Môi trường là không gian, và cũng là nguồn cung cấp những điều kiện cho sự sinh tồn và phát triển của con người, cũng như của các loài sinh vật khác. Sự phát triển về kinh tế - xã hội của nhân loại phụ thuộc một phần rất lớn vào các nguyên - nhiên - vật liệu từ môi trường; nhưng ở chiều ngược lại, quá trình này cũng gây ra những tác động (cả tích cực và tiêu cực) đến môi trường. Sự phát triển của nhân loại - đặc biệt là trong kỉ nguyên công nghiệp hóa – đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường, môi sinh. Tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đã và đang trở thành mối đe dọa với đời sống của loài người. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới: Bước sang thế kỉ XXI, đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế của nước ta là sự hủy hoại môi trường ở mức độ nghiêm trọng. Sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế, ngày càng hội nhập quốc tế một cách sâu rộng. Từ một trong các nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp và quá trình phát triển công nghiệp mạnh mẽ . Tuy nhiên, đi cùng với đó, môi trường ở nước ta cũng đã bị ảnh hưởng rất lớn. Như một hệ quả của thực trạng này: Tình hình ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở thành mối đe dọa đến sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của Việt Nam.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
THƯỢNG TƯỚNG, TS NGUYỄN VĂN HƯỞNG
PGS.TS HOÀNG ĐÌNH PHI
Hà Nội – 2020
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ “Nghiêncứu và đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam TừLiêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030” là kết quả lao động củachính tác giả, thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu tại Khoa Quảntrị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung luận văn thạc sĩchưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của ngườikhác
Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng,biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận vănnày đã được trích dẫn cụ thể, phù hợp với qui định của pháp luật
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, KhoaQuản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với cácthầy cô của Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB) - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặcbiệt là thầy giáo, thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS-TS HoàngĐình Phi, đã cho tác giả những kiến thức nền tảng và khoa học về quản trị anninh phi truyền thống Tác giả cũng chân thành cảm ơn các thầy các cô trongkhoa đã nhiệt tình giúp đỡ hướng dẫn tác giả hoàn thành tốt luận văn này
Đây là chương trình đào tạo liên ngành mới ở nước ta, đòi hỏi học viênphải cập nhật những kiến thức rất mới và tổng hợp Vì vậy tác giả đã gặp không
ít khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ Do hạn chế về thời gian vàkinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Tácgiả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học để tiếp tụchoàn thiện kỹ năng nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải nghĩa
ANQG An ninh quốc gia
ANTT An ninh truyền thống
ANPTT An ninh phi truyền thống
HSB Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội
NCS Nghiên cứu sinh
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5.1 Đối tượng nghiên cứu 6
5.2 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
7 Kết cấu đề tài 7
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG 8
1.1 Các khái niệm 8
1.1.1 Môi trường 8
1.1.2 Ô nhiễm môi trường 9
1.1.3 An ninh môi trường 13
1.2 Đảm bảo an ninh môi trường và quản trị an ninh môi trường 20
Phương trình an ninh phi truyền thống: 21
1.3 Đánh giá công tác quản trị an ninh môi trường 23
Tiểu kết chương 1 24
Trang 7CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VÀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 24
2.1 Khái quát chung về địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 24
2.2 Thực trạng công tác đảm bao an ninh môi trường \ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2020 26
2.3 Đánh giá chung 32
Tiểu kết chương 2 33
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2020-2030 34
3.1 Những định hướng hoàn thiện chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030 34
3.2 Những kiến nghị và giải pháp cụ thể để đảm bảo an ninh môi trường từ thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030 35
3.2.1 Giải pháp vấn đề quy hoạch 35
3.2.2 Giải pháp vấn đề chính sách 39
3.2.3 Giải pháp vấn đề công nghệ 41
3.2.4 Giải pháp về cộng đồng 46
3.2.4.1 Giải pháp phát huy nguồn lực cộng đồng từ phía nhà nước 46
Trang 83.2.4.2 Xây dựng các mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường
gắn với từng đối tượng cụ thể 52
3.2.5 Giải pháp về nguồn lực và các công cụ tài chính phù hợp 53
3.2.5.1 Giải pháp xây dựng, hoàn thiện các chính sách huy động nguồn lực tài chính cho bảo vệ môi trường 54
3.2.5.2 Các giải pháp nhằm huy động các nguồn lực khác nhằm bảo vệ môi trường 55
3.2.6 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước 58
3.2.6.1 Những giải pháp chung 58
3.2.6.2 Những giải pháp riêng mang tính chuyên môn 60
Tiểu kết chương 3 62
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 70
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường là không gian, và cũng là nguồn cung cấp những điều kiện cho
sự sinh tồn và phát triển của con người, cũng như của các loài sinh vật khác Sựphát triển về kinh tế - xã hội của nhân loại phụ thuộc một phần rất lớn vào cácnguyên - nhiên - vật liệu từ môi trường; nhưng ở chiều ngược lại, quá trình nàycũng gây ra những tác động (cả tích cực và tiêu cực) đến môi trường
Sự phát triển của nhân loại - đặc biệt là trong kỉ nguyên công nghiệp hóa –
đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường, môi sinh Tình trạng ô nhiễmmôi trường và biến đổi khí hậu đã và đang trở thành mối đe dọa với đời sống củaloài người
Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới: Bước sangthế kỉ XXI, đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế của nước ta là sự hủy hoạimôi trường ở mức độ nghiêm trọng Sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộcĐổi Mới, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế, ngày cànghội nhập quốc tế một cách sâu rộng Từ một trong các nước nghèo nhất thế giới,Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp và quá trình phát triểncông nghiệp mạnh mẽ1 Tuy nhiên, đi cùng với đó, môi trường ở nước ta cũng đã
bị ảnh hưởng rất lớn Như một hệ quả của thực trạng này: Tình hình ô nhiễm môitrường và biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở thành mối đe dọa đến sự ổnđịnh chính trị và phát triển kinh tế của Việt Nam
Thực tế này đã đòi hỏi phải có thêm những cách tiếp cận mới với vấn đềmôi trường: Một trong số đó là tiếp cận theo góc độ an ninh môi trường – mộtdạng thức an ninh phi truyền thống
An ninh môi trường là một vấn đề rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, vấn đề đảm bảo an
1 Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank) năm 2016
Trang 10ninh môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu, cần có sự hợp tác, chia sẻ giữa cácquốc gia Các thách thức an ninh môi trường không chỉ đe dọa an ninh conngười, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, v.v…, mà còn là một trong nhữngnguy cơ lớn đe dọa an ninh quốc gia và sự tồn vong của nhân loại Có thể thấy,chưa bao giờ vấn đề môi trường lại được đặt ra cấp bách đối với Việt Nam nhưhiện nay Sự khan hiếm tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng giatăng có thể gây suy yếu nền kinh tế, làm trầm trọng thêm vấn đề đói nghèo, làmbất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột Nhiều học giảtrong nước và trên thế giới đều thống nhất quan điểm về mối quan hệ giữa anninh quốc gia và an ninh môi trường có tính hữu cơ, chặt chẽ, bởi vì về thựcchất, an ninh môi trường là một thành tố thuộc an ninh phi truyền thống, một bộphận cấu thành an ninh quốc gia Vì vậy, đảm bảo an ninh môi trường chính làmột phần quan trọng nhằm đảm bảo an ninh quốc gia trong thời đại mới.
