Mục đích thực tiễn thứ hai là thông qua việc lý giải tầm quan trọng của Ấn Độ trong chiến lược tranh giành ảnh hưởng những năm 1950 – 1970 của Liên Xô và Trung Quốc, đề tài này sẽ cung c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Bảo Nguyễn Trọng Nghĩa
NHÂN TỐ ẤN ĐỘ TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ
XÔ – TRUNG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH (ĐẦU THẬP NIÊN 1950 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử thế giới
Mã số: 60220311
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Hạnh
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017
Trang 2Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2017
-Bảo Nguyễn Trọng Nghĩa
NHÂN TỐ ẤN ĐỘ TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ
XÔ – TRUNG THỜI KỲ CHIẾN TRANH LẠNH (ĐẦU THẬP NIÊN 1950 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970)
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử thế giới
Trang 3đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn cũng sử dụng một số nhận xét, đánh giá và
số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác, tất cả đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc cụ thể Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 11 năm 2017
Trang 4khoa Lịch sử, các thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại đây
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến cán bộ phòng tư liệu khoa Lịch sử, Trung tâm thông tin thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công tác tư liệu khi thực hiện đề tài luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS.Đỗ Thị Hạnh vì những hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý tận tình trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người bạn, người thân đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trang 51 ANZUS Australia, New Zealand, United States Security
Trang 61 Hình 2.1 Chiến lược Ngăn chặn của Mỹ đối với khối
XHCN
84
2 Hình 2.2 Sự khác biệt giữa hai bên dãy Ural của Liên Xô 86
3 Hình 2.3 Đường sắt xuyên Siberia – tuyến đường độc
đạo nối kết hai bên dãy Ural của Liên Xô
87
4 Hình 2.4 Các tuyến đường biển chính của thế giới 89
5 Hình 2.5 Bản đồ phân bố các căn cứ quân sự của Liên Xô
Trang 71 Bảng 3.1 Sự tăng cường vũ trang của Trung Quốc, Ấn Độ
Trang 8MỤC LỤC
DẪN LUẬN 4
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài: 4
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 8
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 10
4 Nguồn tư liệu - Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu: 19
5 Kết cấu của luận văn: 20
CHƯƠNG 1: LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ TRONG CỤC DIỆN CHIẾN TRANH LẠNH 21
1.1 Tính chất hai mặt của quan hệ chính trị Xô – Trung (những năm 1950 – đầu những năm 1970) 21
1.1.1 Nền tảng của sự đồng thuận trong quan hệ chính trị Xô – Trung những năm 1950 - 1960 22
1.1.2 Bất đồng và xung đột trong quan hệ chính trị Xô – Trung những năm 1950 – 1960 30
1.2 Vị trí và vai trò của Ấn Độ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 42
1.2.1 Biểu tượng của “Thế giới thứ ba” 42
1.2.2 Vai trò quan trọng của Ấn Độ sau khi độc lập 44
1.3 Quan hệ chính trị của Ấn Độ với Liên Xô và Trung Quốc từ cuối thập niên 1940 đến đầu thập niên 1970 49
1.3.1 Quan hệ chính trị Ấn Độ - Liên Xô 49
1.3.2 Quan hệ chính trị Ấn Độ - Trung Quốc 53
Tiểu kết chương 1 62
CHƯƠNG 2: NHÂN TỐ ẤN ĐỘ TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ XÔ – TRUNG (NHỮNG NĂM 1950 – ĐẦU NHỮNG NĂM 1970) 63
Trang 92.1 Ấn Độ trong chiến lược tăng cường ảnh hưởng quốc tế của Liên Xô và Trung Quốc 63
2.1.1 Ấn Độ - nhân tố làm suy giảm sự phụ thuộc của Trung Quốc vào Liên Xô
để khai thông thế bế tắc về ngoại giao (nửa đầu thập niên 1950) 63 2.1.2 Ấn Độ trong chiến lược tăng cường ảnh hưởng ở “Thế giới thứ ba” của Liên Xô và Trung Quốc (từ nửa sau thập niên 1950) 67
2.2 Sự đối lập giữa Liên Xô và Trung Quốc trong nhận thức về vai trò của Ấn Độ đối với chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia của mỗi nước 82
2.2.1 Ấn Độ - nhân tố hỗ trợ củng cố an ninh quốc gia của Liên Xô 82 2.2.2 Ấn Độ - yếu tố tham gia hình thành thế bao vây chiến lược chống Trung Quốc theo quan điểm của Bắc Kinh 97
2.3 Ấn Độ - tác nhân thay thế Trung Quốc trong chính sách liên kết chống Mỹ của Liên Xô 99
2.3.1 Trung Quốc – đồng minh chống Mỹ tiềm tàng nhiều nguy cơ 99 2.3.2 Ấn Độ - giải pháp thay thế Trung Quốc của Moscow 104
2.4 Ấn Độ - nhân tố đẩy mạnh xung khắc trong chiến lược đối ngoại giữa Liên Xô
và Trung Quốc 108
2.4.1 Sự tương phản giữa chính sách chung sống hòa bình của Xô - Ấn và chủ trương “cách mạng không ngừng” của Trung Quốc 108 2.4.2 Ấn Độ - nhân tố giải tỏa áp lực, làm suy giảm các nỗ lực của phương Tây
và Trung Quốc nhằm cô lập Liên Xô trên trường quốc tế 113
Tiểu kết chương 2 119 CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ NHÂN TỐ ẤN ĐỘ TRONG QUAN HỆ CHÍNH TRỊ XÔ – TRUNG (ĐẦU THẬP NIÊN 1950 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970) 121 3.1 Đặc điểm của nhân tố Ấn Độ trong quan hệ chính trị Xô – Trung (đầu thập niên 1950 – đầu thập niên 1970) 121
Trang 103.1.1 Nhân tố Ấn Độ thúc đẩy quan hệ chính trị Xô – Trung chuyển biến theo
chiều hướng mâu thuẫn, đối đầu 121
3.1.2 Tác động của nhân tố Ấn Độ đối với quan hệ chính trị Xô – Trung được tăng cường theo thời gian nhưng không đều và không toàn diện 124
3.1.3 Ấn Độ chỉ đóng vai trò chất xúc tác thúc đẩy và duy trì mâu thuẫn Xô – Trung 129
3.2 Những hệ quả đối với cục diện chính trị châu Á, Thế giới thứ ba và cách mạng Việt Nam 136
3.2.1 Hệ quả đối với cục diện chính trị châu Á 136
3.2.2 Hệ quả đối với Thế giới thứ ba và cách mạng Việt Nam 159
Tiểu kết chương 3 174
KẾT LUẬN 176
TÀI LIỆU THAM KHẢO 184
PHỤ LỤC 202
Trang 11DẪN LUẬN
1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
Chiến tranh Lạnh, một trong những sự kiện nổi bật nhất của lịch sử thế giới trong thế kỷ XX, tính đến thời điểm hiện nay đã chấm dứt được hơn hai thập kỷ Tuy
đã trở thành quá khứ, thế nhưng những tàn dư, ảnh hưởng của nó vẫn còn hiện diện trong thế giới ngày nay, đặc biệt là trong quan hệ giữa các nước lớn, mà trong đó điển hình là các cặp quan hệ trong tam giác Nga – Trung - Ấn Mặc dù do tình hình thế giới
đã thay đổi về căn bản khiến cho các mối quan hệ này đã biến chuyển khác trước rất nhiều, thế nhưng vẫn còn đó các tiền đề, đặc điểm đã có từ thời Chiến tranh Lạnh tiếp tục tác động đến mặt hợp tác, liên kết cũng như mặt mâu thuẫn, đấu tranh của chúng Trong bối cảnh Nga, Trung Quốc cũng như Ấn Độ hiện tại ngày càng có vai trò quan trọng trên trường quốc cũng như khu vực, nhất là ở Đông Nam Á, yêu cầu tìm hiểu về đặc điểm cũng như sự vận động trong lịch sử của các cặp quan hệ giữa ba trong bốn nước BRIC lại càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Thêm vào đó, bên cạnh những nội dung, vấn đề của cuộc đối đầu giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa do hai siêu cường Liên Xô và Mỹ đứng đầu
đã được lý giải đầy đủ, vững chắc, thì vẫn còn đó không ít các góc khuất chưa được biết đến hoặc chưa được làm sáng tỏ tường tận, vẫn còn đang tranh cãi Thực trạng này gây nên các vướng mắc, thiếu sót về mặt nhận thức, nghiên cứu lịch sử, từ đó đó có thể tạo thành các hệ quả quan trọng về nhiều khía cạnh như chính trị, xã hội, an ninh, … Đặc biệt đối với những nước như Việt Nam thì tính cấp thiết của việc nghiên cứu các vấn đề thuộc về Chiến tranh Lạnh lại càng lớn lao hơn Bởi lẽ Việt Nam chính là một trong những điểm nóng điển hình nhất trong Chiến tranh Lạnh, một quốc gia mà gần như toàn bộ lịch sử từ sau ngày giành được độc lập năm 1945 đều bị chi phối, ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cuộc chiến không khói súng này
Kể từ cuối thập niên 1960, tam giác chiến lược Mỹ – Trung – Xô chính là nhân
tố bên ngoài đóng vai trò quyết định nhất đối với tiến trình của lịch sử Việt Nam cho
