1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện bản sắc văn hóa của cộng đồng người tà mun ở tỉnh bình phước

190 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu hỏi nghiên cứu Để làm sáng rõ nguồn gốc tộc người và bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun trong muối quan hệ giao lưu, tiếp biến v i tộc người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro và người Kinh, luận

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN KHOA HỌC

Tôi xin cam đoan, toàn bộ nội dung của luận văn này do chính tác giả thực hiện Nếu có ai thắc mắc, khiếu nại về bản quyền của luận văn này, tác giả xin chịu trách nghiệm trước Hội đồng Bảo vệ

Tp Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 01 năm 2018

Người cam đoan

Nguyễn Bá Thưởng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô trong Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh Xin chân thành gửi lời cám ơn đến

giảng viên hướng dẫn của tôi là PGS TS Trương Văn Món, người đã nhiệt tình

hướng dẫn và quan tâm tới luận văn này

Xin chân thành cảm ơn các cộng tác viên người Tà Mun ở Bình Phước và Tây Ninh đã cung cấp những thông tin, tư liệu quý báu

Xin chân thành cảm ơn gia đình đã luôn bên cạnh tôi để động viên và hỗ trợ trong quá trình thực hiện đề tài này

Mặc dù tôi đã rất cố gắng, nhưng tôi tin rằng trong luận văn này vẫn còn nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và những người quan tâm tới đề tài này để luận văn được hoàn thiện thêm

Trang 5

Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước - Nguồn: Binhphuoc.gov.vn

Trang 6

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Câu hỏi nghiên cứu 9

6 Giả thuyết nghiên cứu 9

7 Lý thuyết nghiên cứu 9

8 Phương pháp nghiên cứu 10

10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 11

11 Bố cục luận văn 11

12 Những thuận lợi và khó khăn 12

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14 1.1 Cơ sở lý luận 14

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 14

1.1.2 Lý thuyết và hư ng tiếp cận 14

1.1.2.1 Lý thuyết, quan niệm về tộc người và quá trình tộc người 14

1.1.2.2 Lý thuyết về tiếp biến văn hoá (acculturation) 26

1.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 28

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 28

1.2.1.1 Vị trí địa lý 28

1.2.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng 29

Trang 7

2

1.2.1.3 Rừng 29

1.2.1.4 Khí hậu thủy văn 30

1.2.2 Đặc điểm kinh tế 30

1.2.3 Đặc điểm xã hội 31

1.2.3.1 Dân cư 31

1.2.3.2 Văn hóa - giáo dục - y tế 31

1.2.3.3 Vài nét về người Tà Mun 33

1.3 Tiểu kết Chương I 35

CHƯƠNG II: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI TÀ MUN 37

2.1 Ý thức tộc người và nguồn gốc tộc người 37

2.1.1 Tộc danh 37

2.1.2 Nguồn gốc tộc người 38

2.2 Ngôn ngữ 40

2.3 Đặc trưng văn hóa người Tà Mun 42

2.3.1 Văn hoá vật chất 43

2.3.1.1 Nhà cửa truyền thống 43

2.3.1.2 Trang phục truyền thống 44

2.3.1.3 Ẩm thực truyền thống 46

2.3.1.4 Công cụ sản xuất và đánh bắt 48

2.3.1.5 Vật dụng sinh hoạt truyền thống 50

2.3.2 Văn hóa tinh thần 51

Trang 8

3

2.3.2.1 Tổ chức xã hội truyền thống 51

2.3.2.2 Hôn nhân truyền thống 53

2.3.2.3 Tang ma truyền thống 54

2.3.2.4 Luật tục truyền thống 56

2.3.2.5 Tôn giáo, tín ngưỡng 57

2.3.2.6 Nghi lễ, hội hè truyền thống 59

2.3.2.7 Nghệ thuật dân gian 63

2.4 Tiểu kết Chương II 64

CHƯƠNG III: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NGUỒN GỐC TỘC NGƯỜI VÀ BIỂN ĐỔI BẢN SẮC VĂN HOÁ NGƯỜI TÀ MUN HIỆN NAY 67

3.1 Những yếu tố tác động làm thay đổi nguồn gốc tộc người hiện nay 67

3.1.1 Lãnh thổ tộc người 67

3.1.2 Cơ sở kinh tế tộc người 69

3.1.2.1 Kinh tế sản xuất truyền thống 69

3.1.2.2 Khai thác nguồn lợi tự nhiên 71

3.2 Quá trình tộc người 76

3.2.1 Cấp độ tộc người 76

3.2.2 Quá trình phân ly và quy tụ tộc người 77

3.3 Những nhân tố tác động đến sự sự biến đổi tộc người và văn hoá tộc người 77

3.3.1 Quá trình giao lưu của người Tà Mun v i các tộc người khác 78

3.3.2 Sự tác động của tôn giáo 80

3.3.2.1 Người Tà Mun v i đạo Cao Đài 80

Trang 9

4

3.3.2.2 Người Tà Mun v i đạo Tin Lành 81

3.3.3 Sự tác động của chính sách của Đảng - Nhà nư c 82

3.3.4 Quá trình biến đổi và hội nhập 86

3.3.4.1 Biến đổi về kinh tế hiện nay 86

3.3.4.2 Biến đổi về nhà cửa hiện nay 87

3.3.4.3 Biến đổi về trang phục hiện nay 88

3.3.4.4 Biển đổi về ẩm thực hiện nay 88

3.3.4.5 Biến đổi về tôn giáo hiện nay 89

3.3.4.6 Biến đổi về nghi lễ, hội hè hiện nay 90

3.4 Tiểu kết Chương 3 91

KẾT LUẬN 93

PHỤ LỤC 01: TRÍCH CÁC BIÊN BẢN PHỎNG VẤN 105

Biên bản phỏng vấn số 01 105

Biên bản phỏng vấn số 02 122

Biên bản phỏng vấn số 03 151

PHỤ LỤC 02: CÁC SƠ ĐỒ 167

PHỤ LỤC 03: CÁC BẢNG THỐNG KÊ 169

PHỤ LỤC 04: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NGƯỜI TÀ MUN 179

Trang 10

họ là người Tà Mun, không phải là người Xtiêng Từ đó, người Tà Mun không hài lòng

v i nhà nư c, trong mỗi lần hội họp, các trí thức người Tà Mun thường hay kiến nghị, yêu cầu các cấp chính quyền xem xét lại nguồn gốc, thành phần dân tộc của họ Để giải quyết vấn đề này, mấy năm gần đây, có nhiều báo chí lên tiếng, đề cập đến nguồn gốc của tộc người Tà Mun, đặc biệt ở tỉnh Bình Phư c và Tây Ninh đã tiến hành hội thảo, thực hiện đề tài nghiên cứu cấp tỉnh để xác định lại thành phần tộc người cũng như bản sắc văn hoá người Tà Mun Điều đó thể hiện sự quan tâm của các nhà khoa học, chính quyền địa phương và dư luận xã hội đối v i người Tà Mun Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu như vậy nhưng đến nay những câu hỏi l n xung quanh cộng đồng người Tà Mun vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng Cộng đồng người Tà Mun là một cộng đồng người độc lập trong 54 dân tộc Việt Nam hay họ một nhóm/nhánh của người Xtiêng? Bản sắc văn hóa của người Tà Mun là gì? Từ thực tế nêu trên, tôi nhận thấy, bản thân là người được đào tạo chuyên ngành Nhân học, lại may mắn được sinh sống và công tác tại địa phương, nơi cộng đồng người Tà Mun sinh sống, vì thế nên tôi

chọn đề tài “Nhận diện bản sắc văn hóa của cộng đồng người Tà Mun ở tỉnh Bình

Phước” để làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm góp một phần nhỏ để làm sáng tỏ

những vấn đề vừa nêu trên

2 Mục đích nghiên cứu

Từ tình hình thực tế vừa nêu trên, luận văn này muốn làm rõ hơn vấn đề nguồn gốc tộc người và nhận diện bản sắc văn hóa cộng đồng người Tà Mun cũng như sự

Trang 11

Năm 1990, tác giả M B Kriukov và Trần Tất Chủng có viết bài "Vấn đề

nguồn gốc tộc người Tà Mun" đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 2 năm 1990, có kết

luận rằng ngôn ngữ thân tộc người Tà Mun và người Chơ-ro gần nhau Các tác giả đã

sử dụng phương pháp thống kê từ vựng hệ thống thuật ngữ thân tộc Hệ thống thuật ngữ thân tộc được cho là một hệ thống khép kín, mỗi thuật ngữ là một thành tố của một

cơ cấu thống nhất Các tác giả đã sử dụng sáu thông tín viên người Tà Mun ở các độ tuổi khác nhau gồm cả nam và nữ để thu thập thông tin, sau đó đi đến kết luận rằng ngôn ngữ thân tộc người Tà Mun và người Chơ-ro gần gũi nhau nhất trong các dân tộc nhóm Môn-Khmer