Là một địa phương của Thủ đô Hà Nội mới trải qua những biến động về tổchức hành chính (chia tách huyện Từ Liêm, và nâng cấp trở thành hai quận nộithành), quận Nam Từ Liêm hiện đang gặp nhiều vấn đề trong giải quyết bài toánmôi trường - môi sinh của thời kì đô thị hóa và công nghiệp hóa Thực tiễn đòihỏi, trong thời gian tới, quận Nam Từ Liêm phải xây dựng và thống nhất triểnkhai thực hiện một chiến lược an ninh môi trường toàn diện và nhất quán Cácgiải pháp đảm bảo an ninh môi trường (cả ở khu vực đô thị và đô thị) phải đượcthực hiện đồng bộ trên địa bàn toàn quận
Vì những lí do đó, luận văn thạc sĩ đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030”.
Trang 112 Tình hình nghiên cứu đề tài
An ninh môi trường là một vấn đề mới ở Việt Nam, nhưng đã không còn
xa lạ với khoa học thế giới Liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ,
có thể kể ra một số công trình nghiên cứu quan trọng của các học giả nước ngoài,như:
- Bài báo “Re-conceptualizing Environmental Security as Resilience: Strategic Planning for Human and National Security” của nhóm tác giả John M.
Lanicci, James D Ramsay, và Elisabeth Hope Murray đăng trên Tạp chí
“Journal of Human Security and Human Resilience”, Số 1, Tập 1, năm 2017 Bàibáo đã tái định nghĩa lại khái niệm an ninh môi trường như là một khả năng phụchồi, và đề xuất vận dụng lí thuyết an ninh môi trường trong xây dựng chiến lược
về an ninh quốc gia và an ninh con người;
- Bài báo: “Environmental security and climate change: analysing the discourse” của M.J Trombetta, đăng trên Tạp chí Cambridge Review of
International Affairs, 21(4), năm 2018 Tác giả đã phân tích mối liên hệ giữa anninh môi trường và thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay;
- Bài báo năm 2004 của V Dale, S Bartell, R Brothers, và J Sorensen:
“Systems Approach to Environmental Security”, trình bày cách tiếp cận mang
tính hệ thống về an ninh môi trường;
- Bài báo của G.D Foster công bố năm 2001, mang tên “Environmental Security: The Search for Strategic Legitimacy”;
- Bài báo của J Barnett, và S Dovers, có tiêu đề “Environmental Security, Sustainability and Policy”, công bố năm 2001, trình bày khái quát về
các khía cạnh chính sách của phát triển bền vững, có liên quan đến an ninh môitrường;
Trang 12Ở trong nước, trong thời gian gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiêncứu về các vấn đề an ninh môi trường (cả ở góc độ lí thuyết và vận dụng thựctiễn), cụ thể là:
- Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu an ninh môi trường tỉnh Bắc Ninh và vai trò của Công an nhân dân” của nghiên cứu sinh (NCS) Nguyễn Thị Phương Hảo,
bảo vệ thành công năm 2017 tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốcgia Hà Nội Luận án đã Làm rõ thực tế các vấn đề môi trường ở Bắc Ninh, baogồm các loại ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên trái phép, không bềnvững và chỉ ra những nguy cơ gây mất an ninh từ các vấn đề môi trường ở địaphương này Trên cơ sở các lí thuyết về an ninh môi trường, tác giả đã đưa ra hệthống các giải pháp khắc phục các vấn đề an ninh môi trường gắn với vai trò củalực lượng Công an nhân dân
- Bài báo “Đảm bảo an ninh môi trường ở Việt Nam: Vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết” đăng trên Tạp chí Biến đổi khí hậu số 02/2017 của nhóm tác giả
TS Tạ Đình Thi (Bộ Tài nguyên và Môi trường), ThS Phan Thị Kim Oanh(Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường - ISPONRE), và ThS TạVăn Trung (Tổng cục Môi trường) Bài báo đã trình bày khái quát lịch sử hìnhthành những lí thuyết và quan điểm về an ninh môi trường trên thế giới, trongmối liên hệ với những vấn đề cấp bách về môi trường tại Việt Nam
Trong khuôn khổ Chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh phi truyền thống(MNS), Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội, an ninhmôi trường là một nội dung trọng điểm, được quan tâm nghiên cứu Nhiều họcviên cao học của nhà trường đã lựa chọn hướng nghiên cứu về an ninh môitrường, thông qua cách tiếp cận của phương trình quản trị an ninh phi truyềnthống S = 3S – 3C (do Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS-TS.Hoàng Đình Phi đồng sáng tạo và phổ biến rộng rãi) Có thể kể đến các luận văn
thạc sĩ: “Một số vấn đề quản trị an ninh môi trường tại địa bàn đô thị huyện
Trang 13Đan Phượng” của tác giả Nguyễn Viết Thắng (bảo vệ năm 2018), “Nghiên cứu
đề xuất đảm bảo an ninh môi trường cho làng nghề tái chế chì thôn Đông Mai,
xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” của Hà Phi Long (bảo vệ năm 2019), “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh môi trường xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của Đinh Hoàng Anh (bảo vệ năm
2019), v.v…
Các công trình nghiên cứu nói trên đã phần nào giải quyết được nhiều vấn
đề lí luận và thực tiễn về an ninh môi trường Tuy nhiên, chưa có công trình nàotiếp cận về an ninh môi trường dưới góc độ chiến lược lâu dài, thống nhất chomột địa phương, một khu vực địa lý cụ thể Chiến lược an ninh môi trường phảiđược xây dựng và triển khai thực hiện song hành với chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển kinh tế của địa phương, của vùng địa lý, vùng kinh tế, và rộng ra
là cả nước
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu sẵn có, luận văn thạc
sĩ đi sâu vào giải quyết vấn đề chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quậnNam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn thạc sĩ là phân tích khung lý thuyết vàthực trạng, để đề xuất xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh môi trường trên địabàn quận Nam Từ Liêm, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trong việcthực hiện mục tiêu phát triển bền vững quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2020-2030
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, tác giả xác lập các nhiệm
vụ nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, hình thành luận cứ khoa học về môi trường và an ninh môi
trường;
Trang 14Thứ hai, đánh giá thực tiễn xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược an
ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong những năm vừa qua;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chiến lược
đảm bảo an ninh môi trường hướng đến phát triển bền vững trên địa bàn Quận
Từ Liêm giai đoạn 2020-2030
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào đối tượng nghiên cứu là các chủ trương, chính sách vềđảm bảo an ninh môi trường hướng đến phát triển bền vững trên địa bàn quậnNam Từ Liêm nói riêng và địa bàn thành phố Hà Nội nói chung trong thời gianvừa qua
Chiến lược đảm bảo an ninh môi trường quận Nam Từ Liêm được thể hiệnthông qua các chủ trương, chính sách, văn bản pháp quy của Trung ương và địaphương; các thực tiễn, mô hình, kinh nghiệm trong đảm bảo an ninh môi trườnghướng phát triển bền vững trên địa bàn quận Nam Từ Liêm
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn của dung lượng luận văn thạc sĩ, nên để đảm bảo tính chuyênsau, đề tài tập trung vào phân tích thực trạng môi trường đầu tư, các chính sáchđảm bảo an ninh môi trường, quan điểm, định hướng phát triển bền vững trên địabàn quận Nam Từ Liêm trong giai đoạn 2010-2020, và đề xuất chiến lược đảmbảo an ninh môi trường giai đoạn 2020-2030
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sửcủa chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước xã hộichủ nghĩa; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng
Trang 15nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là phương pháp chủ đạoxuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, để đưa ra những nhận định,kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, chân thực
Về phương pháp nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thểtrong quá trình nghiên cứu: Đó là phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liênngành (kinh tế, luật học, lịch sử, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp;phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật Để thực hiện
có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận văn kết hợp chặt chẽ giữa các phươngpháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận văn Tuỳ thuộcvào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận án tác giả vận dụng,chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài được kếtcấu gồm 3 chương:
- Chương 1 Khái quát các vấn đề lí luận chung về an ninh môi trường
- Chương 2 Thực tiễn xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội;
- Chương 3 Giải pháp hoàn thiện việc xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố
Hà Nội.
