1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện trạng song ngữ của cộng đồng người tà mun ở tây ninh (trường hợp ấp ninh đức, xã ninh thạnh)

221 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 10,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Hiện trạng song ngữ của cộng đồng người Tà Mun ở Tây Ninh trường hợp ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh” là côn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC TÂM

HIỆN TRẠNG SONG NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀ MUN Ở TÂY NINH

(TRƯỜNG HỢP ẤP NINH ĐỨC, XÃ NINH THẠNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.0240

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 11 - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC TÂM

HIỆN TRẠNG SONG NGỮ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI TÀ MUN Ở TÂY NINH

(TRƯỜNG HỢP ẤP NINH ĐỨC, XÃ NINH THẠNH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.0240

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐINH LÊ THƯ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 11 - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Hiện trạng song ngữ của cộng đồng người Tà Mun ở Tây Ninh (trường hợp ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh)” là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các trích dẫn nêu trong Luận văn là

Trang 4

dã tại Tây Ninh và Bình Phước

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM, phòng Sau đại học, bộ môn Ngôn ngữ học đã đón nhận và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn quý Thầy Cô đã tận tình truyền dạy và cung cấp những tri thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã nâng đỡ và động viên tôi trong quá trình làm Luận văn

Chúng tôi nghĩ rằng, Luận văn này không tránh khỏi những thiết sót, rất mong nhận được sự góp ý từ phía quý Thầy Cô để Luận văn được hoàn chỉnh hơn

Chân thành cảm ơn!

Tác giả Luận văn

Nguyễn Ngọc Tâm

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ QUY ƯỚC PHIÊN ÂM ÂM VỊ

Tà Mun Tổng cục thống kê Tình huống

Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trang

Tiếp xúc ngôn ngữ

Uỷ ban nhân dân United Nations Educational Scientific and Cultural Organization (Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục, Liên hiệp Quốc )

Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

2 QUY ƯỚC PHIÊN ÂM ÂM VỊ TƯƠNG ỨNG VỚI CHỮ VIẾT TIẾNG TÀ MUN ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

MỤC LỤC

Trang LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7

7 Quy ước trình bày 7

8 Cấu trúc Luận văn 8

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀ MUN VÀ TIẾNG TÀ MUN 10

1.1 Vài nét về người Tà Mun 10

1.1.1 Tình hình dân cư, địa bàn cư trú và quá trình di cư của người Tà Mun 10

1.1.2 Đời sống kinh tế, sản xuất 12

1.1.3 Văn hoá vật chất 13

1.1.4 Tổ chức buôn làng, dòng họ, gia đình 14

1.1.5 Các lễ trong năm 15

1.1.6 Tín ngưỡng, tôn giáo 17

1.1.7 Hôn nhân 17

1.1.8 Ma chay 18

1.1.9 Văn học dân gian 19

1.2 Những ý kiến khác nhau về vấn đề tộc danh, nguồn gốc tộc người Tà Mun 19

Trang 8

1.2.1 Bàn về tộc danh 19

1.2.2 Về nguồn gốc tộc người 19

1.3 Vài nét khái quát về tiếng Tà Mun 21

1.3.1 Khái quát về cơ cấu ngữ âm tiếng Tà Mun 21

1.3.2 Đặc điểm về từ vựng tiếng Tà Mun 26

1.3.3 Đặc điểm về ngữ pháp tiếng Tà Mun 29

Tiểu kết chương 1 33

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SONG NGỮ TÀ MUN – VIỆT CỦA NGƯỜI TÀ MUN (ẤP NINH ĐỨC, NINH THẠNH, TÂY NINH) 35

2.1 Vài nét khái quát về xã Ninh Thạnh 35

2.1.1 Vị trí địa lí: 35

2.1.2 Thành phần dân tộc 36

2.1.3 Tình hình tôn giáo 36

2.1.4 Giáo dục và trình độ học vấn 37

2.1.5 Môi trường văn hóa xã hội 37

2.1.6 Tình hình cộng cư Tà Mun - Việt ở Ninh Đức 39

2.2 Đặc điểm tình hình song ngữ Tà Mun - Việt ở ấp Ninh Đức: song ngữ cá nhân - gia đình - xã hội 39

2.2.1 Cơ sở lý thuyết về song ngữ 39

2.2.2 Khả năng ngôn ngữ của người song ngữ Tà Mun - Việt ở ấp Ninh Đức 44

2.2.3 Phân loại người song ngữ Tà Mun - Việt ở ấp Ninh Đức 47

2.2.4 Song ngữ trong gia đình 53

2.2.5 Song ngữ xã hội 57

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3: LỖI GIAO THOA NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH TÀ MUN VÀ CÁC HIỆN TƯỢNG VỀ MÃ 64

3.1 Lý thuyết TXNN và các quan niệm về giao thoa ngôn ngữ 64

3.1.1 Cơ sở lý luận TXNN 64

Trang 9

3.1.2 Các quan niệm về giao thoa 66

3.1.3 Quan niệm về lỗi ngôn ngữ và lỗi do giao thoa ngôn ngữ của người Tà Mun khi nói và viết tiếng Việt 69

3.2 Lỗi do giao thoa ngôn ngữ của học sinh Tà Mun 71

3.2.1 Lỗi ngữ âm (phonetical errors) 71

3.2.2 Lỗi từ vựng (lexical errors) 76

3.2.3 Lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người Tà Mun do giao thoa ngôn ngữ 78

3.3 Các hiện tượng về mã, vay mượn và sao phỏng trong tiếng Tà Mun 80

3.3.1 Khái niệm “mã” trong TXNN 80

3.3.2 Chọn mã 80

3.3.3 Hiện tượng hòa mã 81

3.3.4 Vay mượn 89

Tiểu kết chương 3 93

CHƯƠNG 4: GIÁO DỤC SONG NGỮ TẠI ĐỊA PHƯƠNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 95

4.1 Một số vấn đề về giáo dục song ngữ cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam 95

4.1.1 Vai trò của ngôn ngữ với sự nghiệp nâng cao dân trí của đồng bào DTTS 95

4.1.2 Các ngôn ngữ nguy cấp và việc bảo tồn sự đa dạng văn hóa ngôn ngữ tộc người 96

4.1.3 Chính sách ngôn ngữ đối với các DTTS ở Việt Nam 98

4.2 Thực trạng việc dạy và học tiếng Việt đối với người DTTS (trong đó có người Tà Mun) tại Tây Ninh 103

4.2.1 Việc dạy và học tiếng Việt cho các em học sinh DTTS ở các bậc học trong nhà trường Tây Ninh 103

4.2.2 Môi trường học tập ngôn ngữ và thái độ đối với tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Tà Mun ở Ninh Đức 111

4.3 Nguyện vọng về giáo dục ngôn ngữ của đồng bào Tà Mun ở Ninh Đức 113

Trang 10

4.4 Giải pháp nâng cao trình độ dạy và học tiếng Việt cho DTTS nói chung

người Tà Mun nói riêng 114

4.4.1 Đầu tư cho cơ sở vật chất, phương tiện, dụng cụ dạy và học 114

4.4.2 Nâng cao chất lượng chương trình và phương pháp giảng dạy tiếng Việt 115

4.4.3 Nâng cao chất lượng đội ngữ giáo viên 116

Tiểu kết chương 4 117

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 MỤC LỤC

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ và văn hóa là cơ sở để tạo nên đặc trưng và bản sắc riêng của một dân tộc Nó ảnh hưởng đến sự tồn vong của một dân tộc Nếu như đặc trưng văn hóa tạo nên bản sắc của một dân tộc thì ngôn ngữ được xem là gia tài quý giá nhất và thiết thực nhất để nhận diện một dân tộc cùng với sự tự ý thức dân tộc Ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc người thường được coi là ba tiêu chí cơ bản để xác định một dân tộc (tộc người) Trong đó, ngôn ngữ đóng vai trò hàng đầu và đặc biệt quan trọng Staline, trong định nghĩa nổi tiếng của mình về dân tộc, đã chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ với sự phát triển của xã hội và lịch sử của tộc

người sử dụng nó: “Người ta chỉ có thể hiểu một ngôn ngữ và quy luật phát triển của ngôn ngữ khi người ta nghiên cứu nó gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội

và gắn liền với lịch sử của nhân dân sáng tạo ra ngôn ngữ ấy, sử dụng thứ ngôn ngữ ấy” [9, tr 490] Ngôn ngữ của một tộc người gắn liền với lịch sử xã hội, văn

hóa và ý thức của chính tộc người ấy và chính ý thức tự giác ấy có thể giúp phân biệt cộng đồng tộc người này với cộng đồng tộc người khác

Cộng đồng Tà Mun ở hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh hiện nay chưa có tên trong danh sách 54 dân tộc của Việt Nam Tuy nhiên, bản thân bà con Tà Mun có ý thức rất rõ về tộc người của mình Họ luôn khẳng định họ có những nét khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa so với các cộng đồng thiểu số khác sống lân cận như Chơ Ro, X’Tiêng, Khơ Me Người Tà Mun nhiều lần kiến nghị với cơ quan chức trách nhà nước và mong muốn tộc danh Tà Mun được công nhận vào danh mục các DTTS tại Việt Nam cùng với 54 dân tộc khác Nhiều cuộc hội thảo về tộc người Tà Mun đã diễn ra ở hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh Tuy nhiên, cho đến nay thì những công trình nghiên cứu, sưu tầm thu thập tài liệu vẫn chưa đủ bằng chứng thuyết phục để

đi đến công nhận cộng đồng này là một dân tộc độc lập Bên cạnh đó, hiện nay ngôn ngữ và văn hóa của người Tà Mun đang dần bị mai một bởi nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, cộng đồng Tà Mun là một cộng đồng nhỏ sống xen kẽ giữa các dân tộc Kinh - Khơ Me – X’Tiêng