Trong tác phẩm Địa chí Sông Bé do Trần Bạch Đằng (chủ biên) và các tác giả

khác, xuất bản năm 1991 Tác giả Mạc Đường đã nhấn mạnh t i nguồn gốc tộc người, tộc danh, sự tiếp xúc v i đạo Cao Đài của người Tà Mun Tuy nhiên, tác giả Mạc Đường chưa chứng minh rõ người Tà Mun có nguồn gốc từ đâu

Năm 2008, tác giả Nguyễn Văn Minh có bài viết “Tôn giáo, tín ngưỡng của

người Tà-mun” ở tỉnh Bình Phư c đăng trên tạp chí Dân tộc học, số 01, năm 2008 Bài

viết này là kết quả từ chuyến điền dã của tác giả tại tỉnh Bình Phư c vào năm 2005 Bài viết đã đưa ra những thông tin rất chi tiết về tín ngưỡng, tôn giáo bản địa của tộc người Tà Mun, từ quan điểm vũ trụ quan, nhân sinh quan đến tang ma, ma thuật Bài viết cũng nêu lên các tôn giáo m i (đạo Cao đài, đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa) du nhập vào cộng đồng người Tà Mun

Trang 12

7

Năm 2008, có tác giả Phan An và các cộng sự trong đề tài nghiên cứu cấp tỉnh

(tỉnh Tây Ninh) Bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số ở Tây

Ninh (Phan An chủ nhiệm) đã dành một chương viết về người Tà Mun Trong đó, tác

giả đã đề cập một cách khái quát về người Tà Mun như tộc danh, lịch sử tộc người, sinh hoạt kinh tế và đời sống tinh thần của người Tà Mun nói chung và người Tà Mun

ở Tây Ninh nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài là quá trình điền dã của nhóm nghiên cứu tại tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bình Phư c Phương pháp thực hiện chính của đề tài là điền dã Nhân học/Dân tộc học

Năm 2014, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh thực hiện v i đề tài

Nghiên cứu, xác định thành phần dân tộc của nhóm người Tà-mun tại Tây Ninh do tác

giả Võ Hòa Minh và Nguyễn Xuân Châu đồng chủ nhiệm Đây là một công trình nghiên cứu kết hợp giữa các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý, kết hợp phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành như Nhân học, Xã hội học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học Các tác giả tiến hành thu thập dữ liệu trên cả địa bàn tỉnh Tây Ninh và tỉnh Bình Phư c Đề tài đã đề cập đến nhiều vấn đề như nguồn gốc lịch sử; ý thức tự giác tộc người; văn hóa vật chất; văn hóa tinh thần; tổ chức xã hội; những sự biến đổi trong cộng đồng; những giải pháp nhằm bảo tồn các giá trị văn hóa của người Tà Mun … Đề tài đã đưa đến kết luận người Tà Mun tại Tây Ninh là một cộng đồng dân tộc thiểu số

có ngôn ngữ riêng; có bản sắc văn hóa riêng biệt phong phú và đa dạng; có ý thức tự giác dân tộc cao

Năm 2015, Nguyễn Trần Quý đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ Hệ thống

ngữ âm tiếng Tà-mun (có so sánh với ngữ âm tiếng Châu Ro) Luận văn này là một

công trình nghiên cứu Ngôn ngữ học so sánh giữa ngữ âm tiếng Tà Mun và tiếng

Chơ-ro, phương pháp nghiên cứu chủ yếu là so sánh và ngữ âm thực nghiệm Trong luận văn này, tác giả đã đưa ra kết luận rằng ngữ âm tiếng Tà Mun và ngữ âm tiếng Chơ-ro

có mối quan hệ gần gũi v i nhau

Trang 13

8

Cũng trong năm 2015, Phan Trần Công đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ

v i đề tài Vị trí của tiếng Tà-mun trong nhóm Nam Bahnar Luận văn này là một công

trình nghiên cứu Ngôn ngữ học so sánh giữa ngữ âm tiếng Tà Mun và các ngôn ngữ khác trong nhóm Nam Bahnar Luận văn đã đưa nhận định tiếng Tà Mun là thứ tiếng tách ra từ tiếng Chơ-ro, có quan hệ gần nhất là tiếng Chơ-ro, thứ đến là tiếng Xtiêng Hai luận văn nêu trên, là những nguồn tư liệu chính nghiên cứu về tiếng Tà Mun mà tôi

sẽ sử dụng trong phần viết về ngôn ngữ Tà Mun trong luận văn của mình

Tất cả những công trình nghiên cứu trên, mỗi tác giả, mỗi ngành có cách nhìn khác nhau nhưng còn có nhiều ý kiến trái chiều, nhưng chưa thống nhất về nguồn gốc tộc người và bản sắc riêng của tộc người Tà Mun; đặc biệt chưa có sự so sánh, phân biệt được giữa người Tà Mun và người Xtiêng; người Tà Mun v i người Khơ-me hay người Tà Mun v i người Chơ-ro Vậy, làm thế nào để xác định được nguồn gốc tộc người và nhận diện được một cách đầy đủ bản sắc của người Tà Mun là vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa có công trình khoa học nào làm rõ Vì thế những vấn đề này cần phải tiếp tục được nghiên cứu một cách có hệ thống

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa người Tà

Mun ở tỉnh Bình Phư c Cụ thể nghiên cứu bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun

- Phạm vi nghiên cứu: Ở mục này sẽ đề cập hai phần như sau:

+ Không gian nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu của đề tài này là tỉnh Bình

Phư c và tỉnh Tây Ninh Tuy nhiên, nhóm người Tà Mun ở tỉnh Tây Ninh là có nguồn gốc từ người Tà Mun ở tỉnh Bình Phư c di cư qua Vì vậy, địa bàn nghiên cứu trọng tâm của đề tài này vẫn là người Tà Mun ở tỉnh Bình Phư c

+ Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu của đề tài là từ truyền thống đến

hiện tại Xem xét nguồn gốc tộc người, bản sắc văn hoá tộc người gắn v i quá trình hình thành và phát triển tộc người từ quá khứ đến hiện tại

Trang 14

9

5 Câu hỏi nghiên cứu

Để làm sáng rõ nguồn gốc tộc người và bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun trong muối quan hệ giao lưu, tiếp biến v i tộc người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro và người Kinh, luận văn này đặt ra ba câu hỏi chính như sau:

- Người Tà Mun là một tộc người riêng biệt hay là cùng nhóm ngôn ngữ - văn hoá v i tộc người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro?

- Bản sắc văn hoá người Tà Mun là gì? Có điểm nào khác biệt v i văn hoá tộc người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro trong vùng?

- Hiện nay, văn hoá người Tà Mun biến đổi như thế nào trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá v i người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro, Kinh?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Để trả lời ba câu hỏi trên một cách khách quan, khoa học, sâu sắc luận văn này đặt ra ba giả thuyết như sau:

- Người Tà Mun là một nhóm nhỏ của người Xtiêng hoặc người Chơ-ro

- Người Tà Mun là nhóm người hỗn dung giữa người Xtiêng và Chơ-ro

- Người Tà Mun không có bản sắc văn hoá riêng mà bản sắc văn hoá tương tự như văn hoá Xtiêng, Khơ-me và Chơ-ro

7 Lý thuyết nghiên cứu

Để nghiên cứu tộc người và nhận diện bản sắc tộc người Tà Mun, luận văn này tiếp cận quan điểm, lý thuyết về tộc người, quá trình tộc người của các nhà Dân tộc học

Xô Viết như lý thuyết về lịch sử xã hội nguyên thủy của Iu.Sémesnov, lý thuyết tộc người của Iu Vbromlei, hệ thống thân tộc của M.V.Kriukov [1, tr 21]; Các quan điểm

về tộc người, tiêu chí xác định tộc người và quá trình tộc người của các nhà Dân tộc học Việt Nam như Đặng Nghiêm Vạn, Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp [87] … Bên cạnh những lý thuyết trên chúng tôi còn tiếp cận lý thuyết về giao lưu, tiếp biến của

Trang 15

10

những nhà Nhân học Đức, Áo, Mỹ [49] Hệ thống quan điểm, lý thuyết này chúng tôi

sẽ trình bày cụ thể ở phần cơ sở lý luận ở Chương I

8 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này tôi dùng phương pháp của ngành Dân tộc học, Nhân học, chủ yếu là phương pháp điền dã, phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, trải nghiệm lâu dài cùng cộng đồng Phương pháp này giúp tôi thu thập những tư liệu định tính, xây dựng những

dữ liệu m i từ thực địa, kết hợp v i nguồn tư liệu khác để xác định nguồn gốc tộc người và bản sắc văn hóa cộng đồng người Tà Mun

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu của Dân tộc học, Nhân học chúng tôi còn

sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử, đặc biệt sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch đại và đồng đại Nghiên cứu lịch đại là xem xét quá trình hình thành và phát tiển của người Tà Mun như thế nào theo thời gian Đồng đại là xem xét, tộc người Tà Mun

