1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảng cộng sản việt nam vận dụng tư tưởng hồ chí minh trong kháng chiến chống mỹ cứu nước, thực hiện đánh cho mỹ cút, đánh cho ngụy nhào (giai đoạn 1969 1975)

186 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó trình bày hệ thống sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trên các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, binh vận chống lại chiến lược chiến tranh cuối cùng mà Mỹ tiến hành t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

  

HỒ YẾN LINH

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, THỰC HIỆN

“ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO”

(GIAI ĐOẠN 1969 - 1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60220315

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS HÀ MINH HỒNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

Để hoàn thành đề tài này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Hà Minh Hồng Là người trực tiếp hướng dẫn, thầy đã hết lòng giúp đỡ tôi từ những ý tưởng đầu tiên cho đến khi hoàn thiện đề tài Sự biết ơn sâu sắc của học viên dành cho thầy về thời gian, sự kiên nhẫn, sự động viên và những kiến thức quý báu mà thầy truyền thụ

Tiếp đến xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy các thế hệ sinh viên, học viên trong suốt những năm tháng học tập, trưởng thành Cảm ơn bạn bè vì đã luôn tin tưởng, ủng hộ Và cuối cùng, xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình - điểm tựa tinh thần, luôn động viên khích lệ, tạo thuận lợi cho tôi trong mọi hoàn cảnh

Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do hạn chế về mặt thời gian, tư liệu và trình độ nghiên cứu của bản thân nên luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô, bè bạn để tiếp tục hoàn chỉnh nội dung này

Xin chân thành cảm ơn!

Tháng 11 năm 2017

TÁC GIẢ

Trang 3

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài và đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

“ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO” (GIAI ĐOẠN 1969 - 1975) 58

2.1 Lãnh đạo đẩy mạnh vừa đánh vừa đàm giành thắng lợi từng bước, tiến tới mục tiêu “đánh cho Mỹ cút” (1969 - 1973) 58 2.2 Lãnh đạo thực hiện “đánh cho ngụy nhào”, giành thắng lợi hoàn toàn (1973 - 1975) 82

Trang 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA QUÁ TRÌNH

LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN GIAI ĐOẠN 1969 - 1975 109

3.1 Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi 109

3.2 Bài học kinh nghiệm của quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh lãnh đạo kháng chiến giai đoạn 1969 - 1975 130

KẾT LUẬN 148

CHÚ THÍCH 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162

PHỤ LỤC 167

Trang 5

BCT: Bộ Chính trị

BCHTƯ: Ban Chấp hành Trung ương

CPCMLTCHMNVN: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam MTDTGPMNVN: Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Nxb: Nhà xuất bản

VNCH: Việt Nam Cộng hòa

VNDCCH: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 6

DẪN LUẬN

1 Lý do chọn đề tài

Ỷ vào tiềm lực khổng lồ về mọi mặt, từ cuối những năm 60 của thế kỷ XX, sau thất bại trong “Chiến tranh cục bộ”, đế quốc Mỹ đã chuyển sang “Việt Nam hóa chiến tranh” và liều lĩnh mở rộng xâm lược ra toàn cõi Đông Dương Cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước của nhân dân ta bước sang một giai đoạn mới với những thử thách hết sức ngặt nghèo Nhưng chính trong khói lửa chiến tranh, quyết tâm của người Việt Nam đã được thử thách, tôi luyện và rắn chắc hơn bao giờ hết “Chúng ta biết đánh và biết thắng trong cuộc chiến tranh lâu dài với Mỹ” [51:34]

Từ đầu năm 1969 đến giữa năm 1975, đây là thời kỳ giằng co quyết liệt trên chiến trường và trên bàn đàm phán Đối phương nham hiểm, liều lĩnh Đảng ta gan góc và trí tuệ Từ chiến cuộc Xuân - Hè làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh; “Điện Biên Phủ trên không” nâng tầm vóc và quyết định vị thế Việt Nam trên bàn đàm phán; dấu ấn Hiệp định Pari khép lại chặng đường “đánh cho Mỹ cút” và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

“đánh cho ngụy nhào” Cách mạng Việt Nam đã “tuần tự nhi tiến” những bước như thế

Đó là cuộc kháng chiến đẩy lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến lên giành thắng lợi

cờ rực rỡ mà Người để lại vẫn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam Biến đau thương thành hành động cách mạng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết tâm chiến đấu cho đến thắng lợi hoàn toàn Niềm tin ở tương lai tươi sáng, đất

Trang 7

nước thống nhất, Nam - Bắc sum họp một nhà lại bừng lên qua giai điệu của bài ca hy vọng

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, 15 năm Bác trực tiếp cùng Trung ương Đảng hoạch định đường lối chiến lược và sách lược cho cách mạng Việt Nam, tổ chức điều hành chiến tranh vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ Sáu năm cuối cùng (1969 - 1975), các học trò của Người đã kế tục sự nghiệp, lãnh đạo kháng chiến đến thành công Ngày 29/3/1973, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ làm lễ cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975 lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - ghi nhận thời khắc huy hoàng của ngày toàn thắng Bước trước mở đường cho bước sau, thắng lợi sau triệt để hơn thắng lợi trước Biện chứng của quá trình này minh chứng tư duy khoa học, nghệ thuật điều hành chiến tranh của Đảng dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Ôn cũ để biết mới Nghiên cứu đề tài này sẽ làm sáng tỏ thêm một chặng đường lịch sử vẻ vang, góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thắng lợi Qua đó nêu lên những bài học kinh nghiệm và gợi mở có giá trị cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay Bởi lẽ, cách mạng là một quá trình vừa có tính liên tục, vừa có tính giai đoạn Quy luật biện chứng chỉ ra rằng việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể sẽ giúp đề ra những bước đi thích hợp nhằm giành thắng lợi tối đa, mở đường đi đến đích cuối cùng

Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn như vậy, tác giả chọn đề tài Đảng Cộng

sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (giai đoạn 1969 - 1975) làm luận văn

tốt nghiệp

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói: “Lịch sử, nói chính xác hơn, là hiện thực

lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại nhưng nhận thức lịch sử cũng như viết sử, có thể làm đi làm lại nhiều lần” [31:13] Với một độ lùi thời gian hơn 40

năm sau ngày giải phóng thì việc tìm hiểu về cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung, giai đoạn 1969 - 1975 nói riêng được thể hiện trong các công trình là rất phong phú, đa dạng

và luôn có kết quả mới Từ nguồn tư liệu thu thập được, trong khả năng còn hạn chế của mình, xin khái lên quát tình hình nghiên cứu:

Cuốn Nghệ thuật biết thắng từng bước: nghiên cứu một số vấn đề cơ sở phương

pháp luận của khoa học cách mạng Việt Nam của GS Trần Nhâm, nội dung tác phẩm

bao gồm: Chương 1 tập trung làm rõ “Cuộc đụng đầu lịch sử ở Việt Nam”; Chương 2 bàn

về “Một số nguyên tắc chỉ đạo cơ bản của Đảng ta trong quá trình vận dụng nghệ thuật

biết thắng từng bước”; Chương 3 “Những vấn đề có tính quy luật của nghệ thuật biết thắng từng bước”; Chương 4 “Biết thắng từng bước và vấn đề vận dụng các khả năng”;

Chương 5 “Biết thắng từng bước và vấn đề chỉ đạo sách lược của Đảng”; và Chương 6

“Vấn đề kết thúc chiến tranh trong nghệ thuật biết thắng từng bước” Bản thân là một cán

bộ triết học nên cách lý giải vấn đề của nhà nghiên cứu rất biện chứng sinh động, đã cố gắng thuyết minh quá trình Đảng ta vận dụng sáng tạo phương pháp luận mácxít vào nghệ thuật lãnh đạo:

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc, đã trải qua nhiều bước nhảy vọt lớn Nhưng có hai bước nhảy vọt căn

bản làm biến đổi hẳn về chất: bước thứ nhất, kết thúc quá trình đánh cho Mỹ cút; bước nối tiếp theo, kết thúc quá trình đánh cho ngụy nhào Không có bước nhảy

vọt thứ nhất thì cũng không có bước nhảy vọt thứ hai Bước nhảy sau là kết quả tất yếu của quá trình phát triển của bước nhảy trước Thắng lợi của bước sau càng triệt để, hoàn toàn bao nhiêu, thì càng khẳng định thắng lợi của bước trước to lớn

và căn bản bấy nhiêu [39:133-134]

Trang 9

“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” là khẩu hiệu cơ bản, và là mục tiêu chiến lược mà Đảng nhằm đạt tới Nhưng một khi tình hình so sánh lực lượng hai bên không cho phép ta thực hiện khẩu hiệu ấy một cách trọn vẹn, ngay tức khắc, bằng con đường thẳng tắp, bằng phẳng, thì ta phải đi đường vòng với những bước ngoắt ngoéo, chữ chi Ta chưa có thể đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào ngay một lúc, thì trước hết hãy đánh cho Mỹ cút đã, rồi sau đó tìm ra cách đánh cho ngụy nhào [39:201]

Về cơ bản, “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” được bình giảng dưới góc độ duy vật biện chứng, nhấn mạnh về quy luật phát triển của cách mạng với những “bước nhảy vọt” và “đường vòng” Đây cũng là nét đặc sắc của công trình, góp thêm góc nhìn triết học qua mấy vần thơ xuân của Bác

Bên cạnh đó là những tài liệu nghiên cứu quá trình “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho

ngụy nhào” với tư cách là một bộ phận của giai đoạn lịch sử lớn hơn: Quyển Lịch sử Việt

Nam 1945 - 1975 (Nxb Mũi Cà Mau, 1998), trong phần thứ hai, các tác giả đã dành hơn

80 trang cho mục “Cả nước có chiến tranh - 10 năm “Đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” (1965

- 1975)” Tuy nhiên, sự nghiên cứu mới dừng lại ở việc cung cấp những sự kiện và nhận

định cơ bản, có tính chất gợi mở, “Các tác giả không coi đây là một công trình lịch sử đã hoàn hảo” [43:4] Cuốn tiếp theo: Ngoại giao Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử

(Nxb Công an nhân dân, 2005) góp phần làm rõ những cống hiến trên mặt trận ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Phần V, phần VII lần lượt đề cập: “Tạo thế trận

“đánh cho Mỹ cút” 1967 - 1973” và “Ngoại giao trong giai đoạn “đánh cho ngụy nhào”

1973 - 1975” Nhiều bài viết trong một số sách cũng ít nhiều liên quan đến đề tài như

“Đảng bộ và nhân dân Sài Gòn - Gia Định thực hiện khẩu hiệu của Bác Hồ “Đánh cho

Mỹ cút, ngụy nhào” (1969 - 1975)” (ThS Nguyễn Thanh Hải) in trong sách Mãi mãi theo

Người Hồ Chí Minh; “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề Mỹ rút và cút khỏi Việt Nam”

