nội dung của tổ chức khoa học tài liệu gồm: thu thập, bổ sung tài liệu; phân loại tài liệu; xác định giá trị tài liệu; chỉnh lý tài liệu; tổ chức các công cụ tra tìm tài liệu và một số công tác bổ trợ khác của các ngành khoa học, kỹ thuật, tin học có liên quan Tổ chức khoa học tài liệu cần thực hiện trong các kho lưu trữ quốc gia, lưu trữ cơ quan và lưu trữ cá nhân, gia đình, dòng họ Để tổ chức khoa học tài liệu đòi hỏi phải có cán bộ có trình độ chuyên môn cao, điều kiện làm việc tốt và trang thiết bị phục vụ cho việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ khoa học và hiện đại Tổ chức khoa học tài liệu được căn cứ vào các quy định, hướng dẫn cụ thể của nhà nước trong công tác lưu trữ
- Bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ
Một trong những nội dung cơ bản của công tác lưu trữ là bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ Đây là điều kiện cơ bản để thực hiện các mục đích của công tác lưu trữ, bởi lẽ nếu tài liệu lưu trữ không được bảo quản an toàn thìkhông thể tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả Bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ bao gồm hai nội dung chính: Bảo quản không
hư hỏng, mất mát tài liệu lưu trữ và bảo quản an toàn thông tin trong tài liệu lưu trữ Bảo quản an toàn không hư hỏng, mất mát tài liệu lưu trữ cần chú ý đến kho tàng, các trang thiết bị, điều kiện ổn định, đáp ứng đúng yêu cầu của công tác bảo quản cho từng loại hình tài liệu khác nhau, đồng thời tiến hành các biện pháp tu bổ, phục chế, bảo hiểm nhằm kéo dài tuổi thọ tài liệu Bảo quản an toàn thông tin trong tài liệu cần chú ý đến ý thức, trách nhiệm và trình độ của các bộ làm công tác lưu trữ; chú ý đến từng loại đối tượng bạn đọc đến khai thác, sử dụng tài liệu và các hình thức công bố, giới thiệu và khai thác, sử dụng tài liệu Việc bảo quản an toàn thông tin trong tài liệu lưu trữ cần chú ý đến tính cơ mật của tài liệu lưu trữ
- Tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ
Mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ là đưa tài liệu lưu trữ và các thông tin
Trang 21trong tài liệu lưu trữ phục vụ các nhu cầu hoạt động của xã hội Vì vậy, tổ chức khai thác
và sử dụng tài liệu có hiệu quả là một trong những nội dung cơ bản của công tác lưu trữ Dựa vào kết quả của công tác khai thác, sử dụng tài liệu phục vụ thực tiễn người ta mới có thể đánh giá một cách khách quan, chính xác những đóng góp của ngành lưu trữ và vai trò,
vị trí, ý nghĩa của công tác lưu trữ Để đảm bảo công tác khai thác, sử dụng tài liệu có hiệu quả cao cần nghiên cứu nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ của xã hội; phân loại đối tượng bạn đọc; nghiên cứu xây dựng các công cụ tra cứu khoa học tài liệu và áp dụng các biện pháp, tổ chức nhiều hình thức khai thác, sử dụng tài liệu đạt hiệu quả cao
Nội dung công tác lưu trữ
- Phân loại tài liệu lưu trữ
Phân loại tài liệu lưu trữ là sự phân chia tài liệu thành các khối, các nhóm, các đơn
vị bảo quản cụ thể căn cứ vào các đặc trưng chung (điểm giống nhau) của chúng nhằm tổ chức một cách khoa học và sử dụng có hiệu quả những tài liệu đó Công việc này có liên quan chặt chẽ với nhiều vấn đề nghiệp vụ lưu trữ khác nhau như xác định giá trị tài liệu;
bổ sung tài liệu; thống kê kiểm tra tình hình tài liệu Chỉ trên cơ sở tài liệu được phân chia khoa học, thì việc xác định giá trị, bổ sung tài liệu mới có thể tiến hành một cách thuận lợi Phân loại tài liệu nói chung là quá trình tổ chức khoa học nhằm làm cho tài liệu lưu trữ phán ánh đúng hoạt động của các cơ quan đoàn thể, xí nghiệp, cá nhân để đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về nghiên cứu, sử dụng tài liệu và bảo quản được thuận tiện, an toàn Tài liệu lưu trữ có thể phân chia thành các loại: tài liệu lưu trữ hành chính; tài liệu lưu trữ khoa học - kỹ thuật; tài liệu lưu trữ ảnh, phim điện ảnh và ghi âm…
- Xác định giá trị tài liệu lưu trữ
Không phải tất cả tài liệu sản sinh ra trong quá trình hoạt động của các cơ quan, cá nhân tiêu biểu đều có giá trị như nhau và đều được lưu trữ Vấn đề là ở chỗ cần lựa chọn như thế nào để chỉ đưa vào lưu trữ những tài liệu có giá trị, bảo quản lâu dài và vĩnh viễn Muốn vậy phải tiến hành công việc lựa chọn, đánh giá tài liệu, tức là dựa trên những nguyên tắc, phương pháp và tiêu chuẩn nhất định để nghiên cứu và quy định thời gian bảo quản từng tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan, cá nhân tiêu biểu theo giá trị của tài liệu đó Việc xác định giá trị tài liệu nhằm mục đích quy định thời hạn bảo quản tài liệu, loại ra để huỷ bỏ những tài liệu đã hết giá trị, như vậy sẽ đảm bảo giữ gìn được những tài liệu có giá trị, đồng thời giảm bớt chi phí bảo quản, tạo điều kiện để sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ Để xác định giá trị tài liệu có thể dựa trên những tiêu chuẩn sau: ý
Trang 22nghĩa nội dung tài liệu; tác giả tài liệu; ý nghĩa cơ quan hình thành phông; sự lặp lại thông tin trong tài liệu; thời gian và địa điểm hình thành tài liệu; mức độ hoàn chỉnh và khối lượng của phông lưu trữ; hiệu lực pháp lý của tài liệu; tình trạng vật lý của tài liệu; ngôn ngữ, kỹ thuật chế tác và đặc điểm hình thức của tài liệu
- Bổ sung tài liệu vào các kho lưu trữ
Bổ sung tài liệu vào các kho lưu trữ là công tác sưu tầm, thu thập hoàn chỉnh thêm tài liệu vào các kho lưu trữ cơ quan, các kho lưu trữ Nhà nước ở trung ương và địa phương theo những nguyên tắc và phương pháp thống nhất Bổ sung tài liệu vào các kho lưu trữ phải được tiến hành thường xuyên, thiết thực và kịp thời Khi bổ sung tài liệu cần chú ý đến khả năng sử dụng chúng trong thực tế Giải quyết tốt vấn đề bổ sung tài liệu lưu trữ có
ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với ngành lưu trữ mà còn đối với nhiều ngành khác Tài liệu lưu trữ ngoài những ý nghĩa về chính trị, kinh tế, văn hoá, lịch sử… có tầm quốc gia, còn có giá trị thực tiễn cao đối với từng ngành, từng cấp và mỗi cơ quan đã sản sinh ra chúng Nếu để tài liệu mất mát, thất lạc, không tổ chức được việc bổ sung kịp thời thì thành phần phông lưu trữ sẽ ngày càng nghèo nàn, khả năng phục vụ ngày càng bị hạn chế
Bổ sung tài liệu lưu trữ được tiến hành với những nội dung sau: Xác định nguồn bổ sung tài liệu; quy định thành phần và nội dung tài liệu cần bổ sung cho mỗi phòng, kho lưu trữ; các nguyên tắc, biện pháp tổ chức để tiến hành hợp lý công tác bổ sung tài liệu; nguyên cứu khả năng phân bổ tài liệu theo mạng lưới các phòng, kho lưu trữ trong cả nước, nghiên cứu lý luận công tác bổ sung tài liệu
- Thống kê tài liệu lưu trữ
Thống kê tài liệu lưu trữ là sử dụng các công cụ, phương tiện chuyên môn nghiệp
vụ để nắm được chính xác số lượng, chất lượng, thành phần, nội dung tình hình tài liệu, tình hình cán bộ và hệ thống bảo quản trong công tác lưu trữ Thống kê lưu trữ là một khâu nghiệp vụ chuyên môn của công tác lưu trữ có vị trí quan trọng trong quản lý tài liệu lưu trữ, bởi lẽ những số liệu thống kê tài liệu là cơ sở để các kho lưu trữ xây dựng kế hoạch bổ sung, thu thập, chỉnh lý, xác định giá trị và tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ, đồng thời căn
cứ vào các số liệu thống kê tài liệu lưu trữ, cơ quan quản lý lưu trữ lập các kế hoạch nhằm quản lý tập trung thống nhất công tác lưu trữ trong Công tác thống kê tài liệu lưu trữ với những nội dung như sau: thống kê số lượng, chất lượng, thành phần, nội dung tài liệu lưu trữ; thống kê hệ thống công cụ tra cứu, phương tiện bảo quản, tình hình tổ chức nghiên cứu
sử dụng tài liệu và đội ngũ cán bộ lưu trữ Công cụ thống kê thích hợp có thể là: mục lục
Trang 23hồ sơ; sổ đăng ký mục lục hồ sơ; phiếu phòng; danh sách phòng; sổ nhập, sổ xuất tài liệu lưu trữ; thẻ phòng, bộ thẻ phòng, số đăng ký các loại tài liệu đặc thù… các loại sổ sách thống kê phải lập theo mẫu được Nhà nước quy định, được bảo quản và sử dụng như một tài liệu mật
- Chỉnh lý tài liệu lưu trữ
Chỉnh lý tài liệu lưu trữ là sự kết hợp chặt chẽ và hợp lý các khâu nghiệp vụ của công tác lưu trữ như phân loại, bổ sung, xác định giá trị tài liệu… để tổ chức khoa học các phòng lưu trữ, nhằm bảo quản và sử dụng chúng toàn diện và hiệu quả Công tác chỉnh lý tài liệu có những nội dung sau: nghiên cứu và biện soạn tóm tắt lịch sử cơ quan, đơn vị hình thành phòng và lịch sử phòng; tiến hành lập hồ sơ với những phòng tài liệu chưa lập
hồ sơ, kiểm tra các hồ sơ đã lập, hoàn thiện những hồ sơ chưa đạt yêu cầu lưu trữ; chọn và xây dựng phương án phân loại hệ thống hoá hồ sơ theo phương án đã chọn Việc chỉnh lý tài liệu được tiến hành theo trình tự sau: Khảo sát tài liệu, nghiên cứu và xây dựng lịch sử đơn vị hình thành phòng và lịch sử phòng; xây dựng kế hoạch kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ; lập các bảng hướng dẫn đối với một số loại công việc cụ thể; chọn và xây dựng phương án phân loại; dự kiến nhân lực và thời gian thực hiện công tác chỉnh lý tài liệu lưu trữ; chỉnh
lý tài liệu theo phương án đã định, hoàn thành việc hệ thống hoá tài liệu; tổng kết chỉnh lý nhằm rút kinh nghiệm, thấy được ưu, khuyết điểm của quá trình chỉnh lý để làm tốt công tác chỉnh lý cho các đợt tiếp theo
- Bảo quản tài liệu lưu trữ
Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ là toàn bộ những công việc được thực hiện nhằm đảm bảo giữ gìn nguyên vẹn, lâu bền và an toàn tài liệu phông lưu trữ Công tác bảo quản tài liệu lưu trữ có những nội dung sau: Tạo điều kiện tốt nhất cho việc bản quản tài liệu; đảm bảo giữ gìn toàn vẹn trạng thái lý hoá của tài liệu, sắp xếp tài liệu trong kho một cách khoa học, quản lý việc xuất nhập tài liệu theo các quy định chặt chẽ; kiểm tra tình trạng tài liệu, lập phòng bảo hiểm đối với các tài liệu có giá trị đặc biệt, chuẩn bị các tài liệu đưa đi
tu bổ, phục chế, sao chụp… Để thực hiện tốt công tác bảo quan tài liệu cần có kho lưu trữ; trang thiết bị bảo quản tài liệu lưu trữ và trang thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động lưu trữ…
- Tổ chức, sử dụng tài liệu lưu trữ
Đây là toàn bộ công tác nhằm đảm bảo cung cấp cho các cơ quan Nhà nước và xã hội những thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá và
Trang 24các quyền lợi của công dân Sử dụng tài liệu lưu trữ trong các phòng, kho lưu trữ là một mặt của hoạt động thông tin khoa học Mọi hoạt động của các phòng, kho lưu trữ đều hướng vào mục tiêu cuối cùng là tổ chức sử dụng có hiệu quả các tài liệu lưu trữ phục vụ các nhu cầu khác của đời sống xã hội nhằm tiết kiệm tiền của, công sức và thời gian trong quản lý, lãnh đạo và NCKH…
Các hình thức sử dụng tài liệu lưu trữ như: thông báo về tài liệu lưu trữ cho các cơ quan, đơn vị có nhu cầu thông tin; tổ chức phòng đọc lưu trữ; triển lãm tài liệu lưu trữ; cung cấp các chứng nhận lưu trữ, các bản sao lục và trích lục tài liệu lưu trữ; công bố tài liệu lưu trữ…
1.3 Cơ sở pháp lý về hoạt động của thư viện trường đại học
Văn bản đầu tiên quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện đại học ở Việt Nam được biết đến là Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học (Ban hành kèm theo quyết định số 688/QĐ ngày 14 tháng 8 năm 1986 của Bộ trưởng Bộ ĐH&THCN) Đây có thể xem là văn bản về quản lý nhà nước đầu tiên điều chỉnh tổ chức
và hoạt động của các thư viện trường đại học ở Việt nam Tuy nhiên văn bản này được Bộ ĐH&THCN nay là Bộ GD & ĐT ban hành nên tác động của văn bản này đến các thư viện đại học thuộc các Bộ chủ quản khác rất hạn chế
Một văn bản khác cũng đề cập đến hoạt động của thư viện đại học làĐiều lệ trường đại học Điều lệ trường đại học đầu tiên được Thủ tướng chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 153/2003/QĐ-TTg,ngày 30 tháng 7 năm 2003, trong lần bàn hành này nội dung về thư viện của trường đại học được quy Các cơ sở phục vụ đào tạo, khoa học và
