1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh đối chiếu danh từ không đếm được tiếng anh và tiếng việt

146 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Đối Chiếu Danh Từ Không Đếm Được Tiếng Anh Và Tiếng Việt
Tác giả Trần Phan Hải Yến
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Bá Lân
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khía cạnh nghiên cứu về tập hợp, từ một số ví dụ về danh từ không đếm được chỉ những thứ cùng loại cực nhỏ thường xuất hiện cùng với nhau ví dụ: rice lúa gạo, salt muối, beans đậu,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TR ẦN PHAN HẢI YẾN

SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

LU ẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ng ữ học

Thành ph ố Hồ Chí Minh – năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trần Phan Hải Yến

Trang 3

LỜI CẢM ƠN



Xin chân thành cảm ơn TS Huỳnh Bá Lân đã tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành

luận văn

Xin cảm ơn các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bằng hữu đã động viên, giúp đỡ tôi

rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này

Trang 4

NP noun phrase (danh ngữ)

[U] uncountable noun (danh từ không đếm được)

Trang 5

MỤC LỤC



L ỜI CAM ĐOAN 1

L ỜI CẢM ƠN 2

DANH M ỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT 3

M ỤC LỤC 4

D ẪN NHẬP 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử vấn đề 11

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 11

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 15

3 Mục đích nghiên cứu 17

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17

5 Phương pháp nghiên cứu 17

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17

7 Bố cục của luận văn 18

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 19

1.1 Từ loại 19

1.2 Danh từ và tiêu chí phân chia danh từ thành các lớp con 22

1.2.1 Danh từ và tiêu chí phân loại danh từ trong tiếng Anh 23

1.2.2 Danh từ và tiêu chí phân loại danh từ trong tiếng Việt 27

1.3 Các kiểu ý nghĩa khái quát của danh từ, phạm trù đếm được và không đếm được 30

1.3.1 Hai kiểu ý nghĩa khái quát của danh từ: ý nghĩa đơn vị và ý nghĩa khối… 30

1.3.2 Phạm trù đếm được và phạm trù không đếm được 32

1.4 Khái niệm danh từ đếm được và danh từ không đếm được 36

Tiểu kết ……….…39

Trang 6

Chương 2: DANH TỪ KHÔNG ĐẾM ĐƯỢC TRONG TIẾNG ANH VÀ

TI ẾNG VIỆT 41

2.1 Danh từ không đếm được trong tiếng Anh 41

2.1.1 Sơ lược về danh từ không đếm được trong tiếng Anh 41

2.1.2.Các tiểu loại của danh từ không đếm được trong tiếng Anh 44

2.1.2.1 Danh từ không đếm được phân loại theo ngữ nghĩa 44

2.1.2.2 Các danh từ không đếm được phân loại theo hình thức 47

2.1.3 Các trường hợp chuyển tiểu loại của danh từ tiếng Anh 50

2.1.3.1 Chuyển đổi từ danh từ không đếm được sang danh từ đếm được 50

2.1.3.2 Chuyển đổi từ danh từ đếm được sang danh từ không đếm được

53

2.1.4 Đặc điểm ngữ pháp của danh từ không đếm được tiếng Anh 54

2.1.4.1 Khả năng kết hợp của danh từ không đếm được và các đơn vị từ vựng khác ……….……… …… 54

2.1.4.2 Sự phù hợp giữa chủ từ - động từ trong câu 68

2.1.4.3 Không được thay thế bằng đại từ “one” 68

2.1.4.4 Danh từ không đếm được dùng để bổ nghĩa cho một danh từ khác 69

2.1.5 Lượng hóa danh từ không đếm được tiếng Anh 69

2.2 Danh từ không đếm được trong tiếng Việt 73

2.2.1 Sơ lược về danh từ không đếm được trong tiếng Việt 73

2.2.2 Các tiểu loại của danh từ không đếm được trong tiếng Việt 76

2.2.3 Hiện tượng chuyển tiểu loại của danh từ không đếm được tiếng Việt ……… 76

2.2.3.1 Một số danh từ không đếm được được dùng như danh từ đếm được, chỉ đơn vị 76

2.2.3.2 Một số danh từ không đếm được trong những ngữ cảnh cụ thể có thể dùng như một vị từ 78

2.2.3.3 Danh từ không đếm được chỉ quan hệ dùng để xưng hô 79

2.2.4 Đặc điểm ngữ pháp của danh từ không đếm được tiếng Việt 79

Trang 7

2.2.4.1 Khả năng kết hợp của danh từ không đếm được và các đơn vị từ

vựng khác 79

2.2.4.2 Định ngữ của danh từ không đếm được 91

2.2.4.3 Danh từ không đếm được làm định ngữ 93

2.2.4.4 Khả năng tự làm thành một ngữ của danh từ không đếm được

94

2.2.4.5 Danh từ không đếm được không thể làm được “đề đối chiếu” (“Đề tương phản”) trong những cấu trúc “Đ thì T1, Đ thì T2” 94

2.2.4.6 Danh từ không đếm được và các động từ mang ý nghĩa phân chia 95

2.2.4.7 Tính xác định của cái được nói đến trong danh từ 96

Tiểu kết 97

Chương 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA DANH T Ừ KHÔNG ĐẾM ĐƯỢC TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 99

3.1 Những điểm tương đồng 99

3.1.1 Không có hình thức số nhiều, cũng như kết hợp với số từ để chỉ số nhiều 99

3.1.2 Trong một danh ngữ, danh từ không đếm được không đi kèm với các lượng từ/mạo từ chỉ cá thể riêng biệt 101

3.1.3 Có sự kết hợp với các từ chỉ đơn vị (danh từ đơn vị) ở tiếng Việt và trích phân (partritive) ở tiếng Anh 102

3.1.4 Có sự chuyển đổi các dùng từ danh từ không đếm được sang danh từ đếm được 104

3.1.5 Có sự chuyển loại, danh từ không đếm được có thể dùng như một vị từ (động từ) 105

3.1.6 Khả năng tự làm thành ngữ của danh từ không đếm được 105

3.2 Những điểm khác biệt 106

3.2.1 Về ý nghĩa biểu đạt của danh từ 106

3.2.2 Về khả năng đếm được hay không đếm được của danh từ 108

Trang 8

3.2.3 Về khả năng kết hợp giữa danh từ không đếm được và các đơn vị từ

vựng khác 108

3.2.4 Về phạm trù số của danh từ không đếm được 110

3.2.5 Về việc chuyển đổi qua lại về tính đếm được của danh từ 110

3.2.6 Về dạng lặp của danh từ 112

3.3 Giả thuyết về nguyên nhân của những sự giống và khác nhau 112

3.3.1 Sự khác nhau về mặt loại hình học 112

3.3.2 Ngữ nghĩa của tính đếm được 113

Tiểu kết ……… 119

K ẾT LUẬN 121

DANH M ỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

PH Ụ LỤC 131

Trang 9

D ẪN NHẬP



1 Lý do chọn đề tài

Trong ngôn ngữ, từ là đơn vị cơ bản, trong đó danh từ là một trong những từ

loại quan trọng trong hệ thống các từ loại của một ngôn ngữ nói chung và của tiếng

Việt nói riêng Nó không chỉ chiếm một số lượng rất lớn trong hệ thống từ vựng mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu ngữ pháp, là thành tố giữ vai trò quyết định đối với tổ chức câu Đặc biệt, trong mối quan hệ với động từ, danh từ đã cùng

với động từ tạo nên một đối lập quan trọng nhất của ngữ pháp, quay quanh trục này là các vấn đề của cả từ pháp lẫn cú pháp, chẳng hạn các vấn đề về phạm trù ngữ pháp,

cấu trúc ngữ đoạn, biểu đạt mệnh đề, chức năng thành phần câu

Việc phân định tiểu loại của danh từ khá đa dạng và phức tạp do trong nội bộ danh từ, sự biểu hiện các đặc trưng phân loại thường đan chéo vào nhau, thiếu rành

mạch dứt khoát giữa các lớp con trên cả ba mặt: ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức năng cú pháp Dựa trên các các phạm trù khác nhau có thể phân chia danh từ thành các tiểu loại, trong đó phải kể tới các cặp đối lập:

- danh từ cụ thể và danh từ có khái niệm trừu tượng,

- danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp,

- danh từ chỉ vật hữu sinh và danh từ chỉ vật vô sinh,

- danh từ chỉ người và danh từ không chỉ người,

- danh từ đếm được và danh từ không đếm được,

- danh từ đơn vị và danh từ khối

Tuy nhiên, có thể thấy rằng nếu như các tiêu chí phân loại danh từ khi phân định thành các lớp con, xét về tính cụ thể hay trừu tượng, hữu sinh hay vô sinh, chỉ người hay không chỉ người, tổng hợp hay không tổng hợp có thể dễ dàng phân định

và gần như giống nhau ở các ngôn ngữ thì khái niệm đếm được (countability) hay không đếm được (uncountability) lại có chút mơ hồ, gây rắc rối cho ngay cả người

bản xứ lẫn người học ngoại ngữ

Những ngôn ngữ khác nhau nhận định về khả năng đếm được của danh từ khác nhau, vì thế nên trong khi information là một danh không đếm được ở tiếng Anh

Trang 10

thì lại đếm được ở ngôn ngữ khác (ví dụ ở ngôn ngữ Slovak: số ít informácia, số

nhiều informácie) Một số từ tiếng Anh không đếm được nhưng lại đếm được ở các

ngôn ngữ khác: applause (tiếng vỗ tay), anger (sự giận dữ), chaos (sự hỗn loạn),

chess (c ờ vua), conduct (cách xử sự), courage (lòng dũng cảm), dancing (sự khiêu vũ), education (sự giáo dục), harm (sự tổn hại), hospitality (lòng hiếu khách), leisure (th ời gian rãnh rỗi), melancholy (sự trầm cảm), moonlight (ánh trăng), parking (sự đậu xe), photography (nhiếp ảnh), poetry (thi ca), publicity (nghề quảng cáo), resistance (s ự chống đối/sức đề kháng), safety (sự an toàn), shopping (sự mua sắm), smoking (s ự hút thuốc), violence (bạo lực), weather (thời tiết), (theo Quirk, 1984)

[54; tr.252]

Những khó khăn của học viên nước ngoài liên quan đến phạm trù số của danh

từ trong tiếng Anh chủ yếu bao gồm số đơn, số phức, đếm được và không đếm được Tuy nhiên, dù có sự hỗ trợ của từ điển khi hầu hết các danh từ đều được gắn nhãn [C]

và [U] (đếm được và không đếm được), việc học và nhớ để sử dụng đúng danh từ đếm được và không đếm được vẫn gặp phải một số khó khăn nhất định, đặc biệt là khi không có từ điển bên cạnh Bên cạnh đó, diễn tả số lượng là cái gì đó phổ biến ở

mọi ngôn ngữ Trong cuộc sống hằng ngày, nhu cầu đếm và biểu thị số lượng là một

vấn đề thiết yếu nhưng vấn đề này lại khá phức tạp và khác nhau ở những ngôn ngữ khác nhau, đặc biệt khi nó có liên quan mật thiết đến vấn đề về số và khả năng đếm được của danh từ Nếu như người bản ngữ theo bản năng và thói quen có thể dễ dàng nói một câu khá chuẩn và đủ nghĩa bằng ngôn ngữ của họ, người học ngoại ngữ trong trường hợp này lại gặp phiền phức tương đối lớn Chẳng hạn như người Việt có thể nói:

