Phương thức biểu đạt là đơn vị ngôn ngữ được ngôn ngữ học nói chung, ngữ pháp học nói riêng quan tâm nghiên cứu từ rất sớm bao gồm tất cả các ngôn ngữ của các quốc gia.Trong các phương t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ KIM NHI
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA TƯƠNG LAI
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 602201
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9/2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ KIM NHI
CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA TƯƠNG LAI
TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 602201
Người hướng dẫn khoa học Người thực hiện
TS Nguyễn Hoàng Trung Hồ Kim Nhi
Tp Hồ Chí Minh, tháng 9/2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Trung vì những gì tôi đã được kế thừa và vì Thầy đã dành nhiều thời gian và công sức dìu dắt tôi từ những ngày đầu khó khăn cũng như đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Thạc sĩ
Tôi xin cảm ơn toàn thể các thầy cô Bộ môn Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, những người thầy đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu để tôi có thể thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin được cảm ơn Phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả người thân trong gia đình
và bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi về nhiều mặt trong suốt thời gian qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Hồ Kim Nhi
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
2.1 Các quan điểm nghiên cứu thì trong tiếng Việt 12
2.1.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt tồn tại phạm trù thì 13
2.1.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không tồn tại phạm trù thì 14
2.2 Các quan điểm nghiên cứu thì trong tiếng Anh 16
2.2.1 Chỉ xuất thời gian 16
2.2.2 Thì 17
3 Mục tiêu nghiên cứu 19
4 Đối tượng và ngữ liệu nghiên cứu 19
5 Phương pháp nghiên cứu 20
6 Bố cục luận văn 21
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 22
1.1 Ý nghĩa tương lai trong Ngôn ngữ học 22
1.1.1 Ý nghĩa tương lai 22
1.1.2 Ý nghĩa tương lai - Một hiện tượng có tính loại hình học 23
1.1.3 Ngữ nghĩa của thời gian tương lai 24
1.2 Khái niệm về thì tương lai trong Ngôn ngữ học 25
1.3 Khái niệm về thì tương lai trong tiếng Anh………29
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA TƯƠNG LAI TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 35
2.1 Năm phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai bằng phương tiện hình thái trong tiếng Anh 35
2.1.1 Phương thức sử dụng Will/shall + infinitive 36
2.1.2 Phương thức sử dụng Be going to (tương lai gần) 39
2.1.3 Phương thức sử dụng Be + V-ing (hiện tại tiếp diễn) 43
Trang 52.1.4 Phương thức sử dụng thì hiện tại đơn - The simple present tense 48
2.1.5 Phương thức dùng Will/shall + progressive infinitive (nguyên thể tiếp diễn) 54
2.1.6 Quan hệ giữa vị từ với các thành tố mang ý nghĩa thời gian trong việc biểu đạt ý nghĩa tương lai 57
2.2 Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong Tiếng Việt 58
2.2.1 Trạng ngữ hay khung thời gian 59
2.2.2 „„Sẽ‟‟ và ý nghĩa tương lai 60
2.2.2.1 „„Sẽ‟'- Phương tiện biểu thị ý định/dự định 63
2.2.2.2 „„Sẽ‟‟- Phương tiện biểu thị sự dự báo/dự phóng 64
2.2.3 Các phương tiện khác 65
2.2.3.1 Phó từ chỉ mức độ 'thật'' 65
2.2.3.2 Trật tự từ 66
2.2.3 Ý nghĩa của “Sẽ” và “Sắp” 64
CHƯƠNG III: NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA TƯƠNG LAI GIỮA TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 71
3.1 Cơ sở so sánh 71
3.2 Cách thức thực hiện 71
3.3 Khảo sát trên một số văn bản cụ thể 76
3.4 Những điểm tương đồng và dị biệt của các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt……… 98
PHẦN KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Phụ lục 1: Bảng thống kê các từ chỉ ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh qua bảng dịch tiếng Việt 107
Phụ lục 2: Bảng thống kê các từ chỉ ý nghĩa tương lai trong tiếng Việt qua bảng dịch tiếng Anh (Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ) 109
Phụ lục 3: Bảng thống kê các từ chỉ ý nghĩa tương lai trong tiếng Việt qua bảng dịch tiếng Anh (Bài báo) 110
Phụ lục 4,5: Bài báo 111
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình: Thời gian hồi quan và thời gian vọng tiền 18
Hình: Các ngôn ngữ có biến tố đánh dấu ý nghĩa tương lai 26
Hình: Các ngôn ngữ có biến tố đánh dấu ý nghĩa quá khứ 27
Hình: Thời gian quy chiếu 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo sát văn bản 1 78
Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo sát văn bản 2 80
Biểu đồ 3.3: Kết quả khảo sát văn bản 3 82
Biểu đồ 3.4: Kết quả khảo sát văn bản 4 84
Biểu đồ 3.5: Kết quả tổng hợp 4 văn bản 86
Biểu đồ 3.6: Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ 90
Biểu đồ 3.7: Kết quả khảo sát phim Việt Nam… 92
Biểu đồ 3.8: Kết quả khảo sát sinh viên Việt nam 94
Biểu đồ 3.9: Tổng hợp 2 bài báo 95
Trang 7Hiển nhiên rằng để có một nền kinh tế vững chắc giữa các quốc gia, ngôn ngữ giữ một vai trò rất quan trọng Với một ngôn ngữ chung con người có thể xích lại gần nhau, cùng nhau bàn bạc, thống nhất, giúp đỡ tương trợ trong sự hiểu biết và thông cảm Ngôn ngữ càng phát triển, sự giao tiếp càng mở rộng thì các yếu tố biểu đạt thời gian được sử dụng càng nhiều, càng đa dạng Biết diễn đạt đúng những yếu
tố thời gian là một trong những yêu cầu trong chuẩn mực ngôn ngữ, vốn là vấn đề đang được đặt ra đối với tiếng Anh và tiếng Việt hiện nay Phương thức biểu đạt là đơn vị ngôn ngữ được ngôn ngữ học nói chung, ngữ pháp học nói riêng quan tâm nghiên cứu từ rất sớm bao gồm tất cả các ngôn ngữ của các quốc gia.Trong các phương thức biểu đạt, những yếu tố biểu thị ý nghĩa thời gian, tương lai xuất hiện rất phổ biến trong câu nói hàng ngày của người Anh và người Việt Thông qua đó, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học có thể thấy đặc điểm tri nhận, đặc điểm tâm lý của hai dân tộc Việt Nam và Anh
Thời gian trong ngôn ngữ là một phổ niệm, nhưng phương thức biểu thị thời gian lại mang tính đặc thù của từng ngôn ngữ Có những ngôn ngữ biểu thị bằng các phương tiện từ vựng (hệ thống từ chức năng, trật tự các thành tố trong câu, v.v.), cụ thể là tiếng Việt, cũng có ngôn ngữ biểu thị bằng các phương tiện hình thái học thông qua hệ thống các hình vị ngữ pháp, trong đó có tiếng Anh Những ngôn ngữ ở
nhóm đầu được gọi những ngôn ngữ không có thì (tensedless languages), còn nhóm thứ hai là những ngôn ngữ có thì (tensed languages) Tiếng Việt có thể nói là thuộc nhóm thứ nhất, còn tiếng Anh thuộc nhóm thứ hai Tuy nhiên, phạm trù thì trong
Trang 8nội bộ từng ngôn ngữ có những biểu hiện cũng như được đánh dấu hoàn toàn khác nhau Trong tiếng Anh, chỉ có quan hệ định vị sự tình trước thời gian phát ngôn được đánh dấu, hay nói cách khác chỉ có ý nghĩa quá khứ được biểu thị bằng
phương tiện hình thái học, mà cụ thể là dùng hậu tố biến hình từ -ed Trong khi đó,
ý nghĩa hiện tại và đặc biệt là ý nghĩa tương lai đều không được đánh dấu, thay vào
đó là những phương tiện nằm ngoài cấu trúc vị từ như vị từ tình thái, kết cấu phân tích tính, v.v Sự không đồng nhất này trong tiếng Anh khiến người Việt học ngôn ngữ này gặp không ít khó khăn trong việc biểu thị ý nghĩa thời gian, đặc biệt là ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh Sự khó khăn nằm ở chỗ: nếu xét trên phương diện
đánh dấu hình thái học, tiếng Anh chỉ có hệ thống lưỡng phân thì: thì quá khứ và thì
phi quá khứ, còn theo truyền thống, tiếng Anh có ba thì ứng với hiện tại, quá khứ,
và tương lai
Như chúng ta đã học, Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn có chức năng liên kết chặt chẽ với chính cách thức mà trong đó con người suy nghĩ và hiểu về thế giới, vì ở mỗi người đều có sự liên kết giữa tư duy và ngôn ngữ Từ khuynh hướng nghiên cứu này, phương thức biểu đạt không chỉ được coi là đơn vị cấu trúc mà còn là đơn vị của ngôn ngữ được con người trực tiếp sử dụng làm phương tiện giao tiếp hàng ngày Nói cách khác, phương thức biểu đạt không phải
là hình thức trừu tượng mà gắn với tình huống ngữ cảnh cụ thể, đó là câu- phát ngôn Ở đây, câu được xem xét đồng thời trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học- dụng học Bình diện kết học chủ yếu xem xét cấu trúc cú pháp của câu với nhiệm vụ trung tâm là xác định các chức năng cú pháp trong câu
Việc tìm hiểu và trao đổi về ngôn ngữ và văn hóa Anh là một nhu cầu ngày một tăng không chỉ đối với những người Việt mà còn dành cho tất cả mọi người trên toàn thế giới Số lượng các đơn vị biểu thị ý nghĩa tương lai khá lớn và cách biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh cũng rất đa dạng Vì vậy, người Anh cũng như người Việt học và nghiên cứu ngôn ngữ tiếng Anh cần có sự hiểu biết về các phương thức biểu thị ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh, đây là một yêu cầu không thể thiếu trong việc bồi dưỡng năng lực giao tiếp của người nói, đặc biệt là
Trang 9những người học tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam trong tương lai gần Hiện nay, quan hệ tiếp xúc, giao lưu văn hoá, ngôn ngữ giữa hai đất nước Việt Nam và Vương Quốc Anh ngày càng phát triển tốt Việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của nhau cũng góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày càng thắt chặt hơn nữa
