ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRẦN HÀ GIANG Ý NGHĨA DỤNG HỌC HÀNH VI TẠI LỜI CỦA CÁC VỊ TỪ TÌNH THÁI KHẢO SÁT TRÊN DIỄN NGÔN PH
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình thái và hành vi ngôn ngữ vốn đã là đối tượng tìm hiểu của không ít công trình nghiên cứu trong lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ học Trong đó, vấn đề tình thái từ lâu đã nhận được sự quan tâm tìm hiểu từ các nhà kí hiệu học, lôgích học, ngôn ngữ học Chính vì xuất phát từ những hướng tiếp cận khác nhau nên kết quả thu được cũng có những điểm khác nhau Với khả năng và điều kiện cho phép, luận văn có dịp được tiếp cận tới những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về lý thuyết hành vi ngôn ngữ và vấn đề tình thái nói chung, đặc biệt là VTTT trong tiếng Việt nói riêng
2.1 Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ở ngoài nước
- Về vấn đề lý thuyết hành vi ngôn ngữ
Dựa trên nền tảng sự phát triển của lý thuyết dụng học cuối thế kỷ XX, công trình Foundation of the Theory of Signs của Ch W Morris (1938) đã bàn đến việc nghiên cứu ký hiệu học trên ba bình diện: Kết học (syntactics), nghĩa học (semantics), dụng học (pragmatics) Ngoài ra, trong các công trình kế thừa và phát triển lý thuyết dụng học, phải nhắc đến một trong những công trình nghiên cứu nền tảng về lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J Austin (1962) trong How to Do Things with Words, với việc xem xét chức năng thực hiện một hành vi nào đó qua lời nói:
“locutionary act” (hành vi tạo lời), “illocutionary act” (hành động tại lời),
“performance act” (hành động mượn lời) Công trình này đã góp phần quan trọng giúp cho các công trình nghiên cứu sau nhận diện và lý giải nhiều hiện tượng ngôn ngữ trong giao tiếp
Tiếp theo đó, công trình của J Austin đã được nhiều nhà ngôn ngữ học đi sau nghiên cứu và phát triển thêm như: J Searle (1969) với Speech Acts, ngoài việc phân loại các hành vi ngôn ngữ tác giả còn đề cập tới hành vi tại lời (illocutonary act) Theo ông, đây là đối tượng mà ngữ dụng học cần đi sâu vào nghiên cứu
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về lý thuyết hội thoại, tiêu biểu có H.P.Grice (1975) trong “Logic and Conversation” [123] Trong đó, ông trình bày về các nguyên lý cộng tác để một cuộc hội thoại được tiến hành thuận lợi nhất như: “phương châm về lượng, chất, quan hệ và cách thức” (I call these categories Quantity, Quality, Relation, and Manner) [123; 45], đồng thời đề cập đến những hàm ngôn hội thoại (conversational and implicature)
- Về vấn đề lý thuyết tình thái
Trong quá trình tìm hiểu về vấn đề tình thái, luận văn đã tham khảo và tiếp cận đến một số công trình tiêu biểu sau:
Trong cuốn Ngôn ngữ học đại cương, Đỗ Thị Kim Liên (2014) có đề cập đến một trong những nhà nghiên cứu tiêu biểu khi khát quát về lịch sử nghiên cứu “vấn đề tình thái” như: “Ch.Balli (1942) là người nghiên cứu về tu từ học có đề cập đến vấn đề tình thái của câu Ông phân biệt phủ định miêu tả và phủ định với phủ định siêu ngôn ngữ (hay sự phủ định phản bác) Sau ông, năm 1972, tác giả O Ducrot
(1972) cũng tiếp tục khẳng định về sự miêu tả này ” [59; 297]
Hơn nữa, khi xem xét sức ảnh hưởng của những từ biểu thị tình thái tới những HVTL, B Fraser (1975) phân tích trong Syntax and Semantics 3: Speech Acts đã chú ý nghiên cứu những câu chêm là: “Những câu có động từ tình thái đứng trước một động từ ngữ vi khác, như: must, can, will, would, might, should” [dẫn theo 22; 45] Tác giả đã lấy trường hợp từ “must” để xét sự ảnh hưởng của nó trong những HVTL Ông cho rằng: Những hành vi này có bị ảnh hưởng nhưng không mất đi ý nghĩa, B.Fraser gọi những câu đó là “những biểu thức ngữ vi bị cản (Hedged performatives)” Và trong những câu đó, giả dụ từ “must” có tác dụng tăng cường hiệu lực cho các HVTL thì “chúng được gọi là biểu thức ngữ vi mạnh (Strongly performative)” Trái lại, nếu từ “must” gây phương hại đến hành vi đó thì được gọi là “biểu thức ngữ vi yếu (weakly performative)” [22; 45]
Bên cạnh đó, Nguyễn Đức Dân (1998) trong Ngữ dụng học đã đề cập đến quan điểm của các tác giả K Bach và R Harnish (1992) khi xem xét từ “must” trong trường hợp “I must ask you to leave” (Tôi phải mời anh đi) Theo đó, sự tồn tại của từ tình thái “phải” (must) trong câu trên chắc chắn có lý do đặc biệt khiến người nói phải sử dụng nó Trong trường hợp này, người nói không muốn trực tiếp dùng hành vi thỉnh cầu (ask) Đồng thời, các tác giả đó đã nhấn mạnh tới ngữ cảnh giao tiếp góp phần đến việc hình thành các phát ngôn như trên [22; 43-47]
Ngoài ra, Halliday (2001) trong cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng đã đề cập đến vấn đề hành động ngôn ngữ và vấn đề tình thái, đáng chú ý là vấn đề thức của động từ trong việc thể hiện giá trị tình thái [42]
2.2 Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ở trong nước
Vấn đề hành vi ngôn ngữ và vấn đề tình thái từ lâu đã được các nhà Việt ngữ học chú ý tới với rất nhiều công trình nghiên cứu Do đó, luận văn tập trung tìm hiểu những công trình liên quan một cách trực tiếp đến các vấn đề trong giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Về vấn đề tình thái trong hành vi ngôn ngữ
Trong quá trình tìm hiểu và tham khảo những công trình có đề cập đến yếu tố tình thái trong các hành vi ngôn ngữ, có khá nhiều công trình đáng chú ý đã đề cập đến như:
