Dưới tác động của đô thị hoá với các yếu tố sự chuyển đổi đất canh tác, thay đổi về nghề nghiệp, những cảnh quan cư trú truyền thống dần dần mất đi và thay thế bằng cảnh quan mang tính c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN ĐÌNH BÍCH VÂN
TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
ĐẾN TỔ CHỨC KHÔNG GIAN CƯ TRÚ
HỘ GIA ĐÌNH TẠI KHU VỰC PHÍA TÂY BẮC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔ THỊ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRƯƠNG HOÀNG TRƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh -năm 2018
Trang 3TÓM TẮT
Nhà ở là tài sản lớn của mỗi cá nhân, của hộ gia đình và của quốc gia Nhà ở thể hiện văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc, từng vùng miền Sự phát triển nhà ở phản ánh mức độ phát triển kinh tế - xã hội Dưới tác động của đô thị hoá với các yếu tố sự chuyển đổi đất canh tác, thay đổi về nghề nghiệp, những cảnh quan cư trú truyền thống dần dần mất đi và thay thế bằng cảnh quan mang tính chất đô thị, sự thay đổi đó được thể hiện rõ nét qua sự biến đổi về nhà ở và những cấu trúc tổ hợp nên tổ chức không gian cư trú địa phương
Luận văn mô tả quá trình đô thị hóa của địa bàn nghiên cứu thông qua năm chuyển đổi về kinh tế, dân số, không gian, hành chính và phúc lợi để làm cơ sở cho các vấn đề nghiên cứu Nội dung chính tập trung mô tả và đánh giá sự biến đổi tổ chức không gian cư trú của các hộ gia đình qua hai không gian bên trong
và bên ngoài nhà ở, đánh giá mức độ quan trọng của các không gian và xu hướng chuyển đổi của các không gian này dưới sự tác động quá trình đô thị hóa với năm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp bao gồm: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mục đích sử dụng đất, nghề nghiệp, mức sống và thành phần dân cư
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Tác động của quá trình đô thị hoá đến tổ chức không gian cư
trú hộ gia đình tại khu vực phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” là do tác
giả thực hiện Tác giả cam kết không vi phạm đạo đức khoa học và các điều quy định của nhà nước Việt Nam cũng như quốc tế về luật sở hữu trí tuệ và luật bản quyền
TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả
Phan Đình Bích vân
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến TS Trương Hoàng Trương – người hướng dẫn khoa học rất tận tụy, hết lòng giúp đỡ, định hướng cho tôi ngay từ những ngày đầu tiên lên ý tưởng nghiên cứu Cảm ơn Thầy luôn tạo điều kiện thuận lợi, luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn kể cả những giai đoạn khó khăn khiến việc nghiên cứu bị gián đoạn
Tôi xin cảm ơn Phòng thông tin Quy hoạch (Sở Quy hoạch Kiến trúc TP.HCM), Phòng Quản lý Đô thị, Phòng Thống kê UBND Huyện Hóc Môn đã
hỗ trợ thông tin và số liệu để tôi có cơ sở thực hiện nghiên cứu tại địa phương Xin chân thành cảm ơn các hộ gia đình tại Huyện Hóc Môn đã nhiệt tình cung cấp thông tin, dữ liệu, hỗ trợ cho việc thực hiện quá trình nghiên cứu, khảo sát
Tôi cũng vô cùng biết ơn quý Thầy Cô đã giảng dạy lớp Cao học Đô thị học khóa 01 đã luôn nhiệt tình và tận tâm giảng dạy những kiến thức bổ ích
Bên cạnh đó, tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô, đồng nghiệp tại Khoa Đô thị học và các ban đồng môn lớp Cao học Đô thị học 01 đã hỗ trợ, góp
ý kiến và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng con xin gởi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Ba Mẹ và gia đình đã yêu thương, luôn ủng hộ và là điểm tựa vững chắc cho con
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi sự thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô và các đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2018
Tác giả
Trang 6MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC BẢNG 7
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 10
DANH MỤC HÌNH ẢNH 11
PHẦN A: MỞ ĐẦU 12
1 Lý do chọn đề tài 12
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 13
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13
4 Phạm vi nghiên cứu 14
5 Phương pháp nghiên cứu 16
6 Giả thuyết nghiên cứu 18
7 Mô tả mẫu nghiên cứu 18
8 Khung phân tích 20
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 21
10 Kết cấu của luận văn 22
PHẦN B: NỘI DUNG 23
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 23
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 23
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài 36
1.2.1 Các khái niệm chính 36
1.2.2 Các khái niệm khác liên quan 38
1.3 Cách tiếp cận chính trong nghiên cứu 40
1.4 Lý luận về tổ chức không gian cư trú - nhà ở 51
1.4.1 Tổ chức không gian cư trú truyền thống trong trong nhà ở dân gian Nam Bộ Việt Nam 51
1.4.2 Cấu trúc và chức năng của nhà ở 53
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
2.1 Các yếu tố tác động đến tổ chức không gian cư trú hộ gia đình 55
2.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 55
2.1.1.1 Vị trí - tổ chức hành chính 55
Trang 72.1.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đô thị 57
2.1.2 Những chuyển đổi của địa phương trong quá trình đô thị hóa 57
2.1.2.1 Chuyển đổi về Kinh tế 58
2.1.2.2 Chuyển đổi về Không gian 60
2.1.2.3 Chuyển đổi về Hành chính 62
2.1.2.4 Chuyển đổi về Dân số 65
2.1.2.5 Chuyển đổi về Phúc lợi 67
2.1.3 Các yếu tố tác động đến tổ chức không gian cư trú hộ gia đình 70
2.1.3.1 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển 70
2.1.3.3 Thay đổi về nghề nghiệp, cơ cấu sản xuất 74
2.1.3.4 Thay đổi mức sống 76
2.1.3.5 Gia tăng dân số và thành phần dân cư 78
2.2 Không gian cư trú hộ gia đình dưới tác động của quá trình đô thị hóa79 2.2.1 Tổng quan về vấn đề nhà ở tại TP.HCM và khu vực nghiên cứu 79
2.2.2 Những biến đổi về không gian cư trú của hộ gia đình 89
2.2.2.1 Biến đổi không gian bên trong nhà ở 90
2.2.2.2 Biến đổi không gian bên ngoài nhà ở 106
2.2.2.3 Đánh giá chung về không gian cư trú hộ gia đình 125
2.3 Kết luận và khuyến nghị 136
2.3.1 Kết luận 136
2.3.1.1 Kết luận về phương pháp nghiên cứu 136
2.3.1.2 Kết luận về kết quả nghiên cứu 136
2.3.2 Khuyến nghị 137
PHẦN C: PHỤ LỤC 139
1 Danh mục tài liệu tham khảo 139
2 Phụ lục bảng hỏi 143
3 Phụ lục hình ảnh 148
Trang 8KT2 Tạm trú dài hạn trong phạm vi tỉnh/thành trực thuộc trung ương
KT3 Tạm trú dài hạn cho người ngoại tỉnh tại tỉnh/ thành phố trực thuộc
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Danh mục khu dân cư thực hiện nghiên cứu 15
Bảng 2: Số lượng mẫu nghiên cứu 19
Bảng 3: Thông tin mẫu nghiên cứu 19
Bảng 4: Thời gian cư trú của các hộ gia đình tham gia khảo sát 20
Bảng 5: Sự thay đổi cấu trúc cư trú từ gia đình nông thôn truyền thống sáng gia đình đô thị 45
Bảng 6: Bộ ba về khái niệm của Lefebvre về không gian và các ví dụ, được chuyển thể từ Carp (2008) 48
Bảng 7: Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Hóc Môn qua các năm 58
Bảng 8: Đánh giá cảnh quan của địa phương trong 10 năm gần đây 62
Bảng 9: Tỷ lệ quan tâm đến thông tin quy hoạch và chỉnh trang đô thị của người dân 62
Bảng 10: Mức độ hài lòng đối với các công tác thủ tục hành chính tại địa phương 63
Bảng 11: Sự cải cách trong vấn đề hành chính tại địa phương so với 10 năm trước 64
Bảng 12: Cấp quản lý mà người dân cảm thấy thoải mái nhất khi cần giải quyết các công việc hành chính 64
Bảng 13: Các chỉ tiêu về dân số huyện Hóc Môn từ năm 1999 đến 2007 65
Bảng 14: Phân bố dân cư huyện Hóc Môn 66
Bảng 15: Mức độ hài lòng với các dịch vụ công, các phúc lợi tại địa phương 68 Bảng 16: Mật độ giao thông (không tính đường liên ấp, đường ấp) 71
Bảng 17: Mật độ giao thông (bao gồm đường liên ấp, đường ấp) 71
Bảng 18: Số lao động chính trong hộ gia đình 74
Bảng 19: Loại hình kinh tế chính của gia đình 75
Bảng 20: Vốn tích lũy bình quân 1 hộ nông thôn qua 2 kỳ tổng điều tra năm 2006 và 2011 (ĐVT: 1.000đ) 76
Bảng 21: Tổng thu nhập trung bình/tháng của của gia đình hiện nay 77
Bảng 22: Điều kiện kinh tế gia đình trong 10 năm gần đây 77
Bảng 23: Mức độ thay đổi nghề nghiệp 78
Bảng 24: Đánh giá sự thay đổi thành phần dân cư 79
