Tri Tôn; ii Đánh giá tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông hộ trồng lúa tại khu vực nghiên cứu; iii Đề xuất định hướng chiến lược nhằm tăng cường năng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH | ĐỊA LÝ HỌC
MÃ NGÀNH: 60 31 05 01
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH-2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN
- - Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Gia Trân
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả Luận văn
Dương Trường Phúc
Trang 4iii
LỜI CẢM ƠN
- - Luận văn này được hoàn thành, bên cạnh nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự hỗ trợ từ nhiều Thầy Cô và bạn bè
Trước hết, tôi xin chân thành cám ơn Thầy Phạm Gia Trân đã nhận lời và hướng dẫn tôi rất tận tình trong quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô trong Khoa Địa lý đã luôn ủng hộ tinh thần của tôi trong suốt quá trình thực hiện
Tôi xin gửi lời tri ân đến những Thầy Cô đã từng giảng dạy tôi trong thời gian học Cao học Đặc biệt trân trọng cám ơn cô Trương Thị Kim Chuyên, cô Lê Minh Vĩnh, cô Ngô Thanh Loan, cô Văn Ngọc Trúc Phương, cô Nguyễn Quang Việt Ngân, cô Trần Thị Đoan Trinh và cô Châu Thị Thu Thủy đã giúp đỡ tôi về chuyên môn và luôn động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các cơ quan địa phương UBND các xã ấp, Phòng Nông nghiệp, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và môi trường tại TX Tân Châu và H Tri Tôn đã sẵn sàng kêu gọi các cô chú nông dân, tổ chức các buổi khảo sát đối với nông dân và cung cấp những tài liệu hết sức quý báu Cũng xin cám ơn các cô chú nông dân tại địa bàn không ngại mất thì giờ đã hết lòng hỗ trợ cung cấp thông tin để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, con xin gửi lời cám ơn đến gia đình đã luôn tạo điều kiện cho con hoàn thành việc học tập
Tác giả xin trân trọng cảm ơn
Tác giả Luận văn
Dương Trường Phúc
Trang 5iv
TÓM TẮT
Nghề trồng lúa là sinh kế phổ biến của hàng triệu cư dân vùng châu thổ ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng, là kết quả của quá trình thích ứng với những điều kiện thuận lợi về tự nhiên và kinh tế-xã hội Tuy vậy, môi trường sản xuất đã có những biến đổi nhất định do mối tương tác giữa biến đổi khí hậu (tự nhiên) và hoạt động của con người (kinh tế-xã hội) tạo ra những rủi ro có thể gây tổn thương sinh kế cho nông dân
Trong khuôn khổ đó, đề tài “Tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông dân trồng lúa TX Tân Châu và huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” được
thực hiện nhằm mục tiêu: i) Nhận diện các rủi ro do biến đổi môi trường có thể gây tổn thương sinh kế cho nông hộ trồng lúa ở TX Tân Châu và H Tri Tôn; ii) Đánh giá tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông hộ trồng lúa tại khu vực nghiên cứu; iii) Đề xuất định hướng chiến lược nhằm tăng cường năng lực thích ứng của hộ nông dân trồng lúa tại khu vực nghiên cứu
Với những mục tiêu đề ra, nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định lượng
và định tính Về định lượng, cách tiếp cận đánh giá bằng chỉ số cho phép lượng hóa mức
độ tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng của nông dân dựa trên dữ liệu được thu thập bằng điều tra phiếu khảo sát Về định tính, lựa chọn những nông dân tiêu biểu để phỏng vấn sâu nhằm khơi gợi những vấn đề đằng sau kết quả tính toán
Kết quả nghiên cứu cho thấy biến đổi môi trường sản xuất của nông dân ở cả hai phương diện tự nhiên và kinh tế-xã hội với nhiều rủi ro gây tổn thương sinh kế Nông
hộ sở hữu tài sản sinh kế ở mức trung bình thấp làm kém khả năng hình thành năng lực thích ứng đồng thời mức độ phơi nhiễm và nhạy cảm của sinh kế lại cao dẫn đến mức
độ tổn thương sinh kế khá cao và có sự khác biệt giữa hai địa phương do i) vị trí địa lý liên quan đến tiếp cận nguồn nước và thực trạng phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương (vĩ mô); ii) đặc điểm kinh tế hội-xã hội và khả năng tiếp cận tài sản sinh kế của nông hộ (vi mô) Tuy vậy, qua những cuộc trò chuyện nhận thấy nông dân có niềm tin vào việc có thể kiểm soát những rủi ro này và không có bất kỳ sáng kiến thích ứng nào ngoài việc muốn thay đổi giống lúa chống chịu sâu bệnh và thích nghi với điều kiện môi trường biến đổi
Mặc dù nông dân An Giang có nhiều thuận lợi sản xuất hơn so với những nông dân ở khu vực khác nhưng trước bối cảnh nhiều bất trắc khó đoán trước thì việc đề xuất những chiến lược nâng cao năng lực tự thích ứng với hàm ý “tăng vốn” cho nông hộ bên cạnh những chính sách hỗ trợ thích ứng của Chính phủ là cần thiết Sự tương hỗ giữa hai khía cạnh này có thể giúp nông hộ thích ứng tốt hơn với những thay đổi của môi trường bên ngoài
Trang 6v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACI Adaptive Capacity Index
Chỉ số năng lực thích ứng
NGTKTT Niên giám thống kê Tri Tôn
ADB Asia Development Bank
Ngân hàng Phát triển châu Á
NN&PTNN Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
AWD Alternate Wetting and Drying
Tưới ngập khô xen kẽ
NVNWCP North Vam Nao Water Control Project
Dự án Kiểm soát Nước Bắc Vàm Nao
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
CBAC Community Based Adapatation to Climate Change
Thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng
PCVA Participatory Capacity and Vulnerability Analysis
Đánh giá tổn thương và năng lực thích ứng có sự tham gia
CVCA Climate Vulnerability and Capacity Analysis
Phân tích tổn thương và năng lực ứng phó với BĐKH
PCVI Prevalent Community-level Vulnerability Index
Chỉ số tổn thương phổ biến cộng đồng
Quản lý tưới có sự tham gia
Khuyến khích sáng kiến địa phương
DFID Department for International Development
Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh
PRA Participatory Rapid Appraisal
Đánh giá nhanh có sự tham gia
EIA Environmental Impact Assessment
Đánh giá tác động môi trường
PVA Participatory Vulnerability Analysis
Đánh giá tổn thương có sự tham gia
EnVI Environmental Vulnerability Index
Chỉ số tổn thương môi trường
PVI Prevalent Vulnerability Index
GCM Global Climate Model
Mô hình khí hậu toàn cầu
SLA Sustainable Livelihoods Approach
SOPAC South Pacific Applied Geoscience Commission
Ủy ban Khoa học Địa lý Ứng dụng Nam Thái Bình Dương
GIS Geographic Information System
Hệ thống thông tin địa lý
UBND Ủy ban nhân dân
GSOV General Statistics Office of Vietnam
Tổng cục thống kê Việt Nam
UNDP United Nations Development Programme
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
ICEM International Centre for Environmental Management
Trung tâm quốc tế quản lý môi trường
UNEP United Nations Environment Programme
Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc
IFRC International Federation of Red Cross and Red Crescent
Societies
Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế
UNFCCC United Nations Framework Convention on Climate Change
Công ước khung Liên Hiệp Quốc về BĐKH
IPCC Intergovernmental Panel on Climate Change
Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH
VCA Vulnerability and Capacity Assessment
Đánh giá năng lực và tình trạng tổn thương
IUCN International Union for Conservation of Nature
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
VFA Vietnam Food Association
Hiệp hội lương thực Việt Nam
IWEM Institute Of Economic And Irrigation Management
Viện Kinh tế và Quản lý thủy lợi
VI Vulnerabitilty Index
Chỉ số tổn thương
KIP Key Informant Panel
Phỏng vấn người cung cấp thông tin chính
VNRC Vietnam Red Cross Society
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam
LEI Livelihood Effect Index
WEF World Economic Forum
Diễn đàn Kinh tế Thế giới
MARD Ministry of Agriculture and Rural Development
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
WMO World Meteorological Organization
Tổ chức Khí tượng Thế giới
MCA Multi-Criteria Analysis
Phân tích đa tiêu chí
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
MONRE Ministry Of Natural Resources And Environment
Bộ Tài nguyên và Môi trường
WVI World Vision International
Tổ chức Tầm nhìn Thế giới
MRC Mekong River Commission
Ủy hội sông Mekong
WWAP World Water Assessment Programme
Chương trình Đánh giá Nước Thế giới
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
Trang 7vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
GIỚI THIỆU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 6
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 6
2.2 Nội dung nghiên cứu 7
3 Khái quát về khu vực nghiên cứu 7
3.1 Thị xã Tân Châu 8
3.2 Huyện Tri Tôn 9
4 Ý nghĩa đề tài 10
4.1 Ý nghĩa khoa học 10
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 10
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5.1 Đối tượng nghiên cứu 11
5.2 Phạm vi nghiên cứu 11
6 Kết cấu luận văn và tiến trình thực hiện 11
6.1 Kết cấu luận văn 11
6.2 Tiến trình thực hiện 11
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 12
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Tổn thương và phương pháp đánh giá tổn thương 12
1.1.2 Năng lực thích ứng và phương pháp đánh giá năng lực thích ứng 17
1.2 Khung nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 21
1.2.1 Khung nghiên cứu 21
1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Phương pháp luận 23
2.1.1 Một số khái niệm liên quan 23
2.1.2 Lý thuyết và cách tiếp cận nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp chỉ số tổng hợp 28
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 38
2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu 40
2.2.4 Chiến lược kết hợp phương pháp nghiên cứu 40
CHƯƠNG 3 TỔN THƯƠNG SINH KẾ CỦA NÔNG DÂN TRỒNG LÚA 42
3.1 Bối cảnh gây tổn thương 42
3.1.1 Biến đổi môi trường tự nhiên 42
3.1.2 Biến đổi môi trường kinh tế-xã hội 48
Trang 8vii
3.2 Các hợp phần của tổn thương sinh kế 50
3.2.1 Độ phơi nhiễm 50
3.2.2 Độ nhạy cảm 54
3.2.3 Năng lực thích ứng 57
3.3 Tổn thương sinh kế nông hộ và khu vực 81
CHƯƠNG 4 ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG 84
4.1 Kết quả sinh kế của nông dân trồng lúa 84
4.1.1 Thu nhập của nông hộ 84
4.1.2 Mức sống của nông hộ trồng lúa 88
4.2 Chiến lược sinh kế của nông hộ trong thời gian tới 90
4.2.1 Duy trì sinh kế nông nghiệp 90
4.2.2 Đa dạng sinh kế 92
4.2.3 Chuyển đổi sinh kế 93
4.3 Giải pháp nâng cao năng lực thích ứng 95
4.3.1 Giải pháp tăng cường tiếp cận thông tin (vốn con người) 95
4.3.2 Giải pháp tăng cường hỗ trợ thể chế địa phương (vốn xã hội) 95
4.3.3 Giải pháp tăng cường tiếp cận vốn sản xuất (vốn tài chính) 96
4.3.4 Giải pháp tăng cường tiếp cận cơ sở hạ tầng (vốn vật chất) 97
4.3.5 Giải pháp tăng cường tích tụ ruộng đất (vốn tự nhiên) 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
DANH MỤC BẢNG Bảng 0 1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 7
Bảng 0 2 Dân số và diện tích tự nhiên các điểm khảo sát ở TX Tân Châu 9
Bảng 0 3 Tình hình sản xuất lúa ở TX Tân Châu qua các năm 9
Bảng 0 4 Dân số và diện tích tự nhiên các điểm khảo sát ở H Tri Tôn 10
Bảng 0 5 Tình hình sản xuất lúa ở H Tri Tôn qua các năm 10
Bảng 1 1 Một số định nghĩa về tổn thương của IPCC 12
Bảng 1 2 Giả thuyết nghiên cứu 22
Bảng 2 1 Một số nghiên cứu ứng dụng LVI của Hahn et al (2009) 28
Bảng 2 2 Các khía cạnh của tổn thương trong LVI của Hahn et al (2009) 29
Bảng 2 3 Một số yêu cầu trong lựa chọn chỉ thị 29
Bảng 2 4 Trọng số cho các tiêu chí của nhóm 30
Bảng 2 5 Bộ chỉ thị đo lường tổn thương sinh kế 30
Bảng 2 6 Phân hạng kết quả đo lường 38
Bảng 2 7 Tổng hợp mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 41
Bảng 3 1 Kết quả đánh giá độ phơi nhiễm khí hậu và thời tiết 52
Bảng 3 2 Kết quả đánh giá độ phơi nhiễm giá cả và thị trường 53
Bảng 3 3 Kết quả đánh giá độ phơi nhiễm 54
Bảng 3 4 Kết quả đánh giá độ nhạy cảm tự nhiên 55
Bảng 3 5 Kết quả đánh giá độ nhạy cảm kinh tế hội - xã hội 57
Bảng 3 6 Kết quả đánh giá độ nhạy cảm 57
Bảng 3 7 Nhận thức của nông dân về biến đổi ngập lũ 59
Bảng 3 8 Nhận thức của nông dân về biến đổi phù sa 60
Bảng 3 9 Nhận thức của nông dân về biến đổi hạn hán 60
Bảng 3 10 Nhận thức của nông dân về biến đổi sâu bệnh 61
Bảng 3 11 Ý kiến của nông dân về viêc tiến hành biện pháp thích ứng 63
Bảng 3 12 Kết quả đo lường vốn con người 64
Trang 9viii
Bảng 3 13 Thực trạng vốn con người 65
Bảng 3 14 Kết quả đo lường vốn tài chính 67
Bảng 3 15 Thực trạng vốn tài chính 67
Bảng 3 16 Kết quả đo lường vốn xã hội 70
Bảng 3 17 Thực trạng vốn xã hội 71
Bảng 3 18 Kết quả đo lường vốn vật chất 73
Bảng 3 19 Thực trạng vốn vật chất 73
Bảng 3 20 Kết quả đo lường vốn tự nhiên 76
Bảng 3 21 Thực trạng vốn tự nhiên 76
Bảng 3 22 Kết quả đo lường năng lực thích ứng 80
Bảng 3 26 Thực trạng năng lực thích ứng của nông dân 80
Bảng 3 27 Kết quả đánh giá tổn thương sinh kế 81
Bảng 3 28 Thực trạng tổn thương sinh kế của nông hộ 82
Bảng 4 1 Đánh giá thu nhập trồng lúa qua các năm (2011-2016) 85
Bảng 4 2 Cơ cấu thu nhập ngoài trồng lúa phân theo địa bàn 86
Bảng 4 3 Thu nhập bình quân đầu người 87
Bảng 4 4 Một số chiến lược sinh kế của nông dân trong thời gian tới 90
Bảng 4 5 Một số nguyện vọng của nông dân đối với trồng lúa 91
Bảng 4 6 Tỷ lệ trả lời của nông dân trong tình huống giả định 93
Bảng 4 7 Định hướng giải pháp tăng cường tiếp cận thông tin 95
Bảng 4 8 Định hướng giải pháp tăng cường hỗ trợ thể chế địa phương 96
Bảng 4 9 Định hướng giải pháp tăng cường tiếp cận vốn sản xuất 96
Bảng 4 10 Định hướng giải pháp tăng cường tiếp cận cơ sở hạ tầng 97
Bảng 4 11 Định hướng giải pháp tăng cường tích tụ ruộng đất 97
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu 3 1 Diễn biến mực nước trên sông Tiền (trạm Tân Châu) 44
Biểu 3 2 Diễn biến mực nước trên sông Hậu (trạm Châu Đốc) 44
Biểu 3 3 Diễn biến phù sa trên sông Tiền (trạm Tân Châu) 44
Biểu 3 4 Diễn biến phù sa trên sông Hậu (trạm Châu Đốc) 44
Biểu 3 5 Tần suất xuất hiện các mức hạn ứng tại trạm Châu Đốc giai đoạn 1980-2012 47
Biểu 3 6 Diễn biến nhiệt độ ở An Giang giai đoạn 2000-2016 50
Biểu 3 7 Diễn biến lượng mưa ở An Giang giai đoạn 2000-2016 51
Biểu 4 1 Thu nhập từ trồng lúa qua các năm (2011-2016) 84
Biểu 4 2 Cơ cấu các nguồn thu nhập ngoài trồng lúa của nông hộ 86
Biểu 4 3 Diễn biến mức sống của nông dân giai đoạn 2011-2016 88
Biểu 4 4 Diễn biến mức sống của nông hộ ở TX Tân Châu giai đoạn 2011-2016 89
Biểu 4 5 Diễn biến mức sống của nông hộ ở H Tri Tôn giai đoạn 2011-2016 89
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 0 1 Đồng bằng sông Cửu Long 1
Hình 0 2 Lưu vực sông Mekong 2
Hình 0 3 Chuỗi đập thủy điện trên dòng chính Mekong 3
Hình 0 4 Khu vực nghiên cứu 8
Hình 0 5 Khung nghiên cứu 21
Hình 1 1 Khung nghiên cứu 21
Hình 2 1 Sơ đồ ngũ giác tài sản sinh kế 23
Hình 2 2 Khung sinh kế bền vững của DFID 26
Hình 2 3 Quy trình xây dựng chỉ số tổn thương sinh kế 28
Hình 2 4 Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp 40
Trang 10ix
Hình 3 1 Các vùng sinh thái ở ĐBSCL 42
Hình 3 2 Phân bố ngập lũ ở An Giang năm 2009 43
Hình 3 3 Phân bố ngập lũ ở An Giang năm 2015 43
Hình 3 4 Diễn biến hạn khí tượng các mùa trong năm ở ĐBSCL 45
Hình 3 5 Phân bố hạn hán ở An Giang năm 2010 46
Hình 3 6 Phân bố hạn hán ở An Giang năm 2015 46
Hình 3 7 Phân vùng hạn hán ở ĐBSCL giai đoạn 1980-2012 47
Hình 3 8 Tác động của nhiệt độ tăng lên canh tác lúa 51
Hình 3 9 Tác động của thay đổi lượng mưa lên canh tác lúa 52
Hình 3 10 Năng lực thích ứng 58
Hình 3 11 Mạng lưới xã hội của nông dân trồng lúa 71
Hình 3 12 Không gian cư trú ven sông rạch 74
Hình 3 13 Nước giếng khoan sinh hoạt 75
Hình 3 14 Ruộng lúa ở H Tri Tôn 77
Hình 3 15 Kênh thủy nội đồng tại H Tri Tôn 78
Hình 3 16 Kênh rạch nội đồng ở TX Tân Châu 78
Hình 3 17 Thực trạng các nguồn vốn sinh kế của nông hộ 79
Hình 3 18 Mối quan hệ giữa tổn thương sinh kế và các khía cạnh 81
Hình 3 19 Giới hạn sinh kế 83
Trang 11cả nước (Nguyễn Thế Bình 2009) (Hình 0.1) Từ xưa, đồng bằng được biết đến là một vùng đất trẻ và giàu tiềm năng phát triển kinh tế bậc nhất ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng Kết quả của quá trình khai thác hàng trăm năm ở các vùng sinh thái nước ngọt, nước mặn và nước lợ đã tạo điều kiện cho đồng bằng trở thành vùng nông nghiệp trọng điểm về sản xuất lương thực thực phẩm, mỗi năm cung cấp hơn 50% sản lượng lương thực (90% sản lượng xuất khẩu), 80% cây ăn trái, 60% thủy sản và đóng góp hơn 35% GDP của đất nước (MARD 2012; AusAID 2013)
Hình 0 1 Đồng bằng sông Cửu Long
sự tương tác đa chiều từ tác động kép của bẫy đập thủy điện-thủy lợi phía thượng nguồn
và biến đổi khí hậu cùng với hoạt động khai thác của cư dân hàng trăm năm năm nay (Räsänen et al 2012)
Trang 122
Thứ nhất, lưu vực sông Mekong là một trong những lưu vực sông lớn nhất trên Thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng chảy qua sáu nước (Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam) rồi đổ ra Biển Đông (Hình 0.2) Lưu vực này có hệ sinh thái với độ đa dạng sinh học rất cao (Poulsen et al 2004; Junk
et al 2006; Lamberts 2006) và có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của những quốc gia ven bờ thông qua khả năng hỗ trợ sinh kế cho một tỷ lệ lớn cư dân trong lưu vực (Dugan et al 2010) Cách đây 25 năm, lưu vực sông Mekong có điều kiện sinh thái gần như nguyên sơ (Dudgeon 2011) nhưng hiện nay phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn từ các công trình thủy điện và thủy lợi quy mô lớn (Kuenzer et al 2013) cùng với biến đổi khí hậu (chủ yếu là chế độ nhiệt và chế độ mưa) dẫn đến những thay đổi sinh thái-thủy văn nghiêm trọng (Lauri et al 2012)
Hình 0 2 Lưu vực sông Mekong
Nguồn: (Lê Anh Tuấn 2014)
Trên dòng chính của lưu vực sông, hàng chục công trình đập thủy điện-thủy lợi được xây dựng do sự gia tăng nhu cầu năng lượng đáp ứng cho các nền kinh tế đang phát triển và nhu cầu tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp ngày càng lớn (Hình 0.3) Bên cạnh tăng cường quan ngại về an ninh nguồn nước trong nước và giữa các quốc gia trong lưu vực (Nordås & Gleditsch 2007; Michel & Amit 2009; De Stefano et al 2012), những công trình này sẽ làm giảm đáng kể (lên đến 96%) lượng trầm tích phù sa đến đồng bằng (Kondolf et al 2014) và biến đổi môi trường hiện tại gây khó khăn cho việc dự đoán xu hướng biến đổi trầm tích trong tương lai (Shrestha et al 2013)
Trang 13động lực dòng chảy (flow dynamic) và trao đổi trầm tích giữa các dòng sông và vùng
ngập lũ (Hung et al 2014; Manh et al 2014) Xét về sinh kế nông nghiệp, chất dinh dưỡng có trong trầm tích phù sa làm đất đai màu mỡ và hệ sinh thái tự nhiên phát triển nhanh chóng (Venterink et al 2006); theo ước tích, lưu lượng trầm tích cung cấp hơn một nửa lượng nguyên tố đạm-lân-kali (N-P-K) cho mỗi mùa vụ nông nghiệp (Manh et
al 2014) Đây đều là những nguyên tố quan trọng trong canh tác lúa (Hoa et al 2006)
và việc cung cấp các chất dinh dưỡng tự nhiên như vậy có thể làm giảm nhu cầu phân hoá học tốn kém trong sản xuất ba vụ tương đương khoảng 15 triệu USD mỗi năm (Nixon 2003; Chapman et al 2016) Chính vì thế, ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng rất nhạy cảm với những biến đổi hàm lượng phù sa bồi tụ Bất kỳ sự thay đổi quá
Trang 144
trình vận chuyển phù sa từ phía thượng nguồn về trước mắt cũng như lâu dài đều có tác động mạnh mẽ đến kiến tạo địa chất của vùng và sản xuất của nông dân Ngoài ra, ảnh hưởng của hệ thống đập thủy điện-thủy lợi ở thượng nguồn làm suy giảm lưu lượng nước dẫn đến xâm nhập mặn vào mùa khô ở khu vực hạ nguồn ngày càng gia tăng và tác động nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL (Tri et al 2012; Ziv et al 2012; Chapman et al 2016)
Thứ hai, biến đổi khí hậu trở thành chủ đề thảo luận của nhiều hội nghị trên Thế giới và đứng đầu danh sách các rủi ro ảnh hưởng đến sinh kế của cộng đồng khắp nơi theo như báo cáo về Nguy cơ Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2016 (WEF 2016) Chính vì tác động tiềm tàng trên cả ba lĩnh vực là kinh tế, xã hội và môi trường
đã đưa biến đổi khí hậu trở thành vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của một quốc gia (Trần Thọ Đạt & Vũ Thị Hoài Thu 2012) Công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu vì nếu ứng phó không tốt có thể làm xói mòi những nỗ lực và kết quả của mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững
ĐBSCL được đánh giá là một trong các “điểm nóng” về biến đổi khí hậu và nước biển dâng trên Thế giới, có nguy cơ tổn thương rất cao (IPCC 2014) Dự kiến đến cuối thế kỷ XXI, mùa khô sẽ nóng hơn và mùa mưa sẽ ngắn lại với lượng mưa tập trung cao
sẽ làm lũ lụt nghiêm trọng (WB 2010) Bên cạnh đó, khi mực nước biển dâng lên từ 0,75-1m thì sẽ có từ 25-31% diện tích đồng bằng chìm trong nước biển (Carew-Reid 2008; Lê Anh Tuấn et al 2011), vào mùa khô có đến 70% tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp
bị nhiễm mặn và ngay cả trong mùa mưa thì tỷ lệ này cũng chiếm từ 40-50% và rất khó canh tác lúa (Lê Anh Tuấn et al 2011) Điều này có thể dẫn đến nguy cơ là sản lượng lúa của khu vực sẽ giảm đi ít nhất một nửa và Việt Nam có thể sẽ là một quốc gia không
có lúa xuất khẩu (Lê Anh Tuấn et al 2011)
Nông nghiệp là ngành tạo ra sinh kế cơ bản cho khu vực nông thôn (Adger et al 2003) nhưng lại rất nhạy cảm với tác động bên ngoài và đặc biệt mức độ nhạy cảm sẽ tăng lên trong bối cảnh biến đổi khí hậu (Parry & Carter 1985; Rosenzweig & Parry 1994) Ở ĐBSCL, biến đổi khí hậu đang diễn ra với các tác động đáng chú ý đến môi trường sinh thái-thủy văn như thay đổi về thời gian và không gian ngập lũ, tần suất và cường độ hạn hán, gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt, sâu bệnh phá hoạt mùa màng Những tác động này mang đến các rủi ro mới và làm nổi bật những khó khăn đã tồn tại từ trước (Keskinen et al 2010; Pettengell 2010) dẫn đến suy giảm năng suất cây trồng, đe dọa an ninh lương thực quốc gia (Quinn et al 2010), tạo ra những thách thức
to lớn đối với cuộc sống của nông dân (Lespinas et al 2009; Muste et al 2010; Quinn
et al 2010) Đặc biệt, quá trình này làm gia tăng tình trạng đói nghèo (Prabhakar 1998), đẩy nhanh các cộng đồng nghèo ra ngoài lề của tiến trình phát triển (Pettengell 2010) Ngoài việc thay đổi các chu trình thủy văn, biến đổi khí hậu cũng có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp thông qua những con đường khác (Wassmann et al 2004) chẳng hạn như nhiệt độ tăng, lượng mưa giảm ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp, phổ biến nhiều dịch hại cây trồng (Reidsma et al 2009) Mặt khác, sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng đến thay đổi khí hậu (Deressa et al 2011) thông qua việc phát thải các khí
Trang 15Xét về khía cạnh tự nhiên, khí hậu và thời tiết thay đổi làm thay đổi nhiệt độ và lượng mưa gây khó khăn cho nông dân trong việc xác định lịch mùa vụ và giảm năng suất cây trồng (Trần Quốc Đạt et al 2012; Tri et al 2012); suy giảm ngập lũ và gia tăng hạn hán kéo theo nhu cầu gia tăng nguồn nước tưới tiêu nhất là trong mùa khô nhưng lại không có sự đảm bảo chắc chắn về nguồn nước trong thời điểm hiện tại và tương lai
vì bất cứ một chiến lược sử dụng và quản lý nguồn nước nào đều phải xem xét đến những động thái của các nước phía thượng nguồn (Lange & Jensen 2013) Bên cạnh đó, nhiều tiểu vùng trồng lúa ở An Giang gia tăng diện tích đê bao nhằm tạo thuận lợi cho
canh tác lúa ba vụ (triple-cropping) thay vì hai vụ (double-cropping) như trước kia
Những rủi ro liên quan đến việc canh tác lúa ba vụ và tính bền vững của hệ thống này
đã được nghiên cứu chi tiết và kết quả cho thấy hiệu quả sản xuất suy giảm đáng kể so với canh tác hai vụ (Dawe et al 2000) bởi phân vùng đê bao loại trừ ngập lũ đồng nghĩa ngăn không cho lượng trầm tích phù sao tràn vào đồng ruộng (Chapman et al 2016), tăng tỷ lệ sâu bệnh hại (Huu 2011) và giảm năng suất cây trồng (Garschagen et al 2012) buộc nông dân phải sử dụng các biện pháp hóa học nhằm đảm bảo sản lượng đầu ra Ở
chừng mực nhất định, đây có thể được xem là hành động “thích ứng sai” (maladaptation)
(Barnett & O’Neill 2010) Tuy vậy, trên thực tế, không có sự chắc chắn về lựa chọn tối
ưu giữa canh tác lúa hai vụ hay ba vụ vì quan điểm của các bên liên quan có sự mâu thuẫn: xuất khẩu lúa gạo hay phát triển bền vững (Pham et al 2004)
Xét về khía cạnh kinh tế-xã hội, sản xuất lúa vẫn còn nhiều bất cập như: quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún; liên kết bốn nhà còn yếu kém; khâu tiêu thụ còn nhiều khó khăn, thường xuyên xảy ra “được mùa mất giá”; chuỗi giá trị lúa gạo chưa được nâng cao; chưa xây dựng được thương hiệu và nông dân trồng lúa vẫn còn nghèo (MARD 2012) Việc tham gia vào các tổ chức và hiệp định thương mại cũng đã có tác động mạnh mẽ đến tình hình tiêu thụ và xuất khẩu lúa gạo Hàng rào thuế quan dần biến mất cũng là lúc mặt hàng lúa gạo chất lượng cao của các quốc gia khác tràn vào thị trường Việt Nam, đặc biệt theo con đường tiểu ngạch gây thêm nhiều khó khăn cho nông dân nếu cứ tiếp tục canh tác theo phương thức cũ và giống chất lượng thấp Định hướng đến năm 2020, Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới sau Thái Lan, tuy vậy, vị trí này sẽ có nhiều sự cạnh tranh trong tương lai khi có nhiều quốc gia khác tham gia vào thị trường lúa gạo thế giới như: Ấn Độ, Pakistan, Hoa Kỳ và cả Myanmar, Campuchia… Bên cạnh đó, thu nhập từ trồng lúa khá thấp và bấp bênh, nông dân sản xuất ra lúa gạo ít cơ hội bán trực tiếp cho doanh nghiệp mà phần lớn phải qua nhiều thương lái trung gian thu mua Thêm nữa, chi phí sản xuất bao gồm: vật tư nông
Trang 16và gánh chịu nhiều thiệt hại hơn những nhóm đối tượng khác (Mendelsohn et al 2007) Mức độ tổn thương phụ thuộc một phần vào khả năng thích ứng của nông dân và ngày càng có nhiều nghiên cứu tập trung vào vấn đề này nhưng sự hiểu biết về thích ứng vẫn còn rất hạn chế trong bối cảnh Việt Nam và ĐBSCL (Smit & Pilifosova 2003; Hoa 2014)
Mối quan tâm về tác động của biến đổi môi trường đối với sinh kế nông dân đã
thúc đẩy việc chuyển đổi đánh giá dựa trên tác động (impact-based assessment) sang đánh giá dựa trên tổn thương (vulnerability-based assessment) (Adger et al 2004) Đánh
giá tổn thương nói chung và tổn thương sinh kế nói riêng đã phát triển trong những năm qua với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ định lượng cho đến định tính, từ cấp độ khu vực, quốc gia cho đến vùng địa phương và các nhóm dân số khác nhau thông qua các khía cạnh độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng Những cách tiếp cận này đòi hỏi sự am hiểu về bối cảnh gây tổn thương và cộng đồng địa phương cùng khả năng linh hoạt trong sử dụng những phương pháp và công cụ đánh giá bởi tính phức tạp và tính địa lý của tổn thương
Do vậy, đề tài “Tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông dân trồng lúa ở thị xã Tân Châu và huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang” được thực
hiện với tư cách là một nghiên cứu trường hợp trong việc áp dụng cách tiếp cận và phương pháp đánh giá tổn thương sinh kế do biến đổi môi trường (tự nhiên và kinh tế-
xã hội) Đề tài sẽ tập trung trả lời những câu hỏi sau:
1 Biến đổi môi trường tạo ra những rủi ro sinh kế nào cho nông hộ trồng lúa?
2 Năng lực thích ứng với biến đổi môi trường của nông hộ như thế nào?
3 Ngưỡng tổn thương của nông hộ trước biến đổi môi trường là bao nhiêu?
4 Làm thế nào để nâng cao năng lực thích ứng cho nông dân?
2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trang 172.2 Nội dung nghiên cứu
Bảng 0 1 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
1
Nhận diện các rủi ro do biến đổi môi
trường có thể gây tổn thương sinh kế
cho nông hộ trồng lúa ở TX Tân
Châu và H Tri Tôn
- Các rủi ro sinh kế liên quan đến biến đổi môi trường tại khu vực nghiên cứu trong 05 năm qua (2011-2016)
- Nhận thức và mức độ quan tâm của nông hộ đối với những rủi ro sinh kế liên quan đến biến đổi môi trường
2
Đánh giá tổn thương sinh kế và năng
lực thích ứng với biến đổi môi trường
của nông hộ trồng lúa tại khu vực
nghiên cứu
- Đánh giá độ phơi nhiễm và độ nhạy cảm của sinh
kế trồng lúa với biến đổi môi trường tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá năng lực thích ứng của nông hộ với biến đổi môi trường tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá mức độ tổn thương sinh kế và xác định ngưỡng tổn thương đối với sinh kế của nông hộ tại khu vực nghiên cứu
3
Đề xuất định hướng chiến lược nhằm
tăng cường năng lực thích ứng của
nông hộ trồng lúa tại khu vực nghiên
3 Khái quát về khu vực nghiên cứu
An Giang là tỉnh có hoạt động sản xuất nông nghiệp sôi nổi ở ĐBSCL, phần lớn các huyện thị trong tỉnh đều trồng lúa và các giống cây trồng vật nuôi khác Tỉnh gồm
có 11 đơn vị hành chính bao gồm TP Long Xuyên, TP Châu Đốc, TX Tân Châu và 8 huyện: An Phú, Phú Tân, Chợ Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên và Tri Tôn Trong đó, TX Tân Châu là địa phương đầu nguồn tiếp nhận đầu tiên nguồn nước sông Mekong đổ vào lãnh thổ Việt Nam trên địa bàn An Giang, tiếp giáp biên giới với Campuchia có nhiều điều kiện trao đổi thương mại, phát triển kinh tế nhưng cũng còn nhiều nông hộ nghèo, sản xuất còn gặp nhiều khó khăn; và huyện Tri Tôn là một trong những huyện miền núi có đông đồng bào Khmer sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo cũng còn khá cao và điều kiện sản xuất cũng còn nhiều trở ngại Ngoài ra, việc lựa chọn TX Tân Châu và huyện Tri Tôn là địa bàn nghiên cứu còn nhằm đề cập đến vị trí địa lý trong việc tiếp cận tài nguyên nước và các vấn đề liên quan khác
Trang 18TX Tân Châu nằm phía bắc An Giang với diện tích tự nhiên khoảng 175km2
(chiếm gần 5% diện tích toàn tỉnh) Phía bắc giáp tỉnh Kandal (Campuchia), phía nam giáp huyện Phú Tân, phía tây giáp huyện An Phú, phía đông giáp huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp)
TX Tân Châu nằm trong kiểu khí hậu chung của An Giang là kiểu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa mưa từ T.5-T.11 và mùa khô từ T.12-T.4 năm sau Lượng mưa chênh lệch khá lớn, mùa mưa tập trung gần 90% lượng mưa cả năm trên toàn thị xã Dòng sông Tiền chảy từ biên giới Campuchia qua địa phận thị xã dài 15km nên hầu như quanh năm Tân Châu đều có nguồn nước ngọt phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt
3.1.2 Dân số, hành chính và sản xuất lúa
Về dân cư và hành chính, năm 2016 dân số toàn thị xã là 172.061 người, mật độ dân số 975 người/km2, gồm có 14 đơn vị hành chính: phường Long Phú (trung tâm), phường Long Châu, phường Long Hưng, phường Long Sơn, phường Long Thạnh và 9 xã Tại các xã thuộc địa bàn khảo sát, về diện tích chiếm 55,55%, về dân số chiếm 50,25%
Trang 19Mật độ dân số (người/km 2 )
Hộ (đvt: hộ)
Khẩu (đvt: người)
Bảng 0 3 Tình hình sản xuất lúa ở TX Tân Châu qua các năm
Giống như TX Tân Châu, huyện Tri Tôn cũng có kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa mưa từ T.5-T.11 và mùa khô từ T.12-T.4 năm sau Lượng mưa chênh lệch khá lớn, mùa mưa tập trung gần 90% lượng mưa cả năm trên toàn huyện Là một huyện miền núi, mặc dù mạng lưới kênh rạch trải khắp địa bàn huyện nhưng vẫn xảy ra tình trạng hạn hán cục bộ và thiếu nước vào mùa khô
3.2.2 Dân số, hành chính và sản xuất lúa
Về dân cư và hành chính, dân số toàn huyện năm 2016 là 134.750 người, mật độ dân số là 224 người/km2, gồm 15 đơn vị hành chính: thị trấn Tri Tôn (huyện lỵ), thị trấn
Trang 20Mật độ dân số (người/km 2 )
Hộ (đvt: hộ)
Khẩu (đvt: người)
Bảng 0 5 Tình hình sản xuất lúa ở H Tri Tôn qua các năm
- Đóng góp luận cứ khoa học cho việc đề xuất và thực hiện chính sách hỗ trợ nông
hộ trong sản xuất nông nghiệp
- Đóng góp tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu cùng chủ đề tiếp theo
Trang 2111
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào mức độ tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng của nông dân trồng lúa ở An Giang trước biến đổi môi trường
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại hai địa bàn trồng lúa của An Giang là TX Tân Châu và H Tri Tôn và xem xét các vấn đề nghiên cứu trong giai đoạn 2011-2016
6 Kết cấu luận văn và tiến trình thực hiện
6.1 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Giới thiệu và Kết luận, đề tài gồm có 04 chương và 101 trang
6.2 Tiến trình thực hiện
T.9) (T.10-T.12) (T.1-T.3) (T.4-T6) (T7-T.9) (T.10-T.12) (T.1-T.3) (T.4-T6)
(T7-1 Viết đề cương nghiên cứu
2 Thu thập và xử lý dữ liệu
3 Viết báo cáo sơ bộ
4 Viết báo cáo cuối cùng
5 In và nộp báo cáo
Trang 22kế sẽ có một số vấn đề được đề cập như sau:
1.1.1 Tổn thương và phương pháp đánh giá tổn thương
1.1.1.1 Khái lược thuật ngữ tổn thương
Thuật ngữ tổn thương (vulnerability) được khái niệm hóa và sử dụng từ lâu trên
Thế giới theo nhiều cách dựa trên lĩnh vực nghiên cứu, cấp độ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu bởi nhiều tác giả thuộc các chuyên ngành địa lý, sinh học, sinh thái, sức khỏe cộng đồng, nghèo đói và phát triển, đô thị hóa, an ninh lương thực, thảm họa thiên nhiên, biến đổi khí hậu, biến đổi môi trường (Kelly & Adger 2000; Pearson & Langridge 2008)
Một loạt các báo cáo của Ủy ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) từ năm 2001 đến 2013 đề xuất và hoàn thiện khái niệm tổn thương Từ khái niệm này có thể thấy với tổn thương chỉ xảy ra khi không có năng lực đối phó và thích ứng với những mối nguy và mức độ nhạy cảm cao với những mối nguy đó
Bảng 1 1 Một số định nghĩa về tổn thương của IPCC
2001
Tổn thương do biến đổi khí hậu là mức độ mà ở đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của BĐKH, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tổn thương là hàm của độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng với hiểm họa khí hậu (IPCC 2001a)
2007
Tổn thương do biến đổi khí hậu là mức độ mà một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể đối phó được với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, bao gồm cả những dao động có chu kỳ và hiện tượng khí hậu cực đoan Tổn thương là hàm của đặc tính, cường độ và tỉ lệ của biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống bị phơi bày, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng (IPCC 2007a)
2012
Tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị ảnh hưởng xấu Khuynh hướng này cấu thành một đặc tính bên trong của các yếu tố ảnh hưởng Tình trạng dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình (IPCC 2012)
2013 Tổn thương là xu hướng hay khuynh hướng bị tác động bất lợi Tổn thương bao gồm độ nhạy cảm
và thiếu năng lực để đối phó và thích ứng (IPCC 2013)
Nguồn: Tác giả tổng hợp 1.1.1.2 Một số chủ đề nghiên cứu về tổn thương
Những thay đổi về yếu tố khí hậu, thời tiết và thủy văn trên lưu vực sông Mekong
đã tạo ra sự biến đổi môi trường gây tác động đến sinh kế của nhiều nông hộ ở khu vực ĐBSCL nói chung và An Giang nói riêng Ở khu vực này, những rủi ro thiên tai thường
Trang 2313
xuyên xuất hiện là lũ lụt và hạn hán Đối với hạn hán và mối quan hệ với xâm nhập mặn đang là vấn đề gây tổn thương nghiêm trọng đối với hoạt động sinh kế hộ nông dân khu vực ven biển Đối với lũ lụt, vừa gây thiệt hại mùa màng, tài sản, bệnh tật và tính mạng con người đồng thời cũng mang đến nguồn lợi thủy sản và trầm tích phù sa
Sinh kế của nông hộ phụ thuộc vào sự phân mùa trong năm: mùa khô thì trồng lúa và mùa mưa (thường trùng với mùa lũ) thì đánh bắt thủy sản Ngay khi có bất kỳ sự thay đổi thời tiết và động thái kinh tế-xã hội trên dòng chính Mekong thì sinh kế của nhóm dân số này sẽ bị tổn thương Phần lớn những nông hộ này không có sự chuẩn bị
và năng lực thích ứng thường kém vì trình độ học vấn thấp, kém đa dạng sinh kế và sự phụ thuộc quá chặt chẽ vào nguồn lợi thủy sản (Phạm Xuân Phú 2009; Võ Hồng Tú et
al 2012) Xem xét tổng thể, có ít nhất 05 nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thủy sản: sức ép dân số, dụng cụ đánh bắt hủy diệt, đê bao chống lũ, ảnh hưởng thuốc bảo vệ thực vật và sự suy giảm lưu lượng nước sông Mekong (Nguyễn Văn Thiệu & Nguyễn Thị Ngọc Dung 2014)
Tranh luận về đê bao có hay không là nguyên nhân gây ra suy giảm nguồn lợi thủy sản và tình trạng hán hán, xâm nhập mặn trong mùa vụ năm 2015-2016 vừa qua vẫn đang tiếp diễn Đê bao có lợi cho sản xuất lúa vụ Hè-Thu và vụ Thu-Đông nhưng lại gây ra xung đột về lợi ích kinh tế của hộ trong và ngoài đê dẫn đến khả năng thích ứng khác nhau trong đó hộ ngoài đê là kém hơn (Nguyễn Văn Thiệu & Nguyễn Thị Ngọc Dung 2014) Sự thất thường của mực nước lũ là một trong những thách thức cho sinh kế của nông hộ ngoài đê Lũ bất thường gây xáo trộn lịch thời vụ, gia tăng dịch hại trên lúa; lũ thấp phù sa không đủ bồi đắp làm gia tăng chi phí sản xuất, năng suất lúa giảm; lũ lớn bất thường tạo ra nguy cơ vỡ đê cao và gây thiệt hại lúa Thu-Đông (Võ Duy Thanh & Hồ Thị Ngân 2015) Trong thời gian tới, khi diễn biến thất thường của biến đổi khí hậu được trình bày thông qua các kịch bản và sự thay đổi không đoán trước của nguồn nước trên lưu vực sông Mekong thì rủi ro và mức độ tổn thương cho sinh kế trồng lúa sẽ cao hơn, có thể đẩy người dân vào hoàn cảnh đói nghèo nếu không có một chiến lược thích ứng hợp lý
Đối với nông dân, thị trường, giá cả luôn là vấn đề được quan tâm nhiều vì ngoài việc phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu, thời tiết thì bối cảnh kinh tế-chính trị-xã hội cũng ảnh hướng đến sinh kế nông hộ Biến động giá nông sản, giá vật tư nông nghiệp tác động mạnh mẽ đến nguồn thu nhập của nông hộ (Dung et al 2013) Nếu với những hộ có nhiều đất canh tác có thể đa dạng sinh kế và tăng vòng quay sử dụng đất thì với những
hộ không có hoặc có ít đất canh tác thì những biến động này là một thách thức lớn trong cuộc sống Bên cạnh đó, việc làm thuê trong canh tác lúa cũng bị hạn chế do sự gia tăng mạnh mẽ cơ giới hóa và tăng tính thời vụ Đặc biệt với những hộ sản xuất theo hướng hàng hóa, rủi ro thị trường là điều luôn phải đối mặt khi bối cảnh hội nhập khu vực làm cho thị trường nông sản ngày càng cạnh tranh và khắc khe về chất lượng (Nguyễn Quốc Nghi & Lê Thị Diệu Hiền 2014)
Trang 2414
Trong số các yếu tố đầu vào sản xuất nhất định phải kể đến vốn, đồng nghĩa đề cập đến vốn tài chính của nông hộ thông qua thu nhập và hỗ trợ tín dụng Những yếu tố nào sẽ ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng tiếp cận hỗ trợ tín dụng của nông hộ chính
là những vấn đề quan trọng khi nghiên cứu về kinh tế nông thôn Nguồn thu nhập của nông hộ dù đa dạng hay không đa dạng vẫn chịu tác động của một số yếu tố có thể kể
đến như trình độ học vấn, diện tích đất, thời gian cư trú tại địa phương, khoảng cách từ nơi ở đến trung tâm, lượng vốn vay, lãi suất và số lao động (Nguyễn Lan Duyên 2014).
Thông qua tìm hiểu và nhận dạng những yếu tố tác động đến thu nhập có thể khái quát thành mối quan hệ giữa các nguồn vốn sinh kế khác với vốn tài chính để từ đó hình thành chiến lược sinh kế nhằm cải thiện thu nhập và nâng cao mức sống nông thôn
Nông hộ luôn có sự lựa chọn giữa vốn vay từ các nguồn tín dụng chính thức như ngân hàng, quỹ tín dụng hay phi chính thức như chương trình tài trợ, vốn chợ đen Việc tiếp cận đến những nguồn vốn này chịu tác động của nhiều yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp của chủ hộ, diện tích đất thổ cư, giá trị tài sản của hộ và mức độ sử dụng tín dụng thương mại (Trần Ái Kết & Huỳnh Trung Thời 2013)
Tương tự như thu nhập, các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận vốn vay cũng có thể khái quát thành mối quan hệ giữa các nguồn vốn sinh kế để hình thành chiến lược vốn tài chính trong nông hộ (Phan Đình Khôi 2013) Sự tương tác qua lại giữa các nguồn vốn sinh kế là cần thiết, và với mỗi nông hộ cần xác định nguồn vốn nào là mạnh nhất
và yếu nhất để có phương thức phát huy và cải thiện Hầu hết sinh kế nông hộ, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội thúc đẩy đạt kết quả tốt hơn so với hai nguồn vốn còn lại (Võ Văn Tuấn & Lê Cảnh Dũng 2015)
1.1.1.3 Phương pháp đánh giá tổn thương và tổn thương sinh kế
Phương pháp chỉ số tổn thương
Phương pháp đánh giá tổn thương bằng chỉ số là quá trình định lượng các vấn đề
đa chiều của tổn thương bằng cách sử dụng chỉ số tổng hợp từ các biến đa dạng ứng với từng chiều kích của tổn thương Phương pháp này khá phổ biến trong đánh giá tổn thương nhờ vào việc liên kết các thuộc tính sinh lý và kinh tế-xã hội của hệ thống thông qua chức năng định lượng ở nhiều cấp độ đối tượng: quần thể, hệ sinh thái, vùng, lĩnh vực, quốc gia (Eriksen & Kelly 2007) mặc dù tồn tại một vài nhược điểm như tính không đồng nhất và hạn chế dữ liệu cũng như kết quả chỉ số không thể hiện hết quy mô, tính chất của tổn thương (Schröter et al 2005)
Với từng hệ thống tự nhiên và kinh tế-xã hội sẽ có phương pháp tiếp cận đánh giá khác nhau: sử dụng cách tiếp cận dựa trên đề xuất của IPCC để đánh giá hệ thống tự nhiên và sử dụng cách tiếp cận dựa trên rủi ro để đánh giá hệ thống kinh tế-xã hội (Son
& Hung 2012) Đối với các phương pháp dựa trên quan điểm tổn thương của IPCC tập trung vào việc định lượng 03 khía cạnh: độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng bằng việc xác định các chỉ thị thích hợp và kết hợp bằng toán học thành các chỉ số
phù hợp với từng khía cạnh Tổn thương có thể đánh giá thông qua khả năng chống chịu
và mức độ nhạy cảm (Blaikie et al 1994; Watson et al 1996), từ đó xây dựng thành chỉ
Trang 2515
số độ nhạy và chỉ số năng lực thích ứng sau đó tổng hợp thành chỉ số tổn thương (Moss
et al 2001) Tuy nhiên, một quan điểm khác lại cho rằng tổn thương là hàm số của năng lực thích ứng và diện lộ (Adger & Kelly 1999; Kasperson et al 2000) Chỉ số tổn thương
thường bao gồm yếu tố sinh lý học (chủ yếu liên quan đến độ phơi nhiễm và độ nhạy cảm) và yếu tố kinh tế-xã hội (chủ yếu là năng lực thích ứng) (Yohe & Tol 2002; Iglesias
et al 2011)
Riêng tổn thương sinh kế, một khía cạnh của tổn thương, cũng được quan tâm nghiên cứu và được đo lường bằng nhiều chỉ số Trong đó, chỉ số tổn thương sinh kế-LVI (Hahn et al 2009) là kết quả của sự kết hợp giữa Khung sinh kế bền vững của DFID (DFID 1999) và khái niệm Tổn thương của IPCC (IPCC 2007a) được ứng dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu về tổn thương sinh kế trên Thế giới và ở Việt Nam vì phản ánh đầy đủ những khía cạnh tổn thương trong cả hai cấp độ hộ gia đình và khu vực (Lamichhane 2010; Laitae et al 2011; Lê Thị Diệu Hiền et al 2012; Nguyễn Văn Quỳnh Bôi & Đoàn Thị Thanh Kiều 2012; Nguyễn Duy Cần et al 2012; Can et al 2013; Etwire
et al 2013; Makondo et al 2014; Simane et al 2014; Dechassa et al 2016)
Lựa chọn chỉ số tổn thương sinh kế để đánh giá đòi hỏi sự hiểu biết về khu vực nghiên cứu và dữ liệu thu thập cũng như sẵn có Bên cạnh LVI còn có LEI cũng là một chỉ số được nhiều học giả áp dụng, tuy nhiên, LVI tỏ ra hiệu quả về mặt định lượng tổn thương trong khi LEI lại mạnh về định tính (Urothody & Larsen 2010) Xu hướng nghiên cứu gần đây thường kết hợp dữ liệu định lượng và định tính, do đó hoàn toàn có thể kết hợp hai chỉ số này trong nghiên cứu đánh giá Chẳng hạn, DPSIR là khung lý thuyết được khuyến khích trình bày nguyên nhân và tác động của một vấn đề theo một định dạng rõ ràng, đồng thời đánh giá có hiệu quả trong phân tích tác động qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống và dễ dàng chuyển thành chính sách (Carr et al 2007; Tscherning
et al 2012; Lewison et al 2016) Vì thế, khung lý thuyết này rất có ích trong việc hỗ trợ đánh giá tổn thương, hình thành cơ cấu mối quan hệ giữa các yếu tố gây tổn thương và
đề xuất giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu/môi trường một cách khoa học (Khajuria
& Ravindranath 2012)
Tính phổ biến của LVI có thể đề cập đến một trường hợp khác như PCVI (Limsakul et al 2014) là sự tích hợp giữa PVI (Cardona 2007) và LVI (Hahn et al 2009) Ứng dụng chỉ số này còn tạo ra cơ chế đơn giản trong kết nối giữa quá trình nghiên cứu, phổ biến kết quả và ứng dụng ở cấp cộng đồng vốn phù hợp với yêu cầu của Điều 5 (hệ thống nghiên cứu và quan sát) và Điều 6 (Giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức công cộng) của (UNFCCC 2004)
Phương pháp đánh giá tổn thương có sự tham gia
Phương pháp đánh giá tổn thương có sự tham gia tập trung vào các cá nhân, cộng đồng hoặc nhóm dân số dễ bị ảnh hưởng Phương pháp này sử dụng một loạt các công
cụ cho việc thu thập dữ liệu và phân tích tổn thương như: lập bản đồ nhận thức, phỏng vấn sâu, khảo sát, tham khảo ý kiến các chuyên gia để đánh giá tổn thương hiệu quả và
cụ thể trong từng bối cảnh nhằm xây dựng kế hoạch thích ứng Đánh giá tổn thương có
Trang 26để xác định rõ nhóm nguy cơ tổn thương cao nhất và khuyến khích những sáng kiến từ cộng đồng (Chiwaka & Yates 2005) Phân tích tổn thương có sự tham gia (PVA) chú trọng sự sẵn sàng kết nối với nhau của cộng đồng trong việc ứng phó rủi ro thiên tai và trao quyền cho cộng đồng trong những nỗ lực phục hồi sinh kế bị tổn thương
Dựa trên nền tảng PVA, phân tích tổn thương và năng lực thích ứng có sự tham gia (PCVA) tiếp cận hệ thống trong việc đánh giá tổn thương và đề cao vai trò của các
tổ chức phi chính phủ như CARE, Oxfam, Sida trong việc hỗ trợ cộng đồng tự nhận thức và phân tích tình trạng tổn thương tại địa phương Từ đó, những thông tin thu nhận được sẽ được các tổ chức này sử dụng hỗ trợ lại cộng đồng bù đắp tổn thương và xây dựng kế hoạch ứng phó và phục hồi (Ahmed et al 2012)
Mỗi địa phương đối mặt với những hiểm họa khác nhau đòi hỏi cần có khung phương pháp áp dụng chung để thu thập và phân tích thông tin về các loại hiểm họa Đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng (VCA) cho biết mức độ khác nhau của tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng ứng phó với các hiểm họa xảy ra đơn lẻ hoặc đồng thời, và khả năng phục hồi của cộng đồng Từ đó, xác định các ưu tiên ở địa phương
để giảm tình trạng tổn thương và phát triển năng lực của cộng đồng cũng như kế hoạch quản lý rủi ro (IFRC 2001) Điểm then chốt của mọi chương trình giảm nhẹ rủi ro thảm họa là giảm tình trạng dễ tổn thương và tăng cường năng lực cho cộng đồng (VNRC 2010)
Tập trung vào các hiểm họa do biến đổi khí hậu và kế thừa các nguyên tắc cũng như công cụ của VAC, phân tích tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu (CVCA) kết hợp dữ liệu khoa học cũng như tri thức bản địa để thu thập, phân tích và tiến hành đánh giá mức độ tổn thương và đề ra chiến lược ứng phó cho cộng đồng Phương pháp CVCA dựa trên một khung “các nhân tố thúc đẩy” cho các biện pháp thích ứng của cộng đồng (CARE 2009), chú trọng thiết kế và củng cố quy trình lập kế hoạch bằng cách cung cấp thông tin quan trọng, đặc thù theo bối cảnh về tác động của biến đổi khí hậu và tình trạng tổn thương ở địa phương Nét nổi bật của CVCA
so với các phương pháp đánh giá định tính khác là CVCA tập trung phân tích phân tích tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng có sự tham gia của các bên liên quan trước các hiểm họa và rủi ro từ biến đổi khí hậu để hoàn thiện giải pháp thích ứng, tuy nhiên,
dù hướng đến cộng đồng nhưng CVCA không quên xem xét các yếu tố môi trường có liên quan trực tiếp và gián tiếp và hài hòa với các chính sách và thể chế tại địa phương (Keskitalo 2008; Devisscher et al 2011) Những năm gần đây, cách tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng trong các dự án phát triển được đề cập đến rất nhiều ở Việt Nam nói
Trang 2717
chung và ĐBSCL nói riêng (Binh 2008) Tuy nhiên, khái niệm về đánh giá tổn thương
có sự tham gia thì còn khá mới mẻ và các nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất ít
Nhìn chung với các phương pháp đánh giá định tính như trên, tính tổn thương có thể được xác định trong mối quan hệ với 04 thành phần hàm chứa hầu hết các khía cạnh của sinh kế hộ gia đình trước những mối nguy từ sự biến đổi môi trường: i) Sức khỏe và dinh dưỡng rất quan trọng đối với khả năng thích ứng và phục hồi; ii) Sinh kế và các nguồn tạo thu nhập ổn định giúp hình thành năng lực thích ứng; iii) Sự tự bảo vệ của cá nhân và hộ nhằm đảm bảo sinh kế đầy đủ; iv) Sự hỗ trợ từ xã hội thông qua các tổ chức