Nguyễn Đức Dân (1996), (1998), (2016) trong các công trình như: Lôgích và tiếng Việt, Ngữ dụng học (tập 1), Logic – ngữ nghĩa từ hư tiếng Việt Tác giả đã chỉ ra vai trò của các động từ tình thái với cương vị là các “dấu hiệu ngữ vi” trong các “biểu thức ngữ vi” Đồng thời, tác giả còn nêu ra những quan hệ ngữ nghĩa – lôgich để chỉ ra vai trò của các từ tình thái trong HVTL: “Có sự tương ứng giữa các tình thái với các động từ ngữ vi Mỗi nghĩa của một từ tình thái ứng với một hành vi ngôn ngữ cụ thể Chẳng hạn, có sự tương ứng giữa nghĩa cần phải (có bổn phận) với hành vi mệnh lệnh Trong khi đó, nếu dùng từ phải trong câu hỏi thì nó lại là một tình thái nhận thức.” [20; 97]
Công trình nghiên cứu của Bùi Trọng Ngoãn (2004), Khảo sát động từ tình thái trong tiếng Việt (Luận án tiến sĩ) đã mô tả các động từ tình thái trong tiếng Việt với phạm vi cụ thể là về các mặt: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Một trong những vấn đề mà luận văn rất quan tâm là công trình này có khảo sát các động từ tình thái ở bình diện dụng học Cụ thể hơn là việc nghiên cứu mối quan hệ của
“động từ tình thái” với các phát ngôn có HVTL mà nó tham gia biểu thị Nhìn chung, công trình này đã mô tả một cách khái quát những động từ tình thái thành những hệ thống và mô hình tổng quát trong từng nhóm HVTL
Bên cạnh đó, còn có Nguyễn Thị Thuận với nhiều bài viết phân tích, khảo sát một số các động từ tình thái về mặt dụng học trong các hành động ngôn ngữ như: “Phương diện dụng học (Hành động ngôn ngữ) của các động từ tình thái
Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu Để làm sáng rõ những vấn đề trong đề tài, luận văn có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như sau:
- Phương pháp thống kê, miêu tả: Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình khảo sát ngữ liệu trên báo Những kết quả thu được sẽ là cơ sở để rút ra những đánh giá, nhận xét khoa học và khách quan về đối tượng nghiên cứu Chẳng hạn, với việc thu thập 284 diễn ngô phỏng vấn trên chuyên mục Thời sự của báo Tuổi Trẻ, người viết đã tiến hành tách lọc các phát ngôn trong lượt lời của người hỏi (phóng viên, nhà báo) và người được hỏi (khách mời) Sau đó nhận diện các VTTT trong các HVTL, thống kê lại tần số xuất hiện của các VTTT trong từng tiểu loại HVTL Song hành còn có phương pháp miêu tả, chẳng hạn như miêu tả sự tương tác trên bề mặt kết cấu ngôn ngữ của các VTTT trong HVTL, miêu tả lại bối cảnh xã hội của cuộc phỏng vấn, Sự miêu tả này tạo bước hình dung ban đầu cho người tiếp nhận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp này được người nghiên cứu sử dụng để trình bày những biện giải của mình nhằm làm sáng rõ một vấn đề nào đó, đặc biệt là việc giải mã những hàm ngôn trong các diễn ngôn phỏng vấn báo chí Hoặc, quy nạp lại các vấn đề đã nghiên cứu một cách tổng quát sau khi đã luận giải chi tiết để rút ra những nhận xét chung
Bên cạnh đó, luận văn này còn có sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành như:
- Phân tích diễn ngôn (discourse analysis): Theo David Nunan (1997) giải thích trong cuốn “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” thì: “Phân tích diễn ngôn liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Sự xác nhận ở đây là phân tích diễn ngôn liên quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng – so sánh với sự phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của chúng (mà Cook (1989), còn có những người khác nữa, xem như phân tích văn bản)…” [68; 21] Đây là cơ sở quan trọng khi nhận diện và phân tích vấn đề phải luôn gắn với ngữ cảnh giao tiếp Đặc biệt là đối với những VTTT xuất hiện trong những HVTL trên diễn ngôn phỏng vấn báo chí
Ngoài các phương pháp nghiên cứu trên, luận văn còn thường xuyên sử dụng các phương pháp và thủ pháp như: so sánh, mô hình hóa trong quá trình phân tích và trình bày luận văn
4.2 Nguồn ngữ liệu Để thực hiện đề tài này, luận văn tập trung khảo sát 284 bài phỏng vấn trên chuyên mục Thời sự của nhật báo Tuổi trẻ, cụ thể là những số báo được phát hành hàng ngày từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 6 năm 2016 Các bài phỏng vấn này đa phần thường đề cập đến những vấn đề chính trị - xã hội đang được dư luận quan tâm, chú ý
- Khái quát một số thông tin về báo Tuổi Trẻ
+ Lịch sử hình thành và phát triển:
Báo Tuổi Trẻ ra đời chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1975, là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đã phát triển thành một tổ hợp truyền thông đa phương tiện, gồm các ấn bản: Tuổi Trẻ (nhật báo), Tuổi Trẻ Cuối tuần (tuần báo), Tuổi Trẻ Cười (tạp chí hàng tháng hiện nay là bán nguyệt san), Tuổi Trẻ Online (báo điện tử), Tuoitrenews (ấn phẩm tiếng Anh của báo Tuổi
Trẻ), Áo trắng (tạp chí hàng tháng), Tuổi Trẻ Mobile (phiên bản của Tuổi Trẻ
Online cho các thiết bị di động), Tuổi Trẻ Media Online (ấn phẩm đa phương tiện, phát hành trên mạng)
Trụ sở đầu tiên của báo Tuổi Trẻ tại 55 Duy Tân (nay là Phạm Ngọc Thạch, Q.3, thành phố Hồ Chí Minh) Tiền thân của tờ báo này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin in roneo của sinh viên, học sinh Sài Gòn trong phong trào chống
Mỹ những ngày Chiến tranh Việt Nam
Báo Tuổi Trẻ là một trong những tờ báo uy tín và nhận được sự tin yêu của đông đảo độc giả cho đến hôm nay Thời điểm khảo sát ngữ liệu phục vụ cho đề tài này, tổng biên tập là ông Tăng Hữu Phong Tòa soạn đặt tại Số 60A, Hoàng Văn Thụ, Phường 9, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
- Đôi nét về chuyên mục Thời sự
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “thời sự” là: “Tổng thể nói chung những sự việc ít nhiều quan trọng trong một lĩnh vực nào đó, thường là xã hội – chính trị, xảy ra trong thời gian gần nhất và đang được nhiều người quan tâm.”
Trong khoảng thời gian khảo sát (từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 6 năm
2016), chuyên mục Thời sự của báo Tuổi Trẻ thường được trình bày từ trang 2 đến trang 5 Theo ngữ liệu thu thập, chuyên mục Thời sự là chuyên mục thường xuyên sử dụng hình thức phỏng vấn để giải đáp, thông tin những vấn đề đang được dư luận chú ý quan tâm Do đó, chuyên mục này được bố trí ở những trang đầu tiên của tờ báo và cũng là những trang mà độc giả đón đọc nhiều nhất.
Đóng góp của luận văn
So với những công trình đã nghiên cứu về vấn đề tình thái trong ngôn ngữ nói chung và nghiên cứu về VTTT dưới bình diện dụng học nói riêng, thì luận văn này nhằm góp phần tìm hiểu và ứng dụng một số lý thuyết trọng tâm sau:
Thứ nhất, xuất phát từ việc nhận diện và mô tả các VTTT trong những HVTL, luận văn phân tích sự tác động của các VTTT đối với các HVTL, đồng thời làm sáng rõ hơn vai trò quan trọng của các VTTT trong việc biểu đạt giá trị tình thái trong phát ngôn
Thứ hai, không chỉ xem xét hiệu lực của những phát ngôn trong mối tương quan với xuất hiện của các VTTT, luận văn phân tích và lý giải những giá trị hàm ngôn trong mối liên hệ giữa chủ thể phát ngôn với sự tình được đề cập đến
Khi chọn khảo sát trên nguồn ngữ liệu là các diễn ngôn phỏng vấn báo in, luận văn mong muốn góp một phần sự tìm tòi trong việc ứng dụng những vấn đề lý thuyết của nhiều công trình đi trước để lý giải “những thông tin chìm” được người nói thể hiện trong ngôn ngữ báo chí hiện hành nói riêng, trong tư duy ngôn ngữ của người Việt nói chung
Cùng với những ví dụ minh hoạ và số liệu khảo sát thực tế, luận văn sẽ là nguồn tư liệu đáng tham khảo cho những ai có nhu cầu tìm hiểu hoạt động ngôn ngữ trên báo chí cũng như việc nghiên cứu sâu hơn những vấn đề được đề cập trong đề tài.
Cấu trúc của luận văn
Ngoài hai phần Dẫn nhập và Kết luận, nội dung của luận văn sẽ được trình bày thành ba chương chính như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết Ở chương này, luận văn trình bày một số vấn đề lý thuyết cơ bản, có thể kể đến như: Vị từ tình thái, Hành vi tại lời, Hàm ngôn và hàm ngôn của VTTT Đây là những cơ sở tiền đề giúp cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
- Chương 2: Đặc trưng của các HVTL và hiệu lực của VTTT trong các HVTL trong diễn ngôn phỏng vấn
Trong chương 2, nội dung chủ yếu của luận văn là tập trung đi vào việc trình bày hiệu lực của các VTTT tác động lên các HVTL thông qua kết quả khảo sát các diễn ngôn phỏng vấn Tuy nhiên, không dừng ở việc khảo sát, liệt kê luận văn còn đi sâu vào phân tích hiệu lực của VTTT trong từng tiểu loại HVTL
- Chương 3: Hàm ngôn của VTTT trong các HVTL diễn ngôn phỏng vấn Đây là chương trình bày và phân tích những giá trị hàm ngôn của VTTT theo hai nội dung trọng tâm: Hàm ngôn ngôn ngữ và hàm ngôn hội thoại của VTTT trong diễn ngôn phỏng vấn báo in Đồng thời, tìm hiểu những ý nghĩa ngữ dụng khác trong hội thoại như việc thể hiện “thông tin chìm” trên báo chí và vai trò biểu đạt phép lịch sự của VTTT
Ngoài ra, cuối luận văn còn có phần Tài liệu tham khảo, Dẫn liệu và Phụ lục.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Vị từ tình thái
- Thuật ngữ: Vị từ tình thái (VTTT) (tiếng Anh: modal verb; tiếng Pháp: verbe modal)
Theo quan niệm của các ngôn ngữ Châu Âu, đặc biệt là các ngôn ngữ có hình thái như: tiếng Anh, tiếng Pháp, Thuật ngữ modal verb được dùng để gọi các từ có chức năng biểu thị tình thái như: Can, must, should, hay verbe modal được dùng để gọi các từ như: Vouloir, pouvoir, devoir
Trong tiếng Việt, một số nhà Việt ngữ học dùng thuật ngữ động từ tình thái như cách gọi của các tác giả: Đinh Văn Đức (2001) [38], Diệp Quang Ban (2010)
[7], để gọi những từ như: cần, muốn, phải, có thể, toan định, dám, bị, được…
Cách gọi này có liên quan hoặc được chuyển dịch trực tiếp từ thuật ngữ modal verb (tiếng Anh) hoặc verbe modal (tiếng Pháp) Đa số các tác giả cho rằng, các từ này biểu thị những ý nghĩa về điều kiện và thái độ của chủ thể đối với hành động
Tuy nhiên, một số nhà ngôn ngữ khác lại dùng thuật ngữ vị từ tình thái
(VTTT), tiêu biểu có các tác giả như Cao Xuân Hạo (2007) [48], Huỳnh Văn Thông
(2004) [87], Nguyễn Thị Quy (2008) [76], Nguyễn Đức Dương (2000) [33], Các tác giả này xuất phát từ quan niệm cho rằng sự phân biệt giữa “verbe” và “adjectif” là một trong những nét đặc trưng nổi bật của các tiếng Châu Âu và đối với các ngôn ngữ có hình thái học Chẳng hạn, Cao Xuân Hạo định nghĩa rằng: “Vị từ tình thái là vị từ biểu thị thái độ của người nói đối với sự tình hoặc đối với nội dung của sự tình hoặc tham tố của sự tình.” [46; 42]
Hay, “Vị từ tình thái là vị từ có bổ ngữ là một ngữ vị từ cùng có một chủ thể
(diễn tố thứ nhất) chung Chẳng hạn: Ắt, chắc, chẳng, dám, đã, đừng, hãy, không, lại, muốn, phải, quyết, rất, toan, vừa, chính, đích, ngay, những, v.v ” [46; 42]
Ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp cũng định nghĩa VTTT là: “Vị từ chỉ ra thái độ của người nói/ người viết đối với sự kiện được biểu hiện bằng một vị từ khác, tức là nó chỉ ra những kiểu tình thái khác nhau” [41; 482]
1.1.2 Nhận diện và phân loại vị từ tình thái (VTTT) trong tiếng Việt Để tiến hành nhận diện và phân loại VTTT khi xử lý và phân tích các ngữ liệu, luận văn xem xét chúng dựa trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Song, luận văn chủ yếu dựa vào những cơ sở lập luận chung được nhiều nhà nghiên cứu đi trước chấp nhận để tiến hành nhận diện các VTTT, đặc biệt là dựa vào đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của chúng Riêng việc xem xét về mặt ngữ dụng, tức là tìm hiểu “quan hệ của tín hiệu với người dùng” là vấn đề liên quan trực tiếp đến luận văn sẽ được trình bày một cách rõ ràng và cụ thể trong những phần sau
1.1.2.1 Vị từ tình thái trên bình diện ngữ pháp
Khi nhận diện VTTT trên bình diện ngữ pháp (kết học) tức là xem xét “quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu”, đặt VTTT trong hệ thống và xét mối quan hệ với các cấu trúc phức tạp hơn Một trong những quan niệm nhận diện một cách rõ ràng về VTTT là định nghĩa của Givón Ông xác định VTTT dựa trên ba tiêu chí quan trọng là:
“1 Đứng trước vị ngữ (verb phrase);
2 Nhận vị ngữ đó làm bổ ngữ;
3 Đồng chủ thể với vị ngữ đó.”
Hình 1.1 Mô hình vị trí VTTT trong cấu trúc câu
Ngoài ra, Cao Xuân Hạo (1991) quan niệm: “Các ngôn ngữ không biến hình, vốn không thể diễn đạt tình thái bằng những biến vĩ, thường có một hệ thống vị từ
VN tình thái rất phong phú làm trung tâm cho vị ngữ của câu và có một ngữ đoạn vị từ làm bổ ngữ trực tiếp trong đó vị từ chính có chủ thể zêrô đồng sở chỉ với chủ thể của vị từ tình thái” [47; 53]
(1) Bộ Kế hoạch - đầu tư nên rà soát lại để rút kinh nghiệm, chỉnh sửa (TT, ngày
Như vậy, để xác định được các VTTT chúng ta phải xác lập các VTTT đứng trước vị ngữ hạt nhân, nhận vị ngữ ấy làm bổ ngữ và đồng chủ thể với bổ ngữ Để làm sáng rõ hơn việc nhận diện các VTTT, các tác giả như Cao Xuân Hạo, Huỳnh Văn Thông, đã dẫn ra những vị từ mà ai cũng dễ dàng chấp nhận như: bắt đầu, bận, biết, bớt, cần, chịu, có, có thể, còn, cố, cữ, dám, đành, đâm (ra), định, được, gắng, gượng, ham, hết, hy vọng, khá, khoan, kiêng, lại, liền, lỡ, mải, mắc, mê, mong, mới, muốn, năng, nên, nghiện, nguyện, ngừng, nhất định, nhịn, nhỡ, nỡ, phải, quyết, sẵn sàng, sắp, sinh ra, thành ra, thèm, thích, thiết, thôi, thường, tình nguyện, tính, trở thành, từng, ưa, ưng, vờ, vội, vừa [48; 399]
Trong đó, Cao Xuân Hạo giải thích rằng: “Sở dĩ phần lớn các từ này đều được coi là động từ (hay tính từ, hay trạng từ, hay phó từ, hay một cái gì cũng không kém phần danh giá bao nhiêu), là vì có thể nói rằng đó là những thực từ (khi dịch ra tiếng Pháp ta sẽ có những vị từ, những tính từ hay những phó từ - adverbes) ” [48; 399]
Còn đối với những từ vốn đã được nhiều nhà ngữ pháp học coi là “hư từ” và thường gọi là “phó từ”, “phó động từ”, “phụ vị từ” như: Ắt, bèn, bỗng, buồn, cam, càng, chẳng, chỉ, chớ, chớm, chợt, chưa, cùng, cũng, cứ, đã, đang, đếch, đều, đừng, hay, hãy, hẵng, hề, hơi, hòng, khắc, không, luống, lỡ, mí (mới), mót, năng, những (mong), rất, sẽ, suýt, thà, toan, trót, ứ, vốn [48; 399] Cao Xuân Hạo đã dựa vào trắc nghiệm Jakhontov để chứng minh tư cách VTTT của những từ này bằng việc xét hai giải thiết: “a VTTT là một phụ ngữ của vị từ trung tâm; b Ngữ đoạn vị từ đi sau VTTT là phụ ngữ của VTTT” [48; 401-404] Ông dẫn chứng, minh hoạ (24 trường hợp) cho cấu trúc và cách dùng của những ngữ đoạn vị từ mở đầu bằng VTTT Theo đó, xin trích dẫn lại một vài trường hợp sau:
U Mày mải làm gì để trâu ăn lúa?
V Anh đã từng làm gì ở sở thú?
W Mày vừa làm gì ở ngoài ao ấy?
X Tôi nên làm gì trước khi thi?
- Tôi đã từng chữa bệnh cho thú
- Cháu vừa ra vớt bèo ạ
- Anh nên nghỉ ngơi vài hôm.”
[48; 403] Theo ông, trong các ví dụ (U) có “mải”, (V) “đã”, (W) “vừa”, (X) “nên” là những VTTT có ngữ đoạn nghi vấn làm bổ ngữ Trong đó, VTTT dùng trong câu hỏi giả định cũng là VTTT dùng trong ngữ đoạn đang xét Do vậy, đối với những ngữ đoạn vị từ đi sau “mải”, “đã”, “vừa”, “nên” là phụ ngữ của chúng
Ngoài ra, khi xét đến khả năng kết hợp của các VTTT trong ngữ đoạn vị từ, trường hợp vị từ bổ ngữ là những VTTT, tác giả Cao Xuân Hạo (2007) cho rằng đây là những chuỗi VTTT Tuy nhiên, để thuận tiện cho quá trình khảo sát ngữ liệu, luận văn chủ yếu nhận diện các VTTT xuất hiện ở vị trí đầu của chuỗi VTTT là đối tượng khảo sát Mặc dù nhận diện các VTTT trong chuỗi VTTT cũng giống như đối với các vị từ thường khác nhưng các chuỗi VTTT này là điểm đáng lưu ý trong quá trình phân tích sự biểu đạt khác nhau về các giá trị tình thái Ví dụ:
(2) Tất cả các biện pháp hoà bình đều có thể được sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam (TT, ngày 08/05/2014)
Hoặc trong một vài trường hợp, các VTTT có thể có danh ngữ làm bổ ngữ hoặc có thể có vị ngữ làm bổ ngữ (trong đó vị ngữ có thể không cùng chủ thể với vị ngữ trung tâm) Ví dụ:
(3) Tôi mong lãnh đạo TP bằng chính công việc hằng ngày của mình sẽ khơi dậy được trí tuệ và nghĩa khí hào sảng của người dân TP (TT, ngày 22/02/2016)
(4) Hiện dịch vụ 3G của Viettel được đánh giá là tốt nhất trong các nhà cung cấp ở Việt Nam (TT, ngày 23/4/2014, trang 5)
Như vậy, mô hình cấu trúc của một ngữ đoạn VTTT là:
Trong giao tiếp, một phát ngôn thường bao gồm nhiều cấu trúc đề - thuyết
Do vậy, khái niệm “khung VTTT” được Huỳnh Văn Thông (2004) quan niệm:
Hành vi tại lời
1.2.1 Khát quát về hành vi ngôn ngữ
J Austin là người xây dựng nên lý thuyết về hành vi ngôn ngữ (speech act), sau đó được J Searle phát triển Các ông tin rằng ngôn ngữ không chỉ được dùng để làm một cái gì đó mà nó thường dùng để thể hiện các hành động qua lời nói Các hành động được thực hiện bằng lời được xem là hành động ngôn từ Theo quan điểm của J Austin, có 3 loại hành vi ngôn ngữ: locutionary act, illocutionary act và perlocutionary act
Tuy nhiên, xét về mặt thuật ngữ có nhiều nhà Việt ngữ học đã chuyển dịch ba thuật ngữ trên với nhiều cách gọi khác nhau, chẳng hạn như: Cao Xuân Hạo gọi là: hành động mệnh đề, hành động ngôn trung và hành động xuyên ngôn [47; 63]; Đỗ Hữu Châu gọi là: hành vi tạo lời (acte locutoire), hành vi ở lời (acte illocutoire) và hành vi mượn lời (acte perlocutoire) [13; 446]; ngoài ra, Nguyễn Thiện Giáp gọi ba thuật ngữ trên là: Hành động ngôn tại, hành động ngôn trung và hành động ngôn tác [40; 281] Trong đó, luận văn đồng tình với cách gọi và quan niệm của Nguyễn Đức Dân (1998):
- Hành vi tạo lời (Locutionary act)
Là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ và các quy tắc hoạt động của chúng để tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung Nói một cách đơn giản, hành vi tạo lời là hành động nói ra một điều gì đó Ví dụ: Để có phát ngôn “Lửa cháy” ta phải tạo ra nó bằng cách phát âm ra (nói ra)
- Hành vi mượn lời (Perlocutionary act)
Là những hành vi “mượn” phương tiện ngôn ngữ hay đúng hơn là mượn phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói Ví dụ:
+ Có một con ong ở tai trái kìa! (người nghe sẽ hốt hoảng, la thét, nhảy lên, phủi mạnh vào vùng tai trái, lắc đầu lia lịa, đồng thời nhảy đến gần chiếc gương để xem tai của mình, trong ngữ cảnh nhất định người nói mượn phát ngôn đó để trêu chọc đối tượng)
Hành vi mượn lời thường được dùng với những mục đích khác nhau Thông thường chúng phải dựa vào ngữ cảnh để xác định được mục đích thật sự của phát ngôn
- Hành vi tại lời (Illocutionary act)
Là hành vi được thực hiện ngay khi nói năng Hành vi tại lời đặt người nói và người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi tại lời đó Ví dụ:
(9) Tôi khuyến cáo anh em rằng có thể dân được còn mình thì né đi, mình phải chịu hi sinh (TT, ngày 19/07/2015, trang 8)
Hành vi khuyến cáo được thực hiện bằng lời nói Nói xong phát ngôn trên, chủ thể đã đồng thời thực hiện được hành động khuyến cáo đối với người nghe
Như vậy, trong ba hành vi trên thì HVTL là đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng học
1.2.2 Khái niệm, điều kiện sử dụng và phân loại hành vi tại lời
Nguyễn Đức Dân gọi “ illocutionary act” là “ hành vi tại lời” và giải thích
“Gọi là tại lời vì nó nằm ngay trong hành vi tạo lời Vì vậy, ta mới có thuật ngữ illocutionary (← in + locutionary), tức là: “Nói một điều gì đó là để thực hiện một hành động gì đó nghĩa là thế nào? Trong giao tiếp, chúng ta có những hành vi hỏi, trả lời, ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khẳng định, cam kết, khuyên bảo… Muốn thể hiện chúng ngay trong lời nói (A: in saying something) thì cần “nói một điều gì đó” Cái hành vi này được gọi là hành vi tại lời (A: illocutionay)” [22; 17]
Phân biệt hai loại HVTL:
Xét các ví dụ sau:
“(1) Anh nên nghỉ một chút
(2) Anh có nghỉ một chút không?
