Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là thơ văn những nhà Nho đời Trần – Về sách sưu tầm, dịch thuật và giới thiệu thơ văn có các công trình như: - Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2, tập 3 do
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HÒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
Trang 3Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Sau đại học, Thư viện, các thầy
cô phòng Sau đại học và các vị Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ giảng dạy - chuyên ngành Văn học Việt Nam, đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành được khóa học và luận văn của mình
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Mai
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Công Lý
Các số liệu, ý kiến, trích dẫn được ghi xuất xứ rõ ràng, mạch lac
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Người thực hiện
Nguyễn Thị Mai
Trang 51
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3 Lịch sử nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của đề tài 13
6 Giới thiệu kết cấu luận văn 13
CHƯƠNG 1: DIỆN MẠO VĂN HỌC ĐỜI TRẦN – HỒ VÀ THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO ĐỜI TRẦN – HỒ VIẾT VỀ PHẬT GIÁO 15
1.1 Xã hội Việt Nam đời Trần – Hồ 15
1.1.1 Khái niệm “đời Trần – Hồ” 15
1.1.2 Thời đại xã hội đời Trần – Hồ 15
1.2 Nho giáo, Phật giáo và sự phân công hợp tác Nho – Phật đời Trần- Hồ 26
1.2.1 Vài nét về Nho giáo đời Trần – Hồ 26
1.2.2 Vài nét về Phật giáo Việt Nam đời Trần – Hồ 29
1.2.3 Sự phân công hợp tác Nho – Phật đời Trần – Hồ 32
1.3 Tư tưởng Nho, Phật phân tranh giai đoạn Trần – Hồ 34
1.4 Cội nguồn của cảm hứng Phật giáo trong thơ văn các nhà Nho đời Trần – Hồ 39
1.4.1 Kế thừa tinh thần và thành tựu từ đời Lý 39
1.4.2 Phật giáo đáp ứng được nhu cầu tâm linh của con người thông qua những giáo lý nhà Phật 41
1.5 Kiểu tác giả là nhà Nho đời Trần – Hồ viết về Phật giáo 43
1.5.1 Kiểu nhà Nho hành đạo, hiển đạt 44
1.5.2 Kiểu nhà Nho ẩn dật, chán ngán lợi danh 46
1.5.3 Kiểu nhà Nho lận đận hoặc không gặp thời trong đường công danh 48
Tiểu kết chương 1 51
CHƯƠNG 2: THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO ĐỜI TRẦN - HỒ VIẾT VỀ PHẬT GIÁO NHÌN TỪ ĐỀ TÀI VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG 53
2.1 Các dạng đề tài trong thơ văn viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ 53
2.1.1 Đề tài thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp những giáo lý nhà Phật 53
2.1.2 Đề tài viết về cảnh chùa chiền, sư sãi 54
2.1.3 Đề tài phê phán những bê tha chốn Thiền môn 54
Trang 62
2.2 Nội dung phản ánh và tư tưởng trong thơ văn của nhà Nho đời Trần – Hồ viết về Phật
giáo 58
2.2.1 Tái hiện cảnh già lam 58
2.2.2 Thể hiện tư tưởng triết lý Phật – Thiền 65
2.2.3 Tinh thần dung hợp Nho – Phật – Đạo 74
2.2.4 Ca ngợi sự mầu nhiệm và công đức lớn lao của Phật giáo 80
2.2.5 Phê phán những bê tha nơi Thiền môn 83
Tiểu kết chương 2 87
CHƯƠNG 3: THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO ĐỜI TRẦN - HỒ VIẾT VỀ PHẬT GIÁO NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 89
3.1 Thể loại 89
3.1.1 Thơ 90
3.1.2 Phú 92
3.1.3 Truyện 93
3.1.4 Văn bia 94
3.1.5 Luận thuyết chính trị - luận thuyết tôn giáo 95
3.1.6 Tự, bạt 96
3.2 Ngôn ngữ 97
3.2.1 Nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ 102
3.2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố, điển tích 108
3.3 Giọng điệu 111
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Tài liệu tiếng Việt 118
Các trang web đã truy cập 127
PHỤ LỤC: NHỮNG TÁC PHẨM VIẾT VỀ PHẬT GIÁO CỦA CÁC NHÀ NHO ĐỜI TRẦN - HỒ ĐƯỢC KHẢO SÁT 128
Trang 7đó chứng tỏ văn học luôn là người bạn đồng hành, theo sát từng bước thăng trầm của lịch sử dân tộc Văn học đã tự nó khẳng định tầm cao vị thế của mình, thoát ra khỏi giới hạn không chỉ đơn thuần là một bộ phận giải trí trong những quan điểm của thời sơ khởi
Nói đến văn học dân tộc chúng ta không thể bỏ qua văn học trung đại, đây là thời kỳ văn học phát triển rực rỡ và sáng chói nhất, có nhiều thành tựu trong văn học dân tộc Đặc biệt văn học thời đại Lý – Trần được đánh giá là đỉnh cao của văn học trung đại
Hiện đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về những tác giả, tác phẩm thời đại Lý – Trần, trong đó có đời Trần – Hồ Văn học thời đại Lý – Trần nói chung, văn học đời Trần – Hồ nói riêng, về lực lượng tác giả, bên cạnh vua chúa, quý tộc, Thiền sư thì các tác giả là nhà Nho đóng vai trò chủ yếu Kiểu tác giả là nhà Nho này có thể nói là đội ngũ tác giả chính trong văn học đời Trần – Hồ Về nội dung cảm hứng, bên cạnh những sáng tác viết về đất nước, thiên nhiên, con người và cuộc sống thì các nhà Nho còn viết về chùa chiền,
sư sãi, nhìn Phật giáo dưới lăng kính riêng của nhà Nho
Chính vì lẽ đó, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Thơ văn các nhà Nho
đời Trần – Hồ viết về Phật giáo ”, nêu lên những giá trị nội dung và hình thức
đặc sắc của những thơ văn này
Trang 84
2 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng rõ nội dung tư tưởng và những đặc trưng nghệ thuật trong những sáng tác viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là thơ văn những nhà Nho đời Trần –
Về sách sưu tầm, dịch thuật và giới thiệu thơ văn có các công trình như:
- Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2, tập 3 do Trần Lê Sáng chủ biên đã
thống kê nhiều tác giả viết về Phật giáo như: Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Phạm Mại, Phạm Ngộ, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Phi Khanh, Trần Thuấn Du, Phạm Nhân Khanh
- Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3, do Nguyễn Đăng Na chủ biên đã
thống kê một số bài văn bia viết về Phật giáo của các nhà Nho: Trương Hán
Trang 9- Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (tập1) do Bùi Duy Tân chủ
biên thống kê những sáng tác viết về Phật giáo của các nhà Nho như: Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Mại, Chu An, Trần Nguyên Đán, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Phi Khanh, Lê Quát
Về những công trình nghiên cứu có liên quan đến mảng thơ văn viết về Phật giáo giai đoạn này, phải kể đến như:
- Nguyễn Công Lý trong công trình Văn học Phật giáo thời Lý – Trần:
diện mạo và đặc điểm đã trình bày diện mạo và đặc điểm của thơ văn Phật
giáo thời Lý – Trần: Trình bày tổng quan thời đại Lý – Trần, những đặc điểm
về văn học nói chung, về văn học Phật giáo nói riêng, đồng thời đã phân tích
và đánh giá vai trò của Phật giáo đối với sự phát triển của văn học, của nhân dân Đại Việt Bằng việc sử dụng nhiều lý lẽ, dẫn chứng tác giả đã chỉ ra những nét đặc sắc trong nội dung và nét độc đáo trong bút pháp nghệ thuật sáng tác của văn học Phật giáo
- Trịnh Khắc Mạnh trong Một số vấn đề văn bia Việt Nam đã góp phần
vào việc nghiên cứu văn học Phật giáo giai đoạn trung đại bằng việc tìm tòi
và tổng kết một số lượng lớn văn bia của nhiều triều đại Đây là tư liệu hữu ích cho chúng tôi trong quá trình thống kê tác phẩm phục vụ cho việc nghiên cứu
- Đoàn Thị Thu Vân trong công trình Khảo sát đặc trưng nghệ thuật
của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ X – thế kỷ XIV, đã trình bày những đặc trưng
nghệ thuật của văn học Phật giáo thời đại Lý – Trần: ngôn ngữ thơ Thiền, hình tượng con người, hình tượng thiên nhiên ngoại vật, không gian nghệ
Trang 106
thuật, thể thơ, kết cấu, cách miêu tả, giọng điệu Đồng thời, tác giả đã so sánh đặc trưng nghệ thuật thơ Thiền Lý – Trần với thơ nho cùng thời và thơ Thiền Trung Quốc, Nhật Bản Từ đó, chỉ ra những nét tương đồng, dị biệt trong mối quan hệ với thơ Thiền các nước