(PGS TS Lê Văn Quang), “Đôi nét về “Đánh cho Mỹ cút” với Hiệp định Pari” (GS TS

Lương Minh Cao) trong kỷ yếu Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - những vấn đề

khoa học và thực tiễn

Trang 10

Đặc biệt năm 2015, để góp phần chào mừng những ngày lễ lớn của dân tộc, Nxb Quân đội nhân dân giới thiệu bộ sách 40 năm Đại thắng mùa xuân với 40 tác phẩm bao

quát từ lịch sử đấu tranh cách mạng miền Nam (Những mốc son trong lịch sử kháng

chiến Nam Bộ; Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975; Những điều ít biết về chiến tranh Việt Nam ) cho đến những tác phẩm phản ánh câu chuyện của phía bên kia chiến

tuyến trong thời khắc cuối cùng như: Sự cáo chung của chế độ VNCH; 5 đời tổng thống

Mỹ trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam; Nội các chính quyền Sài Gòn những ngày cuối tháng 4/1975 Bộ sách còn dành phần quan trọng viết về hòa bình, những đổi thay của

đất nước sau 40 năm thống nhất qua các tác phẩm: Đất phương Nam; Sài Gòn trước và

sau ngày giải phóng Nxb Chính trị quốc gia thì ấn hành các tác phẩm: Đại thắng mùa xuân năm 1975 - sức mạnh của ý chí thống nhất và khát vọng hòa bình; Nghệ thuật ngoại giao Việt Nam với cuộc đàm phán Paris; Thảm bại của “bầy diều hâu” Đây là những

công trình không chỉ đa dạng về số lượng, mà còn phong phú ở nội dung khi thể hiện cách nhìn khách quan, chân thực về một trong những sự kiện lịch sử nổi bật nhất thế kỷ

XX của dân tộc Việt Nam Những cuốn sách ấy không chỉ cắt nghĩa vì sao chúng ta chiến thắng, mà còn góp phần kết nối dân tộc hướng tới tương lai, bổ sung nguồn tư liệu cập nhật, gợi mở nhiều ý tưởng nghiên cứu

Các nhà lãnh đạo cao cấp, các tướng lĩnh trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến chống

Mỹ cũng viết nhiều hồi ký: Sau ngày miền Nam giải phóng, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh trong Chiến dịch Tây Nguyên, Tư

lệnh Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã kể lại trên báo Nhân dân về cuộc Tổng tiến

công và nổi dậy mùa Xuân 1975 Câu chuyện của đồng chí sau đó được viết lại, bổ sung

thêm tài liệu và in thành cuốn Đại thắng mùa xuân (Nxb Quân đội nhân dân, 1976) Hồi

ký được xuất bản góp phần làm rõ hơn sự chỉ đạo đúng đắn, sáng suốt, kiên quyết, nhạy bén của BCT trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến Tình hình chuyển động nhanh, nhiều vấn đề đột biến nảy sinh, chính ở đây, nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh càng phát quang giá trị, được Đảng ta vận dụng thuần thục để làm nên đại thắng

Nếu như hồi ký của Đại tướng Văn Tiến Dũng không đi sâu vào các hoạt động,

thành tích và trận chiến đấu cụ thể thì Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng của

Trang 11

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Nxb Chính trị quốc gia xuất bản lần đầu tiên vào năm 2000) lại có sự bổ sung cần thiết cho vấn đề này Với mười chương sách, tác giả dành chín chương viết về các sự kiện lịch sử lớn và chương cuối cùng trình bày những điều tâm huyết, đúc kết cuộc đời cầm quân qua những năm tháng khốc liệt Toàn bộ diễn biến

đã được tập sách phản ánh một cách trọn vẹn từ “đòn trinh sát” Phước Long; “đòn điểm huyệt” Buôn Ma Thuột mở ra “đột phá khẩu”; chiến dịch Huế - Đẵng; đến thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 “Một nước nhỏ đánh “đế quốc to” phải biết giành thắng lợi từng bước Thắng lợi trước tạo tiền đề cho thắng lợi sau Càng về sau, thắng lợi càng to lớn” [25:173] (Võ Nguyên Giáp) Đọc tác phẩm có thể thấy sự phát triển biện chứng trong tư duy khoa học của Đảng Vẫn với dân tộc này, vẫn với kẻ thù ấy nhưng khi thời cơ đến như một “chất men xúc tác” thì trường

kỳ kháng chiến sẽ bung bật theo tư tưởng chỉ đạo “một ngày bằng hai mươi năm”, “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” đưa cách mạng đến thành công

Nhiều luận án tiến sĩ lịch sử viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, liên quan đến đề tài có thể kể đến như: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chống chiến lược

“Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ từ 1969 đến 1975” (Lê Văn Mạnh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007) phân tích rõ âm mưu, thủ đoạn và hành động ngoan cố của tập đoàn Níchxơn nhằm duy trì chủ nghĩa thực dân mới Qua đó trình bày

hệ thống sự lãnh đạo toàn diện của Đảng trên các mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự, ngoại giao, binh vận chống lại chiến lược chiến tranh cuối cùng mà Mỹ tiến hành tại Việt Nam Quá trình này được chia thành hai thời kỳ: Đảng lãnh đạo “Đánh cho Mỹ cút”,

giành thắng lợi cơ bản (1969 - 1/1973) tương ứng nội dung Chương 1; Đảng lãnh đạo

“đánh cho ngụy nhào”, giành thắng lợi hoàn toàn (1/1973 - 4/1975) tương ứng nội dung

Chương 2 Có thể nói đây là đề tài nghiên cứu chuyên sâu khá đầy đủ và toàn diện về giai đoạn 1969 - 1975, gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Tú về “Đảng chỉ đạo giành thắng lợi từng bước trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thời kỳ 1965 - 1975” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001), trong đó giai đoạn 1969 - 1975 được nghiên cứu với tư cách là một bộ phận trong công trình có phạm vi nghiên cứu rộng hơn Nội dung Chương

Trang 12

2 - Từng bước làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ

(1969 - 4/1975) đã làm rõ những tính toán chiến lược, sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của

Đảng Cộng sản Việt Nam và cuộc đấu tranh lâu dài theo một quá trình từ thấp đến cao, đẩy lùi địch từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Bạo: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1/1973” (Học viện Chính trị quân sự, 2006) Tuy chỉ dừng lại ở mốc thời điểm ký kết Hiệp định Pari nhưng đây là công trình giúp ích cho tác giả trong việc nghiên cứu nghệ thuật vừa đánh vừa đàm đưa đến bước ngoặt chiến tranh

Thêm một đề tài khác, “Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari về Việt Nam (1968 - 1973)” (Lương Viết Sang, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004) khắc họa lại chặng đường “đánh cho Mỹ cút” trên một mặt trận không tiếng súng nhưng rất cam go, kéo dài suốt 4 năm giữa các nhà ngoại giao Việt Nam với phái đoàn

Mỹ Qua đây chúng ta thấy được những chỉ đạo linh hoạt, sắc bén của Đảng, kết hợp giữa đánh và đàm, đấu tranh buộc địch phải ký Hiệp định Pari để kết thúc chiến tranh trực tiếp với đế quốc Mỹ Điểm độc đáo của công trình là đã góp phần luận giải (trong mục 2.2 của Chương 2) nghệ thuật đàm phán đi từ phương án cao đến phương án tối thiểu, hạ dần các yêu sách về vấn đề đánh đổ chính quyền VNCH để đạt được mục tiêu bất biến đánh cho Mỹ phải rút hết quân

Bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, các tác giả nước ngoài cũng xuất bản nhiều

công trình: Peter A Puler với Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn (Nxb Thông tin lý luận, 1986); A L Owson với 55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ (Nxb Sự thật, 1990); Gabriel Kolko với Giải phẫu một cuộc chiến tranh (Nxb Quân đội nhân dân, 1991); Nigel Cawthorne với Chiến tranh Việt Nam được và mất (hay những bài học từ

cuộc chiến tranh Việt Nam) (Nxb Đà Nẵng, 2007) Đáng chú ý là những cuốn hồi ký

dài hơn nghìn trang của những nhân vật lịch sử thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh” được

Nxb Công an nhân dân dịch ra tiếng Việt: Hồi ký Richard Nixon (“The memoirs of

Richard Nixon”, Grosset & Dunlap A Filmways Company Pulisher, New York, 1978) và

cuốn hồi ký của Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger với nhan đề Cuộc chạy

Trang 13

đua vào Nhà Trắng (“A la Maison Blanche”, 1968 - 1973, Ed Fayard, Paris, 1979).Nội dung các tác phẩm trên còn những hạn chế nhất định, nhiều cách đánh giá, nhìn nhận chưa thật đúng với thực tiễn và quan điểm của Đảng ta Đây cũng là điều khó tránh khỏi với những nhân chứng lịch sử người Mỹ hay nhà nghiên cứu nước ngoài khi viết về chiến tranh Việt Nam (do bị ảnh hưởng bởi thành kiến, lượng thông tin thu thập từ hai phía còn hạn chế) Mặc dù vậy đây vẫn là nguồn tư liệu hữu ích và cần thiết, có giá trị tham khảo.

Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu, có thể thấy cùng với thời gian, những

tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng ngày càng phong phú, đa dạng Những nội dung chính yếu và quan trọng trong giai đoạn 1969 - 1975 đều đã được các tác giả trình bày một cách sinh động, thuyết phục Song cho đến nay, sự đề cập đó vẫn dưới

góc độ lịch sử chiến tranh, lịch sử Đảng lãnh đạo chiến tranh mà chưa có sự đi sâu phân

tích việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đường lối cách mạng của Đảng Đặc

biệt từ năm 1969 trở đi, câu thơ xuân của Bác vạch đường đi nước bước cho cả dân tộc thì sự lãnh đạo và nghệ thuật điều hành chiến tranh đã đi theo đúng phác đồ “Đánh cho

Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” cả trên mặt trận quân sự, ngoại giao Với việc lựa chọn đề tài này, tác giả hy vọng luận văn của mình trên cơ sở kế thừa thành quả các công trình trước sẽ góp phần bổ sung, làm rõ vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài và đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:

Mục đích của đề tài là trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (giai đoạn 1969 - 1975) đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn Qua đó nêu lên một số bài học liên hệ công cuộc đổi mới hiện nay

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xác định phương hướng “Đánh cho

Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”

Trang 14

- Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo kháng chiến “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giai đoạn 1969 - 1975

- Những bài học rút ra từ thời chiến tranh cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về thắng từng bước trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bao gồm:

- Việc đề ra quan điểm, chủ trương vận dụng, cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh

- Quá trình tổ chức thực hiện những quan điểm, chủ trương ấy trong thực tiễn Phạm vi đề tài tập trung vào khoảng thời gian 1969 - 1975 Tuy nhiên để có được những nhận thức xuyên suốt, liền mạch, giúp lý giải đầy đủ, cặn kẽ hơn cuộc kháng chiến chống Mỹ, tác giả mở rộng nghiên cứu về trước năm 1969, bắt đầu từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận:

Luận văn được triển khai dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện Đảng, đặc biệt là trong chỉ đạo cách mạng thời kỳ 1969 - 1975

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp lịch sử sẽ giúp tác giả ghi lại tiến trình cách mạng theo diễn biến thời

gian từ năm 1969 đến năm 1975 với nhiều sự kiện quan trọng Qua đó phác họa nên bức tranh toàn cảnh về sự lãnh đạo của Đảng

Phương pháp logic nhằm xâu chuỗi, hệ thống lại toàn bộ làm bộc lộ bản chất vấn

đề, đưa ra những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm

Trang 15

Sự kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic là yêu cầu cơ bản đối với việc nghiên cứu đề tài Song song đó, tác giả còn sử dụng: phương pháp so sánh - đối chiếu; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp nghiên cứu liên ngành

5 Nguồn tƣ liệu

Để có được những thông tin cần thiết phục vụ cho luận văn, tác giả đã tiếp cận

nhiều nguồn tư liệu khác nhau Liên quan đến đề tài Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thực hiện “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (giai đoạn 1969 - 1975) thì nguồn tư liệu khoa học có được là

tương đối phong phú Tuy nhiên, chúng ta không thể bằng lòng với những gì đã có trong các thư viện và tủ sách của các cơ quan thông tin:

- Bộ Hồ Chí Minh Toàn tập đã được tái bản lần ba, nhưng chưa thể coi là đủ Còn

nhiều tư liệu do Bác viết bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài chưa được sưu tầm, xác minh khoa học vì Người dùng nhiều bút danh khác nhau

- Các nghị quyết, chỉ thị của BCHTƯ Đảng, BCT, Quân ủy Trung ương tác giả

chỉ mới khai thác trong Văn kiện Đảng Toàn tập mà chưa có dịp tiếp cận tài liệu gốc tại

Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, đây cũng là hạn chế của công trình

- Về các sách, báo được công bố của nhiều tác giả, do nhiều nhà xuất bản biên tập

và ấn hành nên cũng có sự khác nhau nhất định về sự kiện, số liệu, cần được khảo dị để tìm ra cái đúng Chẳng hạn, cùng một dự báo của Bác về thời điểm kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, có sách in “Năm 1961, Người dự đoán cuộc kháng chiến cứu nước diễn

ra 15 năm mới dẫn tới thắng lợi hoàn toàn” [38:204] Trong khi đó, theo đồng chí Phạm Văn Đồng thì trong bản thảo diễn văn nhân kỷ niệm lần thứ 15 Quốc Khánh nước VNDCCH, ngày 2/9/1960, Bác đã đưa ra dự báo này [40:586-587] Đại tá Phạm Chí Nhân cũng nhất trí thời điểm năm 1960, nhưng là trong bản thảo thư gửi đồng bào miền Nam [42:145] Có thể tìm thấy nhiều dị bản tương tự, do sai sót mà tư tưởng của Người không được nhận thức đầy đủ và chính xác

- Ở một khía cạnh khác, có thể kể đến nhiều bài viết từ các trang web điện tử, tuy nhiên tính xác thực và độ tin cậy không cao, nhiều tài liệu mang tính chất xuyên tạc, cũng

Trang 16

có những ý kiến lạc lõng giải thích sự kiện bằng một sự may mắn hay sai lầm cá nhân nhằm hạ thấp quy mô và tầm ảnh hưởng của cuộc kháng chiến chống Mỹ Chính vì vậy, việc sử dụng nguồn tư liệu này đòi hỏi phải có sự tỉnh táo và chọn lọc nhằm kịp thời bác

bỏ những luận điểm sai trái, phản động do các thế lực thù địch dựng lên

6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

Thực hiện đề tài sẽ góp phần lý giải các vấn đề khoa học liên quan đến thắng lợi của Việt Nam trong cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ Qua đó khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng đến thành công; bổ sung

lý luận cho việc nghiên cứu lịch sử Đảng giai đoạn 1969 - 1975 cũng như vai trò của Bác trong tiến trình lịch sử dân tộc Về thực tiễn, luận văn rút ra những bài học vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, nâng cao lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần dẫn luận, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính

của đề tài được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những cơ sở của việc xác định phương hướng “Đánh cho Mỹ cút,

đánh cho ngụy nhào”

Chương 2: Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kháng chiến theo

phương hướng “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” (giai đoạn 1969 - 1975)

Chương 3: Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của

quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh lãnh đạo kháng chiến giai đoạn 1969 - 1975

Trang 17

CHƯƠNG 1:

NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH PHƯƠNG HƯỚNG

“ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO”

1.1 Bối cảnh lịch sử, mục tiêu và nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1.1.1 Bối cảnh quốc tế, trong nước sau năm 1954

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết Mặc dù giải pháp này chưa phản ánh đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, song đó là thắng lợi vẻ vang của dân tộc Việt Nam qua 9 năm trường kỳ kháng chiến hy sinh anh dũng Nó chấm dứt nền đô hộ ngót một thế kỷ của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương và đưa đất nước ta bước vào thời kỳ lịch sử mới Sự thử thách đầu tiên đối với năng lực lãnh đạo của Đảng là làm thế nào để xác định đường lối cách mạng và phương pháp đấu tranh đúng đắn trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong nước rất phức tạp

Trên thế giới, sự lớn mạnh của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa

có tác động to lớn đối với cách mạng Việt Nam Bên cạnh thuận lợi, không thể không chú ý đến đường lối cùng tồn tại hòa bình, đi vào phòng ngự bị động đang ảnh hưởng sâu rộng trong phong trào cộng sản quốc tế Liên Xô và Trung Quốc, hai nước lớn trong phe tuy đặt quan hệ ngoại giao và giúp đỡ cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ năm 1950 nhưng họ vẫn chưa thật hiểu và tin tưởng về cách mạng Việt Nam Hai nước đồng ý quan điểm chia Việt Nam thành hai miền Nam - Bắc với chế độ chính trị khác nhau và mong muốn duy trì hiện trạng đó

Sau những tổn thất to lớn của chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô, Trung Quốc và nhiều nước khác chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng hòa bình Các nước lo sợ từ một đốm lửa nhỏ (chiến tranh giải phóng ở một nước) có thể gây ra chiến tranh thế giới, lo sợ vũ khí nguyên

tử Họ chủ trương giải quyết các cuộc xung đột khu vực mang yếu tố ý thức hệ bằng mô hình chia cắt của Đức (sau chiến tranh thế giới thứ hai) và của Triều Tiên (sau cuộc chiến tranh 1950 - 1953) nhằm cân bằng lược lượng giữa các nước tư bản và các nước xã hội chủ nghĩa

Trang 18

Từ sau Hiệp định Giơnevơ, xuất phát từ quan điểm “chung sống hòa bình”, Khơrútxốp người đứng đầu Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô, khuyên ta tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cho mạnh thì miền Nam sẽ được giải phóng Còn Trung Quốc, vì lợi ích riêng nên cũng không muốn

có căng thẳng với Mỹ Tháng 7/1955, Tổng Bí thư Đặng Tiểu Bình nêu rõ quan điểm nếu Việt Nam “dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có 2 khả năng: một là thắng và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc” [3:40] Năm 1956, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc điện cho Trung ương Đảng ta, gợi ý ở miền Nam Việt Nam thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng trước mắt chưa thể thực hiện bạo lực cách mạng mà chỉ có thể dùng phương châm thích hợp: “Trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, liên hệ quần chúng, chờ đợi thời cơ” [3:40] Trong một cuộc hội đàm khác, tháng 11/1956, Chủ tịch Mao Trạch Đông khẳng định: “Tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ , nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm” [3:39]

Hòa cùng thắng lợi của ba nước Đông Dương, phong trào giải phóng dân tộc nổi dậy đều khắp ở Á, Phi, Mỹ La tinh không chỉ góp phần đẩy lùi chủ nghĩa thực dân cũ mà còn chống đế quốc Mỹ Xu thế hòa bình, trung lập phát triển: Từ ngày 28/4 đến ngày 2/5/1954, thủ tướng các nước Ấn Độ, Xri Lanca, Inđônêxia, Miến Điện và Pakixtan họp tại Côlômbô (thủ đô Xri Lanca) chủ trương xây dựng khối trung lập châu Á, yêu cầu đình chiến ở Đông Dương, đòi cấm vũ khí nguyên tử và lên án chủ nghĩa thực dân Tháng 4/1955, Hội nghị Băng đung họp tại Inđônêxia có 29 nước tham dự đã ra bản tuyên bố 10 nguyên tắc hòa bình, trung lập, trở thành một đóng góp quan trọng vào phong trào chống chủ nghĩa thực dân, củng cố nền độc lập của các nước Á - Phi và bảo vệ hoà bình thế giới Đây là một xu thế tiến hộ, đòi hỏi Đảng phải có thái độ và chính sách thích hợp để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế rộng rãi, nhất là khi dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù độc ác, ngạo mạn là đế quốc Mỹ

Từ sau Thế chiến hai, nhờ vào vị trí chiến lược đặc biệt và những thủ đoạn cơ hội,

Mỹ vươn lên vị trí hàng đầu do thu được những khoản lợi nhuận kếch xù từ buôn bán vũ khí và đất nước không bị tàn phá sau chiến tranh Với tiềm lực kinh tế và quân sự, nắm độc quyền về vũ khí hạt nhân, chúng ráo riết thi hành chính sách thực dân mới chống lại

Trang 19

thế tiến công của các lực lượng cách mạng: kiềm chế sức mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, khống chế các đồng minh trong vòng lệ thuộc, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc Trong đối tượng xâm lược, Mỹ chọn Việt Nam làm trọng điểm, vì “Học thuyết đôminô” của Mỹ cho rằng nếu mất Việt Nam thì có thể mất nhiều nơi trên thế giới, trước hết là Đông Nam Á, nơi có nhiều lợi ích chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế trong ý đồ giành quyền bá chủ Đất nước ta vì thế trở thành nơi đối đầu lịch sử giữa phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa đế quốc

Ở trong nước, cuộc kháng chiến 9 năm kết thúc thắng lợi, một nửa nước sạch bóng ngoại xâm nhưng nửa nước vẫn nằm trong sự kiểm soát của địch Đây là thời kỳ đặc biệt của lịch sử dân tộc cũng như lịch sử Đảng Trong khi miền Bắc tập trung làm nhiệm vụ khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh, đi lên chủ nghĩa xã hội, thì miền Nam phải tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giành lại nền độc lập tự do Với âm mưu xâm lược ấp ủ từ rất sớm, đế quốc Mỹ từng bước thế chân và truất quyền thống trị của thực dân Pháp

Ngày 20/7/1954, Tổng thống Aixenhao (Eisenhower) tuyên bố: Mỹ không ký Hiệp

định Giơnevơ nên không bị ràng buộc Ngày 8/8/1954, Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ ra Quyết định NSC 5429 - 2 chủ trương hất cẳng Pháp với 4 chính sách cơ bản:

1 Mỹ trực tiếp viện trợ cho chính quyền Sài Gòn không qua tay Pháp

2 Pháp chỉ được viện trợ 100 triệu đô la trong tổng số 400 triệu của Mỹ cho miền Nam Việt Nam

3 Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam và phải ủng hộ Ngô Đình Diệm

4 Loại bỏ Bảo Đại, tay sai lâu đời của Pháp

Để thực hiện âm mưu xâm chiếm miền Nam, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự, kinh tế và xây dựng, nuôi dưỡng chính quyền Diệm, dựa vào chính quyền này để đàn áp phong trào cách mạng Đây là một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới, mà đặc điểm của nó được “thực hiện không phải bằng hệ thống cai trị trực tiếp của

Trang 20

bọn đế quốc mà thông qua một chính quyền tay sai đại biểu quyền lợi cho giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mại bản khoác áo “dân tộc dân chủ” giả hiệu” [9:23]

Được Mỹ khuyến khích và lập kế hoạch, Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ Ngày 23/10/1955, tổ chức cuộc “trưng cầu dân ý” dưới lưỡi lê của quân đội để phế truất Bảo Đại và tự xưng là Tổng thống Việt Nam Tiếp đó, ngày 4/3/1956, một cuộc tuyển cử riêng rẽ đã bầu Quốc hội Trên cơ sở của Quốc hội bù nhìn này, ngày 26/10/1956, Diệm ban hành một hiến pháp phản dân tộc, phản dân chủ và dựng lên chính phủ VNCH Thực tế mọi chủ trương, chính sách về nội trị và ngoại giao đều làm theo chỉ thị của Mỹ Yếu tố tiên quyết để một chế độ tồn tại là niềm tin yêu của dân chúng Diệm duy trì quyền lực của mình dựa trên những vay trả vụ lợi, điều này đã tất yếu tạo nên một

bộ máy tay sai phục tùng theo chân chủ, làm xói mòn đi những giá trị truyền thống và luân lý

Lên cầm quyền không phải bằng sự ủng hộ của nhân dân mà bằng các hành động bạo lực, Mỹ - Diệm hết sức coi trọng việc xây dựng quân đội tay sai, coi đó là xương sống của bộ máy chính quyền thực dân mới Ngay từ tháng 8/1954, Mỹ đã có kế hoạch cải tổ quân đội tay sai do Pháp nắm thành một “quân đội quốc gia” do Mỹ chỉ huy và huấn luyện Ngày 29/11/1954, Tham mưu trưởng quân đội Nguyễn Văn Hinh, một phần

tử thân Pháp bị cách chức, đây được xem là một thắng lợi rõ rệt trên bước đường thống nhất quyền lực vào tay Diệm Đi đôi với việc gạt bỏ các thế lực thân Pháp, Mỹ - Diệm dùng lực lượng quân sự diệt lực lượng vũ trang giáo phái đang mưu đồ cát cứ, gây mầm mống chia rẽ Chiến dịch thanh trừng bắt đầu ngày 28/4/1955 tấn công vào phái Bình Xuyên; ngày 20/5/1955 tấn công phái Hòa Hảo; tháng 10/1955 tấn công phái Cao Đài Đến giữa năm 1956, đại bộ phận các lực lượng này bị tiêu diệt, tan rã

Những đường đi nước bước trong 2 năm đầu, Mỹ đã có một “quốc gia độc lập” với đầy đủ các thiết chế chính trị, công cụ bạo lực Đô la và vũ khí Mỹ đã biến miền Nam thành căn cứ quân sự với một đội quân tay sai đông đảo được sử dụng để đàn áp phong trào yêu nước của nhân dân, chống lại nguyện vọng độc lập, tự do và thống nhất nước

Trang 21

nhà Khát vọng giải phóng dân tộc càng thêm nung nấu bởi ách đô hộ cực kỳ tàn bạo của

kẻ thù

Sau khi gạt Pháp ra khỏi guồng máy cai trị và độc chiếm miền Nam, Mỹ - Diệm hướng ngay mũi nhọn đàn áp về phía cách mạng Các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” trong thời kỳ đầu, từ tháng 2/1955 đến tháng 5/1956, được tiến hành chủ yếu ở các tỉnh Khu V, nhằm mục đích gây xáo trộn, phát hiện đối thủ, thí nghiệm các phương thức đánh phá cách mạng Từ nửa sau năm 1956 trở đi, giai đoạn 2 của chính sách “tố cộng” được đưa lên thành “quốc sách” và triển khai ồ ạt trên toàn miền, trọng điểm là ở Nam Bộ.Mục tiêu “tố cộng, diệt cộng” là nhằm tiêu diệt Cộng sản ở miền Nam cả về con người lẫn tư tưởng theo phương châm “Thà giết nhầm chứ không bỏ sót”, “tiêu diệt Cộng sản tận gốc, tiêu diệt không thương tiếc, tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh” Từ năm

1956 - 1959, hàng vạn cán bộ đảng viên cách mạng đã bị địch truy lùng, khủng bố, bắt, giết, giam cầm, hàng chục vạn quần chúng yêu nước bị giam giữ, giết chóc, nhiều nơi đã trắng cơ sở Đảng, lực lượng cách mạng miền Nam bị tổn thất nặng nề [29:177]

Tình hình trên cho thấy địch đã hoàn toàn xé bỏ Hiệp định Giơnevơ Dưới ách cai trị của Mỹ - Diệm, nhân dân ta đã phải sống trong cảnh bị áp bức, kìm kẹp và đàn áp đẫm máu Giới tuyến quân sự tạm thời gắn liền với nó là hiệp thương tổng tuyển cử nhưng những người kế thừa chính quyền miền Nam đã chống phá trắng trợn ngay từ đầu, đặt Chính phủ Hồ Chí Minh trong tình thế ứng xử với nguy cơ chiến tranh Một sự phản diện rất lớn của chính quyền tay sai là “bước gấp khúc” đi ngược lại xu thế tiến bộ của lịch sử dân tộc Trên dải đất Việt Nam, chủ nghĩa thực dân cũ có mặt 96 năm (1858 - 1954) nhưng nhân dân ta đã giành được quyền độc lập, có ý thức làm chủ vận mệnh dân tộc rất cao và quyết tâm bảo vệ những quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Tiền đề của thắng lợi đã rõ ràng, nhưng con đường dẫn đến thắng lợi chưa có sẵn Trước nhu cầu bức xúc sống còn, đòi hỏi Đảng phải xác định đường lối cách mạng và phương pháp đấu tranh đúng đắn để huy động sức mạnh vật chất, tinh thần của nhân dân và sự ủng hộ quốc tế

Trang 22

1.1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra mục tiêu, nhiệm

vụ, phương pháp tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Đất nước bị chia cắt là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam từ năm 1954 Quá trình Đảng hoạch định đường lối chống Mỹ chịu sự tác động và chi phối của đặc điểm này Vết thương của chín năm chiến tranh còn đang rớm máu thì một cuộc chiến mới đã bắt đầu Nêu cao trách nhiệm trước dân tộc, nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng và hòa bình, phát huy tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã cùng một lúc đề ra được mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp tiến hành đấu tranh

Trước âm mưu, hành động phá hoại của Mỹ và chính quyền VNCH, hòa bình, thống nhất nước nhà trở thành nguyện vọng, là mục tiêu cao nhất của cách mạng Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này trong những năm đầu sau Hiệp định Giơnevơ (khi tình hình quốc tế và trong nước rất phức tạp), bằng tất cả thiện chí của mình Đảng ta đã kiên

trì lựa chọn hòa bình tránh chiến tranh, thực hiện thống nhất nước nhà bằng biện pháp

hòa bình (tác giả nhấn mạnh)

Báo cáo về “Tình hình và nhiệm vụ mới” tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (7/1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chính sách của ta là tranh thủ hoà bình để chống lại chính sách chiến tranh của Mỹ” [26:8:551] Thấu hiểu tình cảnh của đồng bào miền Nam, ngày 22/7/1954, Người ra lời kêu gọi: “Đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ” [26:9:3] Câu này cũng được đưa vào Nghị quyết Hội nghị BCHTƯ lần thứ 7

(3/1955): “ cuộc đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ của ta là lâu dài,

gian khổ nhưng nhất định thắng lợi” [13:16:128] Từ đây có thể thấy những phát biểu,

chỉ đạo của Bác giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng Nhãn quan chiến lược tuyệt vời

đã giúp Đảng ta thống nhất nhận thức và có chủ trương, đường lối đấu tranh đúng đắn

Nhiệm vụ cho nhân dân miền Nam được xác định trong các Hội nghị BCT

(9/1954) và Hội nghị BCHTƯ lần thứ 7 (3/1955) là: “đấu tranh thực hiện Hiệp định đình

chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại, v.v.), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”

Trang 23

[13:15:308]; chống những hành động phá hoại Hiệp định, giành quyền lợi hằng ngày, bảo

vệ một số quyền lợi đã giành được trong kháng chiến, nhất là quyền lợi ruộng đất

Như vậy, những phương hướng đầu tiên soi đường cho cách mạng miền Nam đều

là những lựa chọn hòa bình Nhận diện kẻ thù mới, kiên trì hóa giải các nguy cơ, Đảng ta

đã tát đến cạn cùng mọi khả năng để tránh cho dân tộc một cuộc chiến tranh Song thực tế cho thấy trong điều kiện kẻ thù ngày càng phản động, hung hăng, hiếu chiến, xé bỏ những điều khoản ký kết thì con đường thống nhất nước nhà bằng phương pháp hòa bình

là không thể thực hiện Chỉ bằng sức mạnh bạo lực của đông đảo quần chúng mới đánh

đổ được bộ máy bạo lực phản cách mạng của đế quốc và tay sai Có một điều đặc biệt là

đi đôi với khả năng tranh thủ hòa bình, Trung ương Đảng chỉ rõ nhiệm vụ củng cố miền Bắc về mọi mặt để làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà Trong bối cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt, việc sớm xác định mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cách mạng hướng vào mục tiêu chung là một cống hiến xuất sắc về lý luận, thể hiện sự tìm tòi con đường giải phóng phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Tháng 8/1956, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên BCT, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ dự thảo xong Đề cương cách mạng miền Nam Đường lối nêu rõ: Vì miền Nam hiện nay còn dưới ách thống trị của đế quốc phong kiến đang phá hoại hòa bình, đang gây lại chiến tranh

Để chống lại Mỹ - Diệm, ngoài con đường cách mạng, nhân dân ta không có con đường

nào khác [13:17:784-785] Trên một ý nghĩa nào đó, có thể xem đây là trăn trở chung của

phong trào trước sự lựa chọn còn hay mất, tồn tại hay tàn lụi Tuy chưa phải chủ trương chính thức của Trung ương, Đề cương cũng chưa nói rõ con đường tiến lên của cách mạng sau khi các cuộc khởi nghĩa nổ ra, nhưng nó đặt cơ sở và nền móng góp phần quan trọng vào việc thảo luận để xây dựng đường lối cách mạng toàn diện ở miền Nam Đảng viên và quần chúng vẫn tin tưởng và chờ đợi một sự thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ về chủ trương, phương pháp đấu tranh của Ðảng đối với kẻ thù

Giữa lúc giặc Mỹ và tay sai ra sức khủng bố, tàn sát đồng bào ta, tháng 1/1959,

Hội nghị BCHTƯ lần thứ 15 (mở rộng) ra nghị quyết có ý nghĩa lịch sử, thể hiện đúng

đắn lợi ích bức thiết và nguyện vọng sâu xa của toàn dân, có sức động viên, tập hợp lực

Trang 24

lượng rộng rãi Trước hết, Nghị quyết khẳng định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt

Nam lúc này phải vừa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, vừa tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết, cùng

hướng vào mục tiêu: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Về đường lối cách mạng miền Nam, Hội nghị phân tích kỹ đặc điểm, tính chất xã hội miền Nam là xã hội thuộc địa kiểu mới, chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai, đại biểu cho quyền lợi của đế quốc Mỹ và bọn phong kiến, tư sản mại bản Xã hội miền Nam nổi lên hai mâu thuẫn cơ bản: giữa nhân dân ta với bọn đế quốc xâm lược; giữa nông dân với địa chủ phong kiến Trong đó mâu thuẫn thứ nhất là chủ yếu cần phải tập trung giải quyết

Từ sự phân tích trên đây, Đảng đã đề ra một cách có hệ thống nhiệm vụ cách mạng

miền Nam:

1 Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

2 Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc

Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc và dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới [13:20:81-82]

Để đưa cách mạng đến thắng lợi, Nghị quyết vạch rõ: “ con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân

dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy

sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” [13:20:82] Đây là một quyết định chiến lược

Trang 25

được Đảng ta giành nhiều công sức, trí tuệ nghiên cứu và tổng kết, đáp ứng yêu cầu thực tiễn nóng bỏng của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới Đường lối của Đảng thể hiện sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xuất phát từ nhu cầu khách quan của dân tộc Việt Nam, đặc điểm của thời đại, Hồ Chí Minh không bàn về vấn đề dân tộc nói chung mà dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn

đề dân tộc thuộc địa Thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột của nước ngoài Đánh giá đúng bản

chất cực kỳ phản động của bọn đế quốc và tay sai, Người vạch rõ tính tất yếu phải dùng

bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền (tác giả nhấn mạnh):

+ Về sức mạnh của bạo lực, theo Hồ Chí Minh bao gồm: lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện hình thức của bạo lực cách mạng đó là đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang

Dựa vào dân, lấy dân làm gốc, đây là vốn liếng của cách mạng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chân lý đó một lần nữa đã được khẳng định Nghị quyết 15 ra đời là

“ngòi pháo” phát động quần chúng nhân dân đứng lên vũ trang giành chính quyền Điểm nổi bật ở đây, chính trị là cái có trước, là cơ sở, là chỗ dựa của cách mạng, tạo nên ưu thế lực lượng áp đảo so với bất kỳ kẻ thù nào, cho dù chúng giàu có, hung ác và xảo quyệt Chiến tranh của ta thực sự là chiến tranh do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, quân

sự phục tùng chính trị, chính trị làm nền tảng

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng khác hẳn tư tưởng hiếu chiến của các thế lực đế quốc xâm lược Xuất phát từ tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng, Bác luôn tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình Việc tiến hành chiến tranh chỉ là giải pháp bắt buộc cuối cùng

Giai đoạn 1954 - 1959, mục tiêu chính của cách mạng Việt Nam là thống nhất nước nhà trên cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ Trong một “bàn cờ thế” khi mà nước nhà mới giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt phân tích tình hình, kiên trì hóa giải nguy cơ chiến tranh Mặc dù thiện chí không được đáp lại, nhưng

Trang 26

nó đã chứng tỏ cho nhân loại tiến bộ thấy rõ lập trường chính nghĩa của Việt Nam, đồng thời vạch trần bản chất phản động, hiếu chiến của Mỹ, chính quyền VNCH Bác là “một chiến sĩ kiên định phấn đấu cho các giải pháp hòa bình” [63:443] nhưng Người cũng là một chiến sĩ kiên cường đấu tranh cho nền độc lập, thống nhất bị xâm phạm Kẻ thù đã không hiểu rõ thiện chí ấy

Chiến tranh đã trở thành bản chất của chủ nghĩa đế quốc nhằm thỏa mãn lòng tham vô đáy, muốn biến đất đai xứ người thành “vườn tược” nhà mình, sông ngòi, tài nguyên xứ người thành “ao hồ”, “tài sản” cá nhân Tự nhiên có quy luật của tự nhiên:

“Tức nước vỡ bờ”, xã hội có quy luật của xã hội: “Có áp bức có đấu tranh” Và khi “bờ

đã tức”, “con giun xéo mãi cũng đã quằng”, dân tộc Việt Nam buộc phải đứng lên để giành lấy quyền sống Nghị quyết 15 ra đời đã mở đầu cho cuộc kháng chiến trường kỳ

Cả nước sẵn sàng, lòng dân - ý Đảng gặp nhau thì đó là một sức mạnh vô địch

Miền Nam chuyển thế đặt ra yêu cầu hoàn chỉnh đường lối chiến lược Từ ngày 5 đến 10/9/1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại thủ đô Hà Nội

Trong lời khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng

chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà” [26:12:673]

Thay mặt BCHTƯ Đảng, đồng chí Lê Duẩn đọc báo cáo nêu lên nhiệm vụ cách

mạng hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò “quyết định nhất”;

cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có tác dụng “quyết định trực tiếp” đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc Mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia cắt nhưng hai nhiệm vụ ấy có quan hệ

mật thiết với nhau nhằm mục tiêu chung là giành độc lập và thống nhất nước nhà, đưa cả

nước đi lên chủ nghĩa xã hội Sự kết hợp giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng được đặt trong mối quan hệ tổng thể là chiến lược độc đáo, sáng tạo và rất chính xác trong đường lối cách mạng của Đảng ta Việc giương cao cùng lúc hai ngọn cờ thể hiện sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

Nếu ví tư tưởng Hồ Chí Minh là một bông hoa với rất nhiều cánh thì phần nhụy, phần cốt lõi và linh hồn sống là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” Đây

Trang 27

được xem là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam Từ lúc ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã nuôi một chí lớn: phải sang tận các nước châu Âu, xem xét họ làm thế nào để “trở về giúp đồng bào chúng ta” Trái tim nồng nàn của một người Việt Nam yêu nước đã hòa nhịp đau khổ với nhân loại cần lao Người đến với Chủ nghĩa Lênin, “sung sướng đón chào tiếng sấm rền vang của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại”

[24:9] Bác vui mừng đến phát khóc lên khi tìm ra ánh sáng chân lý: “Muốn cứu nước và

giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”

[26:12:30] Đi theo con đường cách mạng vô sản nghĩa là sau khi đã giải phóng cho dân tộc phải tiến lên giải phóng giai cấp, giải phóng con người thì mới là một cuộc cách mạng triệt để

Nếu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, việc kết hợp đúng đắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ dân chủ đã có tác dụng to lớn đưa đến thắng lợi của cách mạng, thì trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, việc kết hợp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là nét đặc thù “Trải qua nhiều thử thách trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta dưới sự hướng dẫn của tư duy chiến lược Hồ Chí Minh không những đã đề ra được đường lối đúng đắn trong điều kiện cả nước chỉ tiến hành một nhiệm vụ chiến lược (như trong thời kỳ chống thực dân Pháp), mà còn đề ra được một đường lối chính trị thật sự khoa học khi cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau” [40:248-249] (GS Trần Nhâm)

Từ tháng 8/1956 có Đề cương cách mạng miền Nam, đến năm 1959 Nghị quyết 15

ra đời và cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (9/1960), đường lối chống Mỹ cứu nước đã từng bước hoàn chỉnh dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Hạt nhân cốt lõi của đường lối đó là một Đảng duy nhất, thống nhất lãnh đạo một nước tạm thời bị chia cắt, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng nhằm mục tiêu chung Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối cách mạng của Đảng thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừa đúng với thực tiễn nước nhà, vừa phù hợp với lợi ích nhân loại Sự kết hợp một cách rất nhuần nhị giữa miền Bắc xã hội chủ nghĩa với miền Nam hòa bình, trung lập đã gắn cuộc đấu tranh của nhân dân ta với 3 dòng thác cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ về

Trang 28

tinh thần và vật chất của các nước anh em, các lực lượng dân chủ tiến bộ trên toàn thế giới, tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng kẻ thù.

Về phương pháp đấu tranh, Đảng ta xác định sử dụng bạo lực cách mạng dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang Quan điểm bạo lực như vậy đã mở ra cho cách mạng miền Nam hướng đi lên vững chắc, là cơ sở cho việc hình thành phương châm hai chân, ba mũi sau này Như Bí thư Lê Duẩn đã tổng kết:

“Bạo lực cách mạng không phải chỉ là đấu tranh vũ trang Bạo lực có thể là sự vùng dậy của quần chúng, là đấu tranh chính trị, hoặc đấu tranh chính trị và vũ trang kết hợp nhằm lật đổ ách thống trị của địch, thiết lập chính quyền của nhân dân Phải đứng trên quan điểm cách mạng để hiểu bạo lực quần chúng và có hiểu bạo lực cách mạng với nội dung

là sự vùng dậy của quần chúng bằng phương pháp đấu tranh vừa chính trị vừa quân sự thì mới thấy rõ thế tiến công của cách mạng” [10:148-149] Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp cách mạng đã rõ ràng, trở thành nguồn sáng soi đường qua 21 năm trường kỳ kháng chiến

1.2 Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước năm 1969

1.2.1 Giai đoạn mở đầu kháng chiến ở miền Nam (1954 - 1960)

Sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng miền Nam bước vào thời kỳ

vô cùng khó khăn Nhận chân nguy cơ và kiên trì hóa giải nhưng chiến tranh vẫn không tránh khỏi với kẻ thù có dã tâm lớn Chính trong giai đoạn này, đi đôi với việc hoạch định đường lối, tìm ra phương pháp đấu tranh thích hợp, Đảng ta đã tiến hành công tác tổ chức, tập hợp lực lượng và khi thời cơ đến thì phát động khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền bằng cao trào Đồng Khởi

- Phát triển lực lượng cách mạng tại miền Nam

Về xây dựng lực lượng chính trị, Hội nghị BCHTƯ lần thứ 10 (mở rộng) họp ngày 28/8/1956 đã nêu phương châm của cách mạng miền Nam: “vẫn là giữ gìn và tích trữ lực lượng, đấu tranh bền bỉ và lâu dài, chống phiêu lưu mạo hiểm, đồng thời chống thủ tiêu đấu tranh” và kêu gọi: “Chúng ta cần ra sức tập hợp lực lượng rộng rãi ở miền Nam, đoàn

Trang 29

kết với tất cả mọi lực lượng, mọi phần tử có thể đoàn kết được ” [13:17:590] Do tình hình miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ còn nhiều bất lợi nên việc tập hợp quần chúng, tránh sự ruồng bố của quân thù cũng là một nghệ thuật Trên thực tế nhiều cách làm sáng tạo đã ra đời

Khẩu hiệu tập hợp: Trong xã hội miền Nam có nhiều giai cấp, tầng lớp, nguyện vọng và lập trường giữa họ cũng không giống nhau Vào giai đoạn này, những khẩu hiệu đòi cải thiện dân sinh, dân chủ được đưa ra có tác dụng động viên, cổ vũ và hướng dẫn mọi người đấu tranh rất mạnh(1*) Nét sáng tạo, độc đáo là Đảng luôn xác định rõ ràng: Không nên quan niệm một cách máy móc khẩu hiệu kinh tế là cải lương, khẩu hiệu chính trị mới là cách mạng Có những khẩu hiệu kinh tế mà tính cách mạng rất cao, vấn đề là tùy ở chỗ một khẩu hiệu nào đó được đưa ra vào lúc nào, gắn với cái gì và nhằm mục đích gì Một chính đảng thật sự cách mạng, luôn luôn trung thành với mục đích cuối cùng, bằng cách này hay cách khác, in dấu ấn vào mọi khẩu hiệu cũng như mọi hình thức

tổ chức và đấu tranh, kể cả những khẩu hiệu và những hình thức mang ít màu sắc chính trị nhất được xem như phương tiện cần thiết để tập hợp quần chúng khi tình thế chưa cho phép chuyển qua các hành động cách mạng quyết liệt [9:55] (Lê Duẩn)

Xây dựng tổ chức quần chúng: Đi đôi với việc đề ra khẩu hiệu, Đảng rất chú trọng đến việc xây dựng tổ chức quần chúng Sau Hiệp định Giơnevơ, ở miền Nam, khi các đoàn thể trong kháng chiến như thanh niên, phụ nữ, nông hội phải đình chỉ hoạt động thì Đảng đã chủ trương phát triển nhiều tổ chức giao thời dưới các hình thức “biến tướng” rộng rãi, linh hoạt để có thể tồn tại công khai hoặc nửa công khai Đối với các tổ chức này, ta không câu nệ về hình thức, tên gọi, điều lệ để quần chúng dễ dàng hưởng ứng, từng bước chuyển theo cách mạng, giữ vững và phát triển đội ngũ, nuôi dưỡng tinh thần thông qua đấu tranh từ thấp đến cao

Quán triệt chủ trương của Đảng, tại các địa phương nhiều tổ chức mang tính chất làm ăn hoặc mang màu sắc văn hóa, văn nghệ dân gian ra đời để che mắt địch, dễ bề tồn tại và hoạt động hợp pháp(2*) Thông qua đó, quần chúng được gặp gỡ, trao đổi, tiếp thu những chủ trương cách mạng mà vẫn giữ được bí mật Để làm tốt nhiệm vụ tuyên

Trang 30

truyền vận động, Đảng đã xây dựng một lực lượng cán bộ, đảng viên, hình thành những cụm “rễ chuỗi” bám chặt vào nhân dân, bám chặt địa bàn hoạt động, hướng dẫn các tổ chức quần chúng, đưa họ ra đấu tranh, sử dụng những hình thức từ ôn hòa đến quyết liệt, hình thành nên đội quân chính trị đông đảo

Chính bằng những cách làm sáng tạo mà ngay trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, đấu tranh chính trị luôn tận dụng được khả năng hợp pháp, phong trào quần chúng chưa bao giờ ngưng sôi sục Trong các cuộc biểu tình, đồng bào xuống đường tham gia đấu tranh trực diện với kẻ thù đòi quyền tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, chống địch cướp đất, dồn dân, chống càn quét, bắt bớ Nhiều khi “không tấc sắt trong tay” nhưng họ vượt qua mũi lê, súng đạn, người này ngã xuống, người khác xông lên với khí thế mạnh mẽ như “nước vỡ bờ” làm cho quân giặc phải chùn bước Việc huy động quần chúng tham gia bằng nhiều khẩu hiệu, hình thức đấu tranh đã cho thấy sự giải đáp thỏa đáng bài toán tập hợp lực lượng, giải quyết hài hòa mối quan hệ dân tộc và giai cấp theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Đi đôi với công tác xây dựng lực lượng chính trị, Đảng ta đã quan tâm lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang Đồng chí Lê Duẩn chỉ rõ: “Kinh nghiệm cách mạng Việt Nam chứng minh rằng muốn giành được thắng lợi cho cách mạng thì ngoài lực lượng chính trị ra, cần có lực lượng vũ trangvà phải biết khéo sử dụng đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị phù hợp với tình hình cụ thể từng nơi, từng lúc Không chuẩn bị sẵn sàng lực lượng kể cả lực lượng vũ trang thì không thể chống lại sự tiến công ác liệt của quân thù” [9:60-61]

Trước nhu cầu bức thiết của cách mạng miền Nam, muốn bảo vệ Đảng, bảo vệ quần chúng, đấu tranh chính trị phải có vũ trang kết hợp Theo phương hướng đó, tháng 6/1956, Đảng ra chỉ thị về tình hình, nhiệm vụ mới, trong đó nêu vấn đề đấu tranh chính trị có lực lượng tự vệ, hoạt động vũ trang tuyên truyền hỗ trợ Nghị quyết vạch rõ: Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu

tranh vũ trang Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong

Trang 31

những hoàn cảnh nhất định [13:17:225] Cuối năm 1956, Đề cương cách mạng miền

Nam vạch rõ xu thế tất yếu sử dụng bạo lực cách mạng đánh đổ chính quyền Mỹ - Diệm

Được Nghị quyết của BCT (6/1956) và Đề cương cách mạng miền Nam mở đường, tháng 12/1956 Xứ ủy Nam Bộ mở Hội nghị kiểm điểm tình hình 2 năm và thảo luận phương hướng trước mắt, đề ra nhiệm vụ khẩn cấp cho cách mạng miền Nam Từ nhận thức không thể giành thắng lợi bằng con đường đấu tranh chính trị đơn thuần, Xứ

ủy nêu lên con đường phát triển tất yếu phải dùng bạo lực tổng khởi nghĩa giành chính quyền Trong một chừng mực nào đó, có lực lượng vũ trang hỗ trợ cho lực lượng quần chúng Đây là mốc đánh dấu sự chuyển biến của cách mạng miền Nam từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang giai đoạn đấu tranh chính trị có vũ trang hỗ trợ

Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, nhiều tổ, đội vũ trang tuyên truyền đã ra đời ở các địa phương, từ xã đến tỉnh Tháng 10/1957, tại chiến khu D, đơn vị chủ lực đầu

tiên của Nam Bộ được thành lập, lấy tên là đơn vị 250 Lúc đầu chỉ ở quy mô đại đội,

sang đầu năm 1958 đã phát triển thành tiểu đoàn Đến tháng 5/1958, Bộ Tư lệnh miền

Đông Nam Bộ ra đời thống nhất sự lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang, đánh dấu

bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng

Như vậy, con đường bạo lực đã dần định hình trong thực tiễn đấu tranh, từ trước khi có Nghị quyết 15 ra đời Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với lòng khao khát hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Nam đã nghiêm chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ, song kẻ thù lại bội ước Nguyên nhân và tính tất yếu chiến tranh bắt nguồn từ hai tuyến quyền lợi đối lập nhau Vùng lên kháng chiến trở thành một yêu cầu bức xúc sống còn, một phản ứng tự nhiên của nền độc lập, thống nhất

Trang 32

Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi ngày 28/8/1959; phong trào Đồng Khởi tỉnh Bến Tre ngày 17/1/1960; cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngày 20/1/1960

+ Trà Bồng là địa phương có phong trào quần chúng phát triển mạnh mẽ, sớm có chủ trương xây dựng căn cứ cách mạng và phong trào vũ trang diệt ác ôn nên tỉnh ủy Quảng Ngãi đã lãnh đạo nhân dân tiến hành khởi nghĩa Chọn đúng thời cơ, đồng bào các dân tộc Co, Cà Rong, Hơ Rê và Kinh đã nhất loạt nổi dậy cùng với lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh bao vây, tiến công các đồn bốt cảnh sát, bảo an và trụ sở chính quyền ngụy Ngày 1/9/1959, giải phóng hoàn toàn huyện Trà Bồng (trừ quận lỵ) Thành công của cuộc khởi nghĩa góp phần khẳng định: trong điều kiện cụ thể, để chống lại sự tàn bạo của Mỹ - Diệm, khi tình thế xuất hiện thì dù ở đâu, miền núi hay đồng bằng, vùng cao hay vùng thấp, nếu được chuẩn bị đầy đủ về lực lượng thì đều có thể phát động giành chính quyền bằng nhiều hình thức phong phú và quy mô khác nhau

+ Phong trào Đồng Khởi Bến Tre diễn ra từ ngày 17/1 đến 20/4/1960 cũng giành thắng lợi to lớn, trừng trị hàng trăm tên ác ôn, tiêu diệt, bức rút hàng chục đồn bốt, tháp canh, giải phóng hoàn toàn 22 xã Khi địch phản kích, lực lượng du kích đã kết hợp với hàng vạn quần chúng đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng Đồng Khởi Bến Tre là một cuộc nổi dậy điển hình, rộng lớn, diễn ra trên phạm vi toàn tỉnh, thể nghiệm thành công phương pháp kết hợp “hai chân” (quân sự, chính trị), “ba mũi” (quân sự, chính trị, binh vận) Từ trong cao trào ấy, “đội quân tóc dài” ra đời tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh kiên nghị, thông minh của người phụ nữ Nam Bộ Họ tự tay gài chông mìn, cạm bẫy đánh lính đi càn, vừa trực diện đấu tranh chính trị bằng lý lẽ và tình cảm của người mẹ, người chị, làm thức tỉnh ý thức dân tộc, lòng yêu quê hương, hạn chế hành động khủng

bố của địch

Đánh giá cao lực lượng này, đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Cuộc chiến đấu ngoan cường và mưu lược của “đội quân tóc dài” trên ba mặt trận chính trị, quân sự, binh vận đã nêu bật sức thần kỳ và tính chất độc đáo của cuộc chiến tranh yêu nước ở miền Nam”

[61:185] Nhà báo Pháp Mađơlen Rípphô (Madeleine Riffaud) cũng nhận xét: “Quả là ở

miền Nam Việt Nam đang tồn tại một đội quân kỳ lạ không súng ống, có mặt ở khắp nơi,

Trang 33

ở thành thị cũng như ở thôn quê, một đội quân mà tin tức của các hãng thông tấn hầu như không bao giờ nói đến, song lại có một vai trò lớn lao trong cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống lại kẻ xâm lược, ngay cả trước khi những người du kích đầu tiên cầm lấy

vũ khí Đó chính là “đội quân búi tóc” tập hợp hàng triệu nữ chiến sĩ” [61:185]

Cùng với Bến Tre, phong trào lan rộng khắp các tỉnh Tây Ninh, Long An, Thủ Dầu Một, Kiên Giang, Mỹ Tho, Cà Mau, Cần Thơ, Rạch Giá, Phước Long, Trà Vinh, An Giang Cuối tháng 10/1960 tiếp tục diễn ra cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc trên

địa bàn chiến lược Tây Nguyên

Đồng Khởi nói lên sự lãnh đạo vững vàng, tài giỏi của Đảng Trong tương quan lực lượng bất lợi Đảng đã biết dựa vào dân, lấy dân làm gốc đánh vào “mắc khâu” yếu nhất của chính quyền địch ở thôn, xã(3*) Hình ảnh về một cuộc khởi nghĩa với tiếng súng, tiếng trống, tiếng mõ vang dậy khắp nơi Nhân dân vùng lên giành quyền làm chủ, tề ngụy tan rã từng mảng lớn là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang toàn dân Đây là bước ngoặt đánh dấu sự phát triển nhảy vọt của cách mạng miền Nam từ giữ gìn lực lượng sang tiến công

Từ cao trào này, ngày 20/12/1960 MTDTGPMNVN được thành lập Mặt trận đã

thông qua “Chương trình hành động mười điểm” mà một nội dung cơ bản là đánh đổ chế

độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà

Ở đây, chúng ta đặc biệt nhấn mạnh đến sự sáng tạo của Đảng và Bác trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc Trong bối cảnh đất nước tạm thời chia cắt hai miền, đế quốc Mỹ dựng lên “nguy cơ cộng sản” thì một miền Nam “hòa bình, trung lập” cùng với việc thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng càng khẳng định đây là một cuộc chiến tranh yêu nước có sức mạnh tập hợp lực lượng rộng rãi Bàn về ý này, sử gia

Nigel Cawthorne đã ví “MTDTGPMNVN là một con ngựa thành Troy Bề ngoài nó là

một phong trào miền Nam thuần túy, không vi phạm hiệp định Giơnevơ 1954 về việc cấm

Hà Nội gửi quân vào miền Nam, nhưng ở mọi cấp độ và mặt tổ chức thì MTDTGPMNVN

Trang 34

là cặp song sinh với Đảng Nhân dân cách mạng, một cánh tay vươn dài ở miền Nam của Đảng Lao động, tức Đảng Cộng sản ở miền Bắc” [37:48-49]

Đoàn kết làm ra sức mạnh Bước vào đầu những năm 60, cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân ta đã khiến bọn xâm lược Mỹ phải thú nhận: “Việt Nam là nơi duy nhất trên thế giới mà chính quyền (Mỹ) phải đương đầu với một cố gắng phát triển rất tốt

của Cộng sản nhằm lật đổ một chính phủ thân phương Tây” [67:208] (Tài liệu mật Lầu

Năm góc). Thời kỳ tạm ổn định của Mỹ - Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp

đã bắt đầu “Sài Gòn giống như một thùng thuốc nổ mà lửa dây cháy chậm đang nhích đến từng ngày” [42:197] Bức tranh ảm đạm ở miền Nam không thể làm yên lòng chính giới Hoa Kỳ Với bản chất ngoan cố của chủ nghĩa đế quốc, Tổng thống Mỹ Kennơđi

(Kenedy) tuyên bố: “Đây là một thách thức không thể bỏ qua”; “Dù có thế nào, ý định của Mỹ là thắng trong cuộc chiến đấu này”; “Chúng ta sẽ không rút lui” [67:209] (Tài

liệu mật Lầu Năm góc).

Cuộc chiến đấu còn phải tiếp tục, phong trào cách mạng của nhân dân ta chuyển sang thời kỳ mới:

“Thành đồng miền Nam vững bền mạnh mẽ

Cả nước một lòng, hăng hái tiến lên” [26:12:399]

(Thơ mừng năm mới của Hồ Chủ tịch - 1960)

1.2.2 Giai đoạn tổ chức hậu phương ở miền Bắc và tiền tuyến ở miền Nam (1961 - 1965)

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhưng miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai thống trị Xuất phát từ tình hình ấy, Đảng

ta đã quy định nhiệm vụ của hai miền:

- Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

- Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam

Khi cả nước đồng thời làm hai nhiệm vụ chiến lược thì mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội càng xoắn xuýt, thâm nhập vào nhau, phát huy đến mức cao

Trang 35

nhất mọi lực lượng trong khối đại đoàn kết dân tộc Sức mạnh của miền Bắc không chỉ

do chủ nghĩa xã hội khơi nguồn, mà còn được sức mạnh của ý chí giải phóng miền Nam thôi thúc Sức mạnh chiến đấu của miền Nam không chỉ để giải phóng dân tộc mà còn bảo vệ miền Bắc, thực hiện thống nhất nước nhà, tiến lên chủ nghĩa xã hội

Xây dựng hậu phương miền Bắc:

Đã thành quy luật, hậu phương luôn là một trong những nhân tố thường xuyên đảm bảo thắng lợi, là nơi cung cấp sức người sức của, nguồn cổ vũ động viên về chính trị, tinh thần cho tiền tuyến Xuất phát từ vị trí vai trò của hậu phương, Bác Hồ chỉ rõ:

“Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta” [26:10:130];

“Muốn dựng ngôi nhà tốt, thì phải xây nền cho thật vững Muốn cây được mạnh, lá được tươi, hoa được đẹp, quả được tốt, thì phải ra sức săn sóc, vun xới gốc cây Miền Bắc là

cái nền, cái gốc của cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thực hiện thống nhất

nước nhà” [26:10:350]

Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hậu phương vững mạnh, Đại hội III xác định đường lối chiến lược của cách mạng cả nước, trong đó sự lựa chọn miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan Hoạt động trong thời kỳ “tất

cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, nhân dân miền Bắc nô nức tham gia trong các phong trào thi đua yêu nước và đạt nhiều thành tựu:

Nếu năm 1960, toàn miền Bắc có 4.300 hợp tác xã bậc cao thì đến năm 1965, con

số đã tăng lên 18.600 Gần 700 hợp tác xã có năng suất lúa vượt 5 tấn thóc trên 1 ha mỗi năm Về công nghiệp, toàn miền Bắc có 1.132 xí nghiệp, trong đó 205 xí nghiệp trung ương Tỉ trọng công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công - nông nghiệp từ 42,4% (1960) lên 53% (1965) 90% hàng tiêu dùng thiết yếu và một phần tư liệu sản xuất do công nghiệp trung ương và địa phương đảm bảo [6:128] Song song với phát triển kinh tế, các chỉ tiêu về văn hóa giáo dục, y tế cũng được hoàn thành(4*) Trên nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị ổn định, sức mạnh quân sự của miền Bắc được tăng cường Tháng 2/1961, BCT thông qua kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965) nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, đáp ứng đòi

Trang 36

hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới Sau hội nghị, các đơn vị miền Nam tập kết được tổ

chức thành các lữ đoàn bộ binh gọn nhẹ, có sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, sẵn sàng trở lại chiến trường Các sư đoàn trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh với biên chế đầy đủ, trang

bị được cải tiến Các quân chủng Hải quân, Phòng không - Không quân, các binh chủng Pháo binh, Công binh, Thông tin, Đặc công, Hóa học phát triển nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiệp đồng quân binh chủng quy mô lớn Tính đến năm 1963, tổng quân

số thường trực lên tới 173.500 người, chiếm khoảng 1% dân số miền Bắc [42:229] Quân

đội nhân dân Việt Nam tiến một bước dài trên con đường chính quy, hiện đại

Công tác phòng thủ miền Bắc được đẩy mạnh, các lực lượng giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia đủ sức hoàn thành nhiệm vụ Từ giữa năm 1964, địch đẩy mạnh các hoạt động do thám, khiêu khích, tạo cớ nhằm tiến hành chiến tranh phá hoại Theo dõi chặt chẽ diễn biến tình hình, Đảng sớm có kế hoạch tổ chức nhân dân chuẩn bị đối phó

Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ mở cuộc tấn công “Mũi tên

xuyên” (Pierce Arrow) đánh phá Hòn Gai, Lạch Trường, Vinh, Cửa Hội, Sông Gianh

Với tinh thần cảnh giác cao, dự đoán đúng âm mưu và hành động của đế quốc Mỹ, ngay

từ các trận đầu lực lượng phòng không đã giáng trả địch đích đáng: 8 máy bay bị bắn rơi, nhiều giặc lái bị tiêu diệt, một tên bị bắt làm tù binh, tỷ lệ máy bay bị bắn rơi so với số lần xuất kích là 12%, một tỷ lệ cao trong các trận chiến đấu đất đối không Đây là điều bất ngờ đối với đế quốc Mỹ [5:31] Chiến thắng ngày 5/8/1964 có ý nghĩa quan trọng về chính trị và quân sự, cổ vũ khí thế đánh Mỹ, thắng Mỹ của quân dân cả nước “Nó chứng

tỏ miền Bắc nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội đã tạo ra được một tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng vững mạnh có đủ khả năng đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại dưới bất kỳ quy mô nào của Không quân và Hải quân Mỹ ” [20:34]

Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử mà nhân dân ta thu được trong những năm lao động hòa bình dưới sự lãnh đạo của Đảng làm cho miền Bắc ổn định mọi mặt, có khả năng đáp ứng yêu cầu chiến trường Thực hiện đề án xây dựng lực lượng vũ trang cho chiến trường miền Nam, bên cạnh việc phát triển lực lượng tại chỗ, từ năm 1961 đến

Trang 37

năm 1963 hậu phương miền Bắc đã đưa vào 4 vạn cán bộ chiến sĩ, trong đó có 2.000 cán

bộ trung cao cấp, cán bộ kỹ thuật được huấn luyện chính quy làm nòng cốt xây dựng các đơn vị chủ lực đầu tiên trên toàn miền Nam Cũng theo đề án này, đoàn vận tải 559 đã tăng tổng số quân lên gần 3.000 người được trang bị và sử dụng nhiều loại phương tiện bảo đảm cho bộ đội hành quân, đẩy mạnh vận tải vật chất cho các chiến trường Do yêu cầu chi viện ngày càng tăng, tuyến vận tải chiến lược được chuyển sang Tây Trường Sơn (trên đất bạn Lào) và mở đường cơ giới, nhờ đó số lượng hàng vận chuyển vào miền Nam năm 1962 đạt trên 1.000 tấn tăng gấp 3 lần so với năm 1961 [20:69] Từ năm 1964 các đơn vị cơ động cấp trung đoàn đã được đưa vào chiến trường, đây là yếu tố rất quan trọng tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực miền Nam trên các hướng trọng điểm sớm hình thành, tăng thêm sức mạnh đánh bại các chiến thuật mới của Mỹ

Định hướng miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội là quyết tâm đúng đắn của Đảng Đánh giá về những thành tựu đạt được, tại Hội nghị chính trị đặc biệt (3/1964), Chủ tịch Hồ

Chí Minh khẳng định: Trong 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc chúng ta đã

tiến những bước dài chưa từng thấy, đất nước, xã hội, con người đều đổi mới Đây chính

là cơ sở vững chắc cho cách mạng miền Nam vận động

Miền Nam đánh thắng “Chiến tranh đặc biệt”:

Phong trào Đồng Khởi đánh dấu sự phá sản bước đầu của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Nhưng tham vọng của Mỹ còn lớn, ý chí xâm lược còn vững tin vào một ngày mai thắng lợi Từ năm 1961, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” với hai thủ đoạn chính là tăng cường quân đội VNCH do cố vấn Mỹ chỉ huy và ra sức thiết lập “ấp chiến lược”(5*) Trước tình hình mới, Đảng ta chỉ đạo đẩy

mạnh đấu tranh vũ trang lên song song, chuyển cuộc khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng, đánh địch bằng ba mũi giáp công (chính trị, quân sự, binh vận), trên ba

vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị)

Trong thư gửi đồng chí Nguyễn Văn Linh và Xứ ủy Nam Bộ ngày 20/4/1961, Bí thư Lê Duẩn chỉ rõ: “Chiến tranh sẽ mở rộng; cuộc chiến đấu sẽ ác liệt, phức tạp; đấu

tranh chính trị và vũ trang sẽ diễn ra đồng thời, nhưng từ đây đấu tranh vũ trang chuyển

Trang 38

sang đóng vai trò ngày càng quyết định” [10:19] “Đấu tranh chính trị phải được duy trì

và đẩy mạnh, vì đây là ưu thế của ta để chống địch và giành quần chúng Trong thời kỳ

này, đi đôi với xây dựng lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị, phải ra sức xây dựng

lực lượng vũ trang bao gồm dân quân, du kích ở thôn, xã, bộ đội địa phương tỉnh, huyện

đến bộ đội chủ lực khu, miền, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh quân sự của ba thứ quân để giúp sức đắc lực cho đấu tranh chính trị” [10:20]

Đây là những chỉ đạo sắc bén, kịp thời của Đảng cho cách mạng miền Nam trên cơ

sở vận dụng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh:

- Về xây dựng lực lượng vũ trang: Bắt đầu có thể quy luật khởi nghĩa, lực lượng chính trị là chủ yếu nhưng khi cuộc khởi nghĩa đã chuyển thành cuộc kháng chiến trường

kỳ thì phải trên cơ sở đó phát triển lực lượng vũ trang vươn lên ngang tầm nhiệm vụ Giữa tháng 12/1961, Quân Giải phóng miền Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang Việc ra đời Quân Giải phóng là sự cụ thể hóa chủ trương của BCT, đánh dấu bước phát triển mới trong phong trào

- Về hình thức đấu tranh: Chiến tranh nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh nổi lên nghệ thuật kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị (hai hình thức cơ bản) Trong chiến tranh “quân sự là việc chủ chốt” vì cuối cùng bao giờ cũng phải thắng địch bằng quân sự, đập tan công cụ chủ yếu của đối phương là quân đội Trong khi coi đấu tranh vũ trang giữ vai trò quyết định trực tiếp, Người coi đấu tranh chính trị cũng là một phương thức tiến công địch có hiệu lực trên chiến trường Dựa vào sức mạnh đông đảo của quần chúng, tiến hành các hình thức đấu tranh từ thấp đến cao, giành lại các quyền dân sinh, dân chủ, bảo vệ cơ sở cách mạng, chống càn quét khủng bố, chống bắt lính đôn quân, làm tan rã hàng ngũ đối phương, tạo điều kiện cho đấu tranh vũ trang đánh đòn tiêu diệt Quân sự kết hợp với chính trị, đây là nét nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh được

Đảng ta vận dụng để điều hành chiến tranh cách mạng Đặc biệt với việc xác định

phương châm đánh địch trên ba vùng, chúng ta đã hình thành thế trận chiến tranh nhân dân “cài răng lược” hóa giải hữu hiệu chiến tranh quy ước do Mỹ tiến hành

Trang 39

Tuy nhiên, năm đầu chuyển từ khởi nghĩa vũ trang sang chiến tranh cách mạng, quân dân các địa phương miền Nam chưa tích lũy được nhiều kinh nghiệm Vì vậy, ở nhiều nơi phong trào đấu tranh còn yếu, lực lượng bị tổn thất nặng nề Để đưa phong trào cách mạng miền Nam tiến lên một bước vững chắc, từ ngày 6 đến 10/12/1962, BCT họp

và ra Nghị quyết về tình hình, phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt Theo đó

nhấn mạnh cuộc đấu tranh giữa ta và địch ở miền Nam đã tạo ra một cục diện chiến tranh

thực sự, vì vậy yêu cầu của đấu tranh vũ trang cần phải được nâng cao hơn nữa Phát

triển chiến tranh du kích, phá ấp chiến lược và phá kế hoạch tiến công của địch trong năm

1963, nắm vững phương châm ba vùng, ra sức xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh công tác binh vận, tăng cường công tác mặt trận, công tác đô thị, công tác xây dựng Đảng BCT quyết định nhanh chóng đưa lực lượng chiến đấu vào miền Nam, phát triển

bộ đội chủ lực cơ động và các đơn vị binh chủng Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, một số đồng chí trong BCT được phân công tham gia lãnh đạo Trung ương Cục, đồng thời yêu cầu các bộ, các ngành ở Trung ương và Chính phủ gánh vác thêm nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo, phục vụ cách mạng miền Nam

Nghị quyết BCT tháng 12/1962 là một bước hoàn chỉnh đường lối, thúc đẩy chiến tranh cách mạng miền Nam Mặt trận đấu tranh vũ trang phát triển, tiêu biểu là trận chống càn ở Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho) bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng và diệt nhiều xe bọc thép M.113(6*) Chiến thắng Ấp Bắc có một ý nghĩa quan trọng, mở đầu cho sự phá sản của chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, các chủ bài trong “Chiến tranh đặc biệt”; đánh sụp lòng tin của quân ngụy vào trang bị kỹ thuật hiện đại, vào lực lượng yểm trợ cơ động và hỏa lực Mỹ

Tháng 12/1963, BCHTƯ họp Hội nghị lần thứ 9 xác định nhiều vấn đề quan trọng

cả về đường lối cách mạng miền Nam cũng như đường lối quốc tế Về phần cách mạng miền Nam, Trung ương nhấn mạnh:

- Tiếp tục kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, trong đó “đấu tranh vũ

trang đóng vai trò quyết định trực tiếp” [13:24:831].

Trang 40

- Khẳng định phương châm chiến lược ba vùng, kiên quyết không cho địch phân

tuyến để giữ vững thế trận cài xen Tìm mọi cách kiềm chế và thắng địch trong “chiến

tranh đặc biệt” ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với “chiến tranh cục

bộ”

Đến đây đường lối quân sự của Đảng đã được hoàn thiện dưới ánh sáng tư tưởng

Hồ Chí Minh Quá trình phát triển của lực lượng vũ trang, đưa đấu tranh quân sự từ vai trò hỗ trợ (trước Đồng Khởi) lên song song (1/1961) và giữ vai trò quyết định (12/1963)

thể hiện sự linh hoạt sáng tạo của Đảng trong chỉ đạo thực tiễn, tùy tình hình cụ thể mà

quyết định những hình thức đấu tranh thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng (tác giả

nhấn mạnh)

Việc sử dụng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự có khác nhau và không ngang nhau, song việc kết hợp và gắn bó khăng khít

là vấn đề có tính quy luật Đánh giá về đường lối này, nhà nghiên cứu quân sự người Mỹ

Philíp Đavítsơn (Philip Davidson) nhận xét: “Chiến lược chiến tranh cách mạng phối hợp

tổng thể hai hình thức bạo lực mang tính nguyên tắc, xung đột vũ trang và xung đột chính trị được người Việt Nam gọi là đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự Sự phối hợp này tạo ra một loại chiến tranh chưa hề thấy từ trước đến nay Một cuộc chiến tranh trải ra trên vài mặt trận tất cả quện chặt vào nhau để nhằm mục đích giành sức mạnh dân tộc” [8:168] Đây chính là sức mạnh của chiến tranh nhân dân thời đại Hồ Chí Minh

Đến cuối năm 1964 - đầu năm 1965, ta tiến hành thắng lợi một số chiến dịch tiến công quy mô vừa và nhỏ (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài) đánh dấu bước tiến mới trong trình độ tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực: từ du kích lên chính quy (đánh điểm diệt viện, đánh ngoài công sự); phối hợp nhiều chiến dịch cùng một lúc trên nhiều hướng (Bình Giã và An Lão - 12/1964, Ba Gia và Đồng Xoài - 5/1965); không chỉ đánh vào quân ngụy mà còn tiêu hao sinh lực Mỹ ngay trong hậu phương an toàn (trận tiến công của bộ đội đặc công, biệt động Sài Gòn đánh sập khách sạn Brink, tiến công trụ sở Bộ Tư lệnh viện trợ quân sự Mỹ, câu lạc bộ không quân Mỹ trong sân bay Tân Sơn Nhất)

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: thắng lợi và bài học, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 1995
2. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2015), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: thắng lợi và bài học, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: thắng lợi và bài học
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị
Năm: 2015
3. Bộ Ngoại giao (1979), Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Sự thật
Năm: 1979
4. Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2015), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa xuân 1975 - sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa xuân 1975 - sức mạnh của ý chí thống nhất Tổ quốc và khát vọng hòa bình
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
5. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1982), Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, tập 1, Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh nhân dân đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Quân đội nhân dân
Năm: 1982
6. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương của chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975), Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu phương của chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Nhà XB: Quân đội nhân dân
Năm: 1997
7. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2012), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), tập 9, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
Tác giả: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Năm: 2012
8. Nguyễn Văn Bạo (2006), “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1/1973”: Luận án tiến sĩ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - Học viện Chính trị quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1965 đến 1/1973
Tác giả: Nguyễn Văn Bạo
Năm: 2006
9. Lê Duẩn (1970), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Tiền Phong, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Tiền Phong
Năm: 1970
10. Lê Duẩn (2005), Thư vào Nam, Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư vào Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Quân đội nhân dân
Năm: 2005
11. Văn Tiến Dũng (1976), Đại thắng mùa xuân, Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân
Tác giả: Văn Tiến Dũng
Năm: 1976
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1977
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 - tập 25, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2012
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 26, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 27 - tập 36, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Đại thắng mùa xuân 1975 - Văn kiện Đảng, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại thắng mùa xuân 1975 - Văn kiện Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2005
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập 2, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước, tập 2
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Chính trị quốc gia
Năm: 2012
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
19. Nguyễn Hữu Đạo (2013), “Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 - đòn then chốt làm đảo lộn nền tư tưởng quân sự Mỹ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 277, tr. 23 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trận Điện Biên Phủ trên không năm 1972 - đòn then chốt làm đảo lộn nền tư tưởng quân sự Mỹ”, Tạp chí "Lịch sử Đảng
Tác giả: Nguyễn Hữu Đạo
Năm: 2013
20. Đỗ Bình Định (1996), “Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”: Luận văn thạc sĩ Lịch sử Việt Nam - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Đỗ Bình Định
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w