công nghệ: “Trường đại học có Trung tâm thông tin tư liệu phục vụ hoạt động đào tạo,
khoa học và công nghệ Trung tâm thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực hoạt động của trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường; hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của trường Trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do Hiệu trưởng ban hành” (khoản 1, điều 44) Do sự phát triển trong hoạt động của
các trường đại học trong đó có hoạt động của các thư viện, các văn bản nảy được bổ sung
và sửa đổi để phù hợp với thực tiễn Trong lần sửa đổi tiếp theo vào năm 2010 vào năm
2010 kèm theo quyết định số 58/2010/QĐ-TTgthay thế Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 10 tháng 7 năm 2003., nội dung về hoạt động của thư viện đại học được quy định
Trang 25“Trường đại học phải cóthư việnvà các trung tâm thông tin tư liệu chuyên ngành phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ Thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ ở trong nước và nước ngoài thuộc các lĩnh vực hoạt động của trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận văn, luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường Thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu chuyên ngành hoạt động theo quy chế do Hiệu trưởng ban hành”[3]
Đến năm 2014, Điều lệ trường đại học tiếp tục được thay đổi và ban hành kèm theo quyết định số 70/2014/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Điều lệ trường đại học nội dung về thư viện đại học được quy định Thư viện, trang thông tin điện tử, tạp chí khoa học công
nghệ“Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu của nhà trường có nhiệm vụ cung cấp các
thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên; lưu trữ bản gốc các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ tại trường, các kết quả nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm của trường Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do hiệu trưởng ban hành, phù hợp với pháp luật
về thư viện, pháp luật về lưu trữ và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan”
[3]
Mặc dù được ban hành sau nhưng đến nay Điều lệ trường đại học đã được bổ sung sửa đổi hai lần, trong khi đó cho đến năm 2008, tức 22 năm sau khi Quy chế mẫu về thư viện đại học được ban hành, do đảm bảo thực tiễn phát triển của thư viện đại học, Bộ VHTT&DL là cơ quan quản lý nhà nước về sự nghiệp của thư viện theo phân cấp của Chính phủ ban hành Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ – BVHTT&DL ngày 10/3/2008 thay cho quyết định 688/1986 là Điều lệ trường đại học (2014) và Quy chế mẫu được xem là văn bản có hiệu lực mới nhất hiện nay để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của thư viện đại học ở Việt nam
Trang 26môn, ngoài ban lãnh đạo Nhìn chung các bộ phận chuyên môn được tổ chức bám theo dây chuyền nghiệp vụ thông tin thư viện, từ bổ sung tài liệu – xử lỹ kỹ thuật – tổ chức kho tài liệu – phục vụ bạn đọc
Lãnh đạo thư viện
Đối với thư viện trường đại học có tư cách pháp nhân thì có giám đốc và phó giám đốc thư viện Giám đốc thư viện chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về hoạt động của thư viện và việc thực hiện nhiệm vụ được giao
Phó giám đốc thư viện giúp giám đốc trong công tác lãnh đạo thư viện, phụ trách một hoặc một số lĩnh vực công tác do giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc về công việc được phân công
Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ
Căn cứ vào quy mô, chức năng và nhiệm vụ được giao, thư viện trường đại học có thể có các phòng chuyên môn, nghiệp vụ sau đây:
- Phòng Bổ sung trao đổi có nhiệm vụ xây dựng và bổ sung vốn tài liệu, thu nhận các tài liệu quy định tại điểm b khoản 2 Điều 3 Quy chế này
- Phòng Xử lý tài liệu có nhiệm vụ thực hiện các chu trình, xử lý kỹ thuật vốn tài liệu xây dựng các cơ sở dữ liệu, tổ chức hệ thống tra cứu theo đúng yêu cầu về tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện
- Phòng Phục vụ bạn đọc có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ và đáp ứng yêu cầu về
sử dụng vốn tài liệu có trong hoặc ngoài thư viện thông qua việc trao đổi giữa các thư viện
và hệ thống các phòng đọc, phòng mượn, phòng tra cứu, phòng đa phương tiện, tổ chức kiểm kê kho sách theo quy định
- Phòng Bảo quản tài liệu có nhiệm vụ bảo quản vốn tài liệu thư viện; chuyển dạng tài liệu, tu sửa, phục chế tài liệu bị hư hỏng, rách nát trong quá trình sử dụng hoặc do các nguyên nhân khác
- Phòng Thông tin-Thư mục có nhiệm vụ xử lý và biên soạn ấn phẩm thông tin chọn lọc, thông tin chuyên đề, các loại thư mục, hướng dẫn tra cứu và tổ chức các hoạt động thông tin khác
- Phòng Hành chính-Tổng hợp có nhiệm vụ thực hiện các công tác hành chính; xây dựng và thực hiện kế hoạch tài chính-kế toán, thống kê, báo cáo, cung ứng trang thiết bị cho hoạt động thư viện
Trang 27- Phòng Tin học có nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động thư viện, quản trị mạng và các phần mềm tiện ích, tham gia vào quá trình bảo trì, bảo dưỡng máy tính và các trang thiết bị hiện đại khác; hỗ trợ cho việc số hoá tài liệu và xuất bản tài liệu điện tử
Cuối những năm 90 của thế kỷ 20 khi công nghệ thông tin được áp dụng vào công tác thông tin thư viện ở nước ta, một số thư viện đại học lớn đã sớm hình thành bộ phận Tin học nhằm thực dung việc ứng dụng công nghệ thông tin, quản trị hệ thống máy tính và mạng của thư viện Trong thực tiễn hoạt động, gần như tất cả các các thư viện đại học hiện nay đều được tổ chức theo cơ cấu trên Đã xuất hiện những trung tâm học liệu theo mô hình Mỹ - Úc do các tổ chức Atlantic Philanthropies tài trợ và xây dựng như Trung tâm học liệu đại học Đà nẵng, Đại học Huế, Đại học Cần thơ, Đại học Thái nguyên, các trung tâm học liệu này thường được tổ chức theo các khối: Khối dịch vụ kỹ thuật (Technical Services), Khối dịch vụ thông tin (Information Services) và Khối Quản trị hành chính (Administration)
