Trải qua gần 35 năm hoạt động, được sự quan tâm chỉ đạo, động viên trực tiếp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và ngành Dầu khí, sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, chính quyền và nhân dâ
Trang 1NGUYỄN THỊ QUẾ
ĐẢNG BỘ VIETSOVPETRO LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC ĐỊA BÀ RỊA - VŨNG TÀU
(1982 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Trang 2- -
NGUYỄN THỊ QUẾ
ĐẢNG BỘ VIETSOVPETRO LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC ĐỊA BÀ RỊA - VŨNG TÀU
(1982 - 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.03.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN ĐÌNH THỐNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 3suốt quá trình nghiên cứu Em cám ơn thầy đã luôn động viên, khích lệ tinh thần em, truyền cho em thêm lòng tin và quyết tâm mỗi khi em gặp khó khăn
và chán nản
Em cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Lịch Sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm em học tập tại trường
Em cũng muốn gửi lời cám ơn chân thành đến Đảng bộ Vietsovpetro,
Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, Tỉnh ủy tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và một số cơ quan, ban ngành khác đã giúp đỡ
em trong quá trình tìm kiếm và mượn tư liệu để phục vụ cho việc nghiên cứu
và hoàn thành đề tài này
Con xin gửi lời tri ân đến cha mẹ - những bậc sinh thành và gia đình thân yêu đã quan tâm, động viên hết lòng; là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con trong những lúc khó khăn nhất Cám ơn các bạn đã động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Sau hết, em kính chúc quý Thầy/Cô dồi dào sức khỏe và thành công hơn nữa trong sự nghiệp “trồng người” cao quý!
Em xin trân trọng cảm ơn!
Học viên thực hiện
Nguyễn Thị Quế
Trang 4Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đình Thống Những
số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà trường về sự cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Học viên
Nguyễn Thị Quế
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
6 Hướng tiếp cận tư liệu của đề tài 10
7 Những đóng góp của luận văn 10
8 Kết cấu luận văn 10
CHƯƠNG 1: CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIETSOVPETRO 12
1.1 Chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp Dầu khí ở Việt Nam 12
1.2 Quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu trước năm 1982 22
1.3 Hợp tác Việt Nam - Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí và sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro 28
CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ VIETSOVPETRO RA ĐỜI, LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ, KHAI THÁC DẦU KHÍ TRÊN THỀM LỤC ĐỊA BÀ RỊA - VŨNG TÀU 37
2.1 Sự ra đời và phát triển của Đảng bộ Vietsovpetro 37
2.2 Chủ trương của Đảng bộ Vietsovpetro về thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015) 41
2.2.1 Giai đoạn (1982 - 1990) 41
Trang 6Đảng 47
2.2.2 Giai đoạn (1991 - 2015) 50
2.2.2.1 Định hướng khảo sát, thăm dò và khai thác dầu và khí 51 2.2.2.2 Định hướng nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất 57 2.2.2.3 Định hướng xây dựng cơ bản và mở rộng hoạt động dịch vụ dầu khí 58 2.2.2.4 Định hướng phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng Đảng 60
2.3 Quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện của Đảng bộ Vietsovpetro (1982-2015) 63 2.3.1 Giai đoạn (1982 - 1990) 63
2.3.1.1 Chỉ đạo khảo sát, thăm dò và khai thác dầu thô 63 2.3.1.2 Chỉ đạo xây dựng căn cứ dịch vụ tổng hợp 70 2.3.1.3 Chỉ đạo phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng Đảng 73
2.3.2 Giai đoạn (1991 - 2015) 80
2.3.2.1 Củng cố và đổi mới quan hệ hợp tác với Liên bang Nga trong khuôn khổ Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro 81 2.3.2.2 Chỉ đạo khảo sát, thăm dò và khai thác dầu và khí 85 2.3.2.3 Chỉ đạo nghiên cứu khoa học và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất 92 2.3.2.4 Chỉ đạo xây dựng cơ bản và mở rộng hoạt động dịch vụ dầu khí 95 2.3.2.5 Chỉ đạo phát triển đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và xây dựng Đảng 98
Trang 73.1 Ưu điểm và hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Vietsovpetro (1982
- 2015) 102
3.1.1 Ưu điểm và nguyên nhân 102
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 114
3.2 Một số kinh nghiệm 117
3.2.1 Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm, đường lối chủ trương chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển ngành Dầu khí 118
3.2.2 Coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống Việt - Xô, củng cố đoàn kết trong Đảng bộ làm hạt nhân cho khối đoàn kết quốc tế trong cán bộ và công nhân viên hai nước 120
3.2.3 Chú trọng chỉ đạo đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân dầu khí Việt Nam 125
3.2.4 Không ngừng đổi mới và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng bộ 127
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤ LỤC 143
Trang 8Sau khi kết thúc thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tháng 8/1975, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm
dò dầu khí trong cả nước, Nghị quyết nhấn mạnh: “Dầu khí trở thành một vấn đề kinh tế và chính trị có ý nghĩa chiến lược cần được Nhà nước coi là một trọng điểm
ưu tiên trong kế hoạch kinh tế - tài chính và khoa học - kỹ thuật” [52, tr.262]
Công tác thăm dò địa chất sau ngày giải phóng lúc đầu do các công ty dầu khí nước ngoài thực hiện nhưng hiệu quả thu được không mấy khả quan Những vấn đề quan trọng về dầu khí như: Việt Nam có dòng dầu công nghiệp hay không, trữ lượng bao nhiêu, có triển vọng khai thác công nghiệp hay không… vẫn chưa có câu trả lời Trong khi đó, mong muốn một nước Việt Nam có dầu khí đã trở thành niềm mơ ước, khát vọng của toàn Đảng, toàn dân ta, của các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương cũng như của mỗi người dân Việt Nam
Trang 9Ngày 03/11/1978, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Liên Xô được ký kết Liên Xô tuyên bố xóa toàn bộ khoản nợ mà Việt Nam đã vay trong những năm 1955 - 1975 Đồng thời, Liên Xô cũng đã giúp đỡ, hỗ trợ, tạo nhiều điều kiện để Việt Nam cải thiện đời sống kinh tế xã hội Từ năm 1981, hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô đã kí Hiệp định về tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam, chuẩn bị tài liệu địa chất, địa vật lý thềm lục địa phía Nam
và sử dụng đội ngũ cán bộ kỹ thuật để cùng các chuyên viên Liên Xô nghiên cứu hoạch định hướng đi mới: thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro
Sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro làm cho các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở vùng biển phía Nam, đặc biệt là khu vực thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu trở lên sôi động, từng bước đưa Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành cái nôi của ngành Dầu khí Việt Nam
Ngày 26/05/1982, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong đơn vị liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài trên lĩnh vực dầu khí, Ban Thường vụ Đặc khu ủy Vũng Tàu - Côn Đảo đã ban hành Quyết định số 35-QN/TV về việc thành lập Đảng bộ cơ sở Vietsovpetro Đảng bộ Vietsovpetro là một mô hình đặc biệt trong Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro Trải qua gần 35 năm hoạt động, được
sự quan tâm chỉ đạo, động viên trực tiếp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và ngành Dầu khí, sự giúp đỡ của các bộ, ngành Trung ương, chính quyền và nhân dân tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu, Đảng bộ Vietsovpetro đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong chỉ đạo hợp tác thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở khu vực thềm lục địa Bà Rịa
- Vũng Tàu
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã trở thành điểm sáng trong ngành Dầu khí của đất nước, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển tăng tốc của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam Trong quá trình xây dựng và phát triển, Vietsovpetro đã tạo dựng được cơ sở vật chất, kỹ thuật vững chắc và đồng bộ trên bờ cũng như trên biển để phục vụ công tác thăm dò và
Trang 10đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, nộp ngân sách của Vietsovpetro chiếm khoảng 15% đến 22% tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm
Quá trình Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015) là một đề tài vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa có tính thời sự Do đó, nghiên cứu về nội dung này là một việc rất cần thiết Tuy nhiên, thông qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy đề tài này đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, sâu rộng, chưa có sự phân tích, đánh giá cụ thể, xác đáng
Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn vấn đề “Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu
(1982 - 2015)” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch
sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quá trình “Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015)” là một đề tài mới, vừa
có ý nghĩa thực tiễn, vừa có tính thời sự cao Qua khảo sát, đề tài này chưa từng có tác giả nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và chưa tái hiện được toàn bộ lịch sử ra đời, phát triển cũng như quá trình Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí ở trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1982 đến năm 2015
Tuy nhiên, đề tài này cũng có một số nguồn tài liệu khá phong phú, gần gũi
và đáp ứng được cho quá trình nghiên cứu Có thể kể đến những nguồn tư liệu sau:
Thứ nhất, nhóm sách, báo, luận văn, luận án viết về đề tài dầu khí, như:
“Lịch sử ngành Dầu khí Việt Nam (đến năm 2010)” do Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam biên soạn (NXB Chính trị Quốc gia, 2011) Bộ sách có 3 tập, trình bày thành 5 phần gồm 13 chương bao quát toàn bộ các hoạt động liên quan tới quá trình nghiên cứu địa chất, tìm kiếm - thăm
dò và khai thác dầu khí từ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 tới hết năm 2010;
Trang 11khăn, gian khổ, đấu tranh, vật lộn, trăn trở, cùng những hoài bão và cả những thăng trầm, đổi thay qua các thế hệ những người làm công tác dầu khí từ những ngày đặt nền móng đầu tiên cho tới năm 2010 Bộ sách không chỉ là một biên niên sự kiện,
mà còn là một kho tàng kiến thức về địa chất, dầu khí và nhiều lĩnh vực chuyên môn khác liên quan tới ngành Dầu khí Việt Nam
“Dầu khí Việt Nam” của Đoàn Thiên Tích (NXB Đại học Quốc gia TP
HCM, 2001) là một cuốn sách được biên soạn từ những tài liệu đã công bố trên báo chí trong và ngoài nước, giới thiệu những vấn đề chuyên ngành về dầu khí như: Quá trình tìm kiếm thăm dò dầu khí, tiềm năng dầu khí, nhịp độ khai thác dầu khí, đặc điểm dầu khí, công nghiệp chế biến dầu khí, vận chuyển dầu khí, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm dầu khí, công tác dịch vụ dầu khí, an toàn và bảo vệ môi trường Thông qua quá trình nghiên cứu về những phương diện của ngành công nghiệp Dầu khí, tác giả đã làm nổi bật lên các thành tựu và kết quả của ngành Dầu khí Việt Nam đạt được trong những chặng đường phát triển của mình
"Những người đi tìm lửa" của Tạ Duy Anh (chủ biên, 2006) gồm 3 tập
được viết theo thể loại ký chân dung, là tổng hợp những hồi ký tiêu biểu về những người làm việc ở lĩnh vực điều tra địa chất, thăm dò khai thác dầu khí, nhất là trong những ngày đầu xây dựng ngành Dầu khí nước nhà Trong đó có những gương mặt tiêu biểu, như: Trung tướng Ðinh Ðức Thiện - "một vị tướng hậu cần đầy cá tính, có công lớn phục vụ chiến đấu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta”, một vị Bộ trưởng có công "khai sơn phá thạch", đặt nền móng cho một số ngành công nghiệp non trẻ; về Hồ Sỹ Thoảng, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị, Bí thư Ban cán sự Ðảng Tổng công ty Dầu khí Việt Nam - "một nhà khoa học danh giá, một trí thức lịch lãm"; về ông Ðỗ Văn Hậu, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Dầu khí Việt Nam; về Trung tướng Nguyễn Hòa, nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục Dầu khí Việt Nam… Thông qua những trang hồi ký về nhân vật, các tác giả của bộ sách đã tái hiện lịch sử của ngành Dầu khí với những sự kiện đánh dấu từng bước đường mà Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam ngày nay đã trải qua
Trang 12“Bà Rịa - Vũng Tàu, thế và lực mới trong thế kỉ XX” của Chu Viết Luân
(NXB Chính trị Quốc gia, 2003) đã nêu lên tổng quan về điều kiện tự nhiên, tiềm năng kinh tế - xã hội, những thế mạnh của tỉnh, giới thiệu những ngành kinh tế trọng điểm như khoa học công nghệ, du lịch, thương mại, điện và đặc biệt là về vấn
đề dầu khí Tác giả đã giới thiệu một cách khái quát cơ sở hạ tầng hệ thống cảng biển, các khu công nghiệp… làm nổi bật lên một bức tranh toàn cảnh về Bà Rịa - Vũng Tàu trong những năm đầu thế kỉ XXI
“Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (1975 - 2010)” do Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu biên soạn (NXB Chính trị Quốc gia, 2015) nêu tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng thời, cuốn sách thể hiện rõ các vấn đề, sự kiện có tính chất bước ngoặt trong quá trình xây dựng và phát triển của tỉnh từ năm 1975 đến 2010, trong đó có những nội dung liên quan đến đề tài, như: tình hình công nhân lao động, vấn đề xây dựng đoàn kết nội bộ trong Đảng, các vấn đề đầu tư phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, cải cách thủ tục hành chính… một cách khách quan, trung thực, nêu rõ nguyên nhân và rút ra được bài học kinh nghiệm Đặc biệt là, cuốn sách đã đánh giá, tổng kết vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn nói trên
“Kinh tế dịch vụ trong phát triển vùng biển, đảo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”
của Hồ Viết Chiến (Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội, 2016) đã
hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế dịch vụ trong vùng biển, đảo; đánh giá về thực trạng kinh tế dịch vụ tại Bà Rịa - Vũng Tàu, trong đó đi sâu vào các lĩnh vực dịch vụ cảng biển, dịch vụ logictics, dịch vụ du lịch và dịch vụ hậu cần thủy sản Từ quá trình nghiên cứu, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển các lĩnh vực dịch vụ của địa phương trong giai đoạn từ nay đến 2020 và những năm tiếp theo Đồng thời, trong nội dung nghiên cứu, người viết cũng đề xuất một
số giải pháp phát triển các lĩnh vực dịch vụ là thế mạnh như: dịch vụ cảng biển, dịch
vụ du lịch, dịch vụ hậu cần thủy sản trong vùng biển, đảo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 13“Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch” của
Ngô Thị Liên (Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, 2008) trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh
tế du lịch từ năm 1991 đến 2006, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong quá trình lãnh đạo kinh tế du lịch của Đảng bộ Thông qua nội dung nghiên cứu, tác giả
đã tổng kết những kinh nghiệm quý báu nhằm tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trong các giai đoạn phát triển tiếp theo
“Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế biển giai
đoạn 1991 - 2014” của Tạ Châu Phú (Luận văn Thạc sĩ Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn TP.HCM, 2015) đã khái quát về điều kiện tự nhiên, tiềm năng phát triển kinh tế biển của địa phương Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo phát triển kinh tế biển từ năm 1991 đến
2014 chủ yếu trên các lĩnh vực: dầu khí, giao thông vận tải biển và du lịch cũng như những đóng góp của kinh tế biển đối với tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bên cạnh đó, một số bài viết trên các báo tạp chí nghiên cứu của địa
phương và Trung ương có liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu: “Nửa thế kỷ lớn mạnh của những người tìm lửa” trên Báo Điện tử Bà Rịa - Vũng Tàu; “Hội nghị khoa học công nghệ: Vietsovpetro 35 năm hình thành và phát triển” trên Tạp chí Dầu khí Việt Nam; “47 tỷ USD lợi nhuận Việt Nam thu từ Vietsovpetro trong 35 năm” trên Báo Điện tử Thời báo Kinh tế Việt Nam…
Thứ hai, các văn kiện về đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với công nghiệp Dầu khí Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp Dầu khí được thể hiện cụ thể thông qua các kỳ Đại hội, các Cương
lĩnh, Nghị quyết, Nghị định từ năm 1945 đến nay và phản ánh đầy đủ trong Văn kiện Đảng Toàn tập, được xuất bản qua nhiều năm khác nhau Tiêu biểu như:
Nghị quyết 244-NQ/TW (8/1975) trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36 Nghị quyết đã phân tích tình hình, chỉ rõ ý nghĩa chiến lược, tầm quan trọng, tính
Trang 14văn bản đầu tiên, sau ngày miền Nam giải phóng, đã thể hiện những quan điểm và chủ trương cơ bản của Đảng ta về phát triển công nghiệp Dầu khí trên phạm vi cả nước