Trang 12

Thứ hai, Người Tà Mun chưa có chữ viết Vì vậy việc lưu giữ những giá trị văn hóa, tinh thần, kinh nghiệm, quan niệm cuộc sống… là hết sức khó khăn Tình hình tiếp xúc ngôn ngữ (TXNN) đang diễn ra hết sức mạnh mẽ Đặc biệt là hiện trạng song ngữ/ đa ngữ đang diễn ra hết sức phức tạp Tình trạng kết hôn ngoài dân tộc đang xảy ra mạnh mẽ và phổ biến trong cộng đồng người Tà Mun

Thứ ba, việc dạy và học song ngữ Tà Mun - Việt chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức do nhiều nguyên nhân khác nhau, đời sống kinh tế và trình độ dân trí còn thấp

Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi chúng ta phải tiến hành nghiên cứu về tình hình TXNN Tà Mun - Việt mà hệ quả tất yếu và trực tiếp của nó là thực trạng song ngữ Từ đó, chúng ta có thể tìm ra được những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của cộng đồng Tà Mun Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và đánh giá đúng năng lực, nguyện vọng, thái độ đối với tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của cộng đồng người Tà Mun sẽ giúp chúng ta đề ra những giải pháp, chính sách giáo dục ngôn ngữ và xây dựng chương trình giáo dục song ngữ Tà Mun - Việt một cách phù

hợp và hiệu quả hơn Đó là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Hiện trạng song ngữ của cộng đồng người Tà Mun ở Tây Ninh (trường hợp ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh)”

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm làm rõ hai vấn đề:

Thứ nhất: nghiên cứu đặc điểm tình hình song ngữ Tà Mun - Việt (trường hợp

ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh, tỉnh Tây Ninh) Qua đó, chúng ta có thể thấy được chức năng xã hội của tiếng Tà Mun, tiếng Việt trong cộng đồng người Tà Mun, việc

sử dụng tiếng Tà Mun, tiếng Việt ở các độ tuổi, các lớp người khác nhau như thế nào, hiện tượng chuyển mã, hòa mã xảy ra ra sao, thái độ ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ của các cá nhân song ngữ ở địa bàn nghiên cứu

Thứ hai: khảo sát thực trạng giáo dục song ngữ Tà Mun - Việt và đề xuất giải

pháp bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa cộng đồng Tà Mun

Trang 13

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về cộng đồng người Tà Mun trước tiên phải kể đến những tác giả như Davis Thomas, M.V Kriukov - Trần Tất Chủng, Mạc Đường, Phan An, Đinh

Lê Thư v.v

- Hai tác giả M.V Kriukov - Trần Tất Chủng cũng có công trình nghiên cứu là

“Vấn đề nguồn gốc tộc người Tà Mun” dựa trên việc so sánh nhóm từ chỉ quan hệ

thân tộc của D Thomas Kết quả là từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc của người Tà Mun

và người Chơ Ro gần nhau nhất Theo đó hai tác giả cho rằng: “Thuật ngữ thân tộc người Tà Mun và người Chơ-ro có sự gần gũi nhất trong tất cả hệ thống thuật ngữ thân tộc của các dân tộc Môn-Khmer hiện nay Sự trùng hợp đó chỉ có thể giải thích được là người Chơ-ro và Tà-mun có cùng một nguồn gốc” [25, tr 39] Cuối

cùng hai tác giả đi đến kết luận người Tà Mun có quan hệ họ hàng với người Chơ

Ro Cũng trong công trình này, hai tác giả đã nêu ra nhận định của Davis Thomas

về tộc người Tà Mun: “Người Tà Mun là một trong những nhóm của người Chơ-ro

do người Pháp di từ vùng Đô Giáo tỉnh Đồng Nai lên Sông Bé cách đây hơn 100 năm” Bên cạnh đó, D Thomas còn nêu ra một thông tin rất quan trọng đó là:

“Khoảng 20 năm trước đây, những người dân di cư này vẫn gọi mình là Chơ-ro,

mà lúc đó cái tên Tà Mun đối với họ còn xa lạ” Đây được xem là một trong những

nhận định quan trọng về nguồn gốc của người Tà Mun

- Tác giả Mạc Đường cũng đã nhắc đến tộc người Tà Mun “Vấn đề dân cư và dân tộc ở Sông Bé qua các thời kỳ lịch sử”, trong “Vấn đề dân tộc ở Sông Bé” Ông

cho rằng Tà Mun là một nhánh của người X’Tiêng và ông gọi nhóm này là “người

Tà Mun gốc Stiêng” Trong bài viết được in trong Địa chí tỉnh Sông Bé, ông cho

rằng: “Ở Tây Ninh, đại bộ phận họ thừa nhận gốc tích của bản thân họ là người Stiêng, nhưng hiện tại họ vẫn tự gọi là người Tà Mun” [15, 286]

- Nhà nghiên cứu Phan An cũng có một số bài viết, đề tài khoa học có nhắc đến người Tà Mun Cụ thể là trong đề tài nghiên cứu khoa học “Bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh” (2009) do Hội Dân tộc học TPHCM chủ

trì Phan An đã trích dẫn một tài liệu ghi chép thông tin về đại hội của đạo Cao Đài

Trang 14

tại chùa Gò Kén từ ngày 18-20 tháng 11 năm 1926, theo đó thì người Tà Mun được

gọi là “Ta Muon” ở “vùng núi Bà Rá, Hớn Quản” đến để tham dự lễ Vùng núi Bà

Rá là một vùng rộng lớn Đây cũng là địa bàn cư trú của người X’Tiêng và người Khơ Me nhưng khó xác định về điểm cư trú của người Tà Mun Bởi số lượng người

Tà Mun không đông như người X’Tiêng và Khơ Me

- Nhà nghiên cứu Đinh Lê Thư cũng có một bài viết tiêu đề “Người Tà Mun ở Tây Ninh” đăng trên tạp chí Từ điển học và bách khoa thư số 1 năm 2014

Bên cạnh đó, nghiên cứu về văn hoá cộng đồng Tà Mun phải kể đến các tác giả:

La Ngạc Thụy, Hồng Hạnh

- Tác giả La Ngạc Thụy – thành viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh

có một bài viết “Văn hóa dân gian dân tộc Tà Mun ở Tây Ninh trước nguy cơ bị mai một” Trong bài viết này, tác giả cũng đã nêu ra một số nét văn hóa, nghi lễ, tập

tục cưới hỏi, ma chay… của người Tà Mun

- Tác giả Hồng Hạnh cũng có một bài viết đăng trên báo Tây Ninh “Nguồn gốc và văn hóa người Tà Mun ở Tây Ninh còn thiếu một công trình nghiên cứu chuyên sâu” Công trình này phần nhiều trình bày về nguồn gốc và quá trình di cư

của người Tà Mun từ Bình Phước đến Tây Ninh Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra những nét văn hóa cổ truyền của người Tà Mun, các ngày lễ của người Tà Mun

Về bình diện nghiên cứu ngôn ngữ Tà Mun, có một số công trình khoa học của các tác giả: Lê Khắc Cường, Nguyễn Trần Quý, Phan Trần Công

- Tác giả Lê Khắc Cường - Phan Trần Công đã có bài viết “Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây Ninh”, được đăng trên tạp chí Phát triển khoa

học & công nghệ (tập 16), do nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh phát hành

- Ngoài ra còn có luận văn thạc sĩ của Nguyễn Trần Quý “Hệ thống ngữ âm tiếng Tà Mun (có so sánh với tiếng Châu Ro)” bảo vệ năm 2014 và luận văn thạc sĩ

“Vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm Nam Bahnar” của Phan Trần Công bảo vệ

năm 2015

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về người Tà Mun chủ yếu tập trung vào

Trang 15

vấn đề nguồn gốc tộc người, về ngữ âm và văn hóa dân gian Tuy nhiên, cho đến nay theo ghi nhận của chúng tôi chưa có công trình khoa học chính thức nào đề cập đến những ảnh hưởng, biến đổi xã hội tác động đến ngôn ngữ của dân tộc Tà Mun hay nói cách khác là thực trạng của quá trình song ngữ/ đa ngữ đang diễn ra trong đời sống hàng ngày của cộng đồng người Tà Mun Do đó, có thể nói luận văn của chúng tôi là một chuyên luận đầu tiên nghiên cứu về cảnh huống và thực trạng ngôn ngữ của cộng đồng người Tà Mun hiện nay Chúng tôi hy vọng công trình nhỏ này

sẽ có một vài đóng góp mới, góp phần làm phong phú cho việc nghiên cứu về dân tộc thiểu số (DTTS) ở Việt Nam nói chung và tiếng Tà Mun nói riêng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chọn nghiên cứu thực trạng song ngữ Tà Mun - Việt tại ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh như một trường hợp điển hình đại diện cho cộng đồng người Tà Mun ở Tây Ninh, vì người Tà Mun đến định cư ở Tây Ninh sớm nhất ở địa phương này

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu và tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hai hướng: định lượng và định tính và đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau

a Hướng tiếp cận định lượng: theo hướng tiếp cận này chúng tôi đã sử dụng

phương pháp thống kê thông qua việc thiết kế bảng hỏi, bảng phỏng vấn, chọn mẫu ngẫu nhiên và chúng tôi đã sử dụng phần mềm IBM SPSS Statistics 16.0 để xử lý

số liệu

Về khâu chọn mẫu: chúng tôi chọn ngẫu nhiên 120 mẫu để tiến hành khảo sát Ngoài những mẫu được khảo sát một cách ngẫu nhiên, chúng tôi đã chọn ra một số mẫu để tiến hành phỏng vấn sâu nhằm phục vụ cho một số mục đích và yêu cầu của

đề tài

Về khâu điều tra: chúng tôi trực tiếp đi đến từng hộ gia đình, trường DTNT tỉnh Tây Ninh, UBND xã Ninh Thạnh để thu thập dữ liệu, điều tra, phỏng vấn Để đối tượng được điều tra không e dè, nghi ngại và để đảm bảo thông tin được truyền đi