ở không gian, địa bàn khác nhau trên cùng một trục thời gian để phân tích so sánh, tìm

ra mối quan hệ cũng như đặc điểm chung và riêng của các nhóm người Tà Mun, giữa người Tà Mun và người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong văn hóa giữa các tộc người này, từ đó đi đến kết luận bản sắc văn hóa tộc người Tà Mun

Phương pháp phân tích văn bản: Phân tích những câu chuyện kể, huyền thoại, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ; những sách báo viết về người Tà Mun, đặc biệt tư liệu điền dã, phỏng vấn… để tìm ra nguồn gốc và bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun

Bên cạnh ba phương pháp cơ bản trên chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống

kê, chụp ảnh… nhằm để hỗ trợ số liệu và hình ảnh ở thực địa giúp chúng tôi làm sáng

rõ một số vấn đề đặt ra trong luận văn này

Đó là những phương pháp cơ bản mà tôi sử dụng trong luận văn này

9 Nguồn tư liệu:

Có hai nguồn tài liệu chính được sử dụng trong luận văn này:

Trang 16

11

- Tài liệu sách, tạp chí đã xuất bản công bố liên quan đến đề tài luận văn (tiếng Việt và tiếng Anh)

- Tài liệu điền dã dân tộc học được tiến hành chủ yếu trong hai năm (2015-2017)

10 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: Luận văn đóng góp thêm tài liệu Dân tộc học, Nhân học

để xác định thành phần tộc người và nghiên cứu về văn hoá người Tà Mun trong quá trình hình thành và phát triển; quá trình quy tụ và quá trình phân ly của tộc người này

v i các tộc người khác trong vùng Từ đó củng cố về mặt lý thuyết và phương pháp nghiên cứu quá trình phân ly, hoà hợp, cũng như quá trình giao lưu, tiếp biến v i các tộc người cùng khu vực trong bối cạnh hội nhập hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn, góp tài liệu làm cơ sở khoa học để các ngành

chức năng, chính quyền địa phương nhận diện rõ về bản sắc văn hoá của tộc người Tà Mun một cách rõ ràng hơn Trên cơ sở đó, giúp chính quyền địa phương tham khảo, thực hiện đúng chính sách dân tộc, đồng thời có hư ng quy hoạch, đề ra chính sách phù hợp trong việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tộc người Tà Mun ở tỉnh Bình Phư c hiện nay

11 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm ba chương chính, v i những nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu Chương này có

tất cả 22 trang (tr.14 – tr.36) Phần cơ sở lý luận chương này trình bày về các khái niệm, lý thuyết, quan điểm nghiên cứu về tộc người và văn hoá tộc người Phần tổng quan địa bàn nghiên cứu trình bày về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội tỉnh Bình Phư c; trình bày sơ lược lịch sử, nguồn gốc của người Tà Mun

Chương 2: Đặc trưng văn hoá truyền thống của tộc người Tà Mun Chương

này gồm 29 trang (tr.37 – tr.66) Trư c tiên, chương này trình bày về tiêu chí xác định

Trang 17

12

tộc người Tà Mun bao gồm ý thức tộc người, ngôn ngữ và văn hoá Phần bản sắc văn hoá ở chương này, trình bày văn hoá tộc người Tà Mun trên tất cả bình diện văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, có kết hợp so sánh vài nét khác biệt giữa văn hoá tộc người Tà Mun v i văn hoá tộc người Xtiêng, Khơ-me và Chơ-ro Trên cơ sở đó, chương này nhận diện và rút ra những đặc trưng văn hoá truyền thống đặc sắc nhất của người Tà Mun ở Bình Phư c Đây là chương trọng tâm của luận văn

Chương 3: Các yếu tố tác động đến tộc người và sự biến đổi bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun Chương này có 25 trang (tr.67 – tr.92), tập trung đề cập đến

những yếu tố tác động đến tộc người và sự biến đổi bản sắc văn hoá tộc người, đó là: lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế tộc người, hôn nhân và quá trình phân ly, quy tụ, quá trình hội nhập và đồng hoá …Từ những nguyên nhân trên, chương này cũng trình bày kết quả biến đổi văn hoá truyền thống của người Tà Mun trên các lĩnh vực văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa v i tộc người khác

từ xưa đến nay

12 Những thuận lợi và khó khăn

Thuận lợi, trư c hết tác giả được sự giúp đỡ của quý thầy cô và bạn học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, sự ủng hộ của gia đình và đặc biệt là sự hư ng dẫn nhiệt tình của Thầy hư ng dẫn Tác giả cũng là người sinh sống ở Bình Phư c Cộng đồng người Tà Mun ở Bình Phư c và Tây Ninh đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi tiếp xúc, phỏng vấn sâu, khai thác nhiều nguồn tư liệu có giá trị để thực hiện đề tài

Bên cạnh những thuận lợi trên, tác giả còn gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu Trư c tiên, khó khăn về kinh tế, phương tiện đi lại, thêm vào đó là những nhân chứng lịch sử, những nghệ nhân trí thức người Tà Mun đã già, việc nh lại chuyện quá khứ trở nên khó khăn nên đã phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện

Trang 18

13

Nhìn chung, trong quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh những thuận lợi còn có những khó khăn nhất định Vì thế luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy cô và đồng nghiệp cũng như độc giả gần xa đóng góp ý kiến bổ sung

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 01 năm 2018

TÁC GIẢ

Nguyễn Bá Thưởng

Trang 19

Ở nư c ta vẫn sử dụng thuật ngữ “dân tộc” v i hai ý nghĩa Nghĩa thứ thứ nhất

là quốc gia (nation), ví dụ như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái, dân tộc Lào Nghĩa thứ hai là từng tộc người cụ thể (ethnie), ví dụ như: dân tộc Tày, dân tộc Nùng, dân tộc Hoa… [49, tr 100] Trong bài luận văn này tôi sử dụng từ dân tộc v i ý nghĩa thứ hai

là tộc người

- Tộc người là gì?

Tộc người là một tập đoàn người tương đối ổn đinh dựa trên mối quan hệ chung

về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt - văn hóa, trên cơ

sở những mối liên hệ, mỗi tộc người có ý thức về thành phần dân tộc và tên gọi riêng của mình [49, tr 102], [87, tr 20]

- Bản sắc văn hóa là gì?

Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cánh, đường nét, màu sắc, biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại, phát triển dân tộc ấy, đồng thời giúp dân tộc đó giữ vững được tính thống nhất, tính nhất quán, tính độc đáo của bản thân mình trong quá trình phát triển Như vậy ta có thể thấy bản sắc văn hóa của tộc người

là cái đặc trưng tộc người, được hình thành, tồn tại, phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài của tộc người Bản sắc văn hóa là cơ sở để chúng ta phân biệt tộc người này v i tộc người khác [26]

1.1.2 Lý thuyết và hướng tiếp cận

1.1.2.1 Lý thuyết, quan niệm về tộc người và quá trình tộc người

Để nghiên cứu tộc người và nhận diện bản sắc tộc người Tà Mun, luận văn này tiếp cận quan điểm, lý thuyết về tộc người, quá trình tộc người của các nhà Dân tộc học

Trang 21

16

ngôn ngữ của họ Điều đó là dễ hiểu bởi vì bảo vệ ngôn ngữ tức là bảo vệ tính dân tộc của mình, mất ngôn ngữ cũng là một trong những nguyên nhân làm mất chính tộc người đó Cho nên tiếng mẹ đẻ được coi là đặc trưng tộc người không thể thiếu được

và là tiêu chuẩn để xác định tộc người [49, tr 105 - 106]

Ngôn ngữ Tà Mun được các nhà ngôn ngữ xếp vào nhóm ngôn ngữ Môn–Khmer [9], [54] Nhóm Môn–Khmer bao gồm 21 dân tộc là những cư dân bản địa cư trú lâu đời trên bán đảo Đông Dương, cư trú chủ yếu ở miền núi Tây Bắc, miền núi Trường Sơn - Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long Đó là các dân tộc Khơ mú, Kháng, Mảng, Xinh mun, Ơ đu, Bru - Vân Kiều, Tà ôi, Cơ tu, Co, Hrê, Giẻ – Triêng,

Ba na, Xơ đăng, Brâu, Rơ năm, Mnông, Mạ, Cơ ho, Xtiêng, Chơ-ro, Khơ-me [94], [95]

- Văn hóa

Văn hóa được coi là một tiêu chí quan trọng để xác định tộc người Trong nghiên cứu văn hóa cần phân biệt văn hóa của tộc người và văn hóa tộc người Văn hóa của tộc người là tổng thể những thành tựu văn hóa thuộc về một tộc người nào đó, do tộc người đó sáng tạo ra hay tiếp thu, vay mượn của các tộc người khác trong quá trình lịch

sử Văn hóa tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể giúp cho việc phân biệt tộc người này và tộc người khác Chính văn hóa tộc người là nền tảng nẩy sinh và phát triển của ý thức tự giác tộc người Văn hóa tộc người là tổng thể những yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người làm cho tộc người này khác v i tộc người khác Tổng thể những đặc điểm sinh hoạt tộc người làm thành cái mà chúng ta thường gọi là