Chỉ thị số 30-CT/TW (12/1977) trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 38 Chỉ thị không chỉ khẳng định lại những vấn đề chiến lược được nêu trong Nghị quyết
244 năm 1975 mà còn quyết định thêm một số chủ trương nhằm đẩy mạnh công tác dầu mỏ và khí đốt trong những năm tiếp theo trên 7 lĩnh vực: yêu cầu khai thác, vấn
đề hợp tác với nước ngoài và tự lực khai thác, xây dựng cơ sở lọc hóa dầu, nhu cầu
về vốn đầu tư, vấn đề biên giới trên biển, một số vấn đề tổ chức thực hiện, nghiên cứu cơ bản chính sách về năng lượng
Nghị quyết số 15-NQ/TW về “Phương hướng phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2000” (7/1988) trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 49 Nghị
quyết chỉ rõ đất nước ta có nguồn tiềm năng dầu khí đáng kể ở thềm lục địa Chính
vì thế, nhiệm vụ chiến lược là Đảng, Nhà nước và nhân dân phải tập trung cố gắng đến mức cao nhất để biến tiềm năng đó thành hiện thực, từng bước đưa dầu khí trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X)
đã khẳng định tiềm năng và vai trò của lĩnh vực dầu khí trong sự nghiệp xây dựng một đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, giàu mạnh…
Đây là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng giúp đề tài nghiên cứu, đánh giá quá trình Đảng bộ Vietsovpetro vận dụng những quan điểm, chủ trương của Đảng trong hoạt động chỉ đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí ở Bà Rịa - Vũng Tàu qua từng thời kỳ cụ thể
Thứ ba, các văn kiện do Đảng bộ Vietsovpetro và Văn phòng Đảng ủy tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu cung cấp, bao gồm: tài liệu Đại hội Đảng bộ Đặc khu Vũng Tàu
- Côn Đảo từ năm 1983 đến 1986; Đại hội Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm
1992 đến năm 2006; Đại hội Đảng bộ Vietsovpetro các nhiệm kì; các Báo cáo Tổng
Trang 15kết và kế hoạch công tác năm của một số nhiệm kì Đại hội Đảng bộ từ năm 1982 đến 2015; bản tin nội bộ của Vietsovpetro…
Tóm lại, từ quá trình sơ lược trên về tình hình nghiên cứu, như đã khẳng định ngay từ đầu, chưa có công trình nào nghiên cứu trùng với đề tài của luận văn này nhưng đã có những căn cứ xác đáng để quá trình nghiên cứu của đề tài hoàn thành theo kế hoạch
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
đề tài bước đầu tìm hiểu quy luật vận động khách quan của đường lối đối ngoại Việt
- Nga, sự tác động của nó đến công nghiệp Dầu khí, cung cấp những bài học kinh nghiệm và cứ liệu khoa học cần thiết nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Vietsovpetro trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu trong những giai đoạn tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ tình hình đất nước trong những năm 1980 của thế kỉ XX đến nay
- Làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp Dầu khí
- Hợp tác Việt Nam - Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí, sự thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro và sự ra đời của Đảng bộ Vietsovpetro
- Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo, chỉ đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015)
Trang 16- Thành tựu của quá trình Đảng bộ Vietsovpetro lãnh đạo, chỉ đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015)
- Tổng kết, đánh giá, nhận xét về thành tựu, hạn chế của những chủ trương
và quá trình tổ chức thực hiện nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết cho các giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Vietsovpetro trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1982 đến năm 2015
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài đi sâu nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng nhằm lãnh đạo, chỉ đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu; ngoại giao Việt - Liên Xô (Nga), cụ thể là sự hình thành Vietsovpetro và quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Vietsovpetro trong công tác thăm
dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 1982 đến năm
2015
- Về mặt không gian: địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay
- Về mặt thời gian: giai đoạn từ năm 1982 đến năm 2015
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình viết luận văn, ngoài việc tuân thủ phương pháp luận cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả còn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp giữa hai phương pháp này là những phương pháp chủ yếu
Luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp được vận dụng để giải quyết các vấn đề cụ thể của luận văn
Trang 176 Hướng tiếp cận tư liệu của đề tài
Để thực hiện và hoàn thiện luận văn, tác giả sẽ tiếp cận các nguồn tư liệu sau:
- Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc từ Đại hội V (1982) đến Đại hội XII (2016) và các văn kiện của Đảng và Nhà nước chỉ đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí
- Văn kiện Đại hội đại biểu các nhiệm kì của Đảng bộ Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo và Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; các văn kiện của Đặc khu ủy, Uỷ ban nhân dân đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, của Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu liên quan đến hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí từ năm 1982 đến năm 2008
- Văn kiện của Đại hội đại biểu các nhiệm kì của Đảng bộ Vietsovpetro từ năm 1982 đến 2015
- Các số liệu thống kê liên quan đến ngành Dầu khí của các cơ quan Nhà nước
- Các sách chuyên khảo, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu, bài viết, bài báo khoa học, các luận án, luận văn liên quan đến dầu khí
7 Những đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ quá trình nhận thức của Đảng bộ Vietsovpetro trong lãnh đạo công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu từ
năm 1982 đến năm 2015
- Bước đầu rút ra một số nhận xét, kinh nghiệm về lí luận và thực tiễn
- Là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương, lịch sử ngành và lịch sử Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
8 Kết cấu luận văn
Trang 18Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được chia 3 chương như sau:
Chương 1 Chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp Dầu khí và quá trình hình thành Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro
Chương 2 Đảng bộ Vietsovpetro ra đời, lãnh đạo hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu (1982 - 2015)
Chương 3 Nhận xét về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Vietsovpetro (1982 - 2015)
Trang 19Phần nội dung
CHƯƠNG 1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP DẦU KHÍ
VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIETSOVPETRO 1.1 Chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp Dầu khí ở Việt Nam
Sau khi giành được chính quyền, ngày 03/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh sáp nhập Sở Tổng thanh tra Khoáng chất và Kỹ nghệ vào Bộ Quốc dân Kinh tế Nhiệm vụ chính của Nha Kỹ nghệ thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế là khảo sát địa chất và tìm kiếm, khai thác khoáng sản Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, hạn chế về trang bị kĩ thuật và nhân lực có trình độ thì kết quả của việc tìm kiếm và khai thác khoáng sản, nhất là trong lĩnh vực thăm dò dầu khí là hết sức hạn chế
Sau khi miền Bắc được giải phóng (1954), trong chuyến thăm Đông Âu (1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm giàn khoan dầu của Rumani và nhà máy lọc dầu Bungari Đặc biệt, trong chuyến thăm chính thức Liên Xô, ngày 23/07/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm vùng dầu mỏ ở phía Bắc thành phố Bacu, thủ đô nước Cộng hòa Xôviết Adecbaigian - một trong những khu công nghiệp Dầu khí lớn của Liên Xô, tìm hiểu công tác thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến và phân phối dầu khí Khi trao đổi với các nhà lãnh đạo của nước Cộng hòa và các kỹ
sư, công nhân dầu khí, Người từng nói: “Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Adecbaigian nói chung và Bacu nói riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng được những khu công nghiệp Dầu khí mạnh như Bacu” [73, tr.23]
Nhận thức rõ vai trò hợp tác với các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đặc biệt với Liên Xô trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh Theo tinh thần đó, Chính phủ Liên
Xô đã cử nhiều chuyên gia, cán bộ kỹ thuật dầu khí đến Việt Nam, giúp đỡ máy
Trang 20Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III năm 1960 của Đảng Lao động Việt
Nam, Bộ chính trị đặt ra yêu cầu: “Khoa học địa chất phải lấy việc thăm dò và nghiên cứu tài nguyên dưới đất làm công tác trọng tâm của mình, tìm ra những khoáng sản cần thiết cho việc phát triển công nghiệp” [51, tr.589] Trên cơ sở đó,
công tác nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền Bắc cũng được Chính phủ chỉ đạo triển khai một cách có hệ thống
Công tác xây dựng nguồn lực, đào tạo cán bộ kỹ thuật cũng được Chính phủ
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Nhằm đào tạo lực lượng công nhân kỹ thuật cho sự phát triển lâu dài của ngành Dầu khí nước nhà, Chính phủ chỉ đạo các
bộ, ngành chọn cử một số sinh viên đến các trường đại học ở Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa để nghiên cứu, học tập về khoa học - kỹ thuật - công nghệ dầu khí Năm 1967, Tổng cục Địa chất đã cử một đoàn thực tập với hơn 60 người đến Liên
Xô để thực tập các chuyên môn địa chất, địa vật lý, địa hoá cổ sinh, trầm tích, thạch học phục vụ công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trên đất liền và trên biển
Ở trong nước, từ năm 1956, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã mở Khoa địa chất Năm 1961, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mở ngành đào tạo địa vật lý gồm các chuyên ngành: địa chấn, điện, trọng lực, từ, xạ, karota
Với tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước về vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân lực có trình độ đối với trong quá trình phát triển lâu dài của công nghiệp Dầu khí, Việt Nam đã đào tạo một đội ngũ kỹ sư - công nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm, ngày càng đáp ứng được những yêu cầu của công tác thăm
dò và khai thác dầu khí của nước nhà Qua thực tiễn nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở miền Bắc, được sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, cùng với nỗ lực
tự học, tự nâng cao trình độ, nhiều cán bộ, kỹ sư Việt Nam đã trưởng thành, giữ trọng trách trong ngành Dầu khí, giữ cương vị chủ chốt trong lãnh đạo, quản lý và
kỹ thuật ở Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro và Tập đoàn Dầu khí quốc gia sau này
Trang 21Để đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí, tháng 11 năm 1961, Tổng cục Địa chất đã ký Quyết định số 271/ĐC thành lập Đoàn thăm dò Dầu khí trực thuộc Tổng cục Địa chất mang số hiệu 36 (còn có tên thường gọi là Đoàn 36, Đoàn
36 Địa chất) Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn 36 là tổ chức triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở vùng trũng sông Hồng, nơi được đánh giá có tiềm năng dầu khí lớn nhất trên đất liền ở miền Bắc nước ta Trong hoàn cảnh chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, các đội, tổ làm công tác dầu khí phải sơ tán nhưng vẫn đẩy mạnh công tác học tập, nghiên cứu và triển khai khảo sát địa chất, địa vật
lý, tìm kiếm, thăm dò dầu Đoàn 36 đã đặt những viên gạch đầu tiên để tạo dựng cơ ngơi hùng mạnh của ngành Dầu khí ngày nay
Với tình cảm quốc tế trong sáng, các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ đã cử nhiều chuyên gia, kỹ sư có trình độ sang giúp đỡ Việt Nam trong những ngày đầu non trẻ của công nghiệp Dầu khí Tranh thủ sự giúp đỡ quý báu đó, Đảng đã đưa ra chiến lược đúng đắn, kịp thời nhằm đẩy mạnh công tác thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam
Trên thực tế, kết quả thăm dò và khai thác dầu khí trong giai đoạn 1960 -
1970 còn hết sức khiêm tốn, song những kết quả ban đầu đó có ý nghĩa rất to lớn, tạo tiền đề để phát triển ngành Dầu khí sau này Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đảng và Chính phủ đã đề ra phương hướng, chỉ đạo các bước đi cụ thể
để phát triển lĩnh vực dầu khí Việt Nam
Chỉ hơn 3 tháng sau ngày miền Nam giải phóng, ngày 09/08/1975, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 244-NQ/TW về việc triển khai thăm dò dầu khí trong cả nước Nghị quyết đã phân tích tình hình, chỉ rõ ý nghĩa chiến lược, tầm quan trọng, tính bức xúc của việc thăm dò dầu khí trong bối cảnh kinh tế - xã hội lúc bấy giờ:
“Dầu hỏa và khí đốt là nguồn năng lượng quan trọng của tất cả các nước công nghiệp Công nghiệp lọc dầu và hóa dầu là một thành phần cơ bản và tiên tiến của một cơ cấu công nghiệp hiện đại Sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ, cả nước ta bước
Trang 22thác dầu, khí Dầu hỏa trở thành một vấn đề kinh tế và chính trị có ý nghĩa chiến lược cần được Nhà nước coi là một trọng điểm ưu tiên trong kế hoạch kinh tế tài chính và khoa học kỹ thuật”
“Với kết quả thăm dò tới nay ở cả hai miền, tuy chưa đánh giá được trữ lượng công nghiệp, nhưng đã có thể khẳng định triển vọng dầu mỏ và khí đốt ở nước ta”
Trên cơ sở đánh giá về tiềm năng dầu khí trên phạm vi cả nước, Đảng đã đưa
ra phương hướng chủ yếu của chính sách dầu - khí là:
“1 Nhanh chóng tìm ra và khai thác nhiều dầu, khí, vừa đủ dùng trong nước, vừa
có thể xuất, tạo nguồn ngoại tệ quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
2 Nhanh chóng hình thành một nền công nghiệp dầu - khí hoàn chỉnh, bao gồm cả thăm dò, khai thác, vận chuyển, lọc dầu, hóa dầu, cơ khí phục vụ ngành dầu… Tranh thủ triển khai song song việc thăm dò dầu và xây dựng công nghiệp chế biến gồm lọc dầu và hóa dầu
3 Nhà nước nắm nguồn tài nguyên dầu lửa một cách vững chắc và an toàn Trong thời hạn ngắn nhất, nước ta phải vươn lên tự lực giải quyết những yếu tố cơ bản (khoa học, kĩ thuật thiết bị, vốn, quản lý) để phát triển ngành dầu - khí trong khi vẫn
mở rộng hợp tác với nước ngoài”
Nghị quyết 244-NQ/TW chủ trương:
“Cần xác định ngay một chính sách dầu, khí để biến triển vọng này thành hiện thực Chính sách này phải rất tích cực, đáp ứng được yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài của nước ta, đồng thời phù hợp với vị trí, trình độ kinh tế, khả năng
kỹ thuật, quản lý và triển vọng tài nguyên của nước ta”
“Thành lập tổ chức thống nhất về dầu, khí cho cả nước Tách các tổ chức làm công tác dầu, khí trong Tổng cục Địa chất, Tổng cục Hóa chất, Tổng cục Dầu
Trang 23lửa và Khoáng sản ở miền Nam, thành lập Tổng cục Dầu - Khí Việt Nam” [52,
tr.274-279]
Nghị quyết 244-NQ/TW là văn bản đầu tiên, sau ngày miền Nam giải phóng,
đã thể hiện những quan điểm và chủ trương cơ bản của Đảng về phát triển công nghiệp Dầu khí trên phạm vi cả nước, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt quá trình xây dựng
và phát triển của ngành Dầu khí Việt Nam
Ngày 03/09/1975 Chính phủ quyết định thành lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam gọi tắt Tổng cục Dầu khí Việt Nam, chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí Từ đây, công nghiệp Dầu khí Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn phát triển mới: giai đoạn tăng cường lực lượng, mở rộng hợp tác liên doanh quốc tế, đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí trên phạm vi cả nước Những kết quả khảo sát, tìm kiếm, thăm dò dầu khí, những báo cáo đánh giá tổng quan tiềm năng dầu khí ở vùng thềm lục địa phía Nam được hoàn thành trong thời kỳ này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam nói chung, và việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro nói riêng
Trải qua quá trình phát triển, để phù hợp với mô hình và quy mô hoạt động từng giai đoạn, Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam được đổi tên thành Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam và nay là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam theo Quyết định số 199/2006/QĐ-TTg ngày 28/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ
Tháng 12 năm 1977, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về những việc cần làm để đẩy nhanh công tác dầu mỏ và khí đốt, quyết định thêm một
số chủ trương nhằm đẩy mạnh công tác dầu mỏ và khí đốt trong những năm tới, với những nội dung cơ bản là:
Một là, xác định mục tiêu:“Tạm lấy con số dự báo về trữ lượng là 2 tỷ tấn dầu thô, có thể tạm xác định mức khai thác cần đạt tới 50 - 60 triệu tấn/năm Mục tiêu phấn đấu: 1981 - 1982 bắt đầu lấy được dầu, năm 1985 đạt mức khai thác 20 -
Trang 24Hai là, xác định phương châm, trước mắt phải đặc biệt quan tâm vấn đề hợp tác với nước ngoài, lâu dài phải phấn đấu tự lực khai thác dầu khí: “Về lâu dài ta phải tiến tới tự lực Nhưng hiện nay do khó khăn về vốn, kỹ thuật, quản lý nên ta phải chủ động tranh thủ hợp tác với nước ngoài”
Ba là, đặt ra nhiệm vụ xây dựng cơ sở lọc dầu - hoá dầu: “Song song triển khai thăm dò và khai thác dầu, cần tranh thủ xây dựng hai khu liên hợp lọc dầu và hóa dầu ở Thành Tuy Hạ (Đồng Nai) và Nghi Sơn (Thanh Hóa), với công suất khoảng 10 - 12 triệu tấn/năm”
Bốn là, tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài, “tìm nguồn vốn bằng sự hợp tác với Liên Xô, Rumani và các nước xã hội chủ nghĩa khác; gọi thêm vốn và kỹ thuật của một số nước tư bản; vay vốn của các nước xuất khẩu dầu lửa”
Năm là, vấn đề biên giới trên biển, “là một vấn đề rất phức tạp và phải giải quyết lâu dài Ta cần tranh thủ giải quyết một bước trong khi mới bắt đầu tìm kiếm dầu khí ở biển”
Sáu là, về tổ chức thực hiện: “Công tác dầu khí đang bắt đầu triển khai, công việc nhiều, phức tạp và rất khẩn trương, đòi hỏi sự đóng góp tích cực của nhiều ngành Tổng cục Dầu khí phải chủ động đề ra những yêu cầu cụ thể đối với các ngành Tăng cường nhanh tổ chức của ngành Dầu khí”
Bảy là, nghiên cứu cơ bản chính sách về năng lượng “cần phải xây dựng một
đề án về chính sách năng lượng chung của nước ta, tiến tới khai thác và sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả kinh tế các nguồn năng lượng trong nước” [53,
tr.711-717]
Chỉ thị số 30-CT/TW đã cụ thể hóa thêm một bước những chủ trương chiến lược định hướng trong Nghị quyết số 244-NQ/TW, đặt nền móng cho sự phát triển ngành Dầu khí trong gần nửa thế kỷ qua
Ngày 01/12/1979, Bộ Chính trị quyết định phương hướng hợp tác với Liên
Xô về dầu khí, chính thức đề nghị Liên Xô giúp Việt Nam xây dựng công nghiệp
Trang 25Dầu khí và hợp tác khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam Việt Nam Chủ trương đúng đắn đó đã tạo bước ngoặt quan trọng cho sự nghiệp phát triển ngành Dầu khí Việt Nam, dẫn đến sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro
Từ cuối thập niên 1980 đầu 1990 của thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có rất nhiều những biến động lớn Sau một thời gian dài khủng hoảng, chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong quan hệ hợp tác quốc tế Nhận thức được tác động to lớn của xu thế toàn cầu
hóa và cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, Đảng nhận định rằng: “xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế xã hội khác nhau, cũng là những điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội của nước ta” [45, tr.31]
Từ nhận định đó, Đại hội VI của Đảng cuối năm 1986 đã “nhìn thẳng vào sự thật”, thấy rõ những khó khăn, những khuyết điểm trong đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội theo mô hình cũ và đã quyết định phải đổi mới
tư duy, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987 đã tạo môi trường mới cho hoạt động dầu khí Bên cạnh việc đẩy mạnh hợp tác với Liên Xô trong hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn khuyến khích và tạo điều kiện để các công ty dầu khí của các nước không phân biệt chế độ chính trị, có thể đầu tư vào Việt Nam với các hợp đồng kinh tế đa dạng Chủ trương mới mẻ của Đảng đã mở ra cơ hội thu hút hơn nữa vốn, khoa học - kĩ thuật cũng như nhân lực có trình độ cao từ nước ngoài cho
sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam trong các chặng đường tiếp theo
Trên tinh thần đổi mới, ngày 7/7/1988, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết
số 15-NQ/TW về “Phương hướng phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm
Trang 26ở thềm lục địa Đảng, Nhà nước và nhân dân phải tập trung cố gắng đến mức cao nhất để biến tiềm năng đó thành hiện thực, từng bước đưa dầu khí trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế trong những thập kỷ tới” [73, tr.206]
Nghị quyết xác định phương hướng phát triển ngành Dầu khí đến năm 2000 với những nét cơ bản là:
“Từ nay đến năm 1995, đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò trên toàn thềm lục địa Việt Nam, có được con số trữ lượng xác minh, thu hút được những khoản đầu tư đáng kể từ nước ngoài vào, đẩy mạnh công tác thăm dò, tìm kiếm, khai thác nhiều dầu khí đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, hình thành vào năm 2000 ngành công nghiệp Dầu khí ở nước ta bao gồm thăm dò, khai thác, chế biến, dịch
vụ, xuất nhập khẩu”
Để có thể đạt được mục tiêu chiến lược trên, nhiệm vụ cấp thiết là: “Xây dựng và đào tạo được một đội ngũ công nhân, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý đủ sức từng bước làm chủ được ngành công nghiệp Dầu khí, tiến lên tự lực phát triển ngành ở thế kỷ sau”
“Chúng ta dựa vào Liên Xô để phát triển ngành Dầu khí, hợp tác tốt với Liên
Xô trong Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro và trong 7 lô ở thềm lục địa phía Nam với hình thức hợp doanh”
“Song song với việc thăm dò và khai thác dầu, ra sức đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở lọc hóa dầu và tích cực sử dụng khí đồng hành và các mỏ khí nếu có Năm 1991, khởi công xây dựng khu liên hợp lọc hóa dầu ở phía Nam… Nhanh chóng lập phương án trước năm 1995 sử dụng khí đồng hành từ mỏ Bạch Hổ và các
mỏ khác để sản xuất phân đạm, phát điện và phục vụ đời sống nhân dân”
Chính vì thế, “Nhà nước cần sớm xây dựng kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về công tác dầu khí, chăm lo đời sống công nhân viên chức dầu khí, ban hành luật lệ, quy chế, chính sách, chế độ cần thiết để thực hiện có kết quả Luật Đầu tư nước
Trang 27chuyên gia và nhà đầu tư nước ngoài về dầu khí, tạo thuận lợi cho họ hợp tác tốt với ta” [73, tr.206-208]
Nghị quyết còn vạch phương hướng chủ yếu của chính sách dầu khí, nguyên tắc và điều kiện thực hiện, trong đó bao gồm các mục tiêu, địa điểm tiến hành, nguyên tắc hợp tác và lựa chọn đối tác hợp tác, hình thức hợp tác, tổ chức ngành dầu khí trong cả nước… Nghị quyết đã cho phép mở rộng đối tác, kể cả các nước tư bản chủ nghĩa Nội dung này là vấn đề hết sức quan trọng trong tình hình phức tạp của thế giới, nhất là khi Việt Nam còn đang là thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) Đây là nghị quyết chuyên đề về dầu khí đầu tiên của Đảng, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong thời kỳ đổi mới, trở thành kim chỉ nam cho quá trình phát triển ngành Dầu khí Việt Nam
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991) đã chủ trương xúc tiến mạnh việc hợp tác, liên doanh với nước ngoài trong thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng công nghiệp lọc - hóa dầu theo công nghệ hiện đại và kèm theo đó là
sự ra đời và phát triển của hàng loạt ngành liên quan đến dầu khí Việc mở rộng thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam từ năm 1990 trở đi đã thể hiện rõ đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng và Nhà nước nhằm hội nhập kinh tế sâu rộng với
các nước trên thế giới trên cơ sở “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” [46, tr.8]
Cuối năm 1992, Luật sửa đổi một số điều Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những tác động to lớn đến ngành Dầu khí, thu hút đầu tư một số công ty nước ngoài trong hoàn cảnh Việt Nam đang bị cấm vận
Năm 1993, Luật Dầu khí được Quốc hội thông qua đã tạo cơ sở pháp lý cho
cả Việt Nam và đối tác trong việc tiến hành những hoạt động dầu khí trên đất liền cũng như trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
Trang 28Năm 1995, sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao, tăng cường hợp tác với Mỹ và cộng đồng châu Âu, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành Dầu khí có cơ hội phát triển mạnh mẽ
Cùng với đó, để đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động kinh tế biển nói chung
và ngành Dầu khí nói riêng Chính phủ Việt Nam đã tiến hành các cuộc đàm phán với các nước láng giềng, thoả thuận với Malaixia, Thái Lan, Inđônêxia, Trung Quốc… về vùng chồng lấn cùng khai thác nhằm phân định một cách rõ ràng ranh giới trên biển
Ngày 07/11/1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số QĐ/TTg về khuyến khích đầu tư đối với các hoạt động dầu khí tại các vùng nước sâu, xa bờ và khu vực có điều kiện địa lý, địa chất, kinh tế, kỹ thuật đặc biệt khó khăn Bên cạnh đó, nhiều công trình dần đưa vào hoạt động như: Nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ, Nhà máy lọc dầu Dung Quất… đã góp phần tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Dầu khí
216-Bước sang thế kỷ XXI, trước bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, “vươn ra biển” đã trở thành xu thế chủ đạo của các quốc gia Nhận thức rõ điều đó, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa X) ngày 09/02/2007 đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, xác định các quan điểm về định hướng phát triển
Chiến lược biển của đất nước, trong đó khẳng định tiềm năng và vai trò đặc biệt quan trọng của lĩnh vực dầu khí cũng như những định hướng lớn cho sự phát triển của ngành trong thập kỉ mới này
Việt Nam là một quốc gia có đường bờ biển dài 3.260 km chạy từ bắc tới nam, đứng thứ 27 trên thế giới; có chủ quyền trên khoảng 1.000.000 km2 trên biển Đông, với vùng lãnh hải và nội thủy rộng khoảng 50 vạn km2, vùng đặc quyền kinh
tế khoảng 1.000.000 km2 Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam Với khát vọng đưa đất nước Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về biển và giàu lên từ biển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đưa ra những
Trang 29có sự phát triển vượt bậc Từ một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu, Việt Nam đã tạo dựng nên cơ ngơi dầu khí tầm cỡ trong khu vực, đưa nước ta vào bản đồ các quốc gia sản xuất dầu mỏ trên thế giới Một trong những nguyên nhân căn bản nhất của thành công, chính là từ những chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ, nhất là trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác trong lĩnh vực hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết (sau đó là Liên bang Nga) đã mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn, mà Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro
chính là một trong những điển hình tiêu biểu
1.2 Quá trình tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu trước năm 1982
Bà Rịa - Vũng Tàu từ lâu đã nổi tiếng là một địa danh gắn với những tiềm năng phát triển du lịch và hải sản Trước khi chính thức mang tên Bà Rịa - Vũng Tàu như ngày nay, tỉnh đã có quá trình thay đổi tên và địa giới
Tháng 12/1976, Bà Rịa, Vũng Tàu được sáp nhập với tỉnh Biên Hòa; tỉnh Long Khánh và tỉnh Tân Phú thành tỉnh Đồng Nai Tỉnh Côn Đảo thành lập sau ngày giải phóng được điều chỉnh thành huyện Côn Đảo trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị định số 164-CP ngày 18/09/1976, sau đó chuyển trực thuộc tỉnh Hậu Giang
Ngày 30/05/1979, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa VI nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo trực thuộc Trung ương, gồm thị xã Vũng Tàu, huyện Côn Đảo và xã Long Sơn (trước đó thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai) Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, có nhiệm vụ phát triển du lịch, hải sản và phục
vụ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Chủ trương thành lập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo là một quyết sách có tầm chiến lược, không chỉ cho hoạt động dầu khí (sau này đưa Vũng Tàu trở thành thành phố dầu khí của Việt Nam), mà còn cho phát triển kinh tế miền Đông Nam Bộ
Trang 30Ngày 12/08/1991, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VIII nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra Nghị quyết thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bao gồm 5 đơn vị hành chính: thành phố Vũng Tàu, huyện Côn Đảo (thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo) và các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc (thuộc tỉnh Đồng Nai)
Ngày 02/06/1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 45/CP tách huyện Châu Thành thành 3 đơn vị hành chính là thị xã Bà Rịa, huyện Tân Thành và huyện Châu Đức
Ngày 09/12/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/2003-NĐ/CP chia huyện Long Đất thành huyện Long Điền và huyện Đất Đỏ
Ngày 02/05/2012, trung tâm hành chính - chính trị của tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu được chuyển từ thành phố Vũng Tàu về thị xã Bà Rịa Ngày 22/08/2012, Thủ
tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết Số 43/NQ-CP thành lập thành phố Bà Rịa
thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bà Rịa
Hiện nay, tỉnh có 8 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa và 6 huyện: Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức, Tân Thành và Côn Đảo
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, thuộc khu vực Đông Nam Bộ, gồm 2 phần đất liền và hải đảo, giáp thành phố Hồ Chí Minh ở phía Tây, giáp Đồng Nai ở phía Bắc, giáp Bình Thuận ở phía Đông, phía Tây và Tây Nam là biển Đông Nằm ở khu vực thềm lục địa phía Nam, với chiều dài bờ biển hơn 305,4 km, đặc biệt với trên 100.000 km2 thềm lục địa, Bà Rịa - Vũng Tàu đã và đang khai thác nhiều mỏ dầu và khí có trữ lượng lớn
Trong lịch sử phát triển của tỉnh, quá trình thăm dò dầu khí ở thềm lục địa phía Nam nói chung và Vũng Tàu nói riêng sớm được các nhà địa chất Pháp quan tâm Đáng kể nhất là tập “Bản đồ địa chất Đông Dương” tỷ lệ 1/2.000.000 của
Trang 31đủ cấu trúc địa chất của Đông Dương Trên cơ sở đánh giá chung về các địa tầng trầm tích, các đặc điểm cổ địa lý và kiến tạo ở Đông Dương, ngay vào giữa những năm 30 của thế XX, J.Fromaget đã có những nhận định rất khoa học, những căn cứ
về phân tích địa tầng trầm tích, môi trường thành tạo các trầm tích, hoạt động kiến tạo, dự đoán sự phát triển của các trầm tích để đưa ra các nhận định về triển vọng dầu khí ở Đông Dương
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, mỗi năm miền Nam nhập 2 triệu tấn dầu cho xe, máy thủy, trong đó khoảng một nửa để chạy các nhà máy điện Từ năm
1957 đến 1961, hàng năm phải chi từ 15,310 triệu đến 17,517 triệu USD để nhập dầu hỏa [66, tr.757-902]
Năm 1960, phong trào “Đồng khởi” lan rộng khắp miền Nam Do tình hình chính trị và an ninh không ổn định nên hoạt động điều tra địa chất ở miền Nam rất hạn chế Một số nhà địa chất người Pháp như E Saurin, H Fontaine và một số nhà địa chất Việt Nam như Tạ Trần Tấn, Nguyễn Lan Tú, Hoàng Thị Thân, Trần Kim Thạch… đã tiến hành chỉnh lý các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu mới về kiến tạo, cổ sinh, địa tầng, các suối nước nóng, đá vôi, than, cát chứa titan, sét… ở một
số vùng trên đất liền và một số hòn đảo nhất là trong khu vực thềm lục địa phía Nam Việt Nam Công trình đáng kể nhất là năm 1956 xuất bản “Từ điển Địa tầng Đông Dương” của E.Saurin, năm 1971 tái bản lần thứ ba “Bản đồ địa chất Đông Dương” tỷ lệ 1/2.000.000 do H.Fontaine hiệu chỉnh [12]
Năm 1968, chính quyền Sài Gòn đã tiến hành các cơ sở pháp lý cho toàn bộ chính sách dầu lửa như tuyên bố về thềm lục địa, luật dầu lửa, hợp đồng đặc nhượng, sắc luật thành lập các cơ quan dầu lửa, phân lô đấu thầu Đầu năm 1971,
Ủy ban quốc gia Dầu hỏa (sau này đổi tên thành Tổng cuộc Dầu hỏa và Khoáng sản) được thành lập, có nhiệm vụ là đại diện chính quyền làm việc với các công ty nước ngoài và xây dựng dần lực lượng chuyên môn, tập hợp được nhiều kỹ sư, chuyên viên trong nước và học nước ngoài về tham gia vào công tác tìm kiếm dầu
Trang 32Trong những năm 1968 - 1970, các Công ty nước ngoài ở miền Nam Việt Nam đã thực hiện thăm dò 34.000 km tuyến địa chấn khu vực trên thềm lục địa phía Nam.Kết quả đã xác định được 3 bể trầm tích chủ yếu là Saigon - Brunei (Bể Nam Côn Sơn), Mêkong (Bể Cửu Long) và vịnh Thái Lan (Bể Malay - Thổ Chu)đều có triển vọng chứa dầu
Dựa vào kết quả tổng hợp tài liệu khảo sát địa vật lý khu vực và khảo sát tỉ
mỉ, cuối năm 1974 đầu năm 1975, Việt Nam Cộng hòa đã tiến hành khoan một số giếng, trong đó có giếng Bạch Hổ-1X và Đại Hùng-1X trên thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay Giếng khoan Bạch Hổ-1X kết thúc ở độ sâu 3.062 m, là giếng khoan đầu tiên tìm thấy dầu khí có giá trị thương mại ở bể trầm tích Cửu Long Giếng khoan Đại Hùng-1X được khoan trên lô 05 với độ sâu dự kiến là 3.871m; nhưng chỉ kịp khoan tới độ sâu 1.819m thì phải dừng do miền Nam Việt Nam được giải phóng vào ngày 30/4/1975 [73, tr.145]
Kết quả trong quá trình tìm kiếm, thăm dò đã khẳng định sự tồn tại dầu khí của các bể trầm tích khu vực thềm lục địa phía Nam Tuy nhiên, do có nhiều công
ty dầu nước ngoài đấu thầu, việc minh giải tài liệu dựa trên các quan điểm khác nhau, cho nên mặc dù có một khối lượng tài liệu lớn nhưng cho đến năm 1975 vẫn chưa có một báo cáo tổng hợp chung cho toàn vùng, kể cả các vấn đề như giải thích địa chất cũng như đánh giá triển vọng dầu khí ở mức độ khác nhau
Sau khi giải phóng miền Nam, ngày 12/05/1975, một đoàn cán bộ liên ngành gồm 11 người đã được cử vào Sài Gòn tiếp thu những tài liệu dầu khí của các công
ty tư bản để lại tại trung tâm lưu trữ Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản Trong đống tài liệu ngổn ngang thu được, được sự hỗ trợ các cán bộ, kĩ sư làm việc ở Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản, đoàn công tác đã thu thập được những thông tin kĩ thuật rất quan trọng, những mẫu vật có cả mẫu dầu thô liên quan đến hoạt động dầu khí của các công ty tư bản trên thềm lục địa miền Nam Việt Nam
Trên cơ sở phân tích đánh giá của đoàn về triển vọng và tiềm năng dầu khí ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam, Công ty Dầu khí Nam Việt Nam thuộc Tổng
Trang 33cục Dầu Khí đã ra đời ngày 06/11/1975 có trụ sở tại Bến Bạch Đằng, thành phố Hồ Chí Minh với nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò dầu khí ở khu vực phía Nam Công ty
đã tiến hành đánh giá triển vọng dầu khí thềm lục địa phía Nam trên cơ sở các tài liệu thu được từ Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản Sài Gòn
Tháng 12/1975, Đoàn Dầu khí 21 được thành lập, đặt căn cứ tại Vũng Tàu với nhiệm vụ khảo sát, nghiên cứu cấu trúc địa chất trũng Cửu Long và vùng rìa kế cận Đến cuối năm 1977, Đoàn Dầu khí 21 đã hoàn thành báo cáo tổng kết làm sáng
tỏ về địa tầng, cấu trúc địa chất, địa chất thuỷ văn và đưa ra những nhận định, đề nghị cụ thể về triển vọng dầu khí của diện tích nghiên cứu Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa đủ để làm cơ sở, căn cứ đánh giá thực tiễn Trước tình hình
đó, Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã chủ trương ký hợp đồng với các đối tác nước ngoài, những công ty hàng đầu thế giới trong lĩnh vực dầu khí nhằm đẩy nhanh tốc
độ tìm kiếm, thăm dò
Năm 1976, Công ty Dầu khí Nam Việt Nam lần đầu tiên đã hợp đồng thuê công ty Địa vật lý CGG của Pháp đo 1.200km tuyến địa chấn khu vực ở Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển Minh Hải - Thuận Hải và cấu tạo Bạch Hổ Các tài liệu này cho phép khép kín ranh giới Tây Nam của vùng trũng Cửu Long ở khu vực cửa sông Hậu - sông Tiền, phát hiện bồn Vĩnh Châu, phác họa những nét cấu trúc chính của đồng bằng sông Cửu Long và của cấu tạo Bạch Hổ
Do yêu cầu thực tiễn, mọi hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa phía Nam đều xuất phát từ Vũng Tàu, nên Công ty Dầu khí Nam Việt Nam chuyển từ thành phố Hồ Chí Minh xuống Vũng Tàu
Ngày 28/08/1978, Công ty Dầu khí II được tách ra từ Công ty Dầu khí Nam Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ thăm dò, khai thác dầu khí ở thềm lục địa vùng trũng Cửu Long Dựa trên đánh giá tổng quan về triển vọng dầu khí, Công ty Dầu khí II đã thuê Công ty Geco của Nauy đo gần 19.000 km tuyến địa chấn chủ yếu trên khu vực thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu Đây là những tài liệu chi tiết ban đầu
Trang 34dựng các chương trình dài hạn khoan thăm dò dầu khí vào các năm tiếp theo, trong
đó có cả Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro sau này
Trong những năm 1978 - 1980, Tổng cục Dầu khí Việt Nam còn kí hợp đồng chia sản phẩm với 3 công ty dầu khí nước ngoài là: Bow Valley (Canada), Deminex (Cộng hòa Liên bang Đức), Agip (Italia) Các công ty này đã khoan 16 giếng, trong
đó có nhiều giếng thuộc khu vực thềm lục địa Bà Rịa - Vũng Tàu ngày nay Kết quả
là Công ty Deminex (Cộng hòa Liên bang Đức) đã có một phát hiện dầu ở bồn trũng Cửu Long và Công ty Agrip (Italia) đã phát hiện ra ba vỉa khí ở bồn trũng Nam Côn Sơn Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà cơ bản nhất là do Việt Nam bị bao vây, cấm vận nên các công ty trên đã rút khỏi Việt Nam vào cuối năm 1980
Thực tế làm việc với các công ty nước ngoài giai đoạn này đã từng bước rèn luyện đào tạo đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật của Công ty Dầu khí II trưởng thành trong công tác thực địa và công tác xử lý phân tích, tổng hợp các tài liệu thu được Một trong những thành tựu quý báu là công trình báo cáo kết quả 5 năm tìm kiếm, thăm dò dầu khí thềm lục địa 1976 - 1980 của tập thể tác giả phòng kỹ thuật thực hiện: “Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa phía Nam Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, do Ngô Thường San, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Đăng Liệu chủ biên
Vừa hợp tác quốc tế đa phương vừa hợp tác với Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết, từ năm 1979, Tổng cục Dầu khí Việt Nam đã giao cho Công ty Dầu khí II chuẩn bị tài liệu địa chất, địa vật lý thềm lục địa phía Nam và sử dụng đội ngũ cán bộ kỹ thuật để cùng các chuyên viên Liên Xô nghiên cứu hoạch định hướng đi mới: thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro nhằm hợp tác với Liên Xô trong công tác thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Vũng Tàu - Côn Đảo
Trang 351.3 Hợp tác Việt Nam - Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí và sự ra đời của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro
Việt Nam và Liên Xô đã có quan hệ hợp tác và hữu nghị truyền thống từ lâu đời trên rất nhiều lĩnh vực nhất là trên lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí Khi Việt Nam mới bắt tay vào công cuộc khôi phục đất nước sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, Đảng và Chính phủ đã có những chỉ đạo kịp thời, đúng đắn về công tác thăm dò và khai thác dầu khí phục vụ cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc cũng như cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam lúc bấy giờ Song do hạn chế về nhiều mặt, nhất là do trình độ thấp về mặt kĩ thuật trong khi lực lượng kỹ sư công nhân có trình độ và kinh nghiệm rất ít ỏi, nên kết quả thu được trong giai đoạn đầu hết sức hạn chế Trong khi đó, đất nước Việt Nam có dầu khí lại là khát vọng của toàn Đảng, toàn dân Chính hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam những ngày đầu phát triển công nghiệp Dầu khí đã làm sáng rõ tình cảm anh em vô sản giữa Việt Nam và Liên Xô
Từ năm 1958, Chính phủ đã quyết định mời Liên Xô giúp đỡ khảo sát và đánh giá triển vọng dầu khí ở Việt Nam Khoảng cuối năm 1958, chuyên gia N.K.Griaznov của Viện Nghiên cứu khoa học địa chất thăm dò dầu mỏ toàn Liên bang đã sang giúp Việt Nam lập kế hoạch thăm dò dầu khí
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu của Sở Địa chất Đông Dương, cùng với một số kỹ sư Việt Nam, chuyên gia N.K.Griaznov tiến hành khảo sát thực địa tập trung chủ yếu ở vùng Núi Lịch, tỉnh Yên Bái; vùng bản Nậm Ún, thung lũng bản Sài Lương, tỉnh Sơn La; đá dầu Đồng Ho, Quảng Yên… Kết quả là đã hoàn thành báo cáo: “Địa chất và triển vọng dầu khí ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1959 - 1961)” [73, tr.29-30] Đây là công trình có tính chất tổng hợp đầu tiên về triển vọng dầu khí ở miền Bắc Việt Nam
Bằng những nỗ lực ban đầu, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại lập nên “Bản đồ phân vùng triển vọng dầu khí Việt
Trang 36địa chất, cột địa tầng đặc trưng cho từng vùng, bản đồ phân vùng kiến tạo địa chất
và đặc biệt là bản đồ phân vùng triển vọng dầu khí nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tỷ lệ 1/500.000 So với bản đồ địa chất của Sở Địa chất Đông Dương trước đây, bản đồ này hơn hẳn về mức độ chi tiết, tính nhất quán và có nhiều phát hiện mới Điều đó cũng đặt viên gạch quan trọng cho quá trình hợp tác lâu dài giữa Việt Nam với Liên Xô trong lĩnh vực dầu khí
Năm 1975, cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thu được thắng lợi trọn vẹn, Việt Nam ý thức sâu sắc rằng, để đạt được thắng lợi to lớn
ấy, ngoài sự nỗ lực, hy sinh của toàn thể dân tộc còn có sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Liên Xô có đóng góp hết sức quan trọng Kể từ đây, quan hệ Việt - Xô bước sang một trang mới Trong bối cảnh mới, Việt Nam và Liên Xô vẫn tiếp tục củng cố và phát triển sự hợp tác song phương Hai bên thường xuyên có các cuộc gặp cấp cao nhằm tăng cường quan hệ chính trị và hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Liên Xô vào tháng
10/1975, hai nước đã khẳng định: “Cuộc đi thăm này mở ra một giai đoạn quan trọng trên con đường tiếp tục củng cố và phát triển toàn diện những mối quan hệ anh em” [9, tr.450]
Ngày 03/11/1978, Việt Nam và Liên Xô đã kí “Hiệp ước hữu nghị và hợp tác” tại Mátxcơva Thông qua bản hiệp ước, hai bên khẳng định sẽ tăng cường hợp tác toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật
Vào những năm cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Liên Xô đã có những bước tiến dài về kỹ thuật và công nghệ thăm dò dầu khí biển Liên Xô đã tiến hành thăm
dò dầu khí ở độ sâu trên 100 m ngoài biển Ban Tích và vùng biển Xakhalin Trong khi, đầu những năm 1980, do những tàn tích của hơn 30 năm chiến tranh cũng như việc kéo dài mô hình kinh tế kế hoạch hóa đã làm tình hình trong nước hết sức khó khăn, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng Bên cạnh đó, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam và xung đột ở biên giới phía Bắc đã gây tác động xấu đến tình hình đất nước Trong điều kiện ngành dầu khí nước ta không chỉ thiếu
Trang 37công nghệ, kĩ thuật mà còn thiếu cả vốn, nhân lực có trình độ cao về khả năng quản
lý, thì vấn đề tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với bên ngoài, đặc biệt là Liên Xô, để tranh thủ các yếu tố trên là tất yếu
Năm 1979, một đoàn cán bộ cấp cao của Việt Nam đã đi thăm và làm việc tại Liên Xô để bàn về hợp tác dầu khí toàn diện cả trên đất liền và thềm lục địa Đoàn
đã bàn với phía Liên Xô lịch trình cụ thể, số lượng chuyên gia sang giúp Việt Nam nghiên cứu tài liệu và xem xét tình hình cụ thể về dầu khí trong phạm vi cả nước
Căn cứ vào các kết quả đã đạt được, ngày 01/12/1979, trên cơ sở báo cáo của Tổng cục Dầu khí Việt Nam, Bộ Chính trị đã họp và ra thông báo về hướng hợp tác
với Liên Xô trên lĩnh vực dầu khí: “Hợp tác với Liên Xô, có sự tham gia của một số nước trong Hội đồng Tương trợ kinh tế là rất cần thiết để xây dựng công nghiệp Dầu khí hoàn chỉnh và vững chắc, giúp ta tiến tới tự lực từ quản lý đến các mặt kỹ thuật” [54, tr.509-510]
Ngày 17/12/1979, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã gửi thư cho Tổng Bí thư L.I.Brêgiơnev đề nghị Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô giúp xây dựng công nghiệp Dầu khí Việt Nam và việc hợp tác giữa hai nước trong khai thác dầu khí ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam Đây là đề nghị chính thức cấp cao nhất của Việt Nam về hợp tác toàn diện Việt - Xô trong lĩnh vực dầu khí
Ngày 04/03/1980, Tổng Bí thư L.I.Brêgiơnev đã trả lời thư của Tổng Bí thư
Lê Duẩn, khẳng định: “Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng hàng đầu của việc khai thác mỏ dầu khí đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Liên Xô cho rằng trong năm nay, các tổ chức của Liên Xô cần nghiên cứu xác định căn cứ kinh
tế - kỹ thuật khai thác dầu khí ở thềm lục địa miền Nam Việt Nam và lập chương trình phối hợp tiến hành các công tác thăm dò địa vật lý và địa chất công trình ở khu vực này trong những năm 1981 - 1985” [73, tr.191] Phía Liên Xô cũng đồng ý
cử các chuyên gia Liên Xô sang công tác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là cố vấn
Trang 38Trong quá trình nghiên cứu, đoàn chuyên viên Liên Xô đã đánh giá về tiềm năng dầu khí của Việt Nam có thể khai thác được ở cả 3 khu vực: Vùng trũng Cửu Long, vịnh Thái Lan, vùng trũng Saigon - Sarawark là 3,6 tỷ tấn dầu và 2.700 tỷm3
khí Trữ lượng có thể khai thác được của vùng trũng Cửu Long là 1 tỷ 178 triệu tấn dầu và 3 tỷ m3 khí Riêng trữ lượng có thể khai thác được của 2 cấu tạo “Rồng” và
“Bạch Hổ” là 435 triệu tấn [73, tr.192]
Ngày 23/04/1980, Tổng cục Dầu khí đã có Văn bản số 18-DK/KTĐN báo cáo Thủ tướng Chính phủ về ý kiến trao đổi giữa Thứ trưởng thứ nhất Bộ Công nghiệp Khí Liên Xô Iu.V.Zaisev với Bộ trưởng phụ trách công tác dầu khí Đinh
Đức Thiện: “Hợp tác Việt Nam - Liên Xô với hình thức hợp doanh 50% mỗi bên, phía Liên Xô cho Việt Nam vay phần đóng góp vốn của mình Mở rộng hợp tác ra ngoài 2 lô 09 và 16, cụ thể là làm địa vật lý toàn bộ thềm lục địa miền Nam Việt Nam và triển khai sang lô 15 nếu Việt Nam lấy lại của Công ty Deminex” [73,
tr.193]
Ngày 03/07/1980, Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết về việc hợp tác thăm dò địa chất ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được kí kết
Phần mở đầu của Hiệp định viết:
“Xuất phát từ quan hệ hữu nghị anh em và giúp đỡ lẫn nhau sẵn có giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô, xuất phát từ các nguyên tắc của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết ký ngày 3/11/1978
Với lòng mong muốn phát triển hơn nữa sự hợp tác kinh tế - kỹ thuật giữa Việt Nam và Liên Xô, phù hợp với các nguyên tắc ghi trong chương trình tổng hợp
về tăng cường và hoàn thiện hơn nữa sự hợp tác và phát triển sự liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa giữa các nước thành viên Hội đồng Tương trợ kinh tế
Thể theo yêu cầu của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 39Đã thỏa thuận những điều dưới đây” [74, tr.194-195]
Hiệp định ngày 03/07/1980 có những nội dung cơ bản sau:
- Xác định căn cứ pháp lý cho việc thành lập Vietsovpetro: “Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết sẽ thành lập trên cơ sở ngang nhau một xí nghiệp liên doanh về thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại những vùng do bên Việt Nam xác định với sự tham gia của các tổ chức Liên Xô”
Nội dung này chính là tiền đề có tính nguyên tắc cho Hiệp định ngày 19/06/1981 với việc thành lập Vietsovpetro trên tinh thần hữu nghị và hoàn toàn bình đẳng ngang nhau về trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi kinh tế
- Xác định cụ thể phần việc và trách nhiệm mà hai phía phải thực hiện để xây dựng căn cứ thực tiễn và cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết ban đầu cho sự ra đời của Vietsovpetro
- Đặt cơ sở pháp lý cho việc kí kết một hiệp định tiếp theo để cụ thể hóa các vấn đề pháp lý - tài chính, thương mại và các vấn đề khác có liên quan đến việc thành lập và hoạt động của Vietsovpetro [85, tr.45-46]
Hiệp định ngày 03/07/1980 thể hiện đầy đủ các nguyên tắc cơ bản như là hiệp định khung mở đường cho một hiệp định cụ thể tiếp theo để triển khai công việc thăm dò địa chất và khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trên cơ sở Hiệp định này những công việc chuẩn bị cho việc kí kết một hiệp định tiếp theo trong việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã được hai phía Việt Nam và Liên Xô xúc tiến
Trong những năm 1979 - 1981, Tổng cục Dầu khí biển thuộc Bộ Công nghiệp khí Liên Xô đã thực hiện một khối lượng lớn công tác nghiên cứu địa chấn
Trang 40đã hoàn thành bản báo cáo với một nhận định hết sức khả quan về trữ lượng dầu khí
ở Việt Nam Đây là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng nhất, là yếu tố bảo đảm chắc chắn cho việc kí kết hiệp định chính thức thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro
Trong quá trình đi đến kí kết hiệp định chính thức thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro, một vấn đề được đặt ra là việc lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và đem lại hiệu quả nhất Thực hiện hình thức hợp tác “phân chia sản phẩm”, nhà thầu tự đầu tư, hoàn toàn chịu mọi rủi ro như đã
áp dụng đối với các nhà thầu tư bản trước đây, đối với hai phía đều có nhiều khó khăn, bất lợi Và điều quan trọng là, dựa trên hình thức này, Việt Nam không bao giờ tự xây dựng được cơ sở vật chất kĩ thuật cho ngành Dầu khí hiện đại và không thể nhanh chóng đào tạo được đội ngũ đông đảo những cán bộ, công nhân dầu khí
có trình độ chuyên môn cao
Như vậy, hình thức xí nghiệp liên doanh được quyết định như một sự lựa chọn phù hợp nhất trên cơ sở nguyên tắc pháp lý ngang nhau Thực tiễn xây dựng
và phát triển của Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro đã khẳng định tính đúng đắn
và hiệu quả cao của hình thức xí nghiệp liên doanh, cũng như khẳng định quyết tâm
và chủ trương của hai Đảng, hai Nhà nước trong lĩnh vực hợp tác tiến hành tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí là sáng suốt và đúng đắn
Ngày 19/06/1981, Hiệp định liên Chính phủ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết về việc thành lập Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro để tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí ở thềm lục địa phía Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được hai bên chính thức kí kết Với những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, thành lập trên lãnh thổ Việt Nam một xí nghiệp liên doanh trên
nguyên tắc ngang nhau để tiến hành thăm dò, khai thác dầu, khí ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam tại vùng do Việt Nam xác định với sự tham gia của các tổ chức Liên
Xô