Trang 16

một cách chính xác, chúng tôi đã nhờ sự giúp đỡ từ già làng và một cộng tác viên

nữ Tà Mun có năng lực song ngữ (Tà Mun – Việt) và khả năng truyền đạt tốt cùng

đi theo

b Hướng tiếp cận định tính: ở hướng tiếp cận này, ngoài việc tham khảo về hệ

thống cơ sở lý thuyết và thực tiễn của một số công trình liên quan đến vấn đề TXNN, song ngữ, giao thoa, giáo dục song ngữ, năng lực ngôn ngữ của một số tác giả đã công bố để làm cơ sở cho việc định hướng nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề, cách xây dựng xử lý dữ liệu mà các tác giả đi trước đã thực hiện, chúng tôi còn sử dụng phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu của ngôn ngữ học để nghiên cứu quá trình TXNN, giao thoa, vay mượn, hiện tượng hòa mã, chuyển mã Phương pháp miêu tả được chúng tôi sử dụng để miêu tả khái quát về hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong tiếng Tà Mun, miêu tả lỗi phát âm, năng lực ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ, hiện tượng hòa mã, chuyển mã của cộng đồng Tà Mun ở địa bàn nghiên cứu Các nguồn tư liệu của luận văn bao gồm các dữ liệu thu thập được (bảng từ, các bài báo cáo thực tập, bản ghi âm, video, những câu chuyện dân gian, bài hát, bài múa,

tư liệu từ UBND xã Ninh Thạnh, UBND các xã Tân Bình, Thạnh Tân…) trong chuyến thực tập thực tế của sinh viên ngôn ngữ khóa 2008 của Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn từ ngày 15/02/2011 đến 27/02/2011và những chuyến điền dã riêng của chúng tôi (tổng cộng chúng tôi đã thực hiện 11 chuyến điền dã tại hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước, mỗi chuyến chúng tôi ở lại địa bàn nghiên cứu từ 3-4 ngày trong suốt quá trình làm luận văn)

Ngoài việc tiếp cận vấn đề theo hai hướng trên, chúng tôi còn sử dụng một

số phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học điền dã như: phương pháp phân tích tư

liệu, phương pháp phỏng vấn, phương pháp quan sát tham dự, thông qua những

buổi hội họp của làng, các ngày lễ tết, lễ cúng, những buổi phát quà từ thiện, nghi thức ma chay của người Tà Mun, quan sát các tình huống giao tiếp thường ngày, thu âm ngữ liệu Bên cạnh đó, chúng tôi cùng đi làm một vài buổi với người Tà Mun, tham dự một vài buổi học ở trường DTNT để có thể ghi lại được những tình huống giao tiếp song ngữ cụ thể, quá trình chọn mã, chuyển mã, hòa mã một cách

Trang 17

thực tế, khách quan của người Tà Mun trong nhiều hoàn cảnh khác nhau

Đối với Phương pháp phân tích tư liệu: chúng tôi sử dụng phương pháp này đối với những tư liệu về âm thanh mà chúng tôi thu được tại địa bàn nghiên cứu Phương pháp này được thực hiện theo các bước: (1) thu âm, (2) gỡ băng, (3) phân tích

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Việc tìm hiểu, nghiên cứu về quá trình TXNN của các dân tộc nói chung, tình hình song ngữ và việc giáo dục song ngữ nói riêng là hết sức cần thiết và quan trọng, góp phần đưa ra những cơ sở khoa học giúp cho việc hoạch định các chính sách dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa và giáo dục song ngữ cho các DTTS, trong đó có nguời Tà Mun Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách để có những giải pháp đúng đắn, hợp lý về việc dạy tiếng Việt và bảo tồn ngôn ngữ - văn hóa cho cộng đồng Tà Mun Luận văn này cũng sẽ góp phần làm phong phú nguồn tư liệu đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ DTTS, phần nào sẽ giúp ích cho việc soạn thảo hệ thống chữ viết cho bà con Tà Mun một cách thiết thực hơn Bà con người Tà Mun luôn mong muốn có được chữ viết để con cháu họ có thể học, lưu giữ thứ tiếng của tộc người mình, người Tà Mun không muốn ngôn ngữ và văn hóa của họ bị mai một và mất đi

Nghiên cứu về quá trình TXNN, song ngữ, giao thoa, vay mượn…cũng sẽ góp phần chỉ ra vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm các ngôn ngữ Nam Bahnar Qua

đó, chúng ta có thể thấy được quan hệ cội nguồn và nguồn gốc của tiếng Tà Mun Hơn nữa, song ngữ là một vấn đề phổ biến hiện nay, nó xảy ra ở các dân tộc của các quốc gia trên thế giới, đã có TXNN thì nhất định sẽ nảy sinh hiện tượng song ngữ

Do đó, nghiên cứu về thực trạng song ngữ sẽ phần nào làm sáng tỏ các vấn đề về TXNN nói chung của tộc người Tà Mun ở địa bàn nghiên cứu nói riêng

7 Quy ước trình bày

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng một số cách trình bày và phiên âm sau:

a Về tên gọi các dân tộc thiểu số: chúng tôi ghi tên các DTTS dựa theo cách ghi

trong “Danh mục tên gọi các dân tộc ở Việt Nam” của Tổng cục thống kê (TCTK)

Trang 18

năm 2009 Riêng phần trích dẫn của các tác giả, để đảm bảo tính nguyên văn thì chúng tôi giữ nguyên cách ghi tên dân tộc của nguyên bản Đặc biệt đối với tộc người Tà Mun, do chưa có tên trong danh mục các DTTS ở Việt Nam nên chúng tôi chấp nhận cách ghi tên tộc người này theo cách ghi của chính quyền địa phương (xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh, tỉnh tây Ninh) đối với các giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, giấy tờ nhà đất… của bà con Tà Mun

b Về quy ước phiên âm ngôn ngữ học:

Các kí hiệu phiên âm được dùng trong luận văn tuân theo chuẩn IPA (International Phonetic Alphabet) phiên bản năm 2005

Phiên âm ngữ âm học được đặt giữa dấu [], ví dụ: [tgoq] “trời”

Phiên âm âm vị học đặt trong dấu //, ví dụ: /kanej/ “nghĩ”

c Bảng chữ cái tiếng Tà Mun (phương án chữ viết dự kiến):

Vì tiếng Tà Mun chưa có chữ viết nên chúng tôi xin đề xuất bảng chữ cái để ghi lại các âm tiết trong tiếng Tà Mun Đồng thời để thuận lợi hơn cho độc giả trong việc theo dõi luận văn này Bảng chữ cái dự kiến được trình bày trong (bảng 1.1) [phụ lục 1, tr.2]

d Về các ví dụ, hình ảnh và các tình huống hòa mã, chuyển mã: các ví dụ, hình

ảnh và các tình huống trong luận văn từ chương 1 đến chương 4 được chúng tôi đánh số xuyên suốt theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, bắt đầu từ (1)

Ví dụ: Ví dụ (1), Ví dụ (2), Ví dụ (3), v.v hình 1, hình 2, hình 3, v.v , tình huống 1 (TH1), TH2, TH3, v.v

8 Cấu trúc luận văn

PHẦN MỞ ĐẦU (9 trang)

CHƯƠNG 1: Tổng quan về người Tà Mun và tiếng Tà Mun (25 trang)

CHƯƠNG 2: Đặc điểm song ngữ Tà Mun - Việt tại ấp Ninh Đức xã Ninh Thạnh

tỉnh Tây Ninh (29 trang)

CHƯƠNG 3: Lỗi giao thoa ngôn ngữ của học sinh Tà Mun và các hiện tượng về

mã (31 trang)

Trang 19

CHƯƠNG 4: Giáo dục song ngữ tại địa phương - thực trạng và giải pháp (24

trang)

KẾT LUẬN (4 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO (6 trang)

PHỤ LỤC (83 trang)

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI TÀ MUN VÀ TIẾNG TÀ MUN

1.1 Vài nét về người Tà Mun

Hiện tại ở hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh có một nhóm người tự nhận mình là

“Kamôn” Cộng đồng này được chính quyền địa phương và cộng đồng người sống xung quanh gọi là Tà Mun Tuy nhiên, cơ quan chính quyền địa phương hai tỉnh trên

xử lý vấn đề này không nhất quán: một mặt xem cộng đồng này như một tộc người riêng và ở mục dân tộc, trong giấy chứng minh, hộ khẩu, bằng lái, giấy tờ nhà đất… ghi là Tà Mun; Mặt khác, vì trong danh mục thành phần các dân tộc của Tổng cục thống kê cả nước cho đến năm 2009 vẫn chưa có tên Tà Mun nên khi tổng điều tra dân số, chính quyền địa phương hai tỉnh trên đã xếp cộng đồng này vào dân tộc X’Tiêng để thuận tiện cho việc quản lý và báo cáo tình hình dân số, dân tộc lên chính phủ

1.1.1 Tình hình dân cư, địa bàn cư trú và quá trình di cư của người Tà Mun 1.1.1.1 Tình hình dân cư

Theo kết quả điều tra dân số năm 2012 của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước thì tổng số người tự gọi mình là Kamôn ở Tây Ninh là 1.839, ở Bình Phước là 1.143 Như vậy, tổng số người Tà Mun ở hai tỉnh trên tính tới thời điểm năm 2012 là 2.982 người Tổng số hộ gia đình người Tà Mun ở ấp Ninh Đức là 52 hộ với khoảng 193 nhân khẩu chiếm 5.45% dân số của toàn ấp

1.1.1.2 Địa bàn cư trú

Các thế hệ người Tà Mun xưa kia đã trải qua nhiều biến động lớn, khu vực cư trú của họ thường xuyên bị tranh chấp, chiếm đoạt bởi các tộc nguời láng giềng Họ buộc phải di cư liên tục, cuộc sống không ổn định Bàn về vấn đề địa bàn cư trú của tộc người Tà Mun cho đến nay đã có nhiều văn bản, bài nghiên cứu ghi nhận lại về nơi

cư trú trước đây của họ Trước tiên, phải kể đến đó là tác giả D Thomas Năm 1980,

D Thomas đã cho rằng: “Người Tà Mun là một trong những nhóm của người

Chơ-ro do người Pháp di từ vùng Đô Giáo tỉnh Đồng Nai lên Sông Bé cách đây hơn 100 năm” [27, tr 36 – 39] Nếu theo ý kiến trên, nơi cư trú của người Tà Mun trước khi