(3) Anh phải nghỉ việc ngay từ sáng mai
(4) Tôi ra lệnh cho anh phải nghỉ việc ngay từ sáng mai.” [22; 17-18]
Câu (1) là một HVTL khuyên có thể được nhận biết qua từ “nên” Câu (2) có HVTL hỏi được thể hiện qua cấu trúc “có không?” HVTL mệnh lệnh ở câu (3) có thể được nhận biết qua từ “phải” Đặc biệt, trong câu (4) cũng là HVTL mệnh lệnh, từ
“ra lệnh” được gọi là động từ ngữ vi
Do đó, sự có mặt hay không có mặt của các “động từ ngữ vi” là nguyên nhân chủ yếu để Austin đã phân biệt hai loại HVTL:
+ HVTL nguyên thủy (primary act) là câu không có chứa các động từ ngữ vi
+ HVTL tường minh (explicit act) là câu chứa các động từ ngữ vi như: khuyên, hứa, ra lệnh, xin lỗi…
Ngoài ra, để biểu hiện một HVTL tức là biểu hiện một biểu thức ngữ vi, chúng ta có 3 phương thức khái quát:
- Thứ nhất, dùng động từ ngữ vi;
- Thứ hai, dùng dấu hiệu ngữ vi;
- Thứ ba, dùng ngữ điệu
1.2.2.2 Điều kiện sử dụng hành vi tại lời
Theo quan niệm của Searle mỗi HVTL đòi hỏi phải có một hệ những điều kiện hay còn gọi là những quy tắc (rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó Mỗi điều kiện lại được thể hiện tùy theo từng HVTL cụ thể, tuy nhiên nhìn chung có bốn điều kiện cơ bản
(a) Điều kiện nội dung mệnh đề: Điều kiện này chỉ ra bản chất nội dung của hành vi
(b) Điều kiện chuẩn bị: Bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói, người nghe
(c) Điều kiện chân thành: Là điều kiện chỉ ra các trạng thái tâm lý tương ứng của người phát ngôn như: ra lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói v.v
(d) Điều kiện căn bản: Đây là điều kiện đưa ra kiểu trách nhiệm mà người nói hoặc người nghe bị ràng buộc khi HVTL đó được phát ra [14; 117]
Chẳng hạn, Đỗ Hữu Châu đã dẫn ra một số hành vi có điều kiện sử dụng khác nhau như sau:
Hành vi khuyên, khuyến cáo (advise)
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành động A trong tương lai do H thực hiện
+ S có những lí do để nghĩ rằng A có lợi cho H
+ Cả đối với S, cả đối với H không chắc rằng bất kể thế nào H cũng thực hiện A nếu không nói ra
- Điều kiện chân thành: S nghĩ rằng A sẽ có lợi cho H
- Điều kiện căn bản: Nhằm đảm bảo rằng A có lợi cho H
Hành vi xác tín, trần thuật, khẳng định (assert, state (that), affirm)
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Bất cứ mệnh đề (P) nào
+ Có những bằng chứng chứng tỏ (P) đúng
+ Cả đối với S, cả đối với H không chắc rằng H đã biết (P) nếu không nói ra
- Điều kiện chân thành: S tin vào (P)
- Điều kiện căn bản: nhằm bảo đảm rằng (P) phản ánh một sự tình thực có [14; 118-119]
1.2.2.3 Phân loại hành vi tại lời a Tiêu chí phân loại
Trong rất nhiều công trình, giáo trình ngữ dụng học đều đề cập đến tiêu chí phân loại theo quan điểm của Searle Theo ông thì có tới 12 “phương diện” (dimension) mà các hành vi ngôn ngữ có thể khác nhau Trong số đó, ông nêu ra 3 tiêu chí thường dùng để phân loại các HVTL như:
- Đích tại lời (illocutionary point)
Là mục đích của HVTL, chẳng hạn: Đích tại lời của hành vi hứa hẹn là từ gán trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì đó Hay, khi phân biệt “đích tại lời” và “hiệu lực tại lời” của hai hành vi “mệnh lệnh” và “thỉnh cầu” thì chúng đều có cùng một đích tại lời là “người nghe sẽ nhận thực hiện (hoặc không thực hiện) một hành động nào đó” Nhưng hiệu lực tại lời giữa hai hành vi này lại khác nhau: Hiệu lực tại lời của hành vi mệnh lệnh là “bắt buộc”, còn hiệu lực tại lời của hành vi thỉnh cầu là “kêu gọi thiện chí”
- Hướng của “sự ăn khớp” (direction of fit)
Hàm ngôn và hàm ngôn của vị từ tình thái
1.3.1.1 Khái niệm hàm ngôn (implication)
Có thể thấy rằng khái niệm hàm ngôn đã được nhắc đến trong rất nhiều các công trình nghiên cứu về ngữ dụng học của các tác giả trên thế giới như: O Ductor, H.P Girce, George Yule, và nhiều tác giả trong nước như: Hoàng Phê, Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp Trong đó, hầu hết các tác giả đều nêu lên một khái niệm nhằm gọi tên loại ý nghĩa ngầm ẩn không được thể hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ Các ý nghĩa hàm ẩn này có vai trò hết sức quan trọng trong những cảnh huống giao tiếp khi mà người phải nói buộc phải dùng cách thức này thay vì phải nói ra một cách “thẳng thừng” Thông thường mỗi phát ngôn gồm có hai phần: hiển ngôn (explicature) và hàm ngôn (implicature), Cao Xuân Hạo phân biệt hai khái niệm này như sau:
“Phần thứ nhất là những gì người nghe có thể trực tiếp nhận ra nhờ nghĩa nguyên văn (gồm có nghĩa đen và một số nghĩa bóng quen thuộc) của những từ ngữ có mặt trong câu và nhờ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ngữ ấy: đó là nghĩa hiển ngôn của câu nói
Phần thứ hai là những gì không có sẵn trong nghĩa nguyên văn của các từ ngữ và trong mối quan hệ cú pháp ấy, nhưng vẫn thấu đến người nghe thông qua một sự suy diễn: đó là nghĩa hàm ẩn của câu nói” [48; 468]