Vị trí, chức năng của thư viện đại học
Trường đại học phải có thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu [3] Thư viện trường đại học có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện…”[1]
Nhiệm vụ, quyền hạn của thư viện trường đại học
Nhiệm vụ của Thư viện trường đại học:
+ Thư viện trường đại học có nhiệm vụ cung cấp các thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên; lưu trữ bản gốc các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ tại trường, các kết quả nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm của trường Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do hiệu trưởng ban hành, phù hợp với pháp luật về thư viện, pháp luật về lưu trữ
và các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan [3]
+ Tham mưu giúp giám đốc, hiệu trưởng trường đại học (sau đây gọi chung là hiệu trưởng) xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư viện; tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong nhà trường;
+ Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường;
Trang 28thu nhận các tài liệu do nhà trường xuất bản, các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội thảo, khóa luận, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ của cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường, các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi giữa các thư viện;
+ Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý tài liệu; xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm kiếm thông tin tự động hóa; xây dựng các cơ sở dữ liệu; biên soạn, xuất bản các ấn phẩm thông tin theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng hiệu quả nguồn tài liệu và các sản phẩm dịch vụ thông tin - thư viện thông qua các hình thức phục
vụ của thư viện phù hợp với quy định của pháp luật;
+ Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác thư viện;
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác;
+Tổ chức, quản lý cán bộ, tài sản theo sự phân cấp của hiệu trưởng; bảo quản, kiểm
kê định kỳ vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản khác của thư viện; tiến hành thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch;
+ Thực hiện báo cáo tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo đột xuất khi có yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc các Bộ, ngành chủ quản
Quyền hạn của thư viện trường đại học:
- Tham gia các hội nghề ghiệp, các hội nghị, hội thảo khoa học về thông tin thư viện trong nước và quốc tế; liên kết, hợp tác với các thư viện, tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài về tiếp nhân, tài trợ viện trợ, trao đổi nguồn lực thông tin, kinh nghiệm chuyên môn, tham gia các mạng thông tin phù hợp với quy định của nhà trường và của pháp luật
Tổ chức các hoạt động dịch vụ có thu phù hợp với quy định của pháp luật và chức năng nhiệm vụ được giao
Từ chối phục vụ tài liệu trái pháp luật và nội quy, quy chế của thư viện
Trong thực tiễn hoạt động của các thư viện đại học hiện nay, việc xây dựng nguồn lực thông tin thư viện, cũng như hoạt động bảo quản, quản lý và tổ chức các kênh khai thác
Trang 29(bộ máy tra cứu) nguồn tài liệu này luôn được các thư viện đại học chú trọng và được xem
là những nội dung chính trong việc thư viện thực hiện chức năng phục vụ cho hoạt động giáo dục và đào tạo của nhà trường Để thực hiện được những nhiệm vụ trên, thư viện đại học đã và đang hướng đến việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế về xử lý, lưu trữ và phục vụ thông tin cho người sử dụng, Việc áp dụng các tiêu chuẩn về biên mục theo khổ mẫu MARC21; Quy tắc biên mục Anh – Mỹ AACR2, Bảng phân loại DDC, Biên mục chủ đề (Subject Cataloging)…thống nhất trong các thư viện đại học góp phần giúp cho các thư viện có thể thực hiện được những vấn đề như chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện giúp cho nguồn lực thông tin trong các thư viện thêm lớn mạnh, mở rộng phạm vi khai thác và sử dụng tài liệu cho người sử dụng thông qua hệ thống mượn liên thư viện, đa dạng hóa các hình thức và sản phẩm dịch vụ - thông tin thư viện nhằm tăng cường hiệu quả phục vụ cho người sử dụng thư viện…
Trên đây là cơ sở pháp lý về hoạt động của thư viện trường đại học ở ViệtNam Ngoài nhiệm vụ thực hiện những quy định trong Điều lệ trường đại học và Quy chế mẫu, hoạt động của thư viện đại học còn dựa vào thực tiễn yêu cầu của giáo dục đại học Với chức năng của thư viện đại học là một bộ phận “phục vụ” đối với yêu cầu của giáo dục đại học Việt nam hiện nay, những yêu cầu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam, những điều khoản quy định trong luật giáo dục đại học… là những nội dung định hướng cho hoạt động động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của trường đại học Giáo dục đại học của Việt nam có nhiệm vụ thực hiện những mục tiêu chung của giáo dục đại học được quy định trong luật giáo dục đại học và nghị quyết của trung ương Trong thực tiễn hoạt động, các thư viện đại học phải nắm được những yêu cầu, điều kiện…của hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý của trường đại học để làm cơ sở cho những hoạt động của thư viện
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam xác định việc đổi mới cơ bản và toàn diện chương trình đào tạo hiện nay phải thực hiện “Theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực; phát triển năng lực và phẩm chất người học; chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, nâng cao
Trang 30năng lực ngoại ngữ, tin học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, phát triển khả năng sáng tạo và ý thức tự học”
Điểm a,b Khoản 1 Điều 5 Luật giáo dục đại học cũng nêu rõ: Mục tiêu chung của giáo dục đại học là đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ, tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phục vụ quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế; đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo;
có sức khỏe, có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân.[6]
Như vậy, hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý trong trường đại học phải hướng đến và đạt được những mục tiêu chung này của giáo dục đại học Và thư viện trường đại học với vai trò “là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của trường đại học” góp phần cùng trường đại học hướng đến mục tiêu trên thông qua việc khai thác và sử dụng các loại tài liệu có trong thư viện
1.4 Một số mô hình thư viện đa năng của các trường đại học trong nước và nước ngoài
1.4.1 Không gian học tập mở trong nước
Thư viện Beanland & không gian học tập mở tại Trường Đại học RMIT Việt Nam
Thư viện Beanland & Không gian học tập mở trường đại học RMIT Việt nam thành lập năm 2001 với tên gọi đầu tiên là trung tâm tài nguyên học tập (LRC: Learning Resource Center)
Năm 2005, LRC được tách ra với một mảng nhỏ dành riêng cho sinh viên học ngoại ngữ với chức năng chính là cung cấp tài liệu, băng hình cho việc học ngoại ngữ Riêng thư viện chính của trường có tên mới là “Trung tâm Học tập Tích hợp” (ILC: Integrated Learning Center) Năm 2009, Thư viện đổi tên thành Thư viện Beanland Năm 2011, thư viện chuyển đổi sang một trang hoàn toàn mới Toàn bộ thư viện được xây dựng lại và diện tích sử dụng được tăng lên gấp đôi so với trước đây Thư viện cũng đổi sang tên mới
“Thư viện Beanland & không gian học tập mở”
“Không gian học tập mở” này có thể gọi là nơi mà “tất cả trong một”, nơi mà sinh viên kết nối với tất cả nguồn tài nguyên thông tin khổng lồ của trường; là nơi sinh viên
Trang 31nhận được các dịch vụ hỗ trợ khác nhau như từ các chuyên gia của “bộ phận hỗ trợ kỹ năng học tập”, dịch vụ hỗ trợ tiếng Anh của giảng viên “khoa tiếng Anh học thuật”, các dịch vụ hỗ trợ của “bộ phận công nghệ thông tin”, dịch vụ tìm kiếm thông tin và các dịch
vụ khác của thư viện.“Thư viện Beanland & không gian học tập mở” đã được xây dựng nên để hỗ trợ phương pháp giảng dạy lấy sinh viên làm trọng tâm của RMIT Việt Nam
Những thành phần trong không gian của Thư viện Beanland & không gian học
tập mở
Thư viện
Thư viện được chia thành ba bộ phận chính Tài nguyên thông tin, Dịch vụ sách giáo khoa và Dịch vụ thông tin
Bộ phận tài nguyên thông tin
Chịu trách nhiệm cho việc quản lý hiệu quả và cung cấp, bổ sung các nguồn tài nguyên thông tin dưới nhiều định dạng cho thư viện để phục vụ các mục đích học tập, nghiên cứu của trường đại học Bộ phận này chia thành ba nhóm nhỏ: Nhóm quản lý sử dụng phần mềm thư viện,Nhóm cập nhật và bổ sung tài liệu, Nhóm biên mục và xử lý tài liệu
Bộ phận cung cấp các kỹ năng học tập (LSU)
LSU hỗ trợ sinh viên bằng cách cung cấp hỗ trợ đọc viết học thuật và các kỹ năng học tập bằng các dịch vụ:
Trang 32- Cung cấp hỗ trợ tư vấn trực tiếp cho sinh viên về kỹ năng học tập Sự hỗ trợ này diễn ra theo hai hướng, trước hết là sự tư vấn ngắn với các câu hỏi đơn giản và kéo dài khoảng 15 phút, sau đó là sự tư vấn kéo dài từ 45 phút đến 60 phút
- Thành lập tổ chức “sinh viên cố vấn học tập” (SLAMs: Student Learning Advisor Mentors) bao gồm những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc trong từng môn học tình nguyện hỗ trợ cho sinh viên khóa sau bằng cách trả lời những câu hỏi cụ thể giúp họ giải quyết những rắc rối trong học tập
- Cung cấp tài liệu hướng dẫn các kỹ năng học tập và các tài liệu học tập khác dưới định dạng PDF trên trang web cho tất cả sinh viên và giảng viên của trường
- Tổ chức các lớp hướng dẫn kỹ năng học tập: Để đạt điểm cao cho bài tập cá nhân, bài tập nhóm, khắc phục nỗi sợ hãi trong thi cử để đạt điểm cao…
- Cung cấp dịch vụ hỗ trợ sinh viên khuyết tật
Bộ phận hỗ trợ tiếng Anh
Khoa tiếng Anh tổ chức cung cấp các buổi tư vấn, hướng dẫn, trợ giúp sinh viên trong việc luyện tập thực hành giao tiếp tiếng Anh, sửa lỗi ngữ pháp trong các bài viết cũng như cách viết các bài tiểu luận …bằng việc thiết kế một bàn làm việc trong khuôn viên không gian học tập mở và có giảng viên ngồi trực tiếp hướng dẫn sinh viên tất cả các ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ sáu trong giờ làm việc Bộ phận hỗ trợ tiếng Anh đã cung cấp sự hỗ trợ rất lớn cho tất cả các sinh viên có nhu cầu học hỏi, thực hành tiếng Anh, thậm chí cho
cả những nhân viên người Việt Nam muốn nâng cao trình độ tiếng Anh của mình
Bộ phận hỗ trợ công nghệ thông tin (IT)
Chịu trách nhiệm hỗ trợ xử lý những sự cố xảy ra với máy tính, máy in, máy phôtô, máy scan cũng tất cả những máy móc, trang thiết bị dùng trong học tập và giảng dạy Bên cạnh đó bộ phận này cũng hỗ trợ khi người sử dụng gặp rắc rối với việc in ấn, email, tài khoản để sử dụng trong hệ thống máy tính của trường, mạng không dây, việc cài đặt cấu hình cũng như cài đặt và hướng dẫn sử dụng những phần mềm hợp pháp[32]
1.4.2 Không gian học tập mở ở nước ngoài
1.4.2.1 Không gian học tập mở Chevalier tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông
Thư viện Đại học Khoa học & Công nghệ Hồng Kông nằm trong khuôn viên ClearWater Bay của trường Đại học Đó là một tòa nhà năm tầng với12.350 2, cung cấphơn 2.400chỗn gồi đọc Ngoài các khu vực học tập, nghiên cứu cá nhân, Thư viện còn
Trang 33cung cấp các phòng họcnhóm,các phòng hội thảo, phòngthuyết trình, lớp học và một phòng máy tính phục vụ cho mục đích giảng dạy
Với sự tập trung mạnh vào công nghệ và truy cập mạng, Thư viện được trang bị cơ
sở vật chấthiện đại với trang thiết bị cho máy tính, ứng dụng kỹ thuật số, tăng cường truy xuất thông tin, và kết nối mạng không dây Thư viện cung cấp một bô sưu tập phong phú tài nguyên thông tin Ngoài 690.000 bản in thư viện còn cung cấp quyền truy cập vào hơn 31.000 tạp chí điện tử và in ấn, một số lượng lớn sách điện tử, cơ sở dữ liệu, và các nguồn thông tin kỹ thuật số khác Thư viện cũng tham gia vào tập đoàn các thư viện đại học và các chương trình hợp tác quốc tế nhằm tăng cường khả năng tiếp cận thông tin Quan trọng hơn, các chuyên gia thư viện và nhân viên giàu kinh nghiệm, tận tâm không ngừng cung cấp dịch vụ hỗ trợ thông tin, hướng dẫn thư viện, dịch vụ truy cậpvà tiếp cận đến những dịch vụ chất lượng khác để giúp đỡ người dùng trong học tậpvà nghiên cứu
Từ năm 2006 thư viện đã tiến hành xây dựng không gian thông tin mở và tiến tới xây dựng không gian học tập mở Năm 2012, chính thức khai mạc không gian thông tin
mở với tên gọi “Không gian học tập mở Chevalier” Thư viện được đặt tên là nhằm tôn vinh giáo sư tiến sĩ Chow Yei Ching vì những đóng góp to lớn của ông dành cho trường đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông
Là trung tâm củathư viện Đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, Không gian học tập mở Chevalier hỗ trợ việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập của trường trong các lĩnh vực khoa học,kỹ thuật,kinh doanh và quản lý, khoa học xã hội và nhân văn, cung cấp một môi trường giao lưu trí tuệ, văn hóa, hợp tác và quan hệ đối tác Không gian học tập
mở với diện tích 1800 m2, cung cấp hơn 600 chỗ ngồi, được xem như là một trung tâm học tập nơi mà sinh viên và giảng viên có thể tìm thấy các dịch vụ hỗ trợ được cung cấp bởi các bộ phận hỗ trợ học tập với các dịch vụ cụ thể
Các dịch vụ/trung tâm trong không gian học tập mở Chevalier
Dịch vụ của không gian học tập mở Chevalier được cung cấp dựa trên sự kết hợp
của các bộ phận hỗ trợ học tập khác nhau bao gồm:
Thư viện
Thư viện cung cấp các dịch vụ cho toàn bộ nhân viên, giảng viên, sinh viên đại học
và cao học cũng như cựu sinh viên và khách tham quan Các dịch vụ của thư viện như: Mượn trả tài liệu in, trang thiết bị nghe nhìn, Tra cứu mục lục trực tuyến và truy cập các CSDLtrực tuyến, Các dịch vụ tham khảo hỗ trợ và tìm kiếm thông tin theo yêu cầu, Mượn
Trang 34liên thư viện, cung cấp các dịch vụ thư viện cho người khuyết tật, hướng dẫn sử dụng thư viện, in ấn, sao chụp tài liệu, đặt phòng học nhóm, phòng hội thảo qua truyền hình…
Trung tâm học tập và giảng dạy nâng cao
Trung tâm cung cấp một môi trường học tập hợp tác và sáng tạo thông qua quan hệ đối tác với các bộ phận khác, các giảng viên, cũng như cán bộ giảng dạyvà sinh viên
Trung tâm hỗ trợ phát triển chuyên môn cho giảng viên và trợ giảng đại học nhằm cải tiến chất lượng giảng dạy của họ một cách liên tục để tác động tích cực đến việc học tập của sinh viên thông qua các chương trình sáng tạo và các khóa học và đáp ứng các mục tiêu nghề nghiệp của họ
Hỗ trợ việc học tập và phát triển của sinh viên thông qua việc cung cấp các khóa học và hội thảo về các kỹ năng học tập đồng thời thúc đẩy công việc học tập dựa trên sự hợp tác chặt chẽ với trườngvà các khoa
Cung cấp những dữ liệu nghiên cứu để thông báo về việc cải thiện chất lượng trong học tập, giảng dạyvà các chương trình phát triển giáo dục
Trung tâm công nghệ thông tin
Trung tâm dịch vụ công nghệ thông tin cung cấp những dịch vụ liên quan đến công nghệ thông tin như:những vấn đề về tài khoản trên mạng, email, trang thông tin cá nhân, kết nối hệ thống mạng làm việc toàn trường, cài đặt phần mềm, mượn trảtrang thiết bị công nghệ thông tin, cung cấp những thiết bị giảng dạy trong những khán phòng lớn và các lớp học, quản lý đăng ký những lớp học qua mạng, cung cấp phòng họp hội nghị truyền hình, quản lý tài khoản sinh viên cho việc in ấn, sao chụp tài liệu, hỗ trợ giải quyết những
sự cố máy tính, mạng…cho quá trình học tập tại không gian học tập mở Chevalier
Trung tâm công nghệ xuất bản
Nhiệm vụ của Trung tâm Công nghệ xuất bản là tích hợp các thiết kế, các phương tiện truyền thông và công nghệ xuất bản để hỗ trợ giảng dạyvà học tập, nghiên cứu và thông tin của Trường
Trung tâm công nghệ xuất bản cung cấp một loạt các dịch vụ cho tất cả các nhà nghiên cứu, nhân viên khoa họcvà nhân viên hành chính: cung cấp một khu vực cho các sản phẩm nghe nhìn, hình ảnh, thiết kế, in ấn, công việc xuất bản điện tử và trực tuyến; Tìm hiểu việc sử dụng các phương tiện giảng dạy mới xuất hiện và công nghệ xuất bản trong môi trường đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông, thiết kế truyền thông đa phương tiện, cung cấp tư vấn, giám sát và kiểm soát chất lượng cho các phương tiện truyền
Trang 35thông, khuyến khích việc sử dụng hiệu quả các thiết kế, phương tiện truyền thông kỹ thuật
số và công nghệ xuất bản trong đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông thông qua các
khóa đào tạo cho giảng viên, nhân viên hỗ trợ kỹ thuậtvà sinh viên
Trung tâm giáo dục ngôn ngữ
Trung tâm giáo dục ngôn ngữ cung cấp những chương trình nâng cao ngôn ngữ cho sinh viên đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông: Các khóa học tiếng Anh, Trung Quốc, ngôn ngữ hiện đại Châu Âu, Châu Á, Hy Lạp, và tiếng Latinh cổ
Tất cả các khóa học được giảng dạy bởi đội ngũ nhân viên có trình độ cao và giàu kinh nghiệm Đồng thời để bảo đảm chất lượng giảng dạy cao nhất, tất cả các khóa học ngôn ngữ tuân thủ những quy chế đảm bảo chất lượng nghiêm ngặt
Trung tâm còn cung cấp các chương trình hội thảo về viết các bài luận tiếng Anh
nhằm cung cấp cho sinh viên thêm những kỹ năng để viết tốt những văn bản học thuật
Văn phòng hội sinh viên
Văn phòng hội sinh viên cung cấp những hỗ trợ tinh thần,vật chất cho sinh viên tại đại học Khoa học và Công nghệ Hồng Kông: Tư vấn chăm sóc sức khỏe, Tư vấn hướng nghiệp với những kỹ năng tìm việc, phỏng vấn, thực tập, cung cấp thông tin về các chương trình học bổng, hỗ trợ tài chính (Chương trình học bổng REDbird), bảo hiểm, các câu lạc
bộ thể thao nghệ thuật và văn hóa, các thông tin về nhà ở cho sinh viên
Các không gian chính trong không gian học tập mở Chevalier
Không gian học tập điện tử
Một không gian đa mục đích với công nghệ phong phú và địa điểm được thiết kế cho các hoạt động giảng dạy và học tập, bao gồm cả những lớp hướng dẫn thư viện, hội thảo và hội nghị truyền hình Khu vực được bố trí lên đến 76 chỗ ngồi với máy tính và có thể được chia thành hai lớp học nhỏ hơn mà không mất đi các chức năng của nó
Lớp học A được trang bị 33 bộ máy tính iMac, lớp học B với 43 bộ máy tính Windows Ngoài ra không gian học tập điện tử còn cung cấp 3 phân vùng nhỏ cho các cuộc tham vấn, hướng dẫn mà có thể được kết hợp thành những buổi hội thảo hoặc giảng dạy được cung cấp bởi những bộ phận hỗ trợ học tập khác nhau trong không gian học tập
mở Chevalier
Không gian sản phẩm truyền thông
Trang 36Với các thiết bị đa chức năng và được bố trí cách linh hoạt, hỗ trợ sản xuất các phương tiện truyền thông cho việc nghiên cứu, các bài thuyết trình…hỗ trợ giảng dạy, đào tạo và hợp tác giữa các bộ phận hỗ trợ học tập
Ngoài ra, trung tâm còn tổ chức các buổi hội thảo đồ họa về: in ấn, vẽ áp phích, chỉnh sửa các trang thiết bị nghe nhìn
- Phòng studio sản xuất những tài liệu đa phương tiện, phòng điều khiển các trang thiết
bị nghe nhìn, phòng mượn trả các phương tiện truyền thông
Không gian hợp tác làm việc, thảo luận và tư vấn
Một không gian được thiết kế với những nét đặc trưng bao gồm các phòng thảo luận với các phân vùng âm thanh khác nhau được trang bị màn hình chiếu hoặc màn hình máy tính để bàn lớn cho các nhóm học tập có quy mô và tương tác khác nhau; Phòng thuyết trình với khả năng ghi âm những bài thuyết trình hay những buổi diễn tập; Không gian tư vấn cho các dịch vụ được cung cấp bởi những bộ phận hỗ trợ học tập Không gian học tập
và làm việc hợp tác gồm có 5 phòng cung cấp máy chiếu và các máy tính, 12 phòng cung cấp màn hình LCD, khu vực học tập mở với bàn ghế có thể di chuyển được, cho phép các nhóm học tập tập thể hoặc cá nhân và các góc ý tưởng cung cấp một màn hình cảm ứng treo tường cho phép người sử dụng nắm bắt những thông tin mới nhất của không gian học tập mở
Không gian giải trí
Một khu vực thư giãn, đọc sách, báo, tạp chí… được trang bị các ghế sofa nơi người dùng
có thể uống hay ăn nhẹ trong khi giao tiếp với bạn bè, máy bán hàng, ti vi với tai nghe, ổ cắm để sạc pin những thiết bị điện tử[71]
1.4.2.2 Không gian học tập mở tại thư viện trường Đại học quốc gia Seoul Hàn Quốc (SNU)
Trường đại học quốc gia Seoul (SNU) thành lập năm 1946 là trường đại học công lập tổng hợp đầu tiên tại Hàn quốc Với mục tiêu trở thành một cộng đồng tri thức sáng tạo dẫn đầu thế giới, trải qua gần 70 năm hoạt động phát triển trường được xếp hạng thứ 31 trên quốc tế và xếp thứ 4 ở châu Á SNU giờ đây có thể tự hào có thể vươn xa khỏi đất nước Hàn quốc để trở thành trường đại học trung tâm ở châu Á và được công nhận như một trường đại học ưu tú trên thế giới
SNU cung cấp cho sinh viên hơn 100 khóa học bậc cử nhân và 99 khóa học bậc sau đại học với Scác lĩnh vực: Khoa học xã hội, Khoa học Tự nhiên, Nông nhiệp và Khoa học
Trang 37đời sống, Quản Trị Kinh doanh, Giáo dục, Kỹ thuật, Nghệ thuật, Nghệ thuật, Luật, Sinh thái học, Y tế, Âm nhạc, Điều dưỡng, Dược học, Thú y
Theo con số thống kê mới nhất, năm học 2016 trường có tổng cộng 28.0630 sinh viên, trong đó 16.511 sinh viên theo học bậc cử nhân, 8 283 sinh viên theo học bậc thạc sỹ
và 3 836 sinh viên theo học bậc tiến sĩ Hàng năm, trường có khoảng 500-600 sinh viên quốc tế đến từ hơn 80 quốc gia khác nhau nhập học Bên cạnh đó trường còn có khaorng
737 sinh viên quốc tế theo học các chương trình trao đổi tại trường
Thư viện trường đại học quốc gia Seoul được thành lập vào năm 1946 với tên gọi ban đầu là Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Seoul Trải qua gần 40 năm phát triển, khi mà số lượng sinh viên tăng gấp đôi và số tài liệu trong thư viện tăng gấp 4 lần, tháng 3 năm 2012 với sự tài trợ từ quỹ Kwangjeong Education Foundation với số tiền lên đến 60 tỉ won, thư viện đại học quốc gia Seoul được xây dựng tòa nhà 6 tầng với diện tích sử dụng của thư viện đã đạt đến mức kỷ lục 57.747㎡ hoàn thành vào tháng 2 năm 2015
Các thành phần trong không gian học tập mở tại SNU
Thư viện
Đây là thư viện có uy tín nhất, sở hữu số lượng ấn bản lớn nhất trong số các thư viện đại học tại Hàn quốc với bộ sưu tập 4,7 triệu cuốn sách, hơn 100.000 tạp chí khoa học
và tạp chí điện tử và hơn 200.000 tài liệu không phải sách
Hơn 70% ngân sách được chi cho các tạp chí và việc mua lại cơ sở dữ liệu web để tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của thư viện Tài nguyên điện tử được phổ biến rộng rãi trong khuôn viên trường, thậm chí cả ở nhà thông qua việc tiếp cận ngoài trường
Từ năm 1992, Thư viện được chỉ định là “Tổ chức lưu giữ tài liệu của Liên Hợp quốc” vì vậy thư viện lưu trữ rất nhiều tài liệu của các tổ chức quốc tế như UN, World bank, OECD
Thư viện SNU đáp ứng nhu cầu của người dùng bằng cách thực hiện một hệ thống thông tin nghiên cứu hoàn hảo và cung cấp dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu
Các dịch vụ thư viện:
- Mượn liên thư viện: nếu người dùng muốn mượn các tài liệu hiện không có tại thư viện, trrong trường hợp tài liệu mượn trong các thư viện trong nướccác tài liệu được yêu cầu có thể được cung cấp từ KERIS, NDSL và KORSA Người dùng cũng có thể trực tiếp mượn các tài liệu từ Ynser, Hàn Quốc và Sungkynkwan và Đại học Hanlim
Trang 38- Phòng đa phương tiện cung cấp truy cập vào các bộ phim, tài liệu, đĩa DVD và video đã được phát hành gần đây có chứa các giá trị nghệ thuật
- Phòng học nhóm: Với mục đích hỗ trợ sự hợp tác giữa các sinh viên, chúng tôi
tổ chức các phòng học tập nhóm trong Phòng Tham khảo cũng như Phòng Đọc, đặt trên tầng một
- Book Café: Là nơi thư giãn nằm ngay bên ngoài của thư viện Book Cafes sẽ làm mới tâm trí bạn trong bằng cách cung cấp sách truyện tranh, tạp chí, báo và truy cập internet