Bảng 25: Phân loại nhà ở tại TP.HCM theo tuổi thọ 80
Bảng 26: Loại hình nhà ở theo khu vực nghiên cứu 84
Bảng 27: Phân loại nhà ở theo cấu trúc và chức năng nhà ở 86
Bảng 28: Thời gian, diện tích xây dựng nhà ở của khu vực nghiên cứu 87
Bảng 29: Chất lượng nhà ở theo khu vực nghiên cứu 88
Bảng 30: Tỉ lệ thay đổi không gian trong nhà từ 2005-2015 92
Bảng 31: Điểm đánh giá mức độ quan trong các không gian bên trong ngôi nhà 94
Bảng 32: Bảng kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai của các không gian bên trong nhà ở 95
Trang 10Bảng 33: Kiểm định phương sai một chiều ANOVA các không gian bên trong
nhà ở 96
Bảng 34: Kiểm định Welch cho các không gian bên trong nhà ở 97
Bảng 35: Thông kê mô tả giá trị của các không gian bên trong nhà ở theo kiểm định Friedman 97
Bảng 36: Thứ hạng của các không gian bên trong nhà ở theo kiểm định Friedman 98
Bảng 37: Thông kê mô tả giá trị Chi bình phương theo kiểm định Friedman 99
Bảng 38: Bảng so sánh thứ hạng và điểm trung bình của các không gian bên trong nhà ở 99
Bảng 39: Thống kê mô tả sự đánh giá mức độ quan trọng các cặp không gian bên trong nhà ở theo kiểm định Wilconxon 100
Bảng 40: Cấu trúc gia đình tại khu vực nghiên cứu 102
Bảng 41: So sánh các không gian bên trong nhà ở 104
Bảng 42: Tỉ lệ thay đổi không gian ngoài nhà từ 2005-2015 107
Bảng 43: Điểm đánh giá mức độ quan trọng các không gian bên ngoài ngôi nhà 109
Bảng 44: Kiểm định phương sai một chiều ANOVA đánh giá mức độ quan trọng của các không gian bên ngoài nhà ở 111
Bảng 45: Thống kê mô tả các không gian bên ngoài nhà ở theo kiểm định Friedman 112
Bảng 46: Thứ hạng trung bình các không gian bên ngoài nhà ở theo kiểm định Friedman 112
Bảng 47:Thông kê mô tả giá trị Chi bình phương của các đánh giá mức độ quan trọng của các không gian ngoài nhà theo kiểm định Friedman 113
Bảng 48: Đánh giá mức độ quan trọng của các không gian bên ngoài ngôi nhà theo lứa tuổi 114
Bảng 49: Loại hình kinh tế chính theo Khu dân cư 116
Bảng 50: Mức độ thân thiết với hàng xóm láng giềng 117
Bảng 51: Mức độ thường xuyên của các hộ gia đình tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng 118
Bảng 52: Mức độ không gian công cộng tại các khu vực nghiên cứu 119
Bảng 53: Mức độ thường xuyên đến các không gian công cộng của các hộ gia đình 120
Bảng 54: Mức độ hài lòng với tiện ích và chất lượng của các không gian công cộng 121
Bảng 55: Tỷ lệ trả lời có cần thêm các không gian công cộng tại khu vực nghiên cứu 121
Bảng 56: Khoảng cách cảm thấy thoải mái tính vị trí nhà của hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu 122
Bảng 57: So sánh không gian bên ngoài nhà ở trước đây và bây giờ 123
Bảng 58: Mức độ hài lòng với chất lượng nhà ở theo khu vực nghiên cứu 126
Trang 11Bảng 59: Mức độ tiện nghi sinh hoạt của hộ gia đình theo khu vực nghiên cứu
127
Bảng 60: Ý kiến về chất lượng nhà ở có phản ảnh vị thế của gia đình 128
Bảng 61: Ý định thay đổi chỗ ở theo khu dân cư 129
Bảng 62: Ý định xây mới hoặc sửa chữa nhà trong tương lai 130
Bảng 63: Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thay đổi không gian cư trú 132
Bảng 64: Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thay đổi không gian cư trú theo từng khu dân cư 133
Bảng 65: Kiểm định phương sai một chiều ANOVA đánh giá mức độ quan trọng của 5 yếu tố chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa đối với sự biến đổi của KGCT hộ gia đình 134
Trang 12
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Mức độ hài lòng với các dịch vụ công, các phúc lợi tại địa phương 70
Biểu đồ 2: Số thành viên trung bình mỗi hộ gia đình và tỷ lệ lao động chính 75
Biểu đồ 3: Số lượng nhà ở riêng lẻ theo đơn vị hành chính 81
Biểu đồ 4: Mật độ nhà ở riêng lẻ trên địa bàn TP.HCM 83
Biểu đồ 5: Tốc độ gia tăng dân số và phát triển nhà ở 83
Biểu đồ 6: Tỷ lệ loại hình nhà ở theo khu vực nghiên cứu 85
Biểu đồ 7: Diện tích nhà và khu đất theo khu vực nghiên cứu 87
Biểu đồ 8: Mật độ xây dựng theo khu vực nghiên cứu 88
Biểu đồ 9: Tỷ lệ chất lượng nhà ở theo khu vực nghiên cứu 88
Biểu đồ 10: Tỷ lệ các không gian bên trong nhà ở và mức độ thay đổi giai đoạn 2005-2015 93
Biểu đồ 11: Điểm đánh giá mức độ quan trọng các không gian bên trong ngôi nhà 95
Biểu đồ 12: Thứ hạng của các không gian bên trong nhà ở 99
Biểu đồ 13: Tỷ lệ các hộ gia đình có các không gian bên ngoài nhà ở giai đoạn 2005-2015 108
Biểu đồ 14: Điểm đánh giá mức độ quan trọng các không gian bên ngoài ngôi nhà 110 Biểu đồ 15: Đánh giá mức độ quan trọng của các không gian bên ngoài ngôi nhà theo lứa tuổi 115
Biểu đồ 16: Mức độ thân thiết với hàng xóm láng giềng 117
Biểu đồ 17: Mức độ thường xuyên của các hộ gia đình tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng 119
Biểu đồ 18: Mức độ không gian công cộng tại các khu vực nghiên cứu 119
Biểu đồ 19: Mức độ thường xuyên đến các không gian công cộng của các hộ gia đình 120
Biểu đồ 20: Mức độ hài lòng với tiện ích và chất lượng của các không gian công cộng 121
Biểu đồ 21: Tỷ lệ các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu cần thêm không gian công cộng 122
Biểu đồ 22: Khoảng cách cảm thấy thoải mái tính vị trí nhà của hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu 123
Biểu đồ 23: Tỷ lệ mức độ hài lòng với chất lượng không gian nhà ở theo khu vực nghiên cứu 127
Biểu đồ 24: Tỷ lệ tiện nghi sinh hoạt của hộ gia đình theo khu vực nghiên cứu 128
Biểu đồ 25: Ý kiến về chất lượng nhà ở có phản ảnh vị thế của gia đình 129
Biểu đồ 26: Tỷ lệ muốn thay đổi chỗ ở theo khu dân cư 130
Biểu đồ 27: Tỷ lệ người dân muốn xây mới hoặc sửa chữa nhà trong tương lai 131
Biểu đồ 28: Kiểu nhà muốn thay đổi 131
Biểu đồ 29: Loại hình nhà ở sẽ lựa chọn nếu được xây mới trong tương lai 132
Biểu đồ 30: Thang điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chuyển đổi đến quyết định thay đổi không gian cư trú theo từng khu dân cư 134
Trang 13DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Vị trí các khu dân cư thực hiện nghiên cứu (Nguồn: Phòng QLĐT Hóc Môn) 15 Hình 2: Khung phân tích 21 Hình 3: Bộ ba không gian của Lefebvre (Nguồn: Hannah Andrsob 2003) 50 Hình 4: Hình ảnh một ngôi nhà truyền thống Nam Bộ (Nguồn: Lê Thị Hồng
Na, 2011) 52 Hình 5: Vị trí huyện Hóc Môn (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet) 55 Hình 6: Minh họa biến đổi hình thái không gian đô thị của huyện Hóc Môn từ
2005 – 2015 (Nguồn: Tác giả khai thác từ Google Map) 61 Hình 7: Hệ thống giao thông đường bộ tại huyện Hóc Môn (Nguồn: Phòng QLĐT huyện Hóc Môn) 70 Hình 8: Hình mô tả sự mở rộng và gia tăng các tuyến giao thông tại Hóc Môn qua các năm 2000, 2010 và 2017 (Nguồn: Tác giả khai thác từ Google Map) 72
Trang 14PHẦN A: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là một đô thị lớn nhất đất nước ở khu vực phía Nam Việt Nam và có vị trí tiềm lực quan trọng ở Đông Nam Á Tuy là thành phố chỉ mới có hơn 300 năm phát triển nhưng với những lợi thế về nhiều mặt vị trí, khí hậu, giao thương, văn hóa đa dạng … đã làm cho TP.HCM sớm trở thành một trong những đô thị sầm uất nhất cả nước về dân số, kinh tế, cơ sở
hạ tầng và là thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất Là một thỏi nam châm có sức hút lớn, hàng năm TP.HCM đón nhận lượng người nhập cư lớn và điều này
đã gây ra sức ép không nhỏ cho chính quyền trong bài toán giải quyết vấn đề “an
cư lạc nghiệp” của người dân Trong khi các quận nội thành cũ đã trở nên chật chội với những không gian đã gần như không còn chỗ trống cho bất cứ nhu cầu
ở nào khác, thì vai trò của các huyện ngoại thành là vô cùng quan trọng để giải quyết vẫn đề Chính vì thế, các đồ án định hướng quy hoạch chung đô thị luôn
đề cập đến việc phát triển các huyện ngoại thành như là một chiến lược mang tính quyết định cho sự phát triển chung, bền vững của TP.HCM nói riêng cũng như các khu vực lân cận
Hướng phát triển thực tế của Thành phố theo điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào đầu năm