(1) Hãy để tôi cho cậu một lời khuyên 1

Ta thấy rằng trong khi người Việt nhận định lời khuyên là một danh từ có tính

đếm được, có thể trực tiếp đặt sau số “một”, cho nên trong hầu hết trường hợp khi chuyển dịch sang tiếng Anh, nếu như không dùng từ điển thì người Việt rất dễ mắc

lỗi khi “đếm” lời khuyên trong tiếng Anh:

1 Khi s ử dụng công cụ tìm kiếm Google với từ khóa “một lời khuyên” cho ra khoảng 1370000 kết quả trong vòng 0,44 giây

Trang 11

*Let me give you an advice (câu sai)

Trong khi đó “advice” trong tiếng Anh là một danh từ không đếm được (uncountable noun) và cùng thể hiện ý của câu trên, người bản ngữ dùng:

(1) Let me give you some advice (câu đúng)

Hoặc:

(2) Let me give you a piece of advice (câu đúng)

Trong quá trình học tập, người Việt cũng tỏ ra rất ngạc nhiên và thích thú khi

biết rằng trong cùng một trường từ vựng, khả năng đếm được của danh từ là không như nhau Lấy ví dụ như “rau củ quả” và “trái cây” trong tiếng Anh và tiếng Việt:

Nếu như trước đó khi giảng giải cho học viên về danh từ không đếm được là loại danh từ không thể trực tiếp đứng sau số từ, phải đính kèm với một đơn vị đếm thì

mặc nhiên các học viên đều nghĩ: không thể nói “một rau củ quả” cũng như “một trái cây”, do đó hai danh từ “vegetable” và “fruit” đều là danh từ không đếm được cho đến khi được giáo viên cho biết “vegetable” là danh từ đếm được, có hình thức số nhiều là “vegetables” thì họ thật sự hoang mang Sự phức tạp trong khái niệm đếm được và không đếm được của danh từ được thể hiện khá rõ ràng trong ví dụ sau đây:

- I love this health food store Everything is so fresh!

(Tôi thích cửa hàng thực phẩm dinh dưỡng này Mọi thứ đều rất tươi!)

- Do you eat much fruit? (Cô có ăn nhiều trái cây không?)

- Yeah, and I eat a lot of nuts They’re great for protein

(Vâng, tôi ăn rất nhiều quả hạch Chúng rất giàu vitamin.)

- I never eat nuts I eat meat for protein

(Tôi không bao giờ ăn quả hạch Tôi ăn thịt để bổ sung protein.)

- Really? I don’t eat much meat These vegetables look fantastic

(Thế à? Tôi không ăn nhiều thịt Những rau cải này trông ngon quá.)

- I don’t eat a lot of vegetables (Tôi không ăn nhiều rau cải.)

- Well, I have everything I need How about a coffee?

(À, tôi đã có đủ mọi thứ mình cần rồi Thế nào, cà phê nhé?)

- Coffee and cake sounds perfect!

(Cà phê và bánh ngọt nghe thật là hoàn hảo.)

(Speak now 1, Richards and Bohlke, Oxford university press, tr.62)

Trang 12

Ngoài ví dụ về “fruit” và “vegetable” được trình bày ở trên, ta thấy rằng cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, “coffee” (cà phê) là danh từ không đếm được, không đi

kèm với mạo từ/số từ như “a/an, một, hai, ”, thế nhưng trong văn cảnh trên, có một

sự chuyển dịch về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa khi sử dụng danh từ không đếm được Điều này khiến cho người học tiếng khá là hoang mang và dễ dàng dùng sai

Rõ ràng khả năng chuyển dịch “một đối một” giữa các ngôn ngữ với nhau là điều không thể xảy ra, do đó, việc làm quen và ghi nhớ khả năng đếm được hay không của một danh từ là vấn đề hết sức phức tạp, dường như là không có nguyên tắc

Thực tế cho thấy rằng trong việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ hiện nay, đặc biệt là tiếng Anh, sự khó khăn trong việc xác định khả năng đếm được hay không của danh từ là không thể tránh khỏi do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ Điều này đã ảnh hưởng đến khả năng ghi nhớ, vận dụng từ ngữ, cấu trúc cú pháp và gây nhiều khó khăn cho cả người học lẫn người giảng dạy ngoại ngữ Học viên người Việt học tiếng Anh hay học viên người nước ngoài sử dụng tiếng Anh học tiếng Việt cũng gặp

những khó khăn tương tự đối với vấn đề danh từ đếm được trong hai ngôn ngữ này Hơn nữa, việc phân định danh từ tiếng Việt thành hai tiểu loại danh từ đếm được và danh từ không đếm được cũng là một vấn đề còn tương đối mới trong Việt ngữ học

Vì vậy, để góp phần tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi chọn So sánh đối chiếu danh từ

không đếm được tiếng Anh và tiếng Việt làm đề tài nghiên cứu.

2 Lịch sử vấn đề

Trong quá trình triển khai phân tích đánh giá ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học

đã sớm chú ý đến đặc điểm và tầm ảnh hưởng của tính đếm được trong việc nghiên

cứu từ loại danh từ

2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo Gillon (1992), danh từ đếm được và danh từ không đếm được trong tiếng Anh lần đầu tiên được thảo luận trong “The second volume of Jespersen’s 1909 work”

[49; tr.2] Kể từ đó, sự khác biệt này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc mô tả đặc điểm của danh từ trong tiếng Anh cũng như trong việc so sánh danh từ tiếng Anh

với những ngôn ngữ khác

Một trong những công trình nghiên cứu sớm nhất là vào những năm 1930 với

Palmer's Grammar of English Words, tiếp theo là khi Later, Hornby (1965) sử dụng

Trang 13

kí hiệu [C] và [U] để chỉ về danh từ đếm được và danh từ không đếm được trong

Idio-matic and Syntactic English Dictionary [49; tr.2] Tuy nhiên, việc sử dụng từ điển có đánh dấu [C] và [U] cũng không đem lại kết quả khả quan cho người học, hơn

nữa những nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng cũng đã tiết lộ

những khó khăn hiển nhiên mà học viên nước ngoài gặp phải đối với các loại lỗi khác nhau phát sinh từ các quan niệm sai lầm về khả năng đếm được của danh từ, bao gồm

cả việc sử dụng sai về từ vựng, từ chỉ lượng, hòa hợp giữa chủ ngữ và động từ, (Swan, Smith 1987; Sinclair 1991; Robertson 2000; Milton 2001; Chuang 2005,…) [49; tr.3]

Trong công trình của mình về phổ quát ngôn ngữ, Greenberg đã thảo luận về

sự khác biệt giữa khả năng không đếm được và đếm được (mass/noun distinction)

xuất hiện trong một số ngôn ngữ, kể cả trong ngôn ngữ đó có sử dụng loại từ (classifiers) [52; tr.22] và lưu ý rằng sự phân biệt giữa mass/count của danh từ dẫn tới

sự kết hợp khác nhau của nó với các từ loại khác như loại từ, mạo từ Như vậy, có thể

thấy rằng, có thể dựa trên tiêu chí mass/count để phân loại danh từ thành các lớp con khác nhau về tính đếm được hay không đếm được

Vào đầu những năm 1980, Azar (1981) và Quirk (1985) trong các công trình nghiên cứu của mình về ngữ pháp tiếng Anh đã liệt kê danh sách các từ hạn định (determiner) đi kèm với danh từ đếm được và danh từ không đếm được như a/an, the, few, many, several, some,…đồng thời đề cập đến sự hòa hợp giữa chủ từ và hai dạng danh từ [58; tr.10]

Khả năng đếm được hay không đếm được trong tiếng Anh được phân biệt thông qua nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như: vật thể/chất (objects/substance),

sự kiện tinh thần (mental events), tiếng động (sounds), và tập hợp (aggregates) Trong khía cạnh nghiên cứu về tập hợp, từ một số ví dụ về danh từ không đếm được chỉ

những thứ cùng loại cực nhỏ thường xuất hiện cùng với nhau (ví dụ: rice (lúa gạo), salt (muối), beans (đậu), và popcorn (bắp rang); Wierzbicka (1988) đã phát triển một

giả thuyết dự đoán rằng sự cảm giác về tính đếm được hay không đếm được của danh

từ có liên quan đến sự nhận thức (perceptibility) của con người, trong đó khi người nói nhận định các thứ có thể phân biệt hay không phân biệt với các phần tử còn lại

Trang 14

(individuated things/non-individuated things) là danh từ đếm được (count nouns) hay danh từ khối/không đếm được (mass/uncount nouns) [47]

Giả thuyết trên được mô tả như sau:

(Khoảng cách: gần nhau)

People do not usually interact with separate elements

(Con người thường không tương tác với các phần tử riêng biệt.)

rice (lúa gạo) sand (cát) sugar (đường)

noodles (mì)

peas (đậu Hà Lan)

beans (đậu)

Lấy một ví dụ về gạo (rice) và đậu (peas): Về kích thước của mỗi phần tử, một

hạt đậu có kích thước lớn hơn một hạt gạo Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người thường ăn cơm khi nó được nấu chín và thấy mỗi phần tử dính với nhau, trong khi mọi người lại thường nhìn thấy mỗi phần tử của đậu tách rời nhau cho dù đó là

sống hoặc nấu chín, đó là lý do gạo (rice) là danh từ không đếm được (mass nouns) còn đậu (peas) là danh từ đếm được (count nouns)

Theo Gillon trong “The lexical semantics of English count and mass nouns”

(1992), sự chuyển dịch từ danh từ đếm được sang danh từ không đếm được trong khi

sử dụng tiếng Anh cơ bản gồm có:

- từ danh từ chỉ một vật thể thành danh từ không đếm được (universal grinder)

Trang 15

Ví dụ: Be careful not to let any bits of table get mixed in with the sand (Hãy cẩn thận

đừng để những bộ phận của bàn bị trộn lẫn với cát.)

- từ danh từ không đếm được thành danh từ đếm được, chủ yếu là nói về thực

phẩm (serving size)

Ví dụ: We’d like two colas and one beer (Chúng tôi muốn hai cô-ca và một bia.)

- từ danh từ không đếm được sang danh từ đếm được khi dùng để chỉ loại trong tự nhiên (natural kinds)

Ví dụ: I need a steel that will not rust (Tôi cần thép không gỉ.)

Việc tiến hành so sánh đối chiếu về danh từ đếm được và danh từ không đếm được giữa tiếng Anh và các ngôn ngữ khác nhằm tìm ra điểm giống và khác nhau

giữa các ngôn ngữ cũng được giới ngôn ngữ học quan tâm, trong đó phải kể đến nhiều luận văn, luận án, bài báo được công bố (so sánh giữa tiếng Anh và tiếng Đức,

Hà Lan, Trung Quốc, Lithuania, Trung Quốc, Nhật Bản,…) cùng nhiều bài báo, bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí hay trang web Đặc biệt, việc so sánh khả năng đếm được của danh từ của hai ngôn ngữ khác biệt về mặt loại hình như tiếng Anh và

tiếng Trung Quốc cũng đã thu hút sự chú ý của giới ngôn ngữ học (Chang 1987; Milton 2001; Gui and Yang 2003; Chuang 2005; Tang 2006,…) [49, tr.3] Trong số

đó, năm 2010, Mei Xue trong bài báo “Countable or Uncountable? That is the

Question — Lexicographic Solutions to Nominal Countability in Learner's Dictionaries for Production Purposes” đăng trên một tạp chí online có nhắc tới

những khó khăn và các lỗi cơ bản của học viên Trung Quốc khi tiếp cận với các vấn

đề về “tính đếm được” của danh từ, theo tác giả, nhằm khắc phục các lỗi khi sử dụng hai loại danh từ này, học viên Trung Quốc cần nắm được các thông tin sau:

- mạo từ và lượng từ đi trước danh từ,

- hình thức số nhiều của danh từ đếm được,

- danh từ vừa được sử dụng như danh từ đếm được vừa được dùng như danh từ không đếm được,

- các cách dùng đặc biệt của hình thức số ít và số nhiều của danh từ,

- sự hòa hợp giữa danh từ làm chủ từ và động từ trong câu,

- tính đếm được của từ/nghĩa mới

Trang 16

Đồng thời tác giả cũng nhận định rằng các thông tin cần thiết trên bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ mẹ đẻ của học viên nước ngoài và văn hóa của họ bởi vì học viên nước ngoài đến từ các quốc gia khác nhau với những nền văn hóa khác nhau sẽ

có những khó khăn chung và riêng khi tiếp cận đến vấn đề này Với cùng loại hình ngôn ngữ như tiếng Trung Quốc, không thể không thừa nhận rằng học viên người

Việt học tiếng Anh cũng gặp phải những khó khăn tương tự khi tiếp cận vấn đề này

2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ được chú ý từ cuối

những năm 1980, đặc biệt, việc so sánh đối chiếu tiếng Anh và tiếng Việt cũng được

tiến hành từ sớm, trong đó có nhiều luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ tập trung nghiên cứu về các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa của hai ngôn ngữ

Đặc biệt, từ những năm 1980 và 1990, trong các tiêu chí phân loại danh từ

tiếng Việt, hai tiêu chí đếm được và không đếm được được các nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thị Ly Kha,… được sử

dụng thường xuyên và phổ biến hơn cả

Nguyễn Tài Cẩn, trong Từ loại danh từ trong Tiếng Việt hiện đại (1975), giáo trình Ng ữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ (1981), khi phân tích các

thành tố trong danh ngữ tiếng Việt đã tiến hành phân loại danh từ trong tiếng Việt thành một số tiểu loại nhỏ, đối lập với nhau về một tiêu chí này hay một tiêu chí khác Trong đó, tiêu chí đánh giá về tính đếm được của danh từ được ông ưu ái xếp thứ hai Theo quan điểm của mình, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng có sự đối lập giữa danh từ trực

tiếp và không trực tiếp đếm được Đây là phân loại căn cứ vào khả năng kết hợp với

từ chỉ số lượng Trong tiếng Việt, những danh từ nào, khi đếm, bắt buộc phải kết hợp

trực tiếp với từ chỉ số lượng thì được xếp vào loại trực tiếp đếm được; những danh từ nào, khi đếm, hoặc bắt buộc, hoặc có thể thêm vào một từ chỉ đơn vị vào sau từ chỉ số lượng thì được xếp vào loại không trực tiếp đếm được Nguyễn Tài Cẩn đồng thời cũng đưa ra một số ví dụ minh họa cho vấn đề này:

- Danh t ừ trực tiếp đếm được: (một) tỉnh, (một) huyện, (một) cân, (một) hào,

(một) tạ, (một) thước, (một) đấu, (một) lít, (một) đồng, (một) giờ, (một) phút

- Danh t ừ không trực tiếp đếm được: (một người) sinh viên, (một cuốn) sách,

(một con) chim, (một nền) luân lý, (một ca) nước, (một cân) muối, (một chai) dầu

Trang 17

Trong phân tích của mình, Nguyễn Tài cẩn đã chỉ ra rằng trong danh ngữ tiếng

Việt, ở vị trí T2 bao giờ cũng là danh từ không trực tiếp đếm được (ở vị trí T1 thì bao

giờ cũng là danh từ trực tiếp đếm được) [4, tr.216]

Cao Xuân Hạo, trong bài viết “ Hai loại danh từ của tiếng Việt” [17, tr.265],

đã sử dụng tiêu chí “đếm được” làm cơ sở phân loại danh từ trong tiếng Việt để xem

thử sự khu biệt giữa hai nhóm đếm được và không đếm được có đi đôi với những sự

khu biệt nào nữa về đặc điểm ngữ pháp của hai nhóm từ này hay không Trong phần

kết luận của mình, Cao Xuân Hạo đã khẳng định rằng ngữ pháp của danh từ và của danh ngữ tiếng Việt chủ yếu là ngữ pháp của tính đếm được và không đếm được Tiêu chí này đi đôi với đối tượng biểu thị khác nhau – hình thức phân lập và chất liệu – của mỗi loại danh từ

Cùng liên quan đến vấn đề này, Cao Xuân Hạo trong “Sự phân biệt đơn vị/

kh ối lượng trong tiếng Việt và khái niệm loại từ” (1988) đã dùng tiêu chí [±ĐĐ] để

trả về cho cái vẫn bị gọi là loại từ đúng cương vị chính đáng của nó là danh từ đồng

thời chia danh từ tiếng Việt thành hai loại là danh từ đơn vị (đếm được) và danh từ

khối (không đếm được) Trong đó, danh từ đơn vị (đếm được) là loại danh từ chỉ

những hình thức tồn tại của các thực thể phân lập trong không gian, trong thời gian hay trong một chiều nào khác được hình dung giống với không gian, có thể được tri giác tách ra khỏi bối cảnh và khỏi các thực thể khác, kể cả các thực thể cùng tên Đó chính là loại danh từ có thể được lượng hóa bằng một lượng ngữ Chẳng hạn như: bên,

bó, cái, con, dãy, kí, khẩu, phía, thước, viên, xâu, yến,…Ngược lại với danh từ đơn vị, danh từ khối (không đếm được) là loại danh từ chỉ một tập hợp những thuộc tính khiến sự vật được biểu thị phân biệt với các sự vật được các danh từ khối khác biểu

thị Nói một cách dễ hiểu hơn, danh từ khối là loại danh từ không thể được lượng hóa

bằng một lượng ngữ, tức là không thể đặt một lượng ngữ liền ngay trước nó Chẳng

hạn: bò, cá, cam, da, đất, đường, sách, vở, … [17; tr.83]

Kế thừa các công trình nghiên cứu trước, trong Ngữ pháp tiếng Việt (2013),

hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung dựa trên sự thể hiện và phân bố

khả năng kết hợp và chức chức năng cú pháp đã tách lớp danh từ chung thành danh từ không đếm được và danh từ đếm được Trong đó, danh từ không đếm được là lớp danh từ bao gồm danh từ tổng hợp và nhóm danh từ chỉ chất thể (trong lớp danh từ

Trang 18

không tổng hợp) Các danh từ này không có khả năng kết hợp trực tiếp với số từ Chúng có thể dùng với số từ, thông qua danh từ chỉ loại hay chỉ đơn vị thích hợp: “Số

từ + danh từ chỉ loại hay chỉ đơn vị + danh từ không đếm được” [1, tr.96]

Đề tài so sánh giữa danh từ không đếm được của tiếng Việt và các thứ tiếng khác từ đó cũng thu hút sự chú ý của các nhà ngôn ngữ học, nghiên cứu sinh như

Nguyễn Thị Ly Kha Trong luận án Tiến sĩ Ngữ Văn “Danh từ khối trong tiếng Việt

hi ện đại (so sánh với tiếng Hán hiện đại)” (2001), Nguyễn Thị Ly Kha nhận định

trong tiếng Việt, bản thân danh từ khối tồn tại sự đối lập về tính đếm được hay không đếm được, tức nghĩa có những danh từ khối [+đếm được] và danh từ khối [-đếm được] Trong đó, những danh từ khối [+đếm được] tuyệt đại bộ phận là từ Hán Việt

đa tiết, chỉ người, chỉ khái niệm trừu tượng Ngược lại, trong tiếng Hán không có sự đối lập như vậy Tác giả đồng thời cũng chỉ ra rằng đối với nhóm danh từ khối chỉ động thực vật và chất liệu thuộc vốn từ Hán Việt cũng như vốn từ của tiếng Hán hiện đại cần phải được xử lí bằng tái độ ngữ pháp như nhau, nghĩa là bắt buộc phải có Danh từ đơn vị đứng trước, cụ thể :

Danh từ khối Hán Việt

Ba con h ổ

Hai cây trúc

M ột giọt thủy ngân

Danh từ khối tiếng Hán hiện đại

Tam chích lão h ổ (ba con hổ) Lưỡng khỏa trúc (hai cây trúc)

Nh ất lõa thủy ngân (một giọt thủy ngân)

Theo đó, “những danh từ khối của tiếng Hán hiện đại có nghĩa tương đương

với danh từ khối Hán Việt chỉ người, chỉ vật dụng hoặc phần lớn danh từ khối chỉ khái niệm trừu tượng đều là danh từ khối [-đếm được], nghĩa là khi xuất hiện trong danh ngữ có số đếm thì phải có danh từ đơn vị, nhất là trong văn viết”

Ngoài ra, tác giả đã chú trọng vào việc sử dụng hai tiêu chí đếm được và đơn

vị để làm nổi bật những đối lập ngữ pháp giữa các tiểu loại danh từ Căn cứ trên tiêu chí đếm được, kế thừa những lý luận của Cao Xuân Hạo khi phân tích sự đối lập của hai loại danh từ tiếng Việt: danh từ đơn vị (tương đương với danh từ đếm được, count nouns) và danh từ khối (danh từ không đếm được, mass nouns), Nguyễn Thị Ly Kha đặc biệt nhấn mạnh sự phân biệt giữa hai đặc tính đơn vị/khối của danh từ trong tiếng

Việt, theo quan điểm này, tính đơn vị/khối còn bao hàm cả vấn đề về nghĩa (ý nghĩa đơn vị hay có ý nghĩa khối), trong khi tính đếm được/không đếm được chỉ cho thấy

Trang 19

khả năng kết hợp trực tiếp với lượng từ (tức số đếm và từ chỉ lượng như những, các,

mấy…) Do đó, sự phân biệt giữa danh từ đơn vị và danh từ khối là sự phân biệt cả về

ngữ nghĩa lẫn ngữ pháp và là thế đối lập quan trọng trong danh từ của hầu hết các ngôn ngữ

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được chọn nhằm giải quyết các vấn đề sau đây:

- Xem xét các tiêu chí phân định danh từ đếm được và danh từ không đếm được trong tiếng Anh và tiếng Việt

- Phân tích xác định vai trò của danh từ không đếm được trong khi hành chức,

khả năng kết hợp với các lớp từ khác trong ngôn ngữ

- Tìm điểm tương đồng và khác biệt, giải thích nguyên nhân có sự giống nhau

và khác nhau nếu có của danh từ không đếm được ở hai ngôn ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Các danh từ không đếm được trong hai ngôn ngữ Anh và Việt

- Khảo sát các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của danh từ không đếm được trong tiếng Anh và tiếng Việt, tập trung vào ý nghĩa từ vựng, đặc điểm ngữ pháp, các

lớp từ con, tìm hiểu về mối tương quan với các lớp từ khác trong ngôn ngữ, đặc điểm vai trò của nó khi tham gia vào thành phần câu

5 Phương pháp nghiên cứu

- Sử dụng các phương pháp: miêu tả, đối chiếu – so sánh nhằm miêu tả đặc điểm về ngữ nghĩa, ngữ pháp của DT không đếm được trong tiếng Anh và tiếng Việt, xem xét các phương thức phân loại của chúng, sau đó tiến hành đối chiếu so sánh hai

loại DT này nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau

- Tư liệu nghiên cứu bao gồm: sách ngữ pháp, giáo trình, từ điển tiếng Anh,

tiếng Việt, một số công trình, tác phẩm văn học Anh, văn học Việt Nam và một số văn bản chính thức trong hai ngôn ngữ

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Về phương diện lý thuyết, luận văn sẽ tập trung khai thác điểm giống và khác nhau của danh từ không đếm được giữa hai ngôn ngữ, chú trọng hai mặt ngữ nghĩa và

ngữ pháp, từ đó góp phần củng cố quan niệm phân định từ loại danh từ thành hai tiểu

loại: đếm được và không đếm được Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận

Trang 20

văn sẽ giúp học viên học tiếng có khả năng nhận diện tốt hơn kiểu từ loại này khi học

tập và sử dụng tiếng Anh trong thực tế, tránh được sai sót khi chuyển dịch từ tiếng

Việt sang tiếng Anh và ngược lại

- Ngoài ra đề tài sẽ là tài liệu tham khảo, hỗ trợ cho việc nghiên cứu so sánh

tiểu loại danh từ đếm được của tiếng Anh và tiếng Việt, hoặc so sánh các đơn vị từ

ngữ thường kết hợp, hoặc bổ nghĩa cho các tiểu loại danh từ này cũng như các cấu trúc cú pháp đặc thù hay sử dụng với danh từ đếm được và không đếm được

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 1 trình bày những vấn đề lý thuyết có liên quan đến luận văn: khái

niệm cơ bản về danh từ, phạm trù ngữ pháp có liên quan đến khả năng đếm được của danh từ và khái niệm về danh từ không đếm được

Chương 2: Danh từ không đếm được trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 2 sẽ mô tả danh từ không đếm được trong tiếng Anh, phân lớp các

tiểu loại đồng thời trình bày bao quát đặc điểm ngữ pháp của danh từ không đếm

được, về khả năng kết hợp với lượng từ, mạo từ như the, some, any, a lot of, an

amount of,…Chương 2 đồng thời làm rõ đặc điểm của từ và danh từ trong tiếng Việt, điểm qua các tiêu chí phân loại và các kiểu loại danh từ trong tiếng Việt, tập trung phân tích đặc điểm của danh từ không đếm được trong tiếng Việt và các vấn đề về kết

hợp giữa danh từ thuộc kiểu loại này và các đơn vị từ vựng khác, chủ yếu là các đơn

vị chỉ lượng trong tiếng Việt Ngoài ra chương này còn nghiên cứu về đặc điểm của danh từ không đếm được trong tiếng Việt khi hành chức (chủ yếu trong danh ngữ)

Chương 3: Những điểm tương đồng và khác biệt giữa danh từ không đếm được trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trên cơ sở miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa ngữ pháp của hai loại danh từ đếm được trong tiếng Anh và tiếng Viêt, luận văn tiến hành so sánh đối chiếu nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống ngôn ngữ, đồng thời cố gắng giải thích sự khác biệt đó

Ngoài ra, cuối luận văn trong phần Phụ lục có minh họa thêm về cấu trúc Patritive (trích phân) trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 21

C hương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT



1 1 Từ loại

Trên thực tế, không thể nào lấy hai thứ không hề liên quan với nhau đem ra so sánh, yêu cầu được đặt ra là chí ít hai thứ đó phải có những điểm gì đó giống nhau, ít

nhất là về mặt bản chất phải có một hoặc vài điểm tương đồng hay đối lập Do đó, khi

tiến hành khảo sát về đề tài so sánh các điểm giống và khác nhau của danh từ không đếm được trong tiếng Việt và tiếng Anh này, chúng tôi trước hết đặt giả thiết là trong

cả hai ngôn ngữ đều nhìn nhận tính [± đếm được] của danh từ, sau đó sẽ tiến hành xem xét liệu giả thuyết này có thể được chấp nhận hay không trong việc lấy đó làm tiêu chí phân định, xếp loại danh từ Nhằm hỗ trợ về mặt lý thuyết, trước hết cần xem xét về khái niệm từ loại và cách phân chia từ loại trong cả hai ngôn ngữ

Cho tới nay, trong cách xem xét bản chất ý nghĩa của các từ loại, ta thường

thấy các lối hiểu sau đây:

- Ý nghĩa của từ loại là ý nghĩa khái quát của từng lớp từ Chỉ có thực từ mới

có ý nghĩa này, hư từ và tình thái từ không nằm trong phạm vi của từ loại

- Ý nghĩa của từ loại cũng là ý nghĩa khái quát của các lớp từ nhưng là ý nghĩa thuần túy biểu hiện cái hệ thống dạng thức ngữ pháp của từ (ý nghĩa và các hình thái

ngữ pháp: giống, số, cách của danh từ; ngôi, thời, thể, dạng, thức của động từ; cấp so sánh của tính từ, ) nghĩa là cái ý nghĩa từ loại gắn với các phạm trù ngữ pháp của từ,

nó chỉ có tính chất ngữ pháp

- Ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát, nhưng trong đó là sự thống nhất của các

yếu tố từ vựng và các yếu tố ngữ pháp, nói cách khác, đó là một loại ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp Cơ sở của cách đặt vấn đề này là mối quan hệ giữa ý nghĩa từ loại với các phạm trù của tư duy.[12; tr.41-42]

Trong khuôn khổ của đề tài này, luận văn chia sẻ quan niệm và đi theo hướng

thứ ba Thật vậy, vốn từ của một ngôn ngữ có thể được nghiên cứu trên nhiều bình

diện khác nhau bao gồm: bình diện ngữ âm, bình diện ngữ nghĩa (từ vựng) hay bình

diện ngữ pháp Trong quá trình nghiên cứu vốn từ của một ngôn ngữ, các nhà ngôn

ngữ học đã tiến hành phân chia vốn từ của một ngôn ngữ thành các lớp từ nhỏ hơn,

đó là những lớp từ có chung bản chất ngữ pháp, hình thái và ngữ nghĩa được biểu

Trang 22

hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm tiêu chuẩn tập hợp và quy loại Do đó, các nhà ngôn ngữ học dùng từ loại (word classes, lexical categories hay parts of speech theo thuật ngữ ngôn ngữ học truyền thống) để chỉ phạm trù ngữ pháp bao gồm các từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát nào đó

Từ loại (word classes/part of speech) là một khái niệm thiết yếu trong việc mô

tả ngôn ngữ Phạm trù từ loại là sự tập hợp các từ của một ngôn ngữ thành những lớp,

những loại theo những đặc trưng chung về ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp

Đó là một hệ thống có nhiều tầng bậc, hay là một phạm trù bao gồm nhiều phạm trù khác nhỏ hơn Cho nên ngoài ý nghĩa từ loại chung cho tất cả các từ cùng một từ loại, còn có ý nghĩa chung cho các từ thuộc cùng một tiểu loại Ví dụ, tất cả các danh từ đều có ý nghĩa ngữ pháp khái quát là “ý nghĩa sự vật”, cho dù theo ý nghĩa từ vựng

cụ thể thì một danh từ có thể chỉ một người, một con vật, một đồ vật, một khái niệm

trừu tượng nào đó, chẳng hạn: công dân, mèo, phụ nữ,…Lớp con của danh từ khá đa

dạng, bao gồm nhiều loại, trong đó có danh từ chung chiếm tỉ lệ chủ yếu trong các danh từ, về nghĩa từ vựng, nó là tên gọi khái quát của cả một loạt sự vật, chứ không

phải là tên gọi của một sự vật riêng biệt, về ngữ pháp thì nó có thể kết hợp với số từ, lượng từ, phó danh từ, đại từ chỉ định [27; tr.14]

Tuy rằng trong nhiều ngôn ngữ có những phạm trù từ loại tương đương nhau (phần lớn các ngôn ngữ đều có các phạm trù từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hệ từ, thán từ, trợ từ,…) Nhưng số lượng các phạm trù và đặc trưng của các phạm trù vẫn khác nhau, do đó tương quan của các phạm trù từ loại cũng khác nhau

Trong nghiên cứu tiếng Anh, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất trong tiếng Anh có các lớp từ chính sau: danh từ (noun), động từ (verb), tính từ (adjective), giới từ (preposition), trạng từ (adverb), định từ (determinative) và liên từ (conjunction) Các từ loại này được minh họa trong câu sau đây:

[determinative The] [noun chairman] [preposition of] [determinative the] [noun committee] [conjunction and] [determinative the] [adjective loquacious] [noun politician] [verb clashed] [conjunction when] [determinative the] [noun meeting] [verb started] [35; tr.117,118]

Trang 23

Tuy nhiên, trong một số công trình nghiên cứu khác, hệ thống từ loại trong

tiếng Anh có thể phân chia thành các nhóm chính như: danh từ (noun), động từ (verb), tính từ (adjective), trạng từ (adverb), giới từ (preposition), đại từ (pronoun), mạo từ (article) và liên từ (conjunction) Những từ loại này được chia thành hai nhóm chính,

mở và khép kín Các lớp từ mở là tập hợp từ có thể tự do tiếp nhận các thành viên

mới, bao gồm danh từ, động từ, tính từ và trạng từ [33;tr.16]

Trong nghiên cứu tiếng Việt, vì sự khác biệt về mặt loại hình so với các ngôn

ngữ châu Âu, ngay từ lúc bắt đầu tiến hành phân tích, các nhà ngôn ngữ học cũng gặp

một số trở ngại nhất định Trong đó có một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ phủ nhận

khả năng phân định từ loại trong tiếng Việt, căn cứ vào sự không biến hình hoặc sự linh hoạt về chức năng của từ tiếng Việt (Lê Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, Nguyễn

Hiến Lê,…) [ 27; tr.111]

Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm thừa nhận sự tồn tại của từ loại trong

tiếng Việt Theo Đinh Văn Đức, trong Ngữ pháp tiếng Việt: từ loại, từ loại là những

lớp từ của một ngôn ngữ nhất định, được phân chia theo các ý nghĩa, theo các hình

thức ngữ pháp (hình thái hoặc cú pháp) và thực hiện các chức năng cú pháp nhất định

Có cùng quan điểm với Đinh Văn Đức, phân chia từ loại dựa vào ý nghĩa, khả năng

kết hợp và chức vụ cú pháp của từ còn có các tác giả như Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Lê Biên…

Dưới đây là sơ đồ phân chia từ loại của tiếng Việt theo tác giả Đinh Văn Đức [12; tr.56]:

Trang 24

Theo đó, vốn từ của tiếng Việt được chia thành các nhóm chính như:

- thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ

- hư từ: từ phụ, từ nối

- tình thái từ: tiểu từ, trợ từ

Như vậy, trong thực tế, các lớp từ chính như động từ, danh từ, tính từ đều có

thể được xác định trong hầu hết các ngôn ngữ, điều đó cho thấy rằng có một mô hình

phổ quát trong nhận thức của con người trong sự phân chia từ loại thành các lớp từ đặc biệt hữu ích cho giao tiếp Tuy nhiên, ở các cấp độ nhỏ hơn, mỗi ngôn ngữ khác nhau lại có những nét riêng, khu biệt với các ngôn ngữ khác

Câu hỏi được đặt ra ở đây là, liệu giữa tiếng Anh và tiếng Việt, khi đem so sánh, hệ thống danh từ của hai ngôn ngữ này với nhau, xét về tính chất [±đếm được],

có nhiều hay không sự giống và khác nhau, nhất là ở phương diện ngữ nghĩa và đặc điểm ngữ pháp?