Trang 21

đến Sông Bé là Đồng Nai Đồng Nai là vùng đất cư trú từ xa xưa của người Chơ Ro

Do đó, người Tà Mun và người Chơ Ro có thể đã có một thời gian sinh sống trên cùng một địa bàn Để tìm hiểu rõ hơn về nơi định cư và quá trình di cư của người Tà Mun, chúng tôi đã lần giở lại những tư liệu nghiên cứu trước đây của một số tác giả

có nhắc đến cộng đồng Tà Mun và hỏi thêm những người Tà Mun lớn tuổi, những người có uy tín trong làng (hội đồng già làng ở hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước) Theo lời kể của ông Lâm Văn Đục (sinh 1956) - phó già làng ấp Ninh Đức thì trước kia người Tà Mun sống ở làng Võ Dực (nay thuộc tỉnh Bình Phước) Các giấy tờ cũ của thân phụ ông còn giữ lại như giấy CMND, sớ cầu đạo… vẫn còn ghi về địa danh

Võ Dực Già làng Lâm Hoanh (sinh 1941, cư ngụ tại ấp Tân Đông, xã Tân Thành, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) cũng cho biết trước khi người Tà Mun về ấp Sóc 5,

xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước thì người Tà Mun sống ở làng Võ Dực Chúng tôi tiếp tục tìm đến ấp Sóc 5, tỉnh Bình Phước và gặp già làng Lâm Tăng

để hỏi về nơi định cư cũng như quá trình di cư của người Tà Mun Khi được hỏi về nơi cư trú của người Tà Mun trước đây, già làng Lâm Tăng cũng đã nhắc đến địa danh Võ Dực Ông đã cho chúng tôi xem giấy tờ của cha mẹ ông thời Việt Nam Cộng

Hòa (hình 1 và 2) [phụ lục 5, tr 64] Điều này hoàn toàn trùng với ý kiến về nguồn gốc tộc người Tà Mun của tác giả Đinh Lê Thư (2014), “Người Tà Mun ở Tây Ninh”

in trong tạp chí “Từ điển bách khoa thư”, NXB Viện từ điển học và bách khoa thư

Việt Nam

Hiện nay, người Tà Mun ở Bình Phước cư trú tập trung tại ấp Sóc 5, xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản Còn ở Tây Ninh, địa bàn cư trú của người Tà Mun chủ yếu ở:

1 Ấp Ninh Đức, xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh

2 Ấp Tân Lập, xã Tân Bình, thị xã Tây Ninh

3 Ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh

4 Ấp Tân Định 2, xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu

5 Ấp Tân Đông, xã Tân Thành, huyện Tân Châu

Trang 22

Hình 3: Bản đồ nơi cứ trú của người Tà Mun ở hai tỉnh Tây Ninh và Bình phước

1.1.2 Đời sống kinh tế, sản xuất

Kinh tế gia đình của người Tà Mun chủ yếu dựa trên sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm Trước đây, người Tà Mun trồng trọt theo lối du canh du cư, khai khẩn các cánh rừng, núi đồi để làm nương rẫy, trồng được một hai vụ, khi cỏ mọc nhiều đất không còn tốt họ lại tiếp tục di chuyển để tìm vùng đất mới để khai hoang Do đó, cuộc sống của người Tà Mun thường không ổn định, khó khăn, nghèo đói Hơn nữa, vào thời điểm khoảng những năm 1925 trở về trước người Tà Mun bị thực dân Pháp chiếm đất đai, bắt đi lính, đi làm đồn điền cao su, cà phê nên cuộc sống của họ lúc ấy rất khó khăn, vất vả, họ luôn phải trốn chạy Cũng chính thời điểm này đạo Cao Đài đã được người Tà Mun đón nhận và tin theo Một số gia đình Tà Mun

đã không ngại gian khổ, nguy hiểm bồng bế con cháu băng theo đường rừng đi về Tây Ninh Họ đến Tây Ninh một phần là để phụ giúp việc xây cất Tòa Thánh và hơn thế họ có ý muốn định cư tại vùng đất này nhằm trốn tránh sự áp bức, bắt bớ, đàn áp của thực dân Pháp Sau này, khi các hộ gia đình Tà Mun đã định cư ổn định, được lãnh đạo Tòa Thánh Cao Đài cấp đất để làm nhà, trồng trọt thì họ đã chuyển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng định canh, định cư Cuộc sống lúc này được chuyển biến theo chiều hướng tốt hơn Ngoài việc tự trồng trọt và chăn nuôi thì người

Trang 23

Tà Mun ở Tây Ninh còn đi làm thuê, phần nhiều là đi nhổ mì thuê, làm cỏ mướn để kiếm thêm thu nhập ở các vùng lân cận Bên cạnh việc trồng trọt và chăn nuôi, người

Tà Mun thường đi săn thú, hái măng, đọt mây, nấm và các loại rau củ trên rừng, trên núi hoặc bắt cá, cua, tép…ở những cánh đồng lúa dọc theo các con kênh, suối, ao, hồ

để bán hoặc dùng làm thức ăn hằng ngày (hình 4) [phụ lục 5, tr 65]

1.1.3 Văn hóa vật chất

Nhà cửa:

Nhà của người Tà Mun trước đây chủ yếu là những căn nhà dựng tạm bằng cây

và lá Trước đây, người Tà Mun dựng nhà bằng cây tầm vông, vì vậy nhà nào cũng trồng một bụi tầm vông thậm chí họ trồng tầm vông để làm ranh giới phân chia đất đai của từng hộ Tuy nhiên, hiện nay do các con đường đã được đổ bê tông, tráng nhựa nên cây tầm vông không còn nhiều Những năm gần đây, chính quyền địa phương đã có những chính sách ưu đãi, giúp đỡ xây dựng những căn nhà tình thương cho một số bà con Tà Mun Bên cạnh đó, chính quyền địa phương còn hỗ trợ cho vay vốn sản xuất với lãi suất rất thấp (0.1% / tháng), tặng thẻ BHYT cho những hộ nghèo Ngoài ra, cơ quan nhà nước còn cấp phát máy phát cỏ miễn phí, hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho những hộ nghèo để có điều kiện trồng trọt và chăn nuôi tốt hơn Vì thế hiện nay bà con trong làng đã có nơi che mưa che nắng yên tâm lao động sản xuất, đời sống được cải thiện tốt hơn trước (hình 5) [phụ lục 5, tr 65]

Ăn uống:

Lương thực chính của người Tà Mun là gạo tẻ, ngô, khoai, sắn và các loại rau tự trồng, rau rừng Một trong những loại rau rừng đặc trưng của người Tà Mun là đọt mây Trong những ngày lễ tết, dịp lễ quan trọng thì trên bàn ăn không thể thiếu một

tô canh đọt mây (hình 6) [phụ lục 5, tr 66] Người Tà Mun không ăn thịt chó, trâu,

vì nó gần gũi với cuộc sống của họ và hỗ trợ đắc lực trong sản xuất Hơn thế, người

Tà Mun theo đạo Cao Đài nên không được ăn thịt chó, thịt trâu Cũng giống như các đạo hữu Cao Đài khác người Tà Mun thường ăn chay vào các ngày 8, 14, 15, 18, 23,

24, 28, 29, 30, mùng 1

Trang 24

Trang phục:

Trong trang phục, yếu tố Việt ngày càng phổ biến Những bộ quần áo đủ các loại của người Kinh được người Tà Mun sử dụng rộng rãi đối với mọi lứa tuổi trong sinh hoạt thường ngày và trong lao động Khi có lễ hội, lễ tết hay ngày trọng đại của làng thì người Tà Mun mới mặc những bộ đồ truyền thống của họ Hiện nay, hầu như rất

ít người Tà Mun còn mặc đồ truyền thống, chỉ có các già làng, những người phụ nữ cao tuổi còn mặc váy và quấn khăn trên đầu hoặc còn lưu giữa lại những bộ đồ truyền thống của ông bà, cha mẹ để lại Trước đây, đàn ông mặc sarong, nay trong lễ hội hầu

hết mặc quần tây hoặc quần jean như người Kinh (hình 7) [phụ lục 5, tr 66]

1.1.4 Tổ chức buôn làng, dòng họ, gia đình

Tính cộng đồng, làng xã thể hiện rất rõ trong đời sống sinh hoạt của người Tà Mun Làng của người Tà Mun gồm nhiều dãy nhà san sát nhau, xen kẽ vào đó thỉnh thoảng có nhà của người Kinh Đứng đầu một làng là già làng, ông là người có tiếng nói nhất trong làng, là người có uy tín (đây là tiêu chí rất quan trọng và được người trong làng bầu chọn hàng năm) Già làng là người hiểu biết và lưu giữ nhiều nét văn hóa truyền thống cổ xưa của tộc người mình Già làng cũng là chiếc cầu nối kết kênh thông tin liên lạc với chính quyền địa phương, tham gia vào cơ cấu cán bộ địa phương, chức sắc tôn giáo để dễ liên lạc và phổ biến pháp luật, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như những nghi lễ, thờ cúng, tín ngưỡng của đạo Cao Đài Khi có lễ hội, đình đám hay hội họp thì già làng là người đứng ra tổ chức Bên cạnh già làng còn có hai phó già làng họp lại thành hội đồng già làng đứng ra giải quyết các vấn đề xảy ra trong làng và đại diện cho làng để tổ chức lễ hội và ngoại giao với chính quyền (hình 8) [phụ lục 5, tr 67] Ngày nay, các làng được sáp nhập lại với nhau và chuyển thành các ấp, khu phố Vai trò của già làng lúc này chuyển thành các chức vị như: trưởng ấp, trưởng khu phố, tổ trưởng… Dù vậy, danh hiệu và vai trò của già làng vẫn được duy trì

Người Tà Mun thường cư trú theo quan hệ thân tộc của mình Các dãy nhà được dựng sát nhau là của những người có cùng quan hệ huyết thống, có dòng họ với nhau Hiện nay, đặc điểm này không còn nhiều vì đa phần nhiều người đã bán đất và chuyển

Trang 25

đi nơi khác để sinh sống, làm ăn Trước đây, khi trong gia đình có con cái lập gia đình cha mẹ thường nối nhà của mình thêm một hoặc hai gian nữa hay làm một căn nhà riêng cho con trong khu đất của dòng họ Các đôi bạn trẻ Tà Mun hiện nay khi lập gia đình thường thích ra ở riêng và họ thường chọn nơi có điều kiện làm việc để kiếm được thu nhập ổn định

1.1.5 Các lễ trong năm

Ngoài việc tham gia các lễ hội của đạo Cao Đài, lễ hội của người Kinh, trong năm người Tà Mun còn có một số lễ cúng, lễ tết quan trọng Hai ngày lễ được xem là rất

quan trọng và mang những nét đặc trưng riêng của cộng đồng người Tà Mun đó là tết

Xa Unco Kamôn và Lễ cúng cầu mưa Thông qua những lễ hội này, các lễ vật, sản

phẩm nương đồng của bà con Tà Mun được dâng lên cho thần linh, tổ tiên của họ

Xa Unco Kamôn/ lễ cúng cơm mới (mùng 1, 2, tháng 9 âm lịch)

Đây là lễ quan trọng nhất trong năm Nó được xem là Tết của người Tà Mun và được tổ chức linh đình kéo dài trong hai ngày Người Tà Mun đã sử dụng chính lúa mới thu hoạch để cúng thần linh, tổ tiên và cầu cho mưa thuận gió hòa để được một

vụ mùa bội thu Người Tà Mun dọn đồ cúng trên một chiếc bàn vuông đặt ở vị trí giữa nhà ngay trước bàn thờ Đức Chí Tôn Theo thường lệ thì lễ này được tổ chức tại nhà của già làng hoặc miếu thờ các vị thần của người Tà Mun Đặc biệt trên bàn cúng

có một chiếc thuyền làm bằng bẹ của cây chuối, trên thuyền người Tà Mun để một ít trái cây và tiền Ngoài ra, trên bàn cúng còn có một dĩa gạo, một dĩa trầu, cau và một

ít thuốc lào, bánh tét hay bánh ít chay với hy vọng cuộc sống luôn hạnh phúc, sung túc, đầy đủ Trước đây, họ thường cúng đồ ăn mặn nhưng từ khi theo đạo Cao Đài người Tà Mun cúng đồ ăn chay cho ông bà vì 28, 29, 30, mùng 1 là ngày ăn chay của những người theo đạo Do đó, người Tà Mun làm hai ngôi miếu, một miếu sử dụng

để cúng đồ mặn cho thần linh, một miếu để cúng đồ chay cho ông bà Còn ngày mùng

2 là ngày được ăn mặn nên người Tà Mun thường mời khách (đại diện cơ quan chính quyền địa phương, bạn bè thuộc các dân tộc lân cận, hàng xóm, chức sắc tôn giáo…) đến tham dự lễ tết vào ngày mùng 2 (hình 9) [phụ lục 5, tr 67] Xin xem thêm link

Trang 26

về ngày lễ này (1)

Lễ cúng cầu mưa (ngày 16 tháng 4 âm lịch)

Vào giữa tháng 4 âm lịch hàng năm, người Tà Mun tổ chức lễ cúng cầu mưa Họ xin thần linh cho mưa thuận gió hòa để cây cối tốt tươi, đâm chồi nảy lộc, cho vụ mùa bội thu Thời gian để tổ chức cúng là lúc xế chiều (khoảng 4-5 giờ) mọi người quây quần bên một thân cây lớn và họ mang theo đồ ăn đến để làm lễ vật cúng, ai có

gì thì mang theo nấy Hiện nay người Tà Mun ở Tây Ninh (ấp Thạnh Hiệp và ấp Tân Lập) thì thường tập trung tại hai ngôi miếu của người Tà Mun để làm lễ cũng này Hai ngôi miếu này nằm gần nhau và nằm ngay phía dưới một gốc cây lớn Ngoài đồ

ăn làm vật cúng thì họ còn mang theo tượng ba ông táo được đắp bằng đất với ý nghĩa cho cuộc sống no đủ thuận hòa và ấm cúng Trong lễ cúng này họ còn cúng một vị thần nữa đó là ông Tà Áo Đỏ Ông được xem là người mang đến may mắn cho mọi người trong làng Bên cạnh ông Tà Áo Đỏ là một con bạch mã, người Tà Mun cho biết sở dĩ có con bạch mã là để ông Tà Áo Đỏ cưỡi nó đem lễ vật và những điều ước nguyện của bà con Tà Mun về trời cho thần linh Già làng hoặc người có uy tín trong làng được làng cử ra làm người đại diện để thắp nhang, đọc lời cầu nguyện và dâng

lễ vật lên thần linh Bên cạnh ngôi miếu lớn là một ngôi miếu nhỏ hơn Đây là nơi để cúng đồ mặn vì miếu lớn chỉ sử dụng để cúng đồ chay Khi cúng xong họ dọn đồ cúng xuống một tấm bạt lớn gần đó để cùng ngồi ăn với nhau, chia sẻ với nhau những món ăn dâng lên thần linh Thường thì lễ vật đem cúng là đầu heo, gà, xôi Đồ ngọt

để cúng cho ông bà thì có bánh ngọt, bánh ít, thức ăn chay Hiện nay, lễ cúng này đã không còn được tổ chức linh đình và đầy đủ các nghi thức như trước vì qua thời gian nhiều người đã quên lãng Chỉ có những người lớn tuổi là còn nhớ rõ về lễ này Những năm gần đây chính quyền tỉnh Tây Ninh đã giao Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh phục dựng lại những nghi lễ, văn hóa truyền thống, tục lệ của người Tà Mun nhằm lưu giữ những nét văn hóa riêng của người Tà Mun (hình 10) [phụ lục 5, tr 68]

(1) tam-linh-doc-dao-cua-nguoi-ta-mun.aspx#sthash.2bHcz5yk.uPZy2nYW.dpbs

Trang 27

http://ptth.ubdt.gov.vn/vod/tabid/99/catid/10/itemid/1121/cung-mieu-sinh-hoat-1.1.6 Tín ngưỡng, tôn giáo

Tôn giáo:

Ở Tây Ninh có nhiều tôn giáo khác nhau như: Cao Đài, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo… Tây Ninh là nơi khởi đầu và là trung tâm của đạo Cao Đài Do đó, mỗi xã/ phường đều có một Thánh thất họ đạo và một Điện thờ Phật Mẫu Đây là trung tâm hoạt động tôn giáo của bà con trong xã/ phường Mỗi Thánh thất có một ông Lễ Sanh làm trưởng cai quản và hai ông phó cai quản Mỗi hộ gia đình người

Tà Mun theo đạo Cao Đài đều có một bàn thờ Đức Chí Tôn đặt ở vị trí trang trọng trong nhà Các đạo hữu thường cúng vào 4 thời điểm theo đạo Cao Đài là quan trọng trong ngày như: 6 giờ sáng, 12 giờ trưa, 6 giờ tối và 12 giờ đêm Khi cúng họ thường đọc kinh trong quyển sách kinh Thiên Đạo - Thế Đạo do tòa thánh Tây Ninh ấn hành (hình 11) [phụ lục 5, tr 68] Nhìn chung, đạo Cao Đài phần nào có ảnh hưởng và tác động đến nhiều khía cạnh đời sống vật chất và tinh thần của các đạo hữu nói chung

và người Tà Mun nói riêng

1.1.7 Hôn nhân:

Do sống cộng cư cùng nhau giữa người Tà Mun, người Kinh và Khơ Me nên không chỉ có hôn nhân trong nội bộ dân tộc (hôn nhân đồng tộc) mà còn có hôn nhân

Trang 28

giữa người Tà Mun với người Kinh, người Khơ Me và ngược lại Khi người Tà Mun

và người Kinh kết hôn với nhau nghi lễ sẽ được tổ chức theo nghi lễ của người Kinh, con cái của họ sẽ mang họ cha Còn nếu kết hôn đồng tộc hoặc với người Khơ Me thì nghi lễ được tổ chức theo phong tục, lễ nghi của người Tà Mun Người Tà Mun có tục ở rể, khi đôi bạn trẻ cưới nhau, họ sẽ ở bên nhà gái Sau khoảng một năm, đôi vợ chồng trẻ có thể chọn tiếp tục sống ở đây hoặc đi nơi khác để sống Trong hôn lễ, người Tà Mun có tục cột chỉ cho cô dâu và chú rể Đối với nghi thức này, cô dâu và chú rể ngồi trên một chiếc chiếu hoa, phía trước có đặt cặp gối uyên ương, cô dâu và chú rể cùng cầm vào một thanh kiếm (nhưng nay được thay thế bằng một đoạn của tàu lá chuối hoặc cành đu đủ) để mọi người đến tham dự đám cưới cột chỉ vào tay cô dâu và chú rể, cặp uyên ương nào càng nhiều chỉ buộc quanh tay thì càng mang ý nghĩa sẽ sống lâu bền chặt thủy chung suốt đời Lễ vật đàng trai mang đến đàng gái không thể thiếu cái đầu heo, gà, vịt, bánh trái, trà, trái cây và một ít tiền mặt Do sống cộng cư gần người Khơ Me nên lễ cưới, điệu hát, điệu múa, trang phục của người Tà Mun rất gần với người Khơ Me, có lẽ người Tà Mun bị ảnh hưởng từ người Khơ Me (hình 12) [phụ lục 5, tr 69]

1.1.8 Ma chay

Nếu trong gia đình có người qua đời thì những người có chức sắc trong tôn giáo

sẽ đến và giúp gia đình lo ma chay hoàn toàn miễn phí (từ tang lễ đến ăn uống trong

ba ngày, tất nhiên ba ngày này sẽ chỉ ăn đồ chay) khi quan tài còn ở bên thân quyến Đây cũng là một trong những đặc quyền mà đạo Cao Đài ưu ái cho bà con người Tà Mun nhằm giữ số lượng tín đồ và gia tăng thêm số người theo đạo Do theo đạo và được hưởng những đặc quyền như vậy nên mọi nghi thức của tang lễ sẽ được cử hành đầy đủ theo nghi thức của đạo Người qua đời được tắm rửa sạch sẽ và được mặc bộ

áo dài trắng, miệng của người chết ngậm một bông cúc màu vàng Linh cửu được để

ở nhà khoảng 3 ngày, trong 3 ngày đó sẽ có chức sắc của đạo đến để cử hành nghi thức Sau đó, họ sẽ đưa linh cửu đến Thánh Thất họ đạo để làm lễ theo nghi thức tôn giáo, sau khi nghi lễ được thực hiện xong linh cửu được đem chôn ở đất thánh là nghĩa trang chung dành cho những người theo đạo khi qua đời (hình 13) [phụ lục 5,

Trang 29

tr 70]

1.1.9 Văn học dân gian

Trong quá trình thực tập điền dã, chúng tôi đã ghi nhận lại được một số câu chuyện dân gian, bài hát ru, vè Những câu chuyện dân gian chỉ những người Tà Mun lớn tuổi mới biết, còn những người trẻ sau này thì hầu như ít ai biết Chúng tôi sẽ trình bày trong phụ lục 6 của luận văn

1.2 Những ý kiến khác nhau về vấn đề tộc danh, nguồn gốc tộc người Tà Mun 1.2.1 Bàn về tộc danh:

Vấn đề tên gọi Tà Mun hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau và nhiều giả thiết xoay quanh việc giải thích về tộc danh này Người Tà Mun thường gọi mình là

“Kamôn” nghĩa là người hay nhóm người, hầu hết người Tà Mun ở hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh đều không đồng tình với tên gọi Tà Mun Họ cho rằng phải gọi

họ bằng tên Kamôn mới đúng Chúng tôi nhận thấy ngay tên gọi ngày Tết cổ truyền

của người Tà Mun đó là Xa Unco Kamôn đã cho thấy tên tự gọi của họ Họ không

ghi Tà Mun/ Ta Mun mà ghi Kamôn Nếu phân tích từ này ra thì “Xa” trong tiếng Tà Mun là ăn, “Unco” hay “Unta” là từ để chỉ các vị thần bảo hộ của làng, hoặc còn có mang nghĩa là ông bà, “Kamôn” là từ để chỉ người Tà Mun Như vậy, Tết này mang

ý nghĩa mời thần linh, các vị thần bảo hộ, ông bà về ăn tết với con cháu Tên gọi Tà Mun có thể là do sự biến âm từ “Kamôn” thành Tà Mun Sự biến âm xảy ra ở phụ âm đầu và nguyên âm chính: “ka”  “ta” và “môn”  “mun” vì:

/k/, /t/ cùng là phụ âm tắc, vô thanh

/u/, /o/ cùng là nguyên âm dòng sau, tròn môi

Trong tiếng Chơ Ro “Kamôn” và “Tamun” đều có nghĩa là người, đây là hai cách đọc của người Chơ Ro Từ đây chúng ta có thể thấy một sự liên hệ giữa người Tà Mun và Chơ Ro Trong luận văn này, chúng tôi gọi cộng đồng người này là Tà Mun theo như cách ghi trong văn bản, giấy tờ của chính quyền địa phương

1.2.2 Về nguồn gốc tộc người

Vấn đề nguồn gốc của tộc người Tà Mun cho đến nay tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, tiêu biểu có ba ý kiến sau:

Trang 30

- Ý kiến thứ nhất cho rằng: Tà Mun là một nhánh của dân tộc X’Tiêng chịu ảnh

hưởng của người Khơ Me Ý kiến này chiếm đa số Chính quyền địa phương nơi có người Tà Mun sinh sống ở hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước đã xem họ như là một nhánh của người X’Tiêng và xếp họ vào dân tộc X’Tiêng khi tổng điều tra dân số để

dễ quản lý, vì trong danh mục các dân tộc ở Việt Nam của Tổng cục Thống kê chưa

có dân tộc Tà Mun Nhà nghiên cứu Mạc Đường, Phan An cũng đồng tình và ủng hộ quan điểm xem Tà Mun là một nhánh của người X’Tiêng Mạc Đường cho rằng người

Tà Mun là một cộng đồng người hợp nhất giữa một bộ phận người X’Tiêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Khơ Me với người Chơ Ro, cùng theo đạo Cao Đài và đoàn kết lại với nhau chống lại thực dân Pháp ngay trên mảnh đất có tên Tàmun và địa danh đó trở thành tộc danh của cộng đồng này [1, tr 126-127]

- Ý kiến thứ hai cho rằng: Tà Mun là một nhánh của người Chơ Ro đã tách ra

từ rất lâu Tiêu biểu cho ý kiến này là nhà ngôn ngữ học người Mỹ D Thomas Năm

1980, D Thomas trong một công trình nghiên cứu “Nguồn gốc tộc người Tà Mun” [27, tr 36 - 39] đã cho rằng: “Người Tà Mun là một trong những nhóm của người Chơ-ro do người Pháp di từ vùng Đô Giáo tỉnh Đồng Nai lên Sông Bé cách đây hơn

100 năm” Cũng theo tư liệu của D Thomas thì: “Khoảng 20 năm trước đây, những người dân di cư này vẫn gọi mình là Chơ-ro, mà lúc đó cái tên Tà Mun đối với họ còn xa lạ” Để làm rõ hơn cho quan điểm này, chúng tôi đã đi điền dã thu thập dữ

liệu, hỏi các già làng, những người gốc Tà Mun lớn tuổi Bên cạnh đó, chúng tôi đã tiến hành so sánh từ vựng cơ bản của người Tà Mun, Chơ Ro, X’Tiêng thông qua bảng từ vựng cơ bản (bảng 968 từ) Qua so sánh, chúng tôi nhận thấy từ vựng của người Tà Mun gần nhất thậm chí có từ giống nhau hoàn toàn với từ vựng của người Chơ Ro Như vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng Tà Mun là một nhánh của người Chơ Ro đã tách ra từ rất lâu và không còn liên lạc với tộc người gốc của mình và hiện đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của dân tộc Kinh, Khơ Me do cùng cộng

cư chung sống đan xen và gần nhau

- Ý kiến thứ ba thì cố gắng chứng minh và đưa ra những bằng chứng về ngôn ngữ, văn hóa, kể cả việc trong tương lai sẽ tiến hành nghiên cứu về nhân chủng học

Trang 31

để có thể khẳng định tộc người Tà Mun là một dân tộc chứ không phải một nhánh của X’Tiêng hay Chơ Ro như hai ý kiến trên

1.3 Vài nét khái quát về tiếng Tà Mun

Trong giới hạn của luận văn này, chúng tôi không trình bày, mô tả một cách chi tiết mà chỉ xin trình bày vài nét khái quát về hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Tà Mun Thứ nhất, chúng tôi muốn giới thiệu cho người đọc cái nhìn tổng quát

về tiếng Tà Mun Thứ hai, việc giới thiệu một cách khái quát về tiếng Tà Mun là cơ

sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu về quá trình TXNN và các hệ quả của nó như

giao thoa, song ngữ, vay mượn…trong tiếng Tà Mun

1.3.1 Khái quát về cơ cấu ngữ âm tiếng Tà Mun

Theo ghi nhận của một số tác giả thì tiếng Tà Mun là một ngôn ngữ thuộc họ Nam

Á, tiểu chi Môn-Khmer thuộc nhánh Đông Môn-Khmer, nhóm Bahnar, tiểu nhóm Nam Bahnar [8, tr 15 - 25] Cũng như các ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar (M’Nông, Cơ Ho, Chơ Ro, X’Tiêng, Mạ), tiếng Tà Mun là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, không biến hóa hình thái, nghĩa là từ không có khả năng diễn đạt những

ý nghĩa phụ về mặt ngữ pháp, âm tiết có cấu trúc tương đối ổn định

1.3.1.1 Âm tiết tiếng Tà Mun

“Âm tiết là một khúc đoạn của lời nói có khả năng mang cái mà các ngữ âm học châu Âu vẫn gọi là hiện tượng ngôn điệu như thanh điệu, trọng âm và ngữ điệu” [49,

tr.19] Trong khẩu ngữ thì âm tiết được hiểu là “tiếng”, một phát âm của người nói sẽ bao gồm một “tiếng”, còn trong văn tự, ghi chép thì âm tiết được gọi là “chữ” Do mang đặc điểm của loại hình ngôn ngữ Môn – Khmer nên về mặt ngữ âm, từ trong tiếng Tà Mun có hai dạng: từ đơn âm tiết và từ đa âm tiết (phần lớn là từ song tiết, một số ít từ ba âm tiết) Âm tiết trong từ đơn tiết là một âm tiết mang trọng âm Nó cũng giống như âm tiết chính trong từ song tiết Trong từ song tiết, tiền âm tiết và âm tiết chính liên kết với nhau thành một khối, trong đó một âm tiết đóng vai trò là âm tiết chính mang trọng âm luôn đứng ở vị trí cuối từ, âm tiết còn lại là âm tiết phụ không mang trọng âm và được đọc liền nhau

Trang 32

1.3.1.2 Mô hình cấu trúc ngữ âm của từ dựa trên đặc điểm của âm tiết

Mô hình ngữ âm của từ cận âm tiết (sesquisyllabic) trong tiếng Tà Mun là:

Cp1 Vp Cp2 Cm (1,2) Vm Cf (2)

âm tiết phụ âm tiết chính

Âm tiết phụ: âm tiết phụ (tiền âm tiết) trong tiếng Tà Mun là một âm tiết có những đặc điểm:

+ Không có khả năng tồn tại độc lập

+Thường đứng ở phần đầu của từ song tiết

+ Không mang trọng âm

+ Được phát âm nhẹ ngắn

+ Nguyên âm trong tiền âm tiết là một nguyên âm trung hoà, dễ bị nhược hóa trong ngữ lưu, thậm chí có thể biến mất Đó là cơ sở để tạo ra hiện tượng đơn tiết hóa trong tiếng Tà Mun

Âm tiết chính: âm tiết chính là âm tiết mang trọng âm Cấu trúc âm tiết chính

trong tiếng Tà Mun bao gồm: âm đầu do một phụ âm hay tổ hợp phụ âm đảm nhiệm, phần vần do âm đệm, âm chính (do nguyên âm đơn hoặc nguyên âm đôi đảm nhiệm)

và âm cuối đảm nhiệm Chúng ta có thể hình dung mô hình cấu trúc âm tiết chính trong tiếng Tà Mun như sau:

Bảng 1.2: Mô hình cấu trúc âm tiết chính tiếng Tà Mun

(2) C: consonant-phụ âm; p: preâm tiết phụ/tiền âm tiết; m: main

syllable-âm tiết chính; V: vowel-nguyên syllable-âm, f: final consonant-phụ syllable-âm cuối

Trang 33

1.3.1.3 Hệ thống âm vị tiếng Tà Mun trong âm tiết chính (âm tiết mạnh)

a Hệ thống âm vị phụ âm đầu

Trong âm tiết chính: đảm nhận vai trò phụ âm đầu trong âm tiết chính tiếng Tà

Mun bao gồm 19 phụ âm: /p/, /t/, /c/, /k/, /ʔ/, /ɓ/, /ɗ/, /b/, /d/, /j/, /g/, /w/, /s/, /h/, /m/, /n/, /ɲ/, /v/, /l/

Hệ thống các âm vị phụ âm đầu trong âm tiết chính của tiếng Tà Mun có sự đối lập nhau theo vị trí cấu âm và phương thức cấu âm Nếu dựa vào vị trí cấu âm làm tiêu chí để phân biệt thì các âm vị phụ âm đầu trong tiếng Tà Mun gồm các nhóm sau: nhóm phụ âm môi, nhóm phụ âm đầu lưỡi, nhóm phụ âm mặt lưỡi, nhóm phụ

âm gốc lưỡi và nhóm phụ âm tắc thanh hầu Nếu dựa vào phương thức cấu âm để làm tiêu chí phân biệt các âm vị phụ âm đầu trong tiếng Tà Mun thì chúng ta có các thế đối lập như: ồn - vang, tắc – xát, bật hơi – không bật hơi, hữu thanh - vô thanh

Bảng 1.3: Bảng âm vị các phụ âm đầu âm tiết chính trong tiếng Tà Mun

Chúng tôi đã mô tả rõ nét hơn đặc điểm của từng phụ âm đầu của tiếng Tà Mun trong (bảng 1.4) [phụ lục 1, tr 3 - 4]

Ngoài ra, trong tiếng Tà Mun còn có các tổ hợp phụ âm đầu tiền mũi: mb, ml,

gốc lưỡi

thanh hầu

Ồn Tắc

vô thanh

Trang 34

Ví dụ (1):

Các tổ hợp phụ âm đầu này được chúng tôi trình bày trong (bảng 1.5) [phụ lục 1,

tr 5]

b Hệ thống âm vị trong phần vần của âm tiết chính

Âm đệm:

Chức năng của âm đệm là làm chuyển sắc âm tiết, làm âm tiết thêm độ bổng hay

độ trầm Trong tiếng Tà Mun có hai âm đệm đó là / i̯ / và /u̯/ Về mặt âm học, âm đệm /u̯ / có đặc trưng làm trầm hóa âm sắc của âm tiết Còn âm đệm /i̯/ thì làm bổng hoá

Hệ thống nguyên âm tiếng Tà Mun bao gồm 13 nguyên âm đơn bao gồm 9 nguyên

âm dài /i/, /e/, /ɛ/, /ɯ/, /ɤ/, /a/, /u/, /o/, /ɔ/ và 4 nguyên âm ngắn /ĭ/, /ɤ̆/, /ă/, /ŭ/ và 3 nguyên âm đôi Dựa vào vị trí lưỡi, các nguyên âm tiếng Tà Mun được chia thành các nguyên âm dòng trước, dòng giữa và dòng sau Dựa vào độ nâng lưỡi, chúng được phân thành các nguyên âm cao, vừa, thấp Theo đó, Các nguyên âm trong tiếng Tà Mun được phân bố như sau:

Bảng 1.6: Bảng các nguyên âm trong tiếng Tà Mun

Trang 35

Các nguyên âm đôi trong tiếng Tà Mun giống với các nguyên âm đôi trong tiếng Việt

về số lượng và những nét đặc trưng Chúng tôi mô tả những nét đặc trưng của các âm

vị nguyên âm tiếng Tà Mun trong (bảng 1.7) [phụ lục 1, tr 6]

Bảng 1.8: Bảng các âm vị phụ âm cuối trong tiếng Tà Mun

Khi khảo sát hệ thống từ vựng của tiếng Tà Mun chúng tôi nhận thấy kết quả này phù hợp Bảng so sánh các âm vị phụ âm cuối trong tiếng Tà Mun với tiếng Việt (bảng 1.9) [phụ lục 1, tr 7]

1.3.1.4 Hệ thống âm vị trong tiền âm tiết

a Các âm vị phụ âm trong tiền âm tiết

Phụ âm đầu: các âm vị phụ âm đầu của tiền âm tiết tiếng Tà Mun bao gồm 14 phụ

âm /p/, /t/, /c/, /k/, /b/, /j/, /g/, /s/, /h/, /m/, /n/, / ɲ/, /ŋ/, /l/ Các âm vị /d/, /w/, /ʔ/, /ɓ/, /ɗ/, không xuất hiện ở vị trí mở đầu tiền âm tiết

Phụ âm cuối của tiền âm tiết có thể là phụ âm hoặc phụ âm zero () Hai phụ âm

cuối xuất hiện với tần số cao trong tiền âm tiết tiếng Tà Mun là /m/ và /l/

b Các âm vị nguyên âm trong tiền âm tiết

Theo khảo sát của chúng tôi thì hai nguyên âm xuất hiện với tần số cao nhất trong

Trang 36

tiền âm tiết của tiếng Tà Mun là /ɤ/, /a/ Các nguyên âm này có thể bị lược bỏ tạo nên một số các tổ hợp phụ âm Hiện tượng này là một khâu trung gian của quá trình đơn tiết hóa

Ví dụ (3):

1.3.2 Đặc điểm về từ vựng tiếng Tà Mun

Trong phần này, chúng tôi chủ yếu phân loại lớp từ cơ bản trong sinh hoạt thường ngày và lớp từ văn hóa của tiếng Tà Mun theo chủ đề Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trình bày một cách khái quát cách cấu tạo từ trong tiếng Tà Mun

1.3.2.1 Lớp từ cơ bản và lớp từ văn hóa trong tiếng Tà Mun

- Lớp từ cơ bản: theo khảo sát của chúng tôi về lớp từ cơ bản của tiếng Tà Mun

dựa theo bảng từ (968 từ) của khoa Văn học và Ngôn ngữ trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn TPHCM thiết kế cho sinh viên ngành ngôn ngữ học đi thực tập

thực tế, những từ cơ bản tiếng Tà Mun thuộc những trường từ vựng sau:

1 Các hiện tượng tự nhiên

2 Thời gian, số đếm

3 Thực vật, động vật

5 Các bộ phận thân thể con người

6 Các từ chỉ một số hoạt động, động tác cơ bản của con người

7 Quan hệ thân tộc

8 Các từ chỉ nghề nghiệp, công cụ lao động sản xuất

- Lớp từ văn hoá trong tiếng Tà Mun: gồm những từ được sử dụng trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, giáo dục Phần lớn những từ thuộc lớp từ này được vay mượn

từ tiếng Việt

1.3.2.2 Cấu tạo từ trong tiếng Tà Mun

Về mặt cấu tạo, từ vựng tiếng Tà Mun bao gồm các từ đơn và từ phức (từ ghép và

Trang 37

từ láy)

a Từ đơn: từ đơn của tiếng Tà Mun bao gồm những từ có một âm tiết và những từ

có từ hai âm tiết thường được gọi là sesquisyllabic, trong đó (âm tiết yếu-tiền âm tiết

và âm tiết mạnh-âm tiết chính)

Ví dụ (4):

b Từ phức: được cấu tạo bằng phương thức ghép và phương thức láy

Từ ghép: từ ghép trong tiếng Tà Mun gồm từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ Phương thức ghép là một trong những phương thức để tạo ra từ mới trong tiếng Tà Mun Từ ghép trong tiếng Tà Mun được ghép từ hai hoặc hơn hai từ đơn lại với nhau Trong trường hợp này, người Tà Mun dùng hai từ có sẵn trong tiếng Tà Mun để ghép lại với nhau hoặc sử dụng một từ Tà Mun và mượn thêm từ tiếng Việt ghép lại để tạo

ra nghĩa mới Hoặc cả hai từ đều vay mượn từ từ ghép trong tiếng Việt

Ví dụ (5): để tạo ra từ “chó săn” người Tà Mun đã ghép các từ đơn tiết lại với nhau: /sɔ/ (chó) + /hăn/ (đi) + /phgi/ (rừng) Hay để tạo ra từ “sách” người Tà Mun đã ghép

từ /kadah/ (giấy) + /gi͜ en/ (học)…

- Từ ghép đẳng lập: Là những từ mà nghĩa của nó là sự tổng hợp nghĩa của các từ

xét về quan hệ ngữ nghĩa Các tthành tố của từ ghép đẳng lập phải cùng loại, cùng tính chất và bình đẳng về chức năng Từ đừng trước chỉ sự vật thì từ đứng sau cũng chỉ sự vật, từ đứng trước chỉ hành động thì từ phía sau cũng chỉ hành động, từ đứng trước chỉ tính chất, đặc điểm thì từ phía sau cũng chỉ tính chất, đặc điểm Các từ trong

từ ghép đẳng lập bình đẳng về chức năng: đều là các thành tố chính Về mặt nghĩa,

từ ghép đẳng lập biểu thị ý nghĩa khái quát, tổng hợp Về mặt ngữ pháp, do mang nghĩa khái quát, tổng hợp nên không kết hợp với số từ xác định, không kết hợp với danh từ đơn vị Từ ghép đẳng lập trong tiếng Tà Mun có dạng: động – động, danh –

danh

Trang 38

Ví dụ (6):

/sa hŭt/ - ăn uống

/op sa/ - làm ăn

/hăn taw/ - đi đứng

- Từ ghép chính phụ: là những từ mà trong đó một từ có nghĩa chính còn từ kia

mang nghĩa bổ sung thêm Trong từ ghép chính phụ, một từ giữ vai trò chính về mặt nghĩa, về chức năng, một từ đóng vai trò phụ về nghĩa, về chức năng Yếu tố chính quyết định tính chất, đặc điểm ngữ pháp của cả từ ghép Trong từ ghép chính phụ nếu

ta bỏ bớt một từ thì nghĩa của từ sẽ thay đổi Trật tự các từ trong từ ghép chính phụ

có thể là: chính - phụ hay phụ - chính Từ ghép chính phụ trong tiếng Tà Mun có các dạng như: động – tính, danh – danh, danh – tính, động – danh”

Các dạng ghép chính-phụ trong tiếng

Tà Mun

Ví dụ (7)

Những từ có cấu tạo chính phụ theo dạng danh – danh xuất hiện nhiều nhất trong tiếng Tà Mun

Từ láy: bên cạnh việc ghép các từ với nhau để tạo thành từ ghép thì người Tà Mun còn dùng hình thức láy để tạo ra từ mới Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu thành nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại Từ láy trong tiếng Tà Mun gồm từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận:

Ví dụ (8):

[choq choq] - lâu lâu [ping peng] - nhện

[ŋhao, ŋhao] - đen đen [chek chok] - thằn lằn

[ŋkơt ŋkơt] - nhè nhẹ [ŋhuôt ŋhen] - thung lũng

Trang 39

1.3.3 Đặc điểm về ngữ pháp tiếng Tà Mun

1.3.3.1.Từ loại trong tiếng Tà Mun

Dựa vào ý nghĩa khái quát của lớp từ và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của chúng,

có thể phân chia vốn từ tiếng Tà Mun thành hai mảng lớn: thực từ và hư từ

- Thực từ: Là những từ có ý nghĩa từ vựng biểu vật và biểu niệm, chúng có khả

năng làm thành tố chính trong cấu trúc ngữ, có thể đảm nhiệm chức vụ cú pháp chính trong câu

Trong tiếng Tà Mun, thực từ bao gồm: Danh từ, động từ, tính từ, số từ là những lớp thực từ Đại từ cũng có tính chất của thực từ

- Hư từ: Là những từ có ý nghĩa ngữ pháp và là phương tiện chỉ quan hệ giữa các khái niệm mà thực từ biểu hiện Các hư từ thường được chia thành: Phụ từ, Quan hệ

[pŭq] - cái đầu [pơh] – dao

Ngoài việc gọi tên các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên (định danh), danh từ còn đảm nhận các chức năng ngữ pháp trong câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ), hoặc đảm nhiệm vai trò trung tâm trong các cụm có kết hợp như:

- Kết hợp với đại từ chỉ định: [heq] - này, [teih] – kia, [nơh] – đó, ấy…

Ví dụ (10):

[khay heq] - tháng này

[mpia teih] - năm kia

[kamôn nơh] - người đó/ người ấy

- Hoặc trong kết hợp với số từ: [klim] – một, [pia] – hai, [pơh] – bảy…

Ví dụ (11):

Trang 40

[pia kon kane] - hai con chuột

[pơh kamôn] - bảy người

[tu kilo xako] - một ký đường

Khi đề cập đến danh từ, chúng tôi cũng muốn trình bày một cách khái quát về từ chỉ loại trong tiếng Tà Mun Vì chúng tôi nhận thấy các em học sinh Tà Mun còn bị lẫn lộn và gặp khó khăn khi sử dụng loại từ trong tiếng Việt Chúng tôi sẽ trình bày những lẫn lộn này trong chương 3 của luận văn ở mục lỗi giao thoa ngữ pháp Trong giao tiếp khẩu ngữ thường ngày, chúng tôi nhận thấy người Tà Mun rất ít khi sử dụng từ chỉ loại, chỉ khi chúng tôi hỏi một từ tiếng Việt có từ chỉ loại thì người

Tà Mun mới dùng đến từ chỉ loại để dịch ra trong tiếng Tà Mun Phần lớn những từ chỉ loại này đều vay mượn từ tiếng Việt và dịch sang tiếng Tà Mun

Ví dụ (12):

Có thể thấy, trong giao tiếp thường ngày, người Tà Mun rất ít khi sử dụng từ chỉ loại, nếu trường hợp cần phải sử dụng thì họ sẽ mượn từ chỉ loại trong tiếng Việt theo dạng dịch qua những từ tương đương trong tiếng Tà Mun hoặc mượn nguyên dạng của tiếng Việt

- Động từ: cùng với danh từ, động từ được xem là một trong những từ loại chính trong các ngôn ngữ và chiếm số lượng không nhỏ Trong tiếng Tà Mun cũng vậy, động từ đóng vai trò trung tâm của vị ngữ biểu thị hành động, sự tình Trên đại thể

(4) Trường hợp người Tà Mun không sử dụng từ chỉ loại

(5) Trường hợp người Tà Mun không sử dụng từ chỉ loại

(6) Trường hợp người Tà Mun không sử dụng từ chỉ loại

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An (2009), Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh, Đề tài khoa học công nghệ do Hội Dân tộc học TP. HCM chủ trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Tây Ninh
Tác giả: Phan An
Năm: 2009
2. Coil Baker (2008), Những cơ sở của giáo dục song ngữ và vấn đề song ngữ, (Đinh Lư Giang dịch), NXB Đại học quốc gia TP. HCM, tr. 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của giáo dục song ngữ và vấn đề song ngữ
Tác giả: Coil Baker
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. HCM
Năm: 2008
3. Phạm Đăng Bình (2002), “Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 9, tr. 58 – 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử đề xuất một cách phân loại lỗi của người học ngoại ngữ nhìn từ góc độ dụng học giao thoa ngôn ngữ - văn hoá
Tác giả: Phạm Đăng Bình
Năm: 2002
4. Trần Văn Bình (2006), Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Trần Văn Bình
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
5. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Phan Trần Công (2015), Vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm Nam Bahnar, Luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tiếng Tà Mun trong nhóm Nam Bahnar
Tác giả: Phan Trần Công
Năm: 2015
7. Lê Khắc Cường (2000), Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng (có so sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar), Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội &Nhân văn, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu ngữ âm tiếng Stiêng (có so sánh với một vài ngôn ngữ trong nhóm Nam Bahnar)
Tác giả: Lê Khắc Cường
Năm: 2000
8. Lê Khắc Cường - Phan Trần Công (2013), “Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây Ninh”, Tạp chí Phát triển khoa học & công nghệ (tập 16), NXB Đại học quốc gia TP. HCM, tr. 15-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ghi nhận bước đầu về ngữ âm tiếng Tà Mun ở Tây Ninh
Tác giả: Lê Khắc Cường - Phan Trần Công
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP. HCM
Năm: 2013
9. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, tr. 490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 1998
10. G. Diffloth (2003), Phát triển giáo dục vùng Khmer Nam Bộ (Đinh Lê Thư dịch), NXB Đại học Quốc gia TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục vùng Khmer Nam Bộ
Tác giả: G. Diffloth
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia TP. HCM
Năm: 2003
11. Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
12. Trần Trí Dõi (2003), Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách ngôn ngữ văn hóa dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
13. Trần Trí Dõi (2003), Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giáo dục ngôn ngữ ở vùng dân tộc miền núi ba tỉnh phía Bắc Việt Nam – Những kiến nghị và giải pháp
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
14. Mạc Đường (1985), Vấn đề dân cư và dân tộc ở Sông Bé qua các thời kỳ lịch sử, in trong sách Vấn đề dân tộc ở Sông Bé, NXB Tổng hợp Sông Bé, tr. 11-40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân cư và dân tộc ở Sông Bé qua các thời kỳ lịch sử", in trong sách "Vấn đề dân tộc ở Sông Bé
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: NXB Tổng hợp Sông Bé
Năm: 1985
15. Mạc Đường (1991), Địa chí tỉnh Sông Bé, NXB Tổng hợp, tr 286 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tỉnh Sông Bé
Tác giả: Mạc Đường
Nhà XB: NXB Tổng hợp
Năm: 1991
16. Đinh Lư Giang (2003), Tình hình song ngữ Việt – Khmer ở Sóc Trăng (trường hợp ấp Trà Sết, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu), Luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ học Trường Đại học KHXH&NV, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình song ngữ Việt – Khmer ở Sóc Trăng (trường hợp ấp Trà Sết, xã Vĩnh Hải, huyện Vĩnh Châu)
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2003
17. Đinh Lư Giang (2011), Tình hình song ngữ Khmer – Việt tại đồng bằng sông Cửu Long – Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn, Luận án tiến sỹ Ngữ Văn, Trường Đại học KHXH&NV, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình song ngữ Khmer – Việt tại đồng bằng sông Cửu Long – Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Đinh Lư Giang
Năm: 2011
18. Phan Văn Giưỡng (2010), Sổ tay giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai - từ lý thuyết đến thực hành, NXB Văn hoá Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay giảng dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai - từ lý thuyết đến thực hành
Tác giả: Phan Văn Giưỡng
Nhà XB: NXB Văn hoá Sài Gòn
Năm: 2010
20. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Khoa học xã hội, TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1991
30. Luật Giáo dục (1992), nguồn: http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=18148 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm