Song, cũng có một số vấn đề chưa được sáng tỏ: Đó là việc phân loại hàm ý, giữa các nhà nghiên cứu chưa đạt được sự thống nhất cao, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LAN CHI
PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA HÀM ẨN
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN
(trên cứ liệu một số tác phẩm văn học)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ LAN CHI
PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA HÀM ẨN
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN
(trên cứ liệu một số tác phẩm văn học) Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU
Mã số: 62.22.01.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN
2 PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH PHỨC PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1 GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lan Chi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quí báu của các thầy cô, các anh chị em và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án
Giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đức Dân (hướng dẫn 1), người Thầy kính quí đã tận
tình hướng dẫn, dạy bảo, động viên tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
Phó giáo sư-Tiến sĩ Nguyễn Đình Phức (hướng dẫn 2), Thầy đã rất nhiệt tình
hỗ trợ, chia sẻ, giúp đỡ tôi, nhất là phần tiếng Hán của luận án
Phó giáo sư-Tiến sĩ Trần Thị Ngọc Lang, Cô đã động viên tinh thần tôi rất nhiều mỗi khi gặp phải những khó khăn
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn cổ vũ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án
Mặc dù bản thân rất cố gắng, nhưng luận án sẽ không tránh khỏi những thiếu sót; tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, của quí thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Lan Chi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
0.1 Lí do nghiên cứu 1
0.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
0.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
0.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
0.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
0.4 Phương pháp nghiên cứu 4
0.5 Nguồn ngữ liệu 6
0.6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7
0.6.1 Về lí luận 7
0.6.2 Về thực tiễn 8
0.7 Cấu trúc của luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 10
1.1 Tình hình nghiên cứu 10
1.1.1 Những nghiên cứu ở phương Tây 10
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.1.3 Những nghiên cứu ở Trung Quốc 14
1.2 Cơ sở lý thuyết 18
1.2.1 Nguyên lý hội thoại và nguyên lý lịch sự 18
1.2.1.1 Nguyên lý cộng tác hội thoại 18
1.2.1.2 Nguyên lý lịch sự 28
1.2.1.3 Chánh ngữ trong giáo thuyết nhà Phật là một nguyên lý giao tiếp 32
1.2.2 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 38
1.2.2.1 Nghĩa tường minh 38
1.2.2.2 Nghĩa hàm ẩn 38
Trang 61.2.3 Phương thức biểu thị hàm ý 59
1.2.3.1 Cố tình vi phạm phương châm lượng 60
1.2.3.2 Cố tình vi phạm phương châm chất 61
1.2.3.3 Cố tình vi phạm phương châm quan hệ 64
1.2.3.4 Cố tình vi phạm phương châm cách thức 65
1.3 Tiểu kết 66
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA HÀM ẨN TRONG
TRUYỆN NGẮN VÀ KỊCH TIẾNG VIỆT 68
2.1 Giới thiệu tác giả tác phẩm 68
2.1.1 Sơ lược về Nam Cao 68
2.1.2 Sơ lược về Lưu Quang Vũ 69
2.2 Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong “Tuyển tập Nam Cao” 70
2.2.1 Các phương thức 70
2.2.2 Những phương thức có các phương tiện biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn chủ yếu trong “Tuyển tập Nam Cao” 74
2.2.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 74
2.2.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 79
2.2.2.3 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 2 88
2.2.2.4 Phương thức khác 90
2.3 Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” 91
2.3.1 Các phương thức 91
2.3.2 Những phương thức có các phương tiện biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn chủ yếu trong tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” 95
2.3.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 95
2.3.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 99
2.3.2.3 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 2 103
2.3.2.4 Phương thức khác 104
2.4 Tiểu kết 107
Trang 7CHƯƠNG 3 PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA HÀM ẨN TRONG
TRUYỆN NGẮN VÀ KỊCH TIẾNG HÁN 108
3.1 Giới thiệu tác giả tác phẩm 108
3.1.1 Sơ lược về Lỗ Tấn 108
3.1.2 Sơ lược về Tào Ngu 109
3.2 Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong “Truyện ngắn Lỗ Tấn” 110
3.2.1 Các phương thức 110
3.2.2 Những phương thức có các phương tiện biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn chủ yếu trong “Truyện ngắn Lỗ Tấn” 113
3.2.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 113
3.2.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 1 118
3.2.2.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 120
3.2.2.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 120
3.3 Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong kịch “Lôi Vũ” 126
3.3.1 Các phương thức 126
3.3.2 Những phương thức có các phương tiện biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn chủ yếu trong kịch “Lôi Vũ” 132
3.3.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 132
3.3.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 140
3.3.2.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 144
3.3.2.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 146
3.3.2.5 Phương thức khác 152
3.4 Tiểu kết 154
CHƯƠNG 4 SO SÁNH PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT Ý NGHĨA HÀM ẨN
(trong các tác phẩm đã nghiên cứu) 155
4.1 So sánh phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong “Tuyển tập Nam Cao” và “Truyện ngắn Lỗ Tấn” 155
4.1.1 Bảng so sánh 155
4.1.2 Những điểm tương đồng 159
Trang 84.1.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 159
4.1.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 159
4.1.2.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 159
4.1.2.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 159
4.1.2.5 Phương thức khác 159
4.1.3 Những điểm dị biệt 159
4.1.3.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 160
4.1.3.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 161
4.1.3.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 162
4.1.3.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 164
4.1.3.5 Phương thức khác 166
4.2 So sánh phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” và kịch “Lôi Vũ” 168
4.2.1 Bảng so sánh 168
4.2.2 Những điểm tương đồng 174
4.2.2.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 174
4.2.2.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 175
4.2.2.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 175
4.2.2.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 175
4.2.2.5 Phương thức khác 175
4.2.3 Những điểm dị biệt 175
4.2.3.1 Phương thức vi phạm phương châm lượng 175
4.2.3.2 Phương thức vi phạm phương châm chất 176
4.2.3.3 Phương thức vi phạm phương châm quan hệ 178
4.2.3.4 Phương thức vi phạm phương châm cách thức 178
4.2.3.5 Phương thức khác 179
4.3 Nhận xét 179
4.4 Tiểu kết 182
KẾT LUẬN 184
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 189
NHỮNG CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 199
DẪN LIỆU NGÔN NGỮ 200
PHỤ LỤC 1 (Trích dẫn tài liệu gốc tiếng Hán dùng trong Luận án) 201
PHỤ LỤC 2 (Đóng quyển riêng) 211
Trang 10MỞ ĐẦU 0.1 Lí do nghiên cứu
Hàm ý là loại nghĩa rất phổ biến trong ngôn ngữ hội thoại, với chức năng truyền tải những thông tin chìm trong lời nói Nó trở thành khái niệm được nhiều nghiên cứu quan tâm trong nhiều lĩnh vực
Theo Herbert Paul Grice (1975), hàm ý là những gì người nói muốn ngụ ý, gợi
ý hay ngầm nói, khác với những gì mà người ấy nói ra qua câu chữ Grice trong các công trình của mình đã nhận xét: trong giao tiếp nhiều khi chúng ta “nói điều này
nhưng thật ra muốn nói một điều khác” (Dẫn theo 71, 93) John Lyons (1995, 282)
cũng đồng tình với quan điểm của Grice khi cho rằng: “Rất nhiều thông tin từ người nói được truyền đạt đến người nghe trong hội thoại hàng ngày là được ngầm hiểu chứ không phải được khẳng định một cách rõ ràng” Từ khá sớm, nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân… cũng quan tâm tới vấn
đề này Hoàng Phê (1989, 93) viết: “Khi một lời nói có hàm ngôn thì ý hàm ngôn
thường là quan trọng, thậm chí, có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn là ý chính” Hiện nay ở Việt Nam, không công trình ngữ dụng học nào không bàn tới khái niệm hàm ý
Song, cũng có một số vấn đề chưa được sáng tỏ: Đó là việc phân loại hàm ý, giữa các nhà nghiên cứu chưa đạt được sự thống nhất cao, việc xem xét phương thức biểu thị hàm ý chủ yếu ở việc sử dụng một số biểu thức ngôn ngữ (tạo hàm ý ngôn ngữ) và một số biện pháp vi phạm phương châm giao tiếp (tạo hàm ý hội thoại) Hơn nữa, việc nghiên cứu hàm ý trong sáng tác văn học chưa được quan tâm thỏa đáng, mối quan hệ giữa hàm ngôn hội thoại trong lĩnh vực văn học về nhiều phương diện chưa được làm rõ Trước hiện trạng này, chúng tôi nhận thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu thực tiễn, để làm sáng tỏ những vấn đề chưa thống nhất, chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu Bản thân tôi là một giáo viên dạy tiếng Trung Quốc, tôi rất muốn đóng góp một phần công sức nhỏ của mình vào việc phát hiện và lý giải những hiện tượng về hàm ý, phương thức biểu thị hàm ý và khả năng ứng dụng chúng vào thực tế Được tìm hiểu về hàm ý trong tác phẩm tiếng Việt rồi so sánh với tiếng Trung sau đó vận
Trang 11dụng vào việc giảng dạy của mình là điều vô cùng thú vị Vì “nghiên cứu đối chiếu,
xét về nhiều mặt, là thực sự có ích cho việc học, dạy và sử dụng ngoại ngữ” [89, 69]
Từ những nguyên do trên, luận án chọn nghiên cứu về “Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong tiếng Việt và tiếng Hán (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học)”
0.2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
0.2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trước một đối tượng hội đủ tính động và tính phức tạp, mục đích của luận án là đi tìm các phương thức biểu đạt hàm ý trong giao tiếp tiếng Việt (có so sánh với tiếng Hán hiện đại) dưới góc nhìn của lý thuyết giao tiếp, của ngữ nghĩa - ngữ dụng học và đặc biệt là nguyên lý cộng tác hội thoại của Grice trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, để tìm lời giải đáp cho các vấn đề sau:
Phương thức biểu thị hàm ý bằng cách vi phạm các phương châm hội thoại của Grice phải chăng là hữu hiệu và duy nhất?
Trường hợp giao tiếp nào thì dùng cách nói hàm ý? Hiệu quả của việc biểu thị hàm ý như thế nào? Cơ chế biểu hiện của nó ra sao? Những phương tiện ngôn ngữ nào mà cách nói hàm ý hay sử dụng? Đâu là nét phổ quát và nét đặc thù? Dùng cử chỉ trong giao tiếp phải chăng là cách tạo hàm ý hiệu quả và phổ biến?