“truyền thống tộc người” Những truyền thống này được hình thành lâu dài trong lịch

sử gắn liền v i hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường địa lý tự nhiên trong đời sống của từng dân tộc, nhưng sau khi xuất hiện chúng trở nên bền vững và được duy trì lâu dài, thậm chí ngay sau khi hoàn cảnh sống của tộc người đã thay đổi mạnh mẽ [49, tr 108]

Trang 22

ăn cơm, người Hán phương Bắc xưa kia ăn mì, mạch, kê, cao lương, những thứ lương thực ruộng khô, người Việt chế biến thực phẩm bằng cách nư ng, luộc, kho, trong khi người Hán phổ biến cách chiên, xào có nhiều dầu mỡ Người Hán mặc áo cài khuy trái qua nách bên phải trong khi người Việt cài khuy trư c ngực Phụ nữ Việt mặc váy đen, phụ nữ Hán mặc quần [49, tr 109]

Tuy nhiên, để phát hiện những đặc điểm văn hóa tộc người thì chúng ta không chỉ căn cứ vào một vài yếu tố văn hóa nào đó mà phải căn cứ vào tổng thể những đặc điểm văn hóa mang diện mạo tộc người

Trong quá trình phát triển của lịch sử, do quy luật lịch đại và đồng đại chi phối, mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa giữa các dân tộc càng được đẩy mạnh, giao lưu tiếp xúc văn hóa giữa các dân tộc diễn ra ngày càng l n Cho đến hiện nay, không một

Trang 23

18

tộc người nào trên thế gi i còn sống riêng rẽ, biệt lập mà luôn chịu tác động, chi phối của các tộc người khác; đặc biệt ở các dân tộc có số lượng cư dân ít, trình độ phát triển kinh tế, xã hội thấp hơn Hiện tượng này thường thấy ở các dân tộc sống kề cạnh nhau trên một lãnh thổ, những dân tộc nhỏ thường bị đồng hóa về mặt ngôn ngữ chuyển sang tiếng nói của dân tộc khác, nhưng họ vẫn bảo lưu những yếu tố văn hóa đặc thù của dân tộc [49, tr 109]

Nếu một dân tộc mất đi những đặc điểm văn hóa tộc người của mình thì khó tồn tại là một tộc người riêng biệt, quá trình đồng hóa về mặt ngôn ngữ và văn hóa sẽ dẫn

t i các tộc người sẽ mất đi và hòa vào một tộc người khác Ví dụ người La Chí ở bản Déo v i hơn 1.200 người đã quên tiếng mẹ đẻ và sống theo phong tục, làm ăn, sinh sống như người Tày Một số người thuộc các tộc người khác gọi họ là La Chí Tày [87,

tr 30]

Như vậy, chính đặc thù văn hóa tộc người cần được xem xét như là dấu hiệu cơ bản của bất kỳ một tộc người nào, nó cho phép trong mỗi trường hợp phân biệt tộc người này v i tộc người khác Thậm chí, ngay cả ngôn ngữ được coi là nhân tố chủ yếu

để xác định tộc người cũng phải liên kết chặt chẽ v i nền văn hóa tộc người nói ngôn ngữ đó, vì văn hóa tinh thần thể hiện rõ nét trong tiếng mẹ đẻ Người ta thường gọi ngôn ngữ là hình thức tồn tại của văn hóa và coi ngôn ngữ như là một trong những yếu

tố của văn hóa [49, tr 110]

- Ý thức tự giác tộc người

Cùng v i ngôn ngữ, văn hóa ý thức tự giác tộc người là một tiêu chí để xác định tộc người Một tộc người hình thành và tồn tại trong lịch sử là một hiện tượng xã hội thì ý thức tộc người là một yếu tố vô cùng quan trọng khi xác định một tộc người hay một nhóm người thuộc về tộc người nào đó

Ý thức tự giác tộc người là ý thức tự coi mình thuộc về một dân tộc nhất định được thể hiện trong hàng loạt yếu tố: sử dụng một tên gọi tộc người chung thống nhất,

có ý niệm chung về nguồn gốc lịch sử, huyền thọai về tổ tiên và vận mệnh lịch sử của

Trang 24

19

tộc người Ý thức đó được thể hiện trong những đặc điểm văn hóa, cùng nhau tuân thủ theo những phong tục, tập quán, lối sống của tộc người Nếu như ngôn ngữ và văn hóa của tộc người dễ biến đổi do tác động của quá trình giao lưu hội nhập văn hóa thì ý thức tự giác tộc người dường như bền vững và ít thay đổi hơn Ý thức tự giác dân tộc trư c hết thể hiện ở tên gọi (tộc danh) Tên gọi là một đặc tính của dân tộc Một tộc người được hình thành có nhu cầu tự đặt cho mình một tên gọi riêng Tên gọi đó biểu thị sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng mình và dân tộc khác Mỗi khi tính chất cộng đồng thay đổi thì nhu cầu có một tên gọi khác phù hợp v i cộng đồng

m i là một thực tế [49, tr 111]

Tên gọi của tộc người có thể là tên tự gọi do dân tộc đó tự đặt ra Ví dụ người Bru (Vân Kiều) tự gọi mình là Bru (người ở rừng), người Tày tự gọi mình v i cái tên gọi này để chỉ mình là người làm ruộng từ lâu đời (Tày biến âm từ chữ Thay nghĩa là cái cày dùng để cày ruộng) Lòng tự hào về tộc người được thể hiện qua tên gọi, có tác dụng củng cố thêm ý thức tộc người Vì vậy họ không thể chấp nhận những tên gọi miệt thị mà các dân tộc khác đặt cho họ: như Xá, Mán, Mọi, Tày Hãy (người rách rư i) [49, tr 111]

Cùng v i tên gọi, những người cùng một tộc người đều có ý thức về nguồn gốc lịch sử của mình, chính vì thế, dù cư trú biệt lập và sống cách xa nhau họ vẫn nh về lai lịch gốc của mình Ý thức tự giác tộc người còn thể hiện ở cộng đồng tinh thần tộc người, cộng đồng ký ức về nguồn gốc và lịch sử của dân tộc qua huyền thoại và lịch sử [49, tr 112]

Ý thức tộc người còn thể hiện qua cộng đồng các giá trị và biểu tượng của văn hóa dân tộc Người Việt luôn nh và hành hương về đền Hùng – đất tổ để tổ chức giỗ

tổ (quốc lễ) tưởng nh đến các vua Hùng, người khai sinh ra dân tộc Trống đồng, Hồ Gươm, Tháp Rùa, Văn Miếu trở thành những biểu tượng thiêng liêng của văn hóa dân tộc đi vào cuộc sống tâm linh của mỗi người dân

Trang 25

20

Như vậy, trong số các tiêu chí tộc người như ngôn ngữ, văn hóa thì ý thức tự giác dân tộc có sức sống bền vững nhất, vì vậy nó là tiêu chí hàng đầu để xác định một dân tộc và phân biệt dân tộc này v i dân tộc khác Chừng nào ý thức dân tộc mất đi thì dân tộc đó không còn tồn tại Điều này phản ánh rất rõ trong các cuộc kê khai dân số trong trường hợp khi thành phần tộc người và ngôn ngữ, văn hóa không phù hợp v i nhau thì

ý thức tộc người là yếu tố quyết định [49, tr 113]

 Những nhân tố tác động đến tộc người

Những yếu tố tác động đến tộc người bao gồm lãnh thổ tộc người, cơ sở kinh tế, hôn nhân

- Lãnh thổ tộc người

Lãnh thổ tộc người là khu vực phân bố của tộc người, là biểu tượng quy định ranh

gi i giữa tộc người này v i tộc người khác Thông thường một tộc người cư trú trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Lãnh thổ tộc người, trư c hết như là điều kiện hình thành tộc người và cùng v i nó là điều kiện cho việc tái sản xuất tộc người đảm bảo cho mối liên hệ ngôn ngữ, kinh tế, văn hóa giữa các bộ phận của chúng Điều kiện tự nhiên của lãnh thổ tộc người còn ảnh hưởng đến đời sống con người ghi dấu ấn trong hoạt động kinh tế, văn hóa và tâm lý Dĩ nhiên, lãnh thổ tộc người là phạm trù lịch sử,

nó có thể mở rộng hoặc thu hẹp, thậm chí biến mất hoặc có thể được khôi phục lại [49,

tr 113 - 115]

Như vậy, lãnh thổ tộc người là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng trong buổi đầu hình thành tộc người Nhưng trong quá trình lịch sử, lãnh thổ tộc người thường bị biến động do nhiều nhân tố tác động Trong nhiều trường hợp, lãnh thổ tộc người mất tác dụng, vì thế nó không là tiêu chí để xác minh dân tộc hiện nay [49, tr 113 - 115]