2010 là hướng Tây và Tây Bắc là các huyện ngoại thành Khu vực ngoại thành gồm năm huyện: Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè, Củ Chi và Cần Giờ sẽ tập trung phát triển các thị trấn, khu dân cư nông thôn và các đô thị vệ tinh, hạn chế phát triển tràn lan, giữ lại quỹ đất dự trữ, công viên rừng cây xanh lớn của thành phố như Cần Giờ; và phát triển nhà ở thấp tầng cũng như khu nghỉ dưỡng Qua đó cho thấy hướng Tây – Tây Bắc đang là hướng phát triển quan trọng trong định hướng quy hoạch chung của TP.HCM Do đó, việc nghiên cứu những đặc trưng
về biến đổi xã hội trong quá trình đô thị hóa các huyện ngoại thành – trong đó
có yếu tố cư trú, nhà ở mang tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn
Nhà ở là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình và của quốc gia Nhà ở thể hiện văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc, từng vùng miền Sự phát triển
Trang 15nhà ở phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua từng thời kỳ Trải qua nhiều biến đổi, do tác động của quá trình đô thị hoá, sự chuyển đổi đất canh tác, thay đổi về nghề nghiệp, những cảnh quan nông thôn truyền thống đang dần được thay thế bằng cảnh quan đô thị, thể hiện rõ nét qua sự biến đổi về nhà
ở và những cấu trúc tổ hợp nên tổ chức không gian cư trú địa phương
Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, các huyện ngoại TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức từ ảnh hưởng và tác động của quá trình này đến mọi lĩnh vực và đời sống của người dân Tác động của đô thị hóa ảnh hưởng rất
rõ đến tổ chức không gian cư trú, không gian ở của người dân địa phương đang
bị đô thị hóa
Xuất phát từ thực trạng đó, học viên thực hiện công trình nghiên cứu với đề
tài “Tác động của quá trình đô thị hóa đến tổ chức không gian cư trú hộ gia
đình tại khu vực phía Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm nhận diện và
làm rõ nét hơn những biến đổi tại khu vực nghiên cứu
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu tác động của quá trình đô thị hóa đến tổ chức không gian cư trú của hộ gia đình tại khu vực nghiên cứu phía Tây Bắc TP.HCM, trường hợp nghiên cứu tại huyện Hóc Môn Để đạt được mục tiêu trên, luận văn hướng đến những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu và khái quát quá trình đô thị hóa tại khu vực nghiên cứu thông qua 5 chuyển đổi: kinh tế, không gian, dân cư, hành chính và phúc lợi
- Những yếu tố tác động đến không gian cư trú của hộ gia đình
- Những biến đổi của không gian cư trú của hộ gia đình dưới tác động của quá trình đô thị hóa trên qua không gian cư trú bên trong nhà ở và bên ngoài nhà ở
- Đề xuất những khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 16Không gian cư trú hộ gian cư trú hộ gia đình bao gồm: không gian bên trong
4.1 Giới hạn khu vực nghiên cứu
Không gian nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi ranh giới hành chính huyện Hóc Môn nằm trên trên trục phát triển Tây Bắc của TP.HCM để thực hiện nghiên cứu Theo Quy hoạch chung xây dựng huyện Hóc Môn đến năm 2020 có
5 cụm dân cư đô thị và 3 khu dân cư nông thôn và được phân bố cụ thể như sau:
- Khu dân cư đô thị:
1) Cụm dân cư đô thị 1: Bao gồm các khu dân cư đô thị Tây Bắc, Tân Thới Nhì, Xuân Thới Sơn và xã Xuân Thới Thượng, diện tích 1.306 ha, dự kiến khoảng 90.000 dân
2) Cụm dân cư đô thị 2: Bao gồm các khu đô thị An Phú Hưng, Tân Thới Nhì, Xuân Thới Sơn và Tân Hiệp, diện tích 1.093 ha, dự kiến khoảng 110.000 dân
3) Cụm dân cư đô thị 2: Bao gồm các khu đô thị Xuân Thới Sơn, Xuân Thới Đông và một phần Xuân Thới Thượng, diện tích 1.0141 ha, dự kiến khoảng 90.000 dân
4) Cụm dân cư đô thị 4: Bao gồm các khu đô thị Bà Điểm, Xuân Thới Đông,
và Xuân Thới Thượng, diện tích 1.017 ha, dự kiến khoảng 105.000 dân 5) Cụm dân cư đô thị 5: Bao gồm các khu đô thị Thị trấn Hóc Môn, Tân Xuân, Trung Chánh, Đông Thạnh và Thới Tam Thôn, diện tích 1140 ha,
dự kiến khoảng 125.000 dân
6) Cụm dân cư đô thị sinh thái: Một phần xã Nhị Bình, diện tích 656 ha, dự kiến khoảng 30.000 dân
- Khu dân cư nông thôn:
Trang 177) Khu dân cư nông thôn 6: thuộc xã Tân Hiệp và xã Thới Tam Thôn, diện tích 681 ha, dự kiến khoảng 41.000 dân
8) Khu dân cư nông thôn 7: thuộc xã Đông Thạnh và xã Thới Tam Thôn, diện tích 600 ha, dự kiến khoảng 36.000 dân
9) Khu dân cư nông thôn 8: thuộc xã Xuân Thới Sơn, diện tích 385 ha, dự kiến khoảng 23.000 dân
Hình 1: Vị trí các khu dân cư thực hiện nghiên cứu (Nguồn: Phòng QLĐT Hóc Môn )
Dựa trên vị trí phân bố và tính chất các khu dân cư, tác giả lựa chọn 2 khu dân cư đô thị và 2 khu dân cư nông thôn, nằm về hai phía trục giao thông quốc
lộ 22, bao gồm: khu dân cư đô thị 1 và 5, khu dân cư nông thôn 7 và 9 (Xem Bảng 1)
Bảng 1: Danh mục khu dân cư thực hiện nghiên cứu
12.294
Khu ở và các công trình công cộng cấp huyện như: trường trung học phổ thông,
Khu dân cư nông nghiệp định hướng phát triển
đô thị
Trang 18và xã Xuân Thới Thượng
trường dạy nghề, bệnh viện, khu văn hóa, thể dục thể thao, thương mại dịch vụ KDC ĐT 5
Khu dân cư đô thị thị trấn Hóc Môn, Tân Xuân, Trung Chánh, Thới Tam Thôn và
Dân cư nông thôn được tập trung xây dựng tại các điểm dân
cư lớn tồn tại lâu dài với quy mô tương đối phù hợp trên 200 hộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở
Khu dân cư nông thôn có tính chất
đô thị
KDC NN 9 Khu dân cư nông
thôn Xuân Thới Sơn 8.326
Khu dân cư nông thôn
(Nguồn: Tác giả tổng hợp từ tài liệu và ghi nhận từ thực tế khảo sát) 4.2 Giới hạn thời gian nghiên cứu
Đặc điểm phát triển huyện Hóc Môn cho thấy giai đoạn 2005 – 2015 là giai đoạn xuất hiện nhiều chuyển biến về kinh tế xã hội Do đó, giới hạn về thời điểm nghiên cứu được lựa chọn trong luận văn là từ năm 2005-2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng 2 phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Phân tích dữ liệu có sẵn từ các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến những vấn đề về đô thị hóa, cơ sở lý luận về không gian cư trú và những nghiên cứu về địa bàn nghiên cứu
Các tài liệu này bao gồm các báo cáo, công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí trong nước và quốc tế
Trang 195.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
- Phương pháp Phỏng vấn bảng hỏi
Khảo sát bằng bảng hỏi với 130 hộ gia đình đang sinh sống tại khu vực nghiên cứu nhằm thu thập những đánh giá của người dân với không gian cư trú mình đang sinh sống
Các số liệu định tính và định lượng sau khi được thu thập được thống kê bằng phần mềm xử lý số liệu SPSS và Exel Trong đó sử dụng các phương pháp kiểm định:
+ Kiểm định Chi- Bình phương được sử dụng để xem liệu có mối quan
hệ giữa hai biến phân loại (categorical variables) trong một tổng thể + Kiểm định Friedman là một kiểm định phi tham số được sử dụng thay thế kiểm định ANOVA lặp một chiều Kiểm định Friedman được sử dụng khi muốn kiểm tra sự chênh lệch giữa các nhóm khi biến phụ thuộc được đo lường là dạng thứ tự Nó cũng có thể được sử dụng trong trường hợp biến phụ thuộc (dạng liên tục) vi phạm các giả định cần thiết của kiểm định ANOVA lặp một chiều (chẳng hạn, giả định
về phân phối chuẩn)
Kiểm định Friedman được thực hiện dựa trên 4 giả thuyết :
• Mỗi đối tượng được đo lường bởi ít nhất 3 quan sát,
• Các nhóm được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể,
• Biến phụ thuộc là biến thứ tự (thang đo Likert,…) hoặc biến liên tục
• Mẫu không cần thiết phải có phân phối chuẩn hóa
Giả thuyết H0 của kiểm định Friedman là “trung bình của biến
đo lường không có sự khác nhau giữa các nhóm của biến độc lập”
+ Kiểm định dấu hạng Wilcoxon dùng để kiểm định t-test cặp đôi nhưng
dữ liệu về sự chênh lệch của biến đo lường theo 2 nhóm không thỏa mãn giả định phân phối chuẩn
Giả thuyết cho kiểm định dấu hạng Wilcoxon đặt ra là trung vị của sự chênh lệch trong biến đo lường giữa 2 nhóm có bằng 0 Kiểm định t-test cặp đôi dựa trên 3 giả định như sau:
Trang 20• Biến đo lường là biến liên tục hoặc thứ tự (thang đo Likert 7 bậc hoặc
5 bậc) Tham khảo bài viết các loại thang đo trong phân tích dữ liệu
• Các quan sát của 2 nhóm có quan hệ (tương quan) với nhau, nghĩa là một đối tượng chỉ ứng với chỉ một cặp quan sát
• Biến sai phân giữa 2 nhóm không yêu cầu phải có phân phối chuẩn hoặc xấp xỉ phân phối chuẩn nhưng có dạng đối xứng
- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc:
Trong quá trình khảo sát bằng bảng hỏi, tác giả lựa chọn 10 hộ gia đình
để phỏng vấn lấy thêm các thông tin và nhận định về những nội dung nghiên cứu
- Phương pháp quan sát, ghi nhận hình ảnh:
Ghi nhận lại những hình ảnh về không gian cư trú của hộ gia đình tại địa
bàn nghiên cứu
6 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Hiện trạng đô thị hóa của địa bàn nghiên cứu đang phát triển theo chiều rộng
Giả thuyết 2: Không gian bên trong nhà ở có xu hướng chuyển dịch theo hướng cá nhân hóa cao
Giả thuyết 3: Không gian bên ngoài nhà ở bị thu hẹp dần
Giả thuyết 4: Cảnh quan cư trú tại địa phương có sự thay đổi theo hương tăng các loại hình nhà phố và giảm các loại hình nhà ở nông thôn
Giả thuyết 5: Yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc thay đổi không gian
cư trú hộ gia đình là Kinh tế
7 Mô tả mẫu nghiên cứu
Số lượng mẫu dự kiến của luận văn là 200 mẫu, tuy nhiên với sự hạn chế về thời gian và sau khi lọc lại các phiếu khảo sát hợp lệ, số phiếu khảo sát hoàn chỉnh là 130 phiếu, đảm bảo phân bố cho 4 khu vực nghiên cứu (Bảng 2)
Trang 21Bảng 2: Số lượng mẫu nghiên cứu
Khu dân cư Số lượng Tỷ lệ (%)
Bảng 3: Thông tin mẫu nghiên cứu
Số lượng người trả lời
Tỷ lệ (%)
Trang 22KDC Đô thị 1
KDC Đô thị 5
KDC Nông thôn 7
KDC Nông thôn 9
và bên ngoài nhà ở dưới sự tác động quá trình đô thị hóa với năm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp bao gồm: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, mục đích sử dụng đất, nghề nghiệp, mức sống và thành phần dân cư
Trang 23Hình 2: Khung phân tích
9 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
9.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn với hướng tiếp cận từ những chuyển đổi của đô thị trong quá trình
đô thị hóa đến những thay đổi tổ chức không gian cư trú bên trong và bên ngoài của hộ gia đình sẽ đóng góp thêm cho nguồn tài liệu về những nghiên cứu tác động đô thị hóa trên khía cạnh nhà ở
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã mô tả những thay đổi thực tế của không gian cư trú hộ gia đình tại địa phương là tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo về sự thích ứng cải tạo, chỉnh trang không gian cư trú nói riêng và không gian đô thị nói chung trong bối cảnh đô thị hóa Kết luận của luận văn cũng có thể là những ý kiến tham khảo cho các nhà quản lý của địa phương
Trang 2410 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Phụ lục
❖ Phần A: Mở đầu
Phần Mở đầu trình bày lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và khách thể nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả mẫu nghiên cứu, khung phân tích của luận văn, ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn, và cuối cùng là mô tả kết cấu trình của luận văn
❖ Phần B: Nội dung
Phần Nội dung được chia làm 2 chương, bao gồm Chương 1 Cơ sở lý luận
và Chương 2 Kết quả nghiên cứu
- Chương 1: Cơ sở lý luận Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu, các khái niệm liên quan đến đề tài, cách tiếp cận chính trong nghiên cứu và các lý luận về tổ chức không gian cư trú - nhà ở
- Chương 2: Kết quả nghiên cứu Chương này mô tả những chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa tại khu vực nghiên cứu về kinh tế, không gian, phúc lợi, hành chính và dân số Mô tả những yếu tố tác động đến chuyển đổi không gian cư trú hộ gia đình Tiếp đó phân tích những biến đổi trong không gian cư trú hộ gia đình duới tác động của quá trình đô thị hóa bao gồm không gian cư trú bên trong và bên ngoài nhà, những hệ quả của sự chuyển đổi không gian này Từ đó đưa ra kết luận và khuyến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo
❖ Phần C: Phụ lục
Phần Phụ lục trình bày danh mục các tài liệu tham khảo, phụ lục mẫu bảng hỏi được sử dụng trong quá trình khảo sát, phụ lục hình ảnh mô tả cho nội dung nghiên cứu
Trang 25PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
❖ Nghiên cứu về đô thị hóa và đô thị hóa vùng ven
Theo Michael Spence, Patricia Clarke Annez, Robert M Buckley (2008)
trong cuốn sách Đô thị hóa và tăng trưởng phân tích sự ảnh hưởng qua lại lẫn
nhau giữa tăng trưởng và đô thị hóa, trong đó kinh tế vi mô là nhân tố tác động lớn Các tác giả cũng cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các thành phố với tốc độ tăng trưởng dù có sự khác nhau giữa các vùng và khu vực Ở các quốc gia đang phát triển, các thành phố giúp tăng nhanh hiệu suất phát triển quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế Không những vậy, các thành phố còn có khả năng thúc đẩy phát triển bền vững nền kinh tế các quốc gia này Do đó, cần tiếp tục chương trình truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả trong từng thành phố Ngoài ra, cần giảm bớt các rào cản đối với việc phân bổ các nhân tố phát triển giữa các thành phố Trên cơ sở đó, tác giả phân tích đô thị hóa trong bối cảnh kết khối đô thị Theo đó, kết nối quan hệ giữa mật độ đô thị và tiềm năng tăng năng suất, thông qua chuyên môn hóa, bổ sung sản xuất, phổ biến kiến thức và làm theo, hay đơn giản là theo quy mô và phạm vi Bên cạnh những tác động tích cực, đô thị hóa cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực khác nhau, trong đó có sự bất bình đẳng trong không gian địa lí Sự bất bình đẳng này là một đặc điểm quan trọng của nhiều quốc gia đang phát triển, có chiều hướng gia tăng cùng với sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế Bên cạnh sự bất bình đẳng là vấn đề nhà ở Đô thị hóa và tăng trưởng tác động trực tiếp đến thị trường bất động sản, làm giá nhà ở tăng nhanh Từ đó, chính phủ phải đối mặt với sức ép làm thế nào để người có thu nhập trung bình cũng có thể mua nhà, xóa bỏ các khu nhà ổ chuột kém chất lượng tiềm ẩn nhiều nguy cơ Các tác giả cho rằng, để nâng cao khả năng mua nhà của người dân, cần sự hỗ trợ của thị trường phi chính thức, làm hạn chế năng lực tài chính của chính quyền địa phương trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Tác giả Hoàng Bá Thịnh (2012) trong bài viết “Một số luận điểm của C.Mác
và PH.AngGhen về đô thị hóa” đã nêu lên các luận điểm về đô thị hóa của hai
Trang 26nhà Triết học nổi tiếng là C.Mác và PH.AngGhen từ giữa thế kỉ XIX Theo đó,
đô thị hóa mang đến những lợi ích nhưng cũng gây ra một số hậu quả cho xã hội
Về mặt tích cực, đô thị hóa mang lại sự phân công lớn nhất giữa lao động vật chất và lao động tinh thần, thúc đẩy sự quá độ từ thời kì dã man lên thời đại văn minh Xuất hiện trong cùng bối cảnh xã hội, PH.AngGhen cho rằng công nghiệp
là cơ sở kéo theo quá trình đô thị hóa Đến nay, các nghiên cứu tổng quát về đô thị hóa cũng chỉ ra một quy luật chung của quá trình đô thị hóa, đó chính là công nghiệp kéo theo đô thị hóa, tuy nhiên, đang tồn tại một xu thế phát triển ngược tại Việt Nam – đô thị hóa kéo theo công nghiệp hóa Kế đến là quan điểm “lịch
sử hiện đại là nông thôn đô thị hóa” và chức năng kinh tế của đô thị, nghĩa là mô
tả quá trình lớn lên, phình to của nông thôn để trở thành một đô thị và đô thị là
đô thị thật sự khi chính nó có khả năng thực hiện kinh tế Cuối cùng, C.Mác và PH.AngGhen khẳng định đô thị hóa là sự tiến bộ đối với các phương pháp sản xuất lạc hậu, tập trung ở thành thị là một điều kiện cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Về mặt tiêu cực, được nói đến đầu tiên là quan hệ của các cư dân
đô thị, đó là sự thiếu gắn kết giữa các cá nhân trong một cộng đồng, PH.AngGhen cho rằng “sự lãnh đạm tàn nhẫn ấy, sự cô độc lạnh lùng ấy” phản ánh bản chất của xã hội tư bản Thứ hai là đô thị hóa tác động đến đời sống gia đình, nghèo đói và tệ nạn xã hội, ý chỉ về sự chênh lệch giàu nghèo của đô thị sẽ có xu hướng ngày càng lớn Trong đó, giai cấp công nhân trong bối cảnh đô thị hóa đóng vai trò phục vụ và bị bóc lột bởi giai cấp tư sản Tác giả cho rằng, những hệ tư tưởng của C.Mác và PH.AngGhen về đô thị hóa có giá trị thời sự không những đối với Việt Nam mà còn cho các nước phát triển khác
Nguyễn Thế Bá (1998) trong cuốn sách Quy hoạch xây dựng phát triển đô
thị cho rằng quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa đất nước Vì vậy,
cũng có người cho rằng đô thị hóa là người bạn đồng hành của công nghiệp hóa Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian kiến trúc xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị và diễn ra song song với động thái phát triển không gian kinh tế xã hội Trình độ đô thị hóa phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, của nền văn hóa và của phương thức tổ chức cuộc sống
Trang 27xã hội Đồng thời gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của các ngành nghề mới
Trương Quang Thao (2003) với nghiên cứu Đô thị học, những khái niệm mở
đầu đã đưa ra những khái niệm cơ bản về đô thị hoá và các tác nhân của quá trình
đô thị hóa như: sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, sự phát triển của nền kinh tế hay các hệ quả: hệ quả kinh tế xã hội (vấn đề dịch cư, cấu trúc xã hội, lao động, nghề nghiệp), hệ quả văn hoá xã hội (mức sống, lối sống
và nhu cầu giao tiếp), hệ quả không gian – môi trường (biến động trong cấu trúc quần cư và hệ thống quần cư)
Theo báo cáo Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam – Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật năm
2011 của Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã mô tả và đánh giá cụ thể về tình hình đô thị hóa tại các đô thị Việt Nam trong giai đoạn 1999 - 2009 Trong báo cáo đã khẳng định quá trình đô thị hóa xảy ra trong toàn bộ hệ thống đô thị của Việt Nam là sự chuyển đổi của năm yếu tố bao gồm quản lý hành chính, không gian, kinh tế, dân số và phúc lợi
(1) Sự chuyển đổi đầu tiên – chuyển đổi “hành chính” – liên quan đến những chính sách, thể chế và thực tiễn quản lý của Trung ương với đô thị hóa (như vấn đề liên quan chính sách phân cấp), chuyển đổi này có ảnh hưởng
rõ rệt đến bốn chuyển đổi còn lại
(2) Sự chuyển đổi ”không gian” nghĩa là đô thị hóa được xem xét từ khía cạnh không gian, và tập trung vào những thay đổi trong sử dụng đất khi
đô thị hóa diễn ra
(3) Sự thay đổi “kinh tế” đề cập đến tính chất và sự biến đổi trong các hoạt động kinh tế có vai trò dẫn dắt quá trình đô thị hóa, do đó, đây cũng thường là yếu tố thúc đẩy các chuyển đổi khác
(4) Sự chuyển đổi “dân số” đề cập đến những thay đổi kinh tế xã hội do những biến đổi về kinh tế và tổ chức không gian gây ra (và ngược lại) trong quá trình đô thị hóa
(5) Và cuối cùng, sự chuyển đổi “phúc lợi” – có tương quan mật thiết đến những thay đổi về kinh tế, không gian, hành chính và dân số – đề cập đến
Trang 28tiến trình đô thị hóa có cải thiện điều kiện sống cho người dân hay không, nhất là đối với những người ít được ưu tiên
Trong bài viết “Ứng dụng viễn thám và GIS giám sát đô thị hóa TP.HCM thể
hiện qua các mặt không thấm”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, số
14(1M), tác giả Trần Thị Vân (2012) tập trung báo cáo về việc sử dụng ứng dụng viễn thám và GIS giám sát đô thị hóa TP.HCM thể hiện qua các mặt không thấm với độ chính xác khá tốt trên 96% xuất phát từ việc lấy mẫu huấn luyện dựa trên
tỷ số kênh làm tăng khả năng phân biệt đối tượng cùng với việc phân loại có kiểm định kết hợp các nguồn thông tin GIS bổ trợ Cơ sở dữ liệu được sử dụng
để tiến hành thực hiện viễn thám bao gồm sự chuyển đổi từ bề mặt thấm (môi trường tự nhiên: cây xanh, mặt nước, mặt đất,… ) sang bề mặt không thấm (môi trường nhân tạo: công trình xây dựng, mái nhà, nhựa đường, bê tông,…) Sau
đó, tác giả dựa trên dữ liệu có được tiến hành phân tích sư phân bố không gian
đô thị TP.HCM qua các năm 1989, 1998, 2002 và 2006 Kết quả cho thấy rằng, trong vòng 17 năm từ năm 1989 đến năm 2006, TP.HCM phát triển mạnh theo hướng lan tỏa từ khu vực trung tâm và tập trung mở rộng ở khu vực phía Bắc thành phố, đặc biệt là dọc theo các trục lộ chính ở khu vực ngoại thành Theo đó,
tỷ lệ diện tích đất đô thị cũng tăng nhanh chóng, tính từ năm 1989 – 2006, trung bình mỗi năm diện tích đất đô thị tăng 2,337.04 ha Kết quả của nghiên cứu này
đã đánh giá được diễn biến quá trình đô thị hoá ở TP.HCM về mặt không gian
và thời gian giai đoạn 1989 – 2006 dựa trên nguồn dữ liệu ảnh lịch sử mà thực
tế không có phương pháp nào khác có thể thực hiện được Đồng thời, đây sẽ là
cơ sở hữu ích để phát triển các chiến lược phát triển bền vững và cải thiện cuộc sống đô thị cũng như giúp các nhà quản lý theo dõi biến động và ra quyết định Bàn về những ảnh hưởng của đô thị hóa đến những vấn đề văn hóa xã hội có
công trình nghiên cứu Văn hóa làng xã trước thách thức của đô thị hóa tại
TP.HCM của tác giả Tôn Nữ Quỳnh Trân (1999) Nghiên cứu giới thiệu toàn
cảnh động thái văn hóa làng xã truyền thống trong quá trình đô thị hóa tại TP.HCM, chú trọng đến vấn đề môi trường văn hóa trong chiến lược đô thị hóa
Sự chuyển đổi về văn hóa vật chất và văn hóa tính thần của cư dân ven đô dưới
Trang 29tác động của đô thị hóa được phân tích trên từng yếu tố cơ bản như: kiến trúc nhà cửa, trang phục, cưới hỏi, tang ma, đình chùa, lễ hội, văn học dân gian Cùng hướng nghiên cứu trên, tác giả Trần Quang Ánh (2007) đã thực hiện
Luận văn Thạc sỹ Văn hoá học với chủ đề Biến đổi của văn hoá truyền thống
trong quá trình đô thị hoá ở huyện Hóc Môn – TP.HCM Tác giả đưa ra những
cơ sở ban đầu về sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá tới sự biến đổi trong lĩnh vực văn hoá vật chất (môi trường, cảnh quan, giao thông, trang phục, ẩm thực), biến đổi trong lĩnh vực văn hoá tinh thần (sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, thay đổi trong phong tục tập quán, quan hệ cộng đồng và gia đình…) Tác giả khẳng định quá trình đô thị hoá đã làm mất đi những giá trị văn hoá truyền thống vốn
có tại địa phương và dẫn đến những hệ quả về mặt xã hội Trong luận văn này tác giả nhận định chính quá trình đô thị hoá làm cho cảnh quan sinh thái nông nghiệp - nông thôn huyện Hóc Môn mất dần đi cùng với sự gia giảm diện tích đất nông nghiệp
Tác giả Trương Hoàng Trương (2010) với luận án Đô thị hoá vùng ven –
Nghiên cứu sự biến đổi kinh tế - xã hội qua trường hợp xã Bà Điểm (Hóc Môn)
và Vĩnh Lộc A (Bình Chánh) Nghiên cứu này chỉ ra đặc trưng của hai khu vực
nghiên cứu trong quá trình đô thị hoá thông qua việc mô tả và lý giải các yếu tố biến đổi đời sống kinh tế, thay đổi nghề nghiệp, chuyển biến đất đai, chuyển đổi lối sống … để thấy được sự tác động mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá đến các khu vực vùng ven
Tác giả Lê Văn Năm (2005), với nghiên cứu “Thu hẹp dần khoảng cách mất
cân đối giữa tốc đô thị hoá với quá trình thị dân hoá của nông dân ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh” đưa ra một số nhận xét quá trình chuyển đổi hoạt động
kinh tế và trong sử dụng đất đai của người dân các vùng ngoại thành TP.HCM: thứ nhất là trong hoạt động kinh tế của vùng ngoại thành, sự chuyển dịch diễn ra mạnh mẽ cùng tiến trình đô thị hoá, vai trò của sản xuất nông nghiệp giảm đi và hoạt động kinh tế ngày một chuyển sang sản xuất công nghiệp- xây dựng- thương mại- dịch vụ- vận tải; thứ hai là do tốc đô thị hoá ngày càng nhanh diện tích sản xuất nông nghiệp mỗi năm một thu hẹp, tuy nhiên hướng chuyển dịch hướng đến
là giảm dần tỷ trọng cây trồng hiệu quả kinh tế thấp, tăng dần tỷ trọng ngành
Trang 30chăn nuôi, thuỷ sản và dịch vụ nông – lâm- ngư nghiệp; thứ ba là chuyển đổi trong sử dụng đất đai: đất nông nghiệp thành phố sụt giảm nhiều trong những năm qua và giảm chủ yếu là đất trồng cây hàng năm, ngược lại đất chuyên dùng
và đất khu dân cư tăng lên nhanh
Leaf, M (2008) nghiên cứu về “Những biên giới đô thị mới: Quá trình đô thị
hóa vùng ven đô và (tái) lãnh thổ hóa ở Đông Nam Á” Trong bài viết, tác giả
đề cập đến một số nội dung chính bao gồm: Vùng ven và đô thị hoá; Vùng ven
đô với tư cách là ranh giới đô thị ở Đông Nam Á; Bối cảnh vùng ven đô TP.HCM với tư cách là địa giới; Sự phát triển khu dân cư ở vùng ven đô TP.HCM; Sự phát triển công nghiệp ở vùng ven đô TP.HCM; Vùng ven đô TP.HCM với tư cách là địa giới hành chính Ở phần đầu tiên, tác giả đề cập đến những thuật ngữ cụ thể được dùng khi phân tích một tình huống có thể ảnh hưởng đến sự phát triển về mặt lý thuyết, cụ thể có thể nói đến như những thuật ngữ: ven đô, “sự đô thị hoá thế giới thứ ba”,… Kế đến, tác giả nêu ra đặc trưng cơ bản nhất của vùng ven đô tại các quốc gia Đông Nam Á đó chính là bản chất thay đồi không ngừng trong khung cảnh và đi sâu phân tích sự thay đổi trong vùng ven đô của TP.HCM để
có được khắc họa rõ nét hơn Trong đó, những yếu tố gây tác động và tạo sự thay đổi cho khu vực vùng ven đô TP.HCM là sự gia tăng của dân số nhập cư, lưu trú tại thành phố; các chính sách kinh tế - xã hội từ chính phủ; sự phân quyền và và phi chính thống hoá này là các quyền lợi về bất động sản Song song đó, bức tranh TP.HCM là sự phân tán của các quận nội thành cũ và sự lớn mạnh của các vùng ngoại ô, cư dân nội thành chuyển ra các vùng ngoại thành trở thành xu hướng phổ biến vì lý do thương mại và hỗ trợ cho sự chuyển dịch đó là sự hình thành của các khu dân cư ở vùng ven nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Tiếp theo đó là sự thay đổi bộ mặt từ các khu công nghiệp tại vùng ven và sự tái lãnh thổ hóa vùng ven đô TP.HCM Nhìn chung, bài viết này, tác giả đã tập trung phân tích quá trình đô thị hóa vùng ven dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau (hành chính, kinh tế, quy hoạch, chính sách, …) nhằm giúp người đọc có cái nhìn thật sâu sắc về vấn đề này của khu vực Đông Nam Á nói chung và TP.HCM nói riêng
Trang 31Phùng Anh Tiến (2010) với nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp về đô thị
hoá vùng ven đô TP.HCM từ sau đổi mới” đã phân tích tiến trình đô thị hóa ở
Việt Nam vào những năm 1975 đến nay khi trải qua nhiều công cuộc đổi mới của đất nước Trong đó, vùng ven đô TP.HCM là khu vực được nhấn mạnh trong bài bởi phạm vi rộng lớn, tỷ lệ dân sinh sống cao và là cơ sở vững chắc cho đô thị trong thời chiến lẫn thời bình nhờ vào vành đai xanh Đô thị hóa diễn ra gây nhiều ảnh hưởng đến khu vực ven đô vì đây chính là nơi trực tiếp chịu sự tác động của làn sóng di dân nông thôn - thành thị Về quá trình tập trung dân cư đô thị, ngoài bộ phận dân nhập cư từ nông thôn đến, ven đô còn là nơi giãn dân của nội thành Với chính sách chỉnh trang đô thị, giải phóng nhà ổ chuột, nhà trên kênh rạch, sự mọc lên của các khu công nghiệp cùng với vành đai xanh hiện có, vùng ven trở thành nơi tiếp nhận dân cư của cả nông thôn và đô thị Về cơ sở hạ tầng đô thị, sau giải phóng, đặc điểm chung của các quận ven đô là cơ sở hạ tầng nghèo nàn, yếu kém cộng hưởng cùng việc gia tăng dân số nhanh chóng đã khiến
cơ sở hạ tầng xuống cấp nhanh chóng; khi đất nước đổi mới, hầu hết các quận ven đô đều chăm lo đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông Với những điều kiện đó, các vùng ven đô nhanh chóng trở thành nội ô và các huyện ngoại thành chuyển thành vùng ven Về sự chuyển biến về tâm lý - lối sống của cư dân đô thị, trước những thay đổi về kinh tế - xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của người dân đô thị được nâng cao Tuy nhiên, tồn tại một bộ phận người dân vì nhận được tiền từ việc đền bù giải tỏa nên xuất hiện tâm lý ăn chơi, hưởng thụ, chạy đua theo mốt,… Trước những hiện trạng trên, tác giả đề xuất một số giải pháp như tăng cường giáo dục, hạn chế và quản lý tốt hơn đối với dân nhập cư, bảo vệ môi trường đô thị và đổi mới trong lĩnh vực quản lý nhà đất đô thị
Trịnh Duy Luân (2016), Một số chiều cạnh kinh tế-xã hội của vùng ven đô
trong quá trình đô thị hóa Trong bài viết trên, tác giả mở đầu bài tham luận bằng
việc lý giải thêm về định nghĩa của từ “vùng ven” từ đó kết luận rằng khu vực vùng ven đô không hề cố định, ổn định mà thường dịch chuyển ra phía ngoài, sau một thời kỳ đô thị hóa lan tỏa và “thôn tính” những vùng ven đô cũ Khi nghiên cứu về vùng ven, tác giả đưa ra các khía cạnh đáng lưu ý và cần được nghiên cứu về vùng ven đô từ góc độ xã hội hóa Về cơ cấu dân số và xã hội
Trang 32vùng ven, vùng ven được xem là khu vực chứa đựng nhiều bộ phận dân cư và ngày càng trở nên vô cùng phức tạp khi giữa những thành phần dân cư đó hình thành mối quan hệ xã hội với nhau Về chức năng sản xuất nông nghiệp, vùng ven đô được xem là khu vực liên kết đô thị - nông thôn, cung cấp vành đai xanh, thực phẩm,… cho đô thị Khi chưa bị tác động mạnh bởi quá trình đô thị hóa, đây là khu vực chuyên hoạt động và sản xuất nông nghiệp, thế nhưng, chức năng này đang bị đe dọa bởi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa bị đẩy nhanh Về lối sống pha trộn giữa đô thị và nông thôn, đó là sự pha trộn giữa nhóm dân cư
cũ (lối sống nông nghiệp) và nhóm dân cư mới (lối sống công nghiệp) làm cho bối cảnh xã hội trở nên “xô bồ” và khó định hình Về nhà ở và cơ sở hạ tầng, đó
là sự chuyển đổi hình thức sinh sống của nhóm dân cư cũ (từ nhà nhỏ đất rộng thành nhà cao tầng, đất hẹp) và xuất hiện rộng rãi hình thức cho thuê (dành cho dân nhập cư) Sự pha trộn đó khiến bộ mặt kiến trúc, cảnh quan của vùng ven trở nên chưa hợp lý, chưa đẹp mắt Về quản lý đô thị, những địa phương ở vùng ven
là những nơi thường xuất hiện tình trạng từ xã thành phường chỉ sau một quyết định hành chính Vì vậy, cán bộ tại chỗ chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm và
có thể chưa sẵn sàng để quản trị tốt một địa bàn với tất cả các quy định pháp lý, đặc biệt là đối với khu vực có nhiều sự pha trộn trong các thành phần kinh tế, xã hội Từ những vấn đề thiếu ổn định của vùng ven, tác giả cho rằng, thật sự quan trọng để nghiên cứu tất cả các chiều cạnh cụ thể cùng thực trạng phát triển của vùng ven đô trong động thái chung của quá trình đô thị hóa
Nguyễn Văn Đỉnh (2002), “Đô thị hóa và môi trường sống”, Tạp chí Kiến
trúc Việt Nam số 3, Hà Nội Liên hệ từ tổng quát để đến Việt Nam, nội dung bài báo nói về môi trường sống của con người bị biến đổi khi sống trong khu vực đô thị hóa Tác giả trình bày chi tiết về các nguồn tạo ra tác động xấu từ quá trình
đô thị hóa đến môi trường Trong đó, sự gia tăng đột biến số lượng xe cơ giới, xí nghiệp nhà máy và cả lượng lớn nước thải sinh hoạt, y tế và chất đốt để tạo ra sự
ô nhiễm của môi trường không khí và ô nhiễm tiếng ồn; TP.HCM là một ví dụ điển hình Đối với nước sinh hoạt tại các đô thị nước ta thì được cung cấp chủ yếu từ các nhà máy cũ và nguồn nước được cấp là nước ngầm và nước mặt đang
bị ô nhiễm nặng từ các nguồn chất thải Đồng thời, các nguồn chất thải này cũng
Trang 33gây ra tác động xấu đối với môi trường đất khi các chất thải rắn sinh hoạt và các chất thải từ các công trình ngấm vào đất, dần làm đất mất khả năng tự làm sạch của nó Các yếu tố này đã tạo ra nhiều ảnh hưởng xấu đên đời sống người dân, đặc biệt, gây ra các nguy cơ bệnh rối loạn thần kinh chức năng, bệnh về hô hấp, và ảnh hưởng trạng thái cảm xúc cảu con người Kế đó, dựa trên những kiến thức và tư liệu từ nước ngoài, tác giả đưa ra một số biện pháp cải thiện môi trường trong đô thị Các đô thị cần chú trọng hoàn thiện quy hoạch, kiến trúc xây dựng thành phố, tổ chức hợp lí các khu vực dân sinh và các khu công nghiệp Đồng thời, các nhà nước cần có trách nhiệm phân bố các loại đường, tuyến đường, quy định giờ và loại xe cơ giới lưu thông để tránh ảnh hưởng cuộc sống người dân ở khu vực xung quanh Cuối cùng, tác giả đề xuất biện pháp hợp lí nhất cho các đô thị ở Việt Nam là xây dựng các khu dân cư theo kiểu làng sinh thái vì đây là biện pháp khá đơn giản và ít tốn kém Tác giả nhấn mạnh môi trường sống tại các đô thị thật sự cần được quan tâm và cải thiện để đảm bảo sự
ổn định cho cuộc sống con người, vì vậy cần thực hiện những biện pháp trên một cách triệt để, đặc biệt là ở Hà Nội và TP.HCM
Lã Thu Thủy (2008), “Những biến đổi nhu cầu của cư dân ven đô trong quá
trình đô thị hóa”, Tạp chí Tâm lý học số 12, Hà Nội Bài viết phân tích thực
