1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng lãnh đạo quân dân hai miền nam bắc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân giai đoạn 1961 1965

191 49 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng lãnh đạo quân dân hai miền Nam – Bắc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân giai đoạn 1961 - 1965
Tác giả Nguyễn Phạm Đông Đức
Người hướng dẫn PGS. TS Hà Minh Hồng
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mục đích: Đề tài nhằm mục đích làm rõ công tác và quá trình xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân của quân dân hai miền Nam- Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đưa ra

Trang 1

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PSs Ts Hà Minh Hồng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những đánh giá, nhận xét và nội dung của các công trình trước phục vụ cho việc nghiên cứu được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Học viên thực hiện

Nguyễn Phạm Đông Đức

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy Hà Minh Hồng, thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp nguồn tư liệu và có những chỉ dẫn quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn đúng theo quy định của nhà Trường và Khoa

Trang 5

Mục lục

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 7

4 Bố cục của đề tài 7

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn và những quan điểm của Đảng trongchiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam 8

1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh nhân dân 8

1.1.1Chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh 8

1.1.2Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân 12

1.1.3Quan điểm về chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam 16

1.2 Quá trình phát triển chiến tranh nhân dân Việt Nam trong lịch sử 19

1.2.1Trước khi có Đảng 19

1.2.2Từ khi có Đảng đến cách mạng tháng 8 - 1945 19

Tiểu kết chương I 25

Chương 2 Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở hậu phương miền Bắc 1961-1965 26

2.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ mới của chiến tranh nhân dân khi bước vào đầu thập niên 60 26

2.1.1 Bối cảnh lịch sử: 26

2.1.2 Yêu cầu nhiệm vụ mới của chiến tranh nhân dân khi bước vào thập niên 60 29

2.2 Xây dựng và phát huy sức mạnh Hậu phương lớn miền Bắc (1961-1965) 30

2.2.1 Xây dựng quân đội chính quy và cơ bản hiện đại 30

2.2.2 Xây dựng sức mạnh kinh tế 40

2.2.3 Xây dựng nền tảng tư tưởng-xã hội, quyết tâm đánh Mỹ 54

2.3 Thực hiện đường lối tự lực tự cường, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế 67

Trang 6

2.3.1 Vận động đề cao tính chính nghĩa của kháng chiến chống Mỹ, tố cáo tội ác

chiến tranh xâm lược 67

2.3.2 Củng cố mối quan hệ với các nước trong khu vực và các nước xã hội chủ nghĩa 71

2.3.3 Củng cố quan hệ với các nước bạn bè và lực lượng tiến bộ khác 73

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3 Xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở tiền tuyến miền Nam 80

3.1 Xây dựng thực lực và thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam 80

3.1.1 Xây dựng thực lực cách mạng ở miền Nam 80

3.1.2 Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân ở miền Nam: 96

3.2 Xây dựng các tuyến vận tải chiến lược 112

3.2.1 Xây dựng mới và mở rộng hệ thống đường bộ 559 112

3.2.2 Xây dựng đường vận tải biển 759 117

Tiểu kết chương 3 120

Chương 4 Đánh giá và những bài học kinh nghiệm trong xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân (1961-1965) 121

4.1 Đánh giá thành công và hạn chế 121

4.1.1Những thành công bước đầu 121

4.1.1.1 Đã đề ra chủ trương xây dựng một cuộc chiến tranh nhân dân toàn diện trên nhiều mặt 121

4.1.1.2Đã động viên sức mạnh của cả dân tộc với mọi tầng lớp tham gia, hình thành sức mạnh chiến thắng của chiến tranh nhân dân 123

4.1.1.3 Đã phát huy truyền thống yêu nước, tinh thấn chống giặc ngoại xâm qua việc xây dựng sức mạnh tư tưởng, tinh thần quyết đánh và thắng Mỹ 125

4.1.1.4 Đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược ở hai miền phù hợp với tình hình 129

4.1.1.5 Đã đề ra đường lối kháng chiến độc lập tự chủ, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và quốc tế để xây dựng sức mạnh chiến tranh 132

Trang 7

4.1.2 Những hạn chế trong vấn đề thực hiện xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân

dân 135

4.1.2.1 Một số nơi vẫn ở miền Nam chưa nắm vững được quy luật chiến tranh nhân dân, nhất là về xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực 136

4.1.2.2 Trong những năm 1961-1965, dù đã đi vào chiến tranh cách mạng nhưng còn nặng về yếu tố khởi nghĩa, không phù hợp với tình hình miền Nam 138

4.1.2.3 Xây dựng sức mạnh kinh tế của hậu phương miền Bắc có những sai sót lớn trong phát triển công nghiệp và nông nghiệp 140

3.2 Bài học kinh nghiệm 141

3.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng cho việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở hai miền 141

3.2.2 Nắm vững quy luật chiến tranh cách mạng 143

3.2.3 Xây dựng, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc 145

3.2.4 Kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế để tạo một phong trào đấu tranh rộng khắp tăng cường sức mạnh chiến tranh nhân dân 147

Tiểu kết chương 4 149

Kết luận 150

Tài liệu tham khảo 156

Trang 9

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Giai đoạn 1961-1965, cách mạng Việt Nam vừa xây dựng vừa tiến hành chiến tranh cách mạng mà trong đó, vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò quan trọng Giai đoạn 1961-1965 là giai đoạn mở đầu chiến tranh cách mạng Việt Nam, nó đóng vai trò làm nền tảng và thậm chí là tiền đề để hoạch định chiến lược cho các giai đoạn sau này khi quân dân ta phải trực tiếp đương đầu với

đế quốc Mỹ, là sự chuẩn bị những yếu tố cần thiết cho chiến tranh nhân dân cách mạng Tuy nhiên, vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trong giai đoạn mở đầu này đến nay vẫn còn ít tài liệu đề cập và nghiên cứu kỹ, ngoài ra, những tài liệu khi nói đến thời kỳ 1961-1965, chủ yếu là tập trung vào vấn đề tiến hành chiến tranh cách mạng mà chưa nhắc tới nhiều về vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nói chung với cách tiếp cận chủ yếu về vấn đề thời kỳ đầu chiến tranh Do dó, đề tài này được xây dựng để có cái nhìn đúng đắn và đầy đủ về quá trình Đảng lãnh đạo quân dân ở hai miền xây dựng

và chuẩn bị sức mạnh chiến tranh nhân dân trong giai đoạn 1961-1965

Về mục đích: Đề tài nhằm mục đích làm rõ công tác và quá trình xây dựng sức

mạnh chiến tranh nhân dân của quân dân hai miền Nam- Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đưa ra một hướng tiếp cận mới về sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1961-1965 đó là tiếp cận theo hướng xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mở đầu chiến tranh

Đề tài góp phần làm rõ sức mạnh, ý chí quyết tâm của nhân dân của ta đã hình thành như thế nào và cũng với sức mạnh đó, quân dân ta đã bước đầu đánh thắng đế quốc Mỹ

và quân đội tay sai đúng với quy luật chiến tranh cơ bản nhất – quy luật mạnh được yếu thua

Đề tài cũng góp phần khẳng định sự tài tình, sáng suốt và nhạy bén của Đảng đối với tình hình cách mạng Việt Nam trong bối cảnh phải lãnh đạo hai cuộc cách mạng ở hai miền giai đoạn 1961-1965 và rút ra những bài học kinh nghiệm cho các giai đoạn sau và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay trong vấn đề quốc phòng

Trang 10

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nêu khái quát nền tảng tư tưởng của chiến tranh nhân dân của Đảng và dân tộc ta là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiền đề cho việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân của quân dân hai miền Nam – Bắc

Khái quát bối cảnh lịch sử và những tác động đến việc chỉ đạo xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng với quân dân hai miền Nam – Bắc trong việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân qua các mặt: quân đội, kỹ thuật vũ khí chiến tranh,

tư tưởng- văn hóa, ngoại giao quốc tế, về xây dựng hậu phương (cả hậu phương lớn miền Bắc và hậu phương tai chỗ ở miền Nam), xây dựng các cơ sở Đảng và các căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn 1961-1965

Nêu lên những thành công và hạn chế trong giai đoạn này trong quá trình xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng từ đó rút ra bài học về sự lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1961-1965

Ý nghĩa khoa học của đề tài

Cung cấp thêm tài liệu về vấn đề Đảng lãnh đạo quá trình xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân của quân dân hai miền Nam- Bắc giai đoạn 1961- 1965

Đưa ra một hướng tiếp cận mới về việc nghiên cứu cách mạng Việt Nam giai đoạn 1961-1965 đó là tiếp cận theo hướng Đảng xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trên nhiều mặt thay vì tiếp cận theo hướng đi sâu vào những vấn đề như sự lãnh đạo chung của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, đi sâu vào diễn biến cách mạng Việt Nam giai đoạn 1961-1965 …

Rút ra bài học về xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trong giai đoạn này và trong vấn đề xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiên nay

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Về vấn đề Đảng lãnh đạo quân dân hai miền Nam-Bắc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trước cuộc “đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ giai đoạn 1961-1965,

Trang 11

hiện nay có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này và chủ yếu được phân làm hai hướng chính:

Thứ nhất: hướng tài liệu này đề cập chủ yếu đến toàn bộ quá trình tiến hành chiến

tranh cách mạng, chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ hoặc bàn về một số

vấn đề cụ thể Đảng lãnh đạo kháng chiến như công trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ-Ngụy ở Miền Nam (1961-1965) xuất bản

năm 2003 của Tiến sĩ Trần Thị Thu Hương đề cập đến vấn đề chống phá quốc sách ấp chiến lược, trong đó có bàn đến một số vấn đề xây dựng văn hóa, căn cứ địa và lực lượng vũ trang tại một số nơi ở miền Nam, tập 3 của Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước của Bộ quốc phòng cũng đề cập khá chi tiết vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở hai miền trong giai đoạn 1961-1965, nhưng lại chỉ nêu bật lên vấn đề xây dựng ở miền Bắc, còn ở miền Nam lại trình bày theo vấn đề tiến hành chiến tranh cách mạng, còn thiếu sót nhiều vấn đề về xây dựng sức mạnh chiến tranh ở miền Nam, do đó cũng rất hạn chế khi bàn về vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân

Thứ hai: đề cập về yếu tố sức mạnh chiến tranh nhân dân trong cả giai đoạn

1961-1965 Hướng này tập trung làm rõ sức mạnh chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam,

trong đó có đề cập một phần về vấn đề sức mạnh chiến tranh nhân dân trong giai đoạn 1961-1965 mà có thể liệt kê ra một số tài liệu và công trình như tác giả Phạm Đức Quí

trong Bí mật sức mạnh huyền thoại của chiến tranh nhân dân Việt Nam, trong đó có đề

cập một số vấn đề về sức mạnh, tính chất chiến tranh nhân dân, vấn đề và nguyên nhân

Mỹ thất bại trong chiến tranh Việt Nam, các loại hình chiến thuật của chiến tranh nhân dân cách mạng và các bước xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân Việt Nam; bộ sách

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Bộ Quốc phòng xuất bản năm 2015

có đề cập rất chi tiết đến vấn đề sức mạnh chiến tranh nhân dân trong kháng chiến và các quá trình xây dựng sức mạnh chiến tranh nhưng lại tiếp cận theo hướng tiến hành chiến tranh cách mạng mà không chú ý vào vấn đề xây dựng sức mạnh cho chiến tranh

Trang 12

và cũng chưa nêu nổi bật yếu tố sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân

Thứ ba: đề cập đến yếu tố Đảng lãnh đạo về xây dựng các mặt trong chiến tranh

nhân dân Đây là hướng đề cập gần sát với đối tượng nghiên cứu của đề tài nhất khi đã

nêu ra được những vấn đề về sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng một số mặt trong chiến

tranh nhân dân Có thẻ kể tên một số đề tài như tác giả Nguyễn Huy Động với Đảng lãnh đạo xây dựng tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:(1959 - 1975) xuất bản năm 2012 đề cập đến vấn đề việc xây dựng các tuyến

đường nối liền hậu phương miền Bắc với tiền tuyến miền Nam dưới sự lãnh đạo của

Đảng; các tác giả Nguyễn Chí Thanh, Trường Sơn với Đảng ta lãnh đạo tài tình chiến tranh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân do Nhà xuất bản Quân đội

nhân dân xuất bản năm 1970 có đề cập đến một số vấn đề về Đảng lãnh đạo xây dựng

lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ, tác giả, Nguyễn Quý với Lịch sử Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975) xuất bản năm 2012 có đề cập sơ

lược đến vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ Đặc biệt

là bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Bộ quốc phòng-Viện Lịch

sử quân sự phát hành với tập 3: Đánh thắng chiến tranh đặc biệt, đã nói và phân tích

khá nhiều vấn đề liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân, nhất là ở hậu phương lớn miền Bắc về xây dựng quân đội chính quy, xây dựng kinh tế trong đó cụ thể là Kế hoạch 5 năm lần thứ I, xây dựng Chủ nghĩa

xã hội miền Bắc, chi viện cho miền Nam…

Về các đề tài nghiên cứu vể các mặt, các yếu tố liên quan đến sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng từng vấn đề cụ thể trong chiến tranh nhân dân chống đế quốc Mỹ

cũng có bài nghiên cứu, bài viết như luận văn của Bùi Thị Trang với đề tài Đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ơ miền Nam từ năm 1961 đến năm 1968, có đề cập sơ nét về sự xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trong giai đoạn 1961-1965 Về vấn đề xây dựng hậu phương kháng chiến có đề tài Đảng lãnh đạo xây dựng phát huy sức mạnh hậu phương miền Bắc (1965-1972) của Đặng

Trang 13

Thụy Thành Trâm có một phần đầu khái quát sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng hậu phương miền Bắc từ năm 1961-1965 và có nhắc đến sự thay đổi xây dựng hậu phương

từ thời bình sang thời chiến ở miền Bắc từ tháng 3-1965; đề tài của Trần Thị Kim Dung

với đề tài Đảng với cuộc vận động nông dân miền Bắc giai đoạn 1954-1965, trong đó có

nhắc nhiều đến vấn đề xây dựng và vận động giai cấp nông dân miền Bắc xây dựng nền nông nghiệp miền Bắc, đảm bảo yêu cầu của hậu phương lớn chi viện cho miền Nam

Về vấn đề xây dựng văn hóa, tư tưởng có đề tài của Phạm Thị Thanh Huyền với đề tài

Đảng lãnh đạo xây dựng văn hóa ở miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975 có

bàn đến việc xây dựng sức mạnh văn hóa Việt Nam, đề cập đến yếu tố xây dựng Chủ nghĩa anh hùng cách mạng phục vụ cho chiến tranh nhân dân Về vấn đề xây dựng sức mạnh đoàn kết quốc tế thì có hẳn một đề tài luận án tiến sĩ của Trần Thị Ngọc Thúy

năm 2014 là Đảng lãnh đạo cuộc vận động quốc tế chống đế quốc mỹ xâm lược Việt Nam (1954-1975), trong đó có phân tích kỹ đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng

sức mạnh đoàn kết quốc tế với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của cộng đồng nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ Việt Nam kháng chiến chống Mỹ Về vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng và hậu phương tại chỗ ở miền Nam thì có luận

án Tiến sĩ Lịch sử của Trần Thúy Hiền với đề tài: Căn cứ địa cách mạng ở trung trung

bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) năm 2014 có đề cập đến quá trình xây

dựng căn cứ địa cách mạng và đóng góp của hậu phương tại chỗ ở khu vực Trung Trung

Bộ, Luận án Tiến sĩ Sử học của Trần Thị Nhung (2001) với đề tài Căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1945-1975) có bàn và phân tích sâu

săc vấn đề xây dựng căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ…

Nhìn chúng, hướng thứ ba của các tài liệu cũng đã nêu ra được một cách tương đối

và phần nào đề cập đến yếu tố sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân, tuy nhiên so vấn đề nghiên cứu của đề tài thì vẫn chưa đầy đủ mà còn có nhiều cái thiếu sót như:

Chỉ nêu lên vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trên một

số mặt như xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận, xây dựng văn hóa tư

Trang 14

tưởng… mà chưa đề cập một cách tổng hợp tất cả các mặt đến vấn đề nghiên cứu về Đảng lãnh đạo quân dân hai miền Nam-Bắc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân giai đoạn 1961-1965

Các đề tài hầu như chủ yếu đề cập đến miền Nam và chỉ nói đến miền Bắc với vai trò là hậu phương lớn, chủ yếu là vấn đề chi viện sức người sức của, và vấn đề sức mạnh kinh tế, chưa đánh giá hết vai trò của miền Bắc trong việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân, nhất là vấn đềxây dựng sức mạnh tinh thần

Vì vậy, với những hạn chế trên, có thể nói hiện này, khi bàn về vấn đề Đảng lãnh đạo quân dân hai miền Nam-Bắc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trước cuộc

“đụng đầu lịch sử” với đế quốc Mỹ giai đoạn 1961-1965 thì chưa có một tài liệu, công trình nào đề cập một cách đầy đủ và chi tiết, càng chưa nhấn mạnh vai trò của giai đoạn 1961-1965 với ý nghĩa như một thời kỳ đầu, một thời kỳ chuẩn bị mọi lực lượng, tiềm lực cho cuộc chiến tranh cách mạng nhân dân kéo dài và cũng là thời kỳ định hình đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng từ 1961-1965

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng, đề tài tập trung vào nghiên cứu:

Xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân với các mặt dưới sự lãnh đạo của Đảng,

cụ thể qua các vấn đề:

Xây dựng sức mạnh hậu phương chiến tranh nhân dân miền Bắc

Xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở miền Nam

Về phạm vi không gian: Đề tài này sẽ nghiên cứu Sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân trên phạm vi cả nước

Về phạm vi thời gian: tập trung chủ yếu trong giai đoạn 1961-1965, giai đoạn mở đầu của chiến tranh cách mạng chống đế quốc Mỹ Trong năm 1965 thì cụ thể là đến tháng 11-1965

Trang 15

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

Đề tài được thực hiện trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh mà cụ thể trong đề tài này là phương pháp luận về chiến tranh của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài này là:

Phương pháp lịch sử

Phương pháp logic

Phương pháp phân tích, mô tả

Nguồn tài liệu:

Đề tài sử dụng các nguồn tài liệu chính sau đây:

Các văn kiện, tài liệu của Đảng liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1961-1965

Các bài viết, bài nói của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin và của Hồ Chí Minh về các vấn về chiến tranh nhân dân

Các công trình nghiên cứu trước đó (cả luận văn và luận án) về các vấn đề xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân các mặt trong kháng chiến chống Mỹ

4 Bố cục của đề tài

Đề tải gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận Có bốn chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến tranh nhân dân cách mạng Việt Nam trước những năm 60

Chương II: Quá trình xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở hậu phương miền Bắc trong những năm 1961-1965

Chương III: Quá trình xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở tiền tuyến miền Nam trong những năm 1961-1965

Chương IV: Đánh giá và những bài học kinh nghiệm trong xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân (1961-1965)

Trang 16

Chương I

Cơ sở lý luận và thực tiễn và những quan điểm của Đảng trongchiến tranh nhân

dân cách mạng Việt Nam

1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng

Cộng sản Việt Nam về chiến tranh nhân dân

1.1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về chiến tranh

Carl von Clausewitz (1780 - 1831) quan niệm chiến tranh là một hành vi bạo lực dùng để buộc đối phương phục tùng ý chí của mình Chiến tranh là sự huy động sức mạnh không hạn độ, sức mạnh đến tột cùng của các bên tham chiến [17, tr 32, 35, 37]

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Chiến tranh là hiện tượng chính trị xã hội có tính lịch sử, đó là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các giai cấp, nhà nước (hoặc liên minh giữa các nước) nhằm đạt được mục đích chính trị nhất định

Từ điển Triết học cũng khẳng định: Chiến tranh là “cuộc đấu tranh vũ trang có

tổ chức giữa các giai cấp, các nhà nước để thực hiện những mục tiêu kinh tế và xã hội nhất định” [95, tr 153]

Như vậy theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, chiến tranh là kết quả của những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Nhưng nó không phải là mối quan hệ giữa người với người nói chung, mà nó là mối quan hệ giữa những tập đoàn người có lợi ích cơ bản đối lập nhau Nhưng khác với các hiện tượng chính trị - xã hội khác, chiến tranh được thể hiện dưới một hình thức đặc biệt, sử dụng một công

cụ đặc biệt đó là bạo lực vũ trang

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: sự xuất hiện và tồn tại của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất là nguồn gốc sâu xa (nguồn gốc kinh tế), suy đến cùng đã dẫn đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh Đồng thời sự xuất hiện và tồn tại của giai cấp và đối kháng giai cấp là nguồn gốc trực tiếp (nguồn gốc xã hội) dẫn

đến sự xuất hiện, tồn tại của chiến tranh Theo Lênin “Tất cả các nước tư bản đều do

tư sản thống trị, giai cấp này không từ bất cứ một cuộc tàn sát nào để chiếm được

Trang 17

một nguồn lợi nhuận mới” [66, tr 11] Ph Ăngghen đã chỉ rõ: Chế độ áp bức bóc lột

càng hoàn thiện thì chiến tranh càng phát triển Chiến tranh trở thành “bạn đường” của mọi chế độ tư hữu

Lênin đã phát triển những luận điểm của C Mác và Ph Ăngghen về chiến tranh trong điều kiện lịch sử mới: trong thời đại ngày nay còn chủ nghĩa đế quốc còn nguy

cơ xảy ra chiến tranh, chiến tranh là bạn đường của chủ nghĩa đế quốc Muốn xoá bỏ chiến tranh phải xoá bỏ nguồn gốc sinh ra nó tức xóa bỏ các giai cấp trong xã hội

Lênin đã khẳng định “…chúng ta hiểu rằng, không thể xóa bỏ được chiến tranh nếu không xóa bỏ các giai cấp và không thiết lập chủ nghĩa xã hội” [66, tr 13]

Về bản chất chiến tranh: Theo Lênin, Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng những biện pháp khác (cụ thể là bằng bạo lực)

“Chiến tranh là sự tiếp tục thực hiện chính sách của một giai cấp, bằng những thủ đoạn bạo lực” [95, tr 154] Do có tính bạo lực và ảnh hưởng tới sinh mạng của

con người nên chiến tranh luôn là một thủ đoạn nghiêm túc để đạt được mục đích

nghiêm túc – mục đích chính trị “chiến tranh là việc lớn của quốc gia Nó có quan

hệ đến việc sống chết của nhân dân, việc mất còn của đất nước, không thể không suy xết một cách cẩn trọng” [107, tr 62], trong lịch sử loài người từ khi xuất hiện chế độ

tư hữu, dù núp dưới bất kỳ danh nghĩa nào thì tất cả các cuộc chiến tranh đó cũng luôn phải giải quyết một mục đích chính trị rõ ràng của một giai cấp một phe phái nhất định

Chiến tranh chỉ là một thời đoạn, một bộ phận của chính trị, nó không làm gián

đoạn chính trị “Chiến tranh không gì khác hơn là sự tiếp tục của chính trị tư sản Trong thời kỳ chiến tranh, đường lối chính trị cũng do giai cấp thống trị quyết định Chiến tranh chẳng qua là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục thực hiện những mục đích đó, cũng những giai cấp đó theo đuổi với những phương pháp khác

mà thôi” [66, tr 24] Mọi chức năng, nhiệm vụ của chính trị đều được tiếp tục thực

hiện trong chiến tranh Giữa chiến tranh và chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong đó chính trị chi phối và quyết định toàn bộ tiến trình và kết cục chiến

Trang 18

tranh, chính trị chỉ đạo toàn bộ hoặc phần lớn tiến trình và kết cục chiến tranh, chính trị qui định mục tiêu và điều chỉnh mục tiêu, hình thức tiến hành đấu tranh vũ trang Chính trị không chỉ kiểm tra toàn bộ quá trình tác chiến mà còn sử dụng kết quả sau chiến tranh để đề ra những nhiệm vụ, mục tiêu mới cho giai cấp, xã hội trên cơ sở thắng lợi hay thất bại của chiến tranh dù là chiến tranh cách mạng hay phản cách mạng

Chiến tranh có hai loại là chiến tranh chính nghĩa và phi nghĩa:

Chiến tranh chính nghĩa là cuộc chiến tranh của các dân tộc bị áp bức tiến hành

để giải phóng dân tộc thoát khỏi sự thống trị của nước ngoài hoặc chiến tranh chống xâm lược bảo vệ nền độc lập tự do, tiến bộ xã hội; là chiến tranh tự vệ chính đáng, tiến bộ, hợp lòng dân và có thể được nhân dân tự nguyện tham gia bằng mọi hình thức như chiến tranh cách mạng, chiến tranh bảo vệ tổ quốc, chiến tranh chống xâm lược

Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh do giai cấp bóc lột gây ra nhằm đàn áp cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc bị áp bức, hòng xâm chiếm đất đai, nô dịch các dân tộc khác; là chiến tranh mất lòng dân, không được nhân dân ủng hộ như chiến tranh xâm lược, chiến tranh phản cách mạng, chiến tranh phản tiến

bộ

Theo các nhà kinh điển, trong chiến tranh, nhất là những cuộc chiến tranh cách mạng, thì lực lượng quan trọng nhất là lực lượng quần chúng nhân dân Nhân dân là lực lượng góp sức cho quân đội chính quy cả về sức lực lẫn trí tuệ để tiến hành chiến

tranh cũng như là những người chấp nhận hay phản đối cuộc chiến tranh đó “…Trí thông minh của hàng chục triệu người sáng tạo đang tạo ra một cái gì vô cùng cao quý hơn những lời tiên đoán vĩ đại nhất và thiên tài nhất” [66, tr 169], “Hành động chà đạp thô bạo ý chí của nhân dân, hành động cưỡng bức xô đẩy nhân dân vào vòng chiến tranh, quần chúng nhân dân sẽ không tha thứ những hành động đó của bọn xã hội chủ nghĩa – cách mạng (cánh tả)” [66, tr 171] Cũng từ đó, ta thấy rằng

muốn chiến thắng một cuộc chiến tranh dù chính nghĩa hay phi nghĩa đều phải dựa

Trang 19

vào lực lượng quần chúng, phải làm cho quần chúng tin tưởng vào cuộc chiến tranh

và phải làm sao để cuộc chiến tranh đó gắn với lợi ích của quần chúng nhân dân

“Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực lượng hơn, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi” [66, tr 173]

V.I Lê-nin đã kế thừa, bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng về vấn đề chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Người chỉ ra vai trò to lớn của nhân dân trong

chiến tranh hiện đại: “…Trí thông minh của hàng chục triệu người sáng tạo đang tạo ra một cái gì vô cùng cao quý hơn những lời tiên đoán vĩ đại nhất và thiên tài nhất” [66, tr 169] Luận điểm trên của V.I Lê-nin không chỉ là cơ sở để xem xét,

đánh giá tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh chống xâm lược, mà còn là cơ sở

để phát động toàn dân tham gia chiến tranh nhân dân Đồng thời, Lênin cũng nhấn mạnh rằng: sự đồng tình, tích cực tham gia của quần chúng nhân dân còn giúp cuộc chiến tranh nhân dân phát triển nhanh chóng và là nguồn gốc quyết định nhất, khiến mọi cuộc tiến công của các thế lực thù địch chống nhà nước Xã hội chủ nghĩa đi đến thất bại Sức mạnh to lớn của nhân dân là sức mạnh tổng hợp được tạo bởi nhiều yếu

tố, trước hết là tinh thần quyết chiến quyết thắng, dám xả thân vì sự nghiệp cách mạng Sức mạnh này là vô địch, không một kẻ thù nào có thể khuất phục được V.I

Lê-nin khẳng định: “Không bao giờ người ta có thể chiến thắng được một dân tộc mà đa số công nhân và nông dân đã biết, đã cảm và trông thấy rằng họ bảo vệ chính quyền của mình, chính quyền Xô viết, chính quyền của những người lao động, rằng

họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ bảo đảm cho họ, cũng như con cái họ,

có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, mọi thành quả lao động của con người” [65, tr 378]

Nhất quán quan điểm đó, trong chiến tranh nhân dân, V.I Lê-nin đã chủ trương

vũ trang toàn dân, huấn luyện quân sự một cách toàn diện, có hệ thống cho toàn dân

để họ nắm được kiến thức quân sự, kỹ thuật quân sự Như vậy, theo Lê-nin, đặc

Trang 20

trưng cơ bản nhất của chiến tranh bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩamlà chiến tranh nhân dân do toàn dân tiến hành, vì lợi ích của nhân dân

Tuy nhiên, muốn huy động sức mạnh của cả một dân tộc, cả một lực lượng quần chúng hùng hậu thì phải vũ trang cho họ một thứ vũ khí sắc bén, đó là chính trị-tinh thần, có yếu tố này thì mới giúp cho một dân tộc, một lực lượng quần chúng tin tưởng và cuộc chiến, thấy được lợi ích của cuộc chiến và dung cảm lao vào cuộc chiến và phát huy hết mọi khả năng dành chiến thắng Bản thân các nước đế quốc cũng phải dùng yếu tố chính trị - tinh thần để động viên, huy động lực lượng quần chúng vào các cuộc chiến tranh qua những lời kêu gọi, tuyên truyền, thậm chí là xuyên tạc về mục đích của cuộc chiến tranh Thực tiễn cũng chứng minh từ khi xuất hiện chiến tranh, yếu tố chính trị - tinh thần luôn luôn đóng một vai trò quan trọng.Yếu tố ấy sẽ tạo động lực và niềm tin chiến thắng cũng như mục đích chính

đáng của cuộc chiến để đông đảo các tầng lớp tham gia “…Trong chiến tranh, moi người đều biết rằng điều quan trọng hơn cả là không phải chỉ là làm cho quân đội tin tưởng vào lực lượng của mình, àm còn làm cho kẻ thù và tất cả những phần tử trung lập cũng phải tin như thế”[66, tr 219] Trong chiến tranh, trước khi bước vào

một cuộc chiến, ngoài những chuẩn bị về hậu phương, kinh tế, quân lực, vũ khí… thì yếu tố chính trị tinh thần cũng là một thứ cần phải được coi trọng và thậm chí phải

được đặt lên hàng đầu Lênin đã từng nói: “ trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đổ máu trên chiến trường…”

[66 Tr 211]

1.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng học thuyết quân sự Mác - Lê-nin vào điều kiện

và hoàn cảnh cách mạng Việt Nam Những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân, trên những nét khái quát, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau

Đảng lãnh đạo cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc đánh thắng kẻ thù xâm lược

Trang 21

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy sức mạnh cứu nước phải là sức mạnh của toàn dân, sức mạnh của cả dân tộc Dưới sự chỉ đạo sáng suốt và tầm nhìn xa, Đảng ta

đã đưa ra ba quyết định có ý nghĩa lịch sử Một là, quyết định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và kêu gọi cả nước đứng lên tổng khởi nghĩa, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Hai là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Pháp, đưa cuộc kháng chiến trường kỳ chống đế quốc Pháp đến thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội Ba là, quyết định kêu gọi cả nước đứng lên kháng chiến chống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Chiến tranh toàn dân toàn diện

Muốn đánh thắng những kẻ địch hung bạo, mạnh hơn ta gấp bội về kinh tế, quân

sự, khoa học và công nghệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương phải tiến hành chiến tranh toàn diện, trong đó mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già trẻ, gái trai, bất kỳ giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành chiến sĩ đấu tranh trên mặt trận quân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ quy luật tất yếu: bảo vệ đất nước luôn luôn gắn liền với xây dựng đất nước, động viên toàn dân kháng chiến luôn luôn đi đôi với bồi bổ sức dân Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trường thực hiện kháng chiến toàn diện bằng sự kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, lấy đấu tranh quân sự là chủ chốt, là trực tiếp quyết định

Gắn chặt tiền tuyến với hậu phương

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa tiền tuyến với hậu phương Trong khi nêu khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, Đảng ta đồng thời đã đề ra nhiệm vụ xây dựng hậu phương vững mạnh

về mọi mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào thi đua ái quốc Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Đảng ta và Bác Hồ đã phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất, xây dựng và củng cố hậu phương, tạo nên khí thế

Trang 22

mới và sức mạnh mới, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vĩ đại trên mặt trận Điện Biên Phủ

Về chiến tranh và chính trị

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, theo Hồ Chí Minh, quân sự phục vụ cho chính trị là một quan điểm cơ bản, đấu tranh chính trị và chiến tranh quân sự luôn gắn bó với nhau Người khẳng định, mọi hoạt động quân sự phải đứng vững trên lập trường chính trị giai cấp công nhân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện và trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam Người

chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” [76,

tr 217] Chính vì thế mà trong quân đội, từ đại đội trở lên đều phải có chính trị viên, chính ủy Nghiêm chỉnh chấp hành sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc cao nhất, là nhân tố quyết định sự trưởng thành, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang

Về sức mạnh tinh thần

Kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin về sức mạnh chính trị, tinh thần, Hồ Chí Minh cho rằng chính trị - tinh thần không những là vũ khí của chiến tranh nhân dân Việt Nam mà còn là một thứ vũ khí còn mạnh mẽ hơn bất kỳ thứ vũ khí tối tân nào khác của bọn xâm lược Những thế lực đế quốc khi xâm lược Việt Nam, chỉ quan tâm đo đếm xem lực lượng chính quy của ta có bao nhiêu quân, bao nhiêu sư đoàn, bao nhiêu quân đoàn, bao nhiêu pháo, xe tăng và máy bay nhưng không hề quan tâm đến tinh thần chiến đấu của dân tộc ta, là sức mạnh chính trị - tinh thần của quân dân ta, là sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc Việt Nam Ý nghĩa sâu xa của quan điểm

“vũ khí mạnh mẽ” của yếu tố chính trị - tinh thần đó là nó chính yếu tố căn bản nhân lên sức mạnh của lực lượng ta, tuy có thể ít về số lượng nhưng với tinh thần mạnh mẽ,

ý chí không khuất phục kẻ thù ta vẫn có thể chuyển hóa so sánh lực lượng, tạo sức mạnh hơn hẳn đối phương

Tuy nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhân tố chính trị, tinh thần, Hồ Chí Minh cũng không tuyệt đối hóa yếu tố chính trị tinh thần mà cũng rất coi trong vấn đề trang

bị, vũ khí và kỹ thuật quân sự Vũ khí trang bị là cơ sở vật chất của sức mạnh chiến đấu

Trang 23

trong chiến tranh Vì thế, Hồ Chí Minh luôn đặt yếu tố chính trị - tinh thần trong mối quan hệ với các yếu tố khác cả về chất lượng quân đội và kỹ thuật trang bị Người chủ trương xây dựng quân đội có trình độ kỹ chiến thuật, có tinh thần cao và kỷ luật

nghiêm minh, được huấn luyện chu đáo Người đã nói “Giác ngộ chính trị thì cố nhiên cần rồi Nhưng lại phải có văn hóa, kỹ thuật để sử dụng máy móc ngày càng tinh vi” [80, tr 333] Người cho rằng: “Đó là một bước tiến đầu tiên trên con đường muôn dặm của cách mạng kỹ thuật” [80, tr 183] Vũ khí kỹ thuật làm cho lòng tin chiến thắng của

chiến sĩ được nâng cao nhưng cũng không được chủ quan, dựa dẫm ỷ lại vào vũ khí mà phải biết cách sủ dụng hiệu quả trong điều kiện cho phép của chiến tranh

Về vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng

Người cho rằng căn cứ địa cách mạng là chỗ dựa để hoạt động của lực lượng vũ trang, chỗ đứng chân của trung tâm chỉ huy kháng chiến các cấp, nơi tích trữ tiềm lực

về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc kháng chiến; căn cứ địa hậu phương là nơi đứng chân làm cơ sở cho lực lượng vũ trang, tiến có thế đánh và phát triển lực lượng, lui có thế đứng và giữ gìn lực lượng, là nhân tố bảo đảm cho khởi nghĩa, chiến tranh

thắng lợi Người đề ra nguyên tắc cơ bản để xây dựng căn cứ địa là “phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ” [74, tr 536] Chủ tịch Hồ Chí Minh

cho rằng căn cứ hậu phương vững chắc nhất là lòng dân, vấn đề quan trọng hàng đầu là xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, triệt để dựa vào nhân dân để từng bước xây dựng củng cố mở rộng căn cứ địa cách mạng, hậu phương chiến tranh Sự nghiệp xây dựng căn cứ địa, hậu phương phải toàn diện, ngày càng hoàn chỉnh vững chắc về chính trị quân sự, kinh tế, văn hóa Người đề ra yêu cầu xây dựng căn cứ địa hậu phương trên mọi địa bàn đất nước, vì trong khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, lực lượng tham gia đánh giặc là toàn dân trên khắp mọi miền đất nước, trong đó công nhân và nông dân là đội quân chủ lực; dựa vào lực lượng cách mạng quần chúng cả nông thôn

và thành thị, xây dựng căn cứ địa ở cả nông thôn và thành thị, nhằm tập hợp và phát huy được sức mạnh của toàn dân trên cả nước, bảo đảm có thể đánh giặc ở mọi lúc,

mọi nơi

Trang 24

1.1.3 Quan điểm về chiến tranh nhân dân của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ khi Đảng ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh giành chính quyền 1945) và chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước (1945-1975), trên cơ sở đường lối chính trị đúng đắn của Đảng, đường lối quân sự hình thành và không ngừng phát triển từng bước qua mỗi thời kỳ cách mạng và chiến tranh cách mạng của nhân dân

(1930-ta

Đường lối quân sự của Đảng bắt nguồn từ đường lối chính trị và là một bộ phận hữu cơ của đường lối chính trị của Đảng Đường lối quân sự của Đảng là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Thực tế khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, chỉ

có dựa trên nền tảng chính trị vững chắc của toàn dân, đường lối quân sự của Đảng mới tạo nên thế trận toàn dân đánh giặc, mới biến được sức mạnh chính trị của toàn dân thành sức mạnh tổng hợp, toàn diện, để thắng địch trên chiến trường

Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh trong điều kiện của một nước đất không rộng lắm, người không đông lắm, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ

sở công nghiệp rất nhỏ yếu Đối tượng của nhân dân ta trong khởi nghĩa và chiến tranh

là những nước không những có số dân và số quân đông mà còn có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, quân đội được trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật nhiều và hiện đại hơn Quân đội ta gấp nhiều lần

Tuy nhiên, nhân dân ta tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh trong điều kiện đất nước và dân tộc đã xây dựng nên truyền thống chống ngoại xâm hết sức vẻ vang Dưới

sự lãnh đạo của Đảng, với phương châm toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, nhân dân ta không những kế thừa truyền thống oanh liệt cả nước chung sức đánh giặc của ông cha mà còn không ngừng phát triển truyền thống đó trong điều kiện mới, phát huy lên một tầm cao mới Đứng trước những đội quân nhà nghề của đế quốc luôn hơn ta

về sức mạnh quân sự, Đảng đã huy động lực lượng rộng rãi và mạnh mẽ của cả nước,

Trang 25

của toàn dân, đánh địch về các mặt quân sự, chính trị, binh vận, ngoại giao và đã từng bước giành thắng lợi

Quá trình động viên toàn dân, tổ chức toàn dân chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa

và chiến tranh là một quá trình giác ngộ, giáo dục, tổ chức bền bỉ, lâu dài, liên tục để hình thành và không ngừng phát triển hai lực lượng chủ yếu, chủ thể của khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, đó là lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân

Lực lượng chính trị quần chúng, bao gồm mọi thành phần dân tộc và tôn giáo hết sức rộng rãi, tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất Lực lượng chính trị là cơ sở vững chắc nhất để xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt cho khởi nghĩa toàn dân

và chiến tranh nhân dân Lực lượng chính trị quần chúng là chủ thể trong đấu tranh chính trị chống địch, là cơ sở và là nguồn để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang nhân dân Trong chiến tranh, lực lượng chính trị quần chúng là chỗ dựa vững chắc của lực lượng vũ trang cả trong chiến đấu và xây dựng

Lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng quần chúng cách mạng được tổ chức và

vũ trang với mức độ khác nhau, thoát ly sản xuất hoặc không thoát ly sản xuất, tự nguyện chiến đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lực lượng vũ trang nhân dân bao gồm ba thứ quân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc Lực lượng vũ trang được xây dựng trên cơ sở lực lượng chính trị rộng rãi và hùng hậu của quần chúng cách mạng, là hình ảnh khối công nông liên minh vũ trang chiến đấu Trong khởi nghĩa, lực lượng vũ trang là nòng cốt cho quần chúng cách mạng nổi dậy giành chính quyền Trong chiến tranh, lực lượng vũ trang là lực lượng chủ yếu trực tiếp tiêu diệt địch, giành thắng lợi cho chiến tranh

Do quân địch thường mạnh hơn ta gấp nhiều lần về trang bị kỹ thuật, cho nên quân

và dân ta đánh giặc trong điều kiện phải lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, dùng vũ khí

và phương tiện chiến tranh thường kém địch về số lượng và trình độ hiện đại Vì vậy, về phương thức tiến hành chiến tranh, Đảng không tự hạn chế trong những phương thức chiến tranh thông thường giữa hai quân đội chính quy, mà tiến hành chiến tranh bằng cả

Trang 26

lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng của toàn dân đánh giặc Đường lối toàn dân kháng chiến của Đảng, với một thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển lên trình độ cao, đã buộc kẻ địch không chỉ đối mặt với quân đội chính quy trên chiến trường trong một cuộc chiến tranh “quy ước” mà với cả dân tộc Việt Nam, với cả ba thứ quân, không chỉ ở mặt trận phía trước mà “ở bất cứ nơi nào có bóng địch” Đảng không chỉ dùng lực lượng quân đội để tiến hành cuộc “chiến tranh quy ước” mà huy động sức mạnh của cả dân tộc, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân toàn diện Cụ thể là, trên nền tảng chính trị vững chắc của toàn dân, Đảng phát huy cao độ tính ưu việt của thế trận toàn dân đánh giặc, phát huy sức mạnh của ba thứ quân trong lực lượng vũ trang nhân dân, nâng cao hiệu lực chiến đấu của từng thứ quân

để thắng địch từng bước Thực tế cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, cuộc Đồng khởi ở miền Nam những năm 1959-1960 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã chứng minh sức mạnh của toàn dân là vô địch, chứng minh phương thức khởi nghĩa toàn dân và chiến tranh nhân dân theo đường lối quân sự của Đảng là hoàn toàn đúng đắn

Do kẻ thù của chúng ta là quân đội của những nước đế quốc đất rộng, người đông, kinh tế phát triển, có tiềm lực quân sự lớn hơn ta gấp nhiều lần, có quân đội và trang bị

kỹ thuật hiện đại, bản chất lại cực kỳ ngoan cố và xảo quyệt Trong điều kiện đó, Đảng chủ trương đánh lâu dài, đồng thời ra sức tạo thời cơ và kịp thời chớp thời cơ giành thắng lợi trong chiến tranh càng sớm càng tốt Đảng chủ trương đánh lâu dài để từng bước chuyển hóa so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta, nhưng “đánh lâu dài” không có nghĩa là vô hạn độ Đi đôi với khẳng định phương châm chiến lược đánh lâu dài, Đảng đã nhạy bén dự kiến trước khả năng chuyển biến của tình hình, kịp thời nắm lấy thời cơ, hạ quyết tâm đúng đắn để thúc đẩy cục diện chiến tranh phát triển, tạo nên những bước nhảy vọt có ý nghĩa bước ngoặt chiến lược mới hoặc để kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi cho ta

Thực hiện phương châm chiến lược đánh lâu dài nhưng phải gắn liền với quan điểm tự lực cánh sinh - dựa vào sức mình là chính Đó chính là kế thừa truyền thống tự

Trang 27

lực tự cường của dân tộc, phải đem “sức ta mà giải phóng cho ta” Nhưng cũng không

có nghĩa là dựa vào sức mình là chính là đóng kín quan hệ, không cần bên ngoài mà phải tăng cường quan hệ quốc tế, tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh trong nước với sức mạnh ngoài nước, vì “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”; phải tranh thủ tốt nhất sự giúp đỡ của quốc tế, của nhân dân thế giới, tạo sức mạnh tổng hợp cho ciến tranh nhưng cũng không được trông chờ ỷ lại, dựa dẫm, phụ thuộc bên ngoài, đánh mất đi tinh thần độc lập, tự cường Đường lối quốc tế đúng đắn của Đảng ta đã tạo nên những thuận lợi to lớn cho công cuộc kháng chiến cứu nước, vừa khắc phục được những chỗ yếu về vật chất, kỹ thuật của ta, vừa giương cao ngọn cờ đại nghĩa, thức tỉnh lương tri của loài người, tranh thủ được sự giúp

đỡ to lớn và có hiệu quả về tinh thần và vật chất của các nước anh em, bè bạn

Chiến dịch Biên giới mùa khô 1950, chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp; cuộc Đồng khởi 1959-

1960 trong kháng chiến chống Mỹ là những dẫn chứng cụ thể cho các quan điểm lý luận của Đảng về chiến tranh nhân dân

1.2 Quá trình phát triển chiến tranh nhân dân Việt Nam trong lịch sử

1.2.1 Trước khi có Đảng

“Chiến tranh nhân dân” xuất hiện từ lâu trong lịch sử dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của các vương triều phong kiến tiến bộ hoặc từ các cuộc khởi nghĩa nông dân nhằm chống lại các đội quân xâm lược của các tập đoàn phong kiến nước ngoài mạnh hơn gấp nhiều lần về quân sự và kinh tế Nó kế thừa tinh hoa của các nền quân sự tiên tiến trên thế giới, đồng thời phát triển sáng tạo truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với các đặc diểm nổi bật là “cả nước đồng lòng chung sức đánh giặc”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy yếu đánh mạnh”…

1.2.2 Từ khi có Đảng đến cách mạng tháng 8 - 1945

Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên

cơ sở kết hợp đúng đắn học thuyết chiến tranh và quân sự Mác-Lênin với di sản và

Trang 28

truyền thống đấu tranh của dân tộc đã phát triển chiến tranh nhân dân lên trình độ mới, hiện đại, đầy đủ và sâu sắc

Hiện nay, một số tài liệu cho rằng chiến tranh nhân dân Việt Nam là: quá trình sử dụng tiềm lực của đất nước, nhất là tiềm lực quốc phòng an ninh, nhằm đánh bại ý đồ xâm lược, lật đổ của kẻ thù đối với cách mạng nước ta

Khái niệm này đã nêu khá rõ tính chất của chiến tranh nhân dân đó là việc huy động toàn bộ tiềm lực của một dất nước tức là sức mạnh của cả một dân tộc (hiểu theo nghĩa rộng là một quốc gia- dân tộc) để chống ngoại xâm nhưng lại chưa đề cập rõ ràng về yếu tố nhân dân trong chiến tranh nhân dân

Trong một cuộc chiến tranh xâm lược, chân lý của nhân dân bị chà đạp thô bạo, nhân dân sẽ chống lại bằng mọi hình thức, tùy theo điều kiện cho phép để tự vệ bảo vệ chân lý và đó là hành động chính nghĩa Nhân dân không muốn và cũng không tham gia chiến tranh, cũng không thể tiến hành chiến tranh nhưng lại sẵn sàng đồng tình và ủng hộ chiến tranh chính nghĩa và thậm chí sẵn sàng tham gia chiến tranh

Trong chiến tranh nhân dân, có hai lực lượng chính là lực lượng nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Lực lượng nhân dân là lực lượng chủ yếu, là nguồn cung cấp nhân lực và vật lực cho lực lượng vũ trang nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân là lực lượng đóng vai trò quyết định để chấm dứt chiến tranh Hai lực lượng này phối hợp với nhau hình thành thế trận chiến tranh nhân dân và tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế

và lực trong chiến tranh

Chiến tranh nhân dân dựa vào dân, được nhân dân ủng hộ, che chở và giúp đỡ, nhân dân tham gia đánh địch là khai thác được tiềm lực to lớn của nhân dân cũng có nghĩa là huy động sức mạnh của cả nhân dân và của cả một dân tộc đánh địch Do đó có thể nói chiến tranh nhân dân là chiến tranh dựa vào sức mạnh dân dân để tiến công, dựa vào lòng dân để phòng ngự [93, tr 13]

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và từ đó đến nay, chiến tranh nhân dân Việt Nam đã trở thành chiến tranh nhân dân cách mạng và luôn được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Sau khi trải qua hai cao trào cách mạng 1930-1931 và 1936-