Trang 12đến tận khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt Tam giác này được hình thành dựa trên chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc từ cuối những năm 1950, gây ra rất nhiều khó khăn, phức tạp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như quá trình xây dựng đất nước thời kỳ hậu chiến của nhân dân ta dù không thể phủ nhận những giúp đỡ to lớn, quan trọng của hai nước XHCN lớn nhất dành cho Việt Nam Do vậy, việc tìm hiểu về những nhân tố gây nên sự chia rẽ Xô – Trung cũng sẽ góp phần làm sáng tỏ, bổ sung thêm một số khía cạnh về sự vận động của lịch sử Việt Nam từ sau những năm 1960 trở đi
Về mục đích thực tiễn, đề tài này hướng đến hai mục tiêu căn bản Thứ nhất, với thực tế là Chiến tranh Lạnh có một ảnh hưởng rất sâu rộng đối với tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam một thời gian rất dài, thì một đề tài thuộc về mảng nội dung này
hy vọng sẽ bổ sung thêm được một số phương diện cần thiết trong vấn đề tìm hiểu và nhận thức về các yếu tố bên ngoài, nhất là xung quanh mâu thuẫn Xô – Trung – một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, tác động đến Việt Nam trong giai đoạn này
Từ đó, đề tài cũng sẽ góp phần hoàn thiện thêm nhận thức về tiến trình phát triển cũng như một số vấn đề của cụ thể của chính lịch sử Việt Nam Chẳng hạn như trong vấn đề bang giao Việt Nam - Ấn Độ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đề tài sẽ phần nào đó góp phần
lý giải tại sao Ấn Độ, vốn là một nước tư bản chủ nghĩa, lại có quan hệ rất tốt, hỗ trợ và giúp đỡ nước ra rất nhiều cả về tinh thần và vật chất, đặc biệt là trong thời gian nước ta
bị cô lập, bao vây và cấm vận bởi các nước phương Tây
Mục đích thực tiễn thứ hai là thông qua việc lý giải tầm quan trọng của Ấn Độ trong chiến lược tranh giành ảnh hưởng những năm 1950 – 1970 của Liên Xô và Trung Quốc, đề tài này sẽ cung cấp một số nền tảng cần thiết cho việc tìm hiểu và nhận định
về sự tương tác giữa ba nước Nga, Trung Quốc và Ấn Độ trong thời điểm hiện nay Đây là ba trong số bốn nước BRIC đang và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình thế giới, đặc biệt ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á Dựa trên những nền tảng đó, đề tài hy vọng sẽ giúp cho Việt Nam có thể xây dựng được những đối sách thích hợp, xử lý tốt các quan hệ với những nước lớn, mà cụ thể ở đây là
Trang 13Ấn Độ, Nga và Trung Quốc, từ đó huy động tốt các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước hiện nay cũng như có được sự hỗ trợ cần thiết trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến Việt Nam và khu vực
Chiến tranh Lạnh đã chấm dứt, thế nhưng không phải mọi vấn đề, khía cạnh của
nó đều đã được làm rõ Điển hình của thực tế này chính là việc trong khi phần lớn các nội dung, vấn đề liên quan các chủ thể quan trọng nhất định hình nên cục diện, diễn tiến của Chiến tranh Lạnh như hai siêu cường Mỹ, Liên Xô, … đã được chú trọng nghiên cứu hết sức cụ thể, kiện toàn; thì một số chủ thể, đối tượng khác vẫn chưa nhận được sự quan tâm tìm hiểu cần thiết, đúng mức Thực trạng này không chỉ có ở Việt Nam mà còn hiện diện trên thế giới khi nghiên cứu về Chiến tranh Lạnh
Các chủ thể, đối tượng này mặc dù có thể sức ảnh hưởng kém hơn nhưng dẫu sao vẫn là một bộ phận cấu thành nên bức tranh toàn cục của Chiến tranh Lạnh, đóng một vai trò nhất định nào đó đối với một khu vực cụ thể trong một khoảng thời gian ngắn hay dài Thậm chí không hiếm các trường hợp chủ thể này có thể là một nước có trọng lượng trên trường quốc tế, kể cả trong chiến lược của hai siêu cường, nhưng vẫn không nhận được sự quan tâm nghiên cứu đầy đủ, dẫn đến việc vai trò, vị thế của họ trong Chiến tranh Lạnh không rõ ràng, gây ra không ít các lỗ hổng, ngộ nhận khi tiếp cận với một số vấn đề cụ thể trong thời kỳ này
Ấn Độ chính là một trường hợp như vậy Là một nước lớn ở khu vực châu Á, lại
có tầm vóc về nhiều mặt để trở nên nổi trội trong hàng ngũ các nước thế giới thứ ba mới hình thành từ sau năm 1945, Ấn Độ thật sự là một nhân tố quan trọng trên trường quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhất là đối với các diễn tiến ở châu Á mà Chiến tranh Việt Nam là một phần trong đó Thế nhưng các nghiên cứu về vai trò, vị trí của Ấn Độ trong Chiến tranh Lạnh lại chưa thật sự đầy đủ, tập trung so với nước láng giềng là Trung Quốc (nhất là tình hình nghiên cứu trong nước) Do vậy, đề tài này sẽ bổ sung và đóng góp thêm vào mảng nội dung nghiên cứu liên quan đến Ấn Độ trong
Trang 14Chiến tranh Lạnh Đề tài trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá vị thế của Ấn Độ trong chủ trương, chiến lược của Liên Xô và Trung Quốc những năm 1950 – 1970 sẽ góp phần làm rõ sự hình thành, vận động của các cặp quan hệ của tam giác quan hệ Xô – Trung -
Ấn trong thời kỳ này, và nhất là trả lời được câu hỏi: Liệu Ấn Độ có góp phần gây nên rạn nứt, mâu thuẫn trong quan hệ Xô – Trung thời kỳ này hay không ?
Đi xa hơn, từ tam giác chiến lược trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh này, đề tài sẽ góp phần hình thành nên một số cơ sở cho việc phân tích, nghiên cứu sự vận động và đặc trưng của các cặp quan hệ trong tam giác Nga – Trung - Ấn hiện nay Quan hệ Nga – Trung, Nga - Ấn, Ấn – Trung hiện nay đã không còn như trong tam giác Xô – Trung
- Ấn thời Chiến tranh Lạnh Thế nhưng vẫn còn đó những yếu tố đã có từ trước vẫn tiếp tục phát huy ảnh hưởng đến các mối quan hệ này Do vậy, việc nghiên cứu về tam giác Xô – Trung - Ấn trong Chiến tranh Lạnh nói chung cũng như tác động của nhân tố
Ấn Độ đối với quan hệ Xô – Trung nói riêng thời kỳ những năm 1950 – 1970 sẽ giúp làm rõ một số cơ sở cho sự hợp tác, liên kết cũng như các yếu tố có thể gây mâu thuẫn trong quan hệ giữa ba nước lớn này hiện nay, từ đó gây ra những ảnh hưởng quan trọng đối với khu vực cũng như thế giới
Với những lý do khoa học trên, trước hết đề tài này hướng đến việc làm rõ thêm những nguyên nhân dẫn đến chia rẽ Xô – Trung từ cuối thập niên 1950, một diễn tiến
đã gây nên nhiều hệ quả quan trọng đến Chiến tranh Lạnh, nhất là trong khối các nước
xã hội chủ nghĩa và tình hình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trên cơ sở đặt Ấn
Độ là một nhân tố gây mâu thuẫn trong chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của Liên Xô
và Trung Quốc Bởi lẽ từ trước đến nay khi bàn đến vấn đề chia rẽ Xô – Trung, người
ta chỉ thường chú trọng nhiều đến các nhân tố nội tại như khác biệt trong nhận thức về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, mâu thuẫn về lợi ích quốc gia, … giữa Liên Xô
và Trung Quốc mà không nhấn mạnh đầy đủ về các tác động bên ngoài, trong đó có Ấn
Độ (có chăng cũng chỉ tập trung vào Mỹ các đồng minh của siêu cường này) Trong khi
đó, các sự kiện lịch sử như Chiến tranh Ấn - Trung năm 1962, Chiến tranh biên giới Xô
Trang 15– Trung năm 1969, Hiệp ước Hòa bình, hữu nghị và hợp tác Ấn Độ - Liên Xô được kí kết năm 1971 … trong diễn tiến của các cặp quan hệ thuộc tam giác Xô – Trung - Ấn lại cho thấy dường như Ấn Độ, cũng có vai trò trong việc hình thành và thúc đẩy mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc thông qua vị thế của nước này trong chiến lược của Moscow và Bắc Kinh Khẳng định và làm rõ vai trò của Ấn Độ trong chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc chính là mục đích khoa học căn bản nhất
mà đề tài này muốn hướng đến
Khi đã tìm ra được vai trò của Ấn Độ trong chiến lược cạnh tranh ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc thì đề tài cũng sẽ góp phần minh chứng cho những cơ sở để hình thành và tiến triển của các cặp quan hệ Xô - Ấn và Trung - Ấn cũng như những tác động của chúng đến quan hệ Xô – Trung thời kỳ này Nền tảng này sẽ là một trong những yếu tố quan trọng để xác định triển vọng hợp tác cũng như các mặt đối lập, bất đồng giữa ba trong bốn nước BRIC hiện nay vốn đã và đang có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với khu vực và thế giới
Ngoài ra, một mục tiêu khoa học khác của đề tài này chính là cung cấp minh chứng thêm cho một số đặc trưng cơ bản của Chiến tranh Lạnh, trong đó nổi bật nhất là cuộc chiến này không đơn thuần chỉ là mâu thuẫn và đối đầu về mặt ý thức hệ mà luôn luôn có yếu tố lợi ích quốc gia đi theo Trong một số trường hợp điển hình như chính tam giác Xô – Trung - Ấn này thì yếu tố lợi ích quốc gia đã hoàn toàn lấn át yếu tố ý thức hệ
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vị trí và tác động của Ấn Độ đối với quan hệ chính trị của Liên Xô và Trung Quốc giai đoạn đầu những năm 1950 – đầu những năm