trạng nhu cầu của người dân sống khu vực ven đô trong quá trình đô thị hóa Cụ thể, tác giả phân tích sâu những biến đổi trong hệ thống nhu cầu của người dân ven đô Sự biến đổi nhu cầu được xem xét có mức độ đô thị hóa khác nhau là Yên Mỹ, Yên Sở, Mỹ Đình (Hà Nội) đại diện ba khu vực có quy mô đô thị hóa lần lượt là thấp, trung bình và cao Nhu cầu vật chất của người dân ven đô đã có
sự chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Sự chuyển biến về mặt chất lượng của nhu cầu thấy rõ ở các địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh hơn Đối với những biến đổi nhu cầu sử dụng đất, những nơi có tốc độ đô thị hóa nhanh thì nơi đó có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất cao Những nơi có tốc độ đô thị hóa chậm hơn thì vẫn giữ mục đích sử dụng đất truyền thống Mặt khác, đối với những biến đổi nhu cầu tinh thần, ngày càng xuất hiện nhiều nhu cầu mới cần được thỏa mãn như nhu cầu rèn luyện và chăm sóc sức khỏe, nhu cầu sinh hoạt cộng đồng,… Bên cạnh đó, nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng,
Trang 34nhiều người không muốn làm nông nghiệp, nhiều người có tư duy kinh tế, đầu
óc sản xuất,… nên nhu cầu chuyển đổi nghề nghiệp cũng tăng cao Đồng thời, nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng gia tăng và mang tính cá nhân Xu hướng chuyển sang sử dụng các dịch vụ xã hội không còn lạ đối với các gia đình nông thôn mà trước đây vốn vẫn quen nếp sống tự mình chăm lo gia đình Tóm lại, quá trình đô thị hóa đã ảnh hưởng mạnh đến sự biến đổi nhu cầu của người dân
ven đô
❖ Nghiên cứu về nhà ở, tổ chức không gian nhà ở trong đô thị
Bài viết “Sự tái cấu trúc trong không gian cư trú trong quá trình đô thị hóa ở
TP.HCM” của tác giả Phan An (1997), trong sách Môi trường nhân văn và đô
thị hóa tại Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản đề cập đến sự chuyển đổi từ làng
xóm thành đô thị trong tiến trình đô thị hóa cũng là sự tái tạo không gian cư trú của cộng đồng cư dân Làng xóm cũng là những cơ cấu liên quan sẽ bị xóa bỏ và thay vào đó là những phố thị, sự tái cấu trúc của không gian cư trú là nét rõ đầu tiên có thể nhận thấy trong đô thị hóa, đặc biệt tại TP.HCM Đặc điểm cư trú làng thôn vừa dựa trên địa vực, vừa dựa trên quan hệ huyết thống Những gia đình có quan hệ huyết thống và hôn nhân thường quay quanh nhau tạo nên những chòm xóm trong làng Tuy nhiên, kiểu cư trú đô thị lại tạo thành những dãy phố, những ô vuông nhà cửa, những khu nhà cao tầng và quan hệ của cư dân ở đây là quan hệ cùng địa vực, cùng đơn vị hành chính quy định của Nhà nước Về mặt không gian cư trú, làng thôn hoàn toàn khác hẳn với phố thị Rõ ràng khoảng không của mỗi cá nhân thành viên làng thôn rộng hơn so với đô thị Bởi đó không chỉ là không gian ở mà còn có cả ruộng đất và các hoạt động khác Còn ở đô thị khoảng không gian cư trú chủ yếu là để ở nên chật hẹp và lệ thuộc vào quy định pháp lý của Nhà nước Trong khoảng không gian cư trú của các thị dân ở đô thị, nghề nông sẽ hoàn toàn biến mất, thay vào đó là hoạt động kinh tế tập trung vào thương nghiệp dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp Bên cạnh đó, sự nhập cư của một
bộ phận dân cư khá lớn đã xóa mờ hoặc làm tan biến những quan hệ xã hội của làng xã và con người đô thị ngày càng trở nên cô lập trong những bức tường Tuy nhiên, ở một mặt khác thì đó cũng là dấu hiệu của sự phát triển Cuối cùng,
Trang 35vấn đề quan trọng nhất là việc tái cấu trúc không gian cư trú cần có sự tính toán, cân nhắc sao cho phù hợp để tái tạo một không gian cư trú văn minh và hiện đại, trong đó con người và thiên nhiên hòa hợp, cân bằng sinh thái và môi trường
Nghiên cứu của Trịnh Duy Luân (1998) về “Tác động kinh tế, xã hội của đổi
mới trong lĩnh vực nhà ở đô thị”, đã cho thấy tác động kinh tế xã hội của đổi
mới trên địa bàn đô thị và vấn đề nhà ở; động thái của quá trình sản xuất nhà ở
đô thị trong thời kỳ đổi mới; phát triển và hoàn thiện lĩnh vực nhà ở đô thị
Trong cuốn sách “Đô thị học - những vấn đề lý thuyết và thực tiễn” của Nguyễn Minh Hoà, có bài viết: Nhà ở trong đời sống tinh thần người Việt (tr
238) Tác giả cho rằng đối với người Việt Nam thì nhà ở là một trong những thứ được coi là quan trọng bậc nhất Ngoài chức năng trú ngụ, ngôi nhà còn có những chức năng văn hóa tinh thần Ngôi nhà không bao giống là một đơn vị ở cô lập
mà bao giờ cũng gắn với không gian giao tiếp Cũng trong cuốn sách này, bài
viết Những khuynh hướng mới về nhà ở tại TP.HCM (tr 263), tác giả chỉ ra rằng
có những nhân tố tác động đến nhà ở sau đổi mới bao gồm: Sự thay đổi đời sống kinh tế, thay đổi trong văn hóa, tiến bộ của kĩ thuật xây dựng mới và các loại vật liệu mới, sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài, các KTS và các tập đoàn kinh doanh xây dựng, ban hành nhiều chính sách mới liên quan đến nhà ở, hình thành thị trường địa ốc, có sự trợ giúp tài chính từ ngân hàng các nguồn vốn cho vay tín dụng Từ đó có những biểu hiện của sự thay đổi của nhà ở: hình thành các dãy phố của người giàu trong quá trình nâng cấp, hình thành những không gian sống có chất lượng cao, hình thành kiểu sống trong các chung cư cao cấp Luận văn Tiến sĩ Quy hoạch vùng và đô thị của tác giả Lê Xuân Hùng (2016)
về Tổ chức không gian gắn kết giữa khu đô thị mới và làng xóm đô thị hóa tại
thủ đô Hà Nội dựa trên những đặc trưng về không gian, mang tính pha trộn giữa
khu đô thị mới và các làng xóm đô thị hóa trong khu vực mở rộng của Hà Nội, tác giả chọn khu nội đô mở rộng, chuỗi đô thị phía Đông đường vành đai 4, và chuỗi đô thị phía Bắc sông Hồng làm đối tượng nghiên cứu với tầm nhìn đến năm 2050 Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp bản đồ, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích và tổng hợp dự báo, phương pháp chuyên gia và
Trang 36phương pháp thực chứng Với các phương pháp như trên, tác giả làm rõ sự tồn tại của những không gian mang tính gắn kết giữa khu đô thị mới và các làng xóm
đô thị hóa, bên cạnh đó đề xuất 3 nhóm giải pháp về tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, định hướng quản lý đô thị và thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng Trong đó đặc biệt chú trọng về nhóm giải pháp tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, điển hình như việc sử dụng chiến lược phát triển chung để phân
bố sử dụng đất đai, sử dụng mạng lưới giao thông khép kín với vận tốc di chuyển thấp, chỉnh trang và cải tạo cảnh quan, kiểm soát được các hoạt động xây dựng mới của khu vực Ngoài ra, tác giả đề xuất nâng cao vai trò của cộng đồng trong các quá trình lập quy hoạch và quản lý xây dựng đô thị, trong đó, cộng đồng đóng vai trò là chủ thể chính trong tạo lập không gian gắn kết
Nguyễn Đình Thi (2012) với nghiên cứu “Mô hình chuyển đổi không gian nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ dưới tác động của đô thị hóa” đã dựa trên đề tài nghiên cứu cùng tên của tác giả vào năm 2011 để nêu lên những biến đổi về nhà ở nông thôn của vùng đồng bằng Bắc Bộ dưới tác động của quá trình
đô thị hóa, nhằm đề xuất các giải pháp kiến trúc nhà ở nông thôn trong tương lai một cách đúng đắn, hiệu quả và phù hợp quá trình phát triển Tác giả nêu lên những nét đặc trưng về kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ (công năng, kết cấu, phương thức xây dựng, khuôn viên, hình thức kiến trúc) trải qua
4 giai đoạn phát triển: (1) Giai đoạn xã hội nguyên thủy; (2) Giai đoạn xã hội phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc trước 1954; (3) Giai đoạn hợp tác xã nông nghiệp tập trung từ 1954 đến 1986; (4) Giai đoạn từ 1986 đến nay Trong đó, quá trình phát triển mô hình kinh tế - xã hội nông thôn cũng đã làm biến đổi phương thức sản xuất chuyên canh nông nghiệp sang các phương thức sản xuất kinh tế khác như dịch vụ nông nghiệp, sản xuất thủ công, kinh doanh thương mại, chúng
là những yếu tố tác động đến kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc bộ Nhận diện được các biến đổi về kiến trúc nhà ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc
Bộ trong từng thời kì và các yếu tố tác động đến sự biến đổi, tác giả đưa ra một
số dự báo về sự thay đổi của nhà ở nông thôn trong tương lai bao gồm các loại: nhóm nhà ở gia đình lớn, nhà vườn, nhà ở dịch vụ thương mại kiểu nhà hàng phố, nhà ở liên kế có sân vườn và nhà ở tập thể Đồng thời, khi xây dựng nhà ở
Trang 37nông thôn, tác giả lưu ý cần chú ý đến một số yếu tố quan trọng như hướng nhà, lựa chọn vật liệu thân thiện với môi trường để tạo lập không gian ở; tạo các không gian trống trong nhà ở như sân trong, vườn, mặt nước; chú ý thông gió chiếu sáng tự nhiên để tiết kiệm năng lượng; tái tạo năng lượng tự nhiên
Bài viết “Chỉ số tụ cư (Agglomeration Index) trong quá trình nghiên cứu đô
thị hóa ở Việt Nam” của tác giả Phạm Đỗ Văn Trung (2011) đề cập đến chỉ số
tụ cư - một chỉ số được nghiên cứu và đề xuất bởi Hirotsugu Uchida và Andrew Nelson nhằm định lượng mức độ tập trung đô thị Điều này bắt nguồn từ nguyên nhân đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội đa chiều và do có nhiều quan niệm, định nghĩa về đô thị, đô thị hóa nên cách đánh giá, lượng hóa quá trình này gặp rất nhiều khó khăn và thiếu sự thống nhất Chỉ số này được tính trên cơ sở
tỷ lệ số dân đô thị so với tổng dân số của địa bàn nghiên cứu Cách tính toán chỉ
số và sử dụng dữ liệu được trình bày một cách chi tiết cùng với đó là xác định ngưỡng giá trị cho mỗi tiêu chí tính toán Bài viết cũng giới thiệu kết quả chỉ số
tụ cư và so sánh dữ liệu về tỷ lệ đô thị hóa đối với các khu vực trên trên thế giới Kết quả cho thấy có sự chênh lệch nhất định giữa hai cách tính Việc vận dụng chỉ số tụ cư vào nghiên cứu đô thị hóa ở Việt Nam được khuyến khích như là một nguồn tham khảo, đối chiếu bên cạnh việc dựa vào các chỉ số hiện hành đang
sử dụng Tác giả chỉ ra rằng các chỉ báo hiện nay không phản ánh thực tế, thậm chí có nhiều trường hợp sai lệch, thông thường quy mô của một đô thị không trùng khớp với những chỉ số tương ứng bên trong ranh giới hành chính của đô thị đó Một số lưu ý trong vận dụng chỉ số tụ cư này cũng được tác giả bàn luận thông qua việc cân nhắc lựa chọn và điều chỉnh các ngưỡng cho phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam để có những kết quả xác thực nhất
Luận án tiến sỹ Văn hóa học “Văn hóa ứng xử với thiên nhiên trong ngôi nhà
truyền thống của người Việt” của tác giả Võ Thị Thu Thủy (2012) đã nhận diện
những nét đặc trưng về văn hóa ứng xử của con người với thiên nhiên thể hiện trong không gian ở của người Việt ba miền Bắc Trung Nam
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước là cơ sở lý luận nhằm làm rõ các phân tích và đánh giá khi nghiên cứu về tác động của đô thị hóa đến một vấn
đề hoặc đối tượng trong đô thị Tác động của đô thị hóa đến không gian cư trú
Trang 38nhà ở vẫn còn là một nội dung chưa được phản ánh đầy đủ theo hướng tiếp cận
từ bên trong và bên ngoài nhà ở Chính vì vậy, luận văn kế thừa những đánh giá
về những yếu tố chuyển đổi trong quá trình đô thị hóa, đặc điểm của quá trình này, cơ sở lý luận về tổ chức không gian nhà ở để làm nền tảng cho nội dung nghiên cứu
1.2 Các khái niệm liên quan đến đề tài
Đề tài sử dụng các thuật ngữ và khái niệm sau:
1.2.1 Các khái niệm chính
❖ Tổ chức không gian cư trú hộ gia đình
• Không gian
Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa về không gian: “Không gian dùng
để chỉ sự cùng tồn tại và tính tách biệt của các sự vật với nhau, quảng tính, tính
có cấu trúc và trật tự phân bố của chúng” (Hội đồng Quốc gia, 2002, tr.522)
• Không gian cư trú
Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống
Không gian cư trú hộ gia đình nơi ở hợp pháp của gia đình, là phần không gian giới hạn bởi mảnh đất mà hộ gia đình đang sở hữu và sinh sống
Không gian cư trú hộ gia đình được chia thành hai không gian bao gồm không không bên trong nhà ở và không gian bên ngoài nhà ở
• Không gian bên trong nhà ở
Không gian bên trong nhà ở là phần giới hạn bởi công trình xây dựng là ngôi nhà, là nơi đáp ứng những nhu cầu cơ bản và quan trọng của mỗi thành viên trong gia đình Không gian bên trong nhà ở là không gian riêng tư của hộ gia đình đối với xã hội bên ngoài, không chỉ là nơi tránh mưa tránh nắng, bảo vệ các thành viên trong gia đình mà còn là nơi tạo ra chất lượng cuộc sống
• Không gian bên ngoài nhà ở
Trang 39Không gian bên ngoài nhà ở là không gian bên ngoài ngôi nhà nhưng vẫn nằm trong không gian cư trú của hộ gia đình, là không gian đệm chuyển từ không gian riêng tư của hộ gia đình với không gia cộng đồng xã hội
Tổ chức không gian cư trú hộ gia đình được giới hạn định nghĩa trong luận
văn này là việc bố trí, sắp xếp trên mặt phẳng các không gian chức năng của không gian bên trong và không gian bên ngoài nhà ở tại nơi ở - là nhà ở riêng lẻ, của hộ gia đình đang sinh sống
❖ Đô thị
Theo Luật Quy hoạch đô thị Việt Nam 30/2009/QH12: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành
phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”
❖ Đô thị hóa
Theo Hoàng Phê (2008) trong “Từ điển Tiếng Việt”, đô thị hoá được định nghĩa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị và làm nâng cao vai trò của đô thị với sự phát triển xã hội
Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc –UN 1995: “Đô thị hóa là quá trình chuyển đổi đất đai thành môi trường dân cư đô thị tập trung”
Theo Nurul Amin (1993)1, trong tác phẩm “ Đô thị hóa, Môi trường và chính
sách giải quyết con người” có đưa ra định nghĩa: đô thị hoá là sự mở rộng của
đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng dân số hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Hiểu một cách khác: Đô thị hoá là một quá trình vận động kinh tế-xã hội- văn hoá phức tạp Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực như cơ cấu kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất, phân bố dân cư, dân số, kết cấu nghề nghiệp, lối sống, văn hoá
1 Dẫn theo Bùi Văn Tuấn (2011), luận văn thạc sỹ Việt Nam học: Đô thị hoá những vấn đề kinh tế-xã hội vùng ven đô Hà Nội hiện nay (Trường hợp nghiên cứu xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội) Hà Nội Trang 26
Trang 40Theo Trịnh Duy Luân (2004), đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội lịch
sử mang tính quy luật, trên quy mô toàn cầu Khái quát hơn, đô thị hóa được xem
là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại Hay, đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư trong xã hội mà còn chuyển thể nhiều kiểu mẫu của đời sống xã hội
Theo Nguyễn Minh Hoà (2012), có thể hiểu khái niệm đô thị hoá dưới hai phương diện:
- Đó là quá trình chuyển đổi từ tam nông (nông nghiệp, nông thôn và nông dân) sang phi tam nông Tức là chuyển đổi hình thức cư trú truyền thống trở thành nơi cư trú mới có đời sống văn minh và quan trọng nhất ở đây
là sự chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp từ những người nông dân làm nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt) sang hoạt động phi nông nghiệp
- Đó là quá trình chuyển đổi liên tục ở những nơi vốn đã là đô thị rồi nhằm thay đổi diện mạo và chất lượng sống của người dân thành thị
Và cũng theo Nguyễn Minh Hoà (2012), có thể hiểu một cách khác đô thị hoá là tiến trình mở rộng không gian đô thị thu hẹp không gian nông thôn, làm cho nông dân thành thị dân, cơ cấu nghề nghiệp chuyển đổi theo hướng tăng công nghiệp - thương mại - dịch vụ và giảm nông nghiệp Trong phạm vi của đề tài này, tác giả chọn quan điểm đô thị hoá của PGS.TS Nguyễn Minh Hoà làm
cơ sở tiếp cận Bên cạnh đó đề tài sử dụng kết quả Báo cáo Đánh giá Đô thị hóa
ở Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2011, để phân tích quá trình đô thị hóa của khu vực nghiên cứu theo năm yếu tố chuyển đổi hành chính, dân số, kinh tế, không gian và phúc lợi xã hội
1.2.2 Các khái niệm khác liên quan
❖ Công trình xây dựng
Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước, phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế (theo QCVN 03:2012/BXD)
❖ Nhà (tòa nhà) – Nhà ở