- Đoàn Thị Thu Vân trong Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam
sơ kỳ trung đại đã trình bày những vấn đề con người trong thơ ca sơ kỳ trung
đại Đặc biệt là công trình đã trình bày được những nội dung căn bản trong một vài sáng tác tiêu biểu của những nhà Nho như Trần Quang Triều, Chu
An, Nguyễn Phi Khanh, Trần Nguyên Đán Chỉ ra được tinh thần dung hợp Nho, Phật, Đạo trong một vài tác phẩm tiêu biểu
- Nguyễn Phạm Hùng trong Văn học cổ Việt Nam - tìm tòi và suy nghĩ
đã trình bày, phân tích rất nhiều khía cạnh của văn học đời Lý, đời Trần như khuynh hướng “văn học Thiền” đời Trần, những đặc điểm cơ bản của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo giai đoạn này Tác giả còn phân tích rõ nét về nội dung chính trong sáng tác của các nhà Nho đời Trần – Hồ Đây đều là những tài liệu quý giá để hỗ trợ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
- Giáo trình “Văn học Việt Nam từ thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII (tập
1) của Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1978 đã trình bày tổng quan các vấn đề như: văn học đời Lý với những truyền thống của dân tộc, văn học đời Trần với hào khí Đông A, những vấn đề về văn tự sự, truyện ký, thơ Nôm đời Trần
- Công trình Lịch sử tư tưởng Việt Nam văn tuyển của Viện Triết học,
NXB Chính trị Quốc gia năm 2004 có phần trích tuyển tác phẩm của các nhà Nho cùng với tư tưởng của họ như: Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Phạm Mại, Phạm Sư Mạnh, Lê Quát, Trần Nguyên Đán, Phạm Nhân Khanh, Nguyễn Phi Khanh, Trần Thuấn Du
Trang 117
- Sách tham khảo Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 5, của Nguyễn Đăng
Thục, Nxb TP.HCM, tái bản năm 1992 đã trình bày hoàn cảnh chính trị đời Trần, sự xung đột tư tưởng Nho, Phật đời Hồ và những nhận định, kiến giải của tác giả về vấn đề này
- Sách tham khảo Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 4, của Nguyễn Đăng
Thục, Nxb TP.HCM, tái bản năm 1992 đã trình bày tư tưởng Việt Nam đời Trần với các vấn đề như : Thiền học đời Trần, sự hình thành và phát triển của phái Trúc Lâm Yên Tử, Nho học đời Trần được minh chứng qua ba tác giả là Chu An, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi
- Trong Việt Nam Phật giáo sử lược của Mật Thể, Nxb Tôn giáo, tái
bản năm 2004, có những đánh giá về việc hưng thịnh, suy vong của Phật giáo đời Trần, Hồ Trong đó có đoạn viết về Phật giáo đời Trần suy như sau:
“Đến đây trong nước Nho học đã độc tôn rồi, các Tăng sĩ lại làm mất đạo gốc, nên Phật giáo hầu như vô nghĩa và trở nên một tôn giáo
mê tín Các nhà thuần nho đứng lên bài xích Bởi thế năm Đại Khánh thứ tám đời vua Trần Hiến Tông (1321), triều đình sắc mở một kỳ khảo
hạch Tăng sĩ trong nước, hỏi về nghĩa lý Kinh Kim Cương Đủ biết
những lối tu hành của Tăng sĩ bấy giờ cẩu thả và đáng ngờ lắm nên mới
có cuộc thi lạ lùng ấy”.[93, tr.172]
Những công trình này đều có những đóng góp lớn đối với chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài, đặc biệt là trong việc thống kê tác giả, tác phẩm
Về luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ có:
- Tìm hiểu nhóm Bích Động thi xã của Trần Thị Ánh Hồng (2007), luận
văn Thạc sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM đã trình bày hoàn cảnh xã hội và sự hình thành nhóm Bích Động; Thân thế sự nghiệp của những tác giả trong nhóm Bích Động như: Trần Quang Triều, Nguyễn Ức, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Trung Ngạn, Tự Lạc
Trang 128
tiên sinh; Tìm hiểu cảm hứng chính trong thơ và nghệ thuật tiêu biểu trong thơ của Bích Động như câu từ, thể loại, ngôn ngữ, phong cách nghệ thuật…
- Giá trị văn học trong tác phẩm Thiền phái Trúc Lâm của Thích Phước
Đạt (2008), luận án Tiến sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM đã trình bày lịch sử truyền thừa Thiền phái Trúc Lâm; Vai trò của Thiền phái Trúc Lâm đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; Giới thiệu tác phẩm của những tác gia nổi tiếng như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang; Tư tưởng Thiền học và những cảm hứng chính trong những tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm; Giá trị nghệ thuật trong những sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm (Thể loại, ngôn ngữ, và những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc như: điển cố, điển tích, ẩn dụ, thí dụ, biểu tượng, ước lệ, nghịch ngữ)
- Thiền và Lão - Trang trong thơ thời vãn Trần của Hoàng Gia Thành
(2010), luận văn Thạc sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM đã trình bày tiền đề của cảm hứng Thiền và Lão Trang trong thơ thời vãn Trần (Bối cảnh văn hóa, xã hội, ảnh hưởng của tinh thần dung hợp tư tưởng tam giáo)
- Thơ tứ tuyệt trong văn học đời Trần của Trần Kim Tiền (2011), luận
văn Thạc sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM đã trình bày những vấn đề về thời đại và diện mạo thơ tứ tuyệt đời Trần; Cảm hứng chính trong thơ tứ tuyệt đời Trần; Những điểm đặc sắc của nghệ thuật thơ tứ tuyệt ở khía cạnh: ngôn ngữ, điển cố, điển tích, giọng điệu, không gian, thời gian)
- Khảo sát thể loại phú thời Trần – Hồ của Nguyễn Hữu Thanh (2012),
luận văn Thạc sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM đã trình bày những vấn đề chủ yếu của thể phú và diện mạo thể phú đời Trần – Hồ ở những nội dung: Nguồn gốc, đặc điểm, chức năng
Trang 139
của phú, các tiểu loại phú đời Trần – Hồ); Giá trị nội dung và nghệ thuật của phú chữ Hán đời Trần – Hồ ở những khía cạnh: cảm hứng, quan điểm, triết lý nhân sinh của con người thời đại, thể loại, ngôn ngữ, điển cố điển tích…); Quá trình hình thành và phát triển phú chữ Nôm đời Trần – Hồ với những vấn
đề về: nguồn gốc, giá trị nội dung và nghệ thuật của phú chữ Nôm
- Thơ bát cú Đường luật trong văn học đời Trần của Vũ Thị Cẩm Tú
(2011), luận văn Thạc sĩ, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP.HCM đã trình bày những diện mạo và thơ bát cú Đường luật đời Trần; Tổng quan thơ bát cú Đường luật ở những nội dung: nguồn gốc, đặc trưng, ưu thế thơ, vai trò; Những cảm hứng chính nổi bật và giá trị nghệ thuật của thơ bát cú Đường luật đời Trần
- Tư tưởng và phong cách nghệ thuật trong thơ Trần Nguyên Đán và
Nguyễn Phi Khanh của Trần Quốc Thái (2015), luận văn Thạc sĩ, bảo vệ tại
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG TP.HCM đã trình bày những nội dung tư tưởng cùng với đó là những đặc sắc nghệ thuật (ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật, giọng điệu, cá tính sáng tạo) trong thơ Trần Nguyên Đán và Nguyễn Phi Khanh
Một số bài đăng trên tạp chí có liên quan đến nội dung đề tài như:
- Hoàng Lê với “Thơ Phạm Sư Mạnh” đăng trên tạp chí Văn học (số 2) năm 1973 đã phân tích những quan điểm, tư tưởng, lập trường… của Phạm
Sư Mạnh, cùng với đó là đôi nét về nghệ thuật trong thơ Phạm Sư Mạnh
Trong bài viết có đoạn: “Thơ Phạm Sư Mạnh không chỉ nói lên tình cảm riêng
của nhà thơ mà thông qua đó ta thấy cả nhưng suy tư của một lớp người, của một thời đại Cái còn lại và đến với chúng ta ngày nay là tấm lòng yêu nước nồng nhiệt, niềm tự hào và tin tưởng mãnh liệt ở dân tộc cũng như tinh thần hành động tích cực xây dựng của Phạm Sư Mạnh trong bất kỳ tình huống nào…” [122, tr.41]
Trang 14– Hồ tác giả viết: “Phần lớn những bài phú thời kỳ Trần – Hồ thể hiện kỹ
thuật điêu luyện của tác giả: lời đẹp mà tả được thực, điển dùng tự nhiên và sáng tạo, câu dùng kỳ lạ, có phong cách cổ mà nghị luận phong nhã, khiêm tốn, lôi cuốn người đọc bởi cả cảnh tình lý Phong cách phú thời kỳ này đã gây được ảnh hưởng tốt đẹp cho phú ở những thời kỳ sau” [122, tr.65]