1970
Trang 162.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian:
Đề tài này nghiên cứu tác động của nhân tố Ấn Độ đối với quan hệ Xô – Trung
từ đầu thập niên 1950 đến đầu thập niên 1970
Đề tài lựa chọn phạm vi nghiên cứu bắt đầu từ những năm đầu thập niên 1950 thì đầu tiên đây chính là thời kỳ mà Liên Xô bắt đầu thật sự thực hiện vai trò toàn cầu của mình trong vị thế một siêu cường Chính sách với Thế giới thứ ba, trong đó Ấn Độ
là một trọng tâm, cũng có những sự thay đổi mang tính căn bản Mặt khác, đây cũng là thời kỳ mà nước Trung Quốc mới đã được thành lập sau cuộc nội chiến Quốc – Cộng triền miên hàng chục năm trước đó và bắt đầu thực hiện các hoạt động và chiến lược ngoại giao của mình, trong đó có sự thiết lập liên minh Xô - Trung và thiết lập quan hệ với Ấn Độ Ngoài ra, thập niên 1950 cũng chứng kiến liên minh Xô – Trung hình thành nhưng lại nhanh chóng xuất hiện những rạn nứt đầu tiên, bối cảnh đưa đến sự hình thành vai trò của Ấn Độ trong lịch sử của cặp quan hệ này
Những năm đầu thập niên 1970 là khi quan hệ Xô - Ấn phát triển lên đến mức
độ chặt chẽ và tốt đẹp nhất với Hiệp ước Hòa bình, hữu nghị và hợp tác Ấn Độ - Liên
Xô được kí năm 1971 Tương phản với đó là quan hệ Xô – Trung đạt đến đỉnh điểm của căng thẳng và đối đầu với cuộc chiến tranh biên giới Xô – Trung năm 1969 và Thông cáo Thượng Hải với mục đích “chống bá quyền Xô viết” được kí kết năm 1972 giữa Trung Quốc và Mỹ, đưa Chiến tranh Lạnh ở châu Á nói chung và quan hệ Xô – Trung nói riêng bước vào một giai đoạn mới
Về không gian:
Đề tài tập trung phản ánh vị trí và ảnh hưởng của Ấn Độ trong đối với quan hệ chính trị Liên Xô và Trung Quốc trong phạm vi khu vực châu Á, đặc biệt là tại khu vực Nam Á, và các nước thuộc Thế giới thứ ba Ngoài ra khi cần triển khai những nội dung nào đó, đề tài cũng có thể mở rộng phạm vi nghiên cứu đến một số khu vực khác trên thế giới
Trang 17Về nội dung:
Nội dung luận văn được trình bày thành 3 chương chính:
Trong chương 1: Liên Xô, Trung Quốc, Ấn Độ trong cục diện Chiến tranh Lạnh, tác giả sẽ trình bày những nét chính yếu tạo nên sự đồng thuận và mâu thuẫn trong quan hệ chính trị Xô – Trung trong những năm 1950 – 1960 Cùng với đó, vị thế của
Ấn Độ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh cũng được phân tích Những diễn biến chính yếu của các quan hệ giữa Ấn Độ với hai nước XHCN lớn nhất cũng sẽ được đề cập đến trong chương này
Trong chương 2: Nhân tố Ấn Độ trong quan hệ chính trị Xô – Trung (đầu những năm 1950 – đầu những năm 1970), tác giả sẽ trình bày và phân tích sự hiện diện cũng như tác động của Ấn Độ đối với quan hệ Xô – Trung trong bốn khía cạnh chính: chiến lược tăng cường ảnh hưởng quốc tế (nhất là ở Thế giới thứ ba), chính sách bảo vệ an
ninh quốc gia, chính sách liên kết chống Mỹ, chính sách “chung sống hòa bình” và quá
trình giảm thiểu áp lực quốc tế lên Liên Xô
Trong chương 3: Một vài nhận xét về nhân tố Ấn Độ trong quan hệ chính trị Xô – Trung (đầu những năm 1950 – đầu những năm 1970), tác giả dựa trên những trình bày, phân tích ở chương 1 và chương 2 để rút ra một số đặc điểm chính về sự tác động của nhân tố Ấn Độ đối với quan hệ Xô – Trung, cùng với đó là các hệ quả đối với tình hình châu Á, Thế giới thứ ba cũng như Việt Nam
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trước hết ở Liên Xô (cũ) và Nga, quan hệ tam giác Xô – Trung - Ấn đã được các
nhà sử học quan tâm nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Trong công
trình Châu Á trong các kế hoạch của Bắc Kinh (1984), X.G Iu - rơ - cốp khi phân tích
và trình bày về chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc cũng như chính sách chống Liên Xô của nước này trên khắp các khu vực của châu Á đã nêu bật lên được vai trò và vị thế
Trang 18quan trọng của Ấn Độ - nền tảng căn bản dẫn đến việc nước này trở thành đối thủ chiến lược của Bắc Kinh cũng như một đối tác quan trọng hàng đầu đối với Moscow Các
công trình khác như Trung Quốc và các nước đang phát triển (1983) của Ivan Ivanốp, Bắc Kinh – kẻ thù của hòa bình, hòa dịu và hợp tác quốc tế (1984) của M.A.I – Lin, Bắc Kinh chống lại phong trào giải phóng dân tộc (1982) của N.X Culesôp, Hoạt động phá hoại của bọn Mao – ít ở Đông Nam Á (1984) của A Cô – dơ - lốp, … cũng
góp phần khắc họa rõ nét sự tương phản về lợi ích và chiến lược giữa Liên Xô, Ấn Độ với Trung Quốc, từ đó lý giải phần nào những động lực gắn kết Moscow với New Delhi trong khi lại đẩy quan hệ Xô – Trung, cũng như quan hệ Ấn – Trung, từ đồng minh, tốt đẹp đến đối đầu, thù địch
Riêng về khía cạnh quan hệ giữa Liên Xô và Ấn Độ có thể kể thêm một số công
trình như Traditions of great friendship (1985) của hai học giả Y Chelyshep và A
Litman tổng hợp các nghiên cứu của các nhà Ấn Độ học Liên Xô về lịch sử văn hóa Ấn
Độ, về quan hệ Nga (Liên Xô) - Ấn Độ trong lịch sử, … để đi đến nhận định rằng Ấn
Độ là một đối tác truyền thống của Nga (Liên Xô) với quan hệ song phương được xây
dựng trên một nền tảng văn hóa – lịch sử lâu đời Công trình Jawaharlal Nehru và chính sách đối ngoại của Ấn Độ (1975) của học giả I Nasenko nghiên cứu về chính
sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời của thủ tướng Nehru, trong đó bao gồm cả quan hệ với Liên Xô Công trình này đã phản ánh được phần nào các lợi ích và chính trị, ngoại giao, an ninh, … mà Liên Xô có thể có được trong mối quan hệ với Ấn Độ trong thời
gian cầm quyền của Nehru Tạp chí “Những vấn đề kinh tế Viễn Đông” tháng 1 năm
1978 xuất bản số đặc biệt của các học giả, nhà chính trị đã phân tích những thành tựu, hạn chế và triển vọng của 30 năm quan hệ Xô - Ấn Đây là nguồn dữ kiện và số liệu quan trọng để chứng minh vai trò ngày một lớn của Ấn Độ trong chiến lược của Liên
Xô kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ song phương Bài viết “Quan hệ Ấn – Xô: việc
kí kết Hiệp ước hữu nghị hòa bình và hợp tác” (2007) của học giả M Nikitin nghiên
cứu việc kí kết Hiệp ước 1971 giữa Ấn Độ và Liên Xô dưới góc nhìn đa diện đa chiều
Trang 19Công trình này cho rằng Hiệp ước 1971 chính là sự khẳng định của nhà cầm quyền Xô Viết về những vai trò to lớn của Ấn Độ trong chiến lược của Liên Xô Mặt khác, công trình cũng đã trình bày, đánh giá những tác động của liên minh Ấn – Xô kể từ đó đến quan hệ quốc tế trong thập niên 1970 sau đó
Bên cạnh đó, quan hệ Xô - Ấn cũng như những nội dung liên quan đến vị trí của
Ấn Độ trong chiến lược của Liên Xô có thể tìm thấy trong một số công trình khác như:
Lịch sử chính sách đối ngoại của Liên Xô (1945 – 1970), Lịch sử hệ thống các mối quan hệ quốc tế (1918 – 2003), , Lịch sử quan hệ quốc tế (2013) của Bogaturov
Aleksey Demofenovich – Averkov Viktor Viktorovich … cũng như các công trình khái quát các sự kiện cơ bản về quan hệ Ấn Độ - Liên Xô qua các thời kỳ Trong đó, hồi ký
của cứu đại sứ Liên Xô ở Mỹ A Đôbrưnhin nhan đề, Đặc biệt tin cậy – Vị Đại sứ ở Oasintơn qua sáu đời tổng thống Mỹ (2001) cũng là một nguồn tư liệu phong phú phục
vụ cho việc nghiên cứu về tam giác Xô – Trung - Ấn Dưới bề dày công tác hàng chục năm của một nhà ngoại giao hàng đầu, Đôbrưnhin trong khi viết về các chiến lược, thành công, thất bại của nền ngoại giao Xô viết từ những năm 1960 đến 1990 cũng đã cung cấp một cái nhìn có chiều sâu về sự vận hành của tam giác này từ góc nhìn của Liên Xô
Tuy nhiên nhìn chung thì các công trình ở Liên Xô cũ và Nga sau đó vẫn chưa
đề cập trực diện đến vai trò của Ấn Độ trong việc hình thành và thúc đẩy mâu thuẫn Xô – Trung mà hầu hết chỉ tập trung vào các quan hệ song phương trong tam giác Xô – Trung - Ấn với mục đích chống Trung Quốc Riêng trong vấn đề mâu thuẫn Xô – Trung thì hầu hết các quan điểm chính thức đều cho rằng nguyên nhân là do các khác biệt, mâu thuẫn trong đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng lợi ích quốc gia giữa hai nước, và hầu hết là xuất phát từ phía Trung Quốc
Ở Trung Quốc, khi nghiên cứu về Chiến tranh Lạnh, các học giả Trung Quốc
thường chỉ tập trung vào mâu thuẫn Xô – Mỹ và vai trò của Trung Quốc như là đối tượng quan trọng mà hai siêu cường cần phải tranh thủ Các chủ thể khác, bao gồm cả
Trang 20Ấn Độ, thì lại được nhận định là không quan trọng bằng, nhất là trong các sự kiện diễn
ra ở châu Á Do vậy, mâu thuẫn Xô – Trung hoàn toàn xuất phát từ mâu thuẫn về đường lối và lợi ích quốc gia giữa hai bên, chứ không có tác động của bên thứ ba nào
và dĩ nhiên là sai lầm được nhận định hầu hết là do Liên Xô Điều này được thể hiện rõ
trong các công trình như Chiến tranh Lạnh và di sản của nó (2002) của Trương Tiểu Minh, Ngọn lửa Chiến tranh Lạnh (2002), Điếu Ngư Đài quốc sự phong vân: những bí mật của nền ngoại giao Trung Quốc (2003), Trung – Xô – Mỹ: cuộc đối đầu lịch sử
(2008) của Lý Kiện, …
Riêng trong vấn đề quan hệ với Ấn Độ thì các quan điểm chính thống nhận định rằng trong thời Chiến tranh Lạnh và cả hiện nay, giữa Ấn Độ và Trung Quốc không có bất cứ yếu tố lớn nào có thể khiến hai bên trở thành đối thủ lớn của nhau Các vấn đề như tranh chấp biên giới, vấn đề Tây Tạng, … đều không lớn bất chấp hai bên đã có một thời kỳ căng thẳng kéo dài cùng một cuộc chiến tranh chính thức năm 1962 (và
nguyên nhân đều là do Ấn Độ) Tác phẩm Chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc (2013) do Sở Thụ Long và Kim Uy chủ biên đã nhận định như vậy Quan điểm này có thể tìm thấy rộng rãi ở các công trình khác như, Lịch sử thế giới – Thời Đương Đại (2002) của Từ Thiên Ân – Hứa Bình – Vương Hồng Sinh, Ngoại giao Trung Quốc (2012) của Trương Thanh Mẫn, … Tóm lại, các công trình của Trung
Quốc hầu hết đều cho rằng Ấn Độ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, bên cạnh đóng góp cho phong trào Không liên kết thì gần như không có tác động đáng kể nào đến diễn tiến của Chiến tranh Lạnh ở khu vực châu Á, bao gồm cả mâu thuẫn Xô – Trung Thay vào
đó là sự chi phối gần như tuyệt đối của tam giác chiến lược Xô – Mỹ - Trung và Ấn Độ đối với Trung Quốc không hề là đối thủ lớn của nhau trong bất cứ thời điểm nào
Ở Ấn Độ, nhìn chung các học giả, nhà nghiên cứu đã có nhiều nghiên cứu quan
trọng về quan hệ Xô – Trung cũng như quan hệ giữa quốc gia của mình với hai nước XHCN lớn nhất này Tuy vậy, phần lớn các quan điểm lại cho rằng Ấn Độ luôn là một chủ thể độc lập, tự chủ, từ đó tương đối độc lập với quan hệ Xô – Trung, khiến cho tam
Trang 21giác Xô – Trung - Ấn gần như là không hiện diện Mặt khác họ cũng có quan điểm khác hẳn với các đồng nghiệp Liên Xô – Nga cũng như Trung Quốc Một mặt, dù Liên
Xô là một đối tác liên kết quan trọng nhưng Ấn Độ chưa bao giờ là một lợi khí chống Trung Quốc của nước này Mặt khác, Ấn Độ dù không xem Trung Quốc là kẻ thù như thực tiễn quan hệ mà Bắc Kinh ứng xử với New Delhi nhưng lại khẳng định rằng quan
hệ song phương có rất nhiều va chạm nghiêm trọng chứ không phải như sự phủ nhận của quan điểm chính thống từ phía Trung Quốc
Tác giả Arun Mohanty đã có một số công trình đáng chú ý như The Indo-Soviet Friendship Treaty and its Legacy (2011), On the Soviet Stand on India - China Border Conflict (2012) mà qua đó phần nào phản ánh được các mâu thuẫn liên quan đến Ấn
Độ đã làm rạn nứt và căng thẳng hóa quan hệ Xô – Trung, đặc biệt là thời điểm năm
1962 – dấu mốc gắn liền với cuộc chiến tranh Trung - Ấn mà tại đó Liên Xô đã trung lập có lợi cho Ấn Độ thay vì đứng về phía đồng minh ý thức hệ Trung Quốc Công
trình Russia’s policy towards India: from Stalin to Yeltsin (1995) của J.A.Naik phác
thảo rõ ràng chính sách đối với Ấn Độ của Liên Xô dưới góc nhìn của New Delhi, qua
đó cho thấy Ấn Độ là một ưu tiên chiến lược Moscow trong khi điện Kremlin lại là một đối tác đáng tin cậy và vững chắc cho New Delhi Dù vậy, trước sau tác giả này vẫn không xem Ấn Độ là nhân tố gây ra sự chia rẽ Trung – Xô và Ấn Độ độc lập, tự quyết
trong quan hệ với hai cường quốc này Các công trình khác như India’s foreign policy
1947 -1992 (1994) của Kapur Harish, Foreign policy of India (2003) của VN Khanna, Selected Works of Jawaharlal Nehru (2005) của H.Y Sharada Prasad, A.K
Damodaran, Saverpalli Gopal, … cũng chia sẻ quan điểm này
Ở các nước phương Tây (chủ yếu là Mỹ), các công trình đề cập đến quan hệ tam
giác Ấn – Xô – Trung có khá nhiều Hơn nữa so với các công trình nghiên cứu của Trung Quốc và một số nước khác thì công trình của các học giả phương Tây kiện toàn, phong phú hơn rất nhiều, nhất là tính khách quan và độ tin cậy được bảo đảm hơn nhiều Do vậy đây là nguồn tư liệu quan trọng nhất của tác giả trong quá trình thực hiện
Trang 22đề tài này Quan điểm chủ đạo của các học giả phương Tây chính là Ấn Độ chính là một trong những nhân tố khiến cho Liên Xô và Trung Quốc chuyển từ đồng minh trong thập niên 1950 trở thành thù địch, đối đầu trong thập niên 1960 và 1970 Lý do là bởi
Ấn Độ ngày càng trở nên quan trọng với Moscow bởi các nguyên nhân địa chính trị, an ninh, ngoại giao, chính trị, … trong khi nước này được nhận định chính là đối thủ chiến lược lớn nhất của Trung Quốc không chỉ ở châu Á mà còn cả trong quá trình Bắc Kinh vươn lên thành cường quốc thế giới sau này
Công trình The fulcrum of Asia relations among China, India, Pakistan and the USSR (1970) của tác giả B S.Gupta thể hiện rõ quan điểm trên Tác phẩm này thể hiện
tương đối đầy đủ các quan hệ chằng chéo, phức tạp ở châu Á giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Liên Xô cũng như vị trí của Ấn Độ đối với chiến lược của Liên Xô và Trung Quốc cùng với tác động của nó trong việc hình thành và thúc đẩy mâu thuẫn Xô – Trung Là một nhà ngoại giao kỳ cựu với thành tựu đáng nể, các công trình nghiên cứu của Henry Kissinger chứa đựng rất nhiều giá trị cả về tư liệu cũng như quan điểm,
nhận định cho công tác nghiên cứu Tác phẩm Bàn về Trung Quốc (2015) của ông có
đóng góp rất lớn trong việc phân tích các chủ trương, sách lược có phần phức tạp, rối rắm của Trung Quốc suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, điều thật sự đã gây nên bất hòa Xô – Trung cũng như mối quan hệ thù địch với Ấn Độ Đây là một tác phẩm hàng đầu hiện nay nói về tam giác Xô – Trung - Mỹ, hơn nữa chính sự phân tách khúc chiết của tác giả về quan hệ Xô – Trung thành các nhóm lợi ích tương đồng và bất hòa, nhân tố Ấn
Độ sẽ được thể hiện rõ trong mối quan hệ này khi kết hợp cùng các công trình nghiên
cứu khác Tác phẩm Trật tự thế giới (2016) cũng của Henry Kissinger càng làm rõ hơn
vấn đề này
Á châu và các đại cường (1973) của R Scalapino là một tác phẩm có giá trị cao
ngay chính thời điểm tam giác Xô – Trung - Ấn chính thức xác lập bên cạnh tam giác
Xô – Trung – Mỹ Tác phẩm đã khắc họa nên cục diện chính trị ở châu Á với sự can dự của các thế lực hàng đầu Xô – Mỹ bên cạnh các thế lực nội khu vực như Ấn Độ, Trung
Trang 23Quốc, … cùng với đó là các quan hệ hợp tác, kiềm chế, đối trọng lẫn nhau Ảnh hưởng của Ấn Độ lên quan hệ chính trị Xô – Trung cũng được phản ánh ở một mức độ nhất định Các công trình China and the Third World in Global Perspective (1980) của B
D Larkin, Soviet-Asian relations (1973) của Charles B McLane, The Soviet Union and the Third World (1983) của Elizabeth K Valkenier, Soviet – India Relation: Issues and Influence (1982) của R.C.Horn, Soviet policy in the developing world and the Chinese challenge in the 1960s (2010) của Jeremy Friedman … đã khắc họa nên cuộc chạy đua
ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc trong Thế giới thứ ba, mà trong đó Ấn Độ là một tâm điểm của những nỗ lực trái ngược nhau của Trung Nam Hải và điện Kremlin: loại trừ và lôi kéo Đây chính là một trong những tác động do Ấn Độ tạo ra làm rạn nứt
và tan vỡ liên minh Xô – Trung Trực tiếp hơn, tác phẩm Cold War Politics of Superpower in South Asia của Z Hilali đề cập đến vị trí của Ấn Độ trong tổng thể
chiến lược của Liên Xô đối với châu Á nói chung và Nam Á nói riêng, điều tất yếu sẽ gây nên căng thẳng và thù địch với Trung Quốc
Ngoài ra cũng cần phải nói đến những công trình dù không nói đến Chiến tranh Lạnh nhưng lại đề cập đến vị thế của Ấn Độ trong chiến lược của các cường quốc, nhất
là nguyên nhân sâu xa của cạnh tranh Ấn – Trung hiện nay và trong tương lai Chẳng
hạn như Zbigniew Brzezinky trong Bàn cờ lớn (1999) đã cho rằng Ấn Độ chính là luôn
và sẽ luôn là thách thức lớn nhất của Trung Quốc trên bàn cờ Á – Âu Trong khi đó,
những tác phẩm khác về đề tài lịch sử quan hệ quốc tế như Chính trị thế giới sau năm
1945 (2007) của Peter Calvocoressi, Understanding International Conflicts (2007) của Joseph S Nye, The world since 1945, a history of international relations (2001)của
Wayne C Mc Williams – Harry Piotrowski, cũng giúp ích rất nhiều cho tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này khi đã góp phần khắc họa nên khung cảnh mà trong đó tam giác Xô – Trung - Ấn được hình thành, vận động cũng như các minh chứng cho các tác động của nó đến đời sống quốc tế đương thời
Trang 24
3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước:
Đối với Việt Nam, do những điều kiện chủ quan như chiến tranh kéo dài, khó khăn, trì trệ một thời gian dài cho đến trước khi công cuộc Đổi mới phát huy hiệu quả, vấn đề nghiên cứu về mảng Chiến tranh Lạnh còn rất nhiều hạn chế và chỉ thật sự có những bước đi đầu tiên trong khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây Thành tựu chưa thật nhiều trong khi điều kiện còn nhiều khó khăn, cản trở Thêm vào đó, do yêu cầu phải phát triển đất nước là rất cấp bách nên các hoạt động nghiên cứu của khoa học lịch sử nói chung và chuyên ngành lịch sử thế giới nói chung đã tập trung phần lớn vào các mảng nội dung thời hậu Chiến tranh Lạnh Vị trí của các nghiên cứu thuộc về thời Chiến tranh Lạnh do vậy trở nên ít quan trọng hơn hẳn
Kết quả là cho đến tận thời điểm hiện tại, nước ta vẫn chưa thể có được một công trình thật sự nào của mình đề cập tổng quát đến Chiến tranh Lạnh cũng như các vấn đề cụ thể của nó như nhiều nước trên thế giới Sự phụ thuộc vào nguồn tư liệu nước ngoài, và theo đó là sự phụ thuộc về quan điểm, cách nhìn nhận, … hiện nay là khá lớn Đây chính là khó khăn rất lớn cho các nghiên cứu về Chiến tranh Lạnh mà đề tài này cũng nằm trong tình trạng đó
Các thông tin, tư liệu trong nước về tam giác Xô – Trung - Ấn nhìn chung được
đề cập phân tán trong các công trình về lịch sử từng nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Liên Xô cũng như các công trình về các quan hệ song phương Xô - Ấn, Ấn – Trung và Trung – Xô, lịch sử quan hệ quốc tế thời Chiến tranh Lạnh Mặt khác, các công trình ấy khi nói về diễn tiến của Chiến tranh Lạnh diễn ra ở châu Á hầu hết đều chỉ tập trung vào tam giác chiến lược Xô – Mỹ - Trung, quy kết mọi nguyên nhân, tác động cho tam giác này, chứ không đề cập, hoặc đề cập rất ít đến vai trò của Ấn Độ, đặc biệt là trong quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc Tuy vậy, nguồn tư liệu trong nước cũng rất có giá trị và đã giúp ít rất nhiều cho việc thực hiện đề tài này, nhất là trong điều kiện tiếp cận trực tiếp với các tài liệu gốc, tài liệu nguyên văn nước ngoài của tác giả còn nhiều hạn chế
Trang 25Luận án tiến sĩ Quan hệ Ấn Độ - Liên Xô từ 1947 đến 1992 (2012) của Lê Thế
Cường có thể xem như là công trình phác họa đầy đủ nhất mối quan hệ giữa Liên Xô
và Ấn Độ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, qua đó phần nào thiết lập được vị trí của New Delhi trong quan hệ với hai cường quốc XHCN đương thời từ phía quan hệ Xô - Ấn Bên cạnh công trình vừa nêu, tác giả còn có một số nghiên cứu liên quan đáng chú ý
như, Kỷ yếu hội thảo khoa học Một số vấn đề lịch sử: Chính sách Không liên kết của Cộng hòa Ấn Độ tự trị từ 1947 đến 1950 (2006), Thái độ của Liên Xô trong cuộc chiến tranh biên giới Ấn Độ - Trung Quốc năm 1962 (2008), Ấn Độ với vấn đề quốc hữu hóa
kênh đào Suez của Ai Cập và việc Liên Xô đưa quân vào Hungary năm 1956 đăng trên
Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 12 (129) năm 2010, … Luận án Tiến sĩ Sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trong giai đoạn 1950 – 1964 (2014) của
Nguyễn Đức Toàn cũng là một công trình đáng chú ý liên quan đến đề tài này khi tác giả thông qua quá trình xây dựng đất nước sau độc lập của Ấn Độ thời Nehru đã xây dựng được hệ thống, tính chất các mối quan hệ với các cường quốc cũng như thái độ, chủ trương của Ấn Độ trong những quan hệ ấy, bao gồm cả quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc
Các công trình nghiên cứu của các tác giả khác cũng góp phần làm sáng tỏ đề tài
về tam giác Xô – Trung - Ấn này dưới nhiều góc độ riêng lẻ khác nhau: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ (1989) của Đỗ Đức Định, Lịch sử quan hệ quốc tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (2009) của Lê Phụng Hoàng, Ấn Độ với phong trào Không liên kết trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 11 năm 2011 của Nguyễn Quốc Hùng, Lịch
sử Ấn Độ (1995) do Vũ Dương Ninh chủ biên, Lược sử Liên bang Nga (1917 – 1991)
(2002) của Nguyễn Quốc Hùng – Nguyễn Thị Thư, …
Có thể thấy, nhiều công trình trong cũng như ngoài nước đề cập đến tam giác Xô – Trung - Ấn cũng như các cặp quan hệ riêng lẻ trong tam giác này, tình hình của từng nước … Các công trình này đã góp phần làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh của vấn
đề, tuy vậy, trong khả năng tìm hiểu, tác giả chưa thấy có công trình nào nghiên cứu về
Trang 26nhân tố Ấn Độ trong quan hệ chính trị Xô – Trung thời kỳ Chiến tranh Lạnh với tư cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập, do vậy, trong phạm vi đề tài này, tác giả mong muốn phần nào được tiệm cận gần đến những nội dung cơ bản xoay quanh vấn
đề nghiên cứu này
4 Nguồn tư liệu - Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả tiếp cận tư liệu chủ yếu từ các nguồn sau:
1 Tài liệu, văn bản chính thức được các chính phủ có liên quan công bố Đây là nguồn tư liệu cung cấp những thông tin, dữ liệu quan trọng, đáng tin cậy
2 Các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung luận văn đã được công bố trên các sách, báo trong và ngoài nước
3 Các hồi ký, tiểu sử của các nhân vật lịch sử có liên quan, các ghi chép về các cuộc đối thoại, phát biểu của họ
4 Các bài viết, các công trình nghiên cứu đăng trên các báo, tạp chí của các tác giả trong và ngoài nước
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp luận sử học Marxist là phương pháp luận duy nhất và xuyên suốt mà tác giả sử dụng
Phương pháp nghiên cứu sử học đóng vai trò là phương pháp nghiên cứu chính của tác giả trong luận văn này Phương pháp này được vận dụng trong việc cung cấp những nguồn sử liệu xác thực nhằm đánh giá đúng tiến trình lịch sử, những diễn biến, cột mốc quan trọng của quá trình thiết lập sự hiện diện và gây tác động của Ấn Độ đối với quan hệ chính trị Xô - Trung Qua đó phục dựng lại bức tranh lịch sử về sự hình thành và vận động của tam giác Xô – Trung - Ấn và các tác động của nó trên nền tảng
là sự đổ vỡ của liên minh Xô – Trung thời kỳ đầu thập niên 1950 – đầu thập niên 1970
Trang 27Tính logic được vận dụng trong việc hệ thống hóa các sự kiện lịch sử, đưa ra những nhận xét, đánh giá khoa học về vấn đề được nghiên cứu
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng thêm các phương pháp bổ trợ như chính trị học, quan hệ quốc tế, địa chính trị, … để làm sáng tỏ vấn đề trên nhiều khía cạnh khác nhau
và tăng thêm sức thuyết phục cho luận văn
5 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Liên Xô, Trung Quốc, Ấn Độ trong cục diện Chiến tranh Lạnh
Chương 2: Nhân tố Ấn Độ trong quan hệ chính trị Xô – Trung (đầu những năm
Trang 28CHƯƠNG 1:
LIÊN XÔ, TRUNG QUỐC, ẤN ĐỘ TRONG CỤC DIỆN CHIẾN TRANH LẠNH
1.1 Tính chất hai mặt của quan hệ chính trị Xô – Trung (những năm 1950 – đầu những năm 1970)
Từ một nước đầu tiên năm 1917, đến sau năm 1945, chủ nghĩa xã hội đã mở rộng và phát triển thành một hệ thống thế giới, là đối trọng với hệ thống tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu trong nhiều thập kỷ Lịch sử hệ thống XHCN trong nhiều thập niên tồn tại cho thấy Liên Xô và Trung Quốc chính là hai quốc gia đóng vai trò chủ chốt và quan trọng nhất Nếu như Liên Xô là nước XHCN đầu tiên và hùng mạnh nhất, nền tảng cho cả hệ thống thì Trung Quốc chỉ đứng sau Liên Xô, hơn nữa còn cùng với Cuba là nhân tố đưa hệ thống XHCN trở thành một hệ thống toàn cầu Vì thế nên quan
hệ giữa Moscow và Bắc Kinh bên cạnh việc là một nội dung quan trọng trong quan hệ quốc tế thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhất là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời nó cũng chính là mối quan hệ trụ cột trong khối XHCN, ảnh hưởng rất lớn đến tương quan của toàn bộ hệ thống cũng như các mối quan hệ song phương và đa phương khác trong khối XHCN
Quan hệ giữa hai nước XHCN lớn nhất chính thức thiết lập từ năm 1949 và nhanh chóng phát triển tương đối tốt đẹp với liên minh Xô – Trung trong những năm
50 thế kỷ XX Tuy nhiên từ cuối thập niên 50 thế kỷ XX, quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh đã xấu đi nhanh chóng Những tranh cãi giữa hai Đảng Cộng sản nổ ra thường xuyên và quyết liệt hơn, các quan hệ hợp tác bị cắt đứt và thay vào đó là sự đối đầu căng thẳng gia tăng rất nhanh để rồi cuối cùng bùng nổ cuộc chiến tranh năm 1969 ở biên giới hai nước Từ cuối thập niên 1960 trở đi thì Liên Xô và Trung Quốc trên thực
tế đã xem nhau là kẻ thù nguy hiểm nhất của mình chứ không còn là Mỹ nữa Trong khi Liên Xô từng định dùng vũ khí hạt nhân để hủy diệt Trung Quốc thì Trung Quốc với Thông cáo Thượng Hải năm 1972 đã liên kết với Mỹ để chống Liên Xô, hình thành nên tam giác chính trị Xô – Trung – Mỹ
Trang 29Tất cả thay đổi có phần trái ngược ấy trong quan hệ Xô – Trung diễn ra chỉ trong vòng hơn một thập kỷ Nguyên nhân dẫn đến thực tế đó chính là do quan hệ Xô – Trung ngay từ đầu đã ẩn chứa hai mặt đồng thuận và mâu thuẫn đối lập lẫn nhau Thực chất mọi mối quan hệ giữa các quốc gia khác với nhau cũng tương tự như vậy, chỉ khác biệt về mức độ, hoàn cảnh và chính điều này đã góp phần tạo nên thực tế phức tạp của các mối quan hệ quốc tế Song, tính chất hai mặt trong quan hệ chính trị Xô – Trung có thể nói là một trong những trường hợp điển hình nhất ở khía cạnh hợp tác, liên minh chỉ là sách lược còn xung đột, chia rẽ là tất yếu và lâu dài Bởi lẽ trong khi các yếu tố tạo nên mặt đồng thuận phần nhiều chỉ là nhất thời thì các yếu tố hình thành nên mặt mâu thuẫn lại là cơ bản và sâu sắc Bên cạnh đó, chính ngay trong các yếu tố làm nên mặt đồng thuận cũng đã tiềm ẩn không ít những vấn đề làm tăng cường thêm cho mặt bất đồng, mâu thuẫn trong quan hệ chính trị Xô – Trung Do vậy liên minh ngắn ngủi
Xô – Trung dường như trở thành tất yếu
Các khía cạnh chủ yếu làm nên mặt đồng thuận cũng như mặt bất đồng của quan
hệ chính trị Xô – Trung tập trung chủ yếu thành hai mặt ý thức hệ và lợi ích quốc gia
ít lần yếu tố ý thức hệ bị xem là thứ yếu, thậm chí chỉ còn là bức “màn khói” ngụy
Trang 30trang cho các toan tính lợi ích thật sự phía sau của các cường quốc, thế nhưng không bao giờ có thể phủ nhận được tầm quan trọng của nó
Không thể phủ nhận rằng bất kể những sai lầm tả khuynh, duy ý chí, … bộc lộ
theo thời gian, nhưng trong suốt thời kì Chiến tranh Lạnh, hệ thống chính trị của Liên
Xô và Trung Quốc đều lấy chủ nghĩa Marx – Lenin làm nền tảng Điều quan trọng là
mặc dù “có mức độ khác nhau trong hiểu biết và thực tiễn của hai nước về di sản chung này” nhưng “không có chuyện thiếu nhất trí về việc Liên Xô là lãnh tụ không tranh cãi trong Phong trào cộng sản” [23; tr.300] trong thời kỳ những năm 1950 Về cơ bản, Bắc Kinh đã theo đuổi các chủ trương, đường lối của Moscow cả về đối nội cũng như đối ngoại cho đến tận năm 1958 [23; tr.301] Chẳng hạn như trong kinh tế, các kế hoạch 5 năm được xây dựng với công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển trong khi nông nghiệp thì theo chủ trương tập thể hóa Sự tương đồng về chế độ xã hội cũng như phần lớn các chủ trương, chính sách trong thời kỳ thập niên 1950 chính là điều kiện rất quan trọng để hình thành và thúc đẩy liên minh Xô – Trung phát triển
b/ Nhu cầu mở rộng và phát triển lực lượng cho chủ nghĩa xã hội trong những năm đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh
Một nền tảng quan trọng khác liên quan đến vấn đề ý thức hệ đã thúc đẩy hình
thành liên minh Xô – Trung đó chính là nhu cầu của Liên Xô trong vấn đề mở rộng và tăng cường lực lượng của lực lượng XHCN do mình đứng đầu Chiến tranh Lạnh là sự
đối lập của hai ý thức hệ lớn, hai chế độ xã hội trên thế giới trong nửa sau thế kỷ XX Một trong những biểu hiện của Chiến tranh Lạnh biểu hiện chính là cả khối phương Đông cũng như khối phương Tây đều cố gắng đưa quan niệm về giá trị, chế độ xã hội
và mô thức phát triển của mình phổ biến đến các quốc gia, khu vực khác trên toàn thế giới, làm suy giảm ảnh hưởng chính trị của đối phương trên vũ đài quốc tế Qua đó, bằng nhiều cách khác nhau, cả hai phe đều cố gắng loại bỏ ảnh hưởng của đối phương, củng cố ảnh hưởng của mình ở nhiều nơi trên thế giới Sự cạnh tranh, mâu thuẫn giữa
Trang 31hai hình thái kinh tế - xã hội do đó mà mở rộng và hậu quả trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều Vì mục đích này mà cả hai bên đều đã áp dụng cả những hành động hợp pháp (tuyên truyền chính trị, viện trợ kinh tế, xây dựng quan hệ đồng minh …) và cả những hành động đi ngược lại với chuẩn mực hành vi quốc tế (bí mật lật đổ, chiến tranh đại diện, xâm nhập quân sự …) để bản thân mình lớn mạnh trong khi đối thủ lại bị đánh gục
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc Liên Xô trở thành một trong hai siêu cường thì CNXH cũng đã vượt ra khỏi phạm vi một nước để dần trở thành một hệ
thống toàn cầu Tuy nhiên ở thời điểm nửa sau thập niên 1940, bản thân Liên Xô cũng như các nước XHCN mới hình thành trong tương quan so sánh với Mỹ và hệ thống TBCN thì CNXH vẫn còn vấp phải chênh lệch bất lợi về nhiều mặt như sức mạnh về kinh tế, quân sự, tầm ảnh hưởng, …
Thật vậy, bản thân Liên Xô mặc dù là một trong hai siêu cường nhưng lại là bên tương đối yếu so với Mỹ Trong chiến tranh, Liên Xô chính là nước đã phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề nhất, còn Mỹ lại bước ra khỏi cuộc chiến với nhiều thuận lợi để vươn lên đứng đầu hệ thống TBCN, vượt khá xa các nước con lại bao gồm cả Anh Do vậy, sức mạnh tổng hợp của Liên Xô cả trước và sau chiến tranh nhìn chung thua kém
Mỹ trên khá nhiều phương diện Còn CNXH cho đến trước khi CHND Trung Hoa ra đời, thì ngoài chính Liên Xô mới chỉ lan rộng sang khu vực Đông Âu, nơi đã thu hút hầu hết sự chú ý và nỗ lực Moscow trong những năm đầu sau chiến tranh Tuy nhiên, Đông Âu - với quá khứ bất ổn, CNTB tụt hậu hơn hẳn Tây Âu, là chiến trường khốc liệt nhất của Thế chiến II - sau chiến tranh so với các nước Tây Âu thì thua sút một khoảng cách khá đáng kể 1 Ở khu vực châu Á, ngoài Mông Cổ và Bắc Triều Tiên, Liên
Xô chỉ mới khôi phục lại ảnh hưởng và các quyền lợi mà nước Nga Sa hoàng, một đế quốc hạng hai, đã đánh mất sau Chiến tranh Nga – Nhật năm 1904 – 1905
1 Xem Phụ lục số 1
Trang 32Bên ngoài phạm vi đó ra, trong bối cảnh sau năm 1945, có thể nói phần còn lại của thế giới nằm trong tầm ảnh hưởng của khối TBCN do Mỹ đứng đầu với trung tâm
chính là Mỹ và Tây Âu, với “sân sau” là hệ thống các thuộc địa, bán thuộc địa, các
nước phụ thuộc rộng mênh mông Không chỉ có được sự vượt trội về năng lực và tầm ảnh hưởng, xét về mặt địa chính trị thì dường như đồng thời khối TBCN cũng đang nắm giữ thế bao vây các nước XHCN vào trong phần phía bắc của lục địa Á – Âu Nhu cầu tăng cường thế và lực của khối XHCN để làm đối trọng, cân bằng với khối TBCN ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng hơn bao giờ hết
Cũng cần phải khẳng định rõ rằng mặc dù nhu cầu tăng cường thực lực cho bản thân mình và khối XHCN của Liên Xô là điều có thật, nhưng đối với Moscow thì trong nửa sau thập niên 1940, nhất là trong những năm 1945 – 1946, nhu cầu ấy vẫn phải xếp sau những mục tiêu ngắn hạn nhưng thiết thân và tối cần với họ hơn Chính điều này đã khiến cho Liên Xô đã có những hành động, chủ trương tưởng chừng trái ngược lại hoàn toàn Chẳng hạn như công nhận chính phủ Tưởng Giới Thạch và hạn chế giúp đỡ Đảng Cộng sản Trung Quốc, khuyến khích các Đảng Cộng sản ở Ý và Pháp tham gia các chính phủ liên hiệp, …
Tuy nhiên đến cuối thập niên 1940 thì nhu cầu tăng cường thực lực cho khối XHCN của Liên Xô bắt đầu trở nên mạnh mẽ hơn Quốc lực của Liên Xô lúc này đã được khôi phục và tăng lên với kế hoạch 5 năm lần IV (1946 – 1950) Mặt khác, cục diện Chiến tranh Lạnh đã hình thành đậm nét Do vậy, khi mà ảnh hưởng của Liên Xô đối với các khu vực mang tính sống còn (nhất là Đông Âu) đã được thiết lập vững chắc thì cũng là thời điểm Moscow bắt đầu tích cực và chủ động hơn trong việc mở rộng ảnh
hưởng của mình đến các “vùng xám” khác trên thế giới (tương tự như Mỹ)
Trong tình hình đó, Trung Quốc chính là một nhân tố bổ sung quan trọng làm
thay đổi mạnh mẽ cán cân tương quan lực lượng mà Liên Xô và khối XHCN cần đến Mặc dù trong nội chiến Quốc – Cộng (1946- 1949) và trước đó, giữa Nga/Liên Xô và
Trang 33Trung Quốc cũng như giữa hai Đảng Cộng sản lớn nhất thế giới đã và đang tồn tại không ít vấn đề, mâu thuẫn, nhưng Liên Xô (kéo theo đó là các nước XHCN Đông Âu)
đã rất nhanh chóng công nhận nước CHND Trung Hoa Sau đó ít lâu, Hiệp ước hữu nghị, liên minh và tương trợ Xô – Trung được kí kết ở điện Kremlin, chính thức đánh dấu sự hình thành liên minh Moscow – Bắc Kinh
Trung Quốc dù còn rất nhiều hạn chế trên nhiều phương diện (nhất là về kinh tế) nhưng đã nhanh chóng trở thành một thế lực rất đáng chú ý trên trường quốc tế Diện tích lãnh thổ rất rộng lớn, dân số đông nhất thế giới, hơn nữa lại có tiềm năng kinh tế
và quân sự to lớn, cùng với đó là một tầm ảnh hưởng lâu đời và sâu rộng ở Đông Á
cũng như Đông Nam Á đã khiến cho Trung Quốc trở thành một “quân cờ” rất có trọng
lượng trên bàn cờ chính trị quốc tế thời Chiến tranh Lạnh2 Có được Trung Quốc, hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu không chỉ trở nên lớn mạnh hơn trong tương quan sức mạnh với thế giới TBCN do Mỹ chi phối một cách đơn thuần về các chỉ số định lượng Hệ thống ấy đã thật sự bước đầu vươn lên cấp độ toàn cầu, trải dài suốt từ Đông
Âu qua Bắc Á đến Đông Á, gần như chiếm trọn “miền đất trái tim” của lục địa Á – Âu
rộng lớn theo góc nhìn địa – chính trị; cũng như tạo ra triển vọng vươn đến những khu vực khác của châu Á cũng như thế giới
1.1.1.2 Các yếu tố tạo nên sự đồng thuận về lợi ích quốc gia
Bên cạnh sự tương đồng về mặt ý thức hệ, giữa Moscow và Bắc Kinh cũng chia
sẻ không ít các lợi ích quốc gia quan trọng, góp phần thúc đẩy hình thành liên minh Xô – Trung trong thập niên 1950
a/ Lợi ích liên kết cùng chống Mỹ
Trong cục diện lưỡng cực những năm đầu sau Thế chiến II, so với “cực” Mỹ thì
“cực” Liên Xô là bên yếu hơn Trung Quốc, đặt trong tương quan so sánh với Mỹ, lại
càng ở thế bất lợi hơn Liên Xô rất nhiều trong khi Mỹ lại “là mối đe dọa rất lớn cho an
2 Xem Phụ lục số 2
Trang 34ninh của Trung Quốc mới” … và “… là kẻ thù chứ không phải là bạn” [74; tr.380 -
381] Từ đó đã dẫn đến việc cả Moscow lẫn Bắc Kinh đều cần bổ sung 1 đồng minh mạnh để có thể đối trọng lại với Washington
Ở thời điểm cuối những năm 1940, đầu những năm 1950 có thể thấy rằng, đối với Liên Xô, Trung Quốc gần như là lựa chọn duy nhất khả dĩ đáp ứng lợi ích đó Liên
Xô “không hoài nghi chút gì việc thắng lợi của những người cộng sản Trung Quốc đã tăng cường sức mạnh của Liên Xô đối với kẻ thù chính của họ, Hoa Kỳ” [23; tr.301] Còn đối với Bắc Kinh, “Liên bang Xô Viết là một đồng minh lý tưởng ban đầu cần thiết như một đối tác chiến lược để cân bằng với Mỹ” [38; tr.114], “…Liên Xô là nước duy nhất người Trung Quốc có thể mong nhận được viện trợ kinh tế và quân sự…” [23; tr.302] Thế nhưng cùng với thực tế Chiến tranh Lạnh ngày càng gay gắt và lan rộng ra toàn thế giới sau đó, nhiều nhân tố ở các khu vực khác trở nên quan trọng hơn với Liên
Xô để thực hiện mục tiêu cân bằng với Mỹ, đặc biệt là Ấn Độ - quốc gia chủ chốt ở Nam Á Quốc lực được tăng cường đem đến cho Moscow khả năng lôi kéo rộng rãi và hiệu quả hơn đối với các lực lượng này
b/ Củng cố và tăng cường vị thế quốc tế
Bên cạnh lợi ích chiến lược là đối trọng với Mỹ, sự hợp tác giữa Liên Xô và
Trung Quốc trong những năm đầu thập niên 1950 còn giúp cho bản thân mỗi nước gia tăng vị thế và tầm ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế
Đối với Liên Xô, mặc dù vươn lên trở thành một trong hai siêu cường đứng đầu thế giới, thế nhưng phải mất thêm vài thập niên nữa thì Liên Xô mới có thể thực hiện vai trò toàn cầu của mình một cách đầy đủ như Mỹ Do vậy, trong hoàn cảnh năng lực
đương thời còn nhiều hạn chế, Liên Xô sẽ cần đến một sự hỗ trợ để có thể vươn rộng ảnh hưởng của mình sang các nước thế giới thứ ba ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Trung Quốc, với việc vừa là một nước XHCN, lại vừa nằm trong khối Á – Phi
Trang 35– Mỹ Latinh, sở hữu tiềm lực và khả năng ảnh hưởng lớn với khu vực này, chính là nhân tố mà Liên Xô cần đến
Trong khi đó nước CHND Trung Hoa mới được thành lập đã phải đối diện ngay
với thực tế là họ chưa có được một vị thế quốc tế đáng kể Tính đến trước khi Hội nghị
Geneva 1954 khai mạc, mới chỉ có 20 nước thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ Bắc Kinh, trong đó ngoài 11 nước XHCN thì chỉ có 4 nước trung lập ở châu Á cùng
một vài nước ở châu Âu [20; tr.51] Bắc Kinh còn phải đối diện với thế bao vây, cô lập của thế giới phương Tây do Mỹ đứng đầu Mỹ và các nước phương Tây vẫn công nhận
Đài Bắc là chính phủ duy nhất hợp pháp ở Trung Quốc, cùng với đó là tiếp tục ủng hộ chính quyền Quốc Dân Đảng nắm giữ vi trí thành viên thường trực HĐBA LHQ
Với thực trạng như vậy về ngoại giao, Trung Quốc rất cần đến một sự “đỡ đầu
về chính trị” trong quan hệ quốc tế, điều chỉ có thể đến từ một thực thể chính trị hàng đầu Trong hoàn cảnh cụ thể lúc đó, thực thể đó chỉ có thể là Liên Xô, một trong hai siêu cường, thành viên HĐBA Liên Hợp Quốc, nước có quan hệ rộng khắp với các cường quốc chủ chốt trên thế giới Có sự trợ giúp của Moscow, Bắc Kinh mới có thể thiết lập được tiếng nói của mình trong cộng đồng quốc tế, tiếp xúc được với các cường quốc phương Tây, mở rộng quan hệ bang giao với thế giới
Song khi mà các mục tiêu ban đầu của hai nước nói trên đã đạt được thì họ lại hướng đến những mục tiêu cao hơn Moscow và Bắc Kinh đều cùng hướng đến “thế giới thứ ba”, nơi mà New Delhi đã và đang có được một ảnh hưởng lớn để trở thành một tâm điểm mà hai nước XHCN lớn nhất phải tính đến theo các chiều hướng khác hẳn nhau
c/ Bảo vệ an ninh quốc gia của mỗi nước
Bảo vệ an ninh quốc gia cũng là một yếu tố quan trọng liên kết Liên Xô với
Trung Quốc trong thập niên 1950 Liên Xô cần Trung Quốc để phá thế bao vây của Mỹ cũng như thiết lập vị thế ở Đông Á Có Bắc Kinh là đồng minh, Moscow có thể xem
Trang 36như đã giải tỏa được bớt áp lực của Mỹ trước nay vẫn luôn đến từ hai đầu Đông (Hàn Quốc, Nhật Bản, …) – Tây (châu Âu), củng cố an ninh vùng Viễn Đông của mình Liên minh Xô – Trung đã tạo nên một cục diện quyền lực tương đối cân bằng giữa hai siêu cường trong phạm vi khu vực Đông Bắc Á Trong đó, Liên Xô tạo lập được phạm
vi ảnh hưởng của mình lên quốc gia lớn nhất trong khu vực (và đông dân nhất thế giới) cùng với một nửa bán đảo Triều Tiên trong khi Mỹ hình thành nên được một chuỗi các liên minh gồm Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan để chống lại
Việc để mất Trung Quốc vào phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô và hệ thống XHCN rõ ràng đã là một thất bại lớn của Mỹ vì sau đó thế lực của siêu cường này có thể nói là đã bị đánh bật hẳn ra khỏi phần lục địa rộng lớn ở khu vực Đông Bắc Á Tuy sau đó đã tạo lập được một vành đai liên minh bên ngoài rìa lục địa thế nhưng thế đứng của Mỹ trong khu vực vẫn có phần thiếu chắc chắn, bất ổn so với liên minh Xô – Trung Song song với điều đó, liên minh Xô – Trung cũng giúp Moscow tăng khả năng tác động ở Đông Bắc Á lên một mức độ nhất định so với khả năng mà nước Nga Sa hoàng trước đây hay như chỉ một mình Liên Xô có thể có được
Trong khi đó, Trung Quốc cần Liên Xô để ngăn ngừa nguy cơ bị Mỹ xâm lược Hiệp ước Xô – Trung tháng 2/1950 là sự bảo đảm cho Trung Quốc về vấn đề này trong điều kiện Trung Quốc quốc lực của họ bấy giờ rất yếu, Hợp tác với Liên Xô “…đem lại cho chế độ mới của Trung Quốc một sự ủng hộ bên ngoài về quân sự và kinh tế tuyệt đối cần thiết với Trung Quốc …” [20; tr.53]
Theo các diễn biến gay gắt hơn của Chiến tranh Lạnh, mục tiêu bảo vệ an ninh quốc gia của Moscow cũng được thay đổi và mở rộng Trong đó, Ấn Độ - với vị trí địa chính trị then chốt, có tầm ảnh hưởng lớn ở rìa đất phía nam châu Á, đóng vai trò thiết yếu trong chiến lược bao vây của Mỹ - trở thành một yếu tố mà Liên Xô rất cần lôi kéo
Ở phía bên kia, với tham vọng trỗi dậy, Bắc Kinh lại nhìn thấy từ người hàng xóm phía bên kia dãy Himalaya sự đe dọa và kiềm hãm cần phải giải quyết
Trang 371.1.2 Bất đồng và xung đột trong quan hệ chính trị Xô – Trung những năm 1950 –
1960
1.1.2.1 Những bất đồng về ý thức hệ
Tuy cùng là những nước XHCN, nhưng giữa Liên Xô và Trung Quốc lại có không ít các khác biệt gây nên các mầm mống chia rẽ, hình thành nên các tranh cãi, xung khắc về mặt tư tưởng, lý luận để rồi đưa đến tình trạng đối đầu, thù địch giữa hai đảng cộng sản lớn nhất thế giới
Chủ trương, đường lối tiến hành đấu tranh cách mạng khác biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc chính là kết quả tất yếu của tiến trình lịch sử khác nhau của họ Về cơ bản,
Liên Xô tất nhiên nhấn mạnh vai trò cách mạng tiên phong của người công nhân công nghiệp; trong khi đó Trung Quốc trong suốt một thời gian dài luôn chỉ là một nước
nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, không có sự phát triển công nghiệp đúng nghĩa nên
giai cấp công nhân yếu, do vậy họ coi trọng vai trò của nông dân nhiều hơn hẳn Thế
nhưng chính vì vậy mà trong suốt một thời gian dài, Moscow trong tâm thức luôn cho
rằng Đảng cộng sản Trung Quốc đã không làm đúng theo học thuyết Marx – Lenin, “là theo cơ hội chủ nghĩa”; trong khi Bắc Kinh lại cho Moscow là “giáo điều chủ nghĩa” Khác biệt cơ bản này cụng dẫn đến những đánh giá, chính sách khác nhau về quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa công nghiệp nặng với công nghiệp nhẹ và nông nghiệp của hai nước
Về con đường xây dựng CNXH, khả năng quá độ hòa bình lên CNXH là điểm
mấu chốt gây ra tranh cãi, mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc Trong khi Liên Xô cho rằng có khả năng đạt được điều này với những tiền đề nhất định, thì quan điểm của Trung Quốc là chỉ có cách mạng, thậm chí là “cách mạng liên tục” mới có thể tiến lên CNXH
Moscow ở một khía cạnh khác cũng cho rằng khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi (như ở Liên Xô) thì nền chuyên chính vô sản có thể được điều chỉnh, thậm chí chấm dứt Quan điểm đó bị Trung Quốc lên án là tư tưởng phản động, nguy hiểm, có thể tạo điều kiện cho các phần tử tư sản trỗi dậy và giành lại ảnh hưởng Thêm vào đó,
Trang 38không ít lần Bắc Kinh bằng nhiều cách nói thông qua các phương tiện khác nhau để ám chỉ rằng điều này đã và đang xảy ra ở Liên Xô
Cũng từ năm 1958 trở đi, Trung Quốc nhanh chóng đoạn tuyệt với mô hình phát triển của Liên Xô, đồng thời nuôi một tham vọng cực kỳ lớn là sẽ vượt qua Liên Xô cũng như các cường quốc khác (vượt Anh chỉ trong 15 năm) trước khi vươn lên hàng đầu thế giới Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, giới lãnh đạo Bắc Kinh cho rằng nhiệt tình của quần chúng sẽ cứu cách mạng Trung Quốc khỏi chế độ quan liêu, đồng thời đưa nước này tiến tới hình thái cao nhất là cộng sản chủ nghĩa trong một thời gian ngắn
kỷ lục Con đường của Liên Xô bị bác bỏ bằng những từ ngữ sắc bén nhất như là một
âm mưu quay lại chủ nghĩa tư bản ở thế giới cộng sản “… Chúng tôi đã làm tốt hơn Liên bang Xô Viết và một số các quốc gia Đông Âu Sự thất bại kéo dài của Liên bang
Xô Viết khi muốn đạt tới mức độ tột đỉnh Cách mạng trước tháng Mười với thành quả nhỏ nhoi Những vấn đề nghiêm trọng phát sinh từ sự mất cân bằng dễ thấy giữa phát triển công nghiệp nặng và phát triển công nghiệp nhẹ tại một số nước Đông Âu Những vấn đề như thế không tồn tại ở đất nước chúng tôi” [38, tr.180]
Về chính sách đối ngoại, Liên Xô chủ trương các nước XHCN đương thời đã đủ
hùng mạnh để tránh chiến tranh và có thể thực hiện cùng tồn tại hòa bình Điều quan trọng hơn là Moscow luôn chủ trương tránh để xảy ra một cuộc chiến tranh nóng tổng lực giữa hai siêu cường vốn dĩ có thể đem đến hiểm họa hủy diệt với sức mạnh của vũ khí hạt nhân Song song với đó, chủ trương cùng tồn tại hoà bình còn có thể giúp cho Moscow khai thác được không ít các lợi ích chiến lược khi có thể tận dụng được các mâu thuẫn tất yếu và không thể tránh khỏi trong lòng khối TBCN cũng như thuận tiện hơn trong việc mở rộng quan hệ với các nước mới giành được độc lập, tăng thêm ưu thế trong cán cân quyền lực với Mỹ
Trung Quốc, mặc dù chấp nhận là CNXH đã mạnh hơn, đến mức Mỹ và thế giới TBCN phải nhượng bộ nhưng lại luôn tỏ ra nghi ngờ quan điểm cùng chung sống hòa bình “… Trung Quốc đã rút ra được những bài học từ thành tựu của Nga rằng chiến
Trang 39tranh hạt nhân là ít có khả năng xảy ra, và vì thế các cường quốc cộng sản có thể tiến hành những chính sách mạo hiểm hơn Họ cũng vẫn duy trì quan điểm chủ nghĩa Marx chính thống rằng chiến tranh dưới hình thức nào đó là không thể tránh khỏi khi một ngày nào đó chủ nghĩa đế quốc muốn nó diễn ra” [6, tr.122] Ở Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế năm 1957 tại Moscow, trong bài diễn văn
“Chúng ta không nên sợ chiến tranh”, Mao Trạch Đông tuyên bố các nước XHCN,
nhất là Trung Quốc, không nên sợ chiến tranh hạt nhân Rõ ràng là đường lối đối ngoại của hai bên dần dần tỏ ra khó có thể dung hoà được với nhau Liên Xô cho Trung Quốc
là hiếu chiến, nguy hiểm Ngược lại, Trung Quốc cũng lên án Liên Xô là thiếu ý chí cách mạng, sợ “con cọp giấy” Mỹ
Đồng thời, trong quan hệ giữa các nước XHCN với nhau, vai trò lãnh đạo của
Liên Xô được nhất trí trong nhiều năm nhưng Trung Quốc ngày càng nhấn mạnh nhiều hơn đến nguyên tắc bình đẳng và độc lập trong hệ thống XHCN Điều này đặc biệt được nhấn mạnh trong quan hệ riêng giữa Moscow và Bắc Kinh, một mối quan hệ mà trong khi Moscow muốn nó phải tương tự như mối quan hệ với các nước Đông Âu trong khi Bắc Kinh muốn mình phải được đối xử đúng với vị thế đặc biệt của mình Cũng cần phải nói thêm rằng ngay từ thời kỳ trước năm 1949, giữa đảng cộng sản Trung Quốc và đảng cộng sản Liên Xô nói chung (hay giữa Mao Trạch Đông và Stalin nói riêng) vấn đề này cũng đã tồn tại và không phải là không có những hậu quả nghiêm trọng Chỉ là khi mối quan hệ Xô – Trung vẫn còn đang nồng ấm trong những năm đầu thập niên 1950, nó ít được công khai đề cập đến mà thôi Cái chết của Stalin năm 1953 lại càng thúc đẩy Bắc Kinh khẳng định sự độc lập và bình đẳng hơn của mình với Moscow Thậm chí với sự vượt trội về mặt nhân khẩu, bề dày truyền thống lịch sử, ảnh hưởng lớn lao ở Đông Á …, Bắc Kinh ngày càng không che giấu ý định thay thế
Moscow trở thành trung tâm của hệ thống XHCN Sau khi Stalin qua đời, “Khrushchev
nổi lên như một nhà lãnh đạo chuyên quyền mới của Nga và được nhiều người coi là người lãnh đạo mặc nhiên của thế giới cộng sản Tuy nhiên, đối với Mao, điều này
Trang 40không hiển nhiên; không có một quy định nào nói rằng người cộng sản hàng đầu thế giới phải là một người Nga …” [6, tr.120]
Trong hội nghị của các Đảng Cộng sản năm 1957, Mao Trạch Đông đã tuyên bố
một cách đầy ngụ ý rằng “ngọn gió phương Đông” đã thổi bạt “ngọn gió phương Tây” Trung Quốc khẳng định bản thân mình đang ngày càng mạnh để khẳng định
quyền tự chủ của mình chính là hàm ý thực tế phía sau tuyên bố có vẻ như tán dương thành tựu phóng vệ tinh Sputnik của Liên Xô trước đó ít lâu này
Dưới thời kỳ Brezhnev cầm quyền, Bắc Kinh đặc biệt tỏ ra thù địch, nghi kỵ với
cái gọi là Học thuyết Brezhnev, trong đó trao cho Moscow quyền can thiệp đặc biệt vào
các nước XHCN khác để bảo vệ chủ nghĩa xã hội khỏi các nguy cơ từ bên trong và bên ngoài Các lãnh đạo Trung Quốc lo ngại rằng học thuyết này thậm chí sẽ cho phép cả việc xâm phạm chủ quyền quốc gia của chính họ Ngày 23/8/1968, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã gọi các hành động của Liên Xô ở Tiệp Khắc là “hình thái chính trị cường quốc phát xít điển hình và trắng trợn nhất do tập đoàn xét lại Liên Xô thực hiện chống lại các nước gọi là đồng minh của mình” [23, tr.308]
Hiển nhiên là Moscow hoàn toàn không thể chấp nhận được thái độ bất phục tùng, thậm chí là dám thách thức vị thế lãnh đạo khối XHCN của mình như vậy đến từ Bắc Kinh Mối quan hệ giữa hai nước quan trọng nhất khối XHCN do vậy càng lúc càng trở nên sa sút, trượt sâu vào trong mâu thuẫn, thù địch đến mức độ không thể tưởng tượng được suốt mấy thập niên sau đó
1.1.2.2 Sự xung đột về lợi ích quốc gia
Cùng với các bất đồng liên quan đến yếu tố ý thức hệ, giữa Liên Xô và Trung Quốc còn tồn tại không ít các mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích quốc gia, không ít trong
số đó đã hình thành và tích tụ ngay từ trước khi hai nước thiết lập quan hệ đồng minh ngắn ngủi trong thập niên 1950