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đáp ứng những mục tiêu trên, luận án đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chính sau đây:
1) Điểm lý thuyết về cách nói hàm ý trong giao tiếp với các tiêu chí và các cơ
sở nhận diện
2) Khảo sát trên một số tác phẩm văn học tiếng Việt và tiếng Hán, nhằm tìm
ra phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong giao tiếp theo nguyên tắc vi phạm các phương châm hội thoại của Grice
3) Mô tả các cơ chế, các quy luật hoạt động, cấu trúc, các đặc điểm đặc trưng mang tính chất vừa định tính vừa định lượng; đồng thời xác định mục đích, lý do và các tình thế giao tiếp của cách nói hàm ẩn để hiểu rõ bản chất của hiện tượng này trong tiếng Việt và tiếng Hán
Trang 124) So sánh phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn của tiếng Việt và tiếng Hán,
để thấy được sự tương đồng và dị biệt về cách thức sử dụng hàm ý trong hội thoại
0.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
0.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu theo hướng dụng học, vấn đề bao trùm cả ngữ dụng học
là hàm ý Chúng tôi sẽ thực hiện nghiên cứu đối tượng hàm ý hội thoại theo đường hướng triết học của nhà triết học ngôn ngữ Anh - Herbert Paul Grice
Biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong giao tiếp là hiện tượng luôn ở trạng thái động với những mối liên hệ nội tại và những nhân tố xã hội bên ngoài ngôn ngữ Luận án
sẽ khảo sát lời thoại của các nhân vật giao tiếp, với tiêu điểm tập trung ở các phát ngôn có chứa cách nói hàm ẩn, dạng song thoại của tiếng Việt (có so sánh với tiếng Hán hiện đại) bởi đây là hình thức tiêu biểu, có tính cơ bản phổ biến nhất của hội thoại
0.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do cách nói hàm ẩn là vấn đề có tính phức tạp, vừa mang tính đa dạng, đa diện
ở mặt hội thoại, nên luận án này chỉ giới hạn trong việc đề cập tới cách nói hàm ẩn trong kiểu hội thoại song thoại với các diễn ngôn của giao tiếp tiếng Việt (có so sánh với tiếng Hán hiện đại) Do mức độ tập trung của luận án là nghiên cứu, làm rõ phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong tiếng Việt và tiếng Hán trên cứ liệu một
số tác phẩm văn học, nên trong quá trình làm việc chúng tôi sẽ xem xét cụ thể và thật
kỹ lưỡng cách nói hàm ẩn trong những diễn ngôn của các tác phẩm: Tiếng Việt,
“Tuyển tập Nam Cao” - Tác giả Nam Cao và tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” - Tác giả Lưu Quang Vũ; Tiếng Hán, “Truyện ngắn Lỗ Tấn” - Tác giả Lỗ Tấn
và kịch “Lôi Vũ” - Tác giả Tào Ngu, chúng tôi khảo sát trực tiếp trên bản tiếng Hán; tuy nhiên có tham khảo bản dịch tiếng Việt “Truyện ngắn Lỗ Tấn” dịch giả Trương Chính và kịch “Lôi Vũ” dịch giả Đặng Thai Mai, phần tham khảo chúng tôi xếp ở phụ lục Xin được trình bày vì sao luận án lại chọn các tác giả này? Có thể nói rằng, thứ nhất, cả bốn tác giả đều có sức ảnh hưởng lớn trên diễn đàn văn học Việt Nam và Trung Quốc; thứ hai, các tác giả sử dụng ngôn ngữ mang tính đặc thù, hàm súc, có
Trang 13thể phục vụ tốt cho mục đích của luận án Chúng tôi chủ ý chọn các tác giả-tác phẩm
ở hai quốc gia khác nhau để thực hiện so sánh, nhằm thấy được sự tương đồng-dị biệt khi sử dụng hàm ý và nguyên nhân chính dùng hàm ý là gì Về thời gian, cùng là ở thế kỷ XX, các tác phẩm “Tuyển tập Nam Cao”, “Truyện ngắn Lỗ Tấn” và kịch “Lôi Vũ” ra đời vào khoảng những thập niên đầu của thế kỷ, riêng Tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” là khoảng thập niên 80, sở dĩ chúng tôi chọn Tuyển kịch
“Hồn Trương Ba da hàng thịt” do vì đây là vở kịch hiện đại, ngôn từ mới mẻ, tình tiết
thú vị và đặc biệt là phục vụ tốt cho mục đích luận án: nghiên cứu hàm ý Chúng tôi
chọn tiểu thuyết vì muốn tìm hiểu cách thức thể hiện hàm ý ở dạng văn bản viết như thế nào Và chọn tác phẩm kịch vì nơi đây hội đủ điều kiện như ngữ cảnh, cử chỉ động tác nhân vật, âm điệu, phát ngôn,…rất cần thiết trong việc nhận diện hàm ý
Sau khi khảo sát các tác phẩm của các tác giả đã chọn, chúng tôi sẽ thực hiện công việc đối sánh nhằm tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của cách nói hàm ẩn trong quá trình sử dụng của hai ngôn ngữ Xét về mặt phong cách, ở cả hai khu vực giao tiếp tiếng Việt và tiếng Hán, hoạt động của cách nói hàm ẩn thể hiện chủ yếu tập trung ở phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
Do vậy, để tiện so sánh - đối chiếu, nhằm xác định đặc điểm định tính cũng như định lượng cách nói hàm ẩn, luận án chỉ tập trung khảo sát kiểu hội thoại song thoại trong các diễn ngôn thuộc loại phong cách này Bởi đó là nơi cách nói hàm ẩn thể hiện tính chất tập trung điển hình nhất Nơi đây, vai trò của nhân vật giao tiếp được phát huy cao độ vì nó bao hàm các mối quan hệ xã hội – văn hóa giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội, hàm chứa sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong quá trình ứng xử Các yếu tố phi lời như cử chỉ, sự im lặng trong giao tiếp, đã góp phần không nhỏ trong cách thức biểu đạt hàm ý
0.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu về phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn, trong luận án, chúng tôi sử dụng những hiểu biết về lý thuyết giao tiếp, về ngữ dụng học nhằm khảo sát phương thức biểu đạt cách nói hàm ý trong những biểu hiện thực tế của nó Cụ thể là những phương pháp sau đây:
Trang 141 Phương pháp phân tích diễn ngôn: để nghiên cứu về hình thức và nội dung
giữa các tham thoại Phát hiện những dấu hiệu đặc trưng về hình thức cấu trúc của các đơn vị trong hệ tôn ti hội thoại, về mặt nội dung ý nghĩa trong mối liên quan với các tình huống hội thoại, nhằm tìm ra lực ngôn trung đích thực mà người nói muốn thể hiện, tìm ra cơ chế biểu hiện của cách nói hàm ý qua những yếu tố tường minh và yếu tố không tường minh Nghĩa là, chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích cứ liệu
để tìm ra quy luật, đưa ra kết luận cần thiết dựa trên cơ sở quy nạp
2 Phương pháp phân tích ngữ cảnh: dựa vào ngữ cảnh của phát ngôn để xác
định hàm ý, vì ngữ cảnh bao gồm văn cảnh xuất hiện phát ngôn được xem xét, những tri thức nền về ngôn ngữ, văn hóa và mảng hiện thực khách quan ngoài ngôn ngữ tạo điều kiện cho việc tiếp nhận phát ngôn M A K Halliday cho rằng: “Sự lựa chọn hình thức ngôn ngữ bị chi phối bởi môi trường văn hóa [ ]; nghĩa của từ và nghĩa
của câu bị quy định bởi ngôn cảnh.” (Dẫn theo [41, 45])
3 Phương pháp cải biến: để xác định tính hiệu quả về mặt chiến lược trong
mục đích sử dụng ở một số trường hợp có cách nói hàm ẩn xuất hiện Chúng tôi áp dụng phương pháp cải biến trên cơ sở ngôn ngữ hiện có để minh họa tri thức hàm ẩn về ngôn ngữ, vì “phép cải biến chính là quy tắc được dùng để tạo ra các câu phái sinh
từ các câu lõi”.[43, 217-224]
4 Phương pháp so sánh – đối chiếu: nhằm khảo sát và xác định những đặc
điểm đặc trưng của cách nói hàm ý giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong giao tiếp Cụ thể, cơ sở đối chiếu của luận án là các phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong những tác phẩm văn học đã chọn, luận án xem xét so sánh các phương thức tạo hàm
ý, sau đó đối chiếu để tìm ra những tương đồng và dị biệt trong tiếng Việt (ngôn ngữ đối tượng) và tiếng Hán (ngôn ngữ phương tiện), nhằm làm rõ những điểm đặc biệt trong cách dùng hàm ý của hai ngôn ngữ, từ đó sẽ dễ dàng lý giải sự khác biệt về định tính cũng như định lượng
Ngoài ra luận án còn sử dụng:
- Miêu tả ngôn ngữ học: để khảo sát định lượng các lời thoại của cách nói hàm
ẩn qua các cuộc hội thoại đã thu thập, từ đó rút ra những nhận định cần thiết về những
Trang 15đặc điểm của cách nói hàm ẩn trong tiếng Việt và tiếng Hán (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học)
- Luận án chú ý tới những tri thức về văn hóa học, tâm lí học, xã hội học, để giải thích các sự kiện, những trường hợp sử dụng các chiến lược trong cách nói hàm
ẩn ở cả hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán
0.5 Nguồn ngữ liệu
Để khảo sát, tiếp cận đối tượng, thực hiện nhiệm vụ, mục đích đặt ra của luận
án, trong quá trình thực hiện chúng tôi sử dụng nguồn ngữ liệu sau:
1) Tiếng Việt:
Chúng tôi tiến hành khảo sát tác phẩm:
1 “Tuyển tập Nam Cao” - Tác giả Nam Cao, nhà xuất bản Văn học, Hà Nội,
(a “Lỗ Tấn toàn tập”, 1981, Nxb Văn học Nhân dân, quyển 1
Tham khảo bản dịch tiếng Việt:
“Truyện ngắn Lỗ Tấn” - Tác giả Lỗ Tấn, dịch giả Trương Chính (dịch từ nguyên bản tiếng Hán, Nhân Dân Văn hóa xuất bản 1957-1958), nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2010
2 Bản gốc tiếng Hán (Tào Ngu toàn tập):
“曹禺全集”,上海文化生活出版社, 1936 年 1 月初版。
(“Tào Ngu toàn tập”, 1-1936, Nxb Văn hóa Thượng Hải.)
Tham khảo bản dịch tiếng Việt:
Trang 16“Lôi Vũ” - Tác giả Tào Ngu, dịch giả Đặng Thai Mai (dịch từ bản in chữ Hán, Văn hóa Sinh hoạt (Thượng Hải) xuất bản phát hành vào khoảng 1936, đã được liên tục đăng trên tạp chí Thanh Nghị (1943-44) từ số 77 đến số 99), nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội, 2006
Cả hai nguồn tiếng Việt và tiếng Hán này, có sự trùng hợp là cùng ra đời vào thế kỷ XX, một giai đoạn lịch sử nhân loại có rất nhiều chuyển biến theo chiều hướng mới, nhất là về mặt tư tưởng văn hóa Tài liệu được đảm bảo theo nguyên tắc xác thực và có chọn lọc Những diễn ngôn có liên quan đến cách tạo hàm ẩn đều được chúng tôi chắt lọc tập hợp lại rồi phân loại, phân tích diễn giải tường minh nhằm tìm
ra phương thức biểu đạt cách nói hàm ý Tức là chúng tôi sẽ tìm cụ thể trên nguồn ngữ liệu về phương thức tạo cách nói hàm ý Tất cả các câu thoại có chứa hàm ý được chúng tôi thuyết minh và tập hợp trong phụ lục (1,2,3,4)
0.6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
0.6.1 Về lí luận
Đề tài có những đóng góp sau:
1 Điểm lại các vấn đề lý luận về hàm ý
2 Luận án phân tích cơ chế tạo lập hàm ý hội thoại bằng cách vi phạm các phương châm hội thoại, nhằm thấy rằng, phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn đa phần là do vi phạm các phương châm hội thoại, nhưng không phải tất cả mà còn có phương thức khác
3 Luận án nghiên cứu từ bình diện dụng học qua cấu trúc thông báo, các hành
vi ngôn ngữ, đích ngôn trung, hiện tượng nhấn mạnh, tiêu điểm, lập luận… để làm rõ quan điểm của người tạo lập phát ngôn trong những tình huống cụ thể
4 Trong phân tích những thông tin từ sự phát ngôn, luận án chú ý đến những đặc trưng phi ngôn từ như ngôn điệu (ngữ điệu) và những dấu hiệu kèm lời (cử chỉ điệu bộ) được mã hóa trong thành tố ngôn từ của phát ngôn
5 “Chánh ngữ trong giáo thuyết nhà Phật là một nguyên lý giao tiếp” [14,
45-52] Đây là một đóng góp mới trong lúc tác giả thực hiện luận án
Trang 170.6.2 Về thực tiễn
1 Luận án góp thêm phần sáng tỏ về cách thức biểu đạt hàm ý trong giao tiếp của tiếng Việt và tiếng Hán
2 Đóng góp vào nguồn tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên, giáo viên
và những người quan tâm đến đề tài trong việc nghiên cứu phương thức biểu đạt hàm
ý
3 Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho việc nâng cao kỹ năng giao tiếp của người Việt và cho người nước ngoài học tiếng Việt, trong các trường hợp cụ thể dùng cách nói hàm ẩn
0.7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết
Nhiệm vụ của chương là: Thứ nhất, trình bày về tình hình nghiên cứu; Thứ hai, trình bày những vấn đề cơ bản về hàm ý, trên cơ sở có chọn lọc từ các kết quả nghiên cứu của những nhà ngôn ngữ học đi trước Cụ thể chúng tôi sẽ trình bày về nguyên
lý hội thoại và nguyên lý lịch sự, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn, phương thức biểu thị hàm ý
Chương 2: Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong truyện ngắn và kịch tiếng Việt
Nhiệm vụ của chương là khảo sát trên ngữ liệu tiếng Việt “Tuyển tập Nam Cao” - Tác giả Nam Cao, và tuyển kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” - Tác giả Lưu Quang Vũ Chúng tôi sẽ chọn lọc kỹ lưỡng các câu thoại tạo nghĩa hàm ẩn, từ đó phân loại, sắp xếp thành các phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn theo tiêu chí vi phạm các phương châm hội thoại Đồng thời phân tích một số phương tiện ngôn ngữ tạo hàm ý có số lần xuất hiện cao, nhằm thấy rõ đặc tính sử dụng cách nói có ẩn ý trong tiếng Việt và cũng là cơ sở để thực hiện so sánh đối chiếu ở chương 4
Chương 3: Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong truyện ngắn và kịch tiếng Hán
Trang 18Nhiệm vụ của chương là khảo sát trên ngữ liệu nguyên bản tiếng Hán “Truyện ngắn Lỗ Tấn” - Tác giả Lỗ Tấn, và kịch “Lôi Vũ” - Tác giả Tào Ngu; đồng thời để tiện việc đối sánh về sau, luận án có tham khảo thêm bản dịch tiếng Việt “Truyện ngắn Lỗ Tấn” - Tác giả Lỗ Tấn, dịch giả Trương Chính; và kịch “Lôi Vũ” - Tác giả Tào Ngu, dịch giả Đặng Thai Mai Chúng tôi sẽ chọn lọc kỹ lưỡng các câu thoại tạo nghĩa hàm ẩn, từ đó phân loại, sắp xếp thành các phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm
ẩn theo tiêu chí vi phạm các phương châm hội thoại Đồng thời phân tích một số phương tiện ngôn ngữ tạo hàm ý có số lần xuất hiện cao, nhằm thấy rõ đặc tính sử dụng cách nói có ẩn ý trong tiếng Hán, và cũng là cơ sở để thực hiện so sánh đối chiếu
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở phương Tây
Lúc Đức Phật thành đạo, trong bài pháp Tứ đế đầu tiên Ngài giảng tại vườn
Lộc Uyển, về phương pháp hành trì hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết
bàn Đức Phật đã long trọng chỉ Bát thánh đạo (Bát Chánh đạo) cho năm bạn đồng
tu là nhóm Kiều Trần Như Đó là con đường thánh gồm tám chi: Chánh kiến, Chánh
tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và
Chánh định “Chánh ngữ” là chi thứ ba trong Bát Chánh đạo, sau này trong các Kinh
điển của các Bộ phái, phát triển “Chánh ngữ” lên thành qui tắc ứng xử trong Đạo Phật
Đây là một nguyên tắc giao tiếp mà về sau trong công trình của Grice đã đề cập đến
Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày ở mục 1.2.1.3
Đến những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nhà ngôn ngữ học hiện đại như:
Austin, Searle, Ducrot, Grice, Dik, Halliday, Hagège… đều nhấn mạnh đến dụng học
Vì dụng học đề cập đến sự vận dụng kết học và nghĩa học trong những tình huống
khác nhau, nên có điều kiện để đi sâu, phân tích các khái niệm tiền giả định, hiển
ngôn, hàm ngôn, suy ý, ẩn ý, hàm ý Và ngữ pháp chức năng hiện đại là một thứ ngữ
pháp hành chức, đã nhận ra rằng, trong câu còn có cái gì đó quan trọng hơn cấu trúc
chủ - vị quen thuộc, đó là ý nghĩa lôgich Câu được coi là hành động của ngôn ngữ
diễn đạt hành động của tư duy Nội dung lôgich - ngữ nghĩa ẩn sâu trong bề mặt của
câu đó, được ngữ pháp chức năng gọi là hàm ý Vậy hàm ý là lĩnh vực của những
thông tin ngôn từ hàm ẩn Ngữ dụng học, ngữ nghĩa học, lôgich học… là những hướng
nghiên cứu về lĩnh vực này
Tuy ngữ dụng học xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng các nhà
nghiên cứu đều có chung quan điểm: Ngữ dụng học nghiên cứu cách thức con người
hiểu và sản sinh một hành vi giao tiếp hoặc một hành vi ngôn ngữ trong một ngữ cảnh
nói năng cụ thể Trên thực tế, ngữ dụng học được nghiên cứu theo 3 đường hướng
Trang 20chính đó là: 1 Đường hướng Triết học; 2 Đường hướng Ngôn ngữ học xã hội; 3 Đường hướng Tri nhận Chúng tôi xin trình bày cụ thể về Đường hướng Triết học:
Đại diện tiêu biểu cho trường phái này là H P Grice, một nhà triết học ngôn ngữ, với tác phẩm nổi tiếng là Lôgich và hội thoại (Logic and Conversation) Ông khẳng định rằng có những nguyên tắc cơ bản của ứng xử con người của tính cộng tác
và sự chú ý hỗ tương, hai bên đối với nhu cầu và sự mong muốn của người khác cung cấp một cơ sở đối lập với nó mà việc sử dụng ngôn ngữ được nghiên cứu và so sánh Những nguyên tắc và phương châm là một phần của tri thức tiền giả định được người nói và người nghe chia sẻ Các nhà nghiên cứu dụng học theo đường hướng này thường dựa vào khung lý thuyết Nguyên tắc cộng tác hội thoại (The Cooperative Principle), được cụ thể bằng 4 phương châm (Lượng, Chất, Quan hệ và Cách thức)
để xác định nghĩa của phát ngôn Khi bàn đến bốn phương châm trên các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc người nói có vi phạm hay không phương châm hội thoại (Flouting maxims) Trong cuộc thoại, người nói có chủ ý vi phạm phương châm nào
đó, thì đều nhằm mục đích giao tiếp nhất định Vì vậy, để tránh vi phạm những phương châm trên, người nói sử dụng các biện pháp nói tránh hay là rào đón (Hedges)
Ngữ dụng học là nghiên cứu chính cái hệ thống nhấn mạnh khả năng của người
sử dụng ngôn ngữ hiểu các phát ngôn Nếu như ngữ pháp quan tâm đến việc mã hóa kinh nghiệm của con người dưới dạng hình thức ký hiệu ngôn ngữ, thì ngữ dụng học quan tâm đến cách thức con người sử dụng những ký hiệu đó tác động ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngữ dụng học được các nhà Việt ngữ học quan tâm từ những năm
80 của thế kỷ XX Riêng về lĩnh vực của những thông tin ngầm ẩn đã có những công trình nghiên cứu tiên phong của Hoàng Phê (1975) với: Phân tích ngữ nghĩa (1975), Ngữ nghĩa của lời (1981), Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong ngữ nghĩa của từ (1982), Ý nghĩa của hàm ngôn trong lời nói (1988),…Tác giả cho rằng, cái kỳ diệu của ngôn ngữ là cho phép nói ít mà làm cho người nghe có thể hiểu nhiều Bên trong những điều nói trực tiếp còn có những điều nói gián tiếp, gợi ý cho người nghe tự
Trang 21mình suy nghĩ mà hiểu lấy Điều nói trực tiếp là hiển ngôn, điều nói gián tiếp là hàm ngôn Hàm ngôn có thể phong phú hơn hiển ngôn, có khi mâu thuẫn với hiển ngôn, nhưng thường hiển ngôn là để nói hàm ngôn Hàm ngôn chính là cái ý muốn nói [71,
93]
Cũng theo hướng này, Nguyễn Đức Dân đã có những nghiên cứu về: Ngữ nghĩa các từ hư (1984), Lôgich và hàm ý trong câu trỏ quan hệ nhân quả (1990); Các kiểu nghĩa của phát ngôn: các tiền giả định, hành vi ngôn ngữ, hàm ý ngôn ngữ, hàm
ý hội thoại (1996) Năm 1998, tác giả cho ra đời cuốn “Ngữ dụng học” (tập 1) Tác giả đã phân biệt hai loại hàm ý là hàm ý ngôn ngữ và hàm ý ngữ dụng (hàm ý hội thoại) Hàm ý ngôn ngữ được hình thành từ các phương tiện ngôn ngữ Hàm ý hội thoại được hình thành trên cơ sở các nguyên lý và phương châm hội thoại Đây là sự phân định rõ ràng và hợp lý, được giới nghiên cứu đồng tình Có thể khẳng định Nguyễn Đức Dân là nhà Việt ngữ học có nhiều đóng góp đáng kể cho lĩnh vực hàm
ý Hầu hết các công trình nghiên cứu của tác giả đều liên quan đến hàm ý Từ hàm ý ngôn ngữ (các từ hư: liên từ, trợ từ, phó từ,… đến câu khẳng định, phủ định, chất vấn,…các cấu trúc nhân quả, nghịch nhân quả…) đến hàm ý hội thoại (hành vi gián tiếp, nguyên tắc hợp tác, nguyên tắc lịch sự, lập luận, lý lẽ,…) Và từ khái niệm, phân loại, cơ chế hình thành cho đến cơ chế giải mã các hàm ý
Hoàng Tuệ (1991) cho rằng hiển ngôn và hàm ngôn là vấn đề hấp dẫn ngôn ngữ học, thuộc về lý thuyết giao tiếp, ngữ dụng học, ngôn ngữ học văn bản, lôgich-ngữ nghĩa học…Vấn đề này xuất hiện trong giao tiếp bình thường và tất nhiên cả trong văn chương nghệ thuật [95]
Đỗ Hữu Châu với “Đại cương ngôn ngữ học” được xuất bản lần đầu năm 1993, đây cũng là nền tảng lý luận của dụng học ở Việt Nam Theo tác giả, tất cả các qui tắc, cơ chế ngữ dụng học như: chiếu vật và chỉ xuất; các hành vi ngôn ngữ; lý thuyết lập luận; lý thuyết hội thoại không chỉ tạo ra nghĩa tường minh mà còn tạo ra các nghĩa hàm ẩn cho phát ngôn Chỉ có thể giải thích được các nghĩa hàm ẩn một cách thỏa đáng sau khi đã thông tỏ được các qui tắc chiếu vật, các cơ chế hoạt động của
Trang 22các hành vi ngôn ngữ, của lập luận, của phép lễ độ và của sự tương tác (bằng lời và
phi lời) [10, 359]
Cao Xuân Hạo (1998) trong “Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” cũng đã nghiên cứu về hiển ngôn và hàm ngôn Tác giả cho rằng, nếu ngôn ngữ chỉ là công cụ thông tin thì lời nói chỉ cần minh xác là đủ Nhưng thông tin không phải là mục đích của hoạt động ngôn ngữ mà chỉ là một trong những phương tiện tác động lẫn nhau Sở dĩ có hàm ý, hàm ngôn là vì những yêu cầu phức tạp của hoạt động giao tiếp xã hội, của những tác động lẫn nhau giữa những con người cùng một cộng đồng ngôn ngữ, của nền văn hóa dân tộc và của những xu hướng thẩm mỹ của con
người [46, 608]
Nguyễn Thiện Giáp trong “Cơ sở ngôn ngữ học” cũng dành một chương cho ngữ dụng học [37] Đến năm 2000, trong “Dụng học Việt ngữ”, tác giả cho rằng muốn giao tiếp thành công, người ta phải hiểu đầy đủ cả nghĩa hiển ngôn lẫn nghĩa hàm ẩn của phát ngôn Không hiểu nghĩa hàm ẩn của một câu nói là chưa thật sự hiểu câu nói
đó [39]
Nguyễn Văn Hiệp (2008), trong “Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp” theo quan điểm ngữ nghĩa học mở rộng của Lyons bao gồm cả những vấn đề mà ngữ dụng học quan tâm Phạm vi khảo sát của tác giả không chỉ là hiển ngôn mà cả hàm ngôn Tác giả đã nghiên cứu về hàm ngôn qui ước và đưa ra ba tiêu chí phân biệt các loại thông tin ngầm ẩn của phát ngôn: Tiêu chí về hàm chân trị, tiêu chí về tính khử bỏ và tiêu chí về ngữ cảnh Điều này giúp cho việc phân loại và nhận dạng các thông tin ngầm ẩn được dễ dàng và thuyết phục [49]
Tạp chí Ngôn ngữ những năm qua cũng đã đăng tải một số bài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực của những thông tin gián tiếp, thông tin hàm ẩn, hàm ngôn, hàm ý:
Dương Hữu Biên (1997), trong “Vài ghi nhận về lôgich và hàm ý” từ bình diện lôgich đã chứng minh: Hàm ý không dễ dàng nảy sinh từ cấu trúc bề mặt mà nảy sinh
từ cấp độ của sự biểu hiện ngữ nghĩa của câu Tác giả còn khẳng định rằng trong giao tiếp, đặc biệt là trong hội thoại, các hàm ý luôn luôn được căn cứ trên các qui luật lôgich [4]
Trang 23Phạm Văn Thấu (1997), trong “Hiệu lực ở lời gián tiếp: Cơ chế và sự biểu hiện” đã phân tích và đi đến việc giải thích cho câu hỏi: Tại sao và khi nào người ta
ưa dùng hành vi gián tiếp? Thứ nhất là do người ta mong muốn nói nhiều hơn cái được nói ra Thứ hai, phát ngôn gián tiếp có thể tạo ra không khí hòa bình lịch sự cho cuộc giao tiếp Thứ ba, người ta mong muốn nói điều khác với cái người ta đã nói ra [81]
Đặng Thị Hảo Tâm (2001) trong “Bước đầu tìm hiểu cơ chế lý giải nghĩa hàm
ẩn của một số hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại” đã xây dựng mô hình lý giải nghĩa hàm ẩn dựa vào: Ngữ năng ngôn ngữ, ngữ năng bách khoa, ngữ năng lôgich, ngữ năng tu từ học [79]
Lê Xuân Mậu (2001) trong “Hàm ngôn và dạy hàm ngôn” cho rằng: Nên có sự thống nhất cơ bản giữa các nhà ngôn ngữ học về nội dung hàm ngôn và hình thành phương pháp nhận biết, giải mã các hàm ngôn [63] Và trong “Ý tại ngôn ngoại-Những bí ẩn dần được khám phá” (2005), tác giả đã ghi nhận: Với những thành tựu của dụng học, nhiều nhà nghiên cứu đã ra sức tìm hiểu các kỹ thuật giải mã “ý tại ngôn ngoại”, và cố gắng khai thác các yếu tố tiềm ẩn trong giao tiếp, nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn chưa dễ khám phá như: Một ánh nhìn, một sự thay đổi kín đáo trên nét mặt, diễn biến tinh tế của ngữ điệu,… [64]
Nguyễn Thị Tố Ninh (2007) trong “Hàm ý và nội dung ngầm ẩn của các phát ngôn có sử dụng phương tiện và biện pháp tu từ” đã xem hàm ý là ý nghĩa mệnh đề được suy ra từ một phát ngôn cụ thể, gắn với hoàn cảnh giao tiếp cụ thể và là nội dung đích thực mà người nói muốn hướng đến người nghe Tác giả kết luận: Không phải nội dung ngầm ẩn nào của phát ngôn cũng là hàm ý; không phải phương tiện, biện pháp tu từ nào cũng là phương thức biểu thị hàm ý [66]
1.1.3 Những nghiên cứu ở Trung Quốc
Nguồn gốc xuất phát ngữ dụng học Trung Quốc cũng giống như ở Việt Nam,
là từ những lý thuyết ngữ dụng phương Tây Hứa Quốc Chương và Hồ Tráng Lân (Đại học Bắc Kinh) đã giới thiệu ngữ dụng học phương Tây đến với Trung Quốc Quyển How to Do Things with Words (J L Austin, 1962) là tập dịch đầu tiên được
Trang 24Hứa Quốc Chương dịch, nhà xuất bản Khoa học Xã hội Trung Quốc xuất bản vào năm 1979 với tên gọi “语言学译丛” (Chùm dịch ngữ dụng học) Kế đến 1980, báo
“国外语言学” (Ngôn ngữ học nước ngoài) kỳ ba lại đăng bài viết “Ngữ dụng học” của Hồ Tráng Lân Năm 1988, nhà xuất bản Giáo dục Hồ Nam đã xuất bản quyển
“语用学概论” (Ngữ dụng học Khái luận) do Hà Tự Nhiên viết, trở thành một giáo trình ngữ dụng học bằng chữ Hán đầu tiên cung cấp cho độc giả Năm sau, Hà Tự Nhiên biên soạn quyển “语用学概要” (Ngữ dụng học Đại cương) được nhà xuất bản Giáo dục Ngoại ngữ Thượng Hải xuất bản, vì vậy các độc giả trong nước có thêm một quyển sách tham khảo, đây là sách giáo khoa giới thiệu toàn diện về lý luận và phương pháp ngữ dụng học; trong đó chương bảy, giới thiệu lý thuyết quan hệ của Sperber và Wilson, con người nhận biết sự vật trên cơ sở theo nguyên tắc quan hệ
Lý thuyết quan hệ có liên quan đến nguyên tắc hợp tác của Grice, nhưng không đơn giản như phương châm quan hệ trong nguyên tắc hợp tác Lý thuyết quan hệ là một quá trình suy lý, trong đó quan trọng là ngữ cảnh phải được thể hiện rõ ràng thì thông tin truyền đạt mới chính xác
Khương Vọng Kỳ với “语用学――理论及应用” (Ngôn ngữ học - Lý luận và Ứng dụng), nhà xuất bản Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 2000, Đây là giáo trình ngôn ngữ học được các học giả Trung Quốc biên soạn bằng tiếng Anh Quyển sách
có bảy chương, trọng tâm thảo luận về năm chuyên đề là chỉ thị ngữ, hàm ý hội thoại, tiền giả định, hành vi ngôn ngữ và phân tích hội thoại Kết cấu không vượt ngoài khung lý thuyết của Levinson (1983), nhưng nội dung có phần phong phú hơn
Sách Chấn Vũ với “语用学教程” (Giáo trình Ngữ dụng học), nhà xuất bản Bắc Kinh xuất bản năm 2000 Quyển sách là giáo trình giảng dạy của khoa Trung văn, trong khuôn khổ cơ bản là lý thuyết Levinson (1983) Ngoài chương hai thông qua số lượng lớn các cuộc đối thoại trong kịch trích từ “茶馆” (Quán Trà), “龙须沟” (Long Tu Câu), “雷雨” (Lôi Vũ),…thảo luận về ngữ cảnh, còn lại các tiêu đề và sự sắp xếp các chương khác cũng giống như của Levinson (1983)
Trang 25Năm 2001, Hà Tự Nhiên và Nhiễm Vĩnh Bình chủ biên quyển “语用与认
nhà xuất bản Nghiên cứu và Giảng dạy Ngoại ngữ xuất bản Quyển sách tập hợp 38 bài báo viết về lý thuyết quan hệ của các học giả Trung Quốc và cũng là quyển tổng quan đầu tiên Mở đầu là bài “讯递和认知的相关性” (Tính tương quan giữa nhận thức và chuyển giao thông tin), đã đăng vào kỳ 3 năm 1988 tại nhà xuất bản Nghiên cứu và Giảng dạy Ngoại ngữ Đây là bài viết sớm nhất của Trung Quốc giới thiệu về
lý thuyết quan hệ, những bài viết còn lại được đăng vào năm 1990
Từ những bài báo này, chúng ta thấy được các học giả Trung Quốc đã đi sâu nghiên cứu ngữ dụng học và theo kịp bước nghiên cứu của thế giới
Việc nghiên cứu học thuyết hàm ý hội thoại của Grice, đã chiếm vị trí chủ đạo
ở Trung Quốc Trình Vũ Dân (1983) giới thiệu học thuyết hàm ý hội thoại từ rất sớm, nghiên cứu về học thuyết Grice có giá trị lý luận lớn, như nghiên cứu về nguyên tắc hợp tác và các phương châm, cơ chế suy luận hàm ý hội thoại tân Grice, đã trở thành
xu hướng chủ đạo trong nghiên cứu ngữ dụng, độ sâu và rộng của nó rõ ràng vượt xa các lĩnh vực nghiên cứu khác [158]
Hứa Thịnh Hoàn (1994) và Vương Truyền Kinh (1995) giới thiệu rất qui trình về giá trị lý luận của học thuyết Grice Hứa Thịnh Hoàn (1993b, 1994) đã phân tích học thuyết hàm ý Grice cổ điển với cơ chế suy lý của tân Grice, đồng thời đề ra cơ chế suy luận hàm ý của chính mình
Tiền Quán Liên (1987) đề ra khái niệm thông tin giả tồn tại trong giao tiếp, cho rằng đây là hiện tượng mà nguyên tắc giao tiếp không thể giải thích được
Hùng Học Lượng (1997) đã đánh giá tiêu chuẩn phân loại hàm ý Ngoài nghiên cứu thảo luận trên lý thuyết, rất nhiều học giả Trung Quốc vận dụng các khái niệm ngữ dụng học phương Tây để phân tích vấn đề câu và ngữ nghĩa
Thẩm Gia Huyên (1987) ứng dụng ba khái niệm hàm súc, hàm ý và tiền giả định giải thích hai cụm “差不多” (kém không nhiều) và “差点儿” (kém một chút), sai khác nhau về ý nghĩa và cách dùng; cho rằng ba khái niệm này có thể giải thích rất nhiều hiện tượng tương tự như vậy trong tiếng Hán
Trang 26Thôi Hy Lượng (1993) vận dụng tiền giả định, suy luận và hàm ý hội thoại phân tích “连字句” (câu ghép) trong tiếng Hán
Đặng Kế Mậu (1997) vận dụng khái niệm hàm ý hội thoại phân tích điều kiện ngữ dụng sử dụng câu phản vấn, cho rằng câu phản vấn không chỉ tăng cường ngữ thế (tình thế ngôn ngữ), thực chất của nó là biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn, phù hợp với phương châm lượng (lượng ngôn ngữ thích hợp) trong nguyên tắc hợp tác
Sự can dự của triết học ngôn ngữ và lôgich học làm cho nghiên cứu ngữ dụng học Trung Quốc tăng cấp đáng kể, đây là điểm nhấn chính về phát triển nghiên cứu ngữ dụng học ở thập niên đầu của thế kỷ XXI Các học giả hoặc là khám phá tư tưởng ngữ dụng học của những nhà triết học ngôn ngữ đi trước (Nhâm Thiệu Tằng – 2002; Lâm Doãn Thanh – 2007; Phạm Liên Nghĩa – 2008; Ngô Mộng Đình – 2009; Vu Lâm Long, Ngô Hiến Trung – 2009; Thôi Phụng Quyên – 2009 v.v…), hoặc từ góc
độ triết học tiến hành khảo sát và nghiên cứu sâu về nguyên lý cơ bản ngữ dụng học Như học giả Du Đông Minh – 2000 đã tiến hành so sánh nghiên cứu ngữ dụng với ý nghĩa và sở chỉ triết học ngữ nghĩa Về học thuyết hàm ý hội thoại, tiến hành suy xét về phương diện lôgich triết học có Liêu Khai Hồng – 2006 Những nghiên cứu này càng làm sâu sắc thêm nhận thức của con người đối với phạm trù triết học, ngữ nghĩa
và ngữ dụng; đã mở ra sự thiết thực về nghiên cứu triết học của ý nghĩa ngôn ngữ Lại có học giả từ góc độ lôgich học hiện đại để nói rõ đặc trưng nguyên nhân ngược dòng của suy luận ngữ dụng, mô hình nghiên cứu này là sức sống mới rót vào suy luận hàm ý của ngôn ngữ tự nhiên.[159]
Luận án chúng tôi nghiên cứu về “Phương thức biểu đạt ý nghĩa hàm ẩn trong tiếng Việt và tiếng Hán (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học)”, là một đề tài mang tính thời sự ngôn ngữ học Mặc dù ở Việt Nam đã có không ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhưng khảo sát phương thức biểu đạt hàm ý trên cứ liệu tác phẩm văn học tiếng Việt và tiếng Hán (hiện đại) thì chưa có công trình nào Luận án sẽ nêu phương thức biểu đạt hàm ý theo tiêu chí vi phạm các phương châm hội thoại của Grice, để thấy rằng ngoài vi phạm các phương châm hội thoại ra còn có phương thức khác nữa; đồng thời tìm ra điểm đặc trưng và sự khác biệt của tiếng Việt và tiếng Hán
Trang 27(thông qua các tác phẩm văn học được chọn) trong cách thức biểu thị hàm ý Hy vọng luận án sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ vào sự phát triển của ngành ngôn ngữ học nước nhà, và cho những ai đang quan tâm đến việc nên biểu đạt hàm ý như thế nào để đạt được kết quả tốt
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Nguyên lý hội thoại và nguyên lý lịch sự
Muốn cho một cuộc thoại thành công, mỗi bên hội thoại cần tuân thủ những nguyên lý nhất định trong hội thoại Đó là nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự, những nguyên lý chi phối, tác động mạnh mẽ tới quá trình hội thoại, cho phép giải thích những hàm ý ở mỗi lượt lời, những hình thức ngôn từ và cấu trúc của phát ngôn trong những tình huống giao tiếp cụ thể
1.2.1.1 Nguyên lý cộng tác hội thoại
1/ Nguyên lý cộng tác và các phương châm
Người đề xướng ra nguyên lý này là Herbert Paul Grice trong những bài giảng
ở trường đại học Harvard vào năm 1967 Sau được in và trình bày đầy đủ trong bài viết “Lôgich và sự hội thoại” (1975) Ông đã phát triển và bổ sung nguyên lý này trong hai công trình in vào năm 1978 và 1981
Grice dựa trên ý tưởng là những người tham gia hội thoại là những tất nhiên duy lý, có nghĩa là họ tuân theo một nguyên lý chung duy lý là nguyên lý cộng tác (Cooperative Principle) Nó được phát biểu như sau: “Hãy đóng góp phần thông tin của mình như đòi hỏi mà mình đã chấp nhận tham gia, tại thời điểm cuộc thoại
diễn ra [110, 45] Để thực hiện nguyên lý cộng tác, người nói phải chấp nhận 9
phương châm hội thoại, được nhóm lại trong 4 phạm trù của Kant: số lượng, chất
lượng, quan hệ và cách thức, như sau [110, 45-46]:
Phương châm lượng: 1 Hãy cung cấp đủ thông tin như đòi hỏi; 2 Không cung
cấp lượng thông tin nhiều hơn đòi hỏi
Phương châm chất: Hãy cung cấp thông tin đúng: 1 Không nói những gì mà
mình tin là sai; 2 Không nói những gì không có bằng chứng
Phương châm quan hệ (hay phương châm thích hợp): Nói vào vấn đề
Trang 28Phương châm cách thức: Diễn đạt rõ ràng: 1 Tránh nói tối nghĩa; 2 Tránh nói
mơ hồ; 3 Nói ngắn gọn; 4 Nói có trình tự
Xin nêu một số ví dụ minh họa:
Chị: Em có thấy cái ví của chị ở đâu không?
Em: Dạ có Lúc nãy rơi dưới sàn nhà, em nhặt để trên bàn vi tính rồi chị ạ Trong đoạn trên, đứa em đã trả lời rõ ràng (phương châm cách thức), xác thực (phương châm chất), cung cấp thông tin đúng như đòi hỏi (phương châm lượng), nói những điều có liên quan (phương châm quan hệ)
Mẹ: Đồ đạc linh tinh trong nhà ngày một nhiều
Con: Con sẽ xếp lại gọn gàng, những thứ không cần thiết thì bỏ đi ạ
Nghe câu nói của con mẹ hiểu rằng con có cách giải quyết những “đồ đạc linh tinh” ấy (phương châm quan hệ) Như vậy người con sẽ cố gắng thu dọn
2/ Những trường hợp vi phạm phương châm hội thoại
1) Sự vi phạm không cố ý
Đó là những tình huống mà các phương châm không hòa hợp với nhau: Vì tôn trọng phương châm này đành phải vi phạm phương châm khác Sự vi phạm này không nảy sinh hàm ý Ví dụ:
A: Chiếc xe máy này anh Nam mua ở đâu mà đẹp vậy?