xã hội nhằm phân phối công bằng các nguồn lực
1.1.2 Năng lực thích ứng và phương pháp đánh giá năng lực thích ứng
1.1.2.1 Khái lược thuật ngữ thích ứng
Thích ứng (Adaptation) không phải là một thuật ngữ mới mẻ vì đã được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực liên quan đến sự thay đổi môi trường bên ngoài (Adger et al 2009) Thuật ngữ này bắt nguồn từ khoa học tự nhiên, đặc biệt là sinh học tiến hóa thông qua những nghiên cứu sâu xa của Charles Darwin1 về sự tiến hóa và chọn lọc tự nhiên (Smit
& Wandel 2006)
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu/môi trường, thích ứng như là sự điều chỉnh hành
vi của từng nhóm và các tổ chức nhằm giảm tính dễ tổn thương đối với khí hậu (Pielke 1998) hay là sự điều chỉnh trong các hệ thống kinh tế-xã hội và sinh thái để đáp ứng các kích thích và tác động khí hậu thực tế hoặc dự kiến (Smit et al 2000) Thuật ngữ này đề cập đến những thay đổi trong quy trình, thông lệ, hoặc cấu trúc nhằm giảm nhẹ hoặc bù đắp các thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng các cơ hội liên quan đến sự thay đổi khí hậu/môi trường (Smit & Pilifosova 2003) Thảo luận về các giới hạn về thích ứng thường được xây dựng trên ba khía cạnh: giới hạn về sinh lý, giới hạn về kinh tế và giới hạn về công nghệ (Adger et al 2009)
Thuật ngữ năng lực thích ứng (Adaptive capacity) có nguồn gốc từ lý thuyết tổ
chức và xã hội học và có sự gia tăng nhanh chóng việc sử dụng thuật ngữ này trong
nghiên cứu về biến đổi khí hậu/môi trường thông qua kết hợp với thuật ngữ thích ứng
(Engle 2011)
Năng lực thích ứng là năng lực của các bên tham gia trong hệ thống để quản lý những tác động gây tổn thương từ những rủi ro môi trường và ảnh hưởng đến khả năng phục hồi (Walker et al 2004) hoặc thể hiện khả năng của hệ thống trong việc chuẩn bị
và điều chỉnh áp lực, chủ yếu để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tận dụng các cơ hội (IPCC 2007a) Từ đây có thể nhận thấy, khả năng thích ứng liên quan chặt chẽ đến một loạt các khái niệm được sử dụng phổ biến khác, bao gồm khả năng đối phó, năng lực quản lý, tính ổn định, tính mạnh mẽ, linh hoạt và khả năng phục hồi (Füssel & Klein 2006)
1 Charles Darwin (1809-1882) nhà sinh vật học người Anh
Trang 2818
Nói cách khác, năng lực thích ứng ảnh hưởng đến tính dễ tổn thương bằng cách điều chỉnh độ phơi nhiễm và độ nhạy cảm (Yohe & Tol 2002; IPCC 2007a; Engle 2011) nhờ vào vị thế độc đáo trong tiến trình đánh giá được hình thành bởi hoạt động của con người và ảnh hưởng đến cả yếu tố sinh lý và xã hội của một hệ thống (Eakin & Luers 2006) Mặc dù vẫn còn tranh luận giữa các thành phần độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng (Gallopín 2006; Füssel 2007) nhưng vai trò cơ bản của khả năng thích ứng thường được chấp nhận như một tài sản mong muốn, thuộc tính tích cực của một hệ thống để giảm tổn thương Bằng cách này, việc tăng cường năng lực thích ứng làm giảm tổn thương và thúc đẩy sự phát triển bền vững (Smit et al 2000)
1.1.2.2 Một số chủ đề nghiên cứu về thích ứng
Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với biến đổi khí hậu đề cập đến sự điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người để đáp ứng các kích thích khí hậu thực tế hoặc dự kiến hoặc những ảnh hưởng của những kích thích này, làm nhẹ hoặc khai thác các cơ hội có lợi (IPCC 2001a) Các nghiên cứu tiếp tục cho thấy nhận thức biến đổi khí hậu và các biện pháp thích ứng chịu ảnh hưởng bởi các nền kinh tế xã hội và các yếu tố môi trường khác nhau (De Stefano et al 2012) Đây cũng là một trong những lựa chọn chính sách để giảm tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu/môi trường (Adger et al 2003; Kurukulasuriya & Mendelsohn 2008)
Thích ứng trong nông nghiệp
Những thay đổi khí hậu/môi trường được dự đoán là những mối đe dọa lớn đối với an ninh lương thực, sức khoẻ cộng đồng, tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học (IPCC 2001a) Đối với sản xuất nông nghiệp vốn là nguồn thu nhập chính cho hầu hết các cộng đồng nông thôn nên việc thích ứng trong nông nghiệp với tác động bất lợi của biến đổi khí hậu/môi trường là cần thiết để bảo vệ sinh kế của người nghèo và đảm bảo
an ninh lương thực (Bryan et al 2009) Sự thích ứng nông nghiệp với biến đổi khí hậu/môi trường là một quá trình phức tạp và đa chiều (Bryant et al 2000), đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan, bao gồm các nhà hoạch định chính sách, các đại lý khuyến nông, các tổ chức phi chính phủ, các nhà nghiên cứu, cộng đồng và nông dân (Bryan et al 2009)
Có nhiều cách thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp (Bradshaw et al 2004; Kurukulasuriya & Mendelsohn 2008; Mertz et al 2009) và các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến việc sử dụng bất kỳ phương thức thích ứng nào (Deressa et al 2009) Một số nghiên cứu cho rằng các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến sự thích ứng, một số nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp cận các nguồn lực, tín dụng
và các dịch vụ khuyến nông làm tăng khả năng áp dụng các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu (Maddison 2007; Nhemachena & Hassan 2007)
Các nhân tố thúc đẩy và cản trở thích ứng và năng lực thích ứng
Các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở quyết định thích ứng của nông hộ và địa phương không tồn tại độc lập mà tương quan lẫn nhau Thích ứng ở cấp độ nông hộ chịu ảnh
Trang 2919
hưởng của các yếu tố: đặc điểm kinh tế-xã hội, nguồn lực kinh tế, thể chế, công bằng;
và cấp độ địa phương ảnh hưởng bởi các yếu tố như khả năng quản lý, tiếp cận các nguồn lực tài chính, công nghệ và thông tin, cơ sở hạ tầng, thể chế (Watts & Bohle 1993; Wisner et al 2004; IPCC 2007a) Bên cạnh các yếu tố quyết định năng lực thích ứng chung cũng có những yếu tố riêng biệt đối với từng mối nguy (IPCC 2007b)
Yếu tố then chốt của những quyết định hầu hết nằm ở đặc điểm kinh tế-xã hội, khả năng tiếp cận nguồn lực của nông hộ và hành động cộng đồng (Ziervogel et al 2006) Giới tính của chủ hộ có ảnh hưởng đến quyết định và khả năng sử dụng công nghệ mới (Nhemachena & Hassan 2007) Thêm nữa, tuổi tác cũng chuyển động ngược chiều với tiến trình ra quyết định áp dụng khoa học-công nghệ, trong đó nông dân càng lớn tuổi càng dễ từ chối chấp nhận rủi ro từ công nghệ mới (Shiferaw & Holden 1996) Sau tất cả, nguồn tài chính tốt tạo ra thuận lợi cho việc triển khai công nghệ mới áp dụng vào sản xuất và đồng thời cũng hỗ trợ giáo dục và tăng khả năng tiếp cận đến các cơ hội việc làm (Handmer et al 1999; IPCC 2012)
Các yếu tố kinh tế-xã hội và những hạn chế về nguồn lực đã được khẳng định là những rào cản chủ yếu đối với việc thích ứng (Francisco et al 2011) Những rào cản này được hiểu là: thiếu tiếp cận tín dụng, đất đai và thông tin (Bryan et al 2009; Hoa et
al 2014a), hạn chế về tài chính và thiếu thông tin về các biện pháp thích ứng và thông tin thời tiết (Deressa et al 2011) Sự thích ứng của nông dân có thể được tăng cường nếu việc tiếp cận tín dụng, thị trường, tài sản và công nghệ nông nghiệp trở nên dễ dàng hơn (Hassan & Nhemachena 2008) Các dịch vụ khuyến nông cũng có ảnh hưởng đến quyết định của nông dân trong việc thay đổi các phương thức canh tác nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu/môi trường (Maddison 2007; Nhemachena & Hassan 2007)
Nông dân ĐBSCL có nhiều cách thích ứng khác nhau Các giải pháp thích ứng như hoàn thiện hệ thống tưới tiêu, đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi, thay đổi lịch mùa vụ,
sử dụng giống chống chịu cao, mua bảo hiểm nông nghiệp không chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất lúa mà còn liên quan đến các khía cạnh đời sống như sự an toàn tính mạng và tài sản Tuy nhiên, các giải pháp thích ứng đối với lũ lụt, bão, hạn hán, xâm nhập mặn dự kiến được tăng cường do biến đổi khí hậu/môi trường không đạt hiệu quả
vì sự đồng nhất cấu trúc sinh kế, thách thức thể chế và quản trị cũng như giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên (Keskinen et al 2010)
1.1.2.3 Phương pháp đánh giá thích ứng và năng lực thích ứng
Sự xuất hiện của phương pháp tiếp cận đánh giá tổn thương gợi mở ra rằng những kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc ứng phó với những căng thẳng khí hậu hiện tại là những điều kiện tiên quyết quan trọng cho việc thích ứng trong tương lai Mục đích chung của phân tích thích ứng trong lĩnh vực biến đổi khí hậu/môi trường là ước tính mức độ ảnh hưởng của mối nguy và khả năng thích ứng với các tác động (Mendelsohn
et al 2000; Parry 2002)
Tiếp cận đánh giá thích ứng theo ngành cung cấp nền tảng cho các hành động thích ứng nhưng trên quan điểm ngành như vậy là không đủ để giải quyết các nhu cầu
Trang 3020
đa dạng liên quan đến thích ứng mà đòi hỏi phải hiểu biết bối cảnh tác động và thể chế khác nhau (Acosta-Michlik et al 2008; Cutter et al 2008) Vì thế cách tiếp cận dựa trên bối cảnh kết hợp theo ngành để thích ứng với biến đổi khí hậu/môi trường tạo thành cách tiếp cận hợp lý trong đánh giá, phân tích thích ứng và năng lực thích ứng ở các cấp
độ (Keskinen et al 2010) Các nghiên cứu gần đây về thích ứng đã đi theo nhiều con đường khác nhau, một trong số đó là để đánh giá công việc thích ứng nói chung cũng như sự phù hợp của các chiến lược thích ứng nói riêng (Bradshaw et al 2004)
Ngoài việc xác định các thích ứng thích hợp cần được thông qua, rõ ràng là cần phải hiểu rõ hơn về khả năng thích ứng với sự biến đổi và thay đổi khí hậu của các tác nhân (Polsky & Easterling 2001) Hiểu được sự thích ứng dự kiến là rất cần thiết để đánh giá tác động và đánh giá tính dễ tổn thương và đó là cơ sở để ước tính chi phí hoặc rủi ro của biến đổi khí hậu/môi trường (Pittock & Jones 2000)
Trong bối cảnh biến đổi môi trường nói chung, đánh giá năng lực thích ứng cấp
khu vực có thể dựa vào công nghệ, kiến thức, sự thịnh vượng và đặc điểm kinh tế xã hội
(Bohle et al 1994) Còn với cấp hộ, việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn vốn sinh kế (vốn con người, xã hội, tài chính, vật chất, tự nhiên) trong gia đình là yếu tố quan trọng nhất giúp nông hộ tạo ra và duy trì năng lực thích ứng (IPCC 2001b) Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là với từng mối nguy khác nhau và bối cảnh có thể thay đổi theo thời gian, khả năng thích ứng, đối phó có thể thay đổi do đó cần linh hoạt trong việc vận dụng tổng hợp các nguồn vốn này trong chiến lược sinh kế
Đối với cộng đồng tại khu vực nghiên cứu, đáng giá năng lực thích ứng cũng có
thể dựa vào các khía cạnh như nguồn lực kinh tế, công nghệ, thông tin và kỹ năng, cơ sở
hạ tầng, thể chế và bình đẳng (Smit & Pilifosova 2003) Cần hiểu rằng năng lực thích ứng phụ thuộc một phần vào các nguồn lực xã hội, con người, thể chế, tự nhiên và kinh
tế (Wall & Marzall 2004) Đặc biệt, cần nhận thức đúng đắn vai trò của vốn xã hội trong
thích ứng cộng đồng và cần xây dựng một năng lực xã hội nghĩa là khả năng tổ chức và
sử dụng nguồn vốn xã hội có được nhằm đa dạng hóa nguồn thu nhập và tạo điều kiện cho dòng chảy kiến thức và thông tin liên tục (Tiepoh & Reimer 2004) Mặt khác, chỉ
số năng lực thích ứng có thể xây dựng từ các yếu tố như văn hóa-xã hội, kinh tế, thế chế
và cơ sở hạ tầng (Sietchiping 2006)
Tiểu kết
Các phương pháp đánh giá nêu trên giúp thiết lập một khuôn khổ tương đối đơn giản nhưng thực tế để đánh giá so sánh cả không gian địa lý và lĩnh vực ngành dễ tổn thương, đặc biệt là vùng ĐBSCL Bên cạnh đó, nền tảng của đánh giá tổn thương và năng lực thích ứng là dựa vào cộng đồng nên cần thiết phân tích đa cấp độ và xác định các bên liên quan Đặt trong bối cảnh xã hội nhạy cảm và dễ tổn thương, xây dựng quy trình gồm các bước cụ thể nhằm thông tin cho người ra quyết định của các bên liên quan
cụ thể về các lựa chọn để thích ứng với những tác động của biến đổi môi trường là nhiệm
vụ đầu tiên cần thực hiện khi tiến hành đánh giá tổn thương (Schröter et al 2005) Từ
Trang 31Về phương pháp, đề tài dựa trên chỉ số tổn thương sinh kế của Hahn và cộng sự xây dựng năm 2009 cùng với Khung sinh kế bền vững để điều chỉnh và bổ sung các chỉ thị trong chỉ số tổn thương sinh kế nhằm phù hợp với bối cảnh địa bàn và thực trạng hoạt động sinh kế của nông hộ
1.2 Khung nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.2.1 Khung nghiên cứu
Biến đổi môi trường (tự nhiên và kinh tế-xã hội) đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của nông dân biểu hiện thông qua tình trạng tổn thương sinh kế Mức độ tổn thương không chỉ phụ thuộc vào mức độ phơi nhiễm, mức độ nhạy cảm với những rủi ro từ biến đổi môi trường mà còn phụ thuộc vào nhận thức của nông dân với những rủi ro ảnh hưởng đến năng lực thích ứng Trên cơ sở đó, một số định hướng giải pháp được đề ra nhằm nâng cao năng lực thích ứng cho nông hộ trong thời gian tới khi những rủi ro từ biến đổi môi trường ngày càng khó dự đoán và thất thường
Hình 1 1 Khung nghiên cứu
1.2.2 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng của nông dân trồng lúa ở An Giang đề cập đến một số giả thuyết như sau:
Trang 3222
Bảng 1 2 Giả thuyết nghiên cứu
1
Biến đổi môi trường tạo ra
nhiều rủi ro gây tổn thương
sinh kế cho hộ nông dân
Biến đổi môi trường (tự nhiên và kinh tế-xã hội) cùng với những rủi ro đã có từ trước đang tạo ra nhiều bất trắc khó ứng phó gây tổn thương nghiêm trọng đến sinh kế nông hộ
và có nguy cơ đẩy nông hộ vào tình trạng đói nghèo
3
Tăng cường vốn sinh kế là một
trong những giải pháp giảm tổn
thương
Khung sinh kế bền vững đề cập đến cách tiếp cận toàn diện trong nghiên cứu sinh kế, trong đó, hợp phần vốn sinh kế chịu ảnh hưởng của bối cảnh tổn thương và cấu trúc thể chế chính sách Do đó, tăng vốn là một trong những giải pháp hợp lý trong việc nâng cao năng lực thích ứng của nông hộ
Trang 33Sinh kế (Livelihood) là bao gồm các khả năng, các tài sản (nguồn lực vật chất và
nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết cho việc kiếm sống (Chambers & Conway 1991; Scoones 1998; Carney 2003) cũng như tính bền vững của nguồn tài nguyên mà sinh kế phụ thuộc (Ashley & Carney 1999; Norton & Foster 2001)
Hình 2 1 Sơ đồ ngũ giác tài sản sinh kế
Mỗi loại hình sinh kế đều bao hàm năm loại vốn2 hay còn gọi là tài sản sinh kế thể hiện năng lực của mỗi nông hộ biểu thị thông qua sơ đồ ngũ giác (Hình 2.1) Tăng khả năng tiếp cận và sở hữu các loại tài sản này sẽ giúp nông hộ thực hiện chiến lược sinh kế đạt kết quả tốt hơn và giảm thiểu mức độ thiệt hại trước những rủi ro của bối cảnh gây tổn thương Theo quan điểm tiếp cận sinh kế bền vững, sinh kế trồng lúa bền vững khi nông dân có thể ứng phó với các tác động tiêu cực do thời tiết và phát triển kinh tế-xã hội hoặc cải thiện được khả năng và nguồn lực sinh kế mà không làm tổn hại đến nguồn tài nguyên thiên nhiên (Chambers & Conway 1991)
2.1.1.2 Tổn thương sinh kế
a Tổn thương
Theo Báo cáo lần thứ IV của IPCC, tổn thương (Vulnerability) là mức độ mà ở
đó một hệ thống dễ bị ảnh hưởng và không thể ứng phó với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, gồm các dao động theo quy luật và các thay đổi cực đoan của khí hậu Tình trạng dễ bị tổn thương là hàm số của tính chất, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao động khí hậu, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống (IPCC 2007c)
Dựa vào định nghĩa của IPCC, tổn thương bao gồm 03 yếu tố chính: độ phơi
nhiễm (Exposure), độ nhạy cảm (Sensitivity) và năng lực thích ứng (Adaptive Capacity)
2 Vốn trong nghiên cứu sinh kế không hoàn toàn đồng nghĩa với thuật ngữ vốn trong kinh tế
Trang 3424
(1) hay là hàm của tác động tìm ẩn (Potential Impacts) và năng lực thích ứng (2): V =
f(E, S, AC) (1) hoặc V = f(PI, AC) (2)
b Tổn thương sinh kế
Đánh giá tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability Assessment) trong bối cảnh
biến đổi môi trường là một đánh giá có hệ thống về mức độ phơi nhiễm và nhạy cảm của các nguồn lực (bao hàm cả sự biến thiên và thay đổi trong tương lai) và năng lực thích ứng với những biến đổi này
Việc đánh giá tổn thương sinh kế trong đề tài được đo lường bằng chỉ số tổn
thương (Livelihood Vulnerability Index) thông qua các chỉ thị định tính và định lượng
nên khái niệm tổn thương sinh kế (Livelihood Vulnerability) sẽ được hiểu như sau:
Tổn thương sinh kế là mức độ sinh kế chịu ảnh hưởng, dễ bị mất mát và thiếu hụt khả năng thích ứng trước những rủi ro do biến đổi môi trường theo quy luật và cực đoan
Một thuật ngữ thống nhất và xuyên suốt giúp tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các nhà nghiên cứu và các bên liên quan khác nhau, ngay cả khi có sự khác biệt trong các mô hình khái niệm được áp dụng (Laroui & van der Zwaan 2001; Downing & Patwardhan 2005; Newell et al 2005; Füssel 2007)
Các hợp phần của khái niệm tổn thương sẽ được hiểu trong đề tài như sau:
- Độ phơi nhiễm (E): là chỉ số dùng để chỉ mức độ tổn hại mà biến đổi môi trường gây cho sinh kế ra dựa trên tần suất và cường độ của những biến đổi này
- Độ nhạy cảm (S): là khả năng dễ bị ảnh hưởng của hệ thống bởi những tác động tiêu cực của biến đổi môi trường ở cả hai khía cạnh tự nhiên và kinh tế-xã hội
- Năng lực thích ứng (AC): là khả năng của hệ thống có thể điều chỉnh để giảm thiểu mức độ thiệt hại do tác động tiêu cực của biến đổi môi trường và tận dụng những cơ hội
do sự biến đổi này mang lại
Các khía cạnh của tính dễ tổn thương cũng như các yếu tố quyết định mức độ tổn thương phụ thuộc vào vị trí, tính chất của hệ thống và thay đổi theo thời gian, theo biểu hiện của biến đổi khí hậu/môi trường (Smit & Wandel 2006; IPCC 2007b)
2.1.1.3 Năng lực thích ứng
Theo Báo cáo lần IV của IPCC, năng lực thích ứng (Adaptive capacity) là khả
năng tự điều chỉnh của một hệ thống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảm nhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương đầu với các hậu quả (IPCC 2007c)
Năng lực thích ứng tập trung vào quá trình thích ứng sinh kế (Livelihood adaptation)
là sự linh động hoặc thay đổi trong các hoạt động sinh kế để tạo thu nhập (Davies & Hossain 1996) Một số hình thức thích ứng được (IPCC 2007b) phân loại như sau:
- Thích ứng tự phát (Autonomous adaptation): là những hoạt động thích ứng được thực
hiện mang tính “phản xạ” nhằm đối phó với các tác động thực tế của bối cảnh đang diễn
ra mà không có sự can thiệp chính sách (thích ứng ngắn hạn)
Trang 3525
- Thích ứng kế hoạch (planned adaptation): là những hoạt động thích ứng được lập kế
hoạch và có sự cân nhắc thận trọng về nguồn lực trong bối cảnh đã dự đoán trước (thích ứng dài hạn)
- Thích ứng sai (Maladaptation): là những hoạt động thích ứng mà dẫn đến việc tăng