Trang 16CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI
Có nhiều quan điểm định nghĩa khái niệm môi trường Theo nghĩa thông
thường, môi trường (environment) là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên
và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan
hệ với con người hay sinh vật ấy2
Lại có quan điểm định nghĩa: Môi trường là tổ hợp các nhân tố tự nhiên và
xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó.Các nhân tố này tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạngtồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xemxét là một tập hợp con
Một cách cụ thể hơn, có thể đưa ra định nghĩa: Môi trường là tập hợp tất
cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới conngười và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước,
độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế
Theo nghĩa pháp định, khoản 1, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014
định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Trong phạm
vi luận văn thạc sĩ này, khái niệm môi trường được tiếp cận theo hướng này
2 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr.618
Trang 17Môi trường giữ vai trò rất quan trọng, là không gian sinh tồn của nhânloại, cung cấp những nguyên, nhiên, vật liệu cho quá trình phát triển kinh tế - xãhội của loài người Môi trường là di sản chung của toàn thể nhân loại
Với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người sống trong môitrường tự nhiên và luôn tồn tại trong môi trường xã hội Mọi sự xáo trộn, biếnđổi của môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếpđến chất lượng cuộc sống của con người Để xử lý hài hòa mối quan hệ đó, conngười phải vận dụng tốt vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để tìm được
“tiếng nói chung” với môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay đang xuấthiện những vấn đề phức tạp trong giải quyết mối quan hệ giữa con người với môitrường Thực trạng đó đòi hỏi phải đặt ra những yêu cầu cơ bản, toàn diện từnhận thức đến hệ thống những giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững -một sự phát triển hài hòa cả về kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường
1.1.2 Ô nhiễm môi trường
Một trong những vấn đề xã hội nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận hiệnnay chính là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sinh hoạt,sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của con người gây nên Vài năm trở lạiđây, chúng ta liên tiếp phải hứng chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra
và do công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập Môi trường tự nhiên vẫnhàng ngày, hàng giờ bị chính các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh
tế - xã hội của con người tàn phá, làm cho ô nhiễm nghiêm trọng Đó cũng chính
là hậu quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng tự nhiên và sự lúng túng trongtìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững
Để tồn tại và phát triển, con người luôn cần một khoảng không gian dànhcho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người muốn gia tăngkhông gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai hoang, phá rừng, cải tạo các
Trang 18vùng đất, nước mới Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tàinguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến các hậu quả nặng nề mà người gánh chịu chính làchúng ta - thế hệ hiện tại và tương lai Do đó, để vừa được hưởng cuộc sống chấtlượng cao, vừa bảo vệ được môi trường sống là cả một vấn đề phức tạp phụthuộc chủ yếu vào cách ứng xử của con người với “mẹ thiên nhiên”.
Theo từ điển Merriam-webster, ô nhiễm môi trường là là hiện tượng môitrường tự nhiên bị ô nhiễm, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học củamôi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác3
Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra, mặc dù một sốhoạt động khác của tự nhiên cũng có thể gây ra những tác động xấu đối với môitrường
Theo nghĩa pháp định tại khoản 8, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm
2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Đây là một định nghĩa mang đậm
tính kĩ thuật, khi khái niệm ô nhiễm môi trường được xác định thông qua các quychuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là kể từ khi bắt đầuquá trình công nghiệp hóa, con người ngày càng đẩy mạnh các hoạt động khaithác, cải tạo môi trường tự nhiên để phục vụ những nhu cầu của mình Điều nàygây ra nhiều ảnh hưởng đối với môi trường, nhất là tình trạng ô nhiễm môitrường
Ô nhiễm môi trường có nhiều dạng Căn cứ theo đặc điểm môi trường bị ônhiễm, có thể phân chia thành: (i) ô nhiễm môi trường đất; (ii) ô nhiễm môitrường nước; và (iii) ô nhiễm môi trường không khí
3 Nguyên văn tiếng Anh: “the action of polluting especially by environmental contamination with man-made waste”
Trang 19Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả tiêu cực do những hoạt động của conngười làm thay đổi các nhân tố sinh thái, vượt quá những giới hạn sinh thái củacác quần xã sống trong đất.
Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tínhchất vật lý, hóa học, và sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thểlỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Ônhiễm môi trường nước làm giảm độ đa dạng các sinh vật trong nước
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại hóa chất, chất thải từ các nhàmáy, xí nghiệp thải ra sông, ra biển, Đại dương mà chưa qua xử lý; các loại phânbón hoá học và thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng ruộng ngấm vào nguồn nướcngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sônggây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, sinh vật trongkhu vực Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển và là nguyên nhân xảy rahiện tượng "thủy triều đỏ", gây ô nhiễm nặng nề và làm chết các sinh vật sống ởmôi trường nước Xét về tốc độ lan truyền, quy mô ảnh hưởng, và hậu quả để lại,thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biếnđổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặcgây mùi khó chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giớichứ không phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang có nhiềubiến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hiện tượng
“khí nhà kính” đã và đang làm tăng nhiệt độ của Trái Đất, làm tan băng ở haicực, khiến mực nước biển dâng cao Tình trạng biến đổi khí hậu đã xuất hiệnnhư một hệ quả trực tiếp của vấn đề ô nhiễm không khí, ảnh hưởng không nhỏđến sự tồn tại và phát triển của con người, cũng như của các loài sinh vật
Trang 20Ngoài ra, trong tiếp cận nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, đã có nhiềuquan điểm khoa học xác định một số loại hình ô nhiễm đặc thù, cụ thể như sau:
Ô nhiễm tiếng ồn là sự gia tăng quá mức của thời gian, và cường độ âmthanh trong không gian, làm ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm lí của conngười cũng như các loài động vật khác Nguồn ô nhiễm tiếng ồn có thể đến từhoạt động công nghiệp, hoạt động giao thông, hoặc từ sinh hoạt của con người