1 2 Danh từ và tiêu chí phân chia danh từ thành các lớp con

Danh từ là một thuật ngữ được sử dụng trong việc phân chia các lớp, loại của

từ về mặt ngữ pháp, theo truyền thống, danh từ là từ dùng để gọi tên một người, một nơi chốn hay một sự vật, nhưng sự mơ hồ giữa hai khái niệm “tên gọi” và “vật”, ví

dụ như sắc đẹp có phải là một vật hay không đã dẫn tới việc các nhà ngôn ngữ học

tiến hành phân tích mổ xẻ lớp từ này dựa trên các tiêu chí cú pháp và hình thái Danh

từ là từ loại có ý nghĩa phạm trù “sự vật”, có các phạm trù ngữ pháp giống, số, cách (được thể hiện không giống nhau trong các ngôn ngữ khác nhau), thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ

Ý nghĩa sự vật là ý nghĩa nòng cốt của danh từ, nó mang bản chất từ vựng -

ngữ pháp Ý nghĩa phi sự vật cùng với ý nghĩa sự vật làm thành ý nghĩa thực thể của danh từ Do đó, cần phải lưu ý rằng thuật ngữ "thực thể" được đề cập ở đây không

những chỉ các đối tượng cụ thể như người, đối tượng, địa điểm, tổ chức và “tập thể” khác, mà còn đồng thời gọi tên các hành động (việc bơi lội, việc chơi thể thao, việc đi

học,…), trừu tượng (tư tưởng, kinh nghiệm, sự phát triển, lòng thương người,…),

phẩm chất (vẻ đẹp , tốc độ, cân nặng, ), cảm xúc (sự giận dữ, sự hứng thú, sự chán

nản,…) và hiện tượng (sấm, thành công,…) và một số khái niệm trừu tượng khác

Bản chất ý nghĩa của danh từ được biểu hiện đầy đủ qua các đặc điểm ngữ pháp của

Trang 25

danh từ trên cả phương diện cấu trúc (kết hợp) và phương diện chức năng (thành

phần câu)

Danh từ được phân xuất dựa trên các tiêu chí về ý nghĩa khái quát, khả năng tham gia làm thành phần câu và khả năng kết hợp trong các cụm từ, danh từ được khái quát là từ loại dùng chỉ ý nghĩa sự vật, có khả năng làm thành tố chính của danh

ngữ, trong câu có thể đảm nhận vai trò chủ ngữ như: nhà, lớp, thông tin, cái đẹp, ngày, tháng,…

Về việc phân loại, tùy theo đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của nó, danh từ cũng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ phân chia thành các lớp từ nhỏ hơn đối lập nhau như danh từ trừu tượng – danh từ cụ thể, danh từ đơn vị – danh từ khối, danh từ đếm được – danh từ không đếm được, danh từ chung – danh từ riêng,…

1.2.1 Danh từ và tiêu chí phân loại danh từ trong tiếng Anh

Thành tố trung tâm của một danh ngữ (noun phrase) trong tiếng Anh có thể là

một đại từ (pronoun) hay một danh từ (noun)

Ví dụ:

One Saturdaymorning in February 1893, a sale was in progress at the smart new rooms of a Londonart dealer in a street leading to the flowermarket in Covent Garden (Một buổi sáng thứ bảy vào tháng hai năm 1893, một vụ mua bán đang diễn

ra trong những căn phòng mới toanh của một trung tâm nghệ thuật ở Luân Đôn nằm trên con đường dẫn tới chợ hoa ở khu Covent Garden.)

Trong câu trên, có các danh từ sau: Saturday, morning, February, sale, progress, rooms, London, art dealer, street, flower, market, Covent Garden Các danh

từ trên có thể đứng một mình hoặc kết hợp với các thành tố khác (+ danh từ, + tính

từ ) để tạo thành những danh ngữ

Các danh từ là một lớp các từ biểu thị thực thể (một đơn vị riêng biệt, đầy đủ

và có những đặc điểm riêng của mình) Danh từ thường được coi là từ loại dùng để

"gọi tên", đặc biệt là tên của "người, địa điểm, hoặc những sự vật, hiện tượng" Theo

đó, danh từ là từ loại có chức năng định danh chính trong khuôn khổ của sự phân chia

nghĩa của từ vựng Những danh từ như John, London,… và computer (máy tính)

chắc chắn phù hợp với mô tả này, nhưng các lớp danh từ là rộng hơn nhiều so với

điều này Danh từ cũng biểu thị những khái niệm trừu tượng và vô hình như birth,

Trang 26

happiness, evolution, technology, management, imagination, revenge, politics, hope, cookery, sport, literacy, (sự sinh nở, sự hạnh phúc, sự tiến hóa, công nghệ,

sự quản lý, trí tưởng tượng, sự trả thù, chính trị, niềm hy vọng, sự nấu ăn, thể thao, sự

biết chữ, )

Danh từ trong tiếng Anh có một số đặc điểm sau:

- Đặc điểm hình thái: danh từ có sự biến đổi theo số (a book, two books) Tuy

nhiên, danh từ không đếm được không thay đổi hình thái theo số, nó không có dạng

số nhiều (ví dụ: steel, information) Danh từ thường có một cấu trúc hình thái phức

tạp (compound nouns: danh từ phức và derived nouns: danh từ phái sinh)

- Đặc điểm cú pháp: danh từ làm trung tâm của danh ngữ (noun phrases)

Danh ngữ có thể đảm nhiệm một loạt các vai trò cú pháp: chủ từ, tân ngữ trực tiếp, tân ngữ gián tiếp,…

- Đặc điểm ngữ nghĩa: danh từ thường chỉ các đối tượng cụ thể, chẳng hạn

như người và vật trong thế giới vật chất (ví dụ: table, dog,…) nhưng họ cũng có thể

biểu thị phẩm chất và trạng thái (ví dụ: freedom, friendship, happiness,…)

Danh từ có thể được nhóm lại thành nhiều lớp con khác nhau về ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp và có thể phân loại theo cặp phạm trù:

- Common – proper (DT chung – DT riêng)

- Concrete – abstract (DT cụ thể – DT trừu tượng)

- Measureable – immesurable (DT chỉ sự đo lường – DT không chỉ sự đo lường)

- Animate – inaminate (DT chỉ vật sống – DT chỉ các vật vô tri vô giác)

- Human – non-human (DT chỉ người – DT không chỉ người)

- Personal – collective (DT chỉ cá thể – DT chỉ tập hợp)

- Count – non-count (DT đếm được – DT không đếm được)

Tuy có nhiều cách phân loại khác nhau, trong tiếng Anh, danh từ nhìn chung

được phân chia thành danh từ chung (common nouns) và danh từ riêng (proper nouns), sáu loại chính của danh từ trong tiếng Anh bao gồm: danh từ đếm được, danh

từ không đếm được, danh từ số ít, danh từ số nhiều, danh từ tập hợp và danh từ riêng (count nouns, uncount nouns, singular nouns, plural nouns, collective nouns, proper nouns)

Trang 27

Collective Mass Collective Individual

proper (milk) improper (crew)

Animate Inanimate Animate Inanimate

(vermin) (furniture) (toy)

Personal Non-personal

(child) (dog)

Theo sơ đồ trên, ta thấy có hai nhóm chính là danh từ riêng (proper nouns) và

danh từ chung (common nouns) Danh từ riêng được dùng cho một người, một địa

điểm, một vật thể hay ý tưởng cụ thể hoặc được hình dung là duy nhất Các danh từ riêng không thể kết hợp được với tất cả các từ hạn định (determiners: some, my,…),

mạo từ (article: a/an/the) và cũng không có hình thức số phức (ví dụ: Sue, không dùng Sues, a Sue, the Sue) (theo Biber 2000)2 Cũng như trong nhiều ngôn ngữ khác, danh từ chung được chia thành hai nhóm dựa trên hình cú pháp học (morphosyntax):

2 Th ực tế, trong vài trường hợp đặc biệt, khi sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp hằng ngày, danh t ừ riêng vẫn có thể được sử dụng ở hình thức số nhiều khi cần nhấn mạnh số lượng:

There are three Davids in my class

(Có 3 David trong l ớp học của tôi.)

We met two Christmases ago

(Chúng tôi đã gặp nhau hai mùa Giáng sinh trước.)

Trang 28

danh từ đếm được và danh từ không đếm được Danh từ đếm được (countable nouns/count nouns) chỉ các đối tượng có tính được số lượng, chúng có cả dạng số đơn và số phức (ví dụ: rabbit (thỏ), bottle (chai), table (bàn),…) Cả hai dạng thức của

loại danh từ này đều có sự tương phản giữa các hình thức xác định và bất định (definite/indefinite forms), ví dụ: a cow và the cow, cows và the cows Danh từ đếm

được biểu thị thực thể đếm được cá nhân hay đối tượng tách biệt (separable objects)

Tính năng ngữ pháp rõ ràng nhất của danh từ đếm được là sự thay đổi về số Tính đếm được cũng được phản ánh trong các mô hình đồng xảy ra với các từ hạn

định Tương phản với danh từ đếm được, danh từ không đếm được (uncountable nouns/mass nouns) dùng chỉ các đối tượng mà không thể đếm được và biểu thị khối lượng không phân biệt (undifferentiated mass) Ví dụ: milk (sữa), gold (vàng), furniture (đồ nội thất),…

Bên cạnh đó, tiếng Anh còn ghi nhận các trường hợp luôn luôn mang ý nghĩa

số nhiều, không bao giờ xuất hiện với ý nghĩa số ít, các danh từ này có tên là pluralia tantum (trousers, sissors, cattle, glasses, clippers,…) Khi dùng trong câu, các danh

từ này hay đi kèm với các loại từ tương ứng:

Ví dụ: I have a pair of sissors (Tôi có một cây kéo.)

Về tính chất đếm được hay không đếm được của nhóm danh từ này, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra khá nhiều tranh cãi, tuy nhiên đa phần đều cho rằng có thể

xếp các danh từ tuộc nhóm này vào lớp danh từ không đếm được, xem như là một nhóm đặc biệt

Ngoài ra, danh từ trong tiếng Anh còn được phân chia thành hai nhóm danh từ

cụ thể (concrete nouns) và danh từ trừu tượng (abstract nouns) Trong đó, danh từ

cụ thể là những danh từ chỉ các sự vật hiện tượng mà các giác quan có thể nhận thức, quan sát và đo lường được; còn danh từ trừu tượng thường dùng để miêu tả các sự vật

hiện tượng mà không thể nhận thức được bằng các giác quan cũng như không đong đếm được Cả hai loại danh từ đếm được và không đếm được đều có thể là danh từ cụ

thể hoặc trừu tượng Tuy nhiên, trong tiếng Anh các danh từ cụ thể đa phần đếm được

và các danh từ không đếm được thường là danh từ trừu tượng

Trang 29

1.2.2 Danh từ và tiêu chí phân loại danh từ trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, từ loại được phân định dựa vào tập hợp ba tiêu chuẩn sau: (1) ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp khái quát có tính chất phạm trù của từ, (2) khả năng

kết hợp của từ và (3) chức năng cú pháp chủ yếu của từ [1; tr.30] Theo đó, hệ thống

từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai nhóm, bao gồm những loại sau đây:

Nhóm 1: danh t ừ, động từ, tính từ, số từ, đại từ Nhóm 2: phụ từ, kết từ, tiểu từ

Thuộc nhóm 1, danh từ là một trong ba từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất

và thể hiện tương đối đầy đủ và rõ rệt nhất các tiêu chuẩn phân loại

Theo Đinh Văn Đức (1986), xét theo bản chất ý nghĩa và các biểu đạt ngữ pháp, danh từ tiếng Việt có thể vạch ra được các đối lập sau [12; tr.64]:

- Danh từ gắn liền với khái niệm về sự vật cụ thể (tạm gọi là “sự vật cổ điển”) + chỉ người: ông, bà, anh, chị, bộ đội, học sinh, thầy thuốc, nhân viên,

+ đồ vật: nhà, sách, bàn, áo, ghế, xe, máy, sách, quạt, máy bay, nón,

+ động vật, thực vật: mèo, bươm bướm, hoa hồng, rau cải, kiến lửa,

+ chất liệu: dầu, mỡ, vải, cát, sắt, thép, đường, muối, gỗ, thép, lụa,

- Danh từ diễn đạt các khái niệm trừu tượng (tạm gọi là “sự vật ngữ pháp”) + những khái niệm có tính chất phạm trù: mục đích, điều kiện, ưu điểm, + những khái niệm được “thực thể hóa”: đề nghị, nhận định, đóng ghóp, + những khái niệm có nội hàm hẹp: việc, cuộc, điều, vẻ, chỗ, cách,

+ những khái niệm có tính chất tổng hợp: xe cộ, vườn tược, lính tráng,

Theo các đối lập này, danh từ tiếng Việt được phân loại như sau [12; tr.65]

thực

thể

Danh

từ chỉ các

phạm trù

Danh

từ

tổng

hợp

Trang 30

Cũng theo Đinh Văn Đức, danh từ trong tiếng Việt dược chia thanh hai tập hợp lớn trong quan hệ kết hợp với loại từ (classifier):

- Các danh từ đơn loại, có dùng loại từ: cuốn sách, con gà, bức tranh, ngọn đèn,…

- Các danh từ không đơn loại, không dùng loại từ: danh từ chỉ chất liệu, danh

từ tổng hợp, danh từ chỉ các khái niệm trừu tượng: vôi, cát, mỡ, xe cộ, áo xống, ban

bè, ưu điểm, phương pháp, cơ sở,…

Khi xét về cấu tạo, danh từ tiếng Việt có thể được phân thành những nhóm sau đây:

- Danh t ừ đơn: Đây là những danh từ được cấu tạo bằng một hình vị cấu tạo từ

duy nhất Tuy nhiên, hình vị cấu tạo từ trong tiếng Việt có thể trùng với một hay nhiều âm tiết, do đó danh từ đơn có thể là từ đơn tiết hoặc đa tiết

Ví dụ: nhà, sân, vườn, cá, cơm, hành, tỏi, châu chấu, cao su, sầu riêng, chôm chôm,…

- Danh t ừ ghép: Đó là những danh từ được cấu tạo bằng hai hay nhiều hình vị

cấu tạo từ Các hình vị cấu tạo nên danh từ ghép được kết hợp với nhau theo một số

loại quan hệ, do đó có thể căn cứ vào tính chất của quan hệ giữa các hình vị để phân

Ngoài ra, danh từ tiếng Việt còn có thể phân thành những nhóm căn cứ vào ý

nghĩa cấu trúc của từ Dựa trên tiêu chí này, có thể chia thành danh từ có nghĩa tổng

h ợp (hay danh từ tổng hợp) và danh từ không có nghĩa tổng hợp (hay danh từ không

tổng hợp) Bên cạnh đó, có thể kể đến danh động từ/danh tính từ, đây là những danh

từ dùng để chỉ khái niệm trừu tượng có nguồn gốc động từ hoặc tính từ Điểm đặc

Trang 31

biệt của loại danh từ này là tính chất lỏng lẻo của quan hệ giữa các bộ phận cấu tạo từ

Loại danh từ này được tạo ra bằng cách kết hợp các hình vị có ý nghĩa ngữ pháp với động từ hoặc tính từ để chuyển từ loại của từ Ví dụ: cuộc vui, cuộc sống, cuộc đấu tranh, sự giải phóng, sự trong trắng, niềm vui, niềm tin, nỗi nhớ, nỗi buồn, cái đẹp, cái ăn, lòng nhân đạo, lòng yêu nước, tính sáng tạo, tính cần cù,…

Rõ ràng, so với tiếng Anh, trong khi phân chia danh từ tiếng Việt thành các nhóm nhỏ hơn, có một tiêu chí bị đa số các nhà nghiên cứu bỏ qua, đó là tiêu chí về tính đếm được hay không đếm được của danh từ Trong giới Việt ngữ học, số lượng

những tác giả chú ý đến tiêu chí này không nhiều, trong đó phải kể đến hai tác giả tiêu biểu là Nguyễn Tài Cẩn và Cao Xuân Hạo Theo Nguyễn Tài Cẩn, đối lập với danh từ trực tiếp đếm được là danh từ không trực tiếp đếm được và chia danh từ tiếng

Việt thành hai loại:

+ Danh t ừ trực tiếp đếm được: (một) tỉnh, (một) huyện, (một) cân, (một) hào,

(một) tạ, (một) thước, (một) tấc, (một) đấu, (một) lít, (một) đồng, (một) giờ,

+ Danh t ừ không trực tiếp đếm được: (một người) sinh viên, (một cuốn) sách,

(một con) chim, (một cây) tre, (một nền) luân lý, (một ca) nước, (một cân) muối,

Cao Xuân Hạo, trong “Hai loại danh từ của tiếng Việt” (1980) và “Sự phân

bi ệt đơn vị/khối lượng trong tiếng Việt và khái niệm loại từ” (1988) đã dùng hai tiêu

chí: sự phân biệt giữa đơn vị và khối và khả năng kết hợp với lượng từ để phân loại danh từ tiếng Việt thành hai loại lớn:

+ Danh từ đơn vị (đếm được): cái, con, dãy, kí, khẩu, phía, thước, viên, xâu, + Danh từ khối (không đếm được): sách, nhà, bàn, muối, vải, dầu, nước, Theo Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung [1, tr.90], danh từ tiếng Việt có thể phân thành các lớp con sau đây dựa theo một số diện đối lập trong nội bộ danh từ :

- Đối lập danh từ riêng – danh từ chung

- Đối lập trong danh từ chung :

+ danh từ tổng hợp/danh từ không tổng hợp

+ danh từ đếm được/danh từ không đếm được

Trang 32

Theo hai tác giả này, có thể khái quát những lớp từ trên như sau [1, tr.102]:

Các l ớp con danh từ B ản chất của ý nghĩa

Chỉ “loại”, chỉ đơn vị tập

hợp

bọn, lũ, tốp, đám, đoàn, …

Không đếm được

Chỉ khái niệm sự vật

tổng hợp khái quát và

trừu tượng

bàn ghế, nhà cửa, máy móc, mắm muối,…

Không

tổng hợp

Đếm được

Chỉ “loại”, chỉ đơn vị riêng lẻ

con, cái, bức, …

Chỉ khái niệm sự vật đơn

thể cụ thể

học sinh, mẹ, bàn, cây,…

Chỉ khái niệm sự vật đơn

thể trừu tượng và khái quát

nết, tiếng, mùi, việc,

cuộc, lý do, tư tưởng,…

Không đếm được

Chỉ sự vật – chất thể bột, cát, đá,…

1 3 Các kiểu ý nghĩa khái quát của danh từ, phạm trù đếm được và không đếm được

1 3.1 Hai kiểu ý nghĩa khái quát của DT: ý nghĩa đơn vị và ý nghĩa khối

Danh từ trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh đều bị chi phối bởi những ý nghĩa khái quát khác nhau, nhờ vào những ý nghĩa khác nhau này, người ta có thể chia danh

từ ra thành nhiều lớp con khác nhau, đặc biệt khi xét về tính đếm được hay không đếm được của một danh từ Nắm rõ các loại ý nghĩa khái quát này là một trong những điều cốt yếu giúp công việc phân loại trở nên dễ dàng và khoa học hơn

Thật vậy, tiền đề của tính đếm được hay không đếm được của một danh từ

không khỏi tách rời khỏi ý nghĩa đơn vị/khối của một danh từ Đơn vị là một từ

Trang 33

không quá xa lạ với người sử dụng tiếng, và tên gọi này thể hiện hai nội dung khác biệt nhau Theo Diệp Quang Ban [2; tr.33], một mặt, đơn vị có thể hiểu là một đại lượng dùng để đo các vật đồng tính, chia cắt chúng ra thành những phần quy ước

bằng nhau, ví dụ như mét, kilôgam,…mặt khác, đơn vị còn được hiểu là một vật rời

trong số các vật được xác định theo một tiêu chuẩn nào đó, ví dụ ta có các vật là

những đơn vị rời như house (ngôi nhà), banana (quả chuối), fish (con cá), …trong

tiếng Anh Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng ý nghĩa đơn vị không đồng nhất theo lối một đối một với ý nghĩa “cá thể” Tính “rời” hay ý nghĩa đơn vị của danh từ biểu hiện

ở ranh giới của sự vật có thể xác định hay cảm nhận được trong nhận thức và trong phản ánh của tư duy Một cá thể (một vật rời) là một đơn vị rời, nhưng một đơn vị rời không bắt buộc chỉ là một vật thể rời Nhiều vật thể rời có thể tập hợp thành một khối

và khối này trong chỉnh thể của mình có thể hoạt động với tư cách một đơn vị rời Những danh từ chỉ các tập hợp vật thể rời như vậy có thể gọi là những danh từ tập

thể, ví dụ ta có các tập hợp thường gặp là bầy, đàn, lũ, bọn, đám,…trong tiếng Việt

và group (nhóm), package (gói), bunch (nải, bó),…trong tiếng Anh

Hai ý nghĩa đơn vị đại lượng và ý nghĩa của danh từ tập thể nói trên gắn liền với tính đếm được của danh từ Các danh từ thuộc hai nhóm này đều dễ dàng đứng liền sau số từ, có tính chất đếm được Ở cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt, các danh từ này

là danh từ đếm được Ngoài ra, ý nghĩa đơn vị rời còn có một sự gắn bó mật thiết với

ý nghĩa chỉ loại Danh từ chỉ đếm được khi nó vừa có ý nghĩa chỉ loại vừa có ý nghĩa đơn vị rời Các danh từ này (cái, con, chiếc, tấm, quyển,…) trong tiếng Việt ban đầu được gọi là “loại từ” (classifiers), sau này, nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận các từ chỉ loại như vậy đều có đầy đủ tư cách của danh từ và có thể xếp chúng vào danh từ đếm được Như vậy, ta có tóm tắt sau [2, tr.35]:

Ý nghĩa đơn vị rời

Ý nghĩa đơn vị

đại lượng

Ý nghĩa của danh từ tập thể

Ý nghĩa chỉ loại Ý nghĩa chỉ loại

nằm ngoài ý nghĩa đơn vị rời

Ví dụ Danh từ đơn vị

đại lượng: mét,

thúng, lít, bó

Danh từ tập thể: đàn, bầy, bọn, bó

Trang 34

Đối lập với ý nghĩa đơn vị rời là ý nghĩa khối Nếu như ý nghĩa đơn vị của

danh từ cho phép chúng ta định nghĩa “danh từ đơn vị là loại danh từ biểu thị hình thức tồn tại của thực thể hoặc biểu thị những sự vật được ngôn ngữ đối xử như những thực thể phân lập, có kích thước xác định, có thể phân lượng hóa được, dùng để chỉ đơn vị của thực thể, chuyên đảm lượng chức năng thành tố chính trong cấu trúc của danh ngữ” [22; tr.42] thì ý nghĩa khối của danh từ dùng chỉ tính chất không phân tách được, không đong đếm được của sự vật hiện tượng mà danh từ đó biểu thị

Trong tiếng Việt, ý nghĩa khối của danh từ được thể hiện rõ qua việc không xác định được đường viền của vật thể được danh từ đó biểu thị trong không gian, do

đó danh từ đó mang ý nghĩa khối, không đếm được

Khi so sánh với tiếng Anh, có sự khác biệt khá thú vị trong phương diện này:

Trong tiếng Việt Tính đếm được Trong Tiếng Anh

muối sữa thịt bò vàng

(a) table (a) house (a) leaf

Rõ ràng, có một sự khác biệt trong cách nhìn nhận về hai loại ý nghĩa này khi đối chiếu hai ý nghĩa đơn vị và ý nghĩa khối trong tiếng Việt và tiếng Anh, điều này

dẫn tới một số danh từ không đếm được trong tiếng Việt thì lại đếm được trong tiếng Anh và ngược lại

1 3.2 Phạm trù đếm được và phạm trù không đếm được

Xét hai phát ngôn sau đây:

(1) This wine costs a hundred of euros (Rượu này trị giá một trăm ero.)

(2) Please, pour that wine into these glasses! (Làm ơn hãy rót phần rượu đó ra

những chiếc ly!)

Ta thấy rằng, khi nói về wine (rượu vang, một thứ chất lỏng được chưng cất từ

trái nho), chúng ta thừa nhận sự tồn tại của một thứ tên gọi là wine nhưng chúng ta

Trang 35

không thể đếm được số lượng của nó bởi vì trong tự nhiên nó không có hình dạng

nhất định hay được phân cách tách ra khỏi các vật cùng loại, thông thường trong trường hợp này, cái chúng ta đếm, quy về phạm trù số đơn – số phức là vật chứa đựng

nó (bottle, glass)

Rõ ràng, trong một số ngôn ngữ, khi sử dụng danh từ chúng ta buộc phải có sự phân biệt giữa khái niệm đếm được (countability) và không đếm được (uncountability) Trong tiếng Anh, danh từ chung (common noun) có lớp con là danh

từ đếm được (countable nouns) và danh từ không đếm được (uncoutable nouns, count nouns hoặc mass noun)

nont-Trong ngữ pháp học, danh từ không đếm được (uncountable noun) hay danh từ

khối (mass noun) là tên gọi chung của tập hợp các danh từ (ví dụ như water, rice, poetry, garbage: nước, gạo, thơ, rác thải), các danh từ này có sự khác biệt về hình thái và cú pháp so với danh từ đếm được (book, apple, chair, house: cuốn sách, quả

táo, ghế, ngôi nhà), trong đó danh từ không đếm được không có hình thức số phức, và

có sự khác biệt ở khả năng kết hợp với số từ và từ hạn định Đặc biệt, danh từ không đếm được không có khả năng kết hợp với số từ, mạo từ không xác định, và với một

loạt các từ chỉ định lượng: *a water, *both rice, *five poetry, *many garbage,

*several music

Danh từ đếm được, mặt khác, cũng không có khả năng kết hợp tốt với các từ

chỉ định lượng nhất định, chẳng hạn như much và little; vì các từ này chỉ kết hợp với

danh từ không đếm được Ngược lại với các danh từ đếm được, danh từ không đếm được trong một số trường hợp không cần kết hợp với từ hạn định Ví dụ: There's furniture in this room, so với *There's chair in this room

Sự khác biệt giữa sự không đếm được và đếm được chủ yếu là về mặt ngữ pháp Điều này có nghĩa là việc một danh từ được xem là đếm được hay không đếm được là thuộc về tự bản thân danh từ đó chứ không phụ thuộc vào cái/vật thể mà nó

ám chỉ Trong hầu hết các trường hợp, cái cách mà những danh từ được mã hóa về

mặt ngữ pháp xuất phát từ những gì chúng ta có thể trực tiếp cảm nhận được trong thế

giới tự nhiên: phần lớn các danh từ đếm được đều có thể thực sự tính được bao nhiêu đơn vị tồn tại trên thực tế trong khi các danh từ không đếm được lại chỉ các vật thể không thể nào nêu rõ hoặc đong đếm được Trong tiếng Anh, lấy ví dụ, “tree” (cây)

Trang 36

là danh từ đếm được về mặt ngữ pháp (one tree, two trees, thousand trees,…) và trên

thực tế chúng ta cũng có thể tiến hành đếm được số lượng của cây; “bark” (vỏ cây)

rõ ràng là không đếm được, và về mặt ngữ pháp “bark” là một danh từ không đếm

được Do đó, những cụm từ như *one bark, *two barks hay *many barks đều

không tồn tại Tuy nhiên, do tính chất đếm được của một danh từ liên quan tới tính

ngữ pháp chứ không phải phụ thuộc vào vật sở chỉ của danh từ đó, cho nên, một vật

thể có thể đếm được trong thực tế vẫn có thể được diễn tả bằng một danh từ không đếm được và ngược lại Thực tế cho thấy rằng người học ngôn ngữ gặp rất nhiều khó khăn để xác định được một danh từ là đếm được hay không Trong khi học tiếng Anh,

người học thường thắc mắc và cảm thấy thú vị khi học có thể đếm “one chair, two

chairs, three tables, four cupboards ,…” nhưng lại không thể nói “*one furniture,

*two furnitures” mà ph ải sử dụng “ a piece of furniture” Ta có một vài ví dụ sau:

(1) They've moved into their flat but haven't bought any furniture yet (Họ đã chuyển vào căn hộ nhưng vẫn chưa mua đồ nội thất nào hết.)

(*furnitures, *a furniture, *several furniture)

(2) Sorry, but I haven't got the information you're looking for (Rất tiếc, tôi không có thông tin mà ông cần.)

(informations, *an information, *those informations)

(3) I need some advice - first of all, should I accept the job offer or not? (Tôi

cần lời khuyên, trước hết – tôi có nên nhận công việc hay không?)

(*advices, *an advice, *three advices)

(4) How much luggage will you bring? (Bạn sẽ đem theo bao nhiêu hành lý?) (*luggages *a luggage *how many luggages)

Ngoài ra, rất nhiều danh từ không đếm được có thể được sử dụng như danh từ đếm được trong một bối cảnh nhất định Ví dụ:

Uncountable noun: Coffee and tea help to keep you awake

(Trà và cà phê giúp bạn giữ tỉnh táo)

Countable noun: I have everything I need How about a coffee?

(À, tôi đã có đủ mọi thứ mình cần rồi Thế nào, cà phê nhé?)

Do đó, có thể chia danh từ theo tính đếm được và không đếm được thành năm

loại chính

Trang 37

- fully countable (hoàn toàn đếm được) là những danh từ đếm được có đầy đủ

cả dạng số ít và số nhiều, có thể kết hợp trực tiếp với số đếm, và không thể được sử

dụng với các từ hạn định như much, little, a little, less và overmuch (nhiều, ít, một ít,

ít hơn và quá nhiều) Ví dụ: a table (two tables), a house (two houses), a star (two stars),…

- uncountable (không đếm được): các danh từ thuộc nhóm này không có hình

thức số nhiều, có thể sử dụng với các từ hạn định như much, little,…

Ví dụ: furniture (much furniture, *two furnitures), anarchy (tình trạng vô chính

phủ: a period of anarchy, *two anarchies),…

- plural only (chỉ có dạng số nhiều): là những danh từ luôn ở hình thức số nhiều, không bao giờ có dạng số ít Ví dụ: goods (hàng hóa), scissors (kéo), trousers (quần tây),…

- strongly countable nouns: là những danh từ đếm được nhưng có thể dùng như một danh từ không đếm được Ví dụ:

(1) She's baking a cake (Cô ấy đang nướng một chiếc bánh.)

(2) Would you like some cake? (Bạn có muốn dùng một ít bánh không?)

Theo ví dụ trên, cake trong câu (1) là danh từ đếm được, đi kèm với mạo từ

"a", cho biết rõ số lượng là "một cái", trong khi đó cake trong câu (2) là danh từ

không đếm được, không thêm "s", dùng để chỉ các loại bánh chung chung

- weakly countable nouns: là những danh từ không đếm được có thể sử dụng như danh từ đếm được Ví dụ:

(1) Beer is the world's oldest and most widely consumed alcoholic drink (Bia

là loại thức uống có cồn lâu đời nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới.)

(2) Shall we have a beer ? (Làm một cốc bia nhé?)

Ta thấy, beer trong câu (1) là danh từ không đếm được, còn beer trong câu (2)

là danh từ đếm được, ở đây chính là cách nói giản lược của a glass of beer

Để phân biệt một danh từ là strongly countable nouns hay weakly countable nouns, cách đơn giản nhất là dùng từ điển để tra cứu, nếu như một danh từ là strongly countable nouns, phía sau danh từ đó sẽ được ký hiệu là [C,U] và ngược lại

Trang 38

Sự phân biệt giữa đếm được/không đếm được hay đếm được/khối (count/mass distiction) được tìm thấy ở nhiều ngôn ngữ, nhưng như đã đề cập ở trên, khả năng đếm được hay không là một vấn đề thuộc về ngữ pháp chứ không hẳn xuất phát từ

thực tế cuộc sống, do đó, chúng ta không thể mặc định rằng trong tất cả các ngôn ngữ, các danh từ đếm được và không đếm được đều như nhau Một sự vật, hiện tượng được miêu tả bằng một danh từ đếm được ở ngôn ngữ này có thể được mã hóa thành

một danh từ không đếm được ở ngôn ngữ khác Vì vậy, chúng ta không thể nào dựa vào cảm giác thông thường để đánh giá xem một danh từ là đếm được hay không

Các danh từ không đếm được phổ biến khác trong danh sách này có thể kể

đến: clothing, dust, equipment, evidence, independence, information, knowledge, news, progress, research, smoke, software, traffic, waste and weather,…

Tính đếm được hay không đếm được từ khá lâu đã được coi là một tiêu chí quan trọng của danh từ và thường được coi là một tiêu chí tự nó đã đủ phân định danh

từ Trong Việt ngữ học, tuy phạm trù đếm được và không đếm được của danh từ đã được chú ý từ sớm (Nguyễn Tài Cẩn 1960, 1975, 1977; Cao Xuân Hạo 1998), nhưng cho đến nay việc phân chia từ loại danh từ dựa trên phạm trù này vẫn chưa được chấp

nhận rộng rãi, hoặc chấp nhận nhưng chưa thật sự triệt để

1.4 Khái niệm danh từ đếm được và danh từ không đếm được

Trong các ngôn ngữ có sự phân lập rõ ràng về mặt ngữ pháp giữa danh từ đếm được và danh từ không đếm được, ví dụ như tiếng Anh, thì ngữ nghĩa của việc phân

biệt giữa khối/không đếm được và đơn vị/đếm được phụ thuộc vào cách nhìn nhận

của người nói đối với một danh từ mà sở chỉ của nó chỉ một vật phân lập đếm được

Trang 39

(ví dụ: cat (con mèo), table (cái bàn), book (quyển sách),…) hay là một khối không đếm được (ví dụ: water (nước), smoke (khói), sugar (đường), rice (gạo),…) Ví dụ:

1) Doctor: I think you need antibiotics You’ve got an eye infection Are you

allergic to penicillin [U] ?

(Bác sĩ: Tôi nghĩ anh cần thuốc kháng sinh Anh bị nhiễm trùng mắt rồi Anh

có bị dị ứng với penicillin không?)

Patient: No, I’m not I’ve taken it before

(Bệnh nhân: Không, tôi đã từng dùng nó rồi.)

Doctor: OK I’m going to prescribe some eye drops as well

(Bác sĩ: OK, tôi sẽ kê toa một số thuốc nhỏ mắt cho anh.)

(Solution Intermediate 2 nd edition, tr.40)

2) These days, people have fewer opportunities to meet friends, because they

work harder, and have less time [U] to socialize (Ngày nay, người ta có ít cơ hội gặp

gỡ bạn bè hơn bởi vì họ làm việc vất vả hơn và có ít thời gian xã giao hơn.)

(Solution Intermediate 2 nd edition, tr.65)

Danh từ đếm được gắn liền một cách logic với việc biểu thị một đối tượng phân lập về phương diện hình thức tồn tại trong không gian, trong thời gian hay trong

một chiều nào khác do ngôn ngữ phân xuất trong khi cấu trúc hóa thế giới thành

những đơn vị có vật tính (thingness – réité) nghĩa là có tính cá thể hay được coi như

những cá thể có hình thức đếm được

Nói một cách đơn giản, một danh từ đếm được là một danh từ có sở chỉ có thể

đếm được, có thể đặt trực tiếp sau số đếm, ví dụ trong tiếng Anh, ta có thể nói one cow, two cows (m ột con, hai con (bò)), nhưng lại không nói *one beef, *two beefs

(một thịt bò, hai thịt bò) Các sở chỉ của những danh từ này là những thứ đơn lẻ hoặc người Về mặt hình thái, danh từ đếm được sẽ có dạng thức số nhiều với hậu tố -s, tuy nhiên, một số danh từ đặc biệt khác sẽ có các dạng thức riêng

one cyclist one minute a fish a sheep a child a man

two cyclists five minutes ten fish two sheep three children two men

Trong khi đó, trong cuộc sống, có lẽ do ảnh hưởng của các ngôn ngữ châu Âu, nhiều người Việt cho rằng những vật thể được gọi là xe, nhà, áo, bò, gà,… là những

vật thể đếm được, còn thịt, sữa, nước, mưa, nắng,… thì không đếm được

Trang 40

Thật ra, trong tư duy ngôn ngữ của người Việt Nam, một vật thể có thể đếm được hay không là căn cứ vào hình thức tồn tại trong tự nhiên của nó Nếu vật thể tồn

tại phân lập trong không gian (hoặc một chiều kích khác) thì được xem là đếm được;

nếu ngược lại là không đếm được Như vậy, sữa, đường, muối, sắt, giấy, … với sở

biểu “chất liệu” của nó là những danh từ không đếm được; và xe, nhà, bò, sách, báo,

áo, giày,… với sở biểu “chủng loại” cũng là những danh từ không đếm được Trong

khi đó, nước hay sữa chẳng hạn, có thể tồn tại trong một không gian có giới hạn cụ

thể (trong một vật chứa: một cái ly, một cái chai,…) thì có thể đếm được Tương tự

như vậy, nếu đường, muối, sắt, sách, xe, áo, giày,… tồn tại với tư cách là một vật

thể có đường viền trong không gian thì vẫn có thể đếm được (hai muỗng đường, một nhúm muối, một thanh sắt, hai quyển sách, ba cái áo,…)

Nói một cách đơn giản, trong tiếng Việt, một danh từ có thể trực tiếp kết hợp

với số đếm là một danh từ đếm được:

(1)Tôi có hai cái nhà, m ột cái ở trung tâm thành phố, một cái ở dưới quê

(2) Nhà tôi có nuôi một con mèo

Danh từ đếm được trong tiếng Việt còn có một tên gọi khác là danh từ đơn vị,

đó là những danh từ chỉ những hình thức tồn tại của các thực thể phân lập trong không gian, trong thời gian hay trong một chiều nào khác được hình dung như giống

với không gian, có thể được tri giác tách ra khỏi bối cảnh và khỏi các thực thể khác,

kể cả các thực thể cùng tên Trong ví dụ (1), rõ ràng chúng ta có thể phân biệt được

hai cái, ở hai vị trí khác nhau trong không gian [17; tr.329]

Theo Cao Xuân Hạo, các danh từ đơn vị có chức năng tiêu biểu là làm trung tâm cho những danh ngữ có sở chỉ (referent) trong phát ngôn, bao gồm:

- những danh từ mà sở biểu chỉ bao gồm hình thức tồn tại phân lập (tuy có thể kèm theo một vài thuộc tính hình thức khác), có thể gọi là “danh từ hình thức thuần túy” Những danh từ này gồm toàn những từ đơn có số lượng tương đối hạn chế (khoảng 215 từ thông dụng)

- những danh từ mà sở biểu, ngoài hình thức tồn tại phân lập còn chứa đựng

những thuộc tính nội dung (chất liệu) tương tự như các danh từ khối (khoảng 175 từ thông dụng, nhiều hơn nếu tính cả danh từ ghép)

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Di ệp Quang Ban (Chủ biên) – Hoàng Văn Thung (2013), Ng ữ pháp tiếng Việt (t ập 1), NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Di ệp Quang Ban (Chủ biên) – Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
2. Di ệp Quang Ban (2013), Ng ữ pháp tiếng Việt (tập 2) , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2)
Tác giả: Di ệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
3. Lê Biên (1999), T ừ loại tiếng Việt hiện đại , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1999
4. Nguy ễn Tài Cẩn (1975), Ng ữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ , NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ
Tác giả: Nguy ễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1975
5. Nguy ễn Tài Cẩn (1975), T ừ loại Danh từ trong tiếng Việt hiện đại , NXB Khoa h ọc Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại Danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguy ễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1975
6. Nguy ễn Tài Cẩn (1996), Ng ữ pháp tiếng Việt , NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
7. Đỗ Hữu Châu (1981), T ừ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1981
8. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán (2011), Đại cương Ngôn ngữ học (tập 1) , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương Ngôn ngữ học (tập 1)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
9. Nguy ễn Văn Chiến (1992), Ngôn ng ữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á
Tác giả: Nguy ễn Văn Chiến
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 1992
10. Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê (1963), Kh ảo luận về ngữ pháp Việt Nam , ĐH Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Trương Văn Chình – Nguyễn Hiến Lê
Năm: 1963
11. Hoàng Dũng – Nguyễn Thị Ly Kha (2004), “ V ề các thành tố phụ sau trong trung tâm danh ng ữ tiếng Việt” , T ạp chí Ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về các thành tố phụ sau trong trung tâm danh ngữ tiếng Việt”
Tác giả: Hoàng Dũng – Nguyễn Thị Ly Kha
Năm: 2004
12. Đinh Văn Đức (2001), Ng ữ pháp tiếng Việt: Từ loại , NXB Đại học Quốc gia Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Nguy ễn Thiện Giáp (1985), T ừ vựng học tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghi ệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
14. Nguy ễn Thiện Giáp (2011), V ấn đề “từ” trong tiếng Việt , NXB Giáo d ục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề “từ” trong tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
15. Nguy ễn Thị Hai (2006), “V ề việc dạy danh từ chỉ đơn vị tự nhiên tiếng Việt cho sinh viên người nước ngoài” , T ạp chí Khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về việc dạy danh từ chỉ đơn vị tự nhiên tiếng Việt cho sinh viên người nước ngoài”
Tác giả: Nguy ễn Thị Hai
Năm: 2006
16. Cao Xuân H ạo (2006), Ng ữ pháp chức năng tiếng Việt: Ngữ đoạn và từ loại , NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Ngữ đoạn và từ loại
Tác giả: Cao Xuân H ạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
17. Cao Xuân H ạo (2007), Ti ếng Việt: mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa , NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân H ạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
18. Bùi M ạnh Hùng (2000), “V ề một số đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của “những” và “các””, T ạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Về một số đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của “những” "và “các””
Tác giả: Bùi M ạnh Hùng
Năm: 2000
19. Bùi M ạnh Hùng (2008), Ngôn ng ữ học đối chiếu , NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học đối chiếu
Tác giả: Bùi M ạnh Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
20. Nguy ễn Hữu Huỳnh (2001), Ng ữ pháp tiếng Việt , NXB T ừ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguy ễn Hữu Huỳnh
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w