Ngoài ra còn có những bài viết khác như: Các yếu tố Nho – Phật – Đạo
được tiếp thu và chuyển hóa như thế nào trong đời sống tư tưởng và trong văn học thời đại Lý – Trần đăng trên Tạp chí Văn học (số 6) năm 1978 của
Nguyễn Huệ Chi; Nhìn khái quát Phật giáo đời Trần đăng trên Tạp chí Văn
học (số 4) năm 1992 của Thích Phước Sơn; Trương Hán Siêu và tư tưởng nghệ thuật thời Lý – Trần đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học (số 2) năm
1996 của Nguyễn Phạm Hùng… cũng là những bài viết có liên quan đến một
số khía cạnh của đề tài
- Nguyễn Công Lý đã có nhiều bài viết đăng trên Tạp chí như: Góp
phần tìm hiểu văn học Phật giáo Viê ̣t Nam trước thời Lý – Trần đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4 – 1999; Mấy đặc trưng về thời đại Lý – Trần đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 – 2000; Mấy đặc điểm văn học Lý – Trần đăng
trên Tạp chí Hán Nôm, số 2 – 2001; Tinh thần dung hợp Phật – Lão- Nho
trong văn học Phật giáo thời Lý – Trần đăng trên Tạp chí Hán Nôm, số 2 –
2002; Mấy nét đặc sắc về nghệ thuật văn học Phật giáo đăng trên Tạp chí
Hán Nôm, số 2 – 2004; Bàn lại và bàn thêm về thời điểm Phật giáo – Thiền đạo truyền vào Việt Nam” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 -
Trang 1511
2012… Qua những bài viết trên chúng ta thấy tác giả đã nghiên cứu rất nhiều góc cạnh khác nhau nhằm làm nổi bật những đặc điểm cơ bản về thời đại Lý - Trần: Phật giáo trong mối quan hệ với Nho giáo, Đạo giáo; Vai trò của Phật giáo đối với nhân dân Đại Việt, đối với văn học và đối với sự phát triển của nhà nước phong kiến… Ngoài ra, tác giả còn phân tích những giá trị nghệ thuật đặc sắc của văn học Phật giáo, chỉ là những nét khu biệt để phân biệt văn học Phật giáo với những thể loại văn học khác
- Đoàn Thị Thu Vân trong những bài viết: Một vài nhận xét về ngôn
ngữ thơ Thiền Lý – Trần đăng trên Tạp chí Văn học số 2 - 1999; Trần Quang Triều và con đường thơ trong mưa đăng trên Tạp chí khoa học Trường đại học sư phạm TP.HCM, số 3 – 2002; Thiền đạo và nghệ thuật thơ ca Lý – Trần
đăng trên Tạp chí khoa học Trường đại học sư phạm TP.HCM, số2 – 2014 đã
phân tích những điểm đặc sắc trong ngôn ngữ Thiền thời Lý – Trần và những bút pháp tinh tế khác của thơ ca Lý – Trần Tác giả đã nhận định:
“Có thể thấy triết học và mỹ học Thiền Tông đã đem đến cho thơ
ca thời Lý – Trần một sắc thái nghệ thuật đặc biệt, trong đó, cái đẹp lung linh, ảo diệu như đang hiển hiện trước mắt nhưng khi vừa chạm tới thì đã trôi tuột khỏi tầm tay, nhờ vậy mà tạo nên sức cuốn hút bất tận, nói như Nghiêm Vũ đời Tống khi bàn về bản chất của thơ – “đã đạt đến chỗ kỳ diệu, thấu triệt lung linh, không thể nắm bắt như âm thanh trong không trung, sắc đẹp trên nét mặt, ánh trăng dưới đáy nước, hình ảnh ở trong gương, lời có lúc hết mà ý lại vô cùng” [112, tr.117]
- Phạm Văn Ánh trong: Văn bia thời Lý – Trần đăng trên Tạp chí nghiên
cứu Văn học (số 6) năm 2008; Một số đặc điểm chính của văn bia thời Trần
đăng năm 2009 trên trang www.hannom.org.vn cũng đã trình bày những vấn
đề: nội dung và hình thức văn bia, phân loại văn bia, lập bảng thống kê tác
Trang 1612
giả, tác phẩm Trong “Một số đặc điểm chính của văn bia thời Trần”, tác giả
có viết như sau:
“Giai đoạn nhà Trần, tuy Phật giáo vẫn là tôn giáo được tôn sùng, nhưng bên cạnh đó, nho giáo phát triển mạnh dần; đến cuối thời Trần, vị trí của học thuyết này có những bước tiến đáng kể, kết quả là đội ngũ nho sĩ ngày một đông đảo và vị trí của họ không ngừng được nâng cao
Do đó, văn bia thời Trần tuy phần lớn vẫn là bia chùa, nhưng đội ngũ tác giả lại chủ yếu thuộc giới quan chức, lên tới 16/21, xấp xỉ 76%, trong số
đó có sự góp mặt của không ít danh nho đương thời; tác giả thuộc giới tăng lữ chỉ chiếm một tỉ lệ khiêm tốn (3/21, ~ 14%) Bên cạnh các tác giả
là nhà Nho, nhà sư còn có tác giả thuộc giới Đạo sĩ, như trường hợp của
Hứa Tông Đạo - tác giả của Bạch Hạc Thông Thánh quán chung Như
vậy, có thể thấy, tác giả văn bia thời Trần có sự góp mặt đầy đủ của đại diện Tam giáo Đó là điều chưa có ở các văn bia thời Lý hiện còn”
Ngoài sách báo chúng tôi còn khảo sát trên một số trang Web như : Khoavanhoc - ngonngu.edu.vn, giacngo.vn, thuvienhoasen.com, phathoc.com, hannom.org.vn… và cũng nhận thấy có rất nhiều bài biết liên quan đến thơ văn viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ Đây đều là những tư liệu quý giá sẽ hỗ trợ chúng tôi trong việc nghiên cứu đề tài
Tóm lại, qua những tài liệu mà chúng tôi tìm hiểu được thì đề tài “thơ văn viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ” vẫn là một đề tài chưa
được nghiên cứu chuyên sâu Vì vậy, với đề tài Thơ văn của nhà Nho đời
Trần – Hồ viết về Phật giáo, chúng tôi hy vọng có thể đóng góp thêm một
phần nhỏ vào việc nghiên cứu văn học Phật giáo nói chung và văn học viết về Phật giáo của các nhà Nho nói riêng
Trang 1713
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp văn học sử: đây là phương pháp chính được sử dụng
trong việc nghiên cứu đề tài này bởi đây là đề tài văn học sử
Phương pháp liên ngành: chúng tôi sử dụng phương pháp này vì đề tài
có liên quan đến khía cạnh tôn giáo: Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo
Phương pháp thống kê: dùng để thống kê những tác giả, tác phẩm có
liên quan tới đề tài
Ngoài ra còn có các thao tác như : phân tích, diễn dịch, quy nạp… Những phương pháp và thao tác trên được vận dụng đan xen nhau trong quá trình nghiên cứu để tạo được tính hệ thống và chặt chẽ cho luận văn
6 Giới thiệu kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Diện mạo văn học đời Trần – Hồ và thơ văn viết về Phật
giáo của nhà Nho đời Trần – Hồ (từ trang 15 đến trang 53)
Chương này luận văn trình bày những đặc điểm cơ bản về thời đại xã hội đời Trần – Hồ; Tình hình văn học và sự phát triển của Nho giáo, Phật giáo đời Trần – Hồ; Dạng nhà Nho và cội nguồn cảm hứng viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ
Trang 1814
Chương 2: Thơ văn viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ
nhìn từ đề tài và nội dung tư tưởng (từ trang 54 đến trang 89)
Chương này luận văn trình bày các dạng đề tài mà nhà Nho thường sử dụng để sáng tác Đồng thời, luận văn sẽ đi sâu vào nghiên cứu nội dung tư tưởng trong sáng tác của các nhà Nho: Tái hiện cảnh già lam; Thể hiện tư tưởng Thiền – Phật; Tinh thần dung hợp Nho, Phật, Đạo; Ca ngợi sự mầu nhiệm và công đức lớn lao của đức Phật; Phê phán những bê tha nơi Thiền môn
Chương 3: Thơ văn viết về Phật giáo của các nhà Nho đời Trần – Hồ
nhìn từ hình thức nghệ thuật (từ trang 90 đến trang 117)
Chương này luận văn đi vào nghiên cứu những khía cạnh trong hình thức nghệ thuật mà các nhà Nho sử dụng trong quá trình sáng tác của mình: Thể loại tác phẩm; Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ (biện pháp tu từ, nghệ thuật
sử dụng điển cố, điển tích); Giọng điệu của tác giả
Và cuối cùng là kết luận và tài liệu tham khảo
Trang 1915
CHƯƠNG 1: DIỆN MẠO VĂN HỌC ĐỜI TRẦN – HỒ VÀ THƠ VĂN CỦA CÁC NHÀ NHO ĐỜI TRẦN – HỒ VIẾT VỀ PHẬT GIÁO 1.1 Xã hội Việt Nam đời Trần – Hồ
1.1.1 Khái niệm “đời Trần – Hồ”
Đời Trần – Hồ nằm trong giai đoạn Lý – Trần, thuộc về thời đại Lý – Trần, mà khái niệm “Thời đại Lý – Trần” được dùng để chỉ một thời đại lịch
sử tính từ năm khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán dành độc lập cho đến
khi nhà Hồ thất bại (938 – 1413) Đây là thời kỳ nhà nước hùng mạnh và phát
triển về mọi mặt qua các triều đại: nhà Ngô (939 – 967), nhà Đinh (967 – 980), nhà Tiền Lê (981 – 1009), nhà Lý (1009 – 1225), nhà Trần (1225 – 1400), nhà Hồ (1400 – 1407) và mấy năm đầu của cuộc kháng chiến chống giặc Minh vào thời Hậu Trần (1407 – 1413) Một giai đoạn lịch sử kéo dài ngót năm trăm năm ấy với những thành tựu tổng hợp của các triều đại, trong
đó hai triều đại Lý – Trần là xứng đáng tiêu biểu hơn cả về nhiều phương diện nên các nhà nghiên cứu đã gọi tên chung cho cả giai đoạn lịch sử này là thời đại Lý – Trần [51, tr.62]. Như vậy, đời Trần – Hồ nằm trong thời đại Lý – Trần, khái niệm này để chỉ một chặng đường lịch sử của dân tộc với ba triều đại: nhà Trần (1225 – 1400), nhà Hồ (1400 – 1407) và nhà Hậu Trần (1407 – 1413)
1.1.2 Thời đại xã hội đời Trần – Hồ
Sự chuyển giao chính quyền từ nhà Lý sang nhà Trần diễn ra một cách
êm thắm, mà trong đó Trần Thủ Độ là người có công lao to lớn nhất Đại Việt
sử ký toàn thư có chép: “Mùa thu, tháng 8, ngày mồng 10, Trần Thủ Độ giết
Lý Huệ Tông ở chùa Chân Giáo”[44, tr.9]
Sau khi giành được chính quyền, nhà Trần nhanh chóng củng cố và xây dựng được một chính quyền hùng mạnh về mọi mặt dựa trên sự kế thừa triều đại trước, nhưng lại mang những sắc thái riêng
Trang 2016
Về chính trị
Nhà Trần vẫn dựa trên cơ cấu triều đại trước Đứng đầu nhà nước là vua Chế độ Thái Thượng hoàng vẫn được duy trì từ đầu cho đến khi kết thúc vương triều Các cơ quan quan trọng đời Trần hầu hết do tôn thất nhà Trần nắm giữ, chỉ có một số ít quan lại triều Lý được trọng dụng Tầng lớp trí thức
và những nho sinh tài giỏi thay thế dần những chức vụ mà trước đây chỉ có
tôn thân mới được đảm nhận Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đinh Mão, năm
thứ 10 (1267) Mùa hạ, tháng 4, chọn dùng nho sinh hay chữ sung vào quán, các sảnh, viện… Theo chế độ cũ, không phải là nội nhân (hoạn quan) thì không được làm hành khiển, chưa bao giờ dùng nho sĩ văn học Bắt đầu từ đây, nho sĩ văn học mới được giữ quyền bính”[44, tr.52] Nhà Trần đã khôn
khéo xây dựng được tinh thần đoàn kết, hòa thuận giữa những bậc vương hầu tôn thất, khiến cho thế lực nhà Trần càng ngày càng vững chắc, hùng mạnh
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mậu Thìn, năm thứ 11 (1268)…Xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, khi bãi triều thì vào trong điện và lan đình Vua cùng ăn uống với họ Hôm nào trời tối không về được thì xếp gối dài, trải chăn rộng, kê giường liền cùng ngủ với nhau để tỏ hết lòng yêu quý nhau Còn như trong các lễ lớn như triều hạ, tiếp tân, yến tiệc thì phân biệt rõ ngôi thứ, cấp bậc cao thấp Vì thế, các vương hầu thời ấy không ai là không hòa thuận, kinh sợ và cũng không ai phạm lỗi khinh nhờn, kiêu căng”[44, tr.53]
Phương thức tuyển chọn quan lại cũng thể hiện một cách nhìn sáng suốt, toàn diện hơn của nhà Trần Quan lại được tuyển chọn bằng nhiều hình thức phong phú, chủ yếu là để tìm ra được những người thực tài phục vụ cho chính quyền nhà Trần: tuyển chọn những quý tộc đồng tộc, tuyển chọn qua khoa cử, tuyển chọn các nho sinh có tài, tuyển chọn bằng tiến cử, và những
quan cũ đời Lý Phan Huy Chú có ghi: “Thời Trần đã đặt khoa cử, nhưng sự
bổ dụng không bắt buộc phải có khoa cử, các chức ở sảnh, viện, quán, cục
Trang 2117
đều dùng những nho sĩ hay chữ để làm, hoặc dùng học sinh vào Trung thư sảnh (như đời Thánh Tông cho Đỗ Quốc Tá là chân nho sĩ được làm chức Trung thư lệnh), hoặc dùng người bình dân lên làm Mật Viện (Như đời Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài là người bình dân được cất vào tham dự chính sự), nhảy lên địa vị cao quý không câu nệ tư cách” [11, tr.18] Ngoài ra, nhà Trần có
một chế độ đãi ngộ và trọng dụng nhân tài một cách rất công bằng Nhờ vậy,
mà nhà Trần tạo được một hệ thống quan liêu có tài, có đức, ai nấy đều trên
dưới đồng lòng Về vấn đề này, Phan Huy Chú có nhận xét: “Đặt quan để làm
việc, tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải thanh liêm được”
“Đây đã định cấp bổng cho các quan, năm thứ 13 lại định bổng cho bách quan và quan túc vệ Bàn về bổng lộc thật rõ ràng Chính sự nhà Trần làm việc này thật rất phải, thực rất đáng khen”[11,tr.191]
Nhìn chung, quan chế đời Trần, được xây dựng một cách quy củ hơn đời Lý Ngoài việc đổi tên một số cơ quan chức năng cũ, nhà Trần còn đặt
thêm những cơ quan chức năng mới Phan Huy Chú có nhận xét: “Quan chế
đời Trần, đại yếu lấy ba chức Thái, ba chức Thiếu, Thái úy, Tư đồ, Tư mã, Tư không làm trọng chức của các đại thần văn võ Chức Tể tướng thì thêm danh hiệu Tả hữu tướng quốc Bình chương sự; Thứ tướng thêm danh hiệu Tham tri chính sự, Nhập nội hành khiển, hoặc thêm Tả phủ hữu bật, Tham dự triều chính Về văn giai thì có thêm chức Lục bộ thượng thư, Tả hữu bộc xạ, Tả hữu ty lang trung, Tả hữu gián nghị đại phu, Tri mật viện sự, Khu mật tham chính, Thiêm tri mật viện sự, Lục bộ thị lang, Trung thư thị lang, Trung thư lệnh, Lục bộ lang trung, Viên ngoại lang tả hữu chính ngôn tham nghị…” [11,
tr.19] Bằng việc sử dụng tôn thất cho nắm giữ những chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị từ trung ương tới địa phương, nhà Trần đã thể hiện được tinh thần đồng tộc trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 2218
Đến cuối thế kỉ XIV, xã hội Đại Việt diễn ra nhiều biến cố phức tạp: nhiều nhân vật kiệt xuất trong triều đình qua đời, tầng lớp tôn thất dần mất đi
vị trí chính trị, tầng lớp quý tộc sa đọa, khởi nghĩa nông nô diễn ra khắp nơi,
Hồ Quý Ly dựa vào thế lực của mình lũng đoạn chính quyền Chính những tiền đề này đã dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly và sự lên ngôi của nhà
Về tổ chức quân đội
Tổ chức quân đội của nhà Trần vẫn mang nhiều nét như đời Lý Trong
đó, cấm quân rất được nhà Trần chú trọng Ngoài ra, do đời Trần rất chú trọng đến tôn thất nên trong tổ chức quân đội có lực lượng quân của các vương hầu Đây là lực lượng quân đội có trách nhiệm tham gia cùng với quân đội của vua mỗi khi đất nước có chính biến Việc tuyển chọn tướng coi quân đời Trần, cũng không câu nệ tư cách, chủ yếu là chọn những người có tài, thạo binh
pháp Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Ất Mão, năm thứ 3 (1375)… Xuống
chiếu chọn các quan viên biết luyện tập võ nghệ, thông hiểu thao lược, thì không cứ là người tôn thất, đều cho làm tướng coi quân” [44, tr.245] Phan
Huy Chú nhận xét : “Triều Trần dùng người thật là công bằng Tuy đã đặt
khoa mục mà trong việc kén dùng chỉ cốt tài là được cho nên những nho sĩ có chí hướng thường được trổ tài của mình, không đến nỗi bị bó buộc hạn chế vì
tư cách…” [11, tr.185] Chính vì vậy, đời Trần là triều đại của bậc anh tài kiệt
Trang 2319
xuất được dịp thể hiện tài năng và lòng trung quân, ái quốc của mình Điển hình như: Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Đoàn Nhữ Hài… Sử thần Ngô Sĩ
Liên khi nói về những bậc danh tài có nhận xét: “Bậc đại thần ở vào hoàn
cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tất phải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp Nếu không thế thì nhất định sẽ mang tai họa Quách Tử Nghi nhà Đường, Trần Quốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy” [44, tr.80]
Đến nhà Hồ, Hồ Quý Ly mau chóng củng cố và xây dựng quân đội vững mạnh ngay sau khi giành được chính quyền Trước hết là để chuẩn bị chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Minh, sau đến là cuộc chiếm đánh Chiêm Thành để mở rộng bờ cõi Nhà Hồ cho củng cố lại thành trì, sửa chữa đường sá, đặt Sở Tuần Kiểm ở sông Đại Lại để bảo đảm an ninh
Về luật pháp
Nhà Trần rất chú trọng tới luật pháp trong việc củng cố và xây dựng chính quyền Nhìn chung, so với nhà Lý, hình phạt nhà Trần có tính chất công bằng, răn đe hơn Pháp luật quy định rõ nếu tôn thất phạm tội cũng bị xử phạt
như thường dân Phan Huy Chú có chép: “Sách Cố sự sao nói: “Hình phạt
nhà Trần rất tàn khốc, kẻ ăn trộm và kẻ trốn tránh thì bị chặt ngón chân giao cho người [sự chủ] được thỏa ý [xử trị], hoặc cho voi giày chết…” [12,
tr.265] Điều này cho thấy sự chặt chẽ trong việc xây dựng một chính quyền toàn diện của nhà Trần
Về ngoại giao
Nhà Trần đã xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp với rất nhiều nước láng giềng: Trung Quốc, Champa, Trảo Oa – Trà Oa, Ai Lao, La Hồi Đặc biệt cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa với vua Champa vừa giúp cho mối quan hệ hai nước thêm bền chặt vừa là cơ hội để nhà Trần mở rộng biên
cương về phía nam Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa hạ, tháng 6, [năm
Trang 24Đối với nhà Minh cũng xảy ra nhiều căng thẳng, tranh chấp, nhất là vấn
đề biên giới Chúng liên tục tìm hết cớ này đến cớ kia để gây chiến tranh với nhân dân Đại Việt
Đến nhà Hồ, mối quan hệ với nhà Minh cũng luôn trong tình trạng căng thẳng Năm 1406, mượn cớ phù Trần diệt Hồ, nhà Minh cho quân đánh chiếm nước ta Cuộc chiến diễn ra ác liệt kéo dài đến tháng 11- 1407, Hồ Quý Ly bị giặc Minh bắt Nhà Hồ chấm dứt vai trò lịch sử của mình, Đại Việt rơi vào tay nhà Minh
Về kinh tế
Bằng việc trọng dụng những người thực tài bổ nhiệm vào những cơ quan chức năng từ trung ương tới địa phương đã tạo ra cho Đại Việt một hệ thống quản lý kinh tế khá vững mạnh
Chế độ ruộng đất nhà Trần được quy định rõ ràng Chế độ tư hữu ruộng đất đã phát triển và phổ biến khá rộng Ruộng đất bao gồm ruộng công (có ruộng sơn lăng, ruộng tịch điền, ruộng quốc khố, đồn điền, ruộng đất công
Trang 2521
làng xã) và ruộng tư (có ruộng tư của vương hầu, quý tộc, ruộng tư của địa chủ nhà giàu và các quan chức, ruộng của nông dân, ruộng của nhà chùa) Mỗi loại đất đều được nhà nước quy định khá chặt chẽ và có sự giám sát,
quản lý một cách cẩn thận Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nhân đinh có
ruộng đất thì nộp thóc, người không có ruộng rất thì miễn cả Có 1,2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3,4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc” [44, tr.24], hay
khi chép về ruộng đất tư, Đại Việt sử ký toàn thư cũng có viết: “Mùa đông,
tháng 10 [năm 1266], xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy” [44, tr.51], hay quy định mua bán ruộng đất đời Trần, Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Mùa xuân, tháng giêng [năm 1237], xuống chiếu rằng, khi làm giấy tờ về chúc thư, văn khế ruộng đất và vay mượn tiền bạc thì người làm chứng in tay ở 3 dòng trước, người bán in tay ở 4 dòng sau” [44, tr.19]
Nông nghiệp, chăn nuôi rất phát triển Lúa là cây lương thực được trồng với diện tích lớn Ngoài ra còn có những cây: dâu, cau, tre và cây ăn trái như muỗm, xoài, chuối, vải rồng, quýt vàng, mít, nhãn
Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản cũng phát triển trong giai đoạn này Sử sách nhắc đến nhiều nhất là trâu, bò, ngựa, gà, tôm, cua, tai ốc Đây đều là những loại động vật gần gũi và phục vụ cho đời sống của nhân dân
Thủy lợi rất được nhà Trần chú trọng bởi đây là yếu tố quan trọng
quyết định tới nông nghiệp Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tân Mão, năm thứ
7 [1231], mùa xuân, tháng giêng, sai Nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hoa đến địa giới phía nam Diễn Châu.” [44, tr.15] “Mậu Thân, năm thứ 17 [1248], tháng 3, lệnh cho các lộ đắp đê phòng lụt, gọi là đê Quai Vạc,
Trang 2622
từ đầu nguồn đến bờ biển, để ngăn lũ tràn ngập [44, tr.28] “Ất Mão, năm thứ
5 [1255], mùa xuân, tháng 2, sai Lưu Miễn bồi đắp đê sông các xứ ở Thanh Hóa Mùa hạ, tháng 4, chọn tản quan làm Hà đê chánh phó sứ các lộ Khi việc nhàn rỗi thì đốc thúc quân lính đắp đê, đập, đào mương ngòi để phòng lụt, hạn” [44, tr.35]
Các ngành thủ công nghiệp phát triển với nhiều làng nghề và ngành nghề phong phú: sản xuất đồ gốm, rèn, dệt, chạm khắc đá, khai khoáng luyện kim, đúc đồng, chạm khắc gỗ, làm nón, sơn, đúc đồng
Thương nghiệp cũng có những đổi mới rõ nét Nhà Trần khuyến khích nội thương, đồng thời mở rộng giao thương với các nước láng giềng như Trung Quốc, Champa, Xiêm, Miên, Lào, Lộ Hạc, Ai Lao Cảng Vân Đồn trở thành cảng thông thương quan trọng được nhà Trần kiểm soát cực kì nghiêm
ngặt Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 11 (năm 1349), đặt quan trấn,
quan lộ, và Sát hải sử ở trấn Vân Đồn, lại đặt quân Bình hải để trấn giữ Trước đây, thời nhà Lý, thuyền buôn tới thì vào từ các cửa biển Tha, Viên ở Châu Diễn Đến nay, đường biển đổi dời, cửa biển nông cạn, thuyền buôn phần nhiều tụ tập ở Vân Đồn, cho nên có lệnh này” [44, tr.203]
Đến nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã tiến hành một số cải cách táo bạo về kinh tế: lần đầu tiên ban hành điều lệnh về việc thông hành tiền giấy, thu hồi toàn
bộ tiền đồng Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Tý [1396], tháng 4, bắt đầu
phát hành [tiền giấy] Thông bảo hội sao In xong, ra lệnh cho người đến đổi,
cứ 1 quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy” [44, tr.293] Hồ Quý Ly ban
lệnh hạn chế nô tì, các quan lại chỉ được phép nuôi một số nô tì và nông nô,
kê khai lại sổ hộ khẩu Ngoài ra, còn thay đổi một số quy định về tiền, mũ
quan, ruộng đất, thuế đất Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Tý [1396],
tháng 6, xuống chiếu hạn chế doanh điền Đại vương và trưởng công chúa thì
số lượng ruộng không hạn chế; đến thứ dân thì số ruộng là 10 mẫu Người
Trang 2723
nào có nhiều thì nếu có tội, thì cho tùy ý được lấy ruộng để chuộc tội, bị biếm chức hay mất chức cũng được làm như vậy Số ruộng thừa phải hiến cho nhà nước” [44, tr.299]
Thương nghiệp đời Hồ không được khuyến khích như đời Trần Nguyên nhân của việc hạn chế này là nhằm ngăn chặn nguy cơ nhà Minh mượn đường buôn bán này xâm lược nước ta Thuyền buôn đời Hồ đều bị đánh thuế nhằm tăng thêm tài chính cho chính quyền Nhà Hồ còn ban thêm điều lệnh về cân thước thưng đấu, trao đổi hàng hóa bằng tiền giấy Nhìn chung những quy định của nhà Hồ đã làm giảm hoạt động kinh doanh, buôn bán, thương nghiệp bị ngưng trệ, kinh tế chịu nhiều biến động
Về văn hóa
Đời Trần, tư tưởng Phật giáo trở thành tư tưởng chính thống của Đại Việt Với tinh thần cởi mở, khoan dung của mình Phật giáo luôn tạo cơ hội cho Nho giáo và Đạo giáo cùng phát triển Hai đạo này tuy không phải là hệ
tư tưởng được ưa chuộng những thực tế cho thấy Nho giáo và Đạo giáo đã có những đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Đến nhà Hồ, Hồ Quý Ly chủ trương ủng hộ Nho giáo, sử dụng Nho giáo làm phương pháp luận trong việc xây dựng và củng cố chính quyền Đến lúc này Phật giáo xuất hiện nhiều tiêu cực, những bê tha nơi Thiền môn được phơi bày Để góp phần chấn chỉnh những bê tha nơi Thiền môn, Hồ Quý Ly
đã ra nhiều điều lệnh mới: bắt các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục; tổ chức thi giáo lý nhà Phật, ai thông hiểu mới được ở lại chùa Nhà Hồ ngăn
cấm và xử nặng những người làm nghề bói toán Đại Việt sử ký toàn thư chép:
“Bính Tý [1396], mùa xuân, tháng giêng, xuống chiếu sa thải các tăng đạo
chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục Lại thi những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ, tri cung, tri quán, tri tự, còn thì cho làm kẻ hầu của người tu hành” [44, tr.292]
Trang 2824
Nói chung, những năm cuối thể kỷ XIV, Phật giáo bị lấn át, Nho giáo chiếm vị trí thượng phong Nho, Phật có lúc xảy ra sự xung đột nhưng ở những khía cạnh nhất định, giữa chúng vẫn có phân công hợp tác để phục vụ cho công cuộc xây dựng chính quyền và duy trì trật tự xã hội
(trường của Chu An, Trần Ích Tắc) và trường học ở các địa phương Đại Việt
sử ký toàn thư có chép: “Quý Sửu [năm 1253], tháng 9, xuống chiếu vời Nho
sĩ trong nước đến Quốc tử viện giảng tứ thư ngũ kinh”[44, tr.33] Nhìn chung,
nhà Trần đã xây dựng được hệ thống giáo dục phổ rộng từ trung ương tới địa
phương Đại Việt sử ký toàn thư có chép:
“Đinh Sửu [1397], tháng 5, xuống chiếu rằng: “Đời xưa, nước
có nhà học, đảng có tư học, toại có nhà tường là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý trẫm rất chuộng như vậy Nay quy chế ở kinh đô đã
đủ, mà ở châu, huyện thì có thiếu, làm thế nào rộng đường giáo hóa cho dân? Nên lệnh cho các phủ lộ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông, đều đặt một học quan, ban cho quan điền theo thứ bậc khác nhau: phủ châu lớn thì 15 mẫu, phủ châu vừa 12 mẫu, phủ châu nhỏ 10 mẫu, để chi dùng cho việc học trong phủ châu mình (một phần để cúng ngày mồng một, một phần cho nhà học, một phần cho đèn sách) Lộ quan và quan đốc học hãy dạy bảo học trò cho thành tài nghệ, cứ đến cuối năm thì chọn người ưu tú và tiến cử triều đình, trẫm sẽ thân hành thi chọn và cất nhắc” [44, tr.299]
Trang 2925
Chính nhờ những điều đó, đời Trần đạt được nhiều thành tựu về giáo dục mà hơn cả là sự xuất hiện của rất nhiều anh tài kiệt xuất Ngô
Thì Sĩ nói : “Phép khoa cử đời Trần đến đây mới đủ văn tự bốn trường,
đến nay còn theo không thay đổi được Chọn nhân tài bằng văn học, không gì hơn phép này…” [12, tr.22]
Theo sử chép, đời Trần đã tổ chức được 12 kỳ thi Thái học sinh, 1 kỳ thi đình, 4 kỳ thi lại viên, 2 kỳ thi tam giáo năm 1227 và năm 1247 Trong đó,
kỳ thi Thái học sinh là phương thức chủ yếu để tuyển chọn người tài So với đời Lý, đời Trần có có nhiều sự phát triển hơn về mặt giáo dục thi cử Sử thần
Ngô Thì Sĩ nói: “Phép thi cử nước ta có chia ra giáp và đệ là bắt đầu từ đây
Nhưng niên hạn chưa định, phép thi chưa rõ, vì bắt đầu xây dựng thì phải như thế Về sau mới định hạn 7 năm một khoa, đặt ra tam khôi, điều lệ mỗi ngày một nghiêm ngặt, ân điển mỗi ngày một long trọng, công danh do đó mà
ra, nhân tài đầy dẫy, so với nhà Lý thịnh hơn nhiều cũng do đó” [12, tr.16]
Đến nhà Hồ, Hồ Quý Ly cho sửa đổi lại chế độ thi cử, đặt kì thi Hương
ở địa phương và thi ở kinh thành Chủ trương bỏ trường thi ám tả cổ văn thay bằng thi kinh nghĩa Phép thi bắt chước theo lối nhà Nguyên Đặt thêm kỳ thi thứ 5 là thi viết chữ và toán Hồ Quý Ly cho soạn sách “Minh Đạo” phê phán Khổng Tử, chê trách nhà Tống Nho, đề cao Chu Công Đặc Biệt ông còn ưa
chuộng và đề cao chữ Nôm Tuy nhiên, những quy định mới về thi cử này
mới thực hiện đến kỳ thi ở Bộ Lễ thì đất nước có loạn lạc nên không tiếp tục
được
Như vậy, triều đại nhà Trần là triều đại của những vua hiền, tôi giỏi, là triều đại nhân dân sống thanh bình, an lạc Mọi lĩnh vực xã hội nhờ sự quan tâm của giai cấp thống trị đều có những bước phát triển vượt trội, và để lại nhiều thành tựu quý giá Tinh thần tự lực tự cường ngày một phát huy, nhờ đó
mà quân và dân ta luôn dành thắng lợi vẻ vang trong công cuộc chống giặc
Trang 3026
ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc Cuộc khủng hoảng cuối thể kỷ XIV đã cho thấy được sự lỗi thời của cấu trúc nhà nước phong kiến đương thời và sự suy thoái trầm trọng của chính quyền nhà Trần Cuộc cải cách của
Hồ Quý Ly tương đối toàn diện nhưng thực tế cho thấy công cuộc cải cách của ông đã quá mạnh và đột ngột so với thời đó Nó đã vô tình gây ra nhiều chia rẽ trong nội bộ dân tộc, ảnh hưởng lớn đến tinh thần đoàn kết dân tộc, đây là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại mau chóng của nhà Hồ Dù có nhiều khuyết điểm nhưng Hồ Quý Ly vẫn là nhà cải cách lớn đầu tiên trong lịch sử nước ta
1.2 Nho giáo, Phật giáo và sự phân công hợp tác Nho – Phật đời Trần-
Hồ
1.2.1 Vài nét về Nho giáo đời Trần – Hồ
Nho giáo du nhập vào nước ta từ khá sớm, từ thời kỳ giặc phương Bắc
đô hộ nước ta Khi đất nước ta giành lấy chủ quyền thì Nho giáo đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong việc củng cố và duy trì bộ máy cai trị của giai cấp thống trị Thời Ngô, Đinh, tiền Lê, Nho giáo tồn tại mờ nhạt trong lòng đời sống vật chất, tinh thần của người Đại Việt Nhưng đến đời Lý, tình hình trong nước ổn định, đất nước trong giai đoạn xây dựng và phát triển kinh
tế, Nho giáo đã phần nào đáp ứng được nhu cầu xây dựng, quản lý, tổ chức chính quyền Trong khi đó, Phật giáo tuy là quốc giáo nhưng lại không đáp ứng được nhu cầu đó, bởi vậy các nhà chính trị không thể không trông cậy vào lý thuyết Nho giáo Các nhà sư khi tham gia vào chính trị cũng phải dựa vào đạo trị nước của nhà Nho chứ không phải của nhà Phật
Đến đời Trần – Hồ, giai cấp thống trị vẫn tiếp tục sử dụng Nho giáo làm căn cứ luận, đánh dấu bước phát triển mới của Nho giáo Từ đời Trần Thái Tông đến Trần Hiến Tông, Phật giáo còn rất thịnh, Trần Nhân Tông còn
là người sáng lập ra Thiền Trúc Lâm Tuy chuộng Phật giáo nhưng các vua lại
Trang 3127
sử dụng Nho giáo trong công việc triều chính, tổ chức chính trị, giáo dục và thi cử Lúc này, các vua Trần càng lúc càng thấy được những học thuyết Nho gia có giá trị và vai trò như thế nào đối với giai cấp thống trị
Nguyễn Đăng Thục trong Lịch sử tư tưởng Việt Nam có viết như sau:
“Sang đời Trần, Nho học càng được mở mang, vua Trần Thánh Tông chọn Nho sinh bổ vào quan các, bỏ lệ cũ chỉ dùng người trong nội tộc mà thôi Từ đấy, Nho học bắt đầu chiếm quyền ưu thắng trong chính giới, tự coi là chính học trong học giới, tăng giới không còn giữ được việc triều chính nữa Mặc dầu vua Trần Thái Tông là một nhà Thiền học lỗi lạc, với các vua về sau vẫn sùng mộ Phật giáo hết sức nhiệt thành, bỏ ngôi báu để xuất gia là thường lệ Và vua Trần Thái Tông cũng lại ban chiếu mở khoa thi thông cả tam giáo nữa, chứ không riêng từng giáo một Nhưng cái tinh thần cởi mở của tam giáo ấy không sao chống lại ảnh hưởng của Tống Nho có tinh thần khống chế, đóng cửa độc tôn, tự cho mình là chính học, ngoài ra là tà đạo”[101, tr.15]
Từ thời Trần Minh Tông, Trần Dụ Tông, hàng loạt những nho sĩ được hưởng ân huệ và sự trọng dụng từ phía triều đình như Đoàn Nhữ Hài, Trần Thì Kiến, Mạc Đĩnh Chi, Phạm Ngộ, Phạm Mại, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Chu An… đã cho thấy Nho giáo bắt đầu chiếm địa vị cao trong xã hội
Đến đời Hồ, đúc kết kinh nghiệm từ các triều đại trước, nhận thấy Nho giáo mới đóng vai trò quan trọng và hữu dụng trong việc xây dựng và bảo vệ chính quyền, Hồ Quý Ly lên tiếng ủng hộ Nho giáo Nho giáo được đẩy lên vị trí độc tôn Sự ủng hộ từ giai cấp thống trị chính là tiền đề quan trọng để Nho giáo có cơ hội vươn lên Lúc này, bất chấp thế lực của nhà chùa còn mạnh, Nho giáo vẫn tiếp tục xây dựng và củng cố vai trò, vị trí của mình trong giai
Trang 3228
cấp thống trị Như vậy, về mặt chính trị đời Hồ, Nho giáo đã nắm vị trí chủ chốt, lãnh đạo mọi đường hướng của giai cấp thống trị
Về mặt giáo dục – thi cử: Nhờ sự ủng hộ của giai cấp thống trị, thi cử
được mở mang, tầng lớp Nho giáo ngày càng đông đảo trở thành một lực lượng đáng kể nhất trong nửa cuối thể kỉ XIV Không chỉ trong giáo dục - khoa cử mà Nho giáo còn ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng chính trị Theo học thuyết Nho gia, vai trò của nhà vua rất được chú trọng, tức làm vua phải chính tâm tu thân, phải sửa đức Tuy nhiên phải dựa trên những nguyên lý của Nho
giáo và những điển hình mẫu mực đã được khẳng định trong Kinh Thư và trong Kinh Xuân Thu mà điển hình là hình tượng vua Nghiêu Thuấn
Về mặt văn hóa, tư tưởng: nếu như đời Trần, Phật giáo là tôn giáo độc
tôn, chi phối mọi mặt xã hội thì đến đời Hồ, Phật giáo đứng trước một thách thức mới Việc thay đổi cơ cấu nhà nước theo học thuyết Nho gia của Hồ Qúy
Ly, khiến thế đứng của Phật giáo bắt đầu lung lay Vua Hồ thực hiện chính sách mới nhằm chấn chỉnh lại Phật giáo, bài trừ tệ lậu, dị đoan Nhiều nhà sư
dưới 50 tuổi phải hoàn tục, cho thi Kinh Kim Cang để chọn lựa những vị sư
có chân tu thực sự Xét cho cùng, việc chấn chỉnh này của Hồ Quý Ly khiến Phật giáo gặp một số khó khăn nhưng chúng ta cũng thấy rằng việc làm này lại gián tiếp trở thành tiền đề để Phật giáo có cơ hội chỉnh sửa và phát triển hơn nữa vào những giai đoạn sau này
Tóm lại, Nho giáo đời Trần – Hồ đã đóng góp một vai trò tích cực và chủ đạo vào các lĩnh vực của xã hội Tuy nhiên, Nho học ở nước ta đã có sự dân tộc hóa để phù hợp với thực tiễn của nhân dân Đại Việt Về mặt tinh thần thì cơ bản nó chưa chi phối được lễ nghi, phong tục và nếp sống của người Việt Nam Nói chung, thời phong kiến các giáo phái có lúc suy lúc thịnh những chúng vẫn luôn phân công, hợp tác tích cực nhằm xây dựng một cơ cấu
xã hội ổn định, phát triển
Trang 3329
1.2.2 Vài nét về Phật giáo Việt Nam đời Trần – Hồ
Xét về phương diện nguồn gốc, Phật giáo du nhập Việt Nam qua hai con đường: một là đường biển (từ Ấn Độ sang), hai là đường bộ (từ Trung Quốc xuống) Tuy nhiên, ban đầu, các nhà truyền giáo từ phương Nam, theo hoàn cảnh khách quan, đã truyền bá đạo Phật vào nước ta với những tín ngưỡng rất đơn sơ như tụng kinh, niệm Phật, trừ tà, chữa bệnh,… và điều này
đã thể nhập rất tốt và trực tiếp đối với nền văn hóa dân gian cơ tầng Đông Nam Á
Ở nước ta, có rất nhiều ý kiến về thời gian Phật giáo được truyền vào nhưng chưa có một nhận định nào chính xác về nó:
Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận cũng nhận định tương
đồng với Mật Thể:
“Tác phẩm Phật giáo đầu tiên bằng Hán tự, trong khi đó, lại được
viết tại Giao Chỉ, đó là cuốn Lý hoặc Luận của Mâu Tử, một người
Trung Hoa trước theo Lão giáo, sau nhập tịch Giao Chỉ, theo học đạo Phật ở đây và trở nên một phật tử rất thuần thành Nhiều người trong đó
có ông Trần Văn Giáp, tác giả cuốn Le Bouddhisme En Annam Des
Origines Au XIIIe Siecle, căn cứ vào sự kiện đó nói rằng vì tài liệu sớm
nhất ta hiện có về đạo Phật Việt Nam là sự kiện Mâu Tử học Phật tại Giao Chỉ vào cuối thế kỷ thứ hai, ta chỉ có thể nói là đạo Phật được truyền vào nước ta trễ lắm là trong thế kỷ ấy”[41, tr.27] Cũng theo luận điểm này, Nguyễn Lang cũng đã khẳng định rằng Phật giáo truyền vào nước ta trước khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa
Như vậy, thời điểm Phật giáo vào nước ta đến nay vẫn chưa có sự thống nhất từ giới nghiên cứu Thế nhưng chúng ta có thể kết luận rằng Phật giáo vào nước ta từ rất sớm Tuy nhiên, lúc này Phật giáo vẫn còn trong thời
kỳ phôi thai nên chỉ là tôn giáo tín ngưỡng, chứ chưa phải là hệ tư tưởng
Trang 3430
chính thống như những giai đoạn sau này Suốt mười thế kỷ du nhập, Phật giáo ngày càng phát triển và đạt được những thành tựu rực rỡ
Thế kỉ X – XIV là thời kỳ Đại Việt hưng thịnh về mọi mặt Phật giáo
cũng có sự vận động mới mẻ, được đánh dấu bằng sự hình thành phái Trúc
Lâm Yên Tử đời Trần, do vua Trần Nhân Tông có công đi đầu trong việc khai
sáng Bằng việc kết hợp ba Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã xây dựng được một giáo phái đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng được những nhu cầu tinh thần của nhân dân Đại Việt Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nhìn chung chịu ảnh hưởng của Đạo giáo Về phương pháp tu tập của Thiền phái này vẫn chủ trương ngồi Thiền, niệm Phật, thụ giới để vươn tới cảnh giới cao nhất của việc tu hành Đồng thời, với tinh thần khai phóng, cởi mở, Phật giáo luôn là một giáo phái gần
gũi với đời, với người Nguyễn Công Lý trong Văn học Phật giáo thời Lý –
Trần : diện mạo và đặc điểm đã nhận định rằng:
“Nhìn chung do yêu cầu thời đại, Thiền Phái Trúc Lâm đã Việt hóa, dân tộc hóa tư tưởng Thiền tông và sáng tạo một số tư tưởng cụ thể, thích hợp với hoàn cảnh đất nước bấy giờ, phần nào đáp ứng được yêu cầu xã hội Xét đến cùng, quan điểm Trúc Lâm vẫn là duy tâm, nhưng tác dụng của nó không làm người tu hành có những ý nghĩ bi quan, tiêu cực, chán đời mà ngược lại, đã dẫn đến một sự rèn luyện cho bản thân, thực tế mang tính chất luân lý đạo đức xã hội hơn là tôn giáo,
và phần nào duy trì được tình trạng xã hội Đại Việt thời đó; đồng thời đào tạo nên những Thiền sư tâm hướng về đạo mà lòng vẫn gắn bó với đời, hòa vào cuộc sống trần thế Họ vừa là những con người tôn giáo, vừa là những con người xã hội” [51, tr.102] Nguyễn Lang cũng nhận định: “Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập; uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt Nó là xương sống của
Trang 3531
một nền văn hóa Việt Nam độc lập Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình Đứng về phương diện tư tưởng, tổ chức cũng như hành đạo, giáo hội Trúc Lâm có những nét độc đáo khiến cho nó chỉ có thể là một giáo hội Việt Nam, phục vụ cho người
Việt, duy trì và bồi đắp cá tính người Việt” [41, tr.376]
Về mặt chính trị, đời Trần nhiều vị cao tăng trở thành nhân vật quan
trọng trong việc bàn chính sự Nhà sư được đứng ngang với thái tử Khi đất nước có xâm lăng, bằng những giáo lý tích cực của mình, Phật giáo đã có những đóng góp vào đường lối, kế sách chống giặc Bàn về vấn đề này,
Nguyễn Phan Quang và Võ Xuân Đàn trong Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc
đến năm 1884 đã viết: “Nhiều cao tăng được tham gia vào triều đình Các vua thường hỏi ý kiến các sư khi bàn chính sự Khi triệu kiến, sư được đứng ngang hàng với thái tử, các vị này đều có ý thức rõ rệt trong việc bảo vệ nhà nước quân chủ tập quyền” [68, tr.153]
Hay trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang nhìn nhận: “Tăng
sĩ đời Trần không đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo
đã là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng Tinh thần Phật giáo đã khiến các nhà chính trị đời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân và dân chủ” [41, tr.394]
Về mặt văn hóa – tư tưởng, bằng tinh thần khoan dung, tự do, Phật giáo
đã góp phần tạo nên một nền văn hóa hài hòa, không chống đối, không bài xích Nho giáo và Đạo giáo Ngược lại, Phật giáo còn luôn tạo điều kiện cho hai đạo này phát triển, cùng Phật giáo đóng góp vào công cuộc xây dựng đất
nước Đại Việt sử ký toàn thư có chép năm 1253: “Tháng 6, lập Quốc học
viện Đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Á Thánh (Mạnh Tử), vẽ tranh 72 người hiền để thờ Tháng 9, xuống chiếu vời nho sĩ trong nước đến Quốc tử
Trang 3632
viện giảng tứ thư ngũ kinh.” [44, tr.33] Hay năm 1267: “Mùa hạ, tháng 4, chọn dùng nho sinh hay chữ sung vào quán, các, sảnh, viện Bấy giờ Đặng Kế làm Hàn lâm viện học sĩ, Đỗ Quốc Tá làm Trung thư sảnh trung thư lệnh, đều
là nho sĩ văn học” [44, tr.52]
Về mặt văn học, văn học giai đoạn này phản chiếu tinh thần thanh thoát
của nhà Phật Đặc biệt, sự phát triển của văn học Phật giáo, cho thấy được sức ảnh hưởng của Phật giáo vào cảm quan sáng tác của thi nhân Mặt khác, ảnh hưởng từ tinh thần cởi mở, tự do của đạo Phật khiến cho các sáng tác ngày càng thể hiện được sự tự tin của những người cầm bút Về phía nhà Nho, vốn
là những “bậc tam giáo cửu lưu” nên ngoài việc chăm chỉ với kinh thi Nho gia, nhà Nho cũng có sự am hiểu nhất định đối với Phật giáo Chính vì vậy, về mặt tư tưởng và quan điểm sáng tác, nhà Nho chịu ảnh hưởng rất lớn của cả Nho, Phật và Đạo
Như vậy, đời Trần – Hồ là giai đoạn Phật giáo cực thịnh Phật giáo ăn sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân, vua chúa, quý tộc… Chùa chiền được xây dựng khắp nơi, số lượng phật tử ngày càng đông đảo Trong triều đình, vua chúa, vương tôn, quý tộc thường xuyên mời nhà sư vào thuyết pháp,