Hay, chúng ta còn nhận ra một quan niệm khác của Hoàng Phê về vai trò của hàm ngôn là: “Khi một lời có hàm ngôn, thì ý hàm ngôn thường là quan trọng, thậm chí có khi hiển ngôn chỉ là dùng để nói hàm ngôn, ý hàm ngôn mới là ý chính” [70;
Trong hoạt động giao tiếp, do một vài nguyên nhân nào đó người nói lại tránh nói một cách trực tiếp với người nghe và từ đó tạo nên hàm ngôn Hiện tượng này có thể được giải thích là do những đặc điểm về văn hóa, tín ngưỡng, quy tắc giao tiếp trong xã hội, địa vị, xu hướng thẩm mỹ, tâm lý giao tiếp… Tuy nhiên, tuỳ vào chủ đích giao tiếp, Nguyễn Đức Dân phân chia hàm ngôn thành hai loại: Hàm ngôn vô hướng và hàm ngôn hữu hướng Trong đó, “Nếu một hàm ngôn thể hiện một chủ đích, chủ ý của người nói thì nó được gọi là hàm ngôn hữu hướng Hàm ngôn hữu hướng thường được gọi là hàm ý (implication)” [24; 142] Bên cạnh đó, ông cũng giải thích thêm về hàm ngôn vô hướng rằng: “Người nói không chủ ý để người khác biết thông tin, nên tiền giả định chỉ là hàm ngôn vô hướng của câu” [24;
Theo Nguyễn Đức Dân, mối liên hệ giữa hàm ngôn và hiển ngôn có thể được tóm tắt theo sơ đồ sau:
Hình 1.3 Phân loại hàm ngôn a) Hàm ngôn vô hướng
Khái niệm tiền giả định (TGĐ) được nhiều người quan niệm như:
Hoàng Phê quan niệm trong Logic – Ngôn ngữ học: “là điều giả định trước là đúng, điều phải được thừa nhận hoặc được chấp nhận là đúng thì một điều nói nào đó mới là có ý nghĩa” [70; 4]
Hay, Cao Xuân Hạo cho rằng: “Những tiền giả định (presuppossitions) của phát ngôn gồm những hiểu biết của hai bên về sự tồn tại của các chủ thể, về tính hiện thực của những sự việc được nói đến.” [47; 61]
Tiền giả định theo Đỗ Hữu Châu, có hai loại:
+ TGĐ ngôn ngữ: “là những tiền giả định được diễn đạt bởi các tổ chức hình thức của phát ngôn” [14; 397]
Hàm ngôn vô hướng Tiền giả định
Hàm ngôn hữu hướng (Hàm ý)
+ TGĐ bách khoa: “bao gồm tất cả những hiểu biết về hiện thực bên trong và bên ngoài tinh thần con người mà các nhân vật giao tiếp cùng có chung, trên nền tảng đó nội dung giao tiếp hình thành và diễn tiến.” [14; 395] b) Hàm ngôn hữu hướng
Theo Nguyễn Đức Dân thì hàm ngôn hữu hướng (hàm ý) (implicature) gồm có hai loại: Hàm ý quy ước (conventional implicature) (hay còn gọi là: Hàm ngôn ngôn ngữ), Hàm ý hội thoại (conversational implicature) (hay còn gọi là: Hàm ngôn hội thoại, hàm ngôn ngữ dụng) Để thuận tiện cho quá trình phân tích và trình bày, luận văn sẽ thống nhất gọi hai thuật ngữ là: hàm ngôn ngôn ngữ (HNNN) và hàm ngôn hội thoại (HNHT)
- Hàm ngôn ngôn ngữ (conventional implicatures)
Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Loại hàm ý độc lập với ngữ cảnh được Grice gọi là hàm ý quy ước (Conventional implicature), và được chúng tôi gọi là hàm ý ngôn ngữ” [30; 268] Đặc biệt, ông quan niệm: “Một cấu trúc đòi hỏi một tình huống dùng và nó thể hiện hành vi gì thì tình huống dùng và hành vi đó cũng là một hàm ý ngôn ngữ” [30; 269]
+ Cơ chế tạo lập hàm ngôn ngôn ngữ
Hàm ngôn ngôn ngữ được nảy sinh do sử dụng từ ngữ, cấu trúc từ Trên cơ sở đó, hàm ngôn ngôn ngữ có thể chia thành hai loại như sau:
Hàm ngôn ngôn ngữ được biểu đạt qua các đơn vị từ ngữ, như các liên từ, các tiểu từ, v.v
Hàm ngôn ngôn ngữ được tạo lập thông qua mô hình cú pháp chuyên biệt như cấu trúc so sánh, nhân quả, tăng tiến, song hành, chất vấn, v.v [112; 8]
- Hàm ngôn hội thoại (HNHT) (conversational implicature)
Nguyễn Đức Dân quan niệm: “Loại hàm ý phụ thuộc vào ngữ cảnh, phụ thuộc vào tình huống dùng được gọi hàm ý hội thoại hay còn gọi là hàm ý ngữ dụng.” [27; 346]
+ Cơ chế tạo lập các hàm ngôn hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu: “Muốn tạo ra được ý nghĩa hàm ẩn KTN 1 , người nói một mặt phải tôn trọng các quy tắc này và giả định rằng người nghe cũng biết và tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm của mình Ý nghĩa hàm ẩn KTN xuất hiện và được lí giải chính ở chỗ vi phạm đó” [14; 377-378] Cụ thể, ông nêu ra những sự vi phạm như sau:
Sự cố ý vi phạm các quy tắc chiếu vật (reference) và chỉ xuất (dexis)
Sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp (indirect speech act)
Sự cố ý vi phạm các qui tắc lập luận
Sự cố ý vi phạm phương châm hội thoại tạo HNHT (intentional violation of conversation maxims and conversational implicature)
1.3.2 Hàm ngôn của vị từ tình thái
1.3.2.1 Tiền giả định (TGĐ) của vị từ tình thái
Cao Xuân Hạo cho rằng bản thân các VTTT có ý nghĩa tình thái: “Có những từ mà nghĩa chỉ có phần tiền giả định: những từ này có tác dụng làm cho ngữ đoạn mà nó tham gia có thêm một tiền giả định, còn bản thân nó không có nghĩa từ vựng riêng” [48; 477] Ngoài ra, tác giả cũng giải thích thêm: “Trong một câu, và ngay trong nghĩa của một từ, thường có một phần được thông báo (posé, soobshchaemoje) và một phần TGĐ (présupposé, predrazumevajemoje) Khi có ai nói một lời phủ nhận câu ấy hay từ ấy, thì chỉ có phần được thông báo bị phủ nhận, chứ TGĐ thì không” [48; 533] Hay, “Tiền giả định của vị từ tình thái thường có liên quan đến tính thực hữu hay phi thực của vị từ bổ ngữ trong khoảng thời gian đã qua so với cái trục thời gian do vị từ tình thái đánh dấu, còn hàm nghĩa của nó có liên quan với thời gian sau” [47; 53]
Như vậy, khi phân tích các phát ngôn TGĐ của các VTTT cho ta biết thái độ, cách sử dụng nó trong những tình huống giao tiếp nhất định Chẳng hạn, VTTT
“lại” trong trường hợp sau có TGĐ là đã xảy ra nhiều lần, người nói dùng VTTT
Khái niệm diễn ngôn và phỏng vấn trên báo in
1.4.1 Khái niệm diễn ngôn (discourse)
Về khái niệm diễn ngôn, có rất nhiều nhà ngôn ngữ học đã tìm hiểu và đưa ra nhiều quan điểm ở những phương diện khác nhau, trong đó tiêu biểu có những định nghĩa sau:
Theo Đỗ Hữu Châu, “Diễn ngôn là bất kỳ một dải nói và viết nào của ngôn từ được cảm nhận là tự nó đã hoàn chỉnh” [14; 33] hay, “Diễn ngôn là một quá trình sản sinh ra và liên kết các phát ngôn thành một chỉnh thể Nó cũng là tên gọi của cái sản phẩm ngôn từ do quá trình đó tạo nên.” [14; 35]
Còn theo quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp thì diễn ngôn là: “Bất cứ một sản phẩm nói hoặc viết nào Mỗi diễn ngôn có thể được một người nói hoặc viết riêng biệt tạo ra, cũng có thể được hai hoặc hơn hai người tham gia hội thoại hoặc trao đổi viết với nhau tạo ra.” [41; 170-171].
Theo David Nunan thì diễn ngôn là: “Một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan nhau theo một cách nào đó.” [68;
19] Ông cho rằng: “Các câu có liên quan nhau, không chỉ theo ý tưởng mà chúng cùng có, mà còn theo công việc mà chúng thực hiện trong diễn ngôn – nghĩa là, theo các chức năng của chúng” [68; 19] Chính vì thế, để phân biệt với “diễn ngôn” ông gọi thuật ngữ “văn bản” để chỉ bất kỳ cái nào ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp, chẳng hạn sự kiện liên quan đến ngôn ngữ nói như: một bài thuyết giáo, một cuộc thoại tình cờ, một cuộc giao dịch mua bán v.v hay, sự kiện liên quan đến ngôn ngữ viết như: một bài thơ, một quảng cáo trên báo, một áp – phích dán tường, một bản kê khai các thứ mua sắm, một tiểu thuyết v.v Đặc biệt, David Nunan gọi thuật ngữ “diễn ngôn” để chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh
Như vậy, luận văn này xem xét các diễn ngôn với mục đích nhằm nhấn mạnh đến một trong những đặc trưng nổi bật là: “Tính liên tục (một dải ngôn ngữ) lớn hơn phát ngôn, do các phát ngôn hợp lại, có tính mạch lạc và đồng quy về một hành vi ngôn ngữ chủ đạo nào đấy như tự sự, thỉnh cầu, lập luận…hoặc liên kết với nhau tạo thành một đơn vị hội thoại theo một kiểu loại hội thoại nào đấy (phỏng vấn, hành lễ trong nhà thờ…v.v)” [14; 33]
1.4.2 Phỏng vấn trên báo in
Cùng với tin vắn, bình luận, phóng sự v.v, phỏng vấn được xếp vào nhóm thể loại thông tấn vì đều có chung những đặc điểm nổi trội như tính mới mẻ, kịch tính và kịp thời cung cấp thông tin đến độc giả
Trong tiếng Anh, phỏng vấn (“interview” gồm “inter”: trao đổi, liên kết;
“view”: quan điểm, chính kiến) có nội hàm là trao đổi, trò chuyện về vấn đề nào đó giữa người này với người kia bằng hình thức giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp
Theo Đinh Văn Hường thì “Phỏng vấn báo chí là một trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội quan tâm, có ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định, được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng” [52; 57]
1.4.2.2 Các dạng phỏng vấn và đặc trưng của phỏng vấn báo chí
Trong cuốn Công nghệ phỏng vấn, Maria Lukina chia phỏng vấn làm 5 dạng: phỏng vấn thông tin, phỏng vấn linh hoạt, phỏng vấn - điều tra, phỏng vấn chân dung, phỏng vấn sáng tạo [60; 29-36]
Còn theo Đinh Văn Hường trong Các thể loại báo chí thông tấn đã phân chia phỏng vấn theo những cách thức phổ biến như: Phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián tiếp, phỏng vấn toạ đàm, phỏng vấn minh hoạ, phỏng vấn tự biên tự diễn [52; 92-
Theo đó, các bài phỏng vấn mà luận văn khảo sát được thu thập trên chuyên mục Thời sự của báo Tuổi Trẻ, chủ yếu được thực hiện với hai dạng đối tượng: Thứ nhất, dạng phỏng vấn với những nhà lãnh đạo, quản lý các tổ chức chính trị - xã hội; Thứ hai, dạng bài phỏng vấn với các chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định như: kinh tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, pháp luật
- Đặc trưng của phỏng vấn báo chí
Dựa trên sự thể hiện về mặt hình thức, Đinh Văn Hường (2006) đã nêu ra những đặc trưng riêng rất dễ nhận diện so với các loại hình báo chí khác, chẳng hạn:
+ Phỏng vấn là một cuộc hỏi – đáp giữa người này với người khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp về một vấn đề, sự kiện nào đó mà xã hội quan tâm
+ Phỏng vấn (hỏi chuyện bất cứ người nào mà nhà báo cần), song trên thực tế thường chọn những người “có thẩm quyền”, “có tiếng tăm”, có “vị trí xã hội” để hỏi nhằm khai thác thông tin cung cấp cho công chúng Do vậy, thông tin trong bài phỏng vấn các đối tượng đó thường có độ tin cậy, sức thuyết phục, trách nhiệm và cả giá trị pháp lý cao