Làm rõ bình diện này trong tiếng Anh và xác lập cách tiếp cận trong việc giảng dạy hiệu quả hơn ý nghĩa thời gian tương lai cho người Việt Nam học trên
cơ sở đối sánh các phương thức biểu thị ý nghĩa tương lai trong hai ngôn ngữ là lý
do chúng tôi lựa chọn đề tài “Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong
tiếng Anh và tiếng Việt” cho luận văn cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học So
sánh-Đối chiếu.Việc hệ thống, khảo sát và mô tả các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai sẽ góp phần không nhỏ vào việc xác định và xây dựng những phương pháp hữu ích cho việc giảng dạy, học tập cũng như nghiên cứu hai ngôn ngữ này
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu về phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai có thể nói là được bắt đầu khá sớm.Vấn đề về ý nghĩa biểu đạt trong tương lai đã được làm rõ bởi C.J Fillmore, khoảng trước sau 1970, C.J Fillmore viết một loạt bài trong đó nổi tiếng nhất là bài mang tên “The case for case” (Tác dụng của cách) được công bố năm
1968 Trong bài viết của mình, Fillmore chủ trương rằng có thể xác định một tập hợp các mối quan hệ giữa một vị từ và các tham tố (arguments) của nó để xác định phương thức biểu đạt thời gian của câu Fillmore làm rõ thuật ngữ cách như sau:
“ Đó là những quan hệ ngữ nghĩa- cú pháp ngầm, được giả định tạo nên một tập hợp hoàn chỉnh, tồn tại ngầm đối với những ngôn ngữ có vĩ tố, và dạng thức cách của các mối quan hệ cách vẫn là sự biểu đạt trong ngôn ngữ có thể thực hiện được nhờ những phụ tố, hoặc nhờ các giới từ, hoặc với các cách khác”
Một đại diện khác là M A.K Halliday (1994) đã dựa vào mục tiêu chính của ngữ pháp chức năng là giải thích ngôn ngữ dựa trên cái mà con người hành xử với
sự hỗ trợ chính của ngôn ngữ, nghĩa là con người sử dụng ngôn ngữ như thế nào để biểu đạt ý nghĩa giao tiếp trong cuộc sống đời thường hàng ngày Ngữ pháp chức
Trang 10năng hệ thống cố gắng đạt được mục tiêu này bằng cách chấp nhận một số định hướng mang tính ngữ nghĩa tương lai và ngữ dụng cao hơn trong ngữ pháp đơn thuần, tức là coi nghĩa học và dụng học như những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tổ chức của ngữ pháp để biểu đạt ý nghĩa của câu Halliday xử lí vấn đề hệ thống tổ chức của ngữ pháp này bằng cách khẳng định rằng ngữ pháp của các ngôn ngữ sẵn có trên thế giới đều được tổ chức nhằm biểu đạt ý nghĩa trong cùng một câu
Sau thế kỷ 19, một số nhà truyền giáo châu Âu bắt đầu nghiên cứu về ngữ pháp của tiếng Anh và tiếng Việt có sự khác biệt như thế nào Các sách ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt này cũng có nghiên cứu về thời gian nhưng những người truyền giáo viết theo tiếng châu Âu (tiếng Pháp) nên không thể nói được chính xác
về thời gian được biểu hiện như thế nào trong tiếng Anh Ngữ pháp cổ điển châu Âu chia thời gian thành quá khứ, hiện tại và tương lai và tương ứng là ba thì: thì quá khứ, thì hiện tại và thì tương lai Việc diễn đạt thời gian bằng phạm trù “thì “ trong các ngôn ngữ châu Âu là một điều hiển nhiên và các ý nghĩa thời gian được ngữ pháp hóa (grammaticalized) thành những qui tắc hình thái học bắt buộc Thì được xem là những phạm trù ngữ pháp gắn liền với động từ, biểu hiện mối quan hệ thời gian của các hành động, biến cố hay trạng thái của các sự kiện được nói tới
Theo các nhà ngữ pháp học truyền thống, Thì (tense) dịch từ tiếng Latinh
“tempus” là một phạm trù liên quan tới các mối quan hệ thời gian trong chừng mực chúng được diễn đạt bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của động từ Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hi Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ - hiện tại – tương lai Người ta thường giả định rằng sự đối lập 3 vế
về thì này là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ.” [Phạm Quang Trường 2008 Phạm trù thì thể và các phương thức biểu đạt thì, thể trong hai ngôn ngữ Pháp – Việt [T/c Đại học Ngoại ngữ ĐHQG HN]
Guillaume [1929] đã phân biệt thì thành thì bao hàm và thì hiện lộ Thì bao hàm là thì gắn liền với động từ ở chính trong động từ Thì hiện lộ là thì mà phát ngôn gắn cho nó dưới dạng quá khứ, hiện tại hoặc tương lai
Trang 11Benvenniste [1966] cho rằng “tính thời gian là một cái khung vốn sẵn có trong
tư duy Nó được tạo ra trên thực tế trong quá trình phát ngôn Từ sự phát ngôn mà khởi nguồn phạm trù hiện tại và từ phạm trù hiện tại mà đẻ ra phạm trù thì” [dẫn theo Diệp Quang Ban 2005 Một hướng tiếp cận các yếu tố chỉ “tính thời gian” của tiếng Việt Viện KHXHVN Tr.333-342]
Comrie [1985] cho rằng “thì là biểu thị thời gian của sự tình trong đối chiếu
với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phát ngôn.” [Comrie Berrnad 1985
Tens Cambridge University Press Tr.2] Ngoài ra, ông còn phân biệt thì tuyệt đối với thì tương đối Theo đó, thì tuyệt đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của tình huống với thời điểm phát ngôn Thì tương đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của
tình huống với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói Nói cách khác, Thì là
cách định vị sự tình trong thời gian được ngữ pháp hóa
Frawley [1992] cho rằng cách biểu đạt ý nghĩa thì trong ngôn ngữ là biểu đạt trực chỉ (lấy tình huống phát ngôn có thời điểm hiện tại làm căn cứ) Thì thực hiện việc định vị một sự tình so với một thời điểm quy chiếu được coi là cố định trong thời gian rồi nêu rõ mối quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một cái hướng và một khoảng cách nào đó [Trần Kim Phượng
2004 Thì thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt Luận án tiến sĩ Ngữ văn Hà Nội Tr.14]
Điểm qua các quan niệm về thì nêu trên, có thể nói Thì là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn Thì biểu hiện
mối quan hệ của hành động với thời điểm nói hoặc một thời điểm khác nào đó xét dưới góc độ xảy ra trước, đồng thời hay tiếp sau thời điểm đó, gọi là: quá khứ –
hiện tại – tương lai Thì là cách xác định ngữ pháp hóa, vị trí của một sự việc trong thời gian Theo cách hiểu này, Thì là một phạm trù ngữ pháp có tính bắt buộc Phạm trù ngữ pháp Thì đựợc thể hiện ở các dạng thức ngữ pháp bắt buộc, đối lập (có các ý
nghĩa ngữ pháp đối lập) thường thấy ở các ngôn ngữ biến hình
Trong các ngôn ngữ biến hình, dù ý nghĩa thời gian có cụ thể, hiển nhiên đến mức nào đi chăng nữa thì động từ vẫn bắt buộc phải chia theo quy tắc thì nhất định
Trang 12Điều này khẳng định rằng, trong các ngôn ngữ Ấn – Âu, Thì là phạm trù ngữ pháp
của động từ, biểu hiện quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói Khi thì biểu đạt quan hệ giữa hành
động và thời điểm phát ngôn, ta gọi đó là thì tuyệt đối Còn khi thì biểu hiện quan
hệ giữa hành động với một thời điểm nhất định trong lời nói, ta gọi đó là thì tương
đối [Vũ Thúy Nga 2014 Phạm trù thì trong tiếng Nhật (có so sánh với tiếng Việt
và các ngôn ngữ khác) T/c Ngôn ngữ và đời sống Số 3 (221) tr 60]
Trong tiếng Việt, vấn đề „thì‟ hiện chưa được giải quyết một cách thống nhất
Có quan điểm cho rằng tiếng Việt có phạm trù thì và cũng có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có phạm trù „thì‟ Vậy để làm rõ những quan điểm trên được thể hiện như:
2.1 Các quan điểm nghiên cứu thì trong tiếng Việt
Thời gian là sự biểu hiện quá trình tồn tại và diễn biến của hành động, tính chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng trong một không gian nhất định Mỗi hành
động, tính chất và trạng thái đều mang tính quá trình Khảo sát thì tức là khảo sát
quá trình ấy Trong tiếng Việt, ý kiến về thì (thời) còn những quan điểm khác nhau:
Tác giả Cao Xuân Hạo đã khẳng định “thời gian chỉ là thời điểm của trạng
thái hay hoạt động do động từ biểu thị” Động từ, tính từ - hay gọi chung là vị từ -
khi đảm nhận chức năng thông báo nội dung của sự thể đều bao hàm nghĩa thời gian, tức là phải đặt trong một ngữ cảnh, một “khung” nhất định
Tương tự, khi khảo sát về phạm trù thời gian tiếng Việt, tác giả Đỗ Hữu
Châu nhấn mạnh “phạm trù thì là phạm trù ngữ pháp của động từ, thể hiện quan hệ
của hoạt động mà nó biểu thị, so với thời điểm nói” Thời điểm nói mà tác giả đề
cập là mốc thời gian để xác định miền thời gian cho mọi hoạt động, trạng thái và tính chất Mỗi một miền như vậy tương đương với một thì Hoạt động, trạng thái, tính chất xảy ra trước thời điểm nói thì thuộc thì quá khứ Hoạt động, trạng thái, tính chất tồn tại ở ngay thời điểm nói gọi là thì hiện tại Còn hoạt động, trạng thái, tính chất diễn biến sau thời điểm nói thì đó là thì tương lai
Trang 13Việc chia các miền thời gian là việc làm phổ biến của tất cả các ngôn ngữ chứ không chỉ đối với tiếng Việt Tiếng Việt, một ngôn ngữ không có hình thức ngữ pháp của động từ thì việc chia miền và xác định tiêu điểm, thời điểm nói là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng Tác giả Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh “phạm trù thì là phạm trù ngữ pháp của động từ, thể hiện quan hệ của hoạt động mà nó biểu thị, so với thời điểm nói.”
2.1.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt tồn tại phạm trù thì
Các tác giả theo quan điểm này cho rằng tiếng Việt có 3 thì: quá khứ, hiện tại,
tương lai
Nhà nghiên cứu Alexandre De Rhodes (1651) có lẽ là người đầu tiên nói đến
vấn đề ngữ pháp thời gian trong tiếng Việt Ông cho rằng tiếng Việt có ba thì (quá khứ, hiện tại, tương lai) Thì được nhận biết bằng cách thêm vào một vài phụ từ Thì
hiện tại không cần thiết thêm phụ từ nào, nhưng đôi khi cũng có, ví dụ như: “Tôi có việc bây giờ” Quá khứ thì chia ba thì như thì quá khứ chưa hoàn thành, thì quá khứ
hoàn thành (được biểu hiện bằng đã, đã về, đã nói v.v…) và thì tiền quá khứ Thì
tương lai được biểu thị bằng “tiểu từ” sẽ
Nhà nghiên cứu Trương Vĩnh Ký trong “Ngữ pháp tiếng Việt (1883)” cũng cho rằng thời gian trong tiếng Việt được biểu thị bằng các hư từ (đã, đang, sẽ) Tiếng Việt dùng hư từ đã (thì quá khứ), đang (thì hiện tại), sẽ (thì tương lai) Ngoài
ra tiếng Việt cũng có các thì chưa hoàn thành, thì quá khứ hoàn thành sớm
Nhà nghiên cứu Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm và Bùi Kỷ cho rằng tiếng Việt có ba thì là hiện tại, quá khứ và tương lai, mỗi thời gian gắn với hai giá trị thể đối lập nhau hoàn thành và chưa hoàn thành (đã, đã …rồi, đã … xong, xong)
Nhà nghiên cứu Bùi Đức Tịnh (1952) cho rằng tiếng Việt có ba thì (thì quá khứ, thì hiện tại, thì tương lai), thể hiện qua các ngữ tố đã, đang, sẽ, rồi, vẫn v.v Theo ông, ngữ tố “đã” dùng để chỉ sự tình ở thời vị lai và “đang” không chỉ ý nghĩa hiện tại
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) thì cho rằng “đã, đã rồi” chỉ sự việc trong quá khứ khi chúng hành chức như những phó từ chỉ thời điểm
Trang 14Theo Lê Văn Lý (1972), tiếng Việt có hai hạng mục thì và thể với ngữ vị chỉ thời gian (đương, đang), ngữ vị chỉ quá khứ (đã, rồi), ngữ vị chỉ tương lai gần hay tương lai xa (sắp, sẽ)
Hai tác giả Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (1998) trong “Thành
phần câu tiếng Việt” đã hệ thống hóa ý nghĩa thì trong tiếng Việt theo cách phân
chia thì tương lai và cả thì phi tương lai
Thì tương lai với các giá trị thể đối lập: thì tương lai hoàn thành (sắp), thì tương lai phi hoàn thành (sẽ)
Thì phi tương lai các giá trị thể đối lập: quá khứ chung (đã), quá khứ xa (từng), quá khứ gần (vừa, mới); thì phi tương lai hoàn thành gồm thông lệ (zero), tiếp diễn (đang), phi tiếp diễn (chưa) Phụ từ “đã” biểu thị thì phi tương lai hoàn thành (thì quá khứ, thể hoàn thành)
Nhìn chung, các quan niệm truyền thống như trên đã xếp tiếng Việt vào các
ngôn ngữ có thì như các ngôn ngữ châu Âu, với các từ đã, đang, sẽ chỉ thì quá khứ,
hiện tại và tương lai
2.1.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không tồn tại phạm trù thì
Trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, có quan điểm cho rằng tiếng
Việt không tồn tại phạm trù thì, các phó từ đã, đang, sẽ,… không phải là những yếu
tố biểu thị thì trong tiếng Việt Trong hệ thống các cách biểu hiện thời gian, tiếng Việt không có phạm trù thì, chỉ có phạm trù thể
Nhà nghiên cứu Nguyễn Kim Thản cho rằng “phạm trù thì không phải là
phạm trù ngữ pháp đặc biệt của động từ tiếng Việt” (Động từ tiếng Việt, NXB,
3, 1996)
Trang 15Có lẽ Cao Xuân Hạo là người đầu tiên khảo sát và ứng dụng việc miêu tả những yếu tố liên quan đến ý nghĩa thể của vị từ và việc miêu tả giá trị thể trong tiếng Việt như các đặc tính động - tĩnh, đoạn tính – điểm tính, hữu đích – vô đích v.v…trong “Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa”(1998) Dựa vào những đặc tính này của vị từ, ông xác định rằng các chỉ tố đã, đang, sẽ không dùng
để định vị một sự tình trên trục thời gian so với thời điểm phát ngôn, nghĩa là không biểu đạt ý nghĩa thì Theo ông, các chỉ tố đã, đang, sẽ trong tiếng Việt là những phương tiện ngữ pháp hay đang được ngữ pháp hóa biểu đạt thể
Thực ra, vấn đề này không đơn giản như vậy Có thể quan niệm rằng trong
tiếng Việt có thì tuyệt đối và thì tương đối, nên các phó từ nêu trên có thể được sử
dụng để biểu thị „thì tuyệt đối‟ hoặc „thì tương đối‟ Vì vậy, khi sử dụng, cần phải xác định điểm quy chiếu để phân biệt rõ thời gian của các sự kiện hay quá trình để biểu đạt một ý nghĩa cụ thể nhất định Tác giả Trần Kim Phượng (2003) nhận định rằng, người Việt Nam chúng ta cho đến bây giờ, đã quá quen với ý nghĩ cho rằng
trong tiếng Việt, đã biểu hiện thì quá khứ, đang biểu hiện thì hiện tại và sẽ biểu hiện thì tương lai Thực tế không giản đơn như vậy Với phụ từ sẽ lại càng không Bản thân sẽ có rất nhiều tầng ý nghĩa Căn cứ vào những ý nghĩa mà sẽ biểu thị trong câu, chúng tôi chia phụ từ này làm 3 loại chính Trong đó, có thể khẳng định sẽ chỉ
biểu hiện ý nghĩa tương lai một cách thuần tuý (tức là ý nghĩa tương lai tuyệt đối)
trong không nhiều trường hợp Còn lại, sẽ có thể biểu hiện ý nghĩa tương lai hay
hiện tại cho vị từ đứng trước nó, thậm chí còn biểu thị những sự tình có tính chất phi thời gian…
Tóm lại khác với các quan niệm về thì trong ngôn ngữ Ấn – Âu, thì trong tiếng Việt, như chúng tôi đã trình bày, hiện có hai khuynh hướng đối lập nhau Theo Cao Xuân Hạo, tiếng Việt tuyệt nhiên không có thì, “khi cần định vị một sự tình trong thì quá khứ hay hiện tại, tiếng Việt dùng đến những khung đề có ý nghĩa từ vựng thích hợp như: xưa kia, trước đây, hiện nay, bây giờ… song công nhận nếu ba chỉ tố “đã, đang và sẽ” đi liền với nhau thì chúng lại có ý nghĩa thì” [Cao Xuân Hạo
1998 Về ý nghĩa thì và thể trong tiếng Việt T/c Ngôn ngữ số 5 Tr.1-28]
Trang 16Trong khi đó, Diệp Quang Ban cho rằng “trong tiếng Việt động từ không có phạm trù thì tuyệt đối, thời gian của sự việc diễn đạt bằng động từ xét trong quan hệ đối với lúc đang nói (thì hiện tại), trước lúc đang nói (thì quá khứ), sau khi đang nói (thì tương lai) Đôi khi các tiếng “đã, đang, sẽ” được sử dụng tương ứng với ba thời điểm trên nhưng chúng không phải là yếu tố bắt buộc của phạm trù thì” [Diệp Quang Ban 2005 Một hướng tiếp cận các yếu tố chỉ “tính thời gian” của tiếng Việt Viện KHXHVN Tr 333-342]
Trương Vĩnh Ký cũng nhận định động từ tiếng Việt không thể biến hình Muốn trình bày nó trong các lối và trong các thì của nó, người ta dùng các hư từ hay phụ tố, song ông vẫn đưa ra quan điểm tiếng Việt có ba thì cơ bản: quá khứ được biểu thị bằng “đã”, hiện tại được biểu thị bằng “đang” và tương lai được biểu thị bằng “sẽ” [dẫn theo Trần Kim Phượng 2004 Thì thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội]
Nguyễn Minh Thuyết cho rằng: “thì, thể là hai phạm trù ngữ pháp thật sự trong tiếng Việt.” [Nguyễn Minh Thuyết 1995 Các tiền phó từ chỉ thì, thể trong tiếng Việt T/c Ngôn ngữ (2) Tr 1-9]
Trần Kim Phượng cũng cho rằng, “trong tiếng Việt có phạm trù thì, thể thể hiện bằng đối lập tương lai, phi tương lai.” [Trần Kim Phượng 2004 Thì thể và các phương tiện biểu hiện trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội]
Có thể thấy, sự bất đồng của các nhà nghiên cứu trong việc xác định có hay không sự tồn tại vấn đề thì, thể trong tiếng Việt phát xuất từ sự bất đồng trong việc xác định các phương tiện biểu thị phạm trù ấy Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tích tính rất mạnh, từ không có hình thái diễn đạt phạm trù ngữ pháp theo lối bắt buộc
bên trong từ như các ngôn ngữ Ấn – Âu
2.2 Các quan điểm nghiên cứu thì trong tiếng Anh
2.2.1 Chỉ xuất thời gian
Trong những ngôn ngữ như tiếng Anh, chỉ xuất thời gian quan hệ chặt chẽ với
phạm trù ngữ pháp thì “Đặc trưng chủ yếu của phạm trù thì là nó biểu thị mối quan
hệ giữa thời gian sự tình do câu miêu tả với thời gian phát ngôn” (Lyons 1968:305)
Trang 17Tuy nhiên, hai khái niệm chỉ xu t thời gian và thì là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, cần phân biệt r ràng Thì là cách thức mà các quan hệ thời gian được biểu thị
trong ngữ pháp) Pinker 2007:192) Sự phân biệt giữa hai khái niệm này có tầm quan trọng đặc biệt, và thật sự nguy hiểm khi nhầm lẫn như Jespersen phát biểu dưới đây:
“Điều quan trọng là cần tách bạch hai khái niệm này Khái niệm thời gian là phạm trù tư duy phổ quát của loài người và độc lập với ngôn ngữ; thì là phạm trù
thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và là phương tiện ngữ pháp để biểu hiện các quan hệ thời gian, tức những mối quan hệ này được biểu thị bằng hệ thống hình thái của vị từ.” (Jespersen 1970:2)
Như vậy, thì là một trong những công cụ ngữ pháp dùng để biểu thị các mối quan hệ thời gian Chẳng hạn, trong câu tiếng Anh I am going to Paris tomorrow vị
từ đang ở thì hiện tại tiếp diễn biểu thị ý nghĩa tương lai, chứ không phải ở thì tương
lai
Trong ngữ pháp truyền thống với sức nặng của ngữ pháp Latin, các mối quan
hệ thời gian được biểu thị bằng ba hình thái ngữ pháp đối lập, tức hệ thống ba thì: hiện tại – thì hiện tại; quá khứ – thì quá khứ; và tương lai – thì tương lai
2.2.2 Thì
“Thì” là phạm trù ngữ pháp cơ bản của động từ trong các ngôn ngữ Ấn - Âu Việc nghiên cứu và xác định phạm trù thì của động từ đã có một lịch sử lâu đời Ngay từ thời Arixtot, người ta đã cho rằng động từ có đặc điểm là “có thời gian” Nói về “thì”, ngữ pháp của động từ đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận
3 đối lập: quá khứ, hiện tại và tương lai Lyons cho rằng “thì” chỉ là một phạm trù
chỉ xuất đồng thời là đặc điểm của câu và phát ngôn
Jespersen (1924) cho rằng theo ngữ pháp truyền thống, thời gian chia thành
quá khứ, hiện tại và tương lai nên một ngôn ngữ (có thì) để đánh dấu những phân
biệt thời gian này cần có ba thì tương ứng Jespersen (1924) là nhà ngữ học hiện đại
đầu tiên giải thích những phân biệt khác nhau trong ba bình diện thời gian cơ bàn Theo ông, thời gian là một đường thẳng được đánh dấu bằng thời điểm hiện tại và
Trang 18được phân thành hai phần: quá khứ và tương lai Trong mỗi phần thời gian đó có thể xác định được một số điểm thời gian hoặc nằm trước, hoặc nằm sau thời điểm phát ngôn
Do đó, trong mỗi phần thời gian (quá khứ và tương lai) có những thời điểm khác nhau bao gộp hiện tại và tạo ra hai kiểu thời gian là “hồi quan” (retrospective)
và “vọng tiền” (prospective):
Hình 1 - Thời gian hồi quan và thời gian vọng tiền
Dựa trên sơ đồ trên, có thể nói Jespersen không đề cập đến “tiền hiện tại/ante – present” hay “hậu tương lai/post – future” Theo ông, hiện tại là một điểm thời gian nên không thể phân thành tiền hiện tại/ante – present (thuật ngữ tương ứng trong tiếng Anh là present perfect) và hậu hiện tại/post – present như thời gian quá khứ và thời gian tương lai Về thời gian hậu tương lai, theo các nhà ngữ học có rất ít ngôn ngữ có phân đoạn thời gian này (Binnick 1991:62)
Một số quan hệ thời gian miêu tả ở trên được ngữ pháp hoá, chẳng hạn quan
hệ giữa thời gian quá khứ và hiện tại, được biểu thị bằng phương tiện hình thái học,
đó là thì quá khứ đơn (simple past) hoặc thời gian tiền quá khứ được biểu thị bằng thì quá khứ dĩ thành (past perfect) Như vậy, không phải quan hệ thời gian nào cũng được ngữ pháp hoá, tức có hình thức ngữ pháp tương ứng để biểu đạt, chẳng hạn như mối quan hệ giữa một điểm trong tương lai với hiện tại
Có thể thấy, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước ít nhiều có đế cập đến phạm trù thì cả trong tiếng Anh và trong tiếng Việt Tuy có nhiều quan niệm khác nhau, dựa trên những hướng tiếp cận khác nhau, nhưng hầu hết các học giả đều
Hiện tại
Tiền quá khứ Hậu quá khứ
Past Perfect Conditional
Tiền tương lai Future Perfect
Trang 19khẳng định sự tồn tại của phạm trù thì nói chung, phạm trù tương lai nói riêng trong tiếng Anh Riêng đối với tiếng Việt, có hai khuynh hướng mang tính đối lập nhau Một khuynh hướng phủ định sự tồn tại phạm trù thì; một khuynh hướng khẳng định
sự tồn tại phạm trù thì Tuy vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu đã có, tôi nhận thấy chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu vấn đề đối chiếu các phương thức biểu hiện ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và trong tiếng Việt Điều này có nghĩa
là, hướng tiếp cận của luận văn là một hướng mới Song, các thành tựu của những nhà ngôn ngữ học trước đây có liên quan đến nội dung luận văn sẽ được chúng tôi chọn lọc kế thừa để phục vụ cho việc khảo sát đối tượng nghiên cứu một cách tốt nhất
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Thống kê các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và trong tiếng Việt;
- Đối chiếu các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng, khác biệt;
- Phân tích, đánh giá những tương đồng và khác biệt trong các phương thức biểu hiện ý nghĩa tương lai của tiếng Anh và tiếng Việt;
- Từ những thống kê, đối chiếu, phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt, đề xuất những giải pháp góp phần nghiên cứu, giảng dạy, và học tập tiếng Anh, tiếng Việt có hiệu quả
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong
tiếng Anh và trong tiếng Việt
- Ngữ liệu nghiên cứu:
+ Ngữ liệu tiếng Anh: Chúng tôi chọn bốn văn bản song ngữ sau đây như là
một sự lựa chọn ngẫu nhiên:
1 The Call of The Wild (Tiếng gọi nơi hoang dã) của Jack London, dịch giả
Lâm Hoài, Võ Quang, Bảo Hưng (NXB Văn học)
Trang 202 The Prince (Quân Vương) của Niccolo Machiavelli, dịch giả Thiếu Khanh
(NXB Văn học)
3 The Old Man and The Sea (Ông già và Biển cả), của E Hemingways,
dịch giả Lê Hữu Bắc (NXB Văn học)
4 The Last Leaf (Chiếc lá cuối cùng) của O‟Henry, dịch giả Ngô Vĩnh Viễn
(NXB Văn học)
+ Ngữ liệu tiếng Việt:
1 “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của Nguyễn Nhật Ánh được dịch giả
William Naythons chuyển ngữ, nhà xuất bản Overlook Hardcover, Mỹ, ấn hành năm 2014 với tên tiếng Anh là Give me a ticket to childhood.
2 Các bài báo song ngữ Việt-Anh của báo Vietnamnet
Ngoài ra, chúng tôi đã phát 100 phiếu điều tra cho sinh viên với yêu cầu: Bạn hãy
kể những việc mà bạn dự định làm vào tuần tới gồm 50 phiếu yêu cầu ghi dự định bằng tiếng Việt và 50 phiếu ghi dự định làm bằng tiếng Anh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ: Phương pháp này được sử dụng để đối
chiếu các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai giữa tiếng Anh và tiếng Việt Từ
đó, chúng tôi tìm ra những tương đồng và khác biệt trong cách tri nhận ý nghĩa thì, phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai của hai ngôn ngữ Anh - Việt
- Phương pháp phân tích ngữ pháp - ngữ nghĩa: Được vận dụng vào việc phân
tích các yếu tố liên quan đến phương thức biểu hiện ý nghĩa tương lai của tiếng Anh
và tiếng Việt Chẳng hạn như phân tích các trợ từ, phụ tố, các dạng thức của một số
vị từ để từ đó có những đánh giá xác đáng về đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả:Được sử dụng để miêu tả ý nghĩa tương lai trong tiếng
Anh và tiếng Việt
- Phương pháp thống kê: Dùng để thống kê số liệu để làm cơ sở cho việc vẽ
biểu đồ
Trang 21Chương 2: Các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh
và tiếng Việt
Ở chương này, chúng tôi chỉ ra các phương thức chủ yếu để biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt Sau đó chúng tôi phân tích các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai ở hai ngôn ngữ này dựa trên nguồn dữ liệu thống kê - tổng hợp được
Chương 3: Những tương đồng và khác biệt trong phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai đối với tiếng Anh và tiếng Việt
Trong chương này, chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu các phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó chỉ ra những tương đồng và khác biệt trong việc biểu thị ý nghĩa tương lai ở hai ngôn ngữ này
Trang 22CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ Ý NGHĨA TƯƠNG LAI TRONG
TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Ý nghĩa tương lai trong Ngôn ngữ học
1.1.1 Ý nghĩa tương lai
Không gian và thời gian là những yếu tố cơ bản trong nhận thức của con
người về thế giới Hai bình diện này hành chức như khung tham chiếu giúp con người hệ thống hoá các kinh nghiệm của mình theo hai chiều kích trên, đặc biệt là chiều kích thời gian Trong nhận thức, con người chia thời gian thành những bình diện có tính phân lập, ưu tiên những khúc đoạn ngắn mà kinh nghiệm của con người cho phép tri giác ngay Điều này có nghĩa ta chọn thời gian hiện tại làm ngưỡng để lưỡng phân dòng thời gian thành hai phần: phần trước bao hàm những gì đã xảy ra trước thời gian hiện tại, còn phần sau bao gộp những gì xảy ra sau thời gian hiện tại Phần đầu ta gọi là thời gian quá khứ, phần thứ hai ta gọi là thời gian tương lai Mặc
dù cả ba thực thể đó được gán cùng một nhãn “thời gian”, song chúng hoàn toàn khác nhau về bản chất Quá khứ được nhận thức và mô tả như những sự kiện hiện thực, còn hiện tại là những sự kiện có thể được nhận thức trực tiếp, trong khi đó, tương lai là những gì bất định, không minh xác, hay nói cách khác tương lai bao gồm những khả năng [hiện thực] Sự khác biệt nhận thức này giữa ba bình diện thời gian giúp ta nhận thức rõ ràng quá khứ hiện thực, hiện tại tức thời và tương lai khả dĩ Mặc dù bất định, các sự kiện tương lai lại gắn chặt với ý chí của ta trong việc định hình những sự kiện đó theo cách thức ta mong muốn Nói cách khác, mối liên hệ này giữa tính tương lai và những bình diện khác không thuộc thời gian như ý định, sự tiên đoán, sự hoạch định, sự ra lệnh, v.v Có thể nói mối quan hệ đó là một không gian ý niệm về tương lai của con người như sau:
Trang 23Như Jakobson (1959:263) đã nói “Tất cả kinh nghiệm nhận thức và sự phân loại những kinh nghiệm này đều có thể được chuyển tải trong bất kỳ ngôn ngữ nào”
và vì vậy không có ngôn ngữ nào không có khả năng chuyển tải những yếu tố cơ bản trong kinh nghiệm của con người như thời gian
1.1.2 Ý nghĩa tương lai - Một hiện tượng có tính loại hình học
Ý nghĩa tương lai là một trong những ý nghĩa thời gian được biểu thị bằng các phương tiện ngữ pháp với mức độ khá cao trong các ngôn ngữ trên thế giới Theo
thống kê của The World Atlas of Language Structures tổng hợp từ các nghiên cứu
của nhiều nhà ngữ học thế giới trong đó phải kể đến Dahl (1985), Bybee et al (1994), Bromley 1981, Sapir (1965), v.v có 110 ngôn ngữ có hệ thống biến tố thì tương lai và 112 ngôn ngữ không có hệ thống này, tức không có thì hình thái học
Trong khi đó, thì quá khứ, cũng theo The World Atlas of Language Structures, tồn
tại trong 94 ngôn ngữ không phân biệt mức độ xa gần, có 38 ngôn ngữ có từ 2-3 hình thái vị từ phân biệt quá khứ xa và quá khứ gần, 2 ngôn ngữ có trên 4 hình thái phân biệt quá khứ xa và quá khứ gần và 88 không có thì quá khứ Ngoài ra, các nhà ngữ học cũng cho thấy các chỉ tố đánh dấu ý nghĩa thời gian trong nhiều ngôn ngữ thường nảy sinh từ các yếu tố phi thời gian, đó là các từ ngữ biểu thị khái niệm tình thái như từ biểu thị ý định, ý muốn, bổn phận… hoặc từ các kết cấu biểu thị thể như kết cấu tiếp diễn trong tiếng Anh
Như vậy, ý nghĩa tương lai trong ngôn ngữ có thể được biểu thị bằng các công
cụ hình thái học, tức ý nghĩa thời gian này gắn liền với một hình thức cụ thể của vị
từ chẳng hạn trong tiếng Pháp Pierre partira pour Londres demain Vị từ partir
“khởi hành” trong tiếng Pháp được đánh dấu bằng hình vị ngữ pháp a gắn vào căn
tố để biểu thị ý nghĩa tương lai Tiếng Anh biểu thị ý nghĩa tương lai không bằng hệ thống biến tố như tiếng Pháp, thay vào đó là những hình thức không đánh dấu như
hiện tại đơn trong câu tiếng Anh It is cold tomorrow Còn tiếng Việt là ngôn ngữ
đơn lập, phi hình thái nên có thể được biểu đạt ý nghĩa tương lai bằng các phương tiện từ vựng, bằng trật tự từ và bằng ngôn cảnh
Trang 241.1.3 Ngữ nghĩa của thời gian tương lai
Một người nào đó khi miêu tả những sự tình quá khứ mà anh ta trải nghiệm phải sử dụng năng lực hồi quan (retrospection) của mình, còn khi hình dung hay tưởng tượng những sự tình tương lai, anh ta lại sử dụng năng lực vọng tiền (prospection), tức năng lực biểu hiện những gì có thể diễn ra trong tương lai Năng lực nhận thức định hướng tương lai này của con người được thể hiện ở những kiểu năng lực như dự đoán (prediction), xác lập mục tiêu (intention) và hoạch định (planning) Những năng lực này trở thành “l i” ngữ nghĩa của thời gian tương lai trong nhiều ngôn ngữ và trên cơ sở này các nét nghĩa ngoại vi khác nhau của tương lai được biểu thị như trong bảng 1 Khảo sát một số ví dụ tiếng Anh sau:
1 a We will have to take the train prediction
b I’ll give you a lift home after the party intention promise
c We’ll see you tomorrow intention willingness
d I‟m going to look for a new place to live next month planning
Các câu tiếng Anh trong (1) biểu thị những sự tình chưa diễn ra tại thời điểm phát ngôn, song những sự tình này được người nói xác lập trong tương quan với nhận thức, thái độ của mình về mức độ hiện thực của những sự tình liên quan Do
đó, tương lai là một khái niệm thời gian song lại thường chuyển tải những thông tin phi thời gian Thông tin phi thời gian đó được gọi là tình thái Mặt khác, qua các câu trong (1), ta có thể cho rằng có sự đối lập về nghĩa giữa một bên là ý nghĩa tương lai được xác định trên tính dự báo và xác lập mục tiêu và bên kia là tính hoạch định (planning) thông qua sự đối lập giữa hai kết cấu phân tích tính [will + Infinitive] và [be going to + Infinitive] Kết cấu [will + Infinitive] với will là vị từ tình thái mã hoá khả năng hiện thực của một sự tình trong thế giới khả hữu, có thể
trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cỏn kết cấu [be going to + Infinitive] với be
going to có ý nghĩa được phóng chiếu từ miền không gian sang miền thời gian, và
vì vậy kết cấu biểu thị các phân đoạn cấu thành sự tình, trong đó có thể có phân đoạn đã hiện thực
Trang 251.2 Khái niệm về thì tương lai trong Ngôn ngữ học
Về ngữ pháp, thời gian là một phạm trù ngữ pháp, được biểu hiện qua động từ gắn với câu Về ngữ nghĩa, thời gian biểu hiện trong các tình huống cụ thể của các
sự kiện hành động, sự kiện tĩnh trong phát ngôn v.v Hầu như ngôn ngữ nào cũng đều có các phương thức thể hiện và nhận diện thời gian
Khảo sát về thời gian trong ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu thường căn cứ vào
ba yếu tố như
S- Thời điểm của phát ngôn (speech time)
E- Thời điểm của sự kiện (event reported)
R- Thời điểm của quy chiếu (reference time)
Xét theo quan hệ giữa E và S, chúng ta đi tới thời gian tuyệt đối Xét theo quan hệ giữa E và R, chúng ta đi tới thời gian tương đối Nếu chỉ xét riêng E chúng
ta nhìn nhận sự kiện một cách phi thời gian Xét E trong mối quan hệ với R và S chúng ta có thời gian tương đối – tuyệt đối
Như đã nói ở trên, thời điểm là khái niệm chỉ một mốc xác định của thời gian Điểm mốc có thể là thời điểm nói (hoặc một thời điểm nào đó được chọn làm mốc) Trong trường hợp điểm mốc là thời điểm phát ngôn, người ta thường chia thời gian ra làm ba miền khác nhau như quá khứ, hiện tại, tương lai Những hành động, trạng thái hoặc tính chất nào diễn biến trước thời điểm nói thì thuộc miền thời gian quá khứ Hành động, trạng thái hoặc tính chất nào xảy ra ngay thời điểm nói thì thuộc miền thời gian hiện tại Còn hành động, trạng thái hoặc tính chất xuất hiện sau thời điểm nói thì thuộc miền tương lai Trong các ngôn ngữ biến hình, khái niệm thì tương ứng với khái niệm miền
Thì là một phạm trù ngữ pháp của động từ, thể hiện mối quan hệ giữa hoạt động so với thời điểm nói
Thì quá khứ miền quá khứ Thì hiện tại miền hiện tại Thì tương lai miền tương lai
Trang 26Con người trưởng thành theo chuyển động thời gian nên lớn lên (sẽ hiểu) là cách diễn đạt tương lai không xác định Để tạo ra ý nghĩa “tương lai gần” có những cách sau: - Kết hợp đây với sau, thành “sau (lúc) đây”, sẽ tạo ra ý nghĩa “tương lai gần nhất, ngay sau thời điểm hiện tại”: sau đây, ngay sau đây - Nữa có nghĩa là “bổ sung, thêm vào” Mà “bổ sung, thêm vào” thì không nhiều Thời gian thêm vào là thời gian trong tương lai Vậy nữa cũng là một chỉ tố tương lai gần Các từ chỉ thời đoạn ngắn lát, chốc kết hợp với nữa sẽ mang ý nghĩa tương lai gần: lát nữa, chốc nữa
Về mặt hình thái học, ta có thể nói rằng nếu vị từ nào đó trong một ngôn ngữ bất
kỳ không được đánh dấu bằng hệ thống biến tố (bằng tiền tố hoặc bằng hậu tố) để biểu
đạt thời gian, ngôn ngữ đó không có thì hình thái học như bản đồ đánh dấu sự phân bố
của các ngôn ngữ có hệ thống biến tố đánh dấu quá khứ và tương lai dưới đây:
Các ngôn ngữ có biến tố đánh dấu ý nghĩa tương lai (Nguồn: wals.info (The World Atlas of Language Structures)
Trang 27Các ngôn ngữ có biến tố đánh dấu ý nghĩa quá khứ
(Nguồn: wals.info (The World Atlas of Language Structures)
Nhƣ vậy, tiếng Anh chỉ có hai thì: thì quá khứ và thì hiện tại hay phi quá khứ
Xét các câu trong (2):
2 a My flight leaves at four thirty this afternoon
b We're meeting next Thursday to discuss the issue
Các ví dụ trong (2) đều miêu tả các sự tình trong tương lai và vị từ đều được đánh d u bằng thì hiện tại (hiện tại đơn và hiện tại tiếp diễn) Tuy nhiên, v n đề không đơn giản Có nhiều ý kiến cho rằng tiếng Anh có thì tương lai Renaat
Declerck (2006) cho rằng kết cấu [will + Infinitive] thoả điều kiện để đƣợc xem là thì Theo Declerck, một thì có chức biểu thị về mặt ngôn ngữ học một ý nghĩa thời gian cụ thể bằng một hình thái cụ thể hay hình thái thì (tense form), trong tiếng Anh cũng nhƣ trong hầu hết các ngôn ngữ có thì, hình thái thì chính là hình thái của vị
từ Ông còn cho rằng nghĩa thời gian cụ thể đƣợc biểu thị bằng một thì đƣợc gọi là cấu trúc thì (tense structure), và đó là cấu trúc thời gian biểu thị một cách thức định
vị cụ thể một sự tình trong thời gian Do đó, đối với Declerck thì giống nhƣ một ký hiệu ngôn ngữ học, tức một thực thể có hai mặt: hình thức và nghĩa Trong công
trình The Grammar of the English Verb Phrase Volume 1: The Grammar of the
English Tense System: A Comprehensive Analysis, Declerck đƣa ra khái niệm hình
thái thì (tense form), tức là hình thái vị từ hay sự kết hợp giữa vị từ chính với một hoặc hai trợ động từ để biểu thị thì (2006:96) Điều này có nghĩa là hình thái thì theo ông có thể là hình thái đơn của vị từ hoặc là một hình thái phức hợp gồm hơn
Trang 28một thành tố Như vậy, kết cấu phân tích tính [will + Infinitive] là thì tương lai trong tiếng Anh Trên cơ sở này, Declecrk (2006:103) phân biệt ba nghĩa cơ bản của thì tương lai: (1) biểu thị ý nghĩa tương lai khách quan (pure future), (2) biểu thị sự tiên đoán (prediction), và (3) biểu thị tính khả tiên đoán (predicability) Tương lai khách quan (thuật ngữ chúng tôi tạm dịch) là chức năng chịu sự chi phối ở mức độ thấp nhất của tính chủ quan vì nó gần nhất với sự xác nhận hay khẳng định một sự kiện rõ ràng Điều này có nghĩa là người nói đơn thuần định vị thời gian sự tình trong tương lai mà không nhất thiết phải đưa ra kỳ vọng, niềm tin hay sự xác tín rằng sự tình được hiện thực hoá trong tương lai, chẳng hạn như trong (3):
3 The moon will soon rise
Tương tự, tiếng Pháp – một ngữ có thì tương lai (futur simple), với tư cách là một thì hình thái học, cũng có thể biểu thị ý nghĩa tương lai bằng thì hiện tại như trong (4):
4 a Je vais partir demain
b Je pars demain
Tương tự, tiếng Việt là một ngôn ngữ phi hình thái, các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp được biểu thị bằng phương thức trật tự từ Ý nghĩa và các quan hệ thời gian trong việc định vị sự tình được xác định chủ yếu bằng trật tự từ và bằng ngôn cảnh So sánh các câu trong (5) :
5 a Anh sang Pháp chơi bao giờ/hồi nào ?
b Bao giờ/Chừng nào anh sang Pháp chơi ?
c Chị mua cái áo này bao nhiêu vậy ?
d Thế, cái áo này bao nhiêu thì chị mua ?
e Một ngày đó, con sẽ hiểu mẹ nói gì
f Là người thì ai cũng sẽ/phải chết
g Ba ngày nữa bọn tôi trở lại Sài Gòn
Các câu (5a-5c) miêu tả những sự tình quá khứ với từ nghi vấn về thời gian đặt cuối câu, còn (5b-5d) miêu tả sự tình tương lai với từ nghi vấn xuất hiện ở đầu câu Câu (5b) có thể biểu thị sự tình nằm trong ý định của người liên quan hoặc
Trang 29trong kỳ vọng của người hỏi, còn (5d) là một sự tình có khả năng diễn ra khi điều kiện về giá được thoả mãn Câu (5e) biểu thị sự tình sẽ diễn ra theo dự đoán của người nói, còn (5f) biểu thị ý nghĩa tình thái bắt buộc, tất yếu Cuối cùng (5g) có thể xem là sự tình diễn ra theo hoạch định của người phát ngôn và thời gian của sự tình
tương lai được biểu thị bằng trạng ngữ ba ngày nữa ở đầu câu
1.3 Khái niệm về thì tương lai trong tiếng Anh
Theo Reichenbach (1947) cho rằng bản chất ngữ nghĩa của thì không chỉ
được biện giải thông qua mối quan hệ giữa thời gian phát ngôn (S) và thời gian của
sự tình (E) mà còn phải tính đến thời gian quy chiếu (R), chẳng hạn như trong (1):
1 Mary had left the hotel by seven o‟clock
Sự tình “Mary rời khỏi khách sạn” được định vị trước thời gian phát ngôn, và
cũng trước cả thời điểm “bảy giờ” Thời điểm “bảy giờ” này được gọi là thời gian
quy chiếu Theo Reichenbach, trật tự của các quan hệ thời gian liên quan đến sự tình
miêu tả trong ví dụ trên là E – R – S Ta có thể miêu tả mối quan hệ trên qua sơ đồ sau:
Khái niệm thời gian quy chiếu của Reichenbach cũng rất hiệu quả để phân biệt nghĩa của hình thái quá khứ đơn và hiện tại dĩ thành trong tiếng Anh như trong (2):
2 a Mary left the hotel
b Mary has left the hotel
Cả hai sự tình trong (2) đều được định vị trước thời gian phát ngôn Thời gian quy chiếu trong (2a) trùng với thời gian sự tình, và ta có E, R – S, còn sự tình trong (2b) có thời gian quy chiếu trùng với thời gian phát ngôn, và ta có E – R, S Mô hình các mối quan hệ trong (2b) là cơ sở để xác lập khái niệm cơ bản của hình thái
Hiện tại
Speech Time Reference time
by seven o’clock
Event time
Mary’s leaving
Trang 30dĩ thành tiếng Anh, đó là “tính quan yếu hiện đương” (current relevance), hay trạng
thái kết quả của sự tình đã hoàn thành Reichenbach xác lập mối quan hệ thời gian giữa các sự tình trong tiếng Anh (sự tình do câu miêu tả (E); sự tình phát ngôn (S)
và sự tình quy chiếu (R)) như trong bảng sau:
Cấu trúc các mối quan
Như vậy, thời gian quy chiếu có vai trò quan trọng nên mối quan hệ giữa nó với thời gian phát ngôn (R và S) và giữa nó với thời gian của sự tình (R và E) quyết định bản chất của thì Trên cơ sở những mối quan hệ thời gian này, người ta mới có thể biện giải rằng tiếng Anh có chín thì cơ bản, còn nếu phân chia thì trên cơ sở hình thái học, tức sự đánh dấu đối với vị từ, người ta có thể nói tiếng Anh chỉ có hai thì: quá khứ và phi quá khứ, còn tiếng Pháp có ba thì: quá khứ, hiện tại và tương lai Điều quan trọng là không phải mối quan hệ thời nào cũng được ngữ pháp hoá Trong tiếng Anh không phân biệt post – present (hậu hiện tại) và Simple Future (tương lai đơn), còn tiếng Pháp lại có sự phân biệt này như trong (3):
3 a Je vais partir (S, R – E)
b Je partirai (S – R, E) Trong tiếng Pháp, kết cấu trong (3a) biểu thị ý nghĩa tương lai gần (future proche), còn hình thái vị từ trong (3b) là tương lai đơn (future simple) Do vậy, threo Reichenbach, mối quan hệ giữa (S) và (E) thực sự không quan trọng, mà bản chất của thì thật sự nằm ở các mối quan hệ có mặt (R) Sau này, Comrie (1985), để đơn giản hoá mối quan hệ giữa các loại thời gian, đề xuất mối quan hệ phức giữa ba
Trang 31quan hệ thời gian : (E) được xác định trong tương quan với (R), và (R) được xác định trong tương quan với (S) Định đề này dẫn đến các mô hình quan hệ thời gian
để biện giải các thì tương đối (relative tenses) trong tiếng Anh:
4 a E – R – S Past Perfect: Kristine had never been to an opera before last
Còn theo W Bull (1960), trong chuyên khảo có tựa đề Time, Tense and the
Verb xuất bản (1960), cách Bull xử lý hệ thống thì có nhiều điểm chung với
Reichenbach, cụ thể là Bull phân tích ngữ nghĩa thì dựa trên các đặc trưng ngữ nghĩa của vị từ Bull khảo sát nhiều ngôn ngữ trong đó có tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Hawaiian và tiếng Yoruba (1960:29-30) Do đó, lý thuyết của Bull dựa trên thực tế ngôn ngữ học hơn của Reichenbach và khác Reichenbach ở hai điểm quan trọng: (1) trong phân tích thì, Bull không dùng khái niệm điểm quy chiếu và không xem các chỉ tố đánh dấu tương lai là thì Bull cho rằng thì là một thực thể ngữ pháp
có hai mặt là hình thức và nghĩa Điều này cho thấy thì trong lý thuyết của Bull là một công cụ ngữ pháp
Theo quan điểm của Robert Allen (1982), trong nghiên cứu The Verb System
of Present-Day American English (1982), Allen khảo sát hệ thống vị từ trong tiếng
Anh-Mỹ, chứ không khảo sát riêng biệt thì Tuy nhiên, công trình của ông cũng cho thấy có sự khác biệt giữa quan niệm Reichenbach và Bull về thì ở chỗ Allen cho rằng khảo sát ngữ nghĩa thì bắt buộc phải khảo sát các phạm trù khác nữa của vị từ dựa trên các bằng chứng ngôn ngữ học của chỉ một ngôn ngữ Hệ thống thì tiếng Anh của Allen chỉ có hai thì: Quá khứ và Hiện tại Ngữ nghĩa của thì trong lý thuyết của Allen đơn giản hơn và ông chỉ quan tâm đến thời điểm mã hoá (moment of coding), tức thời gian phát ngôn (1982:151) và thời gian của sự tình (1982:156)
Allen gọi hình thái dĩ thành và tương lai là quan hệ thời gian (1982: 257) Do Allen
Trang 32chỉ khảo sát một ngôn ngữ, ông có thể miêu tả các đặc trưng ngữ pháp của thì mà không nói đến các ngôn ngữ khác, và đối với ông thì quá khứ [tiếng Anh] được biểu thị bằng hậu tố [-d], thì hiện tại được đánh dấu bằng hậu tố zero (1982:255)
Theo Bernard Comrie (1985), Công trình nghiên cứu về thì có ảnh hương nhất
trong giới ngữ học là công trình Tense (1985) của B Comrie Và định nghĩa về thì
thường xuyên được trích dẫn là “Thì là việc định vị trong thời gian được ngữ pháp hoá” (1985:9) Comrie dựa trên “hệ thống ba điểm” (S), (R) và (E) của Reichenbach
để đưa ra hai kiểu quan hệ thời gian khác biệt nhau: Quan hệ giữa (S) và (E) và quan
hệ giữa (R) và (E) Thì hoàn chỉnh theo Comrie bao gộp một hoặc cả hai mối quan hệ này (1985:130) Do đó, ông đưa hai khái niệm mà Allen (1982) loại ra khỏi lý thuyết
là dĩ thành và vọng tiền vào hệ thống thì Hệ thống thì của Comrie bao gồm: thì tuyệt đối (quan hệ giữa S và E), thì tương đối (quan hệ giữa R và E) và thì tổng hợp tuyệt
đối-tương đối (quan hệ giữa S, R và E) (1985:122-124).Xét các ví dụ trong (5)
5 a I phoned at six o‟clock I knew he would have got home by then
b By the end of the decade scientists will have discovered a cure for
influenza
Theo quan điểm của Comrie, thì trong (5a) miêu tả một sự tình (He got home)
định vị trước một thời điểm quy chiếu được biểu thị bằng trạng ngữ by then, đồng quy chiếu với nó là I phoned at six o‟clock và điểm quy chiếu này được định vị
trước thời điểm phát ngôn, tương tự như trong (4a) Các quan hệ thời gian trong (5b) được xác lập Sự tình được định vị trước thời điểm quy chiếu do trạng ngữ biểu thị, và điểm quy chiếu này định vị sau thời gian phát ngôn như trong (4b)
Như vậy, các mối quan hệ thời gian mà Comrie đề xuất thật ra là mô hình Reichenbach mở rộng và có điều chỉnh Điều này càng củng cố tính phổ biến và khoa học của mô hình Reichenbach trong các lý thuyết ngữ pháp về thì
Theo tác giả Quirk (1985) và Leech (1987) có 5 phương thức phổ biến nhất để diễn đạt thời gian tương lai bao gồm: will/ shall+ infinitive, be going to+ infinitive, the progressive present tense (hiện tại tiếp diễn), the simple present tense (hiện tại đơn) và will + progressive infinitive (nguyên thể tiếp diễn) Tác giả Swan (1995)
Trang 33bổ sung thêm “be about to” và “be to”, tác giả Nehl (1988) lại cho rằng các trợ động từ đặc biệt, cũng như các động từ hope (hy vọng), expect (mong đợi) và promise (hứa) cũng có khả năng biểu đạt ý nghĩa tương lai
Theo tác giả Wekker (1976), một trong những khác biệt giữa will và be going
to đó là “will” r rằng chỉ tương lai, còn “be going to” có chiều hướng ở hiện tại
Như vậy, có thể nói, trong cả tiếng Anh và tiếng Việt các phương tiện biểu thị
ý nghĩa tương lai, trong đó thì tương lai (trong các ngôn ngữ có thì này) chủ yếu biểu thị ý nghĩa tình thái gắn với sự tình hơn là biểu thị ý nghĩa thời gian tương lai
Do đó, việc xác lập phương tiện biểu thị ý nghĩa tương lai trong ngôn ngữ sẽ dựa trên việc xác lập ý nghĩa tình thái mà người sử dụng ngôn ngữ mã hoá trong các kết cấu hay phương tiện biểu thị ý nghĩa này
Tiểu kết:
Thời gian tương lai trong ngôn ngữ có những thuộc tính hoàn toàn khác với thời gian quá khứ hay hiện tại Các sự tình quá khứ hay sự tình hiện tại đều là những sự tình hiện thực hay đang được hiện thực, còn sự tình tương lai là các sự tình bất định, chỉ hiện hữu hay được hình dung trong nhận thức của người sử dụng ngôn ngữ Do đó, thời gian tương lai hay sự tình tương lai được xác định thông qua năng lực vọng tiền của con người, của bất kỳ dân tộc nào Và có thể thấy các phương tiện diễn đạt ý nghĩa tương lai hay thời gian tương lai của sự tình, dù đó là thì hình thái học hay các kết cấu phân tích tính đều chủ yếu xoay quanh các thao tác
tư duy như dự đoán, xác lập mục tiêu, hoạch định, v.v Nói chung, nội dung tình thái là nội dung trung tâm của các phương tiện biểu thị ý nghĩa tương lai
Có thể nói, các nhà nghiên cứu khá thống nhất trong cách nhìn nhận có phạm trù thì trong ngôn ngữ Ấn – Âu Cụ thể là ba dạng đối lập quá khứ - hiện tại – tương lai Riêng trong tiếng Việt, có hai quan điếm trái ngược nhau về việc xác lập phạm trù thì Cụ thể, có những nhà Việt ngữ học công nhận trong tiếng Việt có phạm trù thì nhưng cũng có những nhà Việt ngữ học lại không công nhận trong tiếng Việt có phạm trù thì
Trang 34Chúng tôi nhìn nhận tiếng Việt có sự phân lập trong mối quan hệ giữa hành động và thời điểm phát ngôn Những hành động diễn ra trước thời điểm phát ngôn được xem là quá khứ; những hành động diễn ra cùng thời điểm phát ngôn là hiện tại
và những hành động diễn ra sau thời điểm phát ngôn là tương lai
Trang 35TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Trong chương 1, chúng tôi đã đề cập đến những quan điểm khác nhau về tính lưỡng phân của hệ thống thì tiếng Anh Comrie (1985) và nhiều tác giả khác dựa trên các tiêu chí đánh dấu về hình thái học, tức các hình thái ngữ pháp của vị từ để phân
hệ thống thì tiếng Anh thành hai hình thái đối lập: hình thái quá khứ và hình thái phi
quá khứ hay hiện tại Hình thái quá khứ được đánh dấu hình vị -ed (hình vị này có
nhiều biến thể (allomorphs) khác nhau như /d/ trong loved, /t/ trong walked, /id/ trong created, v.v.) Hình thái phi quá khứ hay hiện tại được đánh dấu bằng hình vị zero - Các quan niệm tiếng Anh có ba hay hơn ba thì đều dựa trên các kiểu quan hệ thời gian giữa (S), (E) và (R), và việc ngữ pháp hoá của những mối quan hệ này Ngoài ra, cũng có quan niệm như quan niệm của Declerck (1996) cho rằng kết cấu phân tích tính [will + Infinitive] cũng được xem là thì Theo chúng tôi, nếu vậy, cần phải nói rõ
hệ thống thì tiếng Anh là hệ thống bất cân xứng trên quan điểm đánh dấu (markedness) về hình thái học Thì quá khứ được đánh dấu bằng biến tố, còn thì tương lai lại được biểu thị bằng một kết cấu phân tích tính Do đó, luận văn này chọn hướng tiếp cận hệ thống thì tiếng Anh là hệ thống mang tính lưỡng phân: quá khứ và phi quá khứ
Chọn hướng tiếp cận này, luận văn dễ dàng hơn khi triển khai các bước so sánh đối chiếu Trong đối chiếu ngôn ngữ, khung quy chiếu giữ vai trò quyết định đến việc xác định sự tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ Khung quy chiếu ở đây chính là ý nghĩa tương lai - một loại ý nghĩa thời gian – là một ý nghĩa mang tính phổ quát trong ngôn ngữ học
Như vậy, luận văn sẽ khảo sát những phương tiện dùng để biểu thị ý nghĩa tương lai trong tiếng Anh, ý nghĩa này thực chất là sự biểu thị các nét nghĩa tình thái của người sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
2.1 Năm phương thức biểu đạt ý nghĩa tương lai bằng phương tiện hình thái trong tiếng Anh
Trang 36Hoặc có thể dùng với các trạng từ nhƣ perhaps (có lẽ), possibly (có thể đƣợc),
probably (có thể), surely (chắc chắn), hoặc có thể dùng không dùng các trạng từ
này:
Ví dụ 1:
(1) (I‟m sure) he’ll come back → willingness
(Tôi tin chắc rằng hắn ta sẽ trở lại)
(2) (I suppose), they’ll sell the house.→ prediction
(Tôi cho là họ sẽ bán căn nhà)
(3) (Perhaps), they‟ll wait for us → prediction
(Có thể họ sẽ đợi chúng ta)
Kết c u phân tích tính được dùng tương tự cho các hành động theo thói quen
ở tương lai mà ta cho là sẽ xảy ra:
Trang 37(1) Spring will come again → willingness
(Mùa xuân sẽ lại về)
(2) Birds will build nests → willingness
(Chim sẽ xây tổ)
(3) People will make plans to build a park here.→ planning
(Người ta sẽ lập kế hoạch xây công viên ở đây)
Các trợ động từ, động từ chỉ cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ, sự sở hữu thường
diễn tả bằng kết cấu phân tích tính, mặc dù “be going to” đôi khi có thể dùng được:
Ví dụ 3:
(1) He’ll be here at six.→ intention → willingness
(Cậu ta sẽ có mặt ở đây lúc 6 giờ)
(2) You‟ll have time for tea → planning
(Anh sẽ có thì giờ để uống trà)
(3) She'll wonder where you are.→ prediction
(Cô ấy sẽ thắc mắc là cậu ở đâu)
(4) They‟ll know the truth tonight → planning
(Tối nay họ sẽ biết sự thật)
Kết c u phân tích tính được dùng chủ yếu trên báo và đài phát thanh
truyền hình để thông báo các kế hoạch tương lai hoặc để dự báo thời tiết Trong các
cuộc đàm thoại các câu nói như thế thông thường được diễn tả bởi thì hiện tại tiếp
diễn hoặc dạng “be going to” hoặc, để chỉ các kế hoạch, bởi thì hiện tại tiếp diễn:
Ví dụ 4: (tin trên báo chí)
(1) The President will open the new heliport tomorrow → planning
Hoặc: The President is going to open/is opening
(Ngài tổng thống sẽ khánh thành sân bay trực thăng mới)
(2) The fog will persist in all areas.→ prediction
Hoặc: The fog is going to persist/continue
(Sương mù sẽ kéo dài khắp nơi)
Trang 38định
Ví dụ 5:
(1) He won't pay the bill → prediction (Anh ta sẽ không trả tiền)
Có thể còn mang ý nghĩa biểu đạt sau:
He refuses to pay (Anh ta từ chối trả tiền)
Hoặc:
(2) I don't think he'll pay the bill
(Tôi không nghĩ là anh ta sẽ trả tiền)
Đại từ nhân xưng I/We + will/shall có thể diễn tả ý khẳng định, nhưng
he/you/they + will thông thường không diễn tả ý định Đôi khi chúng có thể diễn tả
trong các câu như:
My son/brother/husband/.v.v will help you (Con trai/ anh trai/chồng của tôi
sẽ giúp cậu nhưng ý định có thể là của người nói hơn là của chủ từ)
Kết c u phân tích tínhđược dùng trong các câu có chứa điều kiện, thời gian và mục đích:
Ví dụ 6:
(1) If I drop this glass it will break.→ intention
(Nếu tôi làm rơi cái ly này nó sẽ bể ngay)
(2) When it gets warmer the snow will start to melt.→ prediction
(Khi trời ấm hơn thì tuyết sẽ bắt đầu tan)
(3) I'm putting this letter on top of the file so that he‟ll read it first.→
intention→ willingness
(Tôi để lá thư này trên tập tài liệu để ông ta sẽ đọc nó trước tiên)
Chúng ta cần lưu ý rằng trong một mệnh đề if- hoặc mệnh đề thời gian ta
không dùng kết cấu phân tích tính ngay cả khi nghĩa của nó là tương lai
(1) He will probably be late → prediction
(Anh ta có thể bị trễ)
Nhưng: If he is late (Nếu anh ta trễ…)
Trang 39(Nếu bạn làm đúng như tôi bảo, thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp)
(3) They will have arrived home by now → prediction
(Bây giờ chắc là họ đến rồi)
(4) I’ll lend you some money, If you like → willingness
(Nếu bạn muốn, thì tôi sẽ cho bạn mượn một ít tiền)
(5) He will go swimming in dangerous waters→ insistence
(Dù dưới sông nguy hiểm nhưng anh ta vẫn sẽ đi bơi)
Theo Pinker (2007), shall được dùng cho ngôi thứ nhất (first person) và will được dùng cho ngôi thứ hai và ba (second and third person), nếu đổi ngược lại thì nghĩa
sẽ khác:
(1) I will drown, no one shall save me
(Tôi sẽ trầm mình tự vẫn, không ai được cứu tôi)
(2) I shall drown, no one will save me
(Chắc tôi bị chết đuối mất, không thấy ai đến cứu tôi cả)
Đôi khi shall được dung để hỏi ý muốn của người nghe:
(3) Shall I close your suitcase for you?
(Tôi đóng vali lại cho bạn nhé?)
Bên cạnh đó will cũng được dùng trong lời nói lịch sự trước khi ng lời giúp ai làm điều gì hay cho ai đi xe nhờ như:
I will be driving to London within next week
Như vậy, kết cấu phân tích tính hoặc phương thức sử dụng Will/shall +
infinitive được dùng những nét nghĩa để diễn tả dự đoán những hành động, sự việc
sẽ xảy ra trong tương lai (prediction), sự mong muốn trong tương lai (willingness); một dự định trong tương lai (intention), sự khăng khăng (insistence) Những nét nghĩa này mang tính khái quát, đề cập đến sự vật, hiện tượng chung
2.1.2 Phương thức sử dụng Be going to (thì Tương lai gần)
Chúng ta dung „„Be going to‟‟để nói về kế hoạch hay dự định trong tương lai
[26], [43], [45]
Trang 40(1) He’s going to see her later today → planning
(Anh ta định gặp cô ấy trong ngày hôm nay)
(2) They're going to launch it next month.→ planning
(Họ sẽ triển khai nó vào tháng tới)
(3) We're going to have lunch first → planning
(Chúng ta sẽ đi ăn trưa trước)
(4) She's going to see what she can do.→ planning
(Cô ấy sẽ xem những gì cô ấy có thể làm)
(5) I'm not going to talk for very long → planning
(Tôi sẽ không nói nhiều)
Chú ý rằng kế hoạch hay dự định này không nh t định phải là tương lai gần
(1) When we retire we’re going to goback to Saigon to live
(Khi chúng tôi về hưu chúng tôi sẽ trở về sống ở Saigon).→ planning
(2) In ten years time, I'm going to be boss of my own successful company.→
planning
(Trong vòng 10 năm, tôi sẽ trở thành ông chủ của công ty rất thành công
của riêng tôi)
Chúng ta dùng “Be going to” khi chúng ta muốn dự báo dựa vào các d u hiệu
chúng ta có thể th y ở hiện tại
Ví dụ 2:
(1) Look out! That cup is going to fall off.→ prediction
(Nhìn kìa, cái tách kia sắp rơi xuống rồi)
(2) Look at those black clouds It's going to rain soon → prediction
(Nhìn những đám mây đen đó kìa Trời sắp mưa rồi)
(3) These figures are really bad We're going to make a loss → prediction
(Những số liệu này thật tệ Chúng ta sẽ thua lỗ mất thôi)
(4) You look very tired You're going to need to stop soon.→ prediction
(Anh trông thật mệt mỏi Anh cần phải dừng lại thôi)