- Cơ sở kinh tế của tộc người

Cơ sở kinh tế đóng vai trò quan trọng đối v i sự hình thành và phát triển của các tộc người Tuy nhiên nó không phải là nhân tố bắt buộc để xác định tộc người

Trang 26

21

Một điều hiển nhiên là khi một tộc người dù l n hoặc nhỏ được hình thành, nói một thứ tiếng, điều cần thiết phải sống lâu dài trên một lãnh thổ và phải tiến hành một hoạt động kinh tế để duy trì cuộc sống của cộng đồng Các tài liệu dân tộc học cụ thể

đã chỉ ra một cách xác đáng rằng tất cả các tộc người trong thời kỳ hình thành của nó phải bao gồm những tập thể người có liên hệ v i nhau về kinh tế Tài liệu dân tộc học

về các dân tộc Ôxtralia và Taxmani có một ý nghĩa trong việc nghiên cứu giai đoạn sơ khai của quá trình hình thành tộc người mà ở họ đang giữ những phương thức hoạt động kinh tế như săn bắt, hái lượm, đánh cá trong phạm vi bộ lạc mình Các bộ lạc có những lãnh thổ riêng để hoạt động kinh tế Mặc dù kinh tế của họ là nền kinh tế tự nhiên nhưng vẫn có sự trao đổi hiện vật giữa các tập thể cũng như cá nhân: vũ khí, các công cụ, các đồ dùng khác Điều đó chứng tỏ rằng sự phát triển của những mối quan hệ kinh tế là một trong những nguyên nhân quan trọng hợp thành tộc người [87, tr 26 - 27]

- Nội hôn đồng tộc người

Tộc người là một chỉnh thể tương đối bền vững Tính ổn định của tộc người gắn liền v i hàng loạt các nhân tố Trong số các nhân tố đó, nội hôn được hiểu như là việc kết hôn bên trong nội bộ của tộc người có một vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo tồn tộc người Trái lại, việc vi phạm nội hôn sẽ dẫn đến sự biến đổi tộc người cơ bản Nói chung, hôn nhân hỗn hợp giữa các tộc người là một phương tiện dẫn đến sự hình thành các tộc người m i trên cơ sở hai hay một vài tộc người Ở Việt Nam, người Dao, Nùng, các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn–Khmer ở miền núi phía Bắc do sống xem kẽ v i các dân tộc khác, hôn nhân hỗn hợp giữa các dân tộc đã diễn ra, dẫn t i quá trình đồng hóa tộc người cả về ngôn ngữ, văn hóa và số lượng cư dân của họ bị suy giảm hoặc phát triển chậm [49, tr 117]

 Các cấp độ cộng đồng tộc người

Nếu như tộc người là một đơn vị tộc người cơ bản thì trong tài liệu khoa học bên cạnh thuật ngữ tộc người các nhà khoa học còn sử dụng thuật ngữ cộng đồng tộc người

Trang 27

22

– một khái niệm rộng hơn so v i khái niệm tộc người Trong phân loại các cấp độ của cộng đồng tộc người, các nhà khoa học chia ra ba cấp độ chủ yếu: cộng đồng tộc người thân thuộc (họ hàng) – cấp độ cao nhất, đến tộc người – đơn vị cơ bản và nhóm địa phương – một bộ phận của tộc người có những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa riêng và

có một ý thức về nhóm của mình bên cạnh ý thức chung về tộc người [49, tr 118]

- Cộng đồng tộc người thân thuộc

Cộng đồng tộc người thân thuộc còn được sử dụng bởi những thuật ngữ khác nhau: cộng đồng tộc người cùng nguồn gốc hay cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa Bởi lẽ, cộng đồng tộc người thân thuộc xét về mặt nguồn gốc lịch sử chúng có mối quan hệ nguồn gốc v i nhau và cho đến hiện nay các tộc người này còn duy trì sự gần gũi về ngôn ngữ và văn hóa [49, tr 118]

Trên thế gi i và Việt Nam có nhiều nhóm cộng đồng tộc người thân thuộc Chẳng hạn, cư dân Môn – Khơ me Bắc Trường Sơn gồm các dân tộc Bru – Vân Kiều, Tà ôi,

Cơ tu cư trú gần gũi nhau, sự khác biệt ngôn ngữ giữa họ không l n, họ vẫn thường xuyên nói chuyện dễ dàng v i nhau và còn bảo lưu những nét văn hóa chung thể hiện qua nhà ở, y phục, ăn uống, tín ngưỡng tôn giáo và tổ chức đời sống cộng đồng [49, tr 119]

- Nhóm địa phương

Phân cấp nhỏ hơn, dư i tộc người là các nhóm địa phương Trong quá trình xác minh thành phần dân tộc, một trong những khó khăn gặp phải là việc sắp xếp các nhóm địa phương khác nhau vào một dân tộc và việc xác định ranh gi i giữa một dân tộc và một nhóm địa phương Kết quả của quá trình tộc người hết sức đa dạng và phức tạp, có tộc người bị phân ly trong quá trình lịch sử, có tộc người do quá trình cố kết chưa hoàn thiện, do quá trình giao lưu tiếp xúc hoặc bị đồng hóa bởi người khác tộc, các nhóm địa phương được hình thành là rất khác nhau ở từng địa phương trong cả nư c [49, tr 119]

Trang 28

23

Trư c hết nhóm địa phương là một bộ phận của một tộc người nhất định, còn có những mối quan hệ về lịch sử, ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác của mình về tộc người đó Trong khi đó, đồng thời họ lại thấy sự cần thiết phải cố kết v i nhau thành một nhóm địa phương v i những đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa và có một tên gọi riêng của nhóm Ở các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên, sự tồn tại của các nhóm địa phương là kết quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang ở thời kỳ tan rã của chế

độ công xã nguyên thuỷ bư c sang xã hội có giai cấp và nhà nư c trong những thời kỳ lịch sử trư c đây, vì vậy cố kết tộc người ở mức độ thấp Mặt khác, do quá trình di cư nội bộ hoặc giao lưu tiếp xúc v i các dân tộc kề cạnh gần gũi về ngôn ngữ và văn hóa

đã hình thành các nhóm địa phương mà nhà nghiên cứu phải cố gắng tìm ra lịch sử tộc người của họ qua truyền thuyết, huyền thoại và sự so sánh về những đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa và ý thức m i xác định được họ thuộc tộc người nào

 Quá trình tộc người

- Khái niệm về quá trình tộc người

Cộng đồng tộc người là một hệ thống động và sự thay đổi của chúng tạo nên thực chất của lịch sử tộc người của nhân loại Để phát hiện những nét đặc trưng của nó, việc xem xét sự thay đổi của cộng đồng tộc người hay nói cách khác là quá trình tộc người

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Thật vậy, sự thay đổi bất kỳ của một thành tố tộc người này hay tộc người khác được diễn ra trong quá trình và có thể coi như quá trình tộc người Bên cạnh việc hiểu theo nghĩa rộng, theo quan điểm của chúng ta, quá trình tộc người như là hiện tượng trong sự thay đổi cả ý thức tộc người V i ý nghĩa thực tiễn, quá trình tộc người ghi nhận chủ yếu như sự thay đổi những thuộc tính tộc người Gi i hạn trong hai quan điểm chỉ ra trên đối v i việc giải thích quá trình tộc người, trường hợp thứ nhất phản ánh sự thay đổi mang tính tiến hóa tộc người, trường hợp thứ hai là quá trình quá độ chuyển sang trạng thái tộc người hoàn toàn m i

Trang 29

24

Trong trường hợp thứ nhất, diễn ra sự thay đổi các thành tố riêng mang tính chất tiến hóa của hệ thống tộc người, nó không dẫn t i sự phá huỷ hệ thống nói chung, tộc người vẫn còn được giữ lại Quá trình tộc người thuộc loại này gọi là quá trình tiến hóa tộc người

Quá trình tộc người gắn liền v i sự đứt đoạn dần dần v i sự quá độ chuyển sang một tộc người m i có thể gọi là quá trình biến thể tộc người Nói chung quá trình tộc người dư i dạng tiến hóa hay biến thể bao gồm tất cả những sự thay đổi đang diễn ra

v i tộc người

- Những quá trình tộc người trong lịch sử

Như đã chỉ ra, việc nghiên cứu lịch sử các tộc người trên thế gi i có hai kiểu loại hình cơ bản của quá trình tộc người là quá trình phân ly tộc người và quá trình hợp nhất tộc người

+ Quá trình phân ly tộc người

Quá trình phân ly tộc người được chia làm hai loại hình cơ bản: quá trình chia nhỏ và quá trình chia tách Thuộc loại hình thứ nhất, một tộc người thống nhất được chia ra làm nhiều bộ phận khác nhau, những bộ phận này trở thành những tộc người

m i trong quá trình phân li Trường hợp thứ hai là từ một bộ phận nhỏ tộc người gốc nào đó được chia tách ra dần dần trở thành một tộc người độc lập Nếu như trong trường hợp thứ nhất, tộc người xuất phát ngừng sự tồn tại của mình thì trong trường hợp thứ hai tộc người gốc vẫn tiếp tục được giữ lại Loại hình chia tách tộc người được chia ra làm hai tiểu loại hình phụ thuộc vào những nhân tố tạo nên sự phân ly tộc người Một bộ phận nhỏ tách khỏi tộc người gốc do quá trình di cư đến một vùng đất

m i gọi là quá trình chia tách tộc người di cư Nếu như nhân tố cơ bản của quá trình chia tách tộc người là sự phân chia số đông tộc người giữa các quốc gia thì gọi là sự phân ly tộc người chính trị [49, tr 122]

Trang 30

25

Hiện nay trên thế gi i do sự phát triển của chủ nghĩa dân tộc, sự khác biệt tôn giáo vẫn thấy tình trạng có những dân tộc tuy cùng chung một nguồn gốc lịch sử nhưng lại muốn tách ra để hình thành các quốc gia và dân tộc riêng biệt [49, tr 123]

+ Quá trình hợp nhất tộc người

Xu hư ng hợp nhất tộc người đặc trưng và chiếm ưu thế cho các thời kỳ lịch sử

từ khi chế độ công xã nguyên thủy tan rã cho t i hiện nay Quá trình này phản ánh xu thế tiến bộ mang tính qui luật lịch sử nói chung dẫn t i sự củng cố các tộc người Xu

hư ng hợp nhất tộc người được chia làm ba loại hình riêng: quá trình cố kết hay kết hợp (consolidaton), quá trình đồng hóa (assimilation) và quá trình hòa hợp (integration)

Quá trình cố kết tộc người: quá trình cố kết tộc người được chia ra làm hai loại:

cố kết trong nội bộ từng tộc người và cố kết giữa các tộc người gần gũi nhau về mặt ngôn ngữ và văn hóa để dẫn đến hình thành một cộng đồng tộc người l n hơn Cố kết trong nội bộ tộc người là sự tăng cường kết gắn chặt chẽ một tộc người bằng cách gạt

bỏ dần sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của các nhóm địa phương, củng cố ý thức

tự giác tộc người nói chung Cùng v i quá trình cố kết trong nội bộ tộc người là quá trình cố kết giữa các tộc người vốn có chung nguồn gốc từ cộng đồng ngôn ngữ văn hóa trong quá khứ Sự phát triển của quá trình cố kết giữa các tộc người trong nhiều trường hợp là sự phủ định biện chứng quá trình phân ly tộc người trư c đây [49, tr 123

- 124]

Quá trình đồng hóa tộc người: quá trình đồng hóa tộc người là quá trình hòa tan

(mất đi) của một dân tộc hoặc một bộ phận của nó vào môi trường của một dân tộc khác Nói cách khác, đồng hóa là quá trình mất đi hoàn toàn hay gần hết thuộc tính của tộc người (nhóm) xuất phát vào một dân tộc khác Trong quá trình đồng hóa dân tộc có

đồng hóa tự nhiên khác v i đồng hóa cưỡng bức [49, tr 125 – 126]

Quá trình hội nhập giữa các tộc người: quá trình hội nhập giữa tộc người

thường diễn ra ở các dân tộc khác nhau về ngôn ngữ văn hóa, nhưng do kết quả của

Trang 31

26

quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa lâu dài trong lịch sử đã xuất hiện những yếu tố văn hóa chung bên cạnh đó vẫn giữ lại những đặc trưng văn hóa của tộc người Quá trình này thường diễn ra ở các khu vực lịch sử-văn hóa hay trong phạm vi của một quốc gia

đa dân tộc Đây cũng là biểu hiện của quá trình xích lại và hợp nhất các dân tộc Quá trình hội nhập tộc người là xu thế lịch sử do sự giao lưu tiếp xúc kinh tế, văn hóa - xã hội ngày càng đẩy mạnh ở các vùng, các quốc gia và cả khu vực Đây cũng là sự phủ định biện chứng quá trình phân ly tộc người để tạo nên tính thống nhất chung [49, tr

126 – 127]

1.1.2.2 Lý thuyết về tiếp biến văn hoá (acculturation)

Thuật ngữ “Tiếp biến văn hoá” (acculturation) được các nhà khoa học Việt Nam dịch thành nhiều thuật ngữ khác nhau như: Hỗn dung văn hóa, (Nguyễn Đức Từ Chi),

Văn hóa hóa (Nguyễn Khắc Viện), Đan xen văn hóa (Trần Quốc Vượng), Giao hòa văn hóa (Hoàng Ngọc Hiến), Tương tác văn hóa (Hữu Ngọc), Tiếp biến văn hóa –

nghĩa là tiếp xúc và biến đổi văn hóa (Hà Văn Tấn) v.v…

Ở đây để gần gũi hơn v i chuyên ngành và đề tài luận văn của mình, chúng tôi tiếp cận thuật ngữ “Tiếp biến văn hoá” (acculturation) của nhà Nhân học Mỹ như sau:

“Tiếp biến văn hoá” (acculturation) là một thuật ngữ được dùng bắt đầu vào thế kỷ XIX để mô tả quá trình thích nghi và biến đổi của nền văn hoá trong quá trình tiếp xúc văn hoá (culture contact) hoặc giao lưu văn hoá (culture exchange) Đến những năm 30 của thế kỉ XIX, thuật ngữ này được phát triển sâu hơn bởi những nhà Nhân học Mỹ nghiên cứu về sự biến đổi văn hoá - xã hội và sự cáo chung của một nền văn hoá Họ

định nghĩa "tiếp biến văn hoá" như là kết quả của hiện tượng xảy ra khi mà hai nhóm

người /hai dân tộc tiếp xúc với nhau ban đầu tạo ra sự biến đổi mô thức của cả hai nền văn hoá gốc của hai nhóm đó” [5, tr.1 và 67]

Khái niệm tiếp biến văn hóa (acculturation) trên cũng được Hà Văn Tấn đề cập tương đối đầy đủ như sau:

Trang 32

27

Tiếp biến văn hóa (acculturation) là “hiện tượng xảy ra khi những nhóm người

có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” Khái niệm này ban đầu được các

nhà Nhân học văn hóa người Mỹ dùng chủ yếu nghiên cứu quá trình tiếp xúc giữa văn hóa người Anđiéng và văn hóa Âu Châu [65, tr.165 - 166]

Ngoài định nghĩa nêu trên, các nhà Nhân học còn chỉ ra rằng: tiếp biến văn hoá là kết quả của sự giao lưu, tiếp xúc văn hoá Đây là hiện tượng xảy ra phổ biến trong nền văn hoá nhân loại Kết quả của sự tiếp biến văn hoá luôn phụ thuộc vào hai yếu tố: nội sinh và ngoại sinh

Về mức độ tiếp nhận yếu tố ngoại sinh cũng có hai dạng: tự nguyện tiếp nhận

và cưỡng bức tiếp nhận từ nền văn hoá bên ngoài

Loại hình tiếp nhận ngoại sinh (văn hoá bên ngoài) cũng có hai mức độ khác nhau:

- Tiếp nhận đơn thuần (yếu tố ngoại sinh nổi trội): giống như hình thức vay mượn là tương đối phổ biến trong mọi chủ thể văn hóa

- Tiếp nhận sáng tạo (yếu tố nội sinh nổi trội): là sự tiếp nhận có sự kiểm soát

của lý trí Hình thức tiếp nhận này có ba mức độ: i) Không tiếp nhận toàn bộ mà chỉ chọn lấy những giá trị thích hợp cho chủ thể; ii) Tiếp nhận cả hệ thống nhưng đã có sự sắp xếp lại theo quan niệm giá trị của chủ thể văn hóa; iii) Mô phỏng và phổ biến một

số thành tựu của văn hóa tộc người khác qua lăng kính của tộc người chủ thể

Cuối cùng kết quả của “tiếp biến văn hoá” (acculturation) thường làm cho một

số nền văn hoá dân tộc phát triển, phong phú và da dạng nếu dân tộc đó có yếu tố nội sinh mạnh, có sức sáng tạo riêng và biết dunh hoà giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh Ngược lại, nếu các dân tộc tiếp thu văn hoá bên ngoài một cách thụ động, yếu tố ngoại sinh lấn áp thì văn hoá dân tộc đó sẽ bị đồng hoá

Trang 33

28

Do vậy, những nhà nhân học Mỹ chỉ ra, khi nghiên cứu trường hợp “Tiếp biến văn hoá” (acculturation) nhà nhân học phải đi tìm ranh gi i văn hoá riêng ngay từ buổi đầu khi giữa hai nhóm dân tộc này tiếp xúc v i nhau và cố gắng mô tả, bóc tách, phân tích sự biến đổi văn hoá (cũng như kinh tế, xã hội và cấu trúc chính trị) giữa hai dân tộc đó Trong đó, chú ý đến sự vay mượn, sự ảnh hưởng một một chiều; quá trình vay mượn, dung hoà, sáng tạo; và quá trình đồng hoá [5, tr.1]

Từ những lý thuyết, quan điểm cũng như các khai niệm vừa nêu trên, chúng tôi nhận diện bản sắc văn hoá tộc người Tà Mun trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá v i người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro và người Kinh ở cùng khu vực

1.2 Tổng quan địa bàn nghiên cứu

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Bình Phư c có diện tích 6.871,5 km², dân số toàn tỉnh là 944.400 người Bình Phư c gồm 111 xã, phường, thị trấn, thuộc 8 huyện, 3 thị xã1

Phía bắc và tây bắc tỉnh Bình Phư c giáp đất nư c Campuchia, chiều dài biên

gi i khoảng 260,4 km v i 11 xã vùng biên thuộc các huyện Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh Phía tây tỉnh Bình Phư c giáp huyện Tân Châu và huyện Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh v i ranh gi i tự nhiên là sông Sài Gòn Phía đông tỉnh Bình Phư c giáp các huyện Cát Tiên, huyện Đạ Tẻh của tỉnh Lâm Đồng v i ranh gi i tự nhiên là sông Đồng Nai và huyện Đăk RLấp của tỉnh Đắk Nông Phía nam và đông nam tỉnh Bình Phư c giáp v i các các huyện Phú Giáo, Bàu Bàng, Dầu Tiếng của tỉnh Bình Dương, và các huyện Tân Phú, Vĩnh Cửu của tỉnh Đồng Nai [97]

1 Theo Niên giám thống kê Việt Nam năm 2015

Trang 34

29

1.2.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Tỉnh Bình Phư c vừa có đặc tính trung du, đồng bằng vừa mang dáng dấp cao nguyên, địa hình thoải, lượn sóng, ít bị đứt gãy sâu, nghiêng theo hư ng đông bắc - tây nam Địa hình đồi và đồi thấp có ở huyện Lộc Ninh, H n Quản, Bù Đốp và thị xã Đồng Xoài Địa hình đồng bằng xen kẽ đồi thoải chiếm khoảng 1/3 diện tích, có ở vùng phía tây gồm các huyện Lộc Ninh, Bù Đốp, Chơn Thành, Bình Long, H n Quản Ngoài ra, tỉnh Bình Phư c còn có địa hình thung lũng, bồn trũng và đầm lầy Dạng địa hình này phân bố rải rác khắp tỉnh, tạo nên các hồ đầm rộng [97]

Tỉnh Bình Phư c có bảy nhóm đất, trong đó nhóm đất đỏ vàng có tỷ trọng cao nhất, chiếm khoảng 80% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, kế đến là nhóm đất xám chiếm khoảng 13%, nhóm đất dốc tụ chiếm khoảng 3%, còn lại là nhóm đất đen, nhóm đất phù sa và cuối cùng là nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá Nhóm đất đỏ vàng có mặt ở tất cả các huyện, thị của tỉnh Bình Phư c, đặc điểm loại đất này tơi xốp, chua vừa, có khả năng thấm nư c, giữa ẩm tốt và có hàm lượng dinh dưỡng từ trung binh trở lên [78, tr 107]

1.2.1.3 Rừng

Bình Phư c là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung bộ xuống đồng bằng Tây Nam bộ, nhìn chung địa hình Bình Phư c tương đối bằng phẳng nhưng độ cao và

độ dốc biến động l n, phân bố không đều, phong phú về địa mạo, một số nơi địa hình

bị chia cắt, gồm dạng địa hình đồng bằng và bán đồng bằng, trung du, đồi bát úp, núi thấp, cao nguyên thấp Bình Phư c là một tỉnh trung du miền núi nhưng địa hình không phức tạp, phần l n diện tích tỉnh Bình Phư c là đồi đất đỏ bazan nối tiếp nhau, có địa hình tương đối thoải lượng sóng nhẹ v i đỉnh bằng Độ cao trung bình chung của tỉnh không vượt quá 200m Ư c tính năm 2012, diện tích rừng được chăm sóc bảo vệ 26,95 km2, giảm 10,1% so v i cùng kỳ năm trư c, diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh là 115 ha, đạt kế hoạch, hằng năm 2011, diện tích rừng được giao khoán bảo vệ 32.183 ha, đạt kế hoạch, giảm 1,9% so v i năm 2011 Tính đến tháng ngày 31 tháng 10

Trang 35

30

năm 2012, các ngành chức năng đã phát hiện 65 vụ khai thác rừng trái phép, 213 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 178 vụ mua, bán, cất giữ, chế biến kinh doanh lâm sản trái pháp luật, 79 vụ phá rừng làm thiệt hại 35,42 ha rừng Hiện nay, rừng Bình Phư c đã cạn kiện, một phần nông - lâm trường nhà nư c quản lý, một phần dân quản

lý [102]

1.2.1.4 Khí hậu thủy văn

Bình Phư c nằm trong khu vực khí hậu cận xích đạo điển hình, tương đối ôn hòa, ít biến động, lượng mưa dồi dào, độ ẩm cao Mỗi năm có hai mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài khoảng từ 6 đến 7 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch), lượng mưa l n nhất vào các tháng 7, tháng 8 và tháng 9 Thời gian còn lại trong năm là mùa khô Nhiệt độ bình quân trong năm cao đều và ổn định từ 23 ⁰C - 26,2 °C Bình Phư c có gần 100 con sông suối và là nơi bắt nguồn của nhiều sông suối Bình Phư c

có 3 con sông l n chảy qua: sông Bé, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai [78]

1.2.2 Đặc điểm kinh tế

Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng hàng năm Cơ cấu nông nghiệp của tỉnh chuyển biến theo hư ng sản xuất hàng hóa, khoa học kỹ thuật, nâng cao giá trị sản phẩm, khai thác lợi thế đất đai, đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, đặc biệt là cao su, tiêu, điều Tỉnh Bình Phư c có một số sản phẩm công nghệp chủ yếu như sản xuất chế biến thực phẩm, chế biến gỗ, các sản phẩm từ tre nứa, sản xuất kim loại, điện, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn Các ngành công nghiệp tỉnh Bình Phư c đã khai thác được các thế mạnh về nguyên liệu và nhân lực địa phương [79] Trên địa bàn tỉnh hiện có 13 khu công nghiệp (diện tích hơn 4.686 ha), tập trung chủ yếu ở huyện Chơn Thành, H n Quản, Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài [101]

Cán cân thương mại hàng năm của tỉnh luôn ở mức xuất siêu Các sản phẩm xuất khấu chuyển dịch từ sản phẩm nông nghiệp sang hư ng gia tăng sản phẩm công nghiệp như hàng điện tử, dệt may Các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng,

Trang 36

số thuộc 42 dân tộc khác nhau, trong đó người Xtiêng là đông nhất v i 87.000 người, người Tày và người Nùng v i khoảng 25.000 người/dân tộc, kế đến là người Khơ-me

v i khoảng 16.000 người, Mnông là khoảng hơn 9000 người Trong đó, người Xtiêng tập trung đông nhất ở huyện Bù Đăng, Phư c Long, Bình Long, H n Quản Người Khơ-me tập trung đông nhất ở huyện Lộc Ninh, nhiều nhất là xã Lộc Khánh và xã Lộc Hưng Người M’nông tập trung đông tại xã Đắk Nhau và xã Bom Bo thuộc huyện Bù Đăng

Ban Tôn giáo tỉnh Bình Phư c cho biết, toàn tỉnh Bình Phư c có 8 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân gồm: Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hồi giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và đạo Ba Ha, v i 263

cơ sở tôn giáo và hơn 221.000 tín đồ

1.2.3.2 Văn hóa - giáo dục - y tế

Tỉnh Bình Phư c là địa bàn cư trú lâu đời của các cư dân người Xtiêng, Mnông,

Mạ, Tà Mun Bình Phư c có hàng loạt các địa danh, di tích, chứng tích lịch sử như Phú Riềng Đỏ (huyện Bù Gia Mập), sóc Bom Bo (huyện Bù Đăng), Nhà giao tế Lộc Ninh (huyện Lộc Ninh) …Đa số các làng bản, khu dân phố đều công nhận là làng, phố văn hoá Ngoài ra tỉnh còn có nhiều lễ hội đặc sắc như Liên hoan văn hóa các dân tộc thiểu số, lễ hội cầu mưa, lễ bỏ mả, lễ mừng lúa m i, lễ hội Miếu Bà

Trang 37

Các dân tộc Khơ-me, Xtiêng, Tà Mun, Mnông trong quá trình tồn tại và thích nghi v i môi trường sinh sống đã đúc kết những bài thuốc, cây thuốc quý trong việc chữa bệnh, côn trùng cắn, sốt rét, mụn nhọn, ghẻ lở, chăm sóc sản phụ, trật kh p, bong gân… Sau này, nền y học của Phương Tây xuất hiện ở Bình Phư c vào thời Pháp v i việc xây dựng các bệnh viện Lộc Ninh và Phú Riềng, v i mục đích phục vụ cho các đồn điền cao su Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, đội ngũ bác sỹ, y tá, dược sĩ được bố trí lại trên địa bàn tỉnh, đội ngũ y bác sỹ này vừa phục vụ kháng chiến vừa phục vụ nhân dân, từ đó chia làm hai bộ phận quân y và dân y Sau giải phóng, hệ thống y tế toàn tỉnh được hoàn thiện từ xã đến tỉnh và nâng cao về chất lượng, số lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân [79]

Ngày nay, y tế và giáo dục ngày càng phát triển Năm học 2011 đến 2012 toàn tỉnh có 429 trường học và 6.558 l p Toàn tỉnh có 26/111 xã, phường, thị trấn được huyện, thị xã công nhận phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi, 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99,7% Đặc biệt năm học vừa qua tỷ lệ học sinh bỏ học các cấp giảm chỉ còn 0,5% (giảm so v i các năm trư c từ 2-3%) Năm học 2012-2013, toàn tỉnh có

447 trường và 7.823 l p, 217.476 học sinh Cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác tại các trường trên toàn tỉnh đạt 15.304 cán bộ Về cơ sở vật chất không xảy ra tình trạng

Trang 38

để rời bỏ nơi mình sinh sống do nhiều lý do như dịch bệnh, do chính sách dồn dân để

lập đồn điền cao su của Pháp, do chiến tranh phải “chạy giặc” Sau nhiều lần biến

động về quá trình cư trú tộc người, hiện nay tộc người Tà Mun sống tại tỉnh Tây Ninh

và tỉnh Bình Phư c Tại tỉnh Tây Ninh họ sống tập trung tại thành phố Tây Ninh, huyện Tân Châu, huyện Tân Biên, huyện Dương Minh Châu Còn tại tỉnh Bình Phư c

họ sống tập trung tại xã Tân Hiệp, huyện H n Quản, tỉnh Bình Phư c [2], [96]

Người Tà Mun cho rằng khu vực sinh sống xa xưa của tộc người của họ là khu vực xã Tân Hiệp, huyện H n Quản, tỉnh Bình Phư c Những người l n tuổi cho biết khi họ sinh ra đã thấy các thế hệ cha ông sinh sống trên vùng đất này Người Tà Mun ở Tây Ninh là do người Tà Mun ở Bình Phư c đi cư qua v i nhiều lý do khác nhau trong

quá trình lịch sử Người Tà Mun ở Tây Ninh gọi Sóc 5, xã Tân Hiệp là “bên xứ” và gọi người Tà Mun ở Sóc 5 là “người bên xứ” Vì vậy, có thể nói khu vực Sóc 5, xã Tân

Hiệp là nơi xuất phát của người Tà Mun Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ xã Tân Hiệp cũng có ghi nhận “trước năm 1975, vùng đất Tân Hiệp còn hoang sơ, xã hội hầu như chưa phát triển, dân số ít chủ yếu là đồng bào người Tà Mun sinh sống, với khoảng 50 hộ dân sống quây quần tại

ấp 1, tổ Bàu Lùng, Tổ Lái Minh, sóc sa Chất” [13, tr 17]

- Dân số và địa bàn cư trú của người Tà Mun

Hiện nay, tại địa bàn hai tỉnh Bình Phư c và Tây Ninh cộng đồng người Tà Mun được chính quyền đồng nhất v i người Xtiêng và gọi là người Xtiêng Vì người

Tà Mun không được xác định là một dân tộc riêng biệt cho nên không số liệu thống kê chính thức về dân số và địa bàn cư trú của họ

Trang 39

34

Theo thống kê cuối năm 2014, của Chi cục Thống kê huyện H n Quản cho thấy trong toàn huyện có 4.590 hộ v i 20.981 khẩu thuộc 10 dân tộc thiểu số (Xtiêng, Khơ-

me, Hoa, Tày, Nùng, Mường, Thái, Chăm, Giáy, Sán Chay - Sán Dìu) Người Xtiêng

v i 4.046 hộ v i 18.764 khẩu (trong đó bao gồm số liệu thống kê người Tà Mun) Còn theo Ban Dân tộc tỉnh Bình Phư c cho biết thì người Xtiêng trên địa bàn tỉnh năm

2016 ư c khoảng 87.000 người (trong đó bao gồm số liệu thống kê người Tà Mun)

Như vậy, dựa vào số liệu thống kê dân số trên cho thấy, hiện nay chính quyền địa phương không xem người Tà Mun là một tộc người riêng biệt mà xếp người Tà Mun chung vào người Xtiêng

Để đi tìm và xác định dân số người Tà Mun hiện có (cả Bình Phư c và Tây Ninh), chúng tôi tiến hành thu thập các số liệu dựa các công trình nghiên cứu đã được công bố và số liệu do chính quyền địa phương cung cấp cho tôi trong quá trình điền dã

Trên địa bàn tỉnh Bình Phư c có 245 hộ v i 1.238 khẩu người Tà Mun Họ sống tập trung tại xã Tân Hiệp, huyện H n Quản Người Tà Mun ở xã Tân Hiệp có khoảng 20% người dân Tà Mun có đất canh tác v i diện tích từ một đến ba ha, còn lại là những

hộ thiếu hoặc không có đất canh tác Người Tà Mun là cán bộ, tri thức rất ít, toàn xã chỉ có một người Tà Mun tham gia chính quyền cấp xã Trẻ em người Tà Mun tham gia học ở bậc tiểu học đông đủ nhưng càng về sau càng r t ở các cấp (học sinh cấp ba chưa đến 10 em) Tín ngưỡng truyền thống của người Tà Mun là tín ngưỡng đa thần (các vị nhiên thần), ngoài ra người Tà Mun còn theo các tôn giáo m i là đạo Cao Đài, Tin Lành, Thiên Chúa Giáo.2

Người Tà Mun ở Tây Ninh hiện nay sống tập trung tại một số huyện, thành phố sau:

- Thành phố Tây Ninh có 114 hộ v i 466 khẩu, tập trung tại các xã: Ninh Thanh, Thạnh Tân, Tân Bình

2

Số liệu do chính quyền xã Tân Hiệp cung cấp năm 2015

Trang 40

35

- Huyện Tân Châu có 180 hộ v i 856 khẩu, tập trung tại xã Tân Thạnh

- Huyện Tân Biên có 23 hộ v i 98 khẩu tập trung tại xã Trà Vong và Tân Phong

- Huyện Dương Minh Châu có 69 hộ v i 289 khẩu tại xã Suối Đá [2, tr 121] Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Tà Mun, có người cho rằng người Tà Mun tách ra từ nhóm người Chơ-ro, có ý kiến cho rằng họ là người Xtiêng nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Khơ-me, cũng có ý kiến dung hợp cho rằng họ là cộng đồng hỗn hợp Xtiêng và Chơ-ro đã tiếp thu sâu sắc văn hóa của người Khơ-me và người Kinh

Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc người Tà Mun, nhưng có thể khẳng định người Tà Mun là những cư dân sống lâu đời trên tỉnh Bình Phư c Họ đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng và thống nhất trong cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, đóng góp vào sự khai phá, giải phóng, phát triển và bảo vệ vùng đất Bình Phư c

1.3 Tiểu kết Chương I

Về cơ sở lý luận chúng tôi nhận thấy, lý thuyết, quan niệm tiếp cận nghiên cứu

về tộc người, quá trình tộc người, giao lưu văn hoá tộc người của các nhà Dân tộc học

Xô Viết và Việt Nam cũng như lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hoá của các nhà Nhân học Đức, Áo, Mỹ rất có ưu thế để nghiên cứu tộc người Tà Mun trong bối cảnh hiện nay Có thể nói đó là những hệ thống lý thuyết, quan điểm chiếm ưu thế nổi bật nhất trong hệ thống lý thuyết nghiên cứu về tộc người từ trư c đến nay Hệ thống lý thuyết này sẽ được xem xét ứng dụng để xác định thành phần tộc người Tà Mun và nhận diện bản sắc văn hóa tộc người Tà Mun trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hoá v i các tộc người Xtiêng, Khơ-me, Chơ-ro và Kinh

Về tổng quan địa bàn nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: điều kiện tự nhiên, sinh thái môi sinh (khí hậu, đất đai, rừng, thuỷ văn) ở tỉnh địa bàn tỉnh Bình Phư c phong phú, đa dạng Do vậy nơi đây trở thành nơi sinh tụ của các dân tộc thiểu số, trong đó đông nhất là nhóm dân tộc mang ngữ hệ ngôn ngữ Môn-Khmer Trải qua quá

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm