1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người mạ tại xã quảng khê, huyện đăk glong, tỉnh đăk nông

133 22 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về tri thức bản địa của các tộc người với những khác biệt trong điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú và đặc điểm vă

Trang 1

NGÔ THANH LÂM

TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TỘC NGƯỜI MẠ TẠI

XÃ QUẢNG KHÊ, HUYỆN ĐĂK GLONG,

Trang 2

TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA TỘC NGƯỜI MẠ TẠI

XÃ QUẢNG KHÊ, HUYỆN ĐĂK GLONG,

TỈNH ĐĂK NÔNG

Chuyên ngành: Nhân học

Mã số: 60.31.03.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGÔ THỊ PHƯƠNG LAN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 3

– Những người đã giảng dạy, giúp đỡ, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học

và thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài luận văn Nhờ có sự chỉ dẫn tận tình của cô về mặt chuyên môn mà tôi mới có thể hoàn thành luận văn này

Đồng thời, tôi cũng xin phép được gửi lời cảm ơn đến Bố và Mẹ - những đấng sinh thành đã luôn hỗ trợ, động viên khích lệ tinh thần cũng như tạo mọi điều kiện vật chất giúp tôi có thêm nhiều động lực để hoàn thiện bản thân hơn nữa trên con đường học tập và nghiên cứu sau này

Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến chính quyền xã Quảng Khê và những cá nhân ở địa phương đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi ở địa bàn

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình nhỏ của tôi, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh tôi trong những lúc khó khăn, ủng hộ về mặt tinh thần trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Mặc dù đã cố gắng, nhưng luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô, bạn bè, những người quan tâm đến vấn đề này để luận văn hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

TP.HCM, ngày 25 tháng 08 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thanh Lâm

Trang 4

của tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông” là do tôi viết dựa trên cơ sở kiến thức, thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau do chính bản than thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Ngô Thị Phương Lan

Tất cả những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và các thông tin trích dẫn, hình ảnh trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc, luận văn chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

TP.HCM, tháng 08 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Thanh Lâm

Trang 5

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Giả thiết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 9

6 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu 9

7 Bố cụ của đề tài 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm tri thức bản địa 13

1.2 Khái niệm nông nghiệp 17

1.3 Hướng tiếp cận lý thuyết của đề tài 18

1.4 Tổng quan về địa bàn và đối tượng nghiên cứu 19

1.3.1 Tổng quan về xã Quảng Khê, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông 19

1.3.2 Tổng quan về tộc người Mạ tại xã Quảng Khê 21

Tiểu kết chương 1 29

Chương 2: TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MẠ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG TẠI XÃ QUẢNG KHÊ 2.1 Trong trồng trọt 33

2.1.1 Lựa chọn đất canh tác 33

2.1.2 Hệ thống nông lịch 35

2.1.3 Lựa chọn công cụ canh tác 37

2.1.4 Quy trình canh tác rẫy 40

Trang 6

2.3 Hoạt động chế tác nông cụ 48

2.3.1 Nghề rèn 48

2.3.2 Nghề đan lát 50

Tiểu kết chương 2 54

Chương 3 : SỰ BIẾN ĐỔI CỦA TRI THỨC BẢN ĐỊA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI MẠ TẠI XÃ QUẢNG KHÊ HIỆN NAY 3.1 Những yếu tố làm biến đổi tri thức bản địa 55

3.1.1 Yếu tố nội sinh 55

3.1.2 Yếu tố ngoại sinh 56

3.1.2.1 Hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng tộc người thiểu số 56

3.1.2.2 Yếu tố kinh tế 61

3.1.2.3 Yếu tố văn hóa – xã hội 62

3.1.2.4 Yếu tố tự nhiên 64

3.2 Sự biến đổi và thích ứng của tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ tại Quảng Khê 64

3.2.1 Sự biến đổi của tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ tại Quảng Khê 65

3.2.2 Từ độc canh cây lúa chuyển sang đa dạng hóa cây trồng, chú trọng đầu tư phát triển cây trồng hàng hóa 76

3.2.3 Chăn nuôi theo xu hướng thị trường 77

3.2.4 Đa dạng và linh hoạt tổ chức lao động trong canh tác nông nghiệp 79

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội cụ thể, mỗi tộc người đều sáng tạo cho mình một văn hóa tộc người cụ thể Trong những thập niên gần đây, các nghiên cứu phát triển thường chú ý nhiều đến văn hóa tộc người Vì văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, nên những nghiên cứu về văn hóa sẽ là những cơ sở khoa học đáng tin cậy trong việc xây dựng và hoạch định chính sách vùng các tộc người thiểu số sinh sống Văn hóa bao gồm nhiều thành tố, trong đó tri thức tri thức bản địa có vai trò rất quan trọng, không chỉ giúp con người ứng xử hiệu quả với tự nhiên và xã hội, mà còn làm nên sự khác biệt giữa các tộc người

Trong những năm gần đây, vấn đề tri thức bản địa tại Việt Nam ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về tri thức bản địa của các tộc người với những khác biệt trong điều kiện tự nhiên của địa bàn cư trú và đặc điểm văn hóa

Tri thức bản địa có thể coi là tài sản của một tộc người cụ thể trong quá trình phát triển, phản ánh mối quan hệ và tương tác của từng cộng đồng đối với môi trường tự nhiên và xã hội trong một thời gian dài Tri thức bản địa của các tộc người rất đa dạng, mỗi tộc người trong những điều kiện cụ thể của môi trường tự nhiên, xã hội đã xây dựng riêng cho mình một kho tàng tri thức Vì vậy, để có thể hiểu biết văn hóa của một tộc người thì việc nghiên cứu tri thức bản địa là hết sức cần thiết Mặt khác, từ khi Đổi mới đến nay và trong bối cảnh toàn cầu hóa như là một xu thế tất yếu của sự phát triển thì Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng nhận thấy cách tiếp cận khoa học và công nghệ phương Tây không thể đáp ứng và giải quyết những thách thức về kinh tế, xã hội, môi trường… mà chúng ta đang phải đương đầu ngày nay (tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, biến đôi khí hậu tác động

Trang 9

tác mạnh mẽ tới tất cả các vùng miền, đói nghèo, bệnh tật và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên gay gắt, vấn đề xung đột tộc người, tôn giáo, do những khó khăn về trình độ phát triển kinh tế, xã hội các tộc người thiểu số dễ bị tổn thương bởi các dự án phát triển) Ngược lại, rất nhiều kỹ thuật, kinh nghiệm truyền thống

đã đưa lại hiệu quả cao, được thử thách và chọn lọc trong một thời gian dài, có sẵn tại địa phương, phù hợp với phong tục tập quán của tộc người Việc duy trì và ứng dụng các tri thức này có vai trò rất quan trọng, vừa góp phần bảo vệ và sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có, vừa mang lại các lợi ích kinh tế thiết thực, góp phần nâng cao mức sống, xóa đói giảm nghèo, vì tri thức bản địa còn phù hợp với đặc điểm tự nhiên cũng như đặc trưng tộc người tại địa phương

Do ý nghĩa khoa học và thực tiễn như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông như là một nghiên cứu trường hợp rất cần thiết và có

giá trị về mặt thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tôi chọn nghiên cứu đề tài Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông nhằm

hướng đến các mục tiêu chính sau:

- Xác định và tìm hiểu vai trò, động thái của tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông

- Tìm hiểu sự tương tác giữa tri thức bản địa và tri thức khoa học trong bối cảnh hiện nay

- Việc nghiên cứu những tri thức bản địa trong phương thức sản xuất nông nghiệp là tiền đề quan trọng góp phần giúp cho nhà khoa học hợp tác với người dân trong việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới trong phương thức sản xuất để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từ đó giúp người dân vươn lên xóa đói giảm nghèo

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về tri thức bản địa nói chung và tri thức bản địa của một tộc người đã được các nhà nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ XX Do vậy, cho

Trang 10

đến nay đã có nhiều nghiên cứu công trình ra mắt độc giả Để giúp cho việc theo dõi được thuận lợi, tôi chia thành những phân khúc về lịch sử nghiên cứu vấn đề như sau

* Tư liệu những vấn đề chung về tri thức bản địa

Đây là những công trình đề cập đến nội hàm về các khái niệm liên quan đến

tri thức bản địa Có thể kể đến quyển sách Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản

địa do NXB Nông nghiệp, Hà Nội, ấn hành năm 2000, được Viện kinh tế sinh thái

xuất bản cũng sử dụng khái niệm tri thức kỹ thuật bản địa khi đề cập đến những tri

thức của người dân địa phương được sử dụng cho các hoạt động sản xuất của họ Trong khi đó, tác giả Phạm Quang Hoan với bài viết “Tri thức địa phương của các

dân tộc thiểu số Việt Nam”, trong sách Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX những năm

đầu thế kỷ XXI NXB KHXH Hà Nội, ấn hành năm 2003 thì sử dụng khái niệm là tri thức địa phương (local knowledge) Tác giả Hoàng Xuân Tý & Lê Trọng Cúc

trong sách Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý

tài nguyên thiên nhiên do NXB Nông Nghiệp, Hà Nội ấn hành vào năm 1998 cũng

cho rằng kiến thức bản địa là hệ thống các kiến thức của các dân tộc bản địa hoặc của một cộng đồng tại một khu vực nào đó, nó tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa

lý xác định

Nhìn chung, những công trình được nêu ở trên nghiên cứu tổng quát về tri thức bản địa của các tộc người ở Việt Nam Qua nguồn tài liệu này, giúp tôi rất nhiều trong việc tiếp cận về lý thuyết, phương pháp và những nghiên cứu cụ thể liên quan đến tri thức bản địa nói chung và tri thức bản địa của từng tộc người nói riêng

* Tư liệu liên quan trực tiếp đến tộc người Mạ

Ngoài các công trình nêu trên, tôi còn tiếp cận được các tài liệu viết về phong tục tập quán cũng như một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tộc người Mạ cùng một số các tộc người khác cùng sinh sống tại địa bàn Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

* Các học giả nước ngoài

So với các tộc người thiểu số tại địa bàn Tây Nguyên, số lượng các công trình nghiên cứu và khảo sát về người Mạ không nhiều Trong một số công trình

Trang 11

nghiên cứu của các tác giả P.De Barthélémy, P Raulin, J Dournes, Bernard Bourotte… có nhắc đến người Mạ như là một đối tượng so sánh với các tộc người Xtiêng, Chơ-ro- những tộc người bản địa và sinh sống trên cùng địa bàn Những bài viết, công trình nghiên cứu này chủ yếu miêu tả phong tục tập quán cũng như một

số khía cạnh kinh tế, văn hóa, kỹ thuật, cảnh quan địa lý về vùng đất Mạ và con người Mạ Những tài liệu này có giá trị tìm hiểu nhiều mặt về người Mạ trong thời điểm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Về cơ bản, những bài viết và công trình nghiên cứu đó đã giúp cho người Pháp có những hiểu biết về vùng đất và con người

ở Đông Nam Bộ, nơi mà họ bắt đầu tiến hành công cuộc xâm lược và khai thác thuộc địa trong những năm đầu thế kỷ XX

Người Mạ được nhắc đến trong quyển Xứ người Mạ - lãnh thổ của thần linh

của tác giả J Boulbet, dịch giả Đỗ Vân Anh do nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm

1999 Ban đầu, J Boulbet tiến hành công việc chính của mình là nghiên cứu về nông nghiệp tại vùng Blao ở Đồng Nai thượng – là khu vực cư trú của người Mạ, nay thuộc địa phận tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, ông đã bị cuốn hút bởi những phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng của người Mạ nên ông quyết định ở lại đây 10 năm, lấy vợ người Mạ; và tiến hành tìm hiểu, ghi chép về người Mạ Những ghi chép của ông là nguồn tài liệu được nhiều nhà nghiên cứu tham khảo và trích dẫn khi nghiên cứu về tộc người Mạ và các tộc người thiểu số ở Đông Nam Bộ

Các tác giả người Mỹ, một mặt, kế thừa các công trình nghiên cứu của người Pháp về người Mạ, mặt khác, cũng tiến hành các cuộc khảo sát những nhóm người

Mạ sinh sống tại khu vực phía Tây bắc Sài Gòn – thuộc vùng kiểm kiểm soát của chính quyền Sài Gòn và quan đội Mỹ - trong công trình của các tác giả: Joan L Schrock, William Stockton, Jr.Elaine, M.Murphy, Marilou Fromme (1966), Minority groups in the Republic of Viet Nam (Các tộc người thiểu số ở Việt Nam Cộng Hòa), Headquarters, Department of the Army, US Government printing office: 1967-0233-655 Công trình này được in thành sách và xuất bản năm 1966 với các trang từ 437 đến 474 được dành để giới thiệu tổng quan về môi trường sống, cấu trúc xã hội, luật tục, phương thức canh tác, tín ngưỡng, phong tục tập quán của tộc người Mạ tại Việt Nam

Trang 12

Tác giả Joachim Schliesinger có nhắc đến người Mạ trong hai công trình nghiên cứu của mình là: Hill Tribes of Viet Nam - Introduction and Overview, (Các sắc tộc ở Việt Nam – giới thiệu và tổng quan), tập 1, và tác phẩm Hill Tribes of Viet Nam – Profile of existing hill tribes group (Các sắc tộc ở Việt Nam – Miêu tả sơ lược về cuộc sống của các nhóm tộc người, tập 2, nhà xuất bản White Lotus, Bangkok, Thailand, xuất bản năm 1997 Trong hai tác phẩm này, tác giả Joachim Schliesinger không nghiên cứu chuyên sâu về một tộc người cụ thể mà ông giới thiệu tổng quan về các tộc người ở Việt Nam, sự phân loại các nhóm tộc người ở Việt Nam trong lịch sử, giới thiệu tổng quan về môi trường sống, cấu trúc xã hội, luật tục, giáo dục, y tế, phương thức canh tác, đặc điểm văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán… của các tộc người trải qua các thời kỳ

* Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trong giai đoạn trước năm 1975, có một số công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt về tộc người Mạ và các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên của các tác giả người Việt đã được xuất bản tại Sài Gòn Số lượng những công trình này không nhiều, và chủ yếu giới thiệu sơ lược và khái quát về phong tục tập quán, con người, cuộc sống của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên, trong đó có người Mạ Phần lớn những tư liệu của các tác giả người Việt dựa vào các công trình nghiên cứu trước đó của người Pháp về các tộc người ở Tây Nguyên Ở miền Nam, trước năm 1975, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào bằng tiếng Việt về người Mạ

Từ sau năm 1975, tình hình nghiên cứu tộc người Mạ đã có sự phát triển mới

và đạt được những kết quả đáng kể Các học giả trong nước đã bước đầu nghiên cứu

về người Mạ trên các lĩnh vực như: kỹ thuật trồng trọt, tín ngưỡng dân gian, văn hóa dân gian, kiến trúc, nghề thủ công Trong những công trình nghiên cứu này phải

kể đến hai tập sách: Những vấn đề về dân tộc học Miền Nam Việt Nam, Ban Dân tộc học – Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1978 và Các

dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) của Viện Dân tộc học - Ủy ban

Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 1984

Các bài viết như của Phan Ngọc Chiến về “Nghề rẫy cổ truyền của người Mạ

ở Lâm Đồng” trong Hội nghị Dân tộc học lần II tại TP.HCM vào năm 1977; bài của

Trang 13

Đặng Nghiêm Vạn về “Đặc điểm những hoạt động sản xuất cổ truyền của các cư

dân Tây Nguyên” trên Tạp chí Dân tộc học, số 4/1979; bài của Bùi Minh Đạo về

“Một số vấn đề cơ bản của trồng trọt ở các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên” trên Tạp

chí Dân tộc học, số 1/1999; với nội dung tập trung vào nhiều vấn đề liên quan đến kinh nghiệm dân gian của các tộc người thiểu số trong việc canh tác mưu sinh của

họ Các tộc người thiểu số dùng tri thức bản địa của họ để tính lịch sản xuất, dự báo thời tiết, phân loại sử dụng và bảo vệ đất, cách chống xói mòn, rửa trôi đất và duy trì độ màu mỡ cho đất, phát rẫy, đốt rẫy, trỉa hạt giống, chăm sóc bảo vệ, thu hoạch

và chọn giống…

Trong công trình nghiên cứu Tây nguyên tiềm năng và triển vọng của hai tác

giả Ngô Văn Lý và Nguyễn Văn Diệu, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1992, đã đề cập đến những vấn đề về nguồn gốc, sự tích các địa danh ở Tây Nguyên, tiềm năng du lịch, đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống, văn hóa dân gian của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên Trong tác phẩm này, các tác giả cũng dành hai chương giới thiệu khái quát về đặc điểm văn hóa xã hội của từng tộc người nhóm Malayo-Polinesien và Môn-Khmer ở Tây Nguyên

Một số công trình mang tính giới thiệu tổng quan về văn hóa các tộc người

thiểu số ở Việt Nam như: Việt Nam hình ảnh cộng đồng 54 dân tộc do thông tấn xã Việt Nam xuất bản năm 1996; Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam do Nguyễn Văn Huy chủ biên, xuất bản năm 1997; Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam do

Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu, nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1998 Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu giới thiệu cho đọc giả các vấn đề khái quát về văn hóa – xã hội của các tộc người ở Việt Nam, trong đó có người Mạ

Quyển sách Múa dân gian các tộc người Mạ, Chơro, Stiêng vùng Đông nam

Bộ của Nguyễn Thành Đức, NXB Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 2004 lại là một

nguồn tài liệu khác liên quan đến một loại hình nghệ thuật dân gian của người Stiêng, Mạ, Chơ ro Quyển sách này cũng được xem là nguồn tài liệu thư tịch quan trọng để tham khảo khi trình bày về tổng quan, văn hóa – xã hội của các tộc người Stiêng, Mạ, Chơ ro ở vùng Đông Nam Bộ Nội dung của quyển sách, tác giả trình

Trang 14

bày khái quát về các tộc người Mạ, Chơ ro, Stiêng ở Đông Nam Bộ, từ lịch sử hình thành tộc người đến địa bàn cư trú, văn hóa, xã hội truyền thống Đặc biệt, tác giả chú trọng đến việc trình bày các điệu múa dân gian của các tộc người này Theo tác giả, mỗi điệu múa sẽ biểu thị cho từng hoạt động khác nhau trong cuộc sống; từ những điệu múa đó, tác giả đã diễn giải trở lại những tập tục, quan niệm và tri thức của các tộc người trong sản xuất, lao động như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến lương

thực thực phẩm, săn bắt, hái lượm, đan dệt thủ công…

Tác phẩm Truyện kể người Mạ ở Đồng Nai của hai tác giả Huỳnh Văn Tới

và Phan Đình Dũng, nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 2008, đã giới thiệu khái quát về văn hóa truyền thống của tộc người Mạ và giới thiệu các câu truyện kể dân gian của tộc người Mạ qua khảo sát tại huyện Tân Phú và Định Quán tỉnh Đồng Nai Qua những câu truyện kể dân gian Mạ đã thể hiện thế giới quan bản địa của tộc người Mạ trong việc ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội vùng Đồng Nai thượng

Quyển sách Văn hóa người Mạ của nhóm tác giả Huỳnh Văn Tới, Lâm

Nhân, Phan Đình Dũng, nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội ấn hành năm 2013

là một tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về người Mạ tại tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai

Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Tri thức bản địa của người Mạ trong việc ứng xử

với môi trường tự nhiên và xã hội ở tỉnh Lâm Đồng” của Lâm Nhân (chủ biên) hoàn

thành năm 2013 đã phác họa tương đối đầy đủ về tri thức bản địa của tộc người Mạ

ở tỉnh Lâm Đồng cũng như phản ánh được văn hóa ứng xử của tộc người Mạ với môi trường tự nhiên và xã hội ở tỉnh Lâm Đồng

Ngoài ra các công trình như: Xã hội tộc người Chơ ro, Mạ, Stiêng ở Đồng

Nai của Phan Lạc Tuyên chủ biên do NXB Đông Nai ấn hành năm 1987; Người Mạ

ở Việt Nam của NXB Thông Tấn ấn hành năm 2014 là một nguồn thông tin tham

khảo khá tổng quát về các vấn đề cơ bản như nguồn gốc và sự phân bố dân cư, tổ chức làng (bon) và nhà ở; tập quan mưu sinh; trang phục và trang sức; phong tục và

lễ hội của tộc người Mạ tại Việt Nam

Trang 15

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tộc người Mạ và một số tộc người láng giềng tại địa bàn Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đã giới thiệu tổng quan về văn hóa của người Mạ trên cả hai phương diện là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, với các phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, đề tài này mong muốn đi sâu nghiên cứu vấn đề tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ tại địa bàn xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông trong bối cảnh biến đổi liên tục do sự tác động của hàng loạt các yếu tố chủ quan lẫn khách quan như: các chính sách của Đảng và Nhà nước, sự giao lưu tiếp biến văn hóa giữa các tộc người, sự biến đổi đời sống kinh tế, văn hóa , xã hội tại địa phương với mục đích kế thừa, và bổ sung thêm cho kết quả của những công trình, đề tài nghiên cứu trước đây để tìm hiểu chi tiết hơn về tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ tại địa bàn xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ, là một trong những lớp cư dân có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời tại khu vực Tây Nguyên nói chung và địa bàn xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong khu vực

xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông là nơi tập trung đông người Mạ sinh sống

- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu tri thức địa phương (tri thức bản địa) trong

sản xuất nông nghiệp trong tiến trình phát triển xã hội tộc người; nghĩa là các tri thức bản địa đã và đang tồn tại trong nhận thức của cộng đồng tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Bên cạnh đó, tôi cũng rất quan tâm tìm hiểu khoảng thời gian từ năm 1993 khi người Mạ bắt đầu chuyển đổi sang trồng cây cà phê cùng với đó là một hệ tri thức bản địa mới dần được hình thành trong sản

Trang 16

xuất nông nghiệp của người Mạ tại xã Quảng Khê Từ khoảng thời gian này, người

Mạ bắt đầu áp dụng khoa học kỹ thuật trong canh tác sản xuất nông nghiệp; và cũng

từ đây nông nghiệp truyền thống của người Mạ không còn được thực hành rộng rãi cho đến khi chấm dứt hoàn toàn vào năm 2003

5 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

+ Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ được thể hiện như thế nào; và sự biến đổi của tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ diễn ra trong bối cảnh hiện nay ra sao?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ là sản phẩm của quá trình thích nghi với phương thức canh tác nương rẫy; khi chuyển sang loại hình canh tác mới chủ yếu dựa vào khoa học kỹ thuật thì tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ đã có nhiều sự biến đổi không chỉ do tác động của sự thay đổi môi trường sinh thái mà còn do các nhân tố khác như: kinh tế - chính trị, văn hóa – xã hội Tuy nhiên, tri thức bản địa vẫn đóng một vai trò nhất định trong sản xuất nông nghiệp theo hình thức canh tác mới của người Mạ trong bối cảnh hiện nay

6 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu

Để tiến hành việc thu thập, xử lý phân tích thông tin và dữ liệu, đề tài sử dụng một số phương pháp cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích tài liệu: Những đề tài có liên quan đều được kế

thừa và vận dụng những thông tin về vấn đề nghiên cứu Qua phân tích các dữ liệu, tài liệu, các công trình nghiên cứu đi trước sẽ rút ra được nhiều nội dung phong phú, phù hợp với đề tài

- Phương pháp đối chiếu so sánh: Việc sử dụng phương pháp này giúp đề tài

có thể so sánh các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu từ các quan điểm, các cách nhìn khác nhau để lựa chọn những thông tin chân thực, khách quan làm nổi bật vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp quan sát – tham dự: Là phương pháp đặc thù chuyên biệt

Trang 17

của ngành Nhân học, đòi hỏi người nghiên cứu phải tham dự, quan sát, cùng sinh sống và khảo sát tại cộng đồng mà mình nghiên cứu trong thời gian dài Trong thời gian điền dã, tôi tham gia vào các hoạt động của cộng đồng như: quan sát việc chăm sóc cây cà phê, tham dự hoạt động chăm sóc vườn nhà và gia súc, gia cầm, tham dự việc lên rẫy, quan sát việc sử dụng các công cụ truyền thống (cào cỏ, gùi, dao)… với mục tiêu hướng đến yếu tố tự mình quan sát, cảm nhận và nắm bắt thông tin

trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Các thông tin này được ghi lại dưới hình thức

Nhật ký điền dã

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Là một trong những phương pháp được sử

dụng thường xuyên tại địa bàn nghiên cứu Đây là phương pháp thu thập thông tin

từ các thành viên trong cộng đồng bằng các cuộc đối thoại có chủ định Trong quá trình điền dã, phương pháp này được dùng để phỏng vấn người dân, cán bộ địa phương, chức sắc tôn giáo… Thông tin có được từ các cuộc phỏng vấn có tính khách quan cho đề tài, dùng để phân tích và minh chứng cho những nhận định trong

đề tài bằng hình thức trích dẫn nội dung phỏng vấn bên cạnh ý kiến, nhận định của tôi Do đặc thù của đề tài nghiên cứu về tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp nên tôi áp dụng việc chọn mẫu điển hình là những đối tượng trên 50 tuổi Đây là những người có những hiểu biết cụ thể về phong tục tập quán, đã trải qua quá trình sản xuất nông nghiệp từ trước đến nay và một đối tượng quan trọng khác những người nắm giữ các vị trí, chức vụ trong thôn (bon) có sự ảnh hưởng đến cộng đồng người Mạ như: già làng, trưởng thôn …Tôi cũng lựa chọn những người cao tuổi tại

xã Quảng Khê để tìm hiểu những trải nghiệm của họ trong quá trình sinh sống cũng như những cách thức canh tác nông nghiệp từ trong quá khứ đến hiện tại

Trong khoảng thời gian ở thực địa, tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn sâu (khoảng 10 cá nhân) Những cuộc phỏng vấn này, tôi thực hiện từ 45 phút cho đến

02 giờ, và phần lớn được diễn ra ở nhà riêng của các đối tượng nghiên cứu Có những đối tượng mà tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn để thu thập thông tin về cuộc sống của họ, trong quá khứ và hiện tại để thấy được diện mạo của các hoạt động nông nghiệp đã thay đổi ra sao Để cho đối tượng phỏng vấn được thoải mái

Trang 18

nhất về thời gian, tôi để họ chủ động về thời gian cũng như địa điểm phỏng vấn Thông thường thì tôi đã tiến hành phỏng vấn vào buổi tối, vì đây là khoảng thời gian mà mọi người nghỉ ngơi, những hoạt động lao động thường ngày đã ngưng lại

Ngoài ra tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn trong qua trình tiến hành phỏng vấn

để thu thập dữ liệu do đa phần những người lớn tuổi và nắm giữ nhiều thông tin lại không thể giao tiếp bằng tiếng phổ thông cũng như không biết đọc, biết viết (đặc biệt là các trường hợp nữ giới trên 60 tuổi) Đây có thể coi là lý do quan trọng để giải thích việc chọn mẫu phỏng vấn có sự mất cân bằng về giới của đề tài

Các văn bản ký âm tiếng Mạ và dịch nghĩa tiếng Việt được thực hiện với sự trợ giúp bằng văn bản được ghi lại bởi chính tay của các đáp viên người Mạ, những người không những thông thạo tiếng Mạ mà cả tiếng Việt Với phương pháp và kỹ thuật điền dã dân tộc học, tôi đã dành nhiều thời gian để gần gũi, trò chuyện và linh hoạt sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn để thu được những thông tin xác thực nhất có thể

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần dẫn luận và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận Nội dung của chương này

được trình bày về các khái niệm liên quan đến đề tài, quan điểm tiếp cận, lý thuyết nghiên cứu, tổng quan về địa bàn và đối tượng nghiên cứu…

- Chương 2: Nhận diện tri thức địa phương (tri thức bản địa) trong sản xuất

nông nghiệp của tộc người Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông Chương này được trình bày tổng quan tri thức bản địa liên quan đến hai phương thức sản xuất nông nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi của tộc người

Mạ tại xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông

- Chương 3: Tập trung trình bày những biến đổi của tri thức bản địa liên

quan đến sản xuất nông nghiệp do những tác nhân như kinh tế - chính trị, tính đa tộc người trong cộng đồng, chính sách phát triển…

- Kết luận, tôi đúc kết lại những gì đã được trình bày với mong muốn những

tư liệu này sẽ giúp ích cho các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề tri thức bản địa

Trang 19

trong việc đề ra các chính sách để phát huy các giá trị và đóng góp của tri thức bản địa của các tộc người thiểu số trong gian đoạn hiện nay

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm tri thức bản địa

Thuật ngữ “tri thức bản địa” (Indigenuos Knowledge) được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979 Sau đó được Brokensha và D.M.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục được sử dụng và phát triển cho đến ngày nay [36, tr 12]

Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các tổ chức, học giả về khái niệm tri thức bản địa cũng như vai trò của nó đối sự phát triển trong xã hội đương đại Theo định nghĩa của tổ chức UNESCO, “Tri thức địa phương hay tri thức bản địa dùng để chỉ sự hiểu biết, kỹ năng và triết lý phát triển bởi các xã hội có lịch sử lâu dài tương tác với môi trường tự nhiên xung quanh họ Đối với người dân nông thôn

và bản địa, tri thức địa phương hay tri thức bản địa xác định cách thức quyết định về các khía cạnh cơ bản của cuộc sống hằng ngày Tri thức này là gắn liền với một phức hợp văn hóa bao gồm ngôn ngữ, hệ thống phân loại, việc sử dụng tài, tương tác xã hội, nghi thức và tâm linh Những tri thức độc đáo và duy nhất này là khía cạnh quan trọng của sự đa dạng văn hóa của thế giới, và cung cấp một nền tảng cho phát triển bền vững tại địa phương thích hợp”.1

Ngân hàng thế giới (World Bank) định nghĩa dựa trên định nghĩa của D.M.Warren và J.M.Flavier : “Tri thức bản địa là tri thức địa phương - những kiến thức duy nhất có được bởi một nền văn hóa hay xã hội nhất định Tri thức bản địa đối lập với hệ thống kiến thức quốc tế được tạo ra bởi các trường đại học, viện nghiên cứu và các công ty tư nhân Nó là cơ sở cho việc ra quyết định ở cấp địa

1 “Local and indigenous knowledge refers to the understandings, skills and philosophies developed by societies with long histories of interaction with their natural surroundings For rural and indigenous peoples, local knowledge informs decision-making about fundamental aspects of day-to-day life This knowledge is integral to a cultural complex that also encompasses language, systems of classification, resource use practices, social interactions, ritual and spirituality These unique ways of knowing are important facets of the world’s cultural diversity, and provide a foundation for locally-appropriate sustainable development” Nguồn: http://www.unesco.org/new/en/natural-sciences/priority-areas/links/related-information/what-is- local-and-indigenous-knowledge/ , truy cập ngày 02-09-2015

Trang 21

phương trong nông nghiệp, y tế, chuẩn bị thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và một loạt các hoạt động khác trong cộng đồng nông thôn.2 Kiến thức bản địa là ( ) là những thông tin cơ bản cho một xã hội, mà những thông tin này tạo điều kiện cho quá trình giao tiếp và ra quyết định Hệ thống thông tin bản địa thì năng động, và đang tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi sự sáng tạo nội bộ và thử nghiệm cũng như tiếp xúc với các hệ thống bên ngoài.3

Ủy ban Quốc tế Hiệp hội Khoa học định nghĩa tri thức bản địa một cách khái quát về đối tượng kiến tạo nên tri thức bản địa và sự tương tác đối tượng kiến tạo và tri thức bản địa trong đời sống tự nhiên và xã hội Theo đó thì tri thức bản địa là

“Tri thức truyền thống là một khối tích lũy các kiến thức, hiểu biết, các tập quán và các cách diễn đạt được duy trì và phát triển bởi những con người có lịch sử lâu dài trong tương tác (interaction) với môi trường tự nhiên Những cách hiểu, lý giải và các ý nghĩa tinh vi này là một phần của một phức hệ văn hóa bao gồm ngôn ngữ, tên gọi và các hệ thống phân loại, các thói quen sử dụng tài nguyên, lễ nghi, tín ngưỡng

và thế giới quan… Tri thức truyền thống tạo cơ sở cho việc ra quyết định của người địa phương về nhiều khía cạnh cơ bản của cuộc sống hàng ngày: săn bắn, đánh cá, hái lượm, nông nghiệp và chăn nuôi; chuẩn bị thức ăn, bảo tồn và phân phối thức

ăn, xác định vị trí, lấy nước và dự trữ nước; đấu tranh chống lại bệnh tật và thương vong; giải nghĩa các hiện tượng thời tiết và khí tượng; sản xuất các công cụ và quần áo; xây dựng và bảo dưỡng nhà ở; định hướng và đi lại trên đất liền và biển; quản lý các mối quan hệ sinh thái của xã hội và tự nhiên; thích nghi với các thay đổi về môi trường/xã hội…” [13, tr 1- 27]

Trong một nghiên cứu của Mugabe năm 1998, ông đã chỉ ra sự khác biệt

2 Indigenous knowledge is the local knowledge – knowledge that is unique to a given culture or society Indigenous knowledge contrasts with the international knowledge system generated by universities, research institutions and private firms It is the basis for local-level decision making in agriculture, health care, food preparation, education, natural-resource management, and a host of other activities in rural communities

Nguồn: http://www.worldbank.org/afr/ik/basic.htm , truy cập ngày 02-09-2015

3 Indigenous Knowledge is (…) the information base for a society, which facilitates communication and decision-making Indigenous information systems are dynamic, and are continually influenced by internal creativity and experimentation as well as by contact with external systems

Nguồn: http://www.worldbank.org/afr/ik/basic.htm , truy cập ngày 02-09-2015

Trang 22

giữa tri thức bản địa và tri thức truyền thống Theo Mugabe “tri thức bản địa là tri thức được duy trì bởi một nhóm người dân, những người tự nhận là người bản xứ của một địa phương dựa trên cơ sở sự khác biệt nhau về văn hoá và sự chiếm giữ lãnh thổ trước tiên liên quan đến dân số mới di cư đến trong một thời gian gần đây, với sự khác biệt của chính bộ phận này và nền văn hoá có ảnh hưởng lớn Tri thức truyền thống, mặt khác là tri thức được được duy trì bởi các thành viên của một nền văn hoá khác biệt và hoặc đôi khi đạt được bằng cách hướng đặc biệt tới nền văn hoá đó và liên quan đến chính nền văn hoá và môi trường địa phương mà nó tồn

tại” Ông kết luận rằng: “tri thức bản địa ăn khớp rõ ràng với sự phân loại tri thức

truyền thống, nhưng truyền thống không tự động là bản địa” Bản thân Mugabe trong các bài nghiên cứu của mình cũng đã khẳng định: “đã có rất nhiều nỗ lực khác nhau để xác định quan niệm về tri thức truyền thống và tri thức bản địa và cư dân bản địa, nhưng trong một chừng mực nhất định thì vẫn chưa có một định nghĩa nào được toàn cầu chấp nhận” [11, tr 23 – 31]

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây cụm từ “tri thức bản địa” (Indigenuos Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức dân gian” (Folk Knowledge) đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong các công trình của mình Các nhà nghiên cứu như Lê Trọng Cúc, Ngô Đức Thịnh, Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Duy Thiệu, Phạm Quang Hoan đều đưa ra những định nghĩa về các cụm từ này

Nhà nghiên cứu Lê Trọng Cúc cho rằng “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau Tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hướng dẫn và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên” [5, tr 125]

Ngô Đức Thịnh và Nguyễn Duy Thiệu cũng định nghĩa về tri thức bản địa với nội hàm tương tự với định nghĩa trên “Tri thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích lũy trong quá

Trang 23

trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ xã hội và thích ứng môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau

và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội” [30, tr 3]

“Tri thức dân gian là một phức hệ những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác Nó cũng được hình thành trong thế ứng xử giữa hoạt động của con người với môi trường tự nhiên để kiếm sống Tri thức dân gian cũng chỉ tồn tại trong từng điều kiện môi trường cụ thể Bởi thế nó cũng thường được gọi là tri thức bản địa hoặc cụ thể hơn là tri thức của người bản địa (Knowledge of Indegenous)” [29, tr 206 – 207]

Trong khi đó, Phạm Quang Hoan lại phân chia tri thức bản địa thành hai cấp

độ tương ứng với tri thức của một tộc người hoặc các cộng đồng tộc người khác nhau sinh và sống trong cùng một vùng văn hóa hoặc sinh thái nhất định

“Tri thức địa phương được hiểu ở các cấp độ khác nhau Một là, “tri thức địa phương” (hay “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương là phương thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân văn của mỗi tộc người Cũng có thể coi đó là bản sắc văn hóa tộc người Hai là, “tri thức địa phương” là tri thức của các cộng đồng tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hay một vùng văn hóa nhất định Trong trường hợp này, tri thức địa phương phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích nghi văn hóa giữa các tộc người…” [10, tr 87]

Tóm lại, các khái niệm “tri thức bản địa” (Indigenuos Knowledge), “tri thức địa phương” (Local Knowledge), “tri thức dân gian” (Folk Knowledge), dù chưa có

sự thống nhất nhưng chúng không hề mâu thuẫn lẫn nhau mà còn chồng lên nhau ở nhiều khía cạnh và có nội hàm đồng nghĩa với nhau Đó là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội, được lưu truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua

Trang 24

thực tiễn sản xuất Tri thức này chứa đựng nhiều lĩnh vực như: sản xuất nông nghiệp, bảo quản và chế biến thực phẩm, khai thác hợp lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên v.v

1.2 Khái niệm nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trong của nền kinh tế mỗi quốc gia Hoạt dộng nông nghiệp vừa gắn liền với các yếu tố KT – XH, vừa gắn liền với các yếu tố tự nhiên Nông nghiệp ngày càng phát triển đa dạng với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau do đó khái niệm nông nghiệp cũng

có sự khác nhau ở mức độ phạm vi rộng, hẹp tùy thuộc vào hướng tiếp cận Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp là sự hợp thành của trồng trọt và chăn nuôi, còn theo nghĩa rộng thì bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam do Nhà xuất bản từ điển bách khoa

xuất bản năm 2003, “Nông nghiệp ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Là ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản”

Cuốn Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên định nghĩa “Nông nghiệp” là

ngành kinh tế quốc dân chuyên trồng trọt và cày cấy thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp.” [31, tr 605]

Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên của Bộ Giáo dục và

đào tạo có định nghĩa “Nông nghiệp” như sau: “Ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi: phát triển nông nghiệp, mặt trận nông nghiệp.” [45, tr 1283] Bên cạnh đó, từ điển còn phân chia

rõ ràng cụ thể hơn với các khái niệm xung quanh như “nông nghiệp cổ truyền”,

“nông nghiệp công nghiệp hóa”, “nông nghiệp nguyên thủy”, “nông nghiệp sinh

học”, “nông nghiệp sinh thái học”, “nông nghiệp 8” Cuốn Từ điển Tiếng Việt do

Hoàng Phê chủ biên đã định nghĩa: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi” [25, tr 768]

Trang 25

Từ những khái niệm trên, chúng tôi cho rằng Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ sử dụng đất đai để trồng trọt, cấy cày và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chính

để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp

1.3 Hướng tiếp cận lý thuyết của đề tài

Trong đề tài này tôi vận dụng một số lý thuyết để phân tích, lý giải các vấn đề liên quan đến tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của tộc người Mạ tại xã

Quảng Khê, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông như:

- Thuyết sinh thái văn hóa

Đây là lý thuyết nói đến sự thích ứng văn hóa của tộc người đối với môi trường

tự nhiên Đây cũng chính là quan điểm mà Phillip Kottak, nhà Nhân học sinh thái,

đưa ra trong công trình nghiên cứu của mình với nhan đề Anthropology:

appreciating human diversity [Nhân học: đánh giá sự đa dạng con người] Theo

ông, “con người đã có những niềm tin và cách thực hành văn hóa làm sao để thích ứng với môi trường của họ, và họ cũng sử dụng các yếu tố văn hóa để làm sao duy trì được các hệ sinh thái”4 Quan điểm này được đưa ra dựa trên quan điểm của Julian Steward, một trong những người khởi xướng ngành Nhân học sinh thái vào thập niên 60 của TK-XX Steward tập trung nghiên cứu các phương thức sinh kế khác nhau và sau đó phân tích các khía cạnh khác của văn hóa Theo Steward, văn hóa là đơn vị phân tích5 Thuyết sinh thái văn hóa sẽ làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và môi trường, từ quan điểm “con người là thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, còn văn hóa chịu ảnh hưởng của các thể loại tài nguyên môi trường mà con người sử dụng”6 Các nhà nhân học sinh thái đầu tiên cũng tin tưởng rằng, văn hóa là phương tiện mà con người dùng để thích nghi và duy trì môi trường

4Kottak, Conrad P 2010 Anthropology: appreciating human diversity(14th ed ed.) New York:

McGraw-Hill pp 579–584 ISBN 978-0-07-811699-5

5Steward, Julian H 1955 Theory of Culture Change.University of Illinois Press

6Robert Layton (2008), Nhập môn lý thuyết nhân học, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM

Trang 26

sinh thái7 và môi trường sinh thái sẽ tác động đến sự biến đổi văn hóa tộc người khi chính môi trường sinh thái đó thay đổi8

Vận dụng lý thuyết này để giải thích sự tồn tại của các dạng tri thức về phương thức sản xuất của tộc người Mạ liên quan đến môi trường sinh thái; và cũng đề cập đến sự mất đi của các loại tri thức khi môi trường sinh thái thay đổi

- Lý thuyết kinh tế-chính trị

Nội dung của lý thuyết này đề cập đến các mối quan hệ giữa hệ thống sản xuất với hệ thống pháp luật, giữa hải quan với chính phủ, giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng… hoặc giải thích làm thế nào để các tổ chức chính trị, môi trường chính trị, và các hệ thống tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa có khả năng tương tác lẫn nhau trong quá trình phát triển xã hội9; hay đề cập đến nguồn gốc và tốc độ thay đổi của các tổ chức chính trị, và vai trò của văn hóa trong việc giải thích kết quả kinh tế và phát triển xã hội10; hoặc khám phá mối quan hệ trong quá khứ mà người

và các nhóm lợi ích chung về kinh tế đã sử dụng chính trị để thay đổi những tác động có lợi đến lợi ích của họ…11 Lý thuyết này xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX từ thuyết hệ thống thế giới và thuyết kém phát triển trong xã hội chính trị của Wallerstein và Frank

Tôi vận dụng lý thuyết này nhằm mục đích xem xét sự chuyển đổi của tri thức bản địa trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội thay đổi ở tộc người Mạ tại xã Quảng Khê để từ đó lý giải sự chuyển đổi hệ tri thức bản địa của tộc người Mạ tại địa bàn này

1.4 Tổng quan về địa bàn và đối tượng nghiên cứu

1.3.1 Tổng quan về xã Quảng Khê, huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông

* Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

9 Allan Drazen 2008 "Political business cycles," The New Palgrave Dictionary of Economics, 2nd Edition

10 Alberto F Alesina (2007:3) "Political Economy," NBER Reporter, pp 1-5

11 Drew R McCoy, "The Elusive Republic: Political Ecocomy in Jeffersonian America", Chapel Hill, University of North Carolina

Trang 27

Quảng Khê là xã vùng hai12 của huyện Đắk Glong với tổng diện tích tự nhiên

là 11.936 ha Dân số toàn xã tính đến hết tháng sáu năm 2015 là 2.654 hộ - 11.728 nhân khẩu với 23 thành phần dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 30%, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 35,11% dân số toàn xã, trình độ dân trí không đồng đều, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là các tộc người thiểu

số tại chỗ còn nhiều hạn chế Ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế và tập trung số đông lực lượng lao động, sản xuất nông nghiệp còn ở trình độ thấp, sản phẩm làm ra không đủ sức cạnh tranh trên thị trường nên ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người dân.13

Quảng Khê nằm ở trung tâm của huyện Đắk Glong giáp với các xã Đắk Nia

ở phía Tây Bắc, Đắk Plao ở phía Bắc và Đông Bắc, Đắk Som ở phía Đông, Lộc Bảo

và Lộc Lâm ở phía Nam và Tây Nam.Về phương diện hành chính, Quảng Khê được chia thành 11 thôn (bon) bao gồm: Bon Ka La Dơng, Bon Phi Mur, Bon K Nur, Bon

Ka La Dạ, Bon Sa Diên, Bon Ka La Yu, Bon Sa Ú Dru, Thôn Quảng Long, Bon B’Dơng, Bon R’Dạ, Thôn Đăk Lang

Quảng Khê có địa hình phong phú và đa dạng với cao nguyên đồng thời xen

kẽ là các thung lũng với độ cao trung bình trên 800 m Về khí hậu, Quảng Khê vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung 90% lượng mưa hàng năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể Nhiệt độ trung bình năm khoảng

từ 21-220C, trong đó nhiệt độ cao nhất vào khoảng 330C, nhiệt độ thấp nhất vào khoảng 140C, tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng lạnh nhất là tháng 12 Lượng mưa trung bình năm khoảng 2200-2400 mm, lượng mưa cao nhất 3000mm Tháng mưa nhiều nhất vào tháng 8, 9; mưa ít nhất vào tháng 1, 2 Độ ẩm không khí trung

Trang 28

bình 84% Độ bốc hơi mùa khô từ 14,6-15,7mm/ngày, mùa mưa 1,5-1,7 mm/ngày

- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn là 4.426,66 ha, chiếm 37,09% diện tích đất toàn xã Mặc dù là vùng có nhiều đồi núi, nhưng Quảng Khê nằm trong khu vực trung tâm đất đỏ Bazan, tạo ra độ phì nhiêu cao trong đất, rất thích hợp để phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, điều, tiêu và các loại cây công nghiệp khác cũng như cây lấy gỗ Bên cạnh đó, đây là khu vực có có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm

- Tổng diện tích đất rừng của xã là 5.875,90 ha, trong đó diện tích rừng trồng chiếm 2.590,685 ha (trồng liên doanh liên kết rừng sản xuất14 và trồng phân tán15); hiện đã triển khai cho nhân dân thực hiện trồng rừng năm 2014 theo QĐ/147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ với diện tích 85 ha.16

- Tài nguyên nước: Xã Quảng Khê hiện có 10 hồ đập chứa nước do Nhà nước đầu tư xây dựng và quản lý bởi công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi tỉnh Đắk Nông - Chi nhánh huyện Đắk Glong cùng hàng trăm hồ đập nhỏ của người dân Nguồn nước ngầm phân bố ở hầu khắp trên địa bàn trong xã, có trữ lượng lớn ở độ sâu 60-90m Tuy nhiên, tại một số nơi trong vùng nguồn nước ngầm cũng hạn chế Đây là nguồn cung cấp nước bổ sung cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô, được sử dụng phổ biến cho sinh hoạt, làm kinh tế vườn, kinh tế trang trại Nước ngầm được khai thác chủ yếu thông qua các giếng khoan, giếng đào, nhưng

do nguồn nước nằm ở tầng sâu nên muốn khai thác cần có đầu tư lớn và phải có nguồn năng lượng

1.3.2 Tổng quan về tộc người Mạ tại xã Quảng Khê

14 Rừng trồng liên doanh liên kết là sự phối hợp giữa Doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp được Nhà nước cho thuê đất, rừng hoặc giao đất rừng để tổ chức sản xuất kinh doanh, quản lý bảo vệ, phát triển rừng với các tổ chức kinh tế khác để tiến hành các hoạt động đầu tư phát triển rừng nhằm đem lại lợi ích về kinh

tế - xã hội và môi trường

15 Theo thuật ngữ Lâm nghiệp của Vụ Khoa học công nghệ, Bộ Lâm nghiệp cũ, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1996, thì trồng cây phân tán hay còn gọi là trồng cây nhân dân (Scatteret trees

planting) là trồng cây xen kẽ ở các khu dân cư hoặc ở các khu sản xuất lâm nghiệp, công nghiệp khác ngoài vùng sản xuất lâm nghiệp tập trung, do nhân dân sở tại làm dưới sự hướng dẫn của cơ quan lâm nghiệp

16Báo cáo “Tổng kết tình hình thực hiện các chỉ tiêu về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng năm

2014, phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2015”, Ủy ban nhân dân xã Quảng Khê, 2014

Trang 29

Tộc người Mạ là một tộc người bản địa có quá trình lịch sử phát triển lâu dài gắn liền với khu vực Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Nông nói riêng Theo danh mục cộng đồng các dân tộc Việt Nam17, Việt Nam có 54 dân tộc Người Mạ được định danh là một tộc người riêng biệt trong 54 cộng đồng dân tộc của Việt Nam Theo số liệu của cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, tộc người Mạ có dân số 41.405 người, cư trú tại 34 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố, trong đó tập trung chủ yếu tại các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ

Về đặc điểm ngôn ngữ, người Mạ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer có 21 tộc người là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Giẻ-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Stiêng Trong nhóm ngôn ngữ này được chia thành 05 tiểu nhóm gồm: Khmer, Khơ mú, Cơ-tu, Ba-na, M’Nông Người Mạ được xếp vào tiểu nhóm M’Nông cùng với các tộc người M’Nông, Cơ-ho, Stiêng, Chơ-ro

Người Mạ “thuộc nhóm loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng Chiều cao trung bình vào loại thấp, khoảng 1,57 m đến 1,60 m đối với nam và từ 1,50 m đến trên 1,55 m đối với nữ giới Tuy nhiên, cũng có một số người cao đến 1,70 m hoặc hơn một chút Thân hình vạm vỡ và phát triển cân đối Màu da ngăm đen Mặt tương đối rộng Gò má hơi dô Mũi bè, có người mũi rộng Môi không dày lắm Mắt đen hoặc nâu sẫm Tóc cứng và phần nhiều là tóc thẳng Một số người có tóc uốn”.[41, tr 137]

Người Mạ có nhiều tên gọi: Châu Mạ, Chê Mạ, Mạ, Mạ Tô, Mạ Ngan (Ngăn), Mạ Xốp Trong đó, chính cộng đồng người Mạ tự nhận là Cau Mạ - đọc

là Chau Mạ Từ Cau có nghĩa là Người Sau đây là một số ý kiến của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước giải thích về người Mạ như sau:

- Công trình Rừng người Thượng18, Henri Maitre khi phân tích địa bàn cư trú

17 Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ, ngày 02 tháng 03 năm 1979, Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam

18Henri Maitre (2008) Rừng người Thượng - vùng rừng núi cao nguyên miền Trung Viện Viễn Đông bác cổ

Pháp (Hà Nội), do Lưu Đình Tuân dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nguyên Ngọc và Andrew Hardy biên tập, NXB Tri Thức, Hà Nội

Trang 30

của dân tộc thiểu số ở vùng cao nguyên Việt Nam (miền Trung và Đông Nam Bộ) cho rằng: người Mạ thuộc dòng tộc thứ hai, trong nhóm các bộ lạc có phương ngữ chịu ảnh hưởng đáng kể của người Khmer Tôi xin được trích dẫn như sau:

“Người Che - Mạ: Dòng tộc quan trọng và đông đảo này chiếm toàn bộ các tổng giữa Bình Thuận và Nam Kỳ, lưu vực trung lưu sông Đồng Nai và cao nguyên

Mạ, mang tên họ Người Che Mạ chia thành các bộ tộc thứ cấp khá đông đảo là:

- Người Trau hay Chrau: Từ này có nghĩa là Người, đồng nghĩa với các từ Che, Chao Người Trau nằm chen vào giữa Tây phần Bình Thuận và Hạ Nam Kỳ;

họ là những người ở gần biển hơn cả, trong vùng Bà Rịa; họ sống tại các hoành sơn cuối cùng của Trường Sơn

- Người Mạ chính cống: Người Mạ là hạt nhân của một đại bộ lạc có nhiều

nhánh; sinh sống trên cao nguyên mang tên họ và hai bên bờ trung lưu sông Da Rnga (La Ngà)

- Người Cop: Sống trong toàn bộ vùng núi của vòng khuyên Đồng Nai và ngăn cách với người Mạ chính cống bởi các tổng phía Tây cao nguyên

- Người Che-Sre: Từ này đồng nghĩa với ”Người đồng ruộng”, chỉ người Mạ sống trong các cánh đồng hay các thung lũng đầm lầy nơi họ làm ruộng Như vậy,

họ sống tại hai khu vực, cách nhau rất là xa: Khu đồng lầy của vòng khuyên sông Đồng Nai Các thung lũng đầm lầy trên cao nguyên Djiring, quanh đại lý Djiring, lưu vực sông D.Riam và thượng lưu sông Da Rnga

- Người Che-Tô: Từ này có nghĩa là “Người ở thượng nguồn”; họ chiếm vùng lượn sóng ở mép trung lưu sông D.Deang; đây là bộ lạc xa nhất về phía Bắc của dòng tộc Mạ Họ ở rộng ra, về phía Tây Bắc, tới tận nguồn sông D.Rmang

- Người Cơ-ho: Còn gọi là Koho, Kahov ha Cohov Họ sống ở phía Đông Bắc người Mạ, từ trung lưu và hạ lưu sông Da Nhim cho tới tận dãy núi chúa thượng lưu sông D.Dong với sông Kr.Kno

- Người Lat: Bộ lạc nhỏ bé này chỉ chiếm sáu làng ở cao nguyên Lang-Biang

và trên đường từ Đà Lạt đi D.Dong (đường Djiring) Họ khác người Koho về nhiều điểm; đây là nhóm người Mạ khác rất nhiều với hạt nhân nguyên mẫu”

Như vậy, qua nguồn tư liệu này, Henri Maitre định danh tộc người Mạ gồm

Trang 31

nhiều dòng tộc mà hiện nay có những dòng tộc được xác định là các thành phần tộc người độc lập trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam như người Chơ-ro/Chrau, Cơ-ho/Kơho (người Lạt, người Chil, Srê được xếp vào thành phần tộc người Cơ-ho)

Theo sách Các dân tộc ít người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam), nhóm tác

giả khi viết về dân tộc Mạ cho rằng:

“Tộc danh Mạ có nghĩa gì chưa rõ, song đa số người Mạ và phần nhiều cư

dân những dân tộc láng giềng trong cùng nhóm ngôn ngữ của họ như : Cơ-ho, Xtiêng, Mnông, Chơ-ro, đều quan niệm tộc danh Mạ, đồng nhất với việc xác định một phương thức sinh hoạt kinh tế của những người làm rẫy và đối lập tộc danh Mạ với người Srê, một nhóm địa phương của người Cơ-ho chuyên nghề làm ruộng nước

đã từ lâu Mặc dù hiện nay người Mạ và các dân tộc láng giềng của họ nói trên đều gọi rẫy là Mir (hay có nơi gọi là Mi) và gọi ruộng sình lầy là Srê Vậy có thể giả định danh từ Mạ đã được bắt nguồn từ thuật ngữ Mir hay đã từng đồng nghĩa với Mir, đối lập với Srê.”

Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và một ý thức chung về tộc người Mạ, tự phân biệt mình với các dân tộc láng giềng Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng Mạ có một số nhóm địa phương chủ yếu: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung Ngoài tộc danh thống nhất là Mạ, họ còn được gọi là Châu Mạ, Chô Mạ hay Chê Mạ Những tên gọi thường thấy như Mạ Đạ Đơng, Mạ Đa Huoai, Mạ Blao gắn liền với những tên địa phương có người Mạ cư trú (tên gọi ba tổng hành chánh do thực dân Pháp đặt tên trước đây) không nói lên sự khác biệt căn bản về văn hóa cũng như về ngôn ngữ

- Mạ Ngăn được quan niệm là người Mạ chính dòng (như nhóm Kpạ đối với dân tộc Ê-đê) Trung tâm cư trú của họ là lưu vực sông Đạ Đơng, ở về phía Bắc

và phía Tây thị trấn Blao, chủ yếu tại các xã: Lộc Bắc, Lộc Trung và Lộc Lâm thuộc huyện Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng

- Mạ Tô phân bố ở thượng lưu sông La Ngà (Đạ Rnga), trên cao nguyên Blao (cao nguyên Bảo Lộc), có quan hệ nhiều với người Cơ-ho hơn cả Tô có nghĩa

là nguồn Những người ở vùng thấp chỉ nhóm người Mạ này cư trú ở trên cao, ở

Trang 32

đầu nguồn

- Mạ Krung ở miền bình nguyên, phân bố từ Tây - Nam Bảo Lộc đến vùng Định Quán nay thuộc tỉnh Đồng Nai, xa cách với trung tâm của cộng đồng Mạ Krung là tên làng của nhóm này

- Mạ Xốp là những người ở vùng đất phiến (Xốp nghĩa là đất phiến), nay thuộc về xã Lộc Bắc và một phần xã Lộc Trung huyện Bảo Lộc.[41, tr 174]

Trong tiến trình phát triển của lịch sử, bên cạnh bản sắc văn hóa độc đáo riêng vẫn được duy trì thì các yếu tố lãnh thổ tộc người, kinh tế và hôn nhân của tộc người Mạ cũng đã có những biến thiên nhất định bởi sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với các tộc người khác, đặc biệt từ sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975 Chính điều này tạo nên những đặc trưng riêng về văn hóa, tri thức bản địa dựa trên sự khác biệt của địa bàn cư trú, sự tiếp nhận, giao thoa văn hóa tộc người giữa các nhóm địa phương diễn ra trong quá trình cộng cư cùng các tộc người khác trong khu vực

Theo số liệu thống kê năm 2014 của Ủy ban nhân dân xã Quảng Khê, toàn xã

có 534 hộ tộc người Mạ với 2552 nhân khẩu chiếm 22,14% dân số toàn xã, đứng thứ hai về dân số, sau tộc người Kinh

Trong xã hội truyền thống, rẫy là phương thức hoạt động kinh tế chủ yếu của tộc người Mạ Phương thức hoạt động kinh tế này hầu như đã đem lại cho họ toàn

bộ nhu cầu về lương thực và phần lớn thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày Do sinh sống ở vùng cao đất dốc, lại không có tập quán bón phân cho đất, nên đất canh tác rẫy của người Mạ rất nhanh bị bạc màu, xói mòn Vì vậy, người Mạ phải thường xuyên du canh các mảnh rẫy với mục đích bỏ hóa đất đai, tạo điều kiện cho đất đai hồi phục trở lại Hiện nay, do nhiều yếu tố tác động trong đó quan trọng nhất là chính sách cấm phá rừng làm rẫy và định canh định cư của nhà nước nên người Mạ

đã tiến hành định canh trên các mảnh rẫy được chính quyền cấp Cây trồng trên rẫy chủ yếu là công nghiệp lâu năm như cà phê, tiêu, điều Ngoài ra, người Mạ cũng trồng thêm các loại cây rau, màu cũng như bắp, khoai mỳ để đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho gia đình cũng như làm hàng hóa để trao đổi, mua bán

Bên cạnh trồng trọt, chăn nuôi cũng là hoạt động kinh tế khá phổ biến của bà con người Mạ Tuy nhiên, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm trong mỗi gia đình người

Trang 33

Mạ chỉ ở quy mô nhỏ Họ thường nuôi lợn, dê, bò, trâu, gà, vịt với mục đích chính

là để phục vụ các nghi lễ của gia đình và cộng đồng, làm hàng hóa trao đổi khi cần thiết, và cải thiện bữa ăn hàng ngày của gia đình Người Mạ chăn nuôi gia súc, gia cầm theo kinh nghiệm sẵn có, tức là chăn nuôi thả rông và cho ăn các thức ăn kiếm được tại địa phương, chưa sử dụng các loại thức ăn công nghiệp và các hình thức chăn nuôi nhốt với các điều kiện chuồng trại tiên tiến Giống vật nuôi chủ yếu sử dụng giống địa phương, gia đình tự để giống hoặc mua lại của các hộ gia đình lân cận Với hình thức chăn nuôi này, việc chăn nuôi của người Mạ vẫn mang tính tự

cấp, tự túc là chính, chưa trở thành sản phẩm hàng hóa để mua bán, trao đổi

Thủ công nghiệp về cơ bản vẫn chưa tách hẳn khỏi nông nghiệp; người Mạ

đã phát triển nhiều nghề thủ công để đáp ứng nhu cầu tự cấp, tự túc của cuộc sống Phổ biến nhất là nghề đan lát những đồ dùng trong gia đình bằng mây, tre, lá Nghề dệt vải bằng khung dệt còn thô sơ, nhưng có kỹ thuật dệt khá cao với lối thêu hoa văn trên nền vải khá đặc sắc Sản phẩm của nghề dệt đáp ứng nhu cầu về may mặc y phục truyền thống trong mỗi gia đình Nghề rèn cũng có ở nhiều nơi, người

Mạ chủ yếu rèn và tu sửa nông cụ, vũ khí truyền thống Các nghề này thường được làm vào lúc nông nhàn, sử dụng các loại nguyên vật liệu sẵn có tại địa phương Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh tế thị trường, sự có mặt của các loại hàng hóa công nghiệp như vải vóc, đồ gia dụng cũng như sự khan hiếm nguyên vật liệu sản xuất do sự suy thoái tài nguyên, đã làm cho các nghề thủ công của người Mạ ngày càng mai một dần

Địa bàn cư trú của người Mạ là khu vực có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn Người Mạ từ lâu đã khai thác các tài nguyên từ rừng để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống từ nguồn nguyên vật liệu trong xây dựng nhà cửa đến nguồn thực phẩm và lương thực khá quan trọng bổ sung cho kinh tế nương rẫy của người Mạ, nhất là trong những ngày tháng giáp hạt, hoặc lúc nông nhàn; và đây cũng là nguồn dược phẩm trong chăm sóc sức khỏe của cộng đồng Các hoạt động khai thác này có

sự tham gia của tất cả mọi người trong gia đình Trước đây, các hoạt động khai thác

tự nhiên của người Mạ dù diễn ra hàng ngày nhưng không mang tính chất khai thác cạn kiệt mà các sản phẩm tự nhiên vẫn được duy trì Hiện nay, phần lớn diện tích

Trang 34

đất lâm nghiệp được đặt dưới sự quản lý của các lâm trường quốc doanh; bên cạnh

đó, chính quyền địa phương cũng đã tiến hành giao đất lâm nghiệp cho người dân

để thực hiện trồng rừng theo QĐ 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Người Mạ tại địa phương sau khi được giao đất đã tiến hành canh tác trên diện tích đất lâm nghiệp được giao như trồng cây lâm nghiệp (keo, tràm giấy …) Để tận dụng đất lâm nghiệp, khi canh tác các loại cây lâm nghiệp, người Mạ thường trồng xen các loại cây lương thực trong giai đoạn đầu, khi cây lâm nghiệp còn nhỏ và chưa khép tán Việc trồng xen cây lương thực này cũng mang lại thêm nguồn thu nhập cho các hộ gia đình

Người Mạ đã có tập quán sống thành từng bon (làng) để chống lại thú dữ cũng như hỗ trợ nhau khi gặp tai nạn rủi ro Với họ, bon (làng) trước hết là không gian sinh tồn của cả cộng đồng, có ranh giới, có đất lập bon (làng), đất canh tác, bãi chăn nuôi, những khu rừng để săn bắt, hái lượm, có nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, những khoảng rừng thiêng dành cho thần linh cư ngụ - nơi người

Mạ kiêng cữ không khai thác làm rẫy Không gian sinh tồn đó cũng được cộng đồng khác công nhận

Trước năm 1975, người Mạ phần lớn sống du canh du cư, bon (làng) của người Mạ thường di chuyển theo chu kỳ canh tác rẫy hoặc ở theo kiểu: đến mùa làm rẫy, những người có sức lao động trong gia đình chuyển đến ở chòi tạm trên rẫy, khi thu hoạch xong mới trở về bon (làng) Do đó cuộc sống không ổn định, quy mô mỗi bon (làng) thường có khoảng từ 5 đến 10 nhà dài (chiều dài từ 20 – 30 mét); mỗi nhà dài là nơi cư trú của 5 – 10 gia đình nhỏ, các thành viên trong bon (làng) thường

có mối quan hệ huyết thống với nhau theo dòng cha hoặc có quan hệ hôn nhân Đứng đầu mỗi bon (làng) là già làng (Cau Quang Bon) – đây là người có uy tín, được mọi người lựa chọn bởi những chuẩn mực như sự cống hiến cho bon (làng) phẩm chất đạo đức và tư cách, cũng như nắm giữ kinh nghiệm sản xuất và hiểu biết những quy ước luật tục Hiện nay, các nhà dài gần như không còn, mà thay vào đó

là nhà đất để phù hợp hơn với quy mô các gia đình hạt nhân Về mặt tổ chức, các bon (làng) đã được quy hoạch lại theo đơn vị hành chính là thôn, mỗi thôn được gắn theo một con số Song trên thực tế, tên thôn mới thường được sử dụng nhiều trong

Trang 35

các văn bản mang tính chất hành chính, còn trong nội bộ cộng đồng người Mạ thì tên gọi cũ của các bon (làng) vẫn tồn tại và được coi là dấu ấn khó phai mờ trong đời sống tộc người Bên cạnh chức vụ trưởng thôn thay mặt cho chính quyền thì vị trí già làng vẫn còn một chỗ đứng quan trọng trong cộng đồng người Mạ nhưng so với trước đây đã có nhiều thay đổi Nếu trước đây già làng có trách nhiệm trong cả hai lĩnh vực quản lý hành chính và sinh hoạt văn hóa tinh thần thì trong đời sống người Mạ hiện nay già chỉ còn vai trò trong các sinh hoạt văn hóa tinh thần

Trong cộng đồng làng người Mạ, luật tục đề cập đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống và có vai trò rất quan trọng Người Mạ tin rằng chính các thần linh tối cao đã thông qua các vị thần, các anh hùng để truyền dạy cho tổ tiên mình những kinh nghiệm sống, cách ứng xử với thần linh, cách hành xử trong cuộc sống thường ngày; chỉ dạy cho các nghề để sinh sống, đặt ra những lề lối, quy định những điều nên làm và những điều cần kiêng kỵ Do không có chữ viết nên luật tục của người Mạ được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác để tiếp nối nhau thực hiện Đây cũng là một đặc điểm chung của các tộc người bản địa tại khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Ngoại trừ một số tập tục mang tính chất mê tín, dị đoan ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng người Mạ thì luật tục có những tác động tích cực đến đời sống và xã hội người Mạ, đặc biệt là trong thời kỳ mà xã hội Mạ chưa định hình khung pháp luật như đời sống hiện đại

Người Mạ coi thần Nđu là vị thần sáng tạo Nhưng gần gũi và quan trọng hơn hết đối với người Mạ, vẫn là những vị thần nông nghiệp như: thần lúa (Yang Koi), thần rừng (Yang Bri), thần núi (Yang Bờ nơm), thần lửa (Yang Us) v.v Những lễ nghi thờ cúng các vị thần nông nghiệp của người Mạ được tiến hành theo chu kỳ canh tác rẫy hàng năm Nhưng quan trọng nhất vẫn là lễ cúng vào thời kỳ bắt đầu gieo hạt gọi là lễ bỏ lúa giống trong đất để mong được mùa màng bội thu, và lễ cúng cơm mới cúng vào lúc kết thúc mùa thu hoạch lúa trên rẫy để tạ ơn các thần linh đã phù hộ cho họ một vụ gieo trồng trọn vẹn

Ngoài ra, để làm hài lòng các vị thần linh và cầu mong sự nâng đỡ của các chư thần, ngoài các lễ nghi nông nghiệp người Mạ còn tổ chức hiến sinh vào các dịp như cưới hỏi, sinh đẻ, làm nhà mới, kết nghĩa anh em, mua sắm tài sản quý (chiêng,

Trang 36

ché, trâu, bò ) Họ cũng tổ chức hiến sinh khi bị đau, ốm, dịch bệnh, tang ma, thiên tai, hạn hán… Đó cũng là những dịp để gia chủ thể hiện tinh thần cộng đồng đối với bon (làng): vui, buồn, tắt lửa, tối đèn có nhau, cùng nhau lo lắng gánh vác những công việc trọng đại trong đời sống cộng đồng

Lễ hiến sinh lớn nhất của người Mạ là lễ đâm trâu Xưa kia, được tiến hành mỗi năm một lần, những bon (làng) gần nhau tụ họp lại cùng tổ chức lễ đâm trâu - một nghi lễ có từ rất xa xưa, trong cộng đồng người Mạ, cũng như các dân tộc khác ở Tây nguyên Nó không chỉ là một loại hình tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy,

mà lễ hội đó còn là một sự phản ánh sinh hoạt săn bắn hái lượm tiền nông nghiệp của bà con

Hiện nay, ngoài loại hình tín ngưỡng dân gian, các tôn giáo khác như Thiên chúa giáo và đạo Tin lành đã xâm nhập vào vào cộng đồng người Mạ tại Quảng Khê; đặc biệt là đạo Tin lành có xu hướng phát triển rất mạnh mẽ Theo kết quả dữ liệu phỏng vấn sâu, có nhiều thôn (bon) số hộ dân theo đạo là 100% Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến rất nhiều nghi lễ, lễ hội truyền thống gắn với thời vụ, vòng đời con người của tộc người Mạ tại địa phương mất dần do người dân chuyển sang thực hành các nghi lễ tôn giáo thay thế

Tiểu kết chương 1

Tộc người Mạ là một trong nhiều tộc người thiểu số có địa bàn cư trú chủ yếu là ở khu vực Tây Nguyên và Đông Nam Bộ Trong tiến trình lịch sử của dân tộc, tộc người Mạ đã những đóng góp nhất định cho sự phát triển chung của đất nước, nhất là đối với Tây Nguyên và trở thành một bộ phận không thể tách rời khỏi cộng đồng quốc gia- dân tộc Việt Nam

Bon (làng) của người Mạ tuy không phải là đơn vị hành chính cấp cơ sở trong bộ máy tổ chức hành chính hiện nay, nhưng có vai trò rất lớn, là nơi gắn kết cộng đồng, nơi bảo lưu và truyền dẫn những giá trị văn hóa truyền thống Mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước đều thông qua cấp bon (làng)

để đến với người dân

Ở người Mạ, già làng và trưởng thôn là những nhân vật có uy tín trong sinh hoạt cộng đồng, được người dân tin cậy và nghe theo Mỗi vị trí, chức vụ đó dù là

Trang 37

do dân cử (trưởng thôn) hay suy tôn (già làng) đều có vai trò quan trọng trong sự vận hành của bon (làng)

Trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội hiện nay, thiết chế xã hội truyền thống của người Mạ không còn tồn tại nguyên vẹn như trước đây Tuy nhiên, nhiều quy ước, luật tục và tập quán vẫn có tác động không nhỏ đến việc phát triển sản xuất, bảo vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo sự ổn định xã hội và giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người

Trang 38

CHƯƠNG 2 TRI THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI MẠ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRUYỀN THỐNG TẠI XÃ QUẢNG KHÊ

Tri thức dân gian, kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay kiến thức địa phương (Local knowledge) là hệ thống các kiến thức của các cộng đồng dân bản địa trên quy mô lãnh thổ khác nhau Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu dài cùng với lịch sử phát triển cụ thể của cộng đồng, với sự tham gia của tất cả các thành viên trong cộng đồng [42, tr 23] Tri thức bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội của một cộng đồng như: kinh tế, văn hóa, sức khỏe, giáo dục, … Nó gắn liền với một địa bàn cụ thể có những đặc điểm riêng về môi trường tự nhiên và xã hội của một cộng đồng cư dân Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của người Mạ tại xã Quảng Khê, tri thức bản địa được thể hiện thể hiện chủ yếu trong trồng trọt và chăn nuôi Về trồng trọt là sự thích nghi và đúc kết các kinh nghiệm trong việc: xác định và sử dụng các giống cây bản địa, dự đoán thời tiết và lịch mùa vụ thông qua các dấu hiệu, hiện tượng của tự nhiên, các kinh nghiệm về việc sử dụng đất, cách chăm sóc, thu hoạch và bảo quản, cất trữ lương thực, các kinh nghiệm sản xuất trên đất rẫy dốc… Trong chăn nuôi là các kinh nghiệm trong việc: chọn giống gia súc và gia cầm, quản lý bãi chăn thả, các cây thuốc trị bệnh cho gia súc…

Tri thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua nhiều thế hệ là sản phẩm tạo ra bởi quá trình lao động sản xuất không ngừng của cộng đồng người Mạ tại Quảng Khê Theo thời gian, các kinh nghiệm truyền thống này biến đổi liên tục

để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội Qua thời gian, nhiều tri thức cũ đã không còn ý nghĩa nên mất đi, các tri thức bản địa mới vẫn liên tục được nảy sinh

và hoàn thiện Tri thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương, nơi đã hình thành và phát triển tri thức đó Đây là một ưu điểm rất quan trọng mà các hệ thống kĩ thuật từ bên ngoài không có được

Tri thức bản địa do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua các hoạt động lao

Trang 39

động trực tiếp Toàn thể cộng đồng đó bao gồm cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già

Tri thức bản địa được lưu giữ chủ yếu bằng trí nhớ và truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau Đây là điểm khác biệt so với kiến thức khoa học và thường gây khó khăn cho người nghiên cứu, nhất là người ngoài cộng đồng, người không cùng ngôn ngữ và văn hóa Tri thức bản địa luôn gắn liền và hòa nhập với nền văn hóa, tập tục địa phương Vì vậy khả năng tiếp thu, ứng dụng trong cộng đồng là rất dễ dàng Trong thực tế chúng ta

đã từng thấy rằng có những kĩ thuật mới đưa lại hiệu quả cao hơn nhưng không được dân chúng chấp nhận vì trái với tập tục văn hóa của địa phương Ví dụ trường hợp thất bại trong chính sách triển khai cho bà con người Mạ trồng lúa nước trong

giai đoạn khoảng ba năm sau giải phóng từ 1976 – 1979 "Năng suất lúa nước cao

nhưng mà nói chung thì phân bón ít, với lại cái lối sống của họ (người Mạ - PVV) nhiều người không thích kêu là bùn dơ, rồi mùa lạnh cũng phải chui vô trong ruộng nước cho nên là họ không thích hay sao đó Nên khi cho phát rẫy là người ta lại phát rẫy cho nó dễ hơn Thì cũng có người làm ruộng nhưng mà nói chung đất ruộng ở đây cũng ít, làm mỗi người một miếng một miếng (diện tích nhỏ - PVV) thì làm sao mà làm? với làm sao đủ ăn? Nếu đất nhiều chắc người ta cũng vẫn làm" (trồng lúa nước – PVV) 19

Tri thức bản địa có tính đa dạng rất cao, vì nó được hình thành trong những điều kiện tự nhiên khác nhau và được mọi thành viên trong cộng đồng sáng tạo ra nên sự khác nhau về giới tính, tuổi tác, kĩ năng, kinh nghiệm, tình trạng kinh tế…

đã làm cho hệ thống này hết sức phong phú

Ngày nay, tri thức bản địa đang có nguy cơ bị mai một dần hoặc mất đi một cách tự nhiên do kĩ thuật, công cụ lao động được cải tiến hoặc tri thức ấy không còn được sử dụng nữa; bên cạnh đó, sự phát triển và gia tăng dân số cũng góp phần đã thúc đẩy quá trình này Tri thức bản địa cũng có thể bị mất đi do không được ghi chép thành văn bản, vì vậy mà việc nghiên cứu tri thức dân gian sẽ nâng cao được

19 Trích dẫn từ nội dung cuộc phỏng vấn sâu diễn ra ngày 29-08-2015 vớiông K’Rang

Trang 40

nhận thức về kho tàng kiến thức bản địa đối với sự phát triển Việc thực hiện các dự

án ở vùng cao là hết sức quan trọng nhưng để đạt hiện quả cao thì các nhà khoa học không thể bỏ qua việc kết hợp giữa kiến thức hiện đại và những tri thức bản địa, đặc biệt là khi chúng ta nhấn mạnh các yếu tố tạo ra sự phát triển bền vững

Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ ở xã Quảng Khê vừa là những kinh nghiệm của cuộc sống xã hội do các thế hệ trước để lại, vừa là những kinh nghiệm của các thế hệ hôm nay tích lũy, bổ sung nhưng nó cũng tiếp thu những kinh nghiệm, tri thức của các thành phần tộc người khác trong cùng không gian sinh tồn Do đó, khi nói về những tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp của người Mạ ở Quảng Khê là nói về một địa phương nhưng nó không thể không có những nét chung mà các thành phần tộc người khác, địa phương khác cũng có Vì vậy, việc hiểu tường tận những tri thức bản địa của người Mạ ở Quảng Khê là điều hết sức quan trọng

2.1 Trong trồng trọt

Tri thức bản địa trong trồng trọt của người Mạ được thể hiện trên nhiều khía cạnh, từ các công đoạn cụ thể trong sản xuất như chọn đất, làm đất, chọn giống, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch đến hệ thống nông lịch được sử dụng trong quá trình canh tác

2.1.1 Lựa chọn đất canh tác

Việc chọn đất thường do già làng (Cau Quang Bon) và chủ đất (Cau Wer Brê) quyết định với sự đồng thuận của các thành viên trong bon (làng) Đây là những người có nhiều kinh nghiệm trong việc đi tìm và lựa chọn đất để canh tác, vì

họ am hiểu địa hình cũng như tính chất tốt hay xấu của từng loại đất

Theo kinh nghiệm của người Mạ tại Quảng Khê, đất họ chọn thường là những nơi tương đối bằng phẳng, có sườn dốc, nhiều mùn và đất dẻo; họ thường chọn những cánh rừng thứ sinh (sar) có đất tốt, tương đối ẩm Họ tránh khai phá tại các khu rừng già nguyên sinh (rlau), rừng thưa (lac), rừng thiêng, nơi có nhiều cây

cổ thụ, rậm rạp Theo quan niệm của người Mạ, những nơi đó là khu rừng cấm vì có các vị thần linh ngự trị, vì thế không được trồng trọt ở đó, tránh làm phiền đến các thần linh, khiến thần linh nổi giận Trải qua quá trình sinh sống và sản xuất nông

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Dân tộc học – Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh (1978), Những vấn đề về dân tộc học Miền Nam Việt Nam, Viện Khoa học xã hội, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về dân tộc học Miền Nam Việt Nam
Tác giả: Ban Dân tộc học – Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1978
2. Hoàn Hữu Bình (1998), “Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững ở miền núi Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc học. Số 2. Tr. 50 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương và vấn đề phát triển bền vững ở miền núi Việt Nam”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Hoàn Hữu Bình
Năm: 1998
3. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên-xã hội và thế giới siêu nhiên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên-xã hội và thế giới siêu nhiên
Tác giả: Vũ Minh Chi
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
4. Phan Ngọc Chiến (1977), “Nghề rẫy cổ truyền của người Mạ ở Lâm Đồng”, báo cáo tại Hội nghị DTH lần II tại Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề rẫy cổ truyền của người Mạ ở Lâm Đồng”, báo cáo tại
Tác giả: Phan Ngọc Chiến
Năm: 1977
5. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên”
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
6. Bế Viết Đẳng – Chu Thái Sơn và các tác giả (1984), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam)
Tác giả: Bế Viết Đẳng – Chu Thái Sơn và các tác giả
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 1984
7. Bùi Minh Đạo (2000), “Tri thức địa phương trong việc quản lý và sử dụng đất rẫy truyền thống ở các dân tộc tại chỗ của Tây Nguyên”, Tạp chí Dân tộc học. Số 2. Tr. 10 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương trong việc quản lý và sử dụng đất rẫy truyền thống ở các dân tộc tại chỗ của Tây Nguyên”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Bùi Minh Đạo
Năm: 2000
8. Bùi Minh Đạo (2000), Trồng trọt truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên tại chỗ, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng trọt truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên tại chỗ
Tác giả: Bùi Minh Đạo
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2000
9. Nguyễn Thành Đức (2004), Múa dân gian các tộc người Mạ, Chơ ro, Xtiêng vùng Đông Nam Bộ, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Múa dân gian các tộc người Mạ, Chơ ro, Xtiêng vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Thành Đức
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
10. Phạm Quang Hoan (2003), “Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” in trong :“Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” in trong :"“Dân tộc học Việt Nam thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”
Tác giả: Phạm Quang Hoan
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
11. Trần Hồng Hạnh (2005), “Tri thức địa phương – sự tiếp cận lý thuyết”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, trang 23-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tri thức địa phương – sự tiếp cận lý thuyết”, "Tạp chí Dân tộc học
Tác giả: Trần Hồng Hạnh
Năm: 2005
12. Henri Maitre (2008) Rừng người Thượng - vùng rừng núi cao nguyên miền Trung. Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (Hà Nội), do Lưu Đình Tuân dịch, Nguyên Ngọc hiệu đính, Nguyên Ngọc và Andrew Hardy biên tập, NXB Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng người Thượng - vùng rừng núi cao nguyên miền Trung
Nhà XB: NXB Tri Thức
13. Mcelwee Palema (2010) “Việt Nam có tri thức bản địa không?”, tr 1- 27, in trong :”Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học”, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Việt Nam có tri thức bản địa không?”", tr 1- 27, in trong :"”Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học”
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
14. Nguyễn Văn Huy (Chủ biên) (1997), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
15. James Boulbet, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh, (Đỗ Vân Anh dịch) (1999), Xứ người Mạ lãnh thổ của thần linh, Nggar Maá, Nggar Yaang, NXB Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ người Mạ lãnh thổ của thần linh, Nggar Maá, Nggar Yaang
Tác giả: James Boulbet, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh, (Đỗ Vân Anh dịch)
Nhà XB: NXB Đồng Nai
Năm: 1999
16. Khoa Nhân học (2013), Nhân học đại cương, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học đại cương
Tác giả: Khoa Nhân học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP.HCM
Năm: 2013
17. Ngô Văn Lệ (2013), Văn hóa các tộc người ở Tây Nguyên-nhìn từ khía cạnh tri thức bản địa, Hội thảo Văn hóa Tây Nguyên 2 tháng 4 năm 2013, do Ban Tuyên giáo TW chủ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các tộc người ở Tây Nguyên-nhìn từ khía cạnh tri thức bản địa", Hội thảo "Văn hóa Tây Nguyên
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Năm: 2013
18. Ngô Văn Lệ (2012), “Nghiên cứu tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và Nam Bộ: Một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Dân Tộc học, số 4 – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tri thức bản địa của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên và Nam Bộ: Một số vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Dân Tộc học
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Năm: 2012
19. Ngô Văn Lệ (2004), Tộc người và văn hóa tộc người, NXB Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tộc người và văn hóa tộc người
Tác giả: Ngô Văn Lệ
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
20. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, NXB. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu
Nhà XB: NXB. Giáo dục
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w