thêm mức độ dễ bị tổn thương Thích ứng sai thường do kế hoạch cập rập với mong muốn lợi ích trước mắt dù vô tình hay cố ý
Trong khuôn khổ đề tài, đánh giá năng lực thích ứng (Adaptive Capacity Assessment) thông qua chỉ số năng lực thích ứng (Adaptive Capacity Index) với biến đổi
môi trường bằng việc xem xét mối tương quan với khái niệm tổn thương nên khái niệm năng lực thích ứng sẽ được hiểu như sau:
Năng lực thích ứng là năng lực của hệ thống hoặc xã hội nơi nông hộ cư trú có thể điều chỉnh hoặc ứng phó với những biến đổi môi trường nhằm: i) giảm thiểu mức độ tổn thương của biến đổi môi trường đối với sinh kế nông hộ; ii) tận dụng cơ hội (có thể có) mà biến đổi mang lại nhằm cải thiện sinh kế
Yếu tố quan trọng hình thành năng lực thích ứng của nông hộ là khả năng tiếp cận và sở hữu các nguồn vốn sinh kế Năng lực này có thể thay đổi theo thời gian tùy theo bối cảnh tạo những rủi ro khó kiểm soát
2.1.2 Lý thuyết và cách tiếp cận nghiên cứu
2.1.2.1 Lý thuyết lựa chọn duy lý
Lý thuyết này còn có một tên gọi khác là “thuyết lựa chọn hợp lý” phát triển từ thuyết hành vi do James Coleman đề xướng (Coleman 1986) Lý thuyết dựa vào tiên đề cho rằng khi một cá nhân chịu tác động bởi nhiều tác động từ bên ngoài thì luôn hành động một cách có chủ đích để tiến hành lựa chọn các cách thức phù hợp với bản thân
mà không phải ngay lập tức sẽ phản ứng lại tất cả nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu
Lý thuyết có hai đặc trưng, thứ nhất “sự lựa chọn là hành động của một cá nhân”
và thứ hai là “quá trình tối ưu quá” Hai đặc trưng này được nhà xã hội học George Homans thể hiện theo một nguyên tắc toán học như sau: Một hành động được lựa chọn
để thực hiện khi tích giữa giá trị kết quả tạo ra từ hành động đó (ký hiệu là V) với xác suất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) là cao nhất (C = P x V = Maximum) (Homans 1974)
Giá trị của hành động không chỉ nằm ở yếu tố kinh tế mà còn là yếu tố tinh thần
và xã hội nên việc hành động được lựa chọn để thực hiện ngoài phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của cá nhân còn phải phù hợp với cộng đồng xung quanh Trong bối cảnh biến đổi môi trường đe dọa sinh kế, nông hộ đứng trước nhiều sự lựa chọn: i) tiếp tục
Trang 3626
trồng lúa, ii) chuyển đổi sinh kế, iii) di dân đến nơi khác Với mỗi sự lựa chọn, nông hộ luôn cân nhắc với những nguồn vốn hiện có nhằm nhận lại kết quả kỳ vọng (sinh kế ổn định và bền vững)
2.1.2.2 Cách tiếp cận sinh kế bền vững
Đề tài đánh giá tổn thương sinh kế và năng lực thích ứng của nông hộ trồng lúa được tiếp cận dựa trên khung sinh kế bền vững (SLF) Khung sinh kế bền vững là một trong những công cụ được xây dựng nhằm cụ thể hoá cách tiếp cận sinh kế bền vững (SLA), thể hiện đầy đủ các hợp phần và khía cạnh liên quan đến sinh kế SLF có thể thay đổi và bổ sung cho phù hợp với đặc thù của đối tượng, bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hình 2 2 Khung sinh kế bền vững của DFID
a Bối cảnh tổn thương (Vulnerability Context)
Bối cảnh tổn thương là môi trường bên ngoài nông hộ có thể kể đến như BĐKH, xâm nhập mặn, thay đổi thủy văn, rủi ro thị trường tạo ra những rào cản làm cho sinh
kế nông hộ kém bền vững
b Tài sản sinh kế (Livelihood Assets)
Tài sản sinh kế là một trong những hợp phần quan trọng nhất của SLF, theo DFID mỗi nông hộ cơ bản đều có năm loại nguồn vốn: vốn con người, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn tự nhiên
c Chính sách và thể chế (Policies and Institutions)
Chính sách và thể chế có liên quan mật thiết với nông hộ và hoạt động từ cấp độ
tư nhân đến cấp độ công, có thể hỗ trợ cũng có thể cản trở nông hộ trong quá trình sinh
kế Các chính sách cũng có thể góp phần giảm nhẹ tác động của các cú sốc bên ngoài,
ví dụ như chính sách hỗ trợ thiên tai, hỗ trợ sản xuất và đời sống cho người trồng lúa hay chính sách hỗ trợ hộ nghèo…
Trang 3727
d Chiến lược sinh kế (Livelihood Strategies)
Chiến lược sinh kế là thuật ngữ biểu thị phạm vi và sự kết hợp các hoạt động cùng với sự lựa chọn mà nông hộ thực hiện nhằm đạt được mục tiêu sinh kế-thu nhập Xét ở cấp độ nông hộ, có thể có một hoặc nhiều chiến lược sinh kế tùy thuộc vào số lượng thành viên trong gia đình
e Kết quả sinh kế (Livelihood Outcomes)
Kết quả sinh kế giúp đo lường kết quả đầu ra của quá trình sinh kế Mối nhân quả của việc lựa chọn chiến lược sinh kế đem lại kết quả tương ứng Biểu hiện của kết quả này không có nghĩa nông hộ tối đa hóa thu nhập mà thay vào đó là tìm hiểu sự đa dạng trong các mục tiêu sinh kế dạng tiềm năng
Tiếp cận SLF trong đề tài cung cấp một khuôn khổ đầy đủ để phân tích những tài sản sinh kế mà nông hộ hiện có, các mối nguy cho sinh kế và kết quả sinh kế dựa trên những chiến lược sinh kế hiện tại cũng như tương lai Bên cạnh đó, khung sinh kế này cũng là cơ sở để tổng quan các chỉ thị trong chỉ số đo lường tổn thương sinh kế Ngoài
ra, đề tài còn tiếp cận nghiên cứu theo hướng đa ngành bao gồm địa lý xã hội thủy văn học-nông học nhằm tăng tính bao quát trong việc nhìn nhận các vấn đề nghiên cứu
Trang 38Hình 2 3 Quy trình xây dựng chỉ số tổn thương sinh kế
Bước 1: Lựa chọn và phân nhóm chỉ thị
Qua tổng quan tư liệu, chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) của (Hahn et al 2009) là chỉ số được ứng dụng khá rộng rãi trong nhiều nghiên cứu về tổn thương trên thế giới
và ở Việt Nam (Bảng 2.1)
Bảng 2 1 Một số nghiên cứu ứng dụng LVI của Hahn et al (2009)
1 The Livelihood Vulnerability Index: A pragmatic approach to assessing risks
from climate variability and change - A case study in Mozambique (Hahn et al 2009)
2 Sustainable livelihood approach in assessment of vulnerability to the impacts of
climate change: A study of Chhekampar VDC, Gorkha District of Nepal
(Lamichhane 2010)
3 Áp dụng chỉ số tổn thương trong nghiên cứu sinh kế-trường hợp xã đảo Tam
Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
(Nguyễn Văn Quỳnh Bôi & Đoàn Thị Thanh Kiều 2012)
4
Đánh giá tính dễ tổn thương về sinh kế vùng hạ lưu Sông Mekong: Những giải
pháp thích ứng để tăng cường năng lực của người dân vùng ngập lũ ở Việt Nam
và Campuchia
(Nguyễn Duy Cần
et al 2012)
5
Application of livelihood vulnerability index to assess risks from flood
vulnerability and climate variability - A case study in the Mekong Delta of
Vietnam
(Can et al 2013)
6 Application of Livelihood Vulnerability Index in Assessing Vulnerability to
Climate Change and Variability in Northern Ghana
(Etwire et al 2013)
7 Agroecosystem specific climate vulnerability analysis: Application of the
livelihood vulnerability index to a tropical highland region
(Simane et al 2014)
8 Climate Change Adaptation and Vulnerability: A Case of Rain Dependent
Small-Holder Farmers in Selected Districts in Zambia
(Makondo et al 2014)
9 Agro-ecological based small-holder farmer’s livelihoods vulnerability to climate
variability and change in Didesa sub Basin of Blue Nile River, Ethiopia
(Dechassa et al 2016)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 393 Năng lực thích ứng
Đặc điểm hộ Chiến lược sinh kế Mạng lưới xã hội
Nguồn: (Hahn et al 2009)
Các chỉ thị trong LVI của (Hahn et al 2009) có thể vận dụng để đo lường tổn thương sinh kế nhưng trong bối cảnh nghiên cứu thì vẫn chưa đủ Do đó, nghiên cứu cần lựa chọn và bổ sung thêm một số chỉ thị dựa trên một số tiêu chuẩn đã đặt ra trong phần trước để việc đo lường được đầy đủ và chính xác hơn
Các chỉ thị được lựa chọn và thao tác hóa dựa trên các tiêu chuẩn như sau:
Bảng 2 3 Một số yêu cầu trong lựa chọn chỉ thị
1 Tính phù hợp Chỉ thị phải đáp ứng mục tiêu đánh giá mức độ tổn thương sinh kế và năng lực
thích ứng của nông hộ trồng lúa
2 Tính sẵn có Dữ liệu thu thập cho chỉ thị phải dễ dàng, ít tốn kém cả sơ cấp lẫn thứ cấp
3 Tính giản đơn Chỉ thị phải dễ hiểu, dễ nhận thức ý nghĩa đối với mọi đối tượng có hay không có
chuyên môn
4 Tính nhạy cảm Dữ liệu nếu có thay đổi theo thời gian có thể nhận biết, so sánh và cập nhật
thường xuyên
5 Tính chính xác Dữ liệu thu thập phải có tính chính xác, ít sai sót
6 Tính cụ thể Định nghĩa, thuyết minh chỉ thị phải cụ thể, rõ ràng
b Bước 2: Lựa chọn tiêu chí
Mỗi tiêu chí đi kèm với chỉ thị sẽ được phân theo thang đo Likert (03 tiêu chí) Mỗi tiêu chí phải phù hợp với bản chất của chúng và đặc điểm địa bàn nghiên cứu đã được khảo sát sơ bộ trước
Trang 4030
c Bước 3: Gán trọng số giá trị của tiêu chí
Trọng số giá trị của tiêu chí trong từng chỉ thị sẽ được gán theo cách như sau:
Bảng 2 4 Trọng số cho các tiêu chí của nhóm
Chỉ số năng lực thích ứng
Thứ
nhất 1,00 Khả năng phơi nhiễm/nhạy cảm cao nhất
Thứ nhất 0,33 Khả năng thích ứng thấp nhất Thứ
hai 0,67 Khả năng phơi nhiễm/nhạy cảm trung bình
Thứ hai 0,67 Khả năng thích ứng trung bìnhThứ
ba 0,33 Khả năng phơi nhiễm/nhạy cảm thấp nhất
Trọng
số (W)
và thời tiết (E 1 )
Nhiệt
độ (E 1a )
Thực trạng
Tăng lên 1,00
Nhiệt
độ tăng cao trong điều kiện mưa ít
sẽ ảnh hưởng sinh trưởng cây lúa
(Rosegrant 2010)
Trung tâm quan trắc khí tượng thủy văn + Niên giảm thống
kê địa phươn
Giảm xuống 0,67 Không đổi 0,33
Mức
độ
Cao 1,00 Trung bình 0,67 Thấp 0,33
Tần suất
Thường xuyên 1,00 Thỉnh thoảng 0,67 Hiếm khi 0,33
Lượng mưa (E 1b )
Thực trạng
Giảm xuống 1,00 Không đổi 0,67 Tăng lên 0,33
Mức
độ
Cao 1,00 Trung bình 0,67 Thấp 0,33
Tần suất
Thường xuyên 1,00 Thỉnh thoảng 0,67 Hiếm khi 0,33 Giá
cả
Giá lúa
Thực trạng
Giảm xuống 1,00 Giá lúa
và thị Không đổi 0,67