Ô nhiễm ánh sáng là sự gia tăng quá mức của thời gian chiếu sáng, vàcường độ chiếu sáng trong không gian, làm ảnh hưởng đến con người và các loàiđộng, thực vật Hiện tượng ô nhiễm ánh sáng thường xuất hiện tại các đô thị lớn– những “thành phố không ngủ”, làm đảo lộn nhịp sinh học của con người vàđộng vật, gây ảnh hưởng đến thị giác
Ô nhiễm phóng xạ là sự gia tăng quá mức cường độ phóng xạ trong môitrường Ô nhiễm phóng xạ làm gia tăng mức độ bức xạ tự nhiên, ảnh hưởng đếnsức khỏe của cơ thể (gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn thậm chí là ung thư da,ung thư xương, v.v ) Nguyên nhân của ô nhiễm phóng xạ là do các hoạt độngcủa con người như khai thác, xử lý vật liệu phóng xạ, xử lý và lưu trữ chất thảiphóng xạ, v.v gây ra
Ô nhiễm sóng điện từ là sự gia tăng quá mức của số lượng nguồn phát vàcường độ phát của các loại sóng điện từ trong không gian Nguyên nhân của ônhiễm sóng điện từ là do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình, v.v tồn tại với mật độ lớn Ô nhiễm sóng điện từ có nhiều tác hại, như: làm cho conngười bị ảnh hưởng nhiều đến não bộ hơn, khiến cơ thể con người chịu nhiều tácđộng khác do ảnh hưởng bởi các loại sóng này
Ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, kéo theo nhiều
hệ lụy xấu như gây biến đổi khí hậu, khiến cho nhiệt độ Trái Đất nóng lên, làmtan băng ở hai địa cực, khiến nước biến dâng cao, v.v… Tình trạng ô nhiễm môi
Trang 21trường và biến đổi khí hậu đang là mối đe dọa rất lớn với loài người trong giaiđoạn hiện nay
1.1.3 An ninh môi trường
Trong nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và đời sống con người,phân tích ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng và pháttriển kinh tế, v.v… một hướng tiếp cận đang được chú trọng là nghiên cứu anninh môi trường, như một vấn đề an ninh phi truyền thống trong thế kỉ XXI
Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa và xác định nội hàm của khái niệm anninh nói chung và an ninh phi truyền thống nói riêng Những năm gần đây, vấn
đề an ninh phi truyền thống đã thu hút sự quan tâm ngày càng cao của nhiềuquốc gia, nhiều chính phủ An ninh phi truyền thống đã trở thành nền tảng pháttriển và mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu, đánh giá nhiều vấn đề pháttriển vĩ mô Trong giai đoạn hiện nay, an ninh môi trường đang trở thành mộtvấn đề an ninh phi truyền thống cấp thiết nhất
Trước khi đi vào phân tích khái niệm an ninh môi trường như một tháchthức an ninh phi truyền thống, cần làm rõ các khái niệm cơ bản như an ninh quốcgia - một khái niệm mang tính chính trị - pháp lý, thể hiện bản chất chế độ xã hộicủa một quốc gia Theo nghĩa pháp định, khoản 1, điều 3, Luật An ninh quốc gia
năm 2004 của Việt Nam đã định nghĩa: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” Trên cơ sở đó, Luật An ninh quốc gia năm 2004 định
nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranhlàm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia4 Hoạt động xâm phạm anninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền
4 Khoản 2, điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004
Trang 22văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toànvẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam5
Căn cứ trên những định nghĩa của Luật An ninh quốc gia năm 2004, có thểthấy được phần nào về cách tiếp cận an ninh quốc gia theo hướng truyền thống.Nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổViệt Nam có khả năng thực tế gây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nội dung cơ bản của an ninh quốc gia là bảo vệlợi ích quốc gia và loại bỏ các mối đe dọa tới lợi ích đó
Trên thực tế, an ninh quốc gia (ANQG) bao hàm an ninh truyền thống(ANTT) và an ninh phi truyền thống (ANPTT) Tùy thuộc vào bối cảnh, thờiđiểm khác nhau, mà những thách thức ANTT hoặc ANPTT sẽ nổi lên đe dọa tới
an ninh quốc gia Trước đây, trong thời kì Chiến tranh lạnh, các nhân tố ANTTđược đề cao, việc bảo vệ ANQG chủ yếu nằm ở khía cạnh xây dựng lực lượng
vũ trang và nền quốc phòng hùng mạnh để chống lại kẻ thù xâm lược Còn trongbối cảnh hiện nay, do mặt trái của sự phát triển, và xu thế toàn cầu hóa đang diễn
ra mạnh mẽ, vấn đề ANQG không chỉ giới hạn trong việc ngăn chặn, ứng phóvới các nguy cơ chiến tranh (thách thức ANTT), mà còn bao hàm nhiều vấn đềANPTT như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồnnước, khủng bố, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ caov.v… Các thách thức ANPTT vẫn có thể khiến một quốc gia, thể chế xã hội sụp
đổ mà không cần bất kỳ một hoạt động quân sự nào
Một trong những vấn đề ANPTT nổi cộm hiện nay và được nhiều học giảtrên thế giới quan tâm nghiên cứu là vấn đề an ninh môi trường (ANMT) Năm
1972, vấn đề ANMT lần đầu tiên được đưa vào chương trình nghị sự quốc tế tạiHội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Con người ở Stockholm (Thụy Điển).Vào năm 1977, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã thiết lập một Trung tâm
5 Khoản 3, điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004
Trang 23Môi trường để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và ANQG Ủy ban Quốc tế
về Môi trường và Phát triển đã kêu gọi mọi người cần hiểu an ninh một phầncũng là chức năng của phát triển bền vững Ủy ban đã nêu vai trò của các áp lực
về môi trường trong việc làm nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời cũng tuyên bố rằng
“một phương án an ninh quốc gia và quốc tế toàn diện phải vượt xa việc tậptrung vào lực lượng quân sự và chạy đua vũ trang”
Đến đầu thập niên 1980, các học giả phương Tây lần đầu tiên đưa ra kháiniệm ANMT và đặc biệt coi trọng vấn đề ANMT trong chiến lược ANQG Đạihội đồng Liên hợp quốc lần đầu tiên đã đề cập tới khái niệm ANMT vào năm
1987 trong một văn bản chính thức, theo đó “Quản lý nguồn tài nguyên khônghợp lý, lãng phí đều gây ra những uy hiếp đối với an ninh Sự biến đổi tiêu cựccủa môi trường đang tạo thành các uy hiếp đối với sự phát triển…, trở thành cănnguyên của các căng thẳng và tiêu cực xã hội ảnh hưởng đến cả nhân loại nhưđói nghèo, mù chữ, dịch bệnh…” Vào ngày 26/4/1986, vụ tai nạn tại Nhà máyđiện nguyên tử Chernobyl đã gây thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thếgiới và sau đó Tổng thống Gorbachew đã đề nghị đưa an toàn sinh thái lên ưutiên hàng đầu ở Liên Xô trước đây Điều này đã giúp củng cố lòng tin của quốc
tế vào khái niệm ANMT
Khái niệm về ANMT được Chính phủ Mỹ và một số quốc gia phương Tâychính thức công nhận vào gần giữa thập niên 1990 Ngay khi mới đắc cử năm
1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố ANMT là một bộ phận cấu thành
và không thể tách rời của ANQG Vấn đề ANMT có thể gây ảnh hưởng lâu dàitới lợi ích quốc gia, đe dọa trực tiếp sức khỏe, sự thịnh vượng, việc làm, sự ổnđịnh chính trị, kinh tế và mục tiêu chiến lược của Mỹ Chính phủ Mỹ đã đưa vấn
đề ANMT vào trong Báo cáo Chiến lược ANQG năm 1994 “hiện nay quyết địnhcủa chúng ta với vấn đề môi trường sẽ ảnh hưởng đến mức độ uy hiếp của môitrường đối với an ninh Sự phức tạp của các khó khăn mà chúng ta sẽ phải đương
Trang 24đầu trong tương lai sẽ được quyết định bởi các bước đi mà chúng ta thực hiện lúcnày”.
Bên cạnh đó, cựu Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher cho rằng “các vấn
đề về tài nguyên thiên nhiên thường có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ ổn địnhkinh tế và chính trị của một quốc gia” Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Na Uy JohanHolst cũng nêu quan điểm “môi trường xuống cấp có thể coi là một phần củaxung đột vũ trang vì nó làm các xung đột thêm nghiêm trọng hơn hoặc mở rộngquy mô của các cuộc xung đột đó” Năm 1996, các nước châu Âu cũng chínhthức đặt vấn đề môi trường trở thành một lĩnh vực thuộc phạm vi ANQG Đếnnay, các nước Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Ca-na-đa, EU và nhiều nước khác đãban hành Chiến lược an ninh môi trường Theo Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc(năm 1992), an ninh môi trường là “Sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên,suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm hoạ có thể gây suy yếu nền kinh
tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ chocác cuộc xung đột và chiến tranh” Dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹcủa Liên hiệp quốc xác định: “An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trướccác mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế
và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia” Đây là một định nghĩa khátoàn diện, phản ánh được bản chất của vấn đề ANMT Mặc dù còn nhiều vấn đềphải tranh cãi, nhưng hiện nay các học giả đã thừa nhận các yếu tố môi trườngđóng cả vai trò trực tiếp và gián tiếp trong tranh chấp chính trị và xung đột bạolực Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, phát triển kinh tế và sinhthái tạo ra các mối nguy hiểm tiềm tàng cho tất cả các đối tượng ở mọi tầng lớp.Khái niệm ANMT dù được hình thành từ nhiều cách khác nhau, nhưng đang dầnthể hiện một khuôn mẫu thay thế cho việc sắp xếp và xử lý các mối đe dọa ngàycàng tăng cao
Trang 25Hiện nay, nhiều học giả trong nước và trên thế giới đều thống nhất quanđiểm về quan hệ ANQG và ANMT có tính chất hữu cơ, chặt chẽ, bởi vì về thựcchất, ANMT là một thành tố thuộc ANPTT, một bộ phận cấu thành ANQG, bêncạnh an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa Tùy bối cảnh của từngnước và tùy từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vị trí và vai trò của ANMTtrong ANQG có thay đổi Nhưng nhìn chung, trên thế giới và Việt Nam, vị trí vàvai trò ANMT đang ngày càng đóng vai trò quan trọng Các nghiên cứu đã kháthống nhất trong việc xác định các vấn đề ANMT chủ yếu mà thế giới đang phảiđối mặt, bao gồm: tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó nhấn mạnhtới hiệu ứng nhà kính gây ấm lên toàn cầu; nguy cơ nguồn nước và sự hủy hoạicác nguồn tài nguyên biển; sự phá hủy và tổn hại của tầng ô zôn; hiện tượng samạc hóa đất đai; hệ thực vật rừng bị phá hoại; đa dạng sinh học suy giảm và vấn
đề mưa axít Cùng xu thế đó, hiện nay, Việt Nam cũng đang đứng trước nhiềumối đe dọa về ANMT cấp bách cần phải giải quyết, như: biến đổi khí hậu; anninh nguồn nước, an ninh môi trường biển bị đe dọa; ô nhiễm tại các khu vựctrọng điểm và ô nhiễm xuyên biên giới chưa thể kiểm soát; suy giảm tài nguyênrừng và đa dạng sinh học Có thể thấy, chưa bao giờ các vấn đề môi trường lạiđược đặt ra cấp bách đối với toàn nhân loại như hiện nay
Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Bảo vệ môitrường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảmsức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việcphát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hộinhập kinh tế quốc tế của nước ta” Ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII Đảng ta
đã khẳng định: “Nhân dân các nước đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấpbách liên quan đến vận mệnh loài người Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơchiến tranh, bảo vệ môi trường sống, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và
Trang 26đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo” Vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó vớibiến đổi khí hậu là một nội dung quan trọng được đưa vào Văn kiện Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ XII, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường công tác quản lýtài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụphát triển bền vững theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đápứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản, có trọngtâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn” và yêu cầu phải “sẵn sàng ứng phóvới các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống”.
Thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp
về tài nguyên và môi trường, cụ thể như Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chủ động ứng phóvới biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chiếnlược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiếnlược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược quốc gia
về biến đổi khí hậu; Luật Bảo vệ môi trường 2014; Luật Đa dạng sinh học 2008;Luật Tài nguyên nước 2012… Đến nay, Việt Nam đã ký kết tham gia 23 côngước quốc tế về môi trường Đồng thời, Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác vớicác nước, các tổ chức trên thế giới và xác định hợp tác quốc tế là cần thiết để đốiphó với các thách thức ANPTT, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môitrường và chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới Trong Sách trắng quốc phòngViệt Nam năm 2004 khẳng định: “Những vấn đề chưa được giải quyết liên quanđến tranh chấp biên giới, lãnh thổ, trên biển, trên bộ cũng như những vấn đề anninh phi truyền thống khác như: buôn bán vận chuyển ma túy, vũ khí, cướp biển,tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép, suythoái môi trường sinh thái… cũng là mối quan tâm, an ninh của Việt Nam” ViệtNam đã đưa khái niệm ANMT vào Luật Bảo vệ môi trường 2014, theo đó “an
Trang 27ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự
ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia”
Như vậy, có thể thấy vấn đề ANMT đã được thế giới cũng như Việt Namhết sức quan tâm và đã thể chế bước đầu trong các chính sách, pháp luật
Báo cáo Phát triển con người năm 2004 của UNDP xác định an ninh phitruyền thống bao gồm an ninh con người và an ninh cộng đồng Báo cáo cũngchỉ ra rằng vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan tới 7 lĩnh vực chủ yếu là :kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị.Một số nghiên cứu khác lại quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào 5 lĩnh vực
cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa Mặt khác, cũng cónghiên cứu lại chỉ rõ hơn 6 mối đe dọa của an ninh phi truyền thống là ô nhiễmmôi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố,dịch bệnh truyền nhiễm, và thảm họa tự nhiên Mặc dù phân loại theo tiêu chínào, thì có thể thấy rõ là vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường luôn luôn làmột nội dung quan trọng bậc nhất của an ninh phi truyền thống
Báo cáo dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ tại Liên Hợp Quốcnăm 2002 định nghĩa an ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mốinguy hiểm môi trường, sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và cónguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia
Tại Việt Nam, khoản 28, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã đưa
ra định nghĩa pháp định về an ninh môi trường: “An ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia”
Trên cơ sở những khái niệm mang tính lý thuyết và khái niệm pháp lý, cóthể đưa ra một định nghĩa với nội hàm tương đối đầy đủ về an ninh môi trường,
đó là việc đảm bảo sao cho các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do sự yếu kémtrong quản lý hoặc quy hoạch và có nguyên nhân trong nước hay quốc tế sẽ
Trang 28không tác động lớn đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốcgia, duy trì sự an toàn cho cá nhân, xã hội và các lĩnh vực hoạt động của xã hộiphát triển
1.2 Đảm bảo an ninh môi trường và quản trị an ninh môi trường
An ninh môi trường cấu thành an ninh quốc gia và là điều kiện của pháttriển bền vững Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay đang phải đốimặt với rất nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh môi trường quốc gia đó là: Quátrình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh trong những năm gần đây,
đã làm biến đổi mạnh mẽ các điều kiện môi trường và tài nguyên thiên nhiên củađất nước Ở nhiều địa bàn đô thị trong cả nước đất hoa màu trồng lúa và các loaịcây trái đã và đang chuyển đổi bê tông hóa sang thành các khu cụm điểm côngnghiệp Theo số liệu thống kê, hiện cả nước có khoảng 300 khu công nghiệp, khuchế xuất lớn; hơn 600 cụm công nghiệp vừa và nhỏ và khoảng ba nghìn làngnghề tại các địa phương, trong đó rất nhiều khu vực, cơ sở chưa có hệ thống xử
lý môi trường theo đúng quy định gây tác động không nhỏ tới môi trường Ônhiễm môi trường tại lưu vực các dòng sông lớn đang diễn ra ngày càng nghiêmtrọng do tình trạng nước thải chưa được xử lý từ các hoạt động sản xuất côngnghiệp, từ các đô thị trực tiếp xả thẳng ra sông Ô nhiễm không khí do bụi, khíthải hóa chất độc hại từ các nhà máy điện Trong khi đó, kết cấu và thể chế, hạtầng và trình độ công nghệ để bảo vệ môi trường ở nước ta còn chưa đáp ứngđược so với yêu cầu hiện nay… quá trình hội nhập quốc tế cũng làm tăng ônhiễm, dịch chuyển chất thải xuyên biên giới như: ô nhiễm theo các dòng sông;chuyển dịch chất thải công nghiệp, nhất là việc chuyển giao công nghệ sản xuấtlạc hậu, kém hiệu quả đã góp phần gây ô nhiễm môi trường Nước ta đang tronggiai đoạn “tích tụ ô nhiễm” đối với khá nhiều các tác nhân nguy hiểm như: Dưlượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu; sự phát thải các hóa chất công nghiệp có
Trang 29tính độc hại cao và bền vững trong môi trường; sự phát thải, tích lũy, khuếch đạisinh học của hàng loạt các hóa chất độc hại trong chăn nuôi theo chuỗi thức ăn.Tại nhiều địa phương, tình trạng suy thoái và ô nhiễm 17 môi trường đã, đang trởthành những vấn đề cấp bách, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng,tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của người dân Vì vậy bảo vệ an ninhmôi trường là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp vàcủa cả các cấp, các ngành, của từng địa phương
Phương trình an ninh phi truyền thống:
Căn cứ theo phương trình an ninh phi truyền thống: S=3S-3C thì ở các cấp
độ khác nhau như quốc gia, tỉnh thành, quận, quận và doanh nghiệp thì các chủthể hay những người có trách nhiệm phải : +) thực thi pháp luật +) và chủ độngquản trị an ninh môi trường để đảm bảo an toàn và ổn định cho các chủ thể vànhững người liên quan, trong đó bao gồm: quản trị được các rủi ro (C1) và tránhđược các khủng khoảng môi trường (C2) gây thiệt hại về người và của cũng như
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường…(C3) Công tác quản trị an ninh môi
Trang 30trường của mỗi một chủ thể cần được đánh giá hàng năm thông qua các yếu tố
cơ bàn của Phương trình quản trị an ninh phi truyền thống (3S3C) ứng dụng linhhoạt trong từng địa bàn hay doanh nghiệp… Ở địa bàn đô thị có thể sử dụngphương trình rút gọn là S= 1S – 2 C = (S1) – (C1+C2) Cụ thể là đánh giá qua cáctiêu chí cơ bản như sau: (1) Mức độ quan tâm của lãnh đạo quận (Đảng bộ,HĐND, UBND) thông qua các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch hàng động hàngnăm…); (2) Mức độ an toàn của nguồn nước phục vụ sinh hoạt; (3) Mức độ antoàn của nguồn nước phục vụ sản xuất; (4) Mức độ an toàn của không khí; (5)Mức độ xử lý rác thải rắn và rác thải độc hại; (6) Mức độ xử lý nước thải; (7) Sốlượng và tác động tiêu cực khi các rủi ro về môi trường đã trở thành khủnghoảng quy mô từ nhỏ đến lớn trong tưng năm vừa qua Đến đây có thể nhậnthấy: An ninh môi trường là một thành tố của an ninh quốc gia Việc không đảmbảo an ninh môi trường có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, giatăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiếntranh Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đang đứng trước rất nhiều tháchthức về môi trường như: biến đổi khí hậu, tranh chấp nguồn nước, ô nhiễmxuyên biên giới… Do đó, cần đưa ra giải pháp quản tri ̣an ninh môi trường nhằmlàm giảm nhẹ các nguy cơ đe dọa an ninh môi trường, góp phần quan trọng vàoquá trình phát triển bền vững của đất nước Vì các vấn đề liên quan đến an ninhmôi trường đều đang rất cấp bách và gấp gáp, là vấn đề của toàn cầu chứ khôngriêng mỗi quốc gia hay cá nhân hộ gia đình Thậm chí, rất nhiều vấn đề môitrường còn có thể đe dọa hòa bình và an ninh thế giới như: biến đổi khí hậu,tranh chấp tài nguyên thiên nhiên, bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tàinguyên, khủng bố sinh thái, xâm lược sinh thái…Vì vậy quản trị an ninh môitrường là yêu cầu cấp bách; là vấn đề hệ trọng, cần thiết đăṭ ra trong bối cảnhphát triển như hiện nay
Trang 311.3 Đánh giá công tác quản trị an ninh môi trường
Năng lực giám sát, cảnh báo khí hậu, thiên tai thông qua việc mở rộng,phát triển, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn theohướng kết kết hợp quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn với giám sát, cảnh báokhí hậu đã được nâng cao và phát triển Phát triển hệ thống thông tin và dữ liệu
về khí hậu và biến đổi khí hậu phục vụ hoạch định chính sách và triển khai thựchiện các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệmôi trường, nhất là phòng, chống dịch chuyển ô nhiễm môi trường trên địa bànquận được diễn ra thường xuyên và quyết liệt, đặc biệt các hành vi cố tình xảthẳng khí thải, rác thải độc hạichưa xử lýra môi trường được xử lí nghiêm ngặt
Tuy nhiên, việc quản trị về môi trường thiếu hiệu quả Hệ thống pháp luật
về bảo vệ môi trường tuy đã được hình thành về cơ bản nhưng vẫn nhiều quyđịnh còn chung chung, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, thậm chí chồng chéogiữa các luật với nhau như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Bảo vệrừng, Luật Khoáng sản, Thiếu các cơ chế về bồi thường thiệt hại do ô nhiễmmôi trường gây ra, giải quyết tranh chấp, xung đột về môi trường Nhiều quyđịnh về xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc,chưa có cơ chế phù hợp để thực hiện nên chưa phát huy được hiệu quả Các loạithuế, phí về môi trường mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho ngân sách mà chưaphát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế gây ô nhiễm môitrường
Năng lực quản lý về bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, không theo kịpvới sự phát sinh và tính chất ngày càng phức tạp của các vấn đề môi trường Ởcấp địa phương, cơ cấu tổ chức và năng lực của tổ chức chuyên môn về bảo vệmôi trường chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được
Trang 32yêu cầu về số lượng và chất lượng, mất cân đối về cơ cấu Bên cạnh đó, nguồnlực tài chính đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp.
Những kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1 là cơ sở quan trọng đểluận văn nghiên cứu thực tiễn xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược an ninhmôi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC VÀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2020
2.1 Khái quát chung về địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Quận Nam Từ Liêm được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày27/12/2013 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính quận Từ Liêm đểthành lập 2 quận và 23 phường thuộc Thành phố Hà Nội
Trang 33Quận Nam Từ Liêm được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tựnhiên và dân số của các xã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; mộtphần diện tích và dân số xã Xuân Phương (phía nam Quốc lộ 32); một phần diệntích và dân số thị trấn Cầu Diễn (phía nam Quốc lộ 32 và phía đông Sông Nhuệ).Quận Nam Từ Liêm có diện tích tự nhiên là 3.227,36 ha, dân số 232.894 người
Địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm:
- Phía đông giáp quận Thanh Xuân và Cầu Giấy;
- Phía tây giáp quận Hoài Đức;
- Phía nam giáp quận Hà Đông;
- Phía bắc giáo quận Bắc Từ Liêm
Theo quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn 2050, quậnNam Từ Liêm là một trong những đô thị lõi, là trung tâm hành chính, dịch vụ,thương mại của Thủ đô Hà Nội Quận Nam Từ Liêm có nhiều công trình kiếntrúc hiện đại và quan trọng của Quốc gia và Thủ đô Hà Nội Quận cũng là địaphương có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh mẽ trong các quận, quận thuộcThành phố, với nhiều dự án trọng điểm đã và đang được triển khai
Trang 34Là một phần của vùng đất Từ Liêm, quận Nam Từ Liêm có truyền thốnglịch sử, văn hóa lâu đời, mang đặc trưng của nền văn minh sông Hồng rực rỡ vàgắn liền với những thăng trầm lịch sử của đất Thăng Long – Hà Nội ngàn nămvăn hiến
Nhân dân Từ Liêm nói chung, nhân dân quận Nam Từ Liêm nói riêng cólòng yêu nước nồng nàn, bản chất cần cù, sáng tạo, trong lịch sử luôn có nhữngđóng góp quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Thủ
đô, đất nước
Phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, Đảng bộ, chính quyền và các tầnglớp nhân dân quận Nam Từ Liêm đang vững bước trên con đường công nghiệphóa, hiện đại hóa, từng bước xây dựng quê hương trở thành đô thị văn minh, giàuđẹp, tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp chung của Thủ đô HàNội và đất nước
2.2 Thực trạng công tác đảm bao an ninh môi trường \ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2020
Hà Nội là một địa phương đang có tốc độ phát triển nhanh, đặc biệt tại cácquận mới thành lập như Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm… Sự phát triểnnhanh đã mang lại nhiều tác động tích cực: đời sống người dân tăng lên, cũngnhư mở rộng diện tích khu vực nội thành, góp phần giảm áp lực về dân số vớikhu vực nội thành…Tuy nhiên những khu vực có tốc độ phát triển nhanh tại HàNội đang có nguy cơ phát triển theo hướng thiếu bền vững Nam Từ Liêm là mộtquận thuộc thành phố Hà Nội nên cũng có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng vàcông nghiệp phát triển, những năm gần đây tại quận Nam Từ Liêm có rất nhiềukhu chung cư, biệt thự, nhà cao tầng mọc lên kéo theo là dân cư đông đúc Thảicông nghiệp, thải sinh hoạt đổ ra nhiều cộng với sự ô nghiễm của các khu công
Trang 35trường, nhà máy làm cho nguồn nước ô nhiễm nghiêm trọng Trên thực tiễn, cầnphải xem xét thực trạng ô nhiễm của quận Nam Từ Liêm một cách toàn diện:
Về môi trường đất, tại quận Nam Từ Liêm, đất đô thị tăng nhanh, nhưng tỷ
trọng đất dành cho các vấn đề xã hội chưa đáp ứng yêu cầu thực sự của đời sống
xã hội Cụ thể, tỷ lệ đất dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng còn thấp (chiếmkhoảng 29,78%) Diện tích đất dành cho cấp thoát nước đô thị hiện chưa có quỹđất để mở rộng theo nhu cầu phát triển Các hệ thống hiện nay thường dùngchung với các cơ sở hạ tầng khác trên đường phố chính Yêu cầu với loại đất cho
hạ tầng cấp nước chiếm 1%, thoát nước vệ sinh môi trường đô thị trung bình từ6-7% điều này ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đất
Đáng lo ngại, đất bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe con ngườithông qua tiếp xúc trực tiếp với đất, hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi củachất gây ô nhiễm đất Sự xâm nhập của ô nhiễm đất vào tầng nước ngầm cũngtrở thành mối nguy hiểm tiềm tàng đe dọa sức khỏe của người dân
Về ô nhiễm nguồn nước, dù đã hoạt động hết công suất tuy nhiên nguồnnước máy ở đây vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt của người dân sinhsống tại Nam Từ Liêm Hà Nội Đặc biệt là những ngày nắng nóng thì nhu cầu vềnguồn nước cao lại càng không đủ, không những thế nguồn nước máy ở đây một
số nơi vẫn nhiễm asen, mangan, chì một số nơi nước đen kịt như nước cống…Mặc dù giá nước sinh hoạt ngày càng tăng cao nhưng chất lượng nước vẫnkhông có sự thay đổi, vẫn còn tồn đọng nhiều độc tố trong nước khiến cho ngườidân tại huyện Nam Từ Liêm không khỏi lo lắng
Nhiều người dân sử dụng nước giếng khoan để đáp ứng được nhu cầu sinhhoạt của gia đình mình, Tuy nhiên nguồn nước giếng khoan hiện nay ô nhiễmnặng mà đa số người dân đều chỉ sử dụng bể lọc thô sơ nên không sử lý triệt để
Trang 36nguồn nước giếng khoan được, nguồn nước vẫn ô nhiễm làm hại sức khỏe củacon người và làm hỏng các thiết bị trong gia đình.
Ngoài ra đối với những nguồn nước mặt như sông, hoặc các nguồn nướcmưa trong tự nhiên thì lại càng bị ô nhiễm bởi nước thải, rác thải hóa chất làmnhững dòng sông, những hồ nước nước trở nên đen kịt và bốc mùi hôi thối nướcmưa thì bị ảnh hưởng bởi không khí bui, khói bẩn chỉ cần đi ra ngoài đường đaphần người dân phải sử dụng khẩu trang vì không khí ô nhiễm, bụi khói xe Vìvậy nước mưa ở nơi đây cũng không đảm bảo được sạch, chưa kể trong nướcmưa có hàm nước axit rất cao
Từ nhiều năm nay, người dân sống hai bên ngòi Tùng Khê đoạn thuộcphường Tây Mỗ và Đại Mỗ (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) phải sống chung vớidòng nước ô nhiễm chứa nhiều rác thải sinh hoạt, đã ảnh hưởng không hề nhỏ tớisức khỏe và cuộc sống của người dân nơi đây
Ngòi Tùng Khê có chiều dài hơn 2 km, bắt nguồn từ cầu Cốc phường Tây
Mỗ đến sông Nhuệ - đoạn thuộc phường Đại Mỗ, đây là một trong những mươngthoát nước dân sinh quan trọng của cả hai địa phương
Theo người dân cho biết, ngòi Tùng Khê trước đây là mương nước sạch không bị
ô nhiễm, thậm chí có cả các loài thủy sinh sinh sống ở ngòi nhưng nhiều năm trởlại đây do rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình sống gần ngòi vứt ra nên ngòimới ngập ngụa rác thải đến như vậy
Ngòi Tùng Khê có chiều dài hơn 2 km, bắt nguồn từ cầu Cốc phường Tây Mỗđến sông Nhuệ - đoạn thuộc phường Đại Mỗ, đây là một trong những mươngthoát nước dân sinh quan trọng của cả hai địa phương
Theo người dân cho biết, ngòi Tùng Khê trước đây là mương nước sạch không bị
ô nhiễm, thậm chí có cả các loài thủy sinh sinh sống ở ngòi nhưng nhiều năm trở
Trang 37lại đây do rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình sống gần ngòi vứt ra nên ngòimới ngập ngụa rác thải đến như vậy.
Sông Nhuệ từng là con sông đẹp của Thủ đô Hà Nội, nhưng từ nhiều nămqua đã bị ô nhiễm, vào mùa cạn có những đoạn gần như sông bị tắc không thểchảy Hiện vẫn tồn tại hiện tượng ô nhiễm, lấn chiếm hai bên bờ
Có 2 “nguồn” là hậu họa cho sông là nguồn xả thải ra môi trường sôngkhông được kiểm soát và tình trạng lấn chiếm hành lang sông vẫn chưa được giảiquyết triệt để Địa phương có tổng số 399 trường hợp sử dụng đất vi phạm “ăn”vào sông Nhuệ, 27 trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Đối diện Tả Thanh Oai, nằm ở bờ hữu sông Nhuệ là xã Hữu Hòa, cũng thuộchuyện Thanh Trì có hơn 200 trường hợp vi phạm
Ở các phường Trung Văn, Mỹ Đình 1, Cầu Diễn (quận Nam Từ Liêm) vẫnđược coi là những điểm “nóng” về xâm phạm sông Nhuệ Có thời điểm, các cơquan chức năng đánh giá, với tổng chiều dài gần 64km, điểm đầu của sông làcống Liên Mạc (quận Bắc Từ Liêm), chảy qua quận Nam Từ Liêm, Hà Đông,huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa Đến đây một nhánh chảytới TP Phủ Lý (Hà Nam) để hợp lưu với sông Châu Giang và sông Đáy, mộtnhánh chảy ra huyện Lý Nhân rồi đổ về sông Hồng, có tới hơn 4.000 trường hợplấn chiếm hành lang bảo vệ sông
Các hộ dân này ngoài lấn chiếm, làm ảnh hưởng đến dòng chảy, thì cũng
là “mối họa” khi họ trực tiếp xả thải nước, rác ra sông, làm bồi lắng và nghẽndòng Trao đổi với Phòng Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) Thanh Trì vàPhòng TN-MT Nam Từ Liêm, chúng tôi đều nhận được những câu trả lời đơn vịchức năng quan tâm xử lý, nhiều văn bản chỉ đạo phải làm nghiêm Thế nhưngkết quả xử lý vẫn chưa khả quan
Trang 38Ngược thời điểm từ năm 1995, 2008, 2011, UBND TP Hà Nội đều cónhững chiến lược giải tỏa các công trình vi phạm hành lang bảo vệ sông Nhuệ.Tuy nhiên, do thực hiện không triệt để, chỉ một số ít trường hợp bị xử lý, nên khichiến lược lắng xuống, người dân lại tái lấn chiếm Hiện nay chính quyền vàngười dân vẫn “giằng co” trong chuyện giải tỏa, di dời hay tiếp tục để lại cáccông trình nhà ở kiên cố Cán bộ xã, phường nói khó do “lịch sử để lại”, cònngười dân cãi cùn, cho rằng đời ông cha đã có nhà và sinh sống, lại chẳng tranhchấp với ai nên cứ được ở!? Không ít hộ ở phường Mỹ Đình 1, xã Tả ThanhOai khi chính quyền yêu cầu giải tỏa một phần đằng trước, thì gia chủ chấp hành
“xén” một phần mái hiên phía trước, nhưng lại “lấn” ra đằng sau phía sông
Về ô nhiễm bầu không khí, kết quả quan trắc môi trường không khí tại các
khu, cụm công nghiệp cho thấy nồng độ bụi lơ lửng tại hầu hết khu vực này đều
có xu hướng tăng dần và vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2,5-4,5 lần Nơi cónồng độ bụi tăng mạnh nhất là ở khu vực Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động
Số liệu từ Viện Y học Lao động và vệ sinh môi trường cho thấy, vàonhững giờ cao điểm, Hà Nội có nồng độ bụi cao gấp 4 lần TCCP, CO cao gấp2,5-4,4 lần, hơi xăng từ 12,1-2.000 lần Trẻ ở lứa tuổi học đường sống quanh cácnút giao thông bị ảnh hưởng tới sức khỏe rõ rệt: mắt, mũi, họng, da và thần kinhthực vật bị kích thích, tỷ lệ mắc bệnh lý đường hô hấp cao hơn hẳn so với nhómđối chứng Một cuộc khảo sát ý kiến 1.500 người dân Hà Nội cho thấy, có tớihơn 66% nhận định rằng môi trường không khí ở Hà Nội bị ô nhiễm nặng và khánặng, 32% cho là "ô nhiễm nhẹ", chỉ 2% cho rằng họ vẫn được "tận hưởngkhông khí trong lành"
Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, tình trạng ô nhiễm môitrường không khí do bụi hiện nay trên địa bàn thành phố đang ở mức "báo độngđỏ" bởi nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá TCCP từ 2-3 lần
Trang 39Đường Nguyễn Trãi có hàm lượng bụi lơ lửng vượt TCCP tới 11 lần, đườngNguyễn Văn Linh vượt TCCP tới 10,8 lần,… Kết quả quan trắc năm 2008 có tới6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bình vượt TCCP từ 1,03-1,55 lần; có 3/34 ngã
tư có nồng độ SO2 vượt TCCP từ 1,02-2 lần; có 32/34 ngã tư có nồng độ
C6H6 vượt TCCP từ 1,1-3 lần…7 Tại các quận Hai Bà Trưng, Đống Đa, khí thải
đã vượt quá TCCP: Khí CO2 vượt 3-5 lần, SO2 vượt 3-10 lần, bụi vượt 2-6 lần.Tại một số cụm công nghiệp như Vĩnh Tuy, Mai Động, Thượng Đình, không khí
bị ô nhiễm chủ yếu là do bụi và các khí độc hại như SO2, CO, NO2
Về ô nhiễm chất thải rắn, trung bình tổng lượng chất thải rắn ở thành phố
Hà Nội khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn chất thải sinh hoạt
ở đô thị và 1.500 tấn ở nông thôn Hà Nội đang phải gánh chịu nguy cơ ô nhiễmmôi trường do sự gia tăng đột biến về khối lượng và thành phần các loại chất thảirắn
Tài liệu khác đánh giá tai các khu công nghiệp (KCN) của Hà Nội việc ônhiễm môi trường đã đến mức báo động Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa
và công nghiệp hóa, so với các nước trong khu vực thì mức độ công nghiệp hóacòn thấp nhưng tình trạng ô nhiễm lại khá cao Hàng ngày Hà Nội thải ra khoảng9.100 m3 chất thải rắn, trong đó khoảng 80% là rác thải sinh hoạt, 20% là rác
CN Mặc dù rác thải của Hà Nội không chứa các kim loại nặng và chất phóng xạnhưng chất thải rắn lại là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm nước và không khí.Đặc biệt chất thải CN và chất thải bệnh viện là rất nguy hiểm nhưng cũng chỉđược chôn dưới đất mà không qua công đoạn xử lý nào gây ô nhiễm nghiêmtrọng nguồn nước và không khí Một số lượng rác thải không nhỏ còn bị đổxuống các sông, kênh mương, hồ ao gây ô nhiễm nghiêm trọng Theo thống kêthì sự ô nhiễm môi trường nặng nhất là khu Thượng Đình sau đó là các khu MaiĐộng, Văn Điển, Sài Đồng,…
Trang 40Có tài liệu đánh giá chất thải CN khoảng 750 tấn/ngày, mới thu gom được90%, chất thải nguy hại khoảng 97-112 tấn/ngày (chiếm 13-14%) trong khi đómới chỉ thu gom 58-78,4 tấn/ngày (chiếm 60-70%) Đặc biệt, rác thải kim loại từngành CN sản xuất điện tử được đánh giá là có nhiều chất có độc tính cao Ngoàicác thành phần hữu cơ poly-me, các kim loại nặng, kim loại bán dẫn còn có cácchất As, Se, Sb,Hg…
Dù không thống nhất về số liệu song các tài liệu đều cho thấy ô nhiễm môitrường quận Nam Từ Liêm đã đến mức báo động Chúng ta chưa có tài liệu nàođánh giá xem cần bao nhiêu tiền để làm sạch lại môi trường quận Nam Từ Liêm.Tuy nhiên, chắc chắn con số đó là không nhỏ, sẽ là nhiều chục nghìn tỉ đồng
2.3 Đánh giá chung
Là một quận nội đô mới, Nam Từ Liêm đang phải đối mặt nhiều vấn đềtrong việc xử lí các vấn đề môi trường Nhưng đứng trước thực trạng này UBNDquận cũng đã có một số giải pháp kịp thời, hữu hiệu, ví dụ như để xử lí tình trạng
ao, hồ ngày một “chết” dần, quận đã phối hợp với nhân dân địa phương đã ápdụng mô hình Tổ giám sát ô nhiễm nước, bảo vệ môi trường (BVMT) với mụctiêu quan trọng là giúp người dân hình thành thói quen BVMT sống xung quanh
Tổ có 14 thành viên gồm đại diện Hội Phụ nữ; Thanh tra nhân dân; Tổ trưởngdân phố; Bảo vệ tổ dân phố và người dân sống xung quanh ao Dài Cuối tháng10/2016 vừa qua, Tổ giám sát đã được tập huấn về giám sát ô nhiễm nước chocộng đồng tại phường Mễ Trì Theo đó, người dân trong Tổ giám sát đượchướng dẫn cách giám sát nguồn thải vào ao như nước thải sinh hoạt, nước thảisản xuất, rác thải, chất thải xây dựng; cách đánh giá nhanh chất lượng nước quamàu sắc, độ trong đục của nước, mùi; cách xác định đo một số thông số chấtlượng nước đơn giản như độ PH, nhiệt độ nước