1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội núi bà đen trong hoạt động du lịch văn hóa tỉnh tây ninh

254 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 254
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một mặt nào đó của lễ hội, của hoạt động du lịch mà chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng quan về lễ hội núi Bà Đen dưới góc độ d

Trang 1

MÃ SỐ: 60.22.01.13

Trang 2

MÃ SỐ: 60.22.01.13

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN NGỌC THƠ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin, số liệu được trích dẫn trong luận văn đều được chú thích rõ nguồn gốc

Học viên thực hiện

Du Quốc Đạo

Trang 4

một việc làm thiết thực, mang tính chất tổng hợp Để hoàn thành được luận văn nghiên cứu này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ từ nhiều phía

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tác giả xin được phép gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Việt Nam học và các khoa, phòng ban khác của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức hữu ích cho tác giả Đặc biệt, xin kính gởi lời tri ân sâu sắc đến Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Thơ – người Thầy đã luôn tận tình chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Ngoài ra, tác giả còn xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch tỉnh Tây Ninh; Ban quản lý Khu Di tích Lịch sử Văn hóa Danh thắng và Du lịch núi Bà Đen… đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp những tài liệu, thông tin quý giá để tác giả hoàn thành được luận văn của mình

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong việc sưu tầm, khảo sát và sử dụng các phương pháp để hoàn thành luận văn nhưng chắc chắn rằng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, các nhà nghiên cứu khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 5

1 BBPV Biên bảng phỏng vấn

3 DTLSVHDT&DL Di tích Lịch sử Văn hóa Danh thắng và Du lịch

4 ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

11 VHTT&DL Văn hóa Thể thao và Du lịch

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 10

7 Bố cục của luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13

1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Thao tác hóa khái niệm 13

1.1.1.1 Lễ hội 13

1.1.1.2 Du lịch 16

1.1.2 Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch văn hóa 21

1.1.3 Lý thuyết nghiên cứu 24

1.1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 26

1.1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 26

1.1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 27

1.2 Cơ sở thực tiễn 27

1.2.1 Hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh 27

1.2.2 Khái quát quần thể núi Bà Đen 29

1.2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 29

1.2.2.2 Môi trường xã hội 31

1.2.3 Khái quát Lễ hội núi Bà Đen 33

Trang 7

1.2.3.1 Lễ hội núi Bà Đen 33

1.2.3.2 Hệ thống cơ sở thờ phượng trên núi 36

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI NÚI BÀ ĐEN 38

2.1 Hệ thống lễ hội tiêu biểu trong quần thể núi Bà Đen 38

2.1.1 Lễ hội xuân núi Bà 38

2.1.1.1 Quá trình hình thành 38

2.1.1.2 Những nghi lễ thờ cúng 40

2.1.1.3 Những tục lệ và sinh hoạt hội 41

2.1.2 Lễ hội vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu 45

2.1.2.1 Quá trình hình thành 45

2.1.2.2 Những nghi lễ thờ cúng 48

2.1.2.3 Những tục lệ và sinh hoạt hội 53

2.2 Đặc điểm lễ hội núi Bà Đen 55

2.3 Giá trị lễ hội núi Bà Đen 61

Tiểu kết chương 2 65

CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ GIỮA LỄ HỘI NÚI BÀ ĐEN VÀ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA 66

3.1 Hoạt động du lịch văn hóa tại quần thể núi Bà Đen 66

3.1.1 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa 66

3.1.2 Thực trạng phát triển du lịch văn hóa 69

3.2 Ý nghĩa lễ hội núi Bà Đen đối với hoạt động du lịch văn hóa ở địa phương 74 3.3 Yêu cầu và tác động của hoạt động du lịch đối với lễ hội núi Bà Đen 77

3.3.1 Yêu cầu 77

3.3.2 Tác động 79

3.4 Định hướng bảo tồn và phát triển lễ hội núi Bà Đen trong quan hệ với hoạt động du lịch văn hóa địa phương 84

3.4.1 Hướng phát triển hoạt động du lịch hành hương về vùng núi Bà Đen 84

Trang 8

3.4.2 Phương hướng khai thác giá trị văn hóa của lễ hội núi Bà Đen trong hoạt

động du lịch 87

3.4.3 Định hướng cho các loại hình kinh doanh du lịch 89

3.5 Kiến nghị mang tính giải pháp trong việc phát huy lễ hội núi Bà Đen 92

3.5.1 Vai trò của Nhà nước 93

3.5.2 Vai trò của các đơn vị hoạt động trong khu di tích núi Bà Đen 98

3.5.3 Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo tồn và phát huy lễ hội 102

Tiểu kết chương 3 105

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mang tính chất cố kết cộng đồng, có liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội của từng dân tộc, từng vùng miền, từng đất nước, thậm chí là từng khu vực trên thế giới Lễ hội là nơi con người gởi gắm những khát vọng, những ước muốn vừa thiêng liêng vừa trần tục trong những bối cảnh kinh tế, xã hội, lịch sử cụ thể Lễ hội là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người; trong thời đại khu vực hóa, toàn cầu hóa, bên cạnh yếu tố tâm linh thì người

ta còn tìm tới lễ hội để nhằm mục đích thưởng thức sự đa dạng trong văn hóa, để trãi nghiệm những giá trị bản sắc riêng của từng cộng đồng dân tộc Chính vì vậy mà ngày nay hoạt động du lịch văn hóa đang có xu hướng phát triển mạnh và đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Việt Nam chúng ta, một đất nước với nghìn năm văn hiến, có truyền thống đậm

đà bản sắc văn hóa dân tộc, do đó mà hệ thống phong tục lễ hội cũng rất phong phú đa dạng và được phân bố ở khắp mọi miền tổ quốc Ngoài giá trị văn hóa tinh thần, lễ hội còn được xem là một nguồn tài nguyên du lịch, một sản phẩm du lịch hấp dẫn, có vai trò

và tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, không phải lễ hội nào cũng được tổ chức, khai thác một cách hợp

lý và hiệu quả Chẳng hạn như đối với các lễ hội diễn ra trên núi Bà Đen, hàng năm đã

và đang đóng góp một phần rất lớn trong việc phát triển du lịch văn hoá của tỉnh Tây Ninh Mặc dù vậy, nhằm khai thác phục vụ cho hoạt động du lịch văn hóa, thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan nên ban quản lý đã đơn giản hóa các lễ hội truyền thống, giảm bớt các nghi thức nghi lễ, bên cạnh đó còn có những hiện tượng pha tạp, bổ sung thêm các hoạt động múa hát hiện đại xen kẽ vào các lễ hội truyền thống Ban tổ chức chỉ biết chú trọng các yếu tố kinh tế, coi trọng việc phục vụ du khách hơn là giá trị

Trang 10

văn hóa truyền thống của lễ hội Ngoài ra, các hiện tượng biến tướng trong lễ hội như: cướp lộc, bói toán, mê tín dị đoan… cũng thường xuyên xảy ra

Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu bước đầu cung cấp những thông tin hữu ích về núi Bà Đen cũng như là các lễ hội diễn ra trên núi Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một mặt nào đó của lễ hội, của hoạt động du lịch mà chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng quan về lễ hội núi Bà Đen dưới góc

độ du lịch, đặc biệt là vẫn chưa có tác giả nào bàn đến mối quan hệ giữa lễ hội núi Bà Đen với hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh và định hướng khai thác, phát triển lễ hội du lịch này

Chính vì những lý do đó mà tác giả chọn đề tài “Lễ hội núi Bà Đen trong hoạt

động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên

ngành Việt Nam học của mình Tác giả mong muốn được đóng góp một phần công sức của mình vào việc nghiên cứu, tìm ra bản chất của các lễ hội diễn ra tại núi Bà Đen, điển hình là hai lễ hội được xem là tiêu biểu và nổi tiếng nhất đó chính là Lễ hội Xuân núi Bà

và Lễ hội Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu Thông qua đó mới thấy được vai trò của nó đối với hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh, từ đó tìm ra những phương hướng tổ chức

và định hướng khai thác hợp lý nguồn tài nguyên du lịch văn hóa này, tất cả đều hướng vào mục tiêu chính đó là giúp cho lễ hội núi Bà Đen vừa phát triển du lịch vừa giữ gìn

và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:

- Miêu tả và nhận diện đặc trưng, giá trị cơ bản của hai lễ hội tiêu biểu diễn ra trên núi Bà Đen trong giai đoạn hiện nay

Trang 11

- Phân tích thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh – trường hợp khu di tích núi Bà Đen, nêu lên giá trị, tiềm năng và thử thách của lễ hội núi Bà Đen trong hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh

- Đề xuất định hướng khai thác hợp lý cùng với một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy lễ hội núi Bà Đen để phục vụ cho du lịch văn hóa Tây Ninh ngày càng hiệu quả

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, mang những giá trị văn hóa đặc trưng nhất của cộng đồng địa phương Từ xưa đến nay, lễ hội luôn là một mục tiêu hấp dẫn của nhiều công trình nghiên cứu từ mặt lý luận đến thực tiễn, từ khái quát đến việc miêu tả, phân tích cụ thể nội dung của lễ hội, cũng như là vai trò của lễ hội trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân địa phương…

Theo đó, liên quan đến mặt lý luận về văn hóa dân gian và đôi nét về lễ hội thì có rất nhiều tài liệu nghiên cứu: các công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian của Đinh

Gia Khánh như Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian (1989) [19], Văn hóa dân gian

Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á (1993) [20] đã nêu bật những nét khái

quát nhất về đời sống văn hóa dân gian của người Việt, thông qua đó tác giả còn đi phân tích sơ khảo những khía cạnh về đời sống văn hóa tâm linh như: tín ngưỡng, lễ hội, các

phong tục truyền thống… Đặc biệt là công trình nghiên cứu Lễ hội cổ truyền (1992) do

Lê Trung Vũ chủ biên [61], đây được xem là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu vào phân tích lễ hội, cung cấp cho chúng ta những nghiên cứu về các lễ hội theo phương pháp của các trường Đại học tại Liên Xô, tách phần lễ và phần hội ra với những “hành động hội”, “kịch bản hội” theo mô hình các lễ hội quần chúng

Công trình nghiên cứu Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại (1994)

do Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng chủ biên [22] Đây là một công trình tham luận

Trang 12

khoa học của nhiều khách mời, đại biểu đến từ trong nước và quốc tế Công trình đã đưa

ra những tổng kết bước đầu về mặt lý luận nghiên cứu về lễ hội ở nước ta, trong đó có nhấn mạnh đến vai trò và giá trị của lễ hội trong cuộc sống đương đại Các bài viết chủ yếu đề cập đến lễ hội truyền thống gắn liền với đời sống xã hội của các dân tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai; trong đó cũng có một số bài viết bước đầu nhắc đến mối quan

hệ giữa lễ hội và du lịch ở giai đoạn hiện tại lúc bấy giờ

Trong Cơ sở văn hóa Việt Nam (1997) do Trần Quốc Vượng chủ biên [63] hoặc

Nhận diện mấy vấn đề về văn hóa (1999) của Phạm Vũ Dũng [11], các tác giả đã đưa ra

một số lý thuyết, khái niệm về văn hóa dân gian cũng như những quan điểm để nhận

diện về văn hóa truyền thống và văn hóa đương đại Với công trình Văn hóa dân gian

Việt Nam – những suy nghĩ (2000) [4], Nguyễn Chí Bền đã viết về những tín ngưỡng, lễ

hội và sự mê tín trong lễ hội cổ truyền Việt Nam và khái quát lên được vai trò của lễ hội dân gian trong đời sống tâm linh của con người

Khi nhắc đến các công trình nghiên cứu về văn hóa cũng như là lễ hội ở Nam Bộ

thì phải nhắc đến nhà nghiên cứu Huỳnh Quốc Thắng Với công trình Lễ hội dân gian ở

Nam Bộ (2003) [47], tác giả đã khái quát được nhiều lễ hội dân gian truyền thống ở Nam

Bộ, từ các lễ hội thờ cúng Thần Hoàng, thờ các nhân vật lịch sử cho đến các lễ hội thờ Mẫu, thờ Nữ thần Công trình đã nêu ra những đặc trưng và xu hướng phát triển của các

lễ hội dân gian tiêu biểu ở Nam Bộ, đó là bên cạnh những giá trị văn hóa truyền thống Bắc Bộ được gìn giữ thì thông qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa trên vùng đất mới, lễ hội Nam Bộ đã tạo ra được những bản sắc văn hóa mới, đặc trưng cho riêng mình Từ đó góp phần hình thành nên các nguồn “tài nguyên” đa dạng, phong phú cho

hoạt động du lịch văn hóa của vùng đất này Bên cạnh đó, trong công trình Khai thác lễ

hội và các sự kiện góp phần phát triển du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh (2007) do

Huỳnh Quốc Thắng chủ biên [48], tác giả cũng đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích thực trạng khai thác các lễ hội (bao gồm cả lễ hội truyền thống và lễ hội hiện đại) để góp phần

Trang 13

phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh – một “đầu tàu du lịch” của vùng đất Nam

Bộ

Với công trình nghiên cứu Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín

ngưỡng (2008) của Lê Hồng Lý [31], tác giả đã nêu ra được các yếu tố tác động đến lễ

hội, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố kinh tế thị trường và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị lễ hội Trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng khi kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện thì nhu cầu văn hóa cũng tăng lên Cùng với việc xây dựng các đình, chùa, miếu là việc khôi phục lại các lễ hội làng vốn bao lâu nay bị quên lãng Lễ hội vừa góp phần bảo tồn các giá trị di sản văn hóa truyền thống bên cạnh đó còn tạo ra nguồn lợi kinh tế to lớn đối với cộng đồng địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích có được thì những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng đã xuất hiện làm ảnh hưởng lớn đến lễ hội

Trong công trình Lễ hội truyền thống các dân tộc Việt Nam – các tỉnh phía Bắc

(2011) [29], tác giả Hoàng Lương đã tập trung vào phân tích chức năng, vai trò và sự tác động của lễ hội, các hình thái tín ngưỡng dân gian đối với đời sống cộng đồng Bên cạnh

đó, tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những nghi thức, nghi lễ, nội dung một số lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Qua đó, nhằm thấy rõ vai trò quan trọng của lễ hội đối với đời sống tinh thần của cộng đồng để trân trọng, kế thừa và phát huy những cái hay, cái đẹp của chúng góp phần xây dựng nền văn hóa các dân tộc Việt

Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Còn với công trình Lễ hội cổ truyền của người

Việt – cấu trúc và thành tố (2013) [5], tác giả Nguyễn Chí Bền đã đi sâu vào phân tích

cấu trúc và các thành tố quan trọng để cấu thành nên lễ hội, từ đó đưa ra những phương hướng để bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội trong tình hình hiện nay

Nói về nhóm các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch và du lịch văn hóa thì có: Nhập môn khoa học du lịch (1999) của Trần Đức Thanh [44], Việt Nam văn hóa

Trang 14

Lê Thị Vân [58], Quy hoạch du lịch (2013) của Bùi Thị Hải Yến [67], Tổng quan du lịch

(2015) của Võ Văn Thành [45]… các tác giả đã nêu ra cơ sở lý luận để giải thích thuật ngữ về du lịch, các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch và kinh doanh du lịch; các khái niệm văn hóa, du lịch văn hóa… Thông qua đó còn đi sâu vào nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa các thành tố đó

Đặc biệt là tài liệu Giáo trình quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch (2011) của nhóm nhiều tác giả [33] và Giáo trình du lịch văn hóa – những vấn đề lý luận và

nghiệp vụ (2014) do Trần Thúy Anh chủ biên [1] Bên cạnh việc nêu ra các khái niệm

cơ bản thì các tác giả còn đi sâu vào phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch cũng như là đề cặp đến khía cạnh về lễ hội trong mối quan hệ với du lịch văn hóa Còn trong

công trình Bàn về văn hóa du lịch Việt Nam (2016) của Phan Huy Xu và Võ Văn Thành

[66], tác giả đã đi vào phân tích thực trạng văn hóa du lịch tại Việt Nam và từ đó đưa ra những giải pháp để phát triển cũng như là nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch Việt Nam trên trường quốc tế

Ngoài ra, trong công trình Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế (2015) về vấn đề

Toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch của nhóm nhiều tác giả [53] đã tập hợp

được rất nhiều bài viết nghiên cứu khoa học có trị về du lịch và các mối tương quan với

du lịch Đa số các tác giả đi sâu vào nghiên cứu, phân tích các khái niệm cũng như nêu lên được thực trạng, vai trò, vị thế của ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh địa phương hóa và toàn cầu hóa du lịch Thông qua đó là đề ra những định hướng, giải pháp để phát triển các loại hình du lịch (du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch làng nghề…) một cách bền vững

Bên cạnh cách công trình sách thì còn có một số luận án, luận văn nghiên cứu về

lễ hội gắn liền với việc phát triển du lịch như: luận án tiến sỹ Lễ hội dân gian của người

Việt ở Nam Bộ: khía cạnh giao tiếp văn hóa dân tộc (1999) của Huỳnh Quốc Thắng [46],

luận văn thạc sỹ Bước đầu tìm hiểu vấn đề giữa gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hoạt

Trang 15

động du lịch ở Việt Nam (2002) của Huỳnh Thị Mỹ Đức [12], luận văn thạc sỹ Lễ hội

Bà Chúa Xứ núi Sam trong hoạt động du lịch văn hóa (2005) của Nguyễn Phước Hiền

[16], luận văn thạc sỹ Lễ hội truyền thống tỉnh Tiền Giang nhìn từ góc độ văn hóa du

lịch (2013) của Trịnh Minh Chánh [9], luận văn thạc sỹ Di sản văn hóa với phát triển du lịch tại Đồng Nai (2013) của Lê Xuân Hậu [15]… đã đề cập tổng thể các vấn đề về văn

hóa, lễ hội đặc trưng tiêu biểu trong quá trình phát triển du lịch của địa phương

Liên quan đến vùng đất Tây Ninh và các hoạt động văn hóa, du lịch của tỉnh thì

có các nguồn tài liệu nghiên cứu như: Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam (2008) do Vũ Minh Giang (chủ biên) [13], Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam (tập 5) - Các tỉnh,

thành phố cực Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ (2006) do Lê Thông chủ biên [51], luận

văn thạc sỹ Phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 trong điều kiện hội nhập kinh tế

quốc tế (2011) của Phạm Thị Sương, luận văn thạc sỹ Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh (2015) của Đào Duy Tân [43]…

Ngoài ra còn một số bài viết đăng trên các tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, tạp chí Du

lịch Việt Nam, tạp chí Di sản văn hóa, báo Tây Ninh, và một số trang web như: trang

web du lịch Việt Nam (http://vietnamtourism.gov.vn), các trang web của tỉnh Tây Ninh (www.tayninh.gov.vn), thành phố Tây Ninh (http://thanhpho.tayninh.gov.vn), trang web của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh (www.sovhttdl.tayninh.gov.vn)… cũng đã giới thiệu sơ nét về hoạt động du lịch và các danh lam thắng cảnh ở Tây Ninh, về khu di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen cũng như là lễ hội núi Bà Đen

Nhìn chung những công trình nghiên cứu khoa học, tài liệu trên bước đầu đã cung cấp những thông tin hữu ích về các lễ hội truyền thống, hoạt động du lịch của nhiều vùng miền trên cả nước Đó là những những tài liệu quý giá, gợi mở nhiều vấn đề quan trọng giúp cho quá trình thực hiện luận văn của tác giả được thuận lợi hơn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một mặt nào đó của lễ hội, của hoạt động du

Trang 16

lịch, đặc biệt là vẫn chưa có tác giả nào bàn đến mối quan hệ giữa lễ hội núi Bà Đen với hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh và định hướng khai thác, phát triển lễ hội du lịch này; chính vì vậy mà tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: trong giới hạn của luận văn, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu hai lễ hội: Xuân núi Bà và Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu Thông qua đó, nêu bật tính chất, giá trị và mối quan hệ của hai lễ hội đó đối với hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt không gian: tại quần thể núi Bà Đen nằm trên địa bàn của phường Ninh

Sơn và hai xã Tân Bình, Thạnh Tân thuộc thành phố Tây Ninh

+ Về mặt thời gian: phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn thời gian từ ngày núi

Bà Đen được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 100/VH-QĐ ngày 21/01/1989 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu lễ hội trong mối quan hệ với du lịch văn hóa được xem là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính tổng hợp, tiến hành trên nhiều bình diện khác nhau Để thực hiện luận văn này, tác giả đã chọn phương pháp định tính làm phương pháp chính với hai phương pháp nghiên cứu: Quan sát tham dự và Phỏng phấn sâu

+ Quan sát tham dự: là một phương pháp quan trọng, mang tính thực tiễn cao,

được tiến hành nhằm thu thập thông tin trực tiếp về lễ hội Xuân núi Bà và lễ hội Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, thông qua đó có thể thấy được mối quan hệ của nó với hoạt động

Trang 17

du lịch văn hóa của tỉnh Tây Ninh như thế nào Ở đây, tác giả tiến hành quan sát tham dự:

- Lễ hội Xuân núi Bà: tháng giêng âm lịch 2015 Mà cụ thể là vào các ngày quan trọng của lễ hội như: khai mạc lễ hội (mùng 4), Nghi thức Cầu siêu (tối 18 tháng giêng)

- Lễ hội Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu: tác giả tiến hành quan sát tham dự trong các ngày mùng 4, 5, 6 tháng 5 âm lịch 2015 (đây là các ngày chính diễn ra lễ hội)

- Ngoài ra, tác giả còn tiến hành lên núi khảo sát ngẫu nhiên những ngày bình thường (những ngày không có lễ hội) như: 15 tháng 3 âm lịch, 28 tháng 4 âm lịch hoặc 15 tháng

8 âm lịch… để có được những thông tin nhằm so sánh với các ngày chính hội diễn ra Quá trình quan sát tham dự nhằm mục đích tiếp cận toàn diện từng chi tiết của lễ hội, tìm hiểu về quy mô lễ hội cũng như là số lượng du khách tham gia lễ hội

+ Phỏng vấn sâu: để phục vụ đề tài nghiên cứu, tác giả đã tiến hành phỏng vấn

nhiều đối tượng thông tín viên khác nhau như: chính quyền địa phương, ban quản lý, một số người dân địa phương và khách du lịch (chọn ngẫu nhiên)… với tổng cộng 15 cuộc phỏng vấn sâu nhằm mục đích tìm hiểu đặc điểm sinh hoạt của lễ hội cũng như là tâm lý, nhu cầu, sở thích… của khách du lịch hành hương, của người dân địa phương và mục tiêu quản lý nhà nước Bên cạnh đó còn biết được mức độ quan tâm, cách quản lý, bảo tồn và khai thác lễ hội của chính quyền địa phương, của các ban quản lý và ban tổ chức lễ hội

Tất cả những thông tin khai thác được ghi chép, ghi âm, chụp ảnh, quay phim…

để lưu giữ lại một cách khách quan làm tư liệu cho đề tài, làm sáng tỏ hơn những nhận định của tác giả được đưa ra trong đề tài nghiên cứu

Để xử lý các dữ liệu thu được, luận văn sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu liên ngành trong đó ngành Việt Nam học là ngành chính với các ngành khác bổ trợ như: văn

Trang 18

hóa học, dân tộc học, sử học, địa lý, du lịch… để phân tích giá trị, đặc trưng của hai lễ hội và mối quan hệ của nó với ngành du lịch; đồng thời cũng phân tích yêu cầu, tác động của du lịch ngược lại đối với hai lễ hội đó

Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành thu thập và phân tích những tài liệu, số liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu trên các sách vở, tạp chí, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu cũng như các nguồn tài liệu được cung cấp từ ban quản lý khu di tích

và chính quyền địa phương Cách thức này giúp xem xét một cách tổng quát quá trình hình thành, hoạt động và phát triển của lễ hội, giúp đi sâu tìm hiểu các giá trị văn hóa của lễ hội như: truyền thuyết, lịch sử, các di tích, những nghi thức, tục lệ… từ đó đề xuất cách giải quyết khoa học mối quan hệ giữa lễ hội với yếu tố tâm linh và hoạt động du lịch văn hóa, đồng thời định hướng khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên lễ hội Xuân núi Bà và lễ hội Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu cho hoạt động du lịch văn hóa ở Tây Ninh

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

+ Về mặt khoa học, luận văn nhằm làm rõ những vấn đề về lý luận liên quan đến

lễ hội và tiếp cận lễ hội từ hoạt động du lịch văn hóa Các lý thuyết về du lịch, du lịch văn hóa và văn hóa du lịch, mối quan hệ giữa lễ hội với du lịch văn hóa

Luận văn nghiên cứu tổng quan, diễn trình và ý nghĩa các lễ hội tiêu biểu trong khu di tích núi Bà Đen nhằm nắm bắt rõ được bản chất của các lễ hội và tác động của nó tới hoạt động du lịch văn hóa; đồng thời định hướng khai thác một cách hợp lý nguồn tài nguyên lễ hội núi Bà Đen cho hoạt động du lịch văn hóa ở Tây Ninh

+ Về mặt thực tiễn, luận văn hoàn thành hy vọng có thể giúp:

Tăng cường nhận thức được các lễ hội diễn ra trên núi Bà Đen cũng như hiểu được thực trạng phát triển du lịch tại Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen Đánh giá tiềm

Trang 19

năng, thực trạng của lễ hội gắn với việc định hướng, khai thác, phát triển, bảo tồn và phát huy các giá trị của lễ hội đó Tất cả nhằm mục đích phục vụ cho việc phát triển du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh và góp phần bảo tồn, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của lễ hội núi Bà Đen

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên chuyên ngành du lịch Luận văn có thể là tư liệu tham khảo giúp cho các công ty lữ hành thiết kế tour du lịch về Tây Ninh cũng như là lên núi Bà Đen một cách hợp lý về mặt không gian, thời gian; giúp cho hướng dẫn viên du lịch nắm bắt một cách chính xác nhất về thông tin, bản chất của các lễ hội diễn ra trên núi Bà Đen; từ đó góp phần làm cho khách du lịch hiểu đúng thực chất và giá trị của những lễ hội này

Trang 20

7 Bố cục của luận văn

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì luận văn chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương này tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn để làm nền tảng cho việc nghiên cứu các chương tiếp theo Cụ thể, trong chương này, tác giả sẽ làm rõ các khái niệm liên quan đến lễ hội và du lịch, phân tích mối quan hệ giữa lễ hội với du lịch văn hóa và nêu lên một một số lý thuyết nghiên cứu được áp dụng trong luận văn Bên cạnh đó còn nêu khái quát hoạt động du lịch văn hóa Tây Ninh, đặc điểm quần thể núi

Bà Đen… và những truyền thống tín ngưỡng, lễ hội, cơ sở thờ phượng tại vùng núi này

Chương 2: Đặc trưng và giá trị văn hóa lễ hội núi Bà Đen

Nội dung của chương là đi sâu vào phân tích hai lễ hội đặc trưng, tiêu biểu và thu hút khách du lịch đến với núi Bà Đen nhiều nhất đó là lễ hội Xuân núi Bà và lễ hội Vía

Bà Linh Sơn Thánh Mẫu Thông qua đó là nêu lên những đặc điểm cũng như là giá trị

cơ bản nhất mà hai lễ hội mang lại cho người dân địa phương

Chương 3: Mối quan hệ giữa Lễ hội núi Bà Đen và hoạt động du lịch văn hóa

Trong chương này, tác giả đi vào phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại khu di tích núi Bà Đen Nêu lên những giá trị, những tác động, mối quan

hệ hai chiều giữa lễ hội núi Bà Đen với hoạt động du lịch văn hóa của địa phương Thông qua đó là đề ra những định hướng, giải pháp cần thiết để bảo tồn và phát huy lễ hội núi

Bà Đen trong hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh

Trang 21

 Khái niệm lễ hội

Xét về nghĩa gốc của thuật ngữ “lễ hội”; theo từ điển tiếng Việt: “lễ” là “những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” [59, tr.540] Còn “hội” là “cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt” [59, tr.443] Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa,

là sản phẩm tinh thần của con người được hình thành và phát triển trong quá trình lịch

sử Chính vì vậy, khi bàn về thuật ngữ “lễ hội”, có rất nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau Theo nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, ông dùng thuật ngữ là “hội lễ” “Hội lễ là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài người trên

cơ sở một nhu cầu không thể không thỏa mãn của con người sống thành xã hội Hội lễ

đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc, tức là dưới chế độ cộng sản nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội cộng sản văn minh sau này” [19, tr.172]

Trong quá trình nghiên cứu về lễ hội, tác giả Huỳnh Quốc Thắng đã đưa ra quan

điểm: “Lễ (rite) là phần thiêng nên có các nghi thức quá trình nghiêm ngặt, chặt chẽ, ít

thay đổi và chủ yếu gắn với nhu cầu tâm linh, bao gồm: cầu, cúng, rước, tụng, lạy… tức những hành vi ứng xử trang trọng mang tính chất suy nghiệm của người dự lễ hướng về một đối tượng cử lễ mang những giá trị lịch sử, văn hóa hoặc ý nghĩa thiêng liêng nào

đó Và hội (fête) chủ yếu là đời thường (trần tục), nơi giải tỏa tâm lý, sáng tạo và hưởng

Trang 22

thụ văn hóa (vật chất, tinh thần), đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng bao gồm: ăn, chơi, giao duyên, thi tài, vãn cảnh… tức những sinh hoạt vui vẻ, hào hứng mang tính chất “cộng cảm” và vì nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng đồng người tham gia lễ hội là chủ yếu Lễ và hội vừa mang đặc điểm, tính chất riêng như vậy vừa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đôi khi như đan xen hoặc thay thế nhau” [47, tr.40-41]

Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách giải thích khác nhau, nhưng nhìn chung tất cả các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm về lễ hội là dựa trên hai thành tố cơ bản:

Lễ và Hội “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao

đời nay quy tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ nhân khang, vật thịnh” [18, tr.647]

 Phân loại lễ hội Dựa trên những phương diện và mục đích nghiên cứu khác nhau thì các nhà nghiên cứu cũng đã phân chia lễ hội ra thành nhiều cách Khi nghiên cứu về văn hóa dân gian, Đinh Gia Khánh đã đưa ra quan điểm: “Có nhiều cách phân loại hội lễ, cách phân loại đơn giản nhất là chia hội lễ thành hội lễ vốn không có nguồn gốc tôn giáo và hội lễ

có nguồn gốc tôn giáo” [19, tr.174] Tuy nhiên, việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, không thể nào hoàn toàn chính xác được: “Trong trường kỳ lịch sử, giữa những hội lễ ra đời trong thời nguyên thủy và những hội lễ có nguồn gốc tôn giáo ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp đã có ảnh hưởng qua lại Ảnh hưởng ấy khiến cho trong một số trường hợp, rất khó xác định xem một hội lễ nào đó là hội lễ phi tôn giáo hoặc hội lễ tôn giáo” [19, tr.175] Và “nhìn chung, khi xem xét các hội lễ ngày trước, không

Trang 23

thể tách bạch một cách đơn giản ra hai loại hội lễ là hội lễ hoàn toàn không chịu ảnh hưởng của tôn giáo và hội lễ hoàn toàn mang tính chất tôn giáo [19, tr.177-178]

Theo Trần Quốc Vượng trong bài viết “Lễ hội: một cái nhìn tổng thể” [64, 209] thì nên chia lễ hội ra làm 3 loại: Lễ hội nông nghiệp, Lễ hội công giáo, Lễ hội cách

tr.201-mạng Trong Văn hóa dân gian – những thành tố [8, tr.545], nhà nghiên cứu Lê Ngọc

Canh khi dựa vào ba tiêu chí: mục đích nội dung ngành nghề của lễ hội, môi trường hoàn cảnh trình diễn lễ hội, tính chất và quy mô của lễ hội; thì ông đã chia lễ hội ra thành nhiều loại như: lễ hội nông nghiệp, lễ hội ngư nghiệp, lễ hội lịch sử, lễ hội trình nghề, lễ hội phồn thực, lễ hội thi tài, lễ hội văn nghệ, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tôn giáo Còn đối với nhà nghiên cứu văn hóa Nam Bộ Huỳnh Quốc Thắng, khi đi sâu vào lĩnh vực lễ hội truyền thống thì ông nhận định rằng “Mặt khác người ta cũng có thể phân biệt lễ hội dân gian (thuộc dòng văn hóa dân gian) hoặc lễ hội truyền thống (lễ hội mang những giá trị văn hóa truyền thống) với lễ hội tôn giáo (gắn với sinh hoạt của các tôn giáo thế giới cũng như tôn giáo địa phương), rồi gộp chung các loại lễ hội đó với nhau bằng khái niệm

lễ hội cổ truyền (lễ hội được lưu truyền từ trong lòng xã hội cũ, tức các xã hội tiền công nghiệp) nhằm để phân biệt với lễ hội hiện đại (còn được gọi là lễ hội mới hay lễ hội cách mạng) hiện nay” [47, tr.41-42] Có nghĩa là khi căn cứ vào tính chất thời gian và cách thức tổ chức của lễ hội thì ông tạm chia lễ hội thành hai loại: lễ hội truyền thống (lễ hội dân gian, lễ hội cổ truyền) và lễ hội hiện đại (lễ hội cách mạng, những lễ hội mới sau này)

Theo Quy chế tổ chức lễ hội năm 2001 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ

Văn hóa, Thể thao và Du lịch) [6], lễ hội được phân thành: lễ hội lịch sử, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài vào

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu về lễ hội truyền thống (lễ hội vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu) và lễ hội hiện đại (lễ hội xuân núi Bà);

Trang 24

thông qua đó đi sâu vào phân tích những giá trị, mối quan hệ của nó đối với hoạt động

du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh

1.1.1.2 Du lịch

 Khái niệm du lịch Ngày nay, mặc dù du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, việc giải thích thuật ngữ du lịch vẫn chưa đi đến được sự hòa hợp thống nhất với nhau Tùy theo góc độ tiếp cận mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan điểm, những khái niệm khác nhau về du lịch

Theo Hội Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành (International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hoạt động của du khách đến nơi khác với địa điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải

để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống” [16, tr.14]

Ở Việt Nam, theo Trần Đức Thanh thì du lịch là “sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rãnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ do các cơ sở

chuyên nghiệp cung cấp” [44, tr.14] Trong Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam 2005 thì

“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [27, tr.10]

Bên cạnh những khái niệm xoay quanh vấn đề du lịch là một “hoạt động hưởng thụ” của con người ra thì còn có rất nhiều định nghĩa khác phân tích du lịch theo hướng

là “hoạt động kinh tế - xã hội” của con người Theo như Holloway: “du lịch là thời gian

di chuyển ngắn hạn tạm thời của con người đến những điểm đến bên ngoài những nơi họ thường sống và làm việc, và những hoạt động của họ trong lúc họ ở tại điểm đến; nó bao

Trang 25

gồm sự di chuyển cho tất cả những mục đích, cũng như là những ngày tham quan và du ngoạn”1 [68, tr.2-3] Trong số những quan điểm bàn về vai trò hoạt động kinh tế - xã hội của du lịch thì nổi bật nhất là định nghĩa được đưa ra tại Hội nghị Liên hiệp Quốc tế về

du lịch diễn ra ở Roma – Italia (21/8 – 5/9/1963): “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các

cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [45, tr.19-20]

 Du lịch văn hóa

Xét về thuật ngữ “văn hóa”: “văn” có nghĩa gốc là làm cho đẹp hơn, “hóa” có nghĩa gốc là biến đổi [37, tr.273] Văn hóa là cách thức biến đổi một loại hình gì đó cho đẹp hơn, ví dụ như văn hóa ngôn từ (làm cho ngôn từ đẹp đẽ hơn), văn hóa nghệ thuật (đa dạng hóa màu sắc nghệ thuật thêm phong phú hơn), văn hóa cuộc sống (là cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn)… Như vậy thì du lịch văn hóa là loại hình du lịch lấy văn hóa làm điểm tựa, là loại hình du lịch mang ý nghĩa tôn vinh và bảo vệ những giá trị văn hóa tốt đẹp của con người, làm cho tri thức con người trở nên phong phú hơn

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về du lịch văn hóa Theo như quan điểm của Tiến sĩ Richards Greg thì Du lịch văn hóa là “sự di chuyển của những người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới khu vực hấp dẫn về văn hóa với mong muốn tập hợp những kinh nghiệm và thông tin mới để thỏa mãn nhu cầu văn hóa của họ”2 [69, tr.24] Còn đối với Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO: United Nation World Tourism Organization): “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên

1 Nguyên văn: “Tourism is the temporary short-term movement of people to destinations outside the palaces where they normally live and work, and activities during their stay at these destinations; it includes movement for all purposes, as well as day visits and excursions”

2 Nguyên văn: “The movement of persons to cultural attractions away from their normal place of

Trang 26

cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích và đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương” [1, tr.7]

Qua đó, chúng ta thấy được du lịch văn hóa thực chất là một loại hình du lịch trong ngành du lịch, nó bao gồm rất nhiều hoạt động trong hệ thống du lịch nói chung; chính vì vậy mà du lịch văn hóa giữ một vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu ngành du lịch của thế giới Du lịch văn hóa đôi khi được xem như một ngành trong ngành kinh tế văn hóa, tức là ngành kinh doanh có sử dụng yếu tố văn hóa Hầu như mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên thế giới ít nhiều đều có những nét văn hóa truyền thống đặc trưng riêng của mình và nó được xem là tiền đề, là nguồn “nguyên liệu” chính để thúc đẩy ngành du lịch phát triển

 Du lịch sinh thái

Theo Hector Ceballos – Lascurain (1987) thì “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với các mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thiên nhiên hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [30, tr.8] Theo Megan E Wood (1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội

về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho nhân dân địa phương” [30, tr.8]

Bên cạnh đó, Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế TIES (1999) nhận định: “Du lịch sinh thái là việc đi lại của người có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện được phúc lợi cho người dân địa phương” [30, tr.10].Các định nghĩa, khái niệm trên đều nêu bật được vấn đề chung đó là khách du lịch có thể khám phá và tìm hiểu những hệ sinh thái và văn hóa bản địa tại những vùng đất mới, còn

Trang 27

tương đối hoang sơ Đồng thời, chính họ cũng sẽ là những người góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng địa phương thông qua việc mang lại các phúc lợi và hành động bảo vệ thiên nhiên của họ

 Du lịch bền vững

Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC) thì “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai” [39, tr.149] Đây là một định nghĩa ngắn gọn, chỉ đề cập đến sự đáp ứng nhu cầu của du khách hiện tại và tương lai chứ chưa nói đến nhu cầu của cộng đồng dân cư địa phương, đến môi trường sinh thái Còn theo Hens L thì “Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống” [39, tr.149]

Tại hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch bền vững

là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch

và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm

mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho sự phát triển của con người” [39, tr.149] Như vậy, phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm kêu gọi con người sống và phát triển nguồn tài nguyên mà mình đang sở hữu một cách có trách nhiệm Điều này không chỉ có lợi cho chính họ mà còn mang lại cho thế hệ sau một cuộc sống tốt đẹp hơn

Trang 28

1.1.1.3 Tín ngưỡng

“Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao

cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái

“trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng” Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm ” [50, tr.16]

Theo Ban Tôn giáo Chính phủ, “Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” [55, tr.6] Tín ngưỡng là những dạng thức sinh hoạt tâm linh tuy có nội dung tôn giáo song chưa đạt tới trình độ của một tôn giáo Đi sâu vào phân tích tín ngưỡng, ta có “Tín ngưỡng thờ Mẫu (đạo Mẫu) là sự tin tưởng, sùng bái, thờ phụng những vị nữ thần sáng thế, gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ, được người đời tin rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ, che chở cuộc sống còn nhiều bất trắc của con người” [57, tr.1]

1.1.1.4 Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu

Xét về nguồn gốc, do ảnh hưởng văn hóa tín ngưỡng thờ Mẫu của người Chăm,

“Bà Đen” chính là tên gọi của nữ thần Kali (vợ thần Siva) - Mẹ Xứ sở của người Chăm

Po Inư Nưgar: “Nữ thần Kali (Bà Đen) được gọi là Mẹ của thế giới Trên bia đá ở Tháp

Po Nagar có khắc truyện về nàng Mưjưk (tiếng Chăm là Bà Đen) Đối với người Chăm, tên gọi Mukjuk gợi lại cái nghĩa màu đen ban đầu của Kali Về khái niệm “vị vua đàn

bà” màu da đen tại Việt Nam là dấu ấn của Hindu giáo thể hiện trong văn hóa của tộc

Trang 29

người Chăm ở miền Trung và người Khmer ở Nam Bộ, ngoài ra còn thuộc về cộng đồng người Ấn trước đây sinh sống tại Sài Gòn (TP HCM)” [57, tr.5].

Bên cạnh đó, do “Người Khmer do trước đây cũng theo Bà la môn giáo và cũng ảnh hưởng tín ngưỡng thờ nữ thần Kali màu da đen nên họ gọi nữ thần này theo tiếng

Khmer là Neang Khmau (Bà Đen), người Việt gọi là Linh Sơn Thánh Mẫu (yếu tố nữ

thần da đen ở vùng rừng núi - Linh Sơn, giống như nữ thần Parvati tiếng Ấn có nghĩa là Sơn nữ)” [57, tr.5].Chính vì vậy mà Bà Đen được xem là Linh Sơn Thánh Mẫu – một

vị Thánh Mẫu cai quản vùng núi linh thiêng này và được thờ phổ biến trong các ngôi chùa trong Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen

1.1.2 Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch văn hóa

Thông qua định nghĩa ta thấy rằng lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng, được xem là thành tố của văn hóa Còn du lịch văn hóa là các hoạt động vui chơi, tìm hiểu, nghiên cứu khám phá về văn hóa của khách du lịch tại những điểm đến; bên cạnh đó du lịch văn hóa còn là một ngành kinh tế, khai thác các giá trị văn hóa để phát triển kinh tế du lịch Chính vì vậy mà mối quan hệ giữa hai thành tố này được xem là tương đối đa dạng và phức tạp, chúng vừa có mối quan hệ “tương sinh” hỗ trợ lẫn nhau, cùng nhau phát triển; vừa có mối quan hệ “tương khắc” kìm hãm, khắc chế lẫn nhau khi

mà một trong hai thành tố phát triển không đúng hướng, không bền vững

Trong xu hướng toàn cầu hóa ngày nay, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường phát triển thì hầu như tất cả mọi người, mọi thành phần kinh tế, loại hình kinh tế… đều phải xích lại gần nhau, cùng nhau hợp tác và phát triển với phương châm “đôi bên cùng

có lợi” Chính vì vậy mà giữa lễ hội và du lịch văn hóa cũng không phải là ngoại lệ, mặc

dù hai thành tố này mỗi bên đều có mục tiêu, phương hướng riêng của mình nhưng muốn duy trì và phát triển bền vững trong xã hội hiện đại ngày nay thì chúng bắt buột phải thiết lập mối quan hệ “tương sinh” với nhau, nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau, hỗ

Trang 30

trợ nhau cùng nhau phát triển: “lễ hội và sự kiện khai thác trong du lịch đều có chung một mục tiêu duy nhất là: tận dụng tối đa sản phẩm văn hóa từ truyền thống đến hiện đại

để quảng bá du lịch đến với du khách trong nước và quốc tế” [48, tr.21]

Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng, là di sản văn hóa phi vật thể; cho nên lễ hội luôn là mục tiêu ưu tiên để ngành du lịch văn hóa hướng tới khai thác và biến chúng thành một “sản phẩm du lịch văn hóa cao cấp” Khai thác lễ hội chính là khai thác các giá trị văn hóa tâm linh, giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc Lễ hội là yếu tố phản ánh rõ nét nhất đời sống sinh hoạt văn hóa cộng đồng của địa phương mà du khách hướng đến Lễ hội là một sản phẩm du lịch văn hóa linh hoạt, mang tính “động” (so với các sản phẩm du lịch văn hóa mang tính “tĩnh” như: di tích, đền đài, lăng tẩm, chùa miếu…); do

đó, lễ hội luôn được xem là một loại sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị, có sức hút lớn nhất, hấp dẫn nhất đối với khách du lịch Khi lễ hội được khôi phục, phát triển và trở thành một sản phẩm du lịch văn hóa thực thụ của địa phương thì lúc này lễ hội sẽ trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy ngành du lịch văn hóa đi lên, kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Lễ hội đóng góp một vai trò rất quan trọng trong việc quảng bá hình ảnh du lịch của địa phương tới mọi vùng miền trong nước và trên thế giới

Lễ hội là nguồn “nguyên liệu” quan trọng để phát triển du lịch văn hóa, còn du lịch văn hóa chính là “môi trường” để lễ hội phát huy giá trị của nó Du lịch văn hóa không chỉ là môi trường hiệu quả nhất để bảo tồn, khôi phục và phát triển lễ hội mà nó còn là phương tiện truyền thông hữu hiệu để giới thiệu, quảng bá lễ hội tới bạn bè trong nước và thế giới Mặc khác, du lịch văn hóa còn là một hoạt động kinh tế, du lịch văn hóa khai thác lễ hội để phát triển kinh tế cho địa phương, tạo công ăn việc làm, nuôi sống người dân địa phương và nguồn thu nhập từ du lịch ấy còn đóng góp trở lại vào việc trùng tu, khôi phục, phát triển lễ hội Đây là một chức năng mới của lễ hội, một sự biến đổi phù hợp với quy luật kinh tế thị trường, một quá trình “cộng sinh” hợp tác, hỗ trợ

Trang 31

nhau cùng phát triển: “Ngày nay, điều kiện kinh tế - xã hội càng lên cao, lễ hội truyền thống còn có thêm chức năng kinh tế, đặc biệt khai thác các giá trị của lễ hội phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của du khách” [7, tr.52]

Ngoài sự hợp tác cùng nhau phát triển, thì giữa lễ hội và du lịch văn hóa luôn xuất hiện mối quan hệ “tương khắc” với nhau Tuy nhiên, đây không phải là sự khắc chế hoàn toàn theo quy luật sinh học (một bên sống thì bên kia phải chết) mà nó là sự kìm hãm, gây hạn chế, cản trở nhau trong quá trình phát triển Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa, mà quan trọng nhất trong đó là văn hóa tâm linh của cộng đồng địa phương; lễ hội là nơi bày tỏ lòng tôn kính của con người đối với các đấng thần linh ở một thế giới siêu nhiên, vô hình Do đó mà bên cạnh niềm tin, tín ngưỡng thì các hiện tượng mê tín

dị đoan cũng thường xuyên xảy ra trong các lễ hội như: bói toán, lên đồng lên cốt, đốt vàng mã… làm ảnh hưởng trực tiếp tới ngành du lịch, làm cho tâm lý du khách cảm thấy

e ngại, phiền lòng khi tham quan du lịch Chưa kể tới việc khi lễ hội ngày càng phát triển, khách du lịch tới ngày càng đông thì gây ra những vấn nạn như: ăn xin, trộm cướp, kẹt xe, chen lấn xô đẩy… làm mất trật tự và giảm đi “tính thiêng” của lễ hội, làm ảnh hưởng tới sức khỏe, tài sản của khách du lịch, gây ra những tai tiếng xấu cho ngành du lịch văn hóa của địa phương

Khi ngành du lịch văn hóa của địa phương được chú trọng đầu tư phát triển thì lễ hội tất nhiên là sẽ được bảo tồn và phát triển theo Tuy nhiên, nếu lượng khách du lịch tới ngày càng đông thì cũng sẽ tạo một áp lực, một gánh nặng không nhỏ cho lễ hội Lễ hội sẽ bị quá tải lượng du khách, khu di tích và môi trường cảnh quan thiên nhiên tại địa phương sẽ nhanh chóng xuống cấp, ô nhiễm… đây là điều không thể tránh khỏi Bên cạnh đó, do phải đáp ứng nhu cầu phục vụ cho số lượng du khách lớn như vậy nên lễ hội tất nhiên là sẽ bị “du lịch hóa”, những nhà tổ chức lễ hội vì lợi nhuận kinh tế mà sẽ không ngần ngại giảm “phần lễ” và tăng “phần hội”, do đó mà “tính thiêng” và “không gian thiêng” của lễ hội sẽ bị giảm đi rất nhiều Và ở mức độ lớn hơn, nó có thể làm ảnh hưởng

Trang 32

nghiêm trọng đến bản sắc văn hóa của cộng đồng: “Thêm vào đó, để đáp ứng các điều kiện thuận tiện cho du khách, nhiều yếu tố văn hóa địa phương mang tính bản sắc đã phải biến đổi cho phù hợp, từ đó dẫn đến nguy cơ biến dạng văn hóa hay biến chất bản sắc” [53, tr.438]

1.1.3 Lý thuyết nghiên cứu

 Lý thuyết sinh thái văn hóa

Lý thuyết của Julian Steward (1902 - 1972) cho là các nền văn hóa được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau chứ không phải chỉ có yếu tố môi trường và kỹ thuật, nhưng việc nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố này là việc làm hết sức cần thiết

Lý thuyết cũng nhằm tiếp cận cách thức mà con người dùng văn hóa để thích ứng với hoàn cảnh tự nhiên, trải nghiệm cuộc sống của mình thông qua bối cảnh văn hóa Khi sinh sống ở môi trường thiên nhiên như thế nào thì con người sẽ có những dạng thức tín ngưỡng thích nghi với môi trường thiên nhiên nơi ấy (đồng bằng, rừng núi, biển cả…), ngoài ra ứng với hình thức mưu sinh, nghề nghiệp sẽ có những tín ngưỡng tương đồng

để thích nghi với môi trường xã hội Càng chưa hiểu biết về đời sống tự nhiên, chưa làm chủ được sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì con người càng có những tín ngưỡng phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên, môi trường tự nhiên

Thông qua sự nhận thức hợp lý về môi trường sinh thái tự nhiên, cư dân vùng núi

Bà Đen đã thể hiện lòng biết ơn với tiền nhân, tiền thần, tôn sùng những dạng thức tín ngưỡng của môi trường vùng núi này Một vùng đất có rất nhiều nguy hiểm trong quá trình khai hoang, phát triển đã khiến cho nhiều người phải có hành vi ứng xử tôn trọng, sùng bái và phụ thuộc vào thế giới siêu nhiên để họ được an toàn Do đó, tín ngưỡng thờ Linh Sơn Thánh Mẫu đã được du nhập và phát triển ở vùng đất này

Trang 33

 Thuyết lựa chọn duy lý

Thuyết lựa chọn duy lý (hay còn gọi là thuyết lựa chọn hợp lý) trong xã hội học

có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ 18 – 19; thuyết này gắn liền với tên tuổi của rất nhiều nhà xã hội học tiêu biểu như: George Homans, Peter Blau, James Coleman Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực Phạm vi của mục đích không chỉ có yếu

tố vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn có cả yếu tố lợi ích xã hội và tinh thần

Xã hội loài người luôn vận động và phát triển, văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội chính vì vậy mà văn hóa cũng luôn vận động và không ngừng biến đổi cho phù hợp với xu thế đương thời Trong xã hội, mỗi một nền văn hóa không phải là một khối thuần nhất, không thể nào có một cái khuôn văn hóa duy nhất trong một xã hội luôn biến đổi Đặc biệt là trong xã hội hiện đại ngày nay, quá trình biến đổi văn hóa có xu hướng ngày càng rõ nét hơn, diễn ra nhanh hơn và trong phạm vi rộng lớn hơn Mặt khác, biên giới giữa các nền văn hóa thì mờ nhạt, những thành viên của các nền văn hóa

ấy thường giao lưu, trao đổi văn hóa với nhau Chính vì vậy mà trong một xã hội có nhiều cơ hội để lựa chọn thì con người không thể không lựa chọn [40, tr.48] Thuyết lựa chọn duy lý được vận dụng trong quá trình phân tích những đặc điểm, những biến đổi của lễ hội núi Bà Đen về: quy mô lễ hội, chủ thể lễ hội; đối tượng tham gia, tham dự lễ hội; mục đích, chức năng, cấu trúc của lễ hội… từ đó có sự chọn lựa cách thức bảo tồn

và phát huy lễ hội núi Bà Đen sao cho phù hợp nhất với quá trình phát triển du lịch văn hóa trong thời buổi hiện nay

Trang 34

 Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa

Giao lưu và tiếp biến văn hóa là khái niệm được các nhà dân tộc học và nhân học phương Tây đưa ra từ cuối thế kỷ XIX và được các nhà nhân học người Mỹ hoàn thiện Giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa khác nhau dẫn đến sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa của một hoặc cả hai nền văn hóa đó Theo các nhà nhân học, sự giao lưu và tiếp biến văn hóa là quá trình một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng từ một nền văn hóa khác bằng cách vai mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy [63, tr.107]

Áp dụng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu lễ hội núi Bà Đen được thể hiện thông qua việc phân tích, tìm hiểu về nguồn gốc tín ngưỡng thờ Bà Đen cũng như là các truyền thuyết về Bà Đó là nền văn hóa tín ngưỡng được hình thành trên một vùng đất có lịch sử gắn liền với quá trình cộng cư khai hoang, lập đất của các cộng đồng tộc người: Việt, Khmer, Chăm, Hoa… Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vấn đề phát huy giá trị lễ hội để phát triển du lịch văn hóa của địa phương cần phải được tiến hành theo xu hướng địa phương hóa, quốc tế hóa; cần phải được đan xen hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại

1.1.4 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

1.1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Có phải vai trò của Phật giáo đã Phật giáo hóa loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu trên núi

Bà Đen hay không?

- Phải chăng nhờ phát triển du lịch mà hệ thống cơ sở thờ phượng trên núi Bà Đen được

mở rộng và phát triển với quy mô như ngày hôm nay?

- Trãi qua thời gian, lễ hội núi Bà Đen đã có những biến đổi để thích nghi với thời đại mới?

Trang 35

1.1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Từ ba câu hỏi nghiên cứu ở trên, chúng tôi đưa ra ba giả thuyết cơ bản làm cơ sở nghiên cứu cho đề tài này như sau:

- Rõ ràng Phật giáo đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quản lý, điều hành loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu trên núi Bà Đen và gần như Phật giáo hóa tín ngưỡng này Mọi nghi thức, nghi lễ của lễ hội đều do Phật giáo tổ chức và quản lý

- Nhờ phát triển du lịch, lượng du khách đến với núi Bà ngày càng đông nên mới có được nguồn tài chính để đầu tư mở rộng và phát triển hệ thống chùa chiền trên núi Góp phần làm cho quần thể núi Bà trở thành trung tâm Phật giáo của tỉnh Tây Ninh

- Lễ hội núi Bà Đen đã có những biến đổi mạnh mẽ từ truyền thống đến hiện đại trên nhiều phương diện để hòa mình vào nền kinh tế thị trường trong thời đại mới Từ đó, lễ hội núi Bà Đen đã mang lại nhiều giá trị to lớn, góp phần phát triển du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Tây Ninh

Song song với việc trùng tu, bảo tồn các di tích – lịch sử văn hóa thì vấn đề phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh cũng đã được đầu tư và phát triển mạnh mẽ; trong đó, nổi bật nhất là lĩnh vực du lịch văn hóa Là địa phương có nhiều di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo nổi tiếng (núi Bà Đen, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, các khu

di tích lịch sử Cách mạng miền Nam…); chính vì vậy, trong tất cả các điểm tham quan

du lịch nổi tiếng ở Tây Ninh thì các điểm du lịch văn hóa – lịch sử - tôn giáo luôn chiếm

số lượng khách áp đảo so với các điểm du lịch còn lại Đặc biệt, nổi bật nhất chính là khu di tích núi Bà Đen – được xem là trung tâm du lịch văn hóa của tỉnh với vị trí giao

Trang 36

thông, hành chính thuận lợi Hàng năm, với nhiều lễ hội diễn ra trên núi, khu di tích núi

Bà Đen đã thu hút được một lượng lớn khách du lịch từ khắp mọi miền tổ quốc

Là một trong những tỉnh nổi tiếng về du lịch, hàng năm Tây Ninh đón gần 2,5 triệu lượt khách tham quan (xem Phụ lục 2) Trong đó, đa phần là khách du lịch nội địa; còn lượng khách du lịch quốc tế đến với Tây Ninh thì tương đối ít và chủ yếu là tham quan Tòa Thánh Cao Đài, xong rồi về lại Thành phố Hồ Chí Minh:

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh vừa thu hút được khách nội địa vừa thu hút được khách quốc tế, khách nội địa thì chủ yếu là các tín đồ của đạo Cao Đài hành hương

về đây vào các ngày lễ lớn trong đạo, còn vào các ngày thường thì chủ yếu là khách du lịch quốc tế, trung bình mỗi ngày có khoảng 200 khách du lịch quốc tế tới tham quan Tòa Thánh (nữ, Trưởng phòng Nghiệp vụ Du lịch Sở VHTT&DL, trích BBPV số 01 ngày 09/08/2015)

Mặc dù là tỉnh có nhiều vị thế, tiềm năng quan trọng để phát triển du lịch; tuy nhiên, số lượng các cơ sở lưu trú, ăn uống phục vụ cho du lịch vẫn còn ít, chưa tương xứng với hoạt động du lịch của tỉnh Theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch tỉnh Tây Ninh (năm 2014) thì tổng số lượng cơ sở lưu trú của tỉnh là 534, trong

đó chỉ có 6 khách sạn 2 sao; và lượng khách lưu trú tại Tây Ninh chưa tới 1,3 triệu người Bên cạnh đó, tổng số công ty du lịch lữ hành hoạt động tại Tây Ninh là 9 công ty, trong

đó chỉ có 1 công ty được phép kinh doanh lữ hành quốc tế (xem Phụ lục 2)

Nhìn chung, thực trạng hoạt động du lịch của Tây Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về tài nguyên du lịch văn hóa Thật ra, cũng giống như các loại hình du lịch khác; việc phát triển du lịch văn hóa nó không mang tính chất đơn thuần riêng lẻ là chỉ khai thác khía cạnh văn hóa, mà nó phải được đầu tư phát triển một cách đồng bộ, toàn diện ở tất cả các phương diện liên quan tới hoạt động

du lịch như: lưu trú, ăn uống, giao thông, và các loại hình du lịch phát triển kèm theo (du

Trang 37

lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí…) Thực tế ở Tây Ninh cho thấy, các di tích văn hóa chưa được đầu tư phát triển một cách đồng đều để phát huy hết giá trị của nó, chỉ riêng khu di tích núi Bà Đen là được chú trọng đầu tư phát triển nhiều nhất, còn tất

cả các di tích lịch sử, văn hóa, tôn giáo còn lại hình như chưa được quan tâm đúng mức

Do đó, có thể khẳng định rằng hoạt động du lịch nói chung, cũng như du lịch văn hóa nói riêng ở Tây Ninh vẫn chưa phát triển mạnh, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của tỉnh; và hàng năm tổng doanh thu du lịch của tỉnh chỉ đạt 636,394 tỷ đồng (năm 2014), đây được xem là một con số rất thấp so với doanh thu du lịch của một số tỉnh khác trong vùng như: “Bình Dương là 1100 tỷ đồng”3, “Đồng Nai là 900 tỷ đồng4…”

1.2.2 Khái quát quần thể núi Bà Đen

1.2.2.1 Đặc điểm tự nhiên

Địa hình cảnh quan: núi Bà Đen nằm trên địa phận tỉnh Tây Ninh, cách trung tâm

thành phố Tây Ninh 11 km về phía Đông Bắc, đây là ngọn núi cao nhất ở Nam Bộ với

độ cao 986 m so với mặt nước biển Thực ra đây là một quần thể gồm ba ngọn núi gộp lại: núi Bà cao 986 m, núi Heo cao 355 m, núi Phụng cao 372 m Nhìn xa, núi Bà Đen giống như một chiếc nón lá khổng lồ úp lên giữa đồng bằng rộng lớn Trên núi, nhiều khối đá lớn nằm chồng chất lên nhau một cách vững chãi tạo thành rất nhiều hang động;

từ những địa thế này đã tạo thuận lợi cho sự ra đời của các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo và

lễ hội trên núi Hầu hết các ngôi chùa trong quần thể núi Bà đều được bố trí, xây dựng dựa vào những cảnh trí thiên nhiên có sẵn nơi đây

Khí hậu: Tây Ninh thuộc đới gió mùa cận xích đạo với mùa khô rõ rệt kéo dài, là

vùng đất có nền nhiệt cao, với tổng nhiệt độ hoạt động hằng năm hơn 9.300 độ C Đây

3 Thiên Lý, “Năm 2014, Bình Dương doanh thu du lịch đạt 1.100 tỷ đồng”,

http://m.baobinhduong.vn/nam-2014-binh-duong-doanh-thu-du-lich-da-t-1-100-ty-dong-a104370.html, đăng ngày 11/11/2014

4 “Ngành du lịch Đồng Nai đạt doanh thu trên 900 tỷ đồng”,

Trang 38

là khu vực rất hiếm khi có bão và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác [51, tr.379] Riêng khu vực núi Bà Đen do ảnh hưởng của độ cao địa hình nên khí hậu tương đối mát

mẻ hơn Chính vì vậy mà khí hậu ở khu vực Điện Bà và trên đỉnh núi nhìn chung mát

mẻ, dễ chịu hơn nhiều so với vùng đất dưới chân núi Bên cạnh đó, do chế độ mưa phân

bố không đều trong năm, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và có tới 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa cho nên trong suốt tháng giêng âm lịch, hầu như vùng núi này hoàn toàn không có mưa; đây chính là điều kiện thuận lợi cho lễ hội xuân núi Bà diễn ra một cách suôn sẻ, du khách tha hồ vui xuân trong suốt mùa lễ hội

Hệ sinh thái động – thực vật: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích

đạo, nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, nên hệ sinh thái động - thực vật trong quần thể núi Bà Đen rất đa dạng và phong phú Theo số liệu thống kê vào năm 1997, quần thể núi Bà Đen có tổng cộng 98 loài động vật, trong đó nhiều nhất là chim, thú, bò sát… Còn về thảm thực vật, do thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa nên thảm thực vật tự nhiên trước kia của núi Bà Đen là rừng rậm thường xanh nhiệt đới, với sự phân hóa theo mùa khá rõ rệt Tuy nhiên, ngày nay do sự tác động mạnh mẽ của con người cho các mục đích sử dụng khác nhau nên thảm thực vật cũng biến đổi nhanh chóng Hầu hết các diện tích trong khu vực từ độ cao 300 m trở xuống đều thuộc các kiểu thảm thực vật canh tác phục vụ cho mục đích

sử dụng đất khác nhau Những kiểu thảm thực vật tự nhiên còn sót lại của núi Bà Đen cũng bị tác động ít nhiều do khai thác, chặt phá Hiện tại, núi Bà Đen là khu vực được xếp vào loại khu di tích lịch sử cần được bảo vệ bật nhất trong 29 khu di tích lịch sử văn hóa và môi trường của Việt Nam Núi Bà Đen nằm trong danh mục 73 khu rừng cấm của Việt Nam, có chức năng bảo vệ di tích lịch sử và danh thắng [Nguồn: Sở VHTT&DL tỉnh Tây Ninh 2015]

Điều kiện địa lý tự nhiên đã và đang đóng góp một vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển du lịch của vùng núi Bà Đen Bên cạnh việc trực tiếp phát triển du lịch sinh thái, nó còn tạo nên một sự tương tác với nguồn tài nguyên văn hóa trên núi, cả

Trang 39

hai cùng đan xen hòa quyện vào nhau, góp phần đa dạng hóa các loại hình du lịch cũng như là phát triển thêm loại hình “du lịch hỗn hợp” vừa sinh thái vừa văn hóa tại vùng núi này Sự phối hợp, bổ sung cho nhau giữa nguồn lực sinh thái và nguồn lực văn hóa trong quá trình khai thác du lịch ở núi Bà Đen được xem là một giải pháp thiết yếu để nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch thời hiện đại và đây cũng chính là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển du lịch hiện nay

1.2.2.2 Môi trường xã hội

Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ nói chung cũng như vùng đất Tây Ninh nói riêng là gắn liền với quá trình khai hoang lập đất, quá trình “cộng cư” giữa các dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm… Qua mỗi chặng đường mở cõi về phương Nam, ngoài việc luôn mang bên mình những tài sản văn hóa cội nguồn truyền thống của dân tộc thì người Việt còn biết tiếp nhận những giá trị văn hóa mới của các tộc người anh em để góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa cho mình cũng như cho vùng đất này và từ đó đóng góp một phần lớn vào việc phát triển du lịch văn hóa của địa phương

Quần thể núi Bà đen nằm trên địa bàn của phường Ninh Sơn và hai xã Tân Bình, Thạnh Tân thuộc thành phố Tây Ninh Đây là những địa phương vùng ven của thành phố, chính vì vậy mà kinh tế - xã hội cũng chưa phát triển mạnh, dân số còn thưa thớt Nhìn lại lịch sử, “cách đây 300 năm, nơi đây còn là vùng rừng già hoang vu, hiểm trở Cùng với bước chân của cộng đồng người Việt đến vùng đất Quang Hóa (Tây Ninh xưa) khai mở đất đai, sinh cơ lập nghiệp, thì các tăng ni, Phật tử cũng đến đây lập những am, miếu xây dựng chùa chiền để thờ Phật” [3]

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, núi Bà Đen được xem là một

“trận địa” giằng co ác liệt giữa quân ta và giặc: “Với đỉnh núi cao nhất Nam bộ (986m), núi Bà Đen có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nên trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc (1946 - 1975), lực lượng cách mạng và phản cách mạng đã

Trang 40

giành giật nhau quyết liệt quả núi này” [3] Thật vậy, theo như lời kể của chú Tư (một người dân địa phương) thì:

Trong thời chiến tranh, khu vực này được xem là một chiến trường ác liệt Mỹ thì đóng quân ở xung quanh chân núi và trên đỉnh núi Bà, cách mạng ta thì chiếm ở khu vực lưng chừng núi… Hồi đó chú còn nhỏ, chú đang là đồng nhi nam trong chùa Tòa Thánh5, sau mỗi trận chiến thì số người thương vong nhiều vô số kể Khi hết nghe tiếng súng thì tất cả đồng nhi, chức sắc trong chùa Tòa Thánh kéo nhau lên núi để mang những thi thể về chôn cất; xác ta có, xác địch có, cứ hễ thấy xác chết là mọi người khiêng chất hết lên xe bò và chở thẳng về chùa làm đám tang tập thể và đem chôn cất ở Cực Lạc Thái Bình6 (nam, dân địa phương, trích BBPV số 09 ngày 27/09/2015)

Hòa bình lập lại, người dân mới bắt đầu lên khu vực núi Bà nhiều, và số lượng mỗi lúc một đông Người ta đến đây chủ yếu là khai hoang, lập đất những khu vực xung quanh núi để làm nông nghiệp; trong đó chủ yếu là trồng: mãng cầu, mì, chuối… Bên cạnh đó, công trường khai thác đá khu vực núi Đất và núi Phụng bắt đầu sầm uất nhộn nhịp Cùng với người Kinh, quá trình khai hoang vùng đất này còn có thêm sự chung sức chung lòng của người Khmer, Chăm, Hoa và Tà Mun Đặc biệt, khu vực phía sau núi Phụng có cả một cộng đồng người Khmer sinh sống, tại đây còn có một ngôi chùa Phật Giáo Nam Tông của người Khmer

Từ khi thành lập Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen và Ban Tổ chức Hội Xuân núi Bà (năm 1983) thì du lịch núi Bà Đen bắt đầu phát triển, lượng khách đến

5 Là tổ đình, là cơ sở thờ tự cấp trung ương của đạo Cao Đài Tây Ninh, còn được gọi là Đền Thánh Chùa Tòa Thánh nằm trong một quần thể kiến trúc tôn giáo Cao Đài với khuôn viên rộng gần 1 km 2 (gọi là nội ô Tòa Thánh) Ở đây người dân địa phương ám chỉ là nội ô Tòa Thánh

6 Là nghĩa địa chôn cất người chết, nằm ở xã Bàu Năng thuộc huyện Dương Minh Châu, cách nội ô Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh khoảng 2 km Được thành lập 1928 với tổng diện tích 58 ha do đạo Cao Đài Tây Ninh quản lý, là nơi chôn cất miễn phí dành cho tín đồ Cao Đài Tuy nhiên, đối với người không theo đạo hoặc khác đạo nếu có nhu cầu muốn chôn cất tại đây thì vẫn được ban quản lý đón nhận Cực Lạc Thái Bình được mệnh danh là “nghĩa địa thơ”, trên từng mộ bia đều được lưu lại những di bút, tuyệt bút của người quá cố, thân nhân hoặc có thể xin nguồn thơ từ ban quản lý nghĩa địa.

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (chủ biên) (2014), Giáo trình Du lịch văn hóa - những vấn đề lý luận và nghiệp vụ, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Du lịch văn hóa - những vấn đề lý luận và nghiệp vụ
Tác giả: Trần Thúy Anh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2014
2. Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa núi Bà Đen (2004), Sự tích Bà Linh Sơn Thánh Mẫu, Nxb Tổng hợp Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích Bà Linh Sơn Thánh Mẫu
Tác giả: Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa núi Bà Đen
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp.HCM
Năm: 2004
3. Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa núi Bà Đen (2004), Truyền thuyết về Bà Đen, Nxb Tổng hợp Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết về Bà Đen
Tác giả: Ban Quản lý di tích lịch sử - văn hóa núi Bà Đen
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp.HCM
Năm: 2004
4. Nguyễn Chí Bền (2000), Văn hóa dân gian Việt Nam – những suy nghĩ, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam – những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hóa Dân tộc
Năm: 2000
5. Nguyễn Chí Bền (2013), Lễ hội cổ truyền của người Việt - cấu trúc và thành tố, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hội cổ truyền của người Việt - cấu trúc và thành tố
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2013
7. Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch (2012), Lễ hội – nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hội đồng di sản văn hóa quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội – nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch
Năm: 2012
8. Lê Ngọc Canh (1999), Văn hóa dân gian – những thành tố, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – những thành tố
Tác giả: Lê Ngọc Canh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1999
9. Trịnh Minh Chánh (2013), Lễ hội truyền thống tỉnh Tiền Giang nhìn từ góc độ văn hóa du lịch, Luận văn thạc sỹ ngành Việt Nam học Trường ĐH KHXH &NV, Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội truyền thống tỉnh Tiền Giang nhìn từ góc độ văn hóa du lịch
Tác giả: Trịnh Minh Chánh
Năm: 2013
10. Cục Di sản văn hóa (2007), Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, tập 1
Tác giả: Cục Di sản văn hóa
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2007
11. Phạm Vũ Dũng (1999), Nhận diện mấy vấn đề về văn hóa, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện mấy vấn đề về văn hóa
Tác giả: Phạm Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1999
12. Huỳnh Thị Mỹ Đức (2002), Bước đầu tìm hiểu vấn đề giữa gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hoạt động du lịch ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ ngành Triết học Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu vấn đề giữa gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong hoạt động du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thị Mỹ Đức
Năm: 2002
13. Vũ Minh Giang (chủ biên) (2008), Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam, Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam
Tác giả: Vũ Minh Giang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2008
14. Ngọc Hà (2009), Hội xuân của người Việt – Những lễ hội xuân đặc sắc, Nxb Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội xuân của người Việt – Những lễ hội xuân đặc sắc
Tác giả: Ngọc Hà
Nhà XB: Nxb Thời Đại
Năm: 2009
15. Lê Xuân Hậu (2013), Di sản văn hóa với phát triển du lịch tại Đồng Nai, Luận văn thạc sỹ ngành Văn hóa học Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hóa với phát triển du lịch tại Đồng Nai
Tác giả: Lê Xuân Hậu
Năm: 2013
16. Nguyễn Phước Hiền (2005), Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam trong hoạt động du lịch văn hóa, Luận văn thạc sỹ ngành Văn hóa học Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam trong hoạt động du lịch văn hóa
Tác giả: Nguyễn Phước Hiền
Năm: 2005
17. Lê Huy Hòa – Hoàng Đức Nhuận (tuyển chọn và giới thiệu) (2000), Văn hóa Việt Nam – Truyền thống và hiện đại, Nxb Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam – Truyền thống và hiện đại
Tác giả: Lê Huy Hòa – Hoàng Đức Nhuận (tuyển chọn và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 2000
18. Hội đồng quốc gia (2002), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 2
Tác giả: Hội đồng quốc gia
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
19. Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1989
20. Đinh Gia Khánh (1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
21. Đinh Gia Khánh (1993), “Hội lễ dân gian truyền thống trong thời hiện đại”, Tạp chí Văn hóa dân gian, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội lễ dân gian truyền thống trong thời hiện đại
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w