B: Mua ở quận 5
Câu trả lời của B đã vi phạm phương châm lượng: không cung cấp lượng tin đúng như A mong muốn Vì B đã tôn trọng phương châm chất, không nói điều mình không biết chính xác, nên cung cấp không đầy đủ thông tin mà A muốn biết Nếu B thận trọng, không muốn vi phạm phương châm lượng thì có thể nói thêm “nhưng không nhớ rõ địa chỉ cửa hàng”
2) Sự vi phạm phương châm lượng
Có trường hợp, tuy không phải tôn trọng phương châm nào cả, nhưng vẫn vi phạm phương châm lượng theo cách lặp hoàn toàn, tạo ra một thông tin dư hoàn toàn
Ví dụ:
Trang 29Ông X là một giám đốc ô dù, lúc nào cũng tỏ ra quyền lực với nhân viên Hai nhân viên hạ cấp gặp nhau nói chuyện
A: Thời buổi bây giờ tiến bộ rồi, sao không ai tố cáo tội hống hách của ông ấy?
B: Con quan là quan, xưa nay vậy mà!
Câu nói của người B cốt tạo ra hàm ý Người nghe sẽ hiểu được hàm ý của người đối thoại Ở đây từ “quan” được lặp lại, từ “quan’ đầu là danh xưng cụ thể con nhà quan, từ “quan” sau là khái quát tính cách của nhà quan Như vậy ông giám đốc hống hách là tính quan của con nhà quan vậy
3) Những ví dụ khác
Đã quá giờ cơm trưa mà anh chồng vẫn cặm cụi với công việc Thấy vậy vợ bảo:
Vợ: Trưa quá rồi anh à!
Chồng: Anh mới ngồi xuống thôi mà!
Câu nói của vợ và câu trả lời của chồng đều không đúng với tiền giả định của chu cảnh vì đã đến bữa cơm thì phải ngồi vào ăn, người vợ không nói rõ ra là “đi ăn cơm”, còn người chồng trả lời như vậy là do công việc chưa xong đang lúc tìm ra được hướng giải quyết nên bị cuốn hút Ở đây, phương châm quan hệ đã bị vi phạm
vì câu trả lời không liên quan đến thời gian đã quá trưa Phương châm cách thức cũng
bị vi phạm vì phát ngôn người chồng trả lời mang tính cách mơ hồ, tối nghĩa mà người vợ thì hoàn toàn không biết về tiến độ và sự gấp rút của công việc như thế nào? Trường hợp vi phạm này phát sinh hàm ý hội thoại
4) Các phương châm thể hiện thành những quy tắc riêng
Một điều thú vị là những phương châm trong nguyên lý cộng tác được thể hiện
thành những quy tắc riêng trong từng loại câu Như Lê Đông [34, 51] nêu quy tắc đặt
câu hỏi là:
a Không đặt câu hỏi chứa tiền giả định không chân thực
b Không đặt câu hỏi vượt cấp về tiền giả định
Trang 30Cả hai quy tắc trên đây đều thể hiện phương châm chất (không nói điều mà mình tin là sai) Vì rằng theo lý thuyết hỏi của Geach, câu hỏi vượt cấp về tiền giả định cũng chính là câu hỏi vi phạm về tính chân thực của các tầng bậc tiền giả định
có trong một câu
Ví dụ: Thấy em trai đi học về trễ người anh hỏi rằng:
Anh: Xem phim có hay không?
Em: Phim gì?
Câu hỏi của người anh rõ ràng không đúng với hoàn cảnh của đứa em là đang
đi học, người anh đã đặt câu hỏi trên cơ sở một tiền giả định sai sự thật với hàm ý nghi ngờ đứa em bỏ học đi chơi, nhưng đứa em vì bài tập nhiều nên phải thêm giờ giải xong hết rồi mới về mà điều này người anh lại không tìm hiểu rõ Cũng vi phạm phương châm chất, vì việc bảo đứa em đi xem phim là không có bằng chứng chính xác
5) Sự cố tình vi phạm các phương châm hội thoại
Đó là một chiến thuật giao tiếp Khi đó, người ta đã dùng công cụ ngôn ngữ
để thể hiện điều mình muốn, tức là hàm ý, hoặc để tác động và cũng có thể để gây
- Trời rét thế này mà anh nỡ để chị ấy nằm một mình à?
Cừ cười gượng gạo:
- Ôi chào, còn nụ cà hoa mướp đếch gì nữa, gọi nhau bằng ông bằng bà cả rồi!
……
Đôi môi Khôi động đậy như muốn nói, nhưng Cừ đã hỏi trước:
Trang 31- Chị Tư độ này đã đi làm được chưa? Cặp ấy cũng vất vả giống vợ chồng mình có lẽ bố mẹ phàm ăn quá nên tranh mất cả phần con
(Nguyễn Khải - Chuyện người tổ trưởng máy kéo)
Câu nói của Cừ chứng tỏ anh ta rất có trách nhiệm với vai trò là chủ nhiệm chính trị nông trường, nhưng lời đáp của Khôi đã vi phạm phương châm quan hệ, không liên quan đến việc Cừ đang quan tâm Rồi Cừ lại đáp: “…, còn nụ cà hoa mướp…” lời đáp bóng bẩy không rõ ràng như thế đã vi phạm phương châm cách thức Rồi Cừ lại nói tiếp: “…có lẽ bố mẹ phàm ăn quá nên tranh mất cả phần con.” Câu nói này mơ hồ, tối nghĩa khiến người nghe suy nghĩ theo nhiều hướng khác nhau; vi phạm phương châm cách thức và cũng vi phạm cả phương châm quan hệ vì việc chị Tư đã
đi làm được hay chưa? Không can hệ gì với câu nói mơ hồ ấy Ví dụ trên, cho thấy rằng muốn hiểu được ý của các lời thoại thì phải suy nghĩ, nghiền ngẫm…đây gọi là cách nói hàm ẩn (nói có ẩn ý)
3/ Những vấn đề đặt ra về nguyên lý cộng tác
Có nhiều ý kiến cho rằng, trong giao tiếp giữa những người khác biệt nhau về nền văn hóa thì sẽ không tránh khỏi phát sinh những điều bất cập không thuận lợi khi hội thoại, thậm chí còn gây nên những hậu quả tai hại, mặc dù mỗi bên vẫn cố gắng tuân theo nguyên lý cộng tác Tức là, cần nhìn nhận nguyên lý cộng tác theo từng chiều sâu của mỗi nền văn hóa, nhất là chúng liên quan đến những điều cấm kỵ và sự xúc phạm thể diện của những người đối thoại
Lại nữa, trong hội thoại có những hành vi hay được dùng, lượt lời thứ hai ưa dùng Còn những lượt lời khác lại ít dùng, bị chấp nhận một cách thụ động, miễn cưỡng Những điều này có liên quan chặt chẽ tới những hiện tượng về hàm ý hội thoại
Có những hiện tượng rất giống nhau trong cách hiểu một phát ngôn mà chúng không phải luôn luôn phụ thuộc hoặc được suy ra từ nội dung ngữ nghĩa của phát ngôn đó, thậm chí đôi khi cách hiểu này còn trái ngược với nội dung chính thức của phát ngôn Cho nên, các phát ngôn không phải là những hiện tượng giản đơn trong thế giới vật chất, cũng chẳng thuộc riêng vào lĩnh vực lôgích và triết học Chúng là những đối tượng ngôn ngữ, có nghĩa là những đối tượng ngôn ngữ khác nhau sẽ có những phát
Trang 32ngôn khác nhau Cũng không thể xếp loại giản đơn các phát ngôn bằng những quy luật vật lý hay lôgích hoặc cấp cho chúng một vị trí trong thế giới ngữ nghĩa bằng một chức năng chỉ xuất đơn giản Do đó, lý do làm cho chúng ta quan tâm về phương diện ngôn ngữ tới các phương châm hội thoại là ở chỗ chúng ta tạo ra những suy luận không phải là ngữ nghĩa Dường như chúng nằm ngoài nội dung ngữ nghĩa của những câu đã được phát ra; hơn thế nữa, chúng dựa cả trên nội dung của những điều người
ta đã nói và một vài giả định đặc thù về đặc trưng cộng tác trong tương tác lời nói thông thường Những suy luận ấy được gọi là hàm ý hội thoại
Vấn đề đáng quan tâm nữa là khi thấy một người “không tuân thủ” một phương châm hội thoại nào đó thì cần cân nhắc lại xem người ấy có muốn đạt được điều gì với hành vi ngôn ngữ như vậy trong quá trình hội thoại hay không Cái khái niệm
“không tuân thủ”, nói một cách khái quát tiền giả định rằng người nói có một ý định ngầm ẩn là tạo ra một hiệu quả mong muốn từ sự vi phạm một phương châm nào đó
mà chủ đích là để đạt được hiệu quả ngữ dụng
Một đoàn khách du lịch sắp tham quan núi Cấm (ở An Giang-Châu Đốc), trong đoàn có người vui mừng hớn hở, nhưng cũng có người lộ vẻ lo lắng (vì chưa từng trải nghiệm leo núi), thấy vậy anh hướng dẫn viên du lịch nói: “Hãy thử chinh phục ngọn núi linh thiêng này, xuống núi rồi lúc ấy sẽ rõ!” Câu nói mập mờ, vi phạm phương châm cách thức nhưng cốt đạt chủ đích kích thích tính tò mò muốn khám phá của du khách
Những thảo luận cụ thể về những phương châm của Grice như sau: Câu hỏi chung nhất là: Ngoài nguyên lý cộng tác, có cần bằng ấy phương châm và trong mỗi phương châm có cần tất cả các điểm như Grice đã vạch ra hay không? Một số người cho rằng tầm quan trọng của những phương châm không như nhau, “hãy nói vào đề”,
“hãy nói vào vấn đề” là quan trọng nhất
Có hai cố gắng đặc biệt thảo luận về phương châm quan hệ Đó là của Horn (1984) và Sperber & Wilson (1986)
4/ Horn và phương châm hội thoại: Hai nguyên lý Q (Quantity) và R (Relation)
Trang 33Horn nghiên cứu phương châm quan hệ trong khuôn khổ lý thuyết của Grice Tác giả thấy rằng có một số câu có cách hiểu rõ ràng, không có gì là mơ hồ, trong khi
đó lại có những câu khác đòi hỏi sự cố gắng hiểu một cách chính xác ở người nghe
Ví dụ: Hôm qua tôi cắt vào ngón tay
Câu này, lẽ đương nhiên hiểu rằng đó là ngón tay của tôi Cũng có thể hình dung ra một tình huống đặc biệt để hiểu rằng đó là ngón tay người khác Trái lại, có những câu giống như vậy nhưng lại đòi hỏi một sự cố gắng đặc biệt mới có thể hiểu theo cách “thông thường” như câu trên, nhưng lại dễ dàng có một cách giải thích khác
Ví dụ: Tối nay tôi gặp một phụ nữ
Giống câu trên, nhưng ở câu này người phụ nữ không phải là “của tôi” như ngón tay của tôi Dễ hình dung ra những cách hiểu khác, từ đó sẽ dẫn tới những câu chuyện cười
Chiều sâu của vấn đề này được Horn nâng lên thành hai nguyên lý, và tác giả
kỳ vọng chúng cũng trở thành những phương châm hội thoại như của Grice:
Nguyên lý Q (số lượng): Nói nhiều như cần thiết (say as much as you can) Nguyên lý R (quan hệ): Không nói nhiều hơn điều phải nói (Say no more than you must)
Nguyên lý Q thiên về lợi ích của người nghe Cần thiết nói đầy đủ điều mình truyền đạt Làm thế nào để người nghe nhận thức được đầy đủ nhất điều định truyền đạt? Người nói cần nói theo cách đơn giản, dễ hiểu nhất và dùng những từ đơn nghĩa Dùng những cách nói đồng nghĩa cốt sao truyền đạt tối đa thông tin cần nói Vậy nó bao hàm phương châm lượng thứ nhất của Grice (cung cấp đủ thông tin như đòi hỏi) và hai điểm đầu tiên về sự rõ ràng của phương châm cách thức (tránh diễn đạt tối nghĩa và tránh mơ hồ)
Nguyên lý R lại thiên về lợi ích của người nói Dùng một cố gắng tối thiểu để diễn đạt được điều cần nói theo nguyên lý người nói tiết kiệm năng lượng của Zipf Vậy nó bao hàm phương châm lượng thứ hai (không cung cấp thông tin nhiều hơn mức đòi hỏi), phương châm thích hợp (hay quan hệ), và hai điều sau của phương châm cách thức (nói ngắn gọn và nói có trình tự)
Trang 34Khi nói “tôi cắt vào ngón tay”, theo nguyên lý R người nghe hiểu rằng đó là ngón tay của tôi Với câu thứ hai lại dùng nguyên lý Q để thể hiện được điều “đó không phải là vợ tôi hay người phụ nữ quen thuộc mà tôi gặp hàng ngày” Vì “người phụ nữ” không phải là mức tối đa cần để diễn đạt khái niệm “vợ tôi”
Nói cách khác, nguyên lý Q đòi hỏi ta cần cung cấp một lượng tin tối đa, cần thiết trong ngữ cảnh đã biết; còn nguyên lý R thì tiết kiệm, càng nói ít càng tốt, ngữ cảnh sẽ nói thay điều cần nói Hai nguyên lý này có khả năng giải thích được nhiều hiện tượng liên quan tới sự phủ định, phép lịch sự và những hiện tượng từ ngữ khác
5/ Sperber và Wilson: Lý thuyết quan hệ (Relevance theory)
Lý thuyết quan hệ dựa trên một cách tiếp cận mới về thông tin và sự tri nhận Năm 1986, khi hai tác giả này công bố công trình “Relavance: Communication and Cognition” nhiều người đón nhận nó một cách thích thú và tin rằng nó tạo ra một hướng mới, thay thế lý thuyết của Grice , thậm chí có người còn nói rằng đã có một
“trường phái” mới Tuy nhiên, như ý kiến của Mey [124, 78], thành công này mới chỉ
có tính chất địa phương
Theo hai tác giả này, ngữ dụng học chỉ cần một nguyên lý Đó là nguyên lý quan hệ Trong một ngữ cảnh xác định, những lời mà người ta nói với nhau là có mối quan hệ
Sự giả định ngầm ẩn của lý thuyết quan hệ là trong một ngữ cảnh đã cho, chúng
ta có giả định rằng những điều mà người ta nói là có quan hệ Thuật ngữ này có một nội hàm rộng hơn khái niệm “cộng tác” của Grice Hai tác giả này còn cho rằng
“nguyên lý quan hệ còn tường minh hơn nguyên lý cộng tác và các phương châm của
Grice” [125, 161] Nguyên lý cộng tác thì quá ư chữ nghĩa, đã lạm dụng sự tương tác
ngôn ngữ của chúng ta Trái lại, nguyên lý quan hệ không nói về “những mục đích chung hay là đặt ra mục đích” hội thoại mà chỉ cần hoàn thành sự thông tin thành công là đủ thực hiện sự hội thoại hay là những tương tác lời nói khác nhau “Sự thông tin thành công” ở đây được hiểu theo nghĩa tôi được người đối thoại nhìn nhận như
là một người có một cái gì đó, một điều liên quan gì đó khi nói Một người nói thành công là người thực hiện được ý định chuyển thông tin được thể hiện chung, thuyết
Trang 35phục hay gây niềm tin… một cách rõ ràng ở cả người nói lẫn cho người nghe Một thực tế là ý định làm cho bạn tin vào điều gì đó của một người nói đáng tin cậy là lý
do tốt nhất để bạn tin vào điều đó Cái giả định một ý định thông tin được “thể hiện chung” này là điểm cốt lõi trong quan điểm của Sperber và Wilson Hơn nữa nó còn là đặc điểm trung tâm của hành vi giao tiếp của con người, thậm chí đến mức chúng
ta không thể đơn giản nói rằng chúng ta “tuân theo” nguyên lý quan hệ: “Những người thông báo không phải tuân theo nguyên lý quan hệ Và họ cũng có thể không vi phạm
nó cho dù họ muốn Nguyên lý quan hệ được áp dụng không có ngoại lệ” [125, 162]
Cách tiếp cận này của hai tác giả hữu ích về nhiều phương diện Nó khiến chúng ta cần nhìn nhận lại nhiều vấn đề trung tâm của ngôn ngữ học, đặc biệt là về ngữ nghĩa và ngữ dụng Cái mục đích thông báo, theo lý thuyết quan hệ, không phải
là sự sao chép tư duy mà là “sự mở rộng môi trường nhận thức chung” Hai tác giả nói rằng lý thuyết quan hệ cho phép giải thích được tất cả những hiện tượng mà trước đây phải viện đến những phương châm khác nhau của Grice để giải thích Một vấn đề được xem là một thách thức cho bất kỳ một lý thuyết nào Nếu như lý thuyết này chưa đủ hiệu quả, thì hai tác giả cũng cho rằng lý thuyết của họ là không có ngoại lệ,
là cần thiết và không bác bỏ được
Sự có quan hệ là hiển nhiên Có điều lý thuyết quan hệ tự nó trở nên quá rộng rãi, quá bao trùm và do vậy mất hiệu lực giải thích
Một vấn đề quan trọng liên quan tới lý thuyết quan hệ là mặc dù được tuyên
bố rằng nó nghiên cứu về sự thông báo nhưng lại đề cập rất ít về những tương tác giao tiếp thực tế như đã xảy ra trong xã hội chúng ta Lý thuyết này đã không nhấn mạnh tới phương diện xã hội của ngôn ngữ Người ta nói năng trong những điều kiện
xã hội nhất định Lý thuyết này không gắn bó mật thiết với những điều mà người ta nói năng hàng ngày cũng như những vấn đề quan trọng của lý thuyết diễn ngôn Và thực tế nó đã không đạt được những điều đầy hứa hẹn như trong tuyên ngôn ban đầu mà người ta chờ đợi
6/ So sánh nguyên lý cộng tác hội thoại của Grice và lý thuyết quan hệ của Sperber và Wilson
Trang 36Theo Sperber và Wilson (1986), bốn phương châm của Grice có thể được thay thế bởi lý thuyết quan hệ của họ Hai tác giả lý luận rằng tổng thể mô hình của Grice chính là lý thuyết quan hệ, vì các phát ngôn ở phương châm nào cũng ít nhiều liên quan đến tính quan hệ Ví dụ, theo họ, phương châm “hãy nói ngắn gọn” (phương châm cách thức) liên quan đến nỗ lực xử lý thông tin, vì thế nó được đưa vào thành một tiêu chí của “nỗ lực xử lí thông tin” Hơn nữa, lý thuyết quan hệ có thể thay thế phương châm về chất (quality - hãy nói những gì bạn cho là đúng) và phương châm này có thể gộp vào trong nguyên lý hội thoại, vì các phương châm khác có tác dụng trước tiên phải bắt đầu từ phương châm này Phương châm về lượng (quantity) liên quan đến tác động ngữ cảnh của lý thuyết quan hệ
Theo Sperber và Wilson, tính quan hệ là do người nghe rút ra được tối đa từ tác động ngữ cảnh tối đa với nỗ lực xử lí thông tin tối thiểu Đây là một điểm khác cơ bản so với nguyên lý hội thoại của Grice, trong đó những người tham thoại chủ động hợp tác khi cấu tạo phát ngôn của mình Sperber và Wilson còn lý luận rằng, việc xác định ngữ cảnh là do người nghe chủ động tiến hành, và đây là một thành phần của tiến trình hiểu phát ngôn
Trên thực tế, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Ví dụ, đối với nguyên lý hội thoại của Grice, theo Mey (1993), một ưu điểm của các phương châm cũng như các trường hợp người nói không tuân thủ các phương châm là chúng giúp cho những người tham thoại lựa chọn và điều chỉnh phát ngôn của mình theo đúng nguyên lý hội thoại nhằm đạt hiệu quả giao tiếp đồng thời trở thành những người tham thoại tốt Một tồn tại của nguyên lý hội thoại, theo Joan Cutting (2002), đó là những quốc gia khác nhau thường có những cách nói khác nhau trong việc tuân theo hay không tuân theo các phương châm Vì thế, có khi ở nền văn hóa này với lối nói này thì được gọi là tuân theo phương châm nhưng ở nền văn hóa khác thì lối nói đó được cho là không tuân theo phương châm Khi người Mỹ hỏi nhau “How are you?” thì họ chỉ cần nhận được câu trả lời “Fine” Nếu người nghe mô tả sức khỏe của mình chi tiết thì vi phạm phương châm về lượng; trái lại, ở những quốc gia khác, câu hỏi
đó cần được trả lời chi tiết về tình trạng sức khỏe Joan Cutting (2002) còn cho rằng
Trang 37có khi trong một hội thoại, các phương châm hoạt động chồng chéo lên nhau, khó xác định phương châm đang hoạt động là phương châm gì
Khi nói đến ưu điểm mô hình của Sperber và Wilson, Mey (1993) cho rằng
mô hình này không chú ý đến bất kỳ khái niệm nào về mục tiêu giao tiếp hay hỗ tương trong tương tác của những người tham thoại mà chỉ chú ý đến định nghĩa thế nào để một hoạt động giao tiếp thành công, đó là sự nhận ra ý định của người nói từ những người tham thoại Tuy nhiên, theo Mey (1993), mô hình của Sperber và Wilson không chú trọng đến các khía cạnh văn hóa xã hội của việc sử dụng ngôn ngữ Hơn nữa, do các khái niệm về lý thuyết quan hệ không thể được kiểm nghiệm, vì thế thật khó để chứng minhvà vì thế không mang tính khoa học Hay khi nói đến vấn đề ngữ cảnh, thật khó cho người nói khi phảỉ chịu trách nhiệm đối với sự chọn lựa ngữ cảnh
để xử lý từ người nghe, khi mà người nói không được biết rõ nội dung các giả định
từ người nghe [121]
Nghiên cứu hai quan điểm nguyên lý hội thoại và lý thuyết quan hệ giúp chúng
ta vừa đi sâu tìm hiểu các cơ chế xử lý thông tin vừa tìm cách xử lý các vấn đề tồn tại mà hai quan điểm bộc lộ Chẳng hạn, khi thực hành nguyên lý hội thoại, những người tham thoại cần nắm vững những lối nói mang đặc tính văn hóa xã hội mới mong hiểu được hàm ý Nguyên lý hội thoại cần được bổ sung bởi những vấn đề giao tiếp mang đặc thù văn hóa xã hội trong khi giao tiếp Đây cũng là vấn đề liên quan đến việc dạy
và học ngoại ngữ trong nhà trường, trong việc trang bị cho người học kiến thức và thực hành giao tiếp hiệu quả và lịch sự
1.2.1.2 Nguyên lý lịch sự
1/ Khái quát
Bên cạnh nguyên lý cộng tác trong hội thoại thì nguyên lý lịch sự (principe of politeness) là một nguyên lý đặc biệt quan trọng Tính lịch sự (tế nhị) là một yếu tố tác động tới các hiện tượng, quy luật và cấu trúc ngôn ngữ Ảnh hưởng rất mạnh tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp Vì tầm quan trọng đặc biệt của nó nên hầu như các tài liệu nào về ngữ dụng học cũng đề cập tới nguyên lý lịch sự Nhiều nhà
Trang 38nghiên cứu đã khảo sát vấn đề này theo những góc độ khác nhau Theo Fraser (1990),
có bốn cách tiếp cận khác nhau về phép lịch sự, đó là:
1 Lịch sự dưới góc độ một chuẩn mực xã hội (có từ thời xa xưa)
2 Lịch sự dưới góc độ một phương châm hội thoại (các công trình của R Lakoff (1973, 1989), G.Leech (1983), W Edmondson (1981), A Kasher (1986)…)
3 Lịch sự như một hành vi giữ gìn thể diện (P Brown và S.Levinson (1987))
4 Lịch sự dưới góc độ của sự hợp tác hội thoại (B Fraser (1990))
Chúng tôi xin giới thiệu một số vấn đề về phép lịch sự, chủ yếu dựa theo tóm tắt của Kerbrat – Orecchioni (1992) Đầu tiên, theo quan điểm của nữ tác giả R Lakoff Lịch sự là tôn trọng nhau Nó là một biện pháp dùng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giao tiếp giữa các cá nhân Vậy nên cần thực hiện những quy tắc sau:
a Không áp đặt (trong lễ nghi, ngoại giao)
b Để ngỏ sự lựa chọn (trong giao tiếp thương lượng)
c Làm người đối thoại cảm thấy thoải mái (trong trò chuyện thân mật)
2/ G Leech (1983) và phép lịch sự
Dưới góc độ một phương châm hội thoại, Leech đã thiết lập nguyên lý lịch sự dựa trên khái niệm “thiệt” (cost) và “lợi” (benefit) giữa người nói và người nghe do ngôn từ gây nên Nội dung khái quát của nguyên tắc này là: Giảm tới mức tối thiểu những cách nói không lịch sự và tăng tới mức tối đa những cách nói lịch sự Trong công trình “Những nguyên lý của dụng học” (Principles of Pragmatics), Leech cho rằng, lịch sự là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói gây ra cho người đối thoại
Để có một phát ngôn lịch sự, cần phải điều chỉnh mức lợi-thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong tương tác liên nhân Hay nói cách khác, lịch sự là sự bảo toàn sự cân bằng xã hội và tình thân giữa người nói với người nghe Leech cụ thể hóa nguyên tắc lịch sự trong sáu phương châm:
(1) Phương châm khéo léo (Tact maxim): Giảm đến mức tối thiểu những điều thiệt và tăng tối đa những điều lợi cho người
Trang 39(2) Phương châm hào hiệp (Generosity maxim): Giảm đến mức tối thiểu những điều lợi và tăng tối đa những điều thiệt cho ta
(3) Phương châm tán thưởng (Approbation maxim): Giảm đến mức tối thiểu những lời chê, tăng tối đa những lời khen đối với người
(4) Phương châm khiêm tốn (Modesty maxim): Giảm tối thiểu việc tự khen, tăng tối đa việc tự chê
(5) Phương châm tán đồng (Agreement maxim): Giảm đến mức tối thiểu lối nói thể hiện sự bất đồng, tăng tối đa lối nói thể hiện sự tán đồng
(6) Phương châm cảm thông (Sympathy maxim): Giảm đến mức tối thiểu ác cảm, tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người
Người Việt Nam rất coi trọng phương châm khéo léo, tế nhị trong giao tiếp
Vì thế, lời nói trong giao tiếp thường được tuyển chọn rất kỹ, theo cách thức “phải uốn lưỡi chín lần” trước khi nói, điều này đã được nâng thành những phương thức ngôn ngữ ứng xử trong nghệ thuật giao tiếp Đó là các lối nói vi phạm các thứ bậc tiền giả định theo lý thuyết của Geach (1962) Với câu hỏi, đó là sự “vượt cấp tiền giả định trong câu hỏi” theo cách gọi của Lê Đông (1996) Ví dụ gặp người mới quen,
có những điều không tiện hỏi nhưng lại rất cần biết như về gia đình, tuổi tác, tình trạng hôn nhân,…vậy là vẫn phải hỏi, nhưng hỏi theo cách tế nhị để bày tỏ sự quan tâm với đối tác đang giao tiếp bằng những câu hỏi vượt cấp về tiền giả định Muốn biết một người có vợ hay chưa thì sẽ hỏi: “Bà xã làm nghề gì?”; muốn biết một người
có hài lòng về con cái hay không thì hỏi: “Các cháu nhà bác ngoan lắm nhỉ?”…
Leech cho rằng nguyên lý lịch sự có tầm quan trọng ngang với nguyên lý cộng tác của Grice Vì thế, cần chú ý tới nó trong quá trình hội thoại
3/ Thể diện
Nguyên lý lịch sự cũng không thể tách rời khái niệm “thể diện”, “giữ gìn thể diện” trong khi giao tiếp Người đầu tiên đề cập đến vấn đề thể diện (face) là E.Goffman (1973) Hai người phát triển và trình bày những phương diện căn bản của thể diện là P.Brown và S.Levinson (1978) Kerbrat-Orecchioni (1992) đã hệ thống hóa và thảo luận sâu về vấn đề thể diện
Trang 40Theo Goffman, thể diện của một con người liên quan đến lòng tự trọng về phương diện xã hội – tâm lý của một cá nhân trong giao tiếp Cho nên, trong giao tiếp mỗi người cần thực hiện những điều để cho các hành động của mình giữ được thể diện của mọi người, kể cả của chính mình
Brown và Levinson đã phân biệt hai phương diện của thể diện, đó là thể diện dương (positive face) và thể diện âm (negative face) hay còn gọi là thể diện tích cực
và thể diện tiêu cực
Thể diện dương là những điều mà mỗi người muốn mình được khẳng định, được những người khác tôn trọng, tức mỗi cá nhân luôn tự đánh giá cao mình Thể diện âm là những điều mà mỗi người muốn mình được coi là người lớn không bị ai cản trở trong hành động; tức là mỗi người có một không gian cá nhân (nội tại gồm thể xác lẫn tinh thần) mà những người khác không được xâm phạm Chúng ta dùng thuật ngữ “thể diện” để chỉ thể diện dương và thuật ngữ “lãnh địa” (territoire) để chỉ thể diện âm như cách dùng của Traverso (1996)
Khái niệm “thể diện” liên quan mật thiết với khái niệm “vị thế xã hội”, nhất là
ở những nơi có phân biệt đẳng cấp và tôn ti xã hội Vị thế xã hội càng cao thì “thể diện”, “lãnh địa” càng lớn Chẳng hạn như, Hiệu trưởng nói với các giáo viên: “Mỗi giáo viên là tấm gương sáng cho học sinh noi theo, mọi người hãy tự kiểm điểm lại xem mình đã là tấm gương sáng chưa?” Hoặc là trong cuộc họp Giám đốc nói với nhân viên rằng, tôi sẽ không tăng lương cho những ai chậm trễ tiến độ công việc
Trong hội thoại, có những hành vi xúc phạm tiềm ẩn hoặc công khai tới thể diện và lãnh địa của người đối thoại hoặc của chính mình Loại hành vi đó được gọi là làm phương hại, như những hành vi: đề nghị, ra lệnh, yêu cầu, cấm đoán, khuyên can, gợi ý ai thực hiện một điều gì đó… nghĩa là những hành vi chi phối đều làm phương hại tới lãnh địa của người tiếp nhận vì chúng đều hạn chế tự do hành động của người đó; những hành vi chê bai, châm chọc, chế giễu, từ chối, quở mắng, phê phán, chửi bới, kết tội… đối với một người đều làm phương hại tới thể diện của người
đó vì đã hạ thấp giá trị của họ; những hành vi nhận lỗi, xin lỗi, tự phê phán, tự kiểm thảo… đều là tự hạ giá trị, do vậy chúng làm phương hại tới thể diện của chính mình