Trang 29

1939, tháng 11-1939, Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng họp và nhận định tình hình để giải phóng dân tộc, Đảng đã phát động thời kỳ đấu tranh giành chính quyền từ 1939-1945 Đây là thời kỳ hình thành những cơ sở thực tiễn căn bản của đường lối chiến tranh nhân dân

Sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương tháng 11-1939, Đảng chủ trương ra sức xây dựng và giữ gìn các lực lượng du kích, phát động các phong trào nổi dậy nhỏ lẻ của quần chúng, bước đầu xây dựng hình thái chiến tranh địch ta xen kẽ nhau, từng bước xây dựng các đội du kích đầu tiên như du kích Ba Tơ, du kích Bắc Sơn-Vũ Nhai

Đến tháng 5-1941, Mặt trận Việt Minh ra đời, kêu gọi toàn dân đứng dậy khởi nghĩa

và cũng từ đây xác định yếu tố chiến tranh nhân dân là toàn dân khởi nghĩa Lúc này, nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cũng được đưa ra, Đảng chủ trương duy trì các lực lượng còn lại sau khởi nghĩa Nam Kỳ, củng cố lại đội du kích Bắc Sơn

Tháng 7-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu bàn đến vấn đề xây dựng lực lượng

vũ trang và đấu tranh vũ trang, tuy nhiên, lúc này đấu tranh vũ trang chưa phù hợp mà chủ yếu vẫn là đấu tranh chính trị

Ngày 22-12-1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bước đầu tiên cho việc xây dựng lực lượng vũ trang

Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương họp

và ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động Cao trào Kháng Nhật cứu quốc, Đảng cũng phát động các cuộc đấu tranh du kích nhỏ lẽ làm tiêu hao lực lượng Nhật Ngày 25-4, Việt Nam giải phóng quân ra đời, thực hiện các cuộc tập kích, chặn đánh các đoàn xe Nhật Ở Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng thành lập và thực hiện 10 chính sách Việt Minh Nhiều nơi đã nổi dậy và bắt đầu có những nơi giành chính quyền

Từ ngày 13-8 đến ngày 16-8, Hội nghị toàn quốc và Quốc dân Đại hội họp quyết định Khởi nghĩa toàn quốc khi nhận định tình hình thế giới dang có lợi cho ta

Từ ngày 16-8 đến hết ngày 25-8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành thắng lợi từ Bắc đến Nam Dưới sức mạnh của toàn thể nhân

Trang 30

dân, chỉ trong vòng 15 ngày, dân tộc ta đã đánh đổ cả phát xít Nhật và chế độ phong kiến Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, đánh đấu một chương mới trong lịch sử dân tộc và một bước phát triển mới của Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng ta

Đảng lãnh đạo chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Pháp 1954)

(1945-Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính Trên cơ sở xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện tình hình quốc tế, trong nước, địch- ta; Đảng ta và Chủ tịch

Hồ Chí Minh xác định lực lượng kháng chiến là toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân, gồm: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt Để phát huy tối đa sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng tổ chức, động viên mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, đảng phái; đồng thời, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Phương thức tiến hành kháng chiến là kết hợp chặt chẽ chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các đơn vị bộ đội chủ lực Đây thực sự là một sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam – đường lối kháng chiến – mà Đảng ta với tư cách chủ thể Bởi lẽ, chiến tranh của ta là chiến tranh nhân dân, do nhân dân tiến hành (mỗi người dân là một chiến sĩ), với lực lượng

vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt Kháng chiến toàn diện, là vì thực dân Pháp tiến hành xâm lược, nô dịch nhân dân ta cả chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, do

đó ta phải đấu tranh toàn diện, lâu dài với địch, trong khi phải dựa vào sức mình là chính để giành thắng lợi cho cuộc kháng chiến vĩ đại Đường lối đó là sự kế thừa truyền thống, kinh nghiệm chống giặc ngoại xâm của dân tộc, nắm vững và vận dụng đúng quy luật chiến tranh trong điều kiện “lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều” Theo đó, các

cơ quan của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân đội, các ngành, đoàn thể Trung ương lần lượt chuyển lên an toàn khu để chỉ đạo kháng chiến Đảng ta chủ trương kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược: kháng chiến và kiến quốc; bởi hai nhiệm vụ này có mối quan hệ biện chứng, thúc đẩy nhau phát triển Nhiều căn cứ, nhiều chiến khu, cơ sở cách mạng

Trang 31

ở Nam Bộ và các địa phương, kể cả địa bàn địch tạm chiếm đã được xây dựng, duy trì hoạt động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu Cùng với đó, các địa phương tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, đẩy mạnh xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang Nhờ vậy, chủ trương, chính sách đúng đắn, sáng tạo của Đảng đi vào lòng dân, được nhân dân phấn khởi đón nhận, nô nức xung phong gia nhập lực lượng vũ trang Những yếu tố đó đã tạo tiềm lực để đánh bại từng bước các chiến lược, kế hoạch của thực dân Pháp thông qua các chiến dịch: Việt Bắc Thu Đông năm 1947, Chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 và đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 Thắng lợi ở Việt Bắc đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang ba thứ quân, để lại nhiều bài học kinh nghiệm bước đầu về sự phối hợp tác chiến giữa lực lượng du kích và bộ đội chủ lực với phương châm tiêu diệt địch để bảo vệ lực lượng của ta, sau đó thắng lợi ở chiến dịch Biên giới thắng lợi đã tạo ra bước ngoặt, ta chuyển

từ chiến tranh du kích lên chính quy, giành quyền chủ động cả về chiến dịch, chiến lược trên chiến trường Đó là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng tạo, linh hoạt, nhạy bén của Đảng, sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội nhân dân

Đầu tháng 12-1953, Bộ Chính trị chủ trương mở chiến dịch tiêu diệt lớn quân địch

ở Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm: đánh chắc thắng, nhằm kết thúc chiến tranh có lợi cho ta Đây là quyết định đúng đắn, sáng tạo của Đảng ở giai đoạn

cuối cuộc chiến tranh Đây là một quyết định táo bạo, dũng cảm “đã đánh dấu một biến chuyển mới, một sự phát triển mới trong sự lãnh đạo đấu tranh vũ trang của Đảng

ta cũng như trong quá trình lớn mạnh của Quân đội ta” [48, tr.46] Sáng tạo và quyết

tâm chiến lược của Đảng đã nhanh chóng biến thành ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 Chiến dịch đã làm phá sản hoàn toàn Kế hoạch Na-va, đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ

Đảng lãnh đạo chiến tranh nhân dân giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ từ 1954-1960:

Trang 32

Trong giai đoạn 1954-1960, dưới sự khủng bố của Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng có những sự thay đổi mới mà chủ yếu là đấu tranh chính trị buộc kẻ thù phải tôn trọng Hiệp định Geneve Tháng 8/1956, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ Lê Duẩn soạn “Đề cương cách mạng miền Nam” Đề cương xác định rõ: “Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân” [26, tr 75] Để đẩy mạnh phong trào cách mạng tại miền Nam, Đề cương cách mạng miền Nam vạch ra các nhiệm vụ cơ bản sau:

1 Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, phát huy uy thế chính trị của Đảng trong quảng đại quần chúng

2 Xây dựng khối liên minh công nông sâu rộng và vững chắc

3 Tích cực phổ biến Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các tầng lớp nhân dân Xây dựng, củng cố, phát triển mạnh mẽ mặt trận dân tộc thống nhất khắp thành thị, nông thôn miền Nam

4 Khai thác mâu thuẫn trong nội bộ địch để làm yếu và cô lập địch, gây thêm lực lượng cho ta

Đầu năm 1959, trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trong hơn bốn năm đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh; cũng như những kiến nghị của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng và quần chúng nhân dân miền Nam; cùng với khí thế sục sôi cách mạng ở miền Nam, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (khóa II, tháng 1-1959), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước, đề ra một cách toàn diện đường lối cách mạng miền Nam, đường lối đấu tranh thống nhất nước nhà Đảng khẳng định, con đường giải phóng miền Nam là con

đường cách mạng bạo lực, trước nhất “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang hoặc nhiều hoặc ít tuỳ tình hình, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc, phong kiến, dựng lên chính quyền

Trang 33

cách mạng của nhân dân” [34, tr 82] Sau Hội nghị Trung ương 15, vấn đề bạo lực

cách mạng được Đảng coi trọng và các cuộc nổi dậy của quần chúng bắt đầu, báo hiệu một giai đoạn mới của chiến tranh nhân dân

Tiểu kết chương I

Những lý luận nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng thực tiễn các cuộc chiến tranh trên thế giới về vấn đề lý luận chiến tranh, quân sự và chiến tranh nhân dân đã thể hiện đúng bản chất và nguồn gốc của chiến tranh và cũng cung cấp cho chúng ta một hệ thống lý luận nền tảng và những cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc tiến hành chiến tranh nhân dân Kế thừa và phát huy những lý luận này, tư tưởng quân sự của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã góp phần hoàn thiện hơn các học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác- Lênin, và sáng tạo thêm những lý luận mới về chiến tranh cách mạng với điều kiện và hoàn cảnh cũng như truyền thống của chiến tranh giữ nước trong chiều dài lịch sử Việt Nam Cùng với những lý luận này là một bề dày lịch sử của chiến tranh nhân dân của dân tộc ta từ thời kỳ dựng nước và trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, những nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh đã tiếp tục được Đảng ta tiếp thu và vận dụng triệt để và đã được thực tiễn kiểm chứng bằng những thắng lợi trong lịch sử Quá trình Đảng ta lãnh đạo quân dân hai miền Nam Bắc trong thời kỳ đầu của chiến tranh cách mạng chống đế quốc Mỹ 1961-1965 đều dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh Với những nền tảng lý luận, thực tiễn và quan điểm khoa học này, Đảng và quân dân hai miền đã xây dựng được một sức mạnh to lớn và toàn diện của cuộc kháng chiến của ta chống lại đế quốc Mỹ hùng mạnh

Trang 34

Chương 2 Quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân ở hậu phương

ở cả châu Á, châu Mỹ La – tinh và đặc biệt là ở Châu Phi, năm 1960 được gọi là “năm Châu Phi” với việc 17 nước Châu Phi giành được độc lập từ tay chủ nghĩa thực dân, làm tan rã hầu như toàn bộ hệ thống chủ nghĩa thực dân cũ, đưa nhân loại bước vào thời kỳ phi thực dân hóa trên phạm vi toàn cầu Bên cạnh đó, phong trào đòi dân chủ và việc đấu tranh công khai của một số Đảng Cộng sản ở các nước tư bản diễn ra mạnh

mẽ Đấu tranh để giữ vững hòa bình trở thành xu thế lớn trên thế giới

Tuy nhiên, cũng trong thời gian này, tình hình thế giới cũng có nhiều vấn đề tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc kháng chiến của nhân dân ta, trong đó, đỉnh điểm nhất là sự vươn lên thành siêu cường thế giới của Mỹ Sau chiến tranh thế giới thứ hai,

Mỹ và các đồng minh đã chuyển chiến lược toàn cầu của mình, đi từ việc lật đổ chủ nghĩa xã hội bằng chiến tranh thành việc thực hiện bao vây, cấm vận Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa với cuộc “chiến tranh lạnh”, dùng chạy đua vũ trang và các biện pháp phi chiến tranh “lấy uy hiếp quân sự làm hậu thuẫn và tập trung sức tiến hành xâm nhập về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa khiến cho các nước này tan rã từ bên trong, rút ngắn tuổi thọ của chủ nghĩa cộng sản” [53, tr 98]

Trang 35

Trước những thay đổi của Mỹ và các nước đồng minh, các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa đã có những phản ứng khác nhau Một số nước, tiêu biểu là Liên Xô cho rằng cần phải lợi dụng sự điều chỉnh chiến lược của chủ nghĩa đế quốc để thực hiện cùng chung sống hòa bình,tranh thủ các điều kiện thuận lợi để củng cố và phát triển Đường lối “Tam hòa” tức là quá độ hòa bình, thi đua hòa bình, chung sống hòa bình được Khơrútsốp khởi xướng và được nhiều nước trong phe xã hộ chủ nghĩa ủng hộ, nhưng ngược lại, một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc cho rằng chủ trương Tam hòa thực chất là xét lại, là từ bỏ đấu tranh giai cấp, là đầu hàng chủ nghĩa tư bản Trung Quốc cho rằng chủ nghĩa đế quốc, nhất là Mỹ sẽ không bao giờ từ bỏ thủ đoạn tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, do đó cần phải tiến hành đường lối chiến tranh quyết liệt để đánh bại

đế quốc Mỹ, Trung Quốc cho rằng Mỹ chỉ là “con hổ giấy”, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây Về phần mình, Mỹ lại tỏ ra vui mừng khi chứng kiến sự chia rẽ giữa hai cường quốc cộng sản của thế giới Những bất đồng trong phe xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng nhiều đến việc tiến hành xây dựng sức mạnh chiến tranh ở Việt Nam, Liên Xô cho rằng, miền Bắc Việt Nam, con đường tốt nhất là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

và mặc nhiên, nhân dân miền Nam sẽ đấu tranh cho sự chọn lựa con đường thống nhất

và phát triển theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội còn Trung Quốc lại cho rằng, Việt Nam cần kiên trì và đẩy mạnh, cần dồn toàn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Với những thuận lợi và khó khăn đó, trên cơ sở nắm vững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, trung thành với lý tưởng của chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã từng bước khắc phục những tiêu cực, khó khan, tận dụng những cái tích cực và thuận lợi để xây dựng sức mạnh chiến tranh cách mạng của ta về mọi mặt và từng bước giành thắng lợi với đế quốc Mỹ

Trong nước

Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) có hiệu lực, đất nước ta tạm thời chia làm hai miền Miền Bắc được giải phóng, tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Ở miền Nam, Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định, hất cẳng Pháp, thiết lập chính quyền

Trang 36

Ngô Đình Diệm và quân đội tay sai Sài Gòn Mỹ và Chính quyền Sài Gòn đã tiến hành biện pháp chiến lược mang tên: “Tố cộng, diệt cộng”, coi đấy là “quốc sách” để thực hiện chủ trương loại bỏ những người cộng sản, triệt phá tổ chức và tư tưởng cộng sản Tuy nhiên, trong những năm đầu, nhân dân ta ở miền Nam kiên trì thực hành đấu tranh chính trị trong khuôn khổ pháp lý của Hiệp định Giơ-ne-vơ Cho đến đầu năm 1959, với việc ban hành “Luật 10/59”, Mỹ và Ngô Đình Diệm đã tăng cường sử dụng bạo lực phát xít, thẳng tay đàn áp, bắt giam và sát hại quần chúng cách mạng Đây là thời

kỳ đen tối nhất của cách mạng miền Nam Mặc dù chịu nhiều tổn thất về lực lượng, nhưng về căn bản, phong trào cách mạng vẫn được giữ vững, cơ sở của đảng vẫn được củng cố và phát triển Qua thực tế đấu tranh với địch, cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng ngày càng có kinh nghiệm trong việc vận dụng phương châm và hình thức đấu tranh cách mạng, từng nơi, từng lúc, đã khéo tiến công vào chỗ yếu của địch, từng bước dồn chúng vào thế bị động

Đầu năm 1959, trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của đồng bào, chiến sĩ miền Nam trong hơn bốn năm đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh; cũng như những kiến nghị của cán bộ, đảng viên, các cấp ủy đảng và quần chúng nhân dân miền Nam; cùng với khí thế sục sôi cách mạng ở miền Nam, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 (khóa II, tháng 1-1959), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước, đề ra một cách toàn diện đường lối cách mạng miền Nam Đảng khẳng định, con đường giải phóng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực Trong những tháng đầu của năm 1959, bản Nghị quyết của Hội nghị 15 (gọi là Nghị quyết 15) chưa được thông qua chính thức; dù vậy, qua các bức mật điện của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, Xứ uỷ Nam Bộ, các đảng bộ Khu, Tỉnh và các đảng bộ cơ sở đã kịp thời nắm bắt tinh thần của Nghị quyết 15

Các cuộc nổi dậy chống địch dồn dân, phá các khu tập trung, trở về buôn làng cũ của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng rừng núi Khu 5, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, vào tháng 2-1959, như đốm lửa báo hiệu cho phong trào nổi dậy khởi nghĩa của nhân dân miền Nam Ngày 17-1-1960, nhân dân Bến Tre nổi dậy khởi nghĩa, bắt đầu từ 3 xã

Trang 37

điểm: Định Thuỷ, Phước Hiệp và Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) Phong trào Đồng khởi nhanh chóng lan rộng ra khắp tỉnh Bến Tre

Thắng lợi trong cuộc đồng khởi của nhân dân Bến Tre làm cho địch điên đầu Cùng với Bến Tre, nhân dân và lực lượng vũ trang ở miền Trung Nam Bộ, Tây Nam

Bộ đã vùng lên mạnh mẽ, giành được những thắng lợi to lớn Phong trào Đồng khởi nhanh chóng lan rộng và phát triển đồng loạt vào tháng 9-1960 trên khắp miền Nam: từ Đông Nam Bộ, Tây Nguyên đến các tỉnh miền Tây đồng bằng Khu 5 Cách mạng đã làm chủ được một vùng căn cứ rộng lớn, có ý nghĩa chiến lược, nối từ Tây Nguyên xuống miền Đông, miền Tây Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng Khu 5; đồng thời, đã thúc đẩy quần chúng ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định, đứng lên đấu tranh mạnh

mẽ [7, tr 269, 334]

2.1.2 Yêu cầu nhiệm vụ mới của chiến tranh nhân dân khi bước vào thập niên 60

Trước những tình hình mới của cách mạng Việt Nam, Đại hội lần thứ III của Đảng

đã họp và xác định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông – Nam châu Á và thế giới

Đại hội vạch rõ hai chiến lược cách mạng ở hai miền là:

Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước

Hai chiến lược đó có quan hệ mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau, nhằm trước mắt phục vụ mục tiêu chung của cách mạng cả nước là: Thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc, giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta

Trang 38

với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng Giải quyết mâu thuẫn chung ấy là nghĩa

vụ của nhân dân cả nước

Vị trí, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng mỗi miền:

Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng chung của cả nước; cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà

Cách mạng miền Nam có vị trí rất quan trọng Nó có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, cùng cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cũng từ cuối năm 1960, sau Đồng khởi, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đinh Diệm bị thất bại, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển từ chiến lược

“chiến tranh đơn phương” sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” 1965) Chiến tranh đặc biệt” là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống “cố vấn” Mĩ, dựa vào vũ khí,trang bị kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta Âm mưu cơ bản của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là

(1961-“dùng người Việt đánh người Việt”

Trước âm mưu của đế quốc Mỹ, trong những năm 1961-1965, cách mạng miền Nam đã tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, đưa dần đấu tranh

vũ trang lên ngang hàng với đấu tranh chính trị, giành và giữ thế chủ động, xây dựng sức mạnh chiến tranh nhân dân mọi mặt, đẩy cách mạng lên một bước mới, làm phá sản Chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đồng thời chuẩn bị những yếu tố cần thiết chuẩn bị cho cuộc đối đầu trực tiếp với đế quốc Mỹ xâm lược

2.2 Xây dựng và phát huy sức mạnh Hậu phương lớn miền Bắc (1961-1965)

2.2.1 Xây dựng quân đội chính quy và cơ bản hiện đại

Trong giai đoạn 1961-1965, tại miền Bắc, do đã được hòa bình và đạt được nhiều thành tựu trong kinh tế và xã hội, đã tạo những cơ sở và điều kiện cần thiết để Đảng và

Trang 39

Nhà nước củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh và từng bước hiện đại

Tổ chức và biên chế các quân binh chủng

Ngày 25-2-1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đả ra Nghị

quyết về nhiệm vụ quân sự trong 5 năm (1961-1965) trong đó nhấn mạnh “Việc bảo vệ hòa bình, bảo đảm công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc là nhiệm vụ chủ yếu nhất”1

Qua Hội nghị này, Bộ Chính trị đã thông qua kế hoạch Quân sự 5 năm lần thứ 2 (1961-1965) do Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng chuẩn bị Trong đó nhấn mạnh vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng trên miền Bắc Chú trọng tăng cường sức mạnh của lục quân, xây dựng bộ đội và phát triển cơ sở của các binh chủng không quân và hải quân Hoàn thành việc chính quy hóa và đẩy tới một bước hiện đại hóa [8, tr 103], đảm bảo quân đội ta có sức chiến đấu mạnh và đủ sức bảo vệ miền Bắc

và giải phóng miền Nam cũng như làm nghĩa vụ quốc tế

Thực hiện chủ trương này, Bộ Tổng tham mưu đã nghiên cứu và bổ sung kế hoạch chiến lược bảo vệ miền Bắc, đề phòng chiến tranh với hai mức biên chế số lượng quân đội khác nhau: thời bình là 15 vạn quân, thời chiến là 65 vạn quân Năm 1962, số quân chính quy miền Bắc khoảng 17 vạn người (1% dân số miền Bắc) [8, tr 104]

Quân chủng lục quân được tăng cường biên chế và tổ chức:

Binh chủng bộ binh được xây dựng và cơ cấu lại tổ chức, biên chế toàn miền Bắc với sáu sư đoàn (208, 304, 312, 320, 325, 341), sáu lữ đoàn (316, 305, 330, 324, 350, 335); ba Trung đoàn tác chiến độc lập (50, 246, 148) trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh và các tiểu đoàn, trung đoàn chiến đấu trực thuộc các quân khu trên miền Bắc và các đại đội,

bộ đội địa phương cấp tỉnh huyện

Binh chủng pháo binh tổ chức thành 70 tiểu đoàn pháo binh và 100 đại đội Bốn

lữ đoàn Pháo binh trực thuộc Bộ Tư lệnh pháo binh (364, 368, 374, 378) được thành

1 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chóng Mỹ cứu nước, tập 3: Đánh thắng chiến tranh đặc biệt Nxb CTQG, Hà Nội, trang 102

Trang 40

lập và tổ chức cũng như trang bị những loại vũ khí mới, chủ yếu là các loại pháo cỡ nòng lớn, tầm bắn xa (122 mm, 152 mm), đủ sức chi viện hỏa lực cho các chiến địch ở mọi hướng

Binh chủng công binh được xây dựng và tổ chức thành 7 trung đoàn trực thuộc

Bộ Tư lệnh Công binh, một số tiểu đoàn trực thuộc các quân khu

Bộ đội đặc công gồm ba tiểu đoàn chuyên trách làm nhiệm vụ huấn luyện bộ đội đặc công cho chiến trường miền Nam

Binh chủng Thông tin thành lập các trung đoàn và các trung tâm thông thông tin trực thuộc Cục Thông tin liên lạc, chuẩn bị cho những phương án tác chiến mới, chống các thủ đoạn và các hình thức tác chiến điện tử của đối phương

Bộ đội vận tải tổ chức và sắp xếp lại các đơn vị với ba trung đoàn là (225, 285, 245) dưới sự chỉ huy trực tiếp của phòng Giao thông quân sự thuộc Bộ Tổng tham mưu Các đơn vị vận tải khác thì biên chế vào các sư đoàn bộ binh và các quân khu để

hỗ trợ công tác huấn luyện, di chuyển quân và khí tài

Đối với Binh chủng tăng thiết giáp: ngày 1 tháng 3 năm 1961, đại đội huấn luyện, mật danh C12, được thành lập để huấn luyện, đào tạo cho Sư đoàn 308 một tiểu đoàn

xe tăng Ngày 22 tháng 6 năm 1965, trung đoàn xe tăng thứ hai được thành lập trên cơ

sở các học viên từ Liên Xô về cùng với những chiếc T-54 được viện trợ, mang phiên hiệu 203 Bộ Tư lệnh Thiết giáp cũng được thành lập Tuy nhiên, do nhiều vấn đề và điều kiện chiến tranh, mãi tới năm 1968, Binh chủng tăng thiết giáp mới tham chiến lần đầu tiên tại chiến dịch Khe Sanh

Quân chủng phòng không – không quân bao gồm ba binh chủng Pháo cao xạ, Binh chủng Rađa và Binh chủng Không quân Đây là quân chủng mới thành lập vào tháng 10-1963 trên cơ sở hợp nhất từ Binh chủng phòng không và Cục Không quân dân dụng Trong quân chủng này thì Binh chủng không quân được trú trọng khá nhiều và tổ chức thành ba trung đoàn với nhiệm vụ khác nhau bao gồm một đoàn tiêm kích, một đoàn vận tải và một đoàn huấn luyện [8, tr 111] Ngày 30 tháng 5 năm 1963, đơn vị không quân Tiêm kích đầu tiên của Việt Nam được thành lập số hiệu là Trung đoàn

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin, Heidi Toffler (1995), Chiến tranh và chống chiến tranh: Sự sống còn của loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Viện Thông tin khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1995), Chiến tranh và chống chiến tranh: Sự sống còn của loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI
Tác giả: Alvin, Heidi Toffler
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1995
2. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1993), Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa – Vũng Tàu, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa – Vũng Tàu
Tác giả: Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
3. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
4. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975, thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
5. Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương, Quân chủng Phòng Không- Không Quân, Cục Phòng Không lục quân (2007), Công tác phòng không nhân dân trong đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1964 – 1972), NXB QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác "phòng không "nhân dân trong đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa (1964 – 1972)
Tác giả: Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương, Quân chủng Phòng Không- Không Quân, Cục Phòng Không lục quân
Nhà XB: NXB QĐND
Năm: 2007
6. Bộ giao thông vận tải (2015), Ngành giao thông vận tải trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành giao thông vận tải trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Bộ giao thông vận tải
Nhà XB: Nxb Giao thông vận tải
Năm: 2015
7. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1996), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tập II: Chuyển chiến lược, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1996
8. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1965, tập 3: Đánh thắng chiến tranh đặc biệt, Nxb Chính trị Quôc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 – 1965, tập 3: Đánh thắng chiến tranh đặc biệt
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quôc gia
Năm: 2013
9. Bộ quốc phòng-quân khu 7 (2010), Lịch sử lực lượng vũ trang quân khu 7 (1945- 2010), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử lực lượng vũ trang quân khu 7 (1945-2010)
Tác giả: Bộ quốc phòng-quân khu 7
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
10. Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975)
Tác giả: Bộ quốc phòng- Viện lịch sử quân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1997
11. Bộ Tư lệnh Quân khu V (2002), Công tác Đảng, công tác chính trị Lực lượng vũ trang Quân khu V (1945-2000), (Biên niên), Tập 2, Quyển 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác Đảng, công tác chính trị Lực lượng vũ "trang Quân khu V (1945-2000), (Biên niên)
Tác giả: Bộ Tư lệnh Quân khu V
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2002
12. Bộ tư lệnh quân khu 7-Tỉnh ủy sông Bé- Tỉnh ủy Đồng Nai (1987), Lịch sử chiến khu Đ, Nxb Đồng Nai-Nxb Sông bé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chiến khu Đ
Tác giả: Bộ tư lệnh quân khu 7-Tỉnh ủy sông Bé- Tỉnh ủy Đồng Nai
Nhà XB: Nxb Đồng Nai-Nxb Sông bé
Năm: 1987
13. Bộ Tư lệnh quân khu 7 (2005), Lịch sử sư đoàn bộ binh 5, Nxb Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử sư đoàn bộ binh 5
Tác giả: Bộ Tư lệnh quân khu 7
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 2005
14. Bộ Quốc Phòng, Quân khu 7 (2004), Lịch sử Bộ chỉ huy Miền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Bộ chỉ huy Miền
Tác giả: Bộ Quốc Phòng, Quân khu 7
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Bộ Văn hóa (1970), Văn kiện của Đảng và Nhà nước về văn hoá văn nghệ (từ 1943 đến 1968), Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện của Đảng và Nhà nước về văn hoá văn nghệ (từ 1943 đến 1968)
Tác giả: Bộ Văn hóa
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1970
16. Biên niên sự kiện lịch sử Xây dựng lực lượng Công an nhân dân (2001), Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên niên sự kiện lịch sử Xây dựng lực lượng Công an nhân dân
Tác giả: Biên niên sự kiện lịch sử Xây dựng lực lượng Công an nhân dân
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
17. Carl von Clausewitz (1981), Bàn về chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 18. Trương Khánh Châu (2014), Đặc trưng công nghệ quân sự Việt Nam qua cácthời kỳ cách mạng, Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chiến tranh", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 18. Trương Khánh Châu (2014), "Đặc trưng công nghệ quân sự Việt Nam qua các "thời kỳ cách mạng
Tác giả: Carl von Clausewitz (1981), Bàn về chiến tranh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 18. Trương Khánh Châu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2014
19. Chiến Binh, Mỹ đã thua rõ ràng, III- Hai quy luật của cuộc chiến tranh, Báo quân đội Nhân dân, số tháng 1 năm 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ đã thua rõ ràng, III- Hai quy luật của cuộc chiến tranh
20. Nguyễn Đình Chiến (2014), Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng Việt Nam: Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời kỳ đầu chiến tranh và những vấn đề đặt ra đối với quốc phòng Việt Nam: Sách chuyên khảo
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
108. Trang web An ninh thế giới online, Hai viên bại tướng tại phòng tuyến Phan Rang, đăng ngày 28-4-2012, (http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Hai-vien-bai-tuong-tai-phong-tuyen-Phan-Rang-303089/) Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w