số Myers-Briggs (MBTI) giúp sinh viên khám phá một cách khách quan các đặc điểm cá nhân và tính cách của họ và Nhận biết công việc yêu thích (Strong Interest Inventory – SIA) giúp đánh giá sở thích nghề nghiệp của sinh viên
Bộ phận này cũng cung cấp các buổi tư vấn Nghề nghiệp cá nhân theo hình thức một-đối-một hướng đến tất cả sách sinh viên ở các bậc học Với chương trình tư vấn này, sinh viên có cơ hội để được tư vấn nghề nghiệp chuyên sâu với các chuyên gia để giải quyết mối quan tâm liên quan đến nghề nghiệp của họ và định hướngtương lai nghề nghiệp của họ Các buổi Tư vấn theo nhóm về Lập kế hoạch nghề nghiệp nhằm sử dụng sự hiểu biết của mỗi sinh viên làm cơ sở cho việc tư vấn nhóm để lập kế hoạch nghề nghiệp cho
họ Buổi tư vấn thường có một chuyên gia tư vấn và 10 đến 12 sinh viên Chương trình được tổ chức vào mỗi mùa hè mùa đông và nhắm mục tiêu đến sinh viên năm nhất và năm thứ hai đại học
Cố vấn nghề nghiệp
Bộ phận Cố vấn nghề nghiệp cung cấp các chương trình kết nối sinh viên với các công ty trong nước và quốc tế, hoạch định nghề nghiệp một cách hiệu quả và cung cấp các chương trình xin việc cho người tìm việc
Trang 39Bộ phận này cung cấp Chương trình Business Bridge được mở vào mỗi tháng 9 hàng năm Đây giống như là một hội chợ việc làm hàng năm, nơi mà các đại diện của công
ty đến để quảng bá công ty của họ và cung cấp cho sinh viên các thông tin về nghề nghiệp Chương trình này nhắm đến các sinh viên năm nhất đại học và sinh viên tốt nghiệp; Chương trình Ứng dụng Việc làm: Mục đích của chương trình là nâng cao nghề nghiệp cho sinh viên chuẩn bị cho con đường chuyên nghiệp của họ với các hình thứch khác nhau bao gồm việc tư vấn việc làm theo hình thức 1: 1, các buổi hội thảo về chuẩn bị việc làm, hội thảo với các chuyên gia làm việc trong các lĩnh vực cụ thể … Chương trình được cung cấp mỗi học kỳ và được nhắm mục tiêu và sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm thực tập và làm việc
Bộ phận Cung cấp việc làm trong môi trường quốc tế
Bộ phận này nhằm giúp sinh viên trở thành những người tiên phong trong môi trường quốc tế bằng cách cho họ cơ hội thăm và tìm việc thực tập tại các công ty ở trên thế giới thông qua Chương trình tài năng toàn cầu (GTP) GTP cung cấp cho sinh viên những khóa huấn luyện để mở rộng tầm nhìn trong môi trường quốc tế, mẫu hồ sơ việc làm bằng tiếng Anh trực tuyến, thông tin về các cơ hội việc làm toàn cầu, và các chương trình thực tập toàn cầu
Chương trình GTP được tổ chức vào mỗi học kỳ và kỳ nghỉ hè tạo điều kiện sinh viên có cơ hội đi tham quan các công ty ở nước ngoài và tìm kiếm cơ hội thực tập và để khuyến khích sinh viên học tập trong các công ty toàn cầu và các tổ chức quốc tế ở nước ngoài Sinh viên có thể tìm kiếm cơ hội việc làm toàn cầu bằng cách tham gia NACE, Vault và Interbridge Chương trình cũng hỗ trợ sinh viên tìm việc thực tập tại các tổ chức quốc tế như ADB, IDB, OECD và MOU
Bộ phận hỗ trợ học tập
Chương trình Hỗ trợ học tập “Học cách học”
Chương trình này dạy các sinh viên đại học cần thiết kỹ năng học tập nghiên cứu
và phương pháp ở bậc đại học trước khi họ bắt đầu học kỳ đầu tiên của lớp học Chương trình được mở trong suốt học kỳ và dành cho tất cả sinh viên đang học tại trường Chương trình thường tổ chức các buổi hội thảo
Chương trình sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học
Chương trình này cung cấp cơ hội cho sinh viên đại học tham gia thực hiện nghiên cứu sáng tạo trên một lĩnh vực cụ thể với sự hướng dẫn của một giáo sư trong lĩnh
Trang 40vực đó Thông qua chương trình này, sinh viên đại học tham gia vào các quy trình nghiên cứu tiêu chuẩn và có cơ hội để làm quen với các giảng viên cũng như tìm hiểu, nghiên về các lĩnh vực quan tâm của họ
Hội thảo “Làm thế nào để Viết luận văn tiếng Anh”
Chương trình này hỗ trợ sinh viên trong việc nâng cao kỹ năng viết văn bằng tiếng Anh Các chủ đề chính được thảo luận trong hội thảo này là: Viết các bài tóm tắt tiếng Anh, cấu trúc của luận văn, phương pháp để viết các câu hỏi rõ ràng và cụ thể, lập tài liệu tham khảo và cách khái quát về các bài báocác tạp chí nước ngoài
Hội thảo về Cải thiện Kỹ năng biểu hiện
Chương trình này giúp học sinh nâng cao kỹ năng trình bày của mình Tại hội thảo, sinh viên sẽ được hướng dẫn các kỹ năng trình bày phù hợp với những hoàn cảnh khác nhau, cũng như những kỹ năng để đảm bảo bài trình bày của bạn sẽ hợp lý có hiệu quả hơn, hay tổ chức thông tin, dữ liệu trong một bài trình bày được tốt hơn
Dạy kèm cho sinh viên đại học
Chương trình này nhằm hỗ trợ cho những sinh viên đại học thường gặp khó khăn
trong khi giải quyết các bài tập viết khác nhau và muốn nhận phản hồi về những vấn đề đã viết trong bài viết dự thảo trước khi nộp bài tập hoàn thành của họ Chương trình dạy kèm này được thiết kế để hỗ trợ các sinh viên đại học trong suốt quá trình viết, với các nhân viên dạy kèm sẵn có đưa ra ý kiến về dự thảo của học sinh và thảo luận cách để làm cho bài viết của họ hiệu quả hơn
Viết luận văn cho sinh viên tốt nghiệp
Hội thảo này dành cho sinh viên cao học với chuyên ngành khoa học nhân văn và khoa học xã hội và đang trong quá trình làm luận văn, bao gồm các bài giảng và bài tập Chương trình bao gồm các chỉ dẫn về cách tư duy, lập luận , tổ chức, luận văn, diễn giải, trích dẫn và ngữ pháp trong khi sinh viên thực hiện một bài luận văn
Bộ phận Hỗ trợ e-Learning
Dịch vụ e-Giảng dạy và Học tập (viết tắt là e-TL) là một hệ thống hỗ trợ trực tuyến được tạo ra cho các hoạt động hợp tác trực tuyến cho các khóa học được cung cấp tại SNU E-TL bao gồm một ứng dụng “Lớp học trực tuyến”, nơi bạn có thể liên lạc trực tiếp với người hướng dẫn và những bạn cùng lớp khác, đặt câu hỏi, gửi bài tập hoặc các thông tin khác, thậm chí đôi khi thậm chí còn trò chuyện trực tiếp với các thành viên trong nhóm