say mê tu tập tạo nên một thời kì an lạc, hoan ca Bằng sự nỗ lực, không
ngừng tiếp thu và vận động, Phật giáo đã thể hiện được tinh thần độc lập, tự cường dân tộc và thống nhất giữa các tông phái, bằng sự xuất hiện và phát triển của Thiền phái Trúc lâm Yên Tử Đồng thời, Phật giáo cũng thể hiện được tinh thần viên dung, cởi mở của mình khi tạo điều kiện cho những đạo khác cùng phát triển, tạo được sự cân đối, hài hòa trong hệ thống tư tưởng tam giáo của dân tộc
1.2.3 Sự phân công hợp tác Nho – Phật đời Trần – Hồ
Phật giáo vốn không phải là hệ tư tưởng giáo điều khuôn khổ mà là hệ
tư tưởng cởi mở, sẵn sàng viên dung và hợp tác với những hệ tư tưởng khác
Trang 3733
Phật giáo cũng phải thừa nhận Nho giáo có một đóng góp rất to lớn trong việc xây dựng và duy trì trật tự xã hội Chính vì vậy, sự hợp tác giữa Nho – Phật là
hết sức cần thiết, và đây cũng là một khía cạnh của tinh thần “Tam giáo đồng
nguyên” ở nước ta Vì đâu mà có sự kết hợp này? Thứ nhất, Phật giáo vốn là
tôn giáo chú trọng sự hòa đồng, thể nhập Thứ hai, tư duy của cư dân lúa nước nước ta vốn đã mang sẵn đặc tính linh hoạt, hài hòa nên rất dễ dung nạp những hệ tư tưởng khác, nhất là những hệ tư tưởng phù hợp với đặc trưng của
nền văn hóa dân gian cơ tầng như nước ta Thêm vào đó, trong thời “bách gia
tranh minh”, Nho học vốn chỉ là một học thuyết có tính chất giáo dưỡng con
người chứ chưa phải là một hình thái chính trị của giới cầm quyền Về mặt này, Nho học với Phật học mang chung tính chất nên càng khiến cho chúng sát lại gần nhau trong quá trình tồn tại và vận động của mình
Đời Trần – Hồ, Phật giáo vẫn là tôn giáo chính thống và tinh thần viên dung vẫn được phát huy tối đa nhằm xây dựng một cấu trúc tư tưởng vững mạnh phục vụ cho giai cấp thống trị Tinh thần phân công hợp tác của Nho – Phật thể hiện ở rất nhiều khía cạnh khác nhau, đặc biệt là ở mặt chính trị và giáo dục Phương pháp tu đạo có thể khác nhau những về cơ bản cả Nho – Phật vẫn hướng con người đến chung một đích
Trong Thiền tông chỉ nam, Trần Nhân Tông có viết:
“Phật vô nam bắc, quân khả tu cầu; tính hữu trí ngu, đồng tư giác ngộ Thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện, minh sinh tử chi tiệp kính giả, ngã Phật chi đại giáo dã; Nhậm thùy thế chi quyền hành, tác tương lai
chi quỹ phạm giả, tiên thánh chi trọng trách dã.” (Phật không chia nam
bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí ngu, cũng nhờ có giác ngộ
mà thành đạt Vì vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của Đức Phật Đặt mực
Trang 38Như vậy, mỗi đạo đều nắm giữ một vai trò nhất định trong xã hội Một bên phục vụ cho nhu cầu tâm linh, một bên phục vụ cho nhu cầu tổ chức và quản lý xã hội Trong khi Đức Phật đang thực hiện trọng trách giáo hóa chúng sinh thì Nho giáo cũng đang tích cực hỗ trợ giai cấp thống trị Sự phân công này diễn ra một cách liên tục và nhịp nhàng tạo thành một cơ cấu toàn vẹn, vô tình còn là sự bổ sung những khuyết thiếu của nhau Điều này cũng lý giải tại sao hệ tam giáo đồng nguyên đã được sớm hình thành và tồn tại trong suốt thời trung đại
1.3 Tư tưởng Nho, Phật phân tranh giai đoạn Trần – Hồ
Những năm cuối thế kỷ XIV, Phật giáo và Nho giáo diễn ra một cuộc công kích khá quyết liệt Lúc này tình thế đảo ngược, Phật giáo chịu nhiều sức ép từ phía dư luận và từ trong chính nội bộ của hệ thống Phật giáo Nho
giáo có cơ hội phát huy vai trò của mình trước xã hội Trong Việt Nam Phật
giáo sử lược, Mật Thể cũng nhận xét về Phật giáo đời Trần như sau:
“Đến đây trong nước Nho học đã độc tôn rồi, các Tăng sĩ lại làm lạc mất gốc, nên Phật giáo hầu như vô nghĩa và trở nên một tôn giáo mê tín Các nhà thuần nho đứng lên bài xích Bởi thế năm Đại khánh thứ tám đời Trần Hiến Tông (1321), triều đình sắc mở một kỳ khảo hạch
Tăng sĩ trong nước, hỏi về nghĩa lý Kinh Kim Cương Đủ để biết những
Trang 3935
lối tu hành của Tăng sĩ bấy giờ cẩu thả và đáng ngờ lắm nên mới có
cuộc thi lạ lùng ấy” [93, tr.172]
Phật giáo phát triển mạnh từ đời Lý cho tới đời Trần Người người, nhà nhà đua nhau cúng dường vào chùa chiền Chùa chiền trở thành nơi sở hữu một khối lượng tài sản lớn của dân tộc Nhiều kẻ lười nhác, vụ lợi, lợi dụng việc vào chùa tu hành để trục lợi bản thân, mưu đồ những điều trái đạo, làm mất đi dáng vẻ của đạo Phật đã tồn tại hàng thế kỷ qua Ngay từ đời Lý, những tệ lậu của Phật giáo đã bị Đàm Dĩ Mông phê phán rất gay gắt:
“Bấy giờ tăng đồ gần bằng số dịch phu Chúng tự kết bè, bầu chủ, họp nhau thành bầy Chúng làm nhiều việc bẩn thỉu nơi giới trường, tĩnh xá mà công nhiên rượu thịt, hoặc ở trai phòng thanh tịnh
mà âm thầm gian dâm Ngày ẩn, tối ra thật như đàn cáo chuột Chúng làm bại tục thương giáo, dần dần thành thói quen Nếu không cấm đi thì lâu ngày quá lắm” [117, tr.526]
Đến đời Trần, những tệ lậu diễn ra nghiêm trọng hơn khiến cho Phật giáo không còn khả năng chỉ đạo đường hướng văn hóa và chính trị nữa Lúc này, không chỉ giới tăng lữ bị phê phán mà cả việc sùng đạo thái quá cũng trở thành vấn nạn bị lên án, chỉ trích Tiêu biểu như Lê Văn Hưu phê phán nhà Lý
vì quá sùng cái phương châm “từ bi bác ái” của nhà Phật mà khoan nhượng
cho kẻ đại nghịch Nùng Trí Cao; Lê Quát thì phê phán nhà chùa làm mê hoặc chúng sinh, làm phung phí tài sản Nguyễn Lang cũng nhận xét:
“Thực vậy, trong suốt một thời gian dài hơn hai trăm năm, từ khi nhà Trần bắt đầu suy đồi, đạo Phật không còn chỉ đạo được đường hướng văn hóa và chính trị nữa Giới tri thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước và dựng nước Những vị cao tăng không thấy xuất hiện Có thể đã có một số cao tăng ẩn dật không liên hệ gì tới
chính trị và văn hóa…” [41, tr.479]
Trang 4036
Thêm vào đó, đến đời Trần Anh Tông, sự pha lẫn Đạo giáo vào Phật giáo ngày càng rõ nét, gây ra những tai hại đáng trách Bởi vậy, lòng tin vào
Phật giáo bắt đầu bị lung lay Đại việt sử ký toàn thư chép: “Bấy giờ, Bảo Từ
thái hậu cho gọi sư Phổ Huệ đến chùa Phổ Minh mở hội Quán đính Anh Tông bệnh vừa chuyển nặng Phổ Huệ xin được gặp để trình bày việc sống chết Anh Tông sai trả lời rằng: “Sư hãy đến đây, ta chết rồi, Quan gia có sai bảo gì, thì cứ việc làm Còn như chuyện sau khi chết, thì sư cũng chưa chết, biết đâu mà trình bày việc chết với ta”[44, tr.164]
Đến cuối đời Trần, những tệ lậu vẫn một gia tăng Trong khi đó, Hồ Quý Ly, cánh tay đắc lực của nhà Trần vốn chuộng Nho giáo, nên khi nắm chính quyền, nhà Hồ chủ trương xiển dương Nho giáo, tạo điều kiện cho Nho giáo có cơ hội vươn lên, lấn át vai trò của Phật giáo trong xã hội Việt Nam lúc
bấy giờ Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Bính Tý [1396], mùa xuân, tháng
giêng, xuống chiếu sa thải các tăng đạo chưa đến 50 tuổi trở xuống, bắt phải hoàn tục Lại thi những người thông hiểu kinh giáo, ai đỗ thì cho làm Đường đầu thủ, tri cung, tri quán, tri tự, còn thì cho làm kẻ hầu của người tu hành”
[44, tr.292]
Bởi vậy, nhiều nhà Nho như Trương Hán Siêu, Lê Văn Hưu, Phạm Sư
Mạnh, Lê Quát… lên tiếng chỉ trích Phật giáo, chỉ trích những kẻ “không cày
mà có ăn, không dệt mà có mặc”, trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước, làm tổn hại đến thánh đạo Nho phong, đề cao đạo Nho Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy
rằng một số nhà Nho đã tỏ ra quá thiển cận và cố chấp đến mức phê phán cả tinh thần độc lập của vua Lý khi không bắt chước Tàu để xưng hô, tiêu biểu
cho vấn đề này là Lê Văn Hưu Bởi vậy Nguyễn Đăng Thục có nhận xét: “Sử
gia Lê Văn Hưu thực tỏ ra cái tư tưởng Nho độc tôn bế quan, cố chấp, thiếu tinh thần độc lập sáng hóa nên mới trách các vua nhà Lý không dùng điển cố Nho để đặt tên hiệu trong nước” [101, tr.19]