1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn học thiếu nhi ở nam bộ từ đầu thế kỷ xx đến 1945

194 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, sáng tác của các tác giả đã được tập hợp và in thành cuốn riêng biệt như những tác phẩm của Việt Đông, Trương Vĩnh Ký, Ôn như Nguyễn Văn Ngọc… Điều này chứng tỏ văn học thiế

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số ngành: 60.22.01.21 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Bùi Thanh Truyền

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi chân thành cảm ơn:

Quý thầy cô trong Khoa Văn học đã giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn;

PGS.TS Bùi Thanh Truyền đã nhiệt tình chỉ dẫn, góp ý cho tôi trong suốt quá thực hiện luận văn;

Quý thầy cô, đồng nghiệp của khoa Ngữ văn Trường Đại học Thủ Dầu Một, bạn bè, gia đình luôn giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Xin ghi ơn những tấm lòng đã giúp đỡ, động viên, chia sẻ những khó khăn, vui buồn trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận vặn này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Đóng góp của đề tài 9

6 Kết cấu của luận văn 10

7 Quy ước trình bày 11

NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1 VĂN HỌC VIẾT CHO THIẾU NHI TRONG VĂN HỌC NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN 1945 12

1.1 Quan niệm về văn học thiếu nhi 12

1.1.1 Khái niệm văn học thiếu nhi 12

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học thiếu nhi 14

1.2 Khái quát về văn học thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám 1945 19

1.2.1 Một bộ phận văn học đang chuyển động và dần định hình 19

1.2.2 Một bộ phận văn học bước đầu đạt được những thành tựu nhất định 25

1.3 Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 – dòng riêng giữa nguồn chung 27

1.3.1 Diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX đến 1945 27

1.3.2 Mảng sáng tác cho thiếu nhi trong đời sống văn học Nam Bộ 45 năm đầu thế kỉ XX 31

CHƯƠNG 2 VĂN HỌC THIẾU NHI Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN 1945 NHÌN TỪ NỘI DUNG PHẢN ÁNH 42

2.1 Bức tranh chân thực về đời sống trẻ em 42

2.1.1 Đời sống với sự phân cực giàu - nghèo 42

2.1.2 Đời sống hồn nhiên và đầy ắp ước mơ 46

2.1.3 Đời sống trong mối quan hệ đa chiều của xã hội 50

2.1.4 Những bài học đầu đời trên con đường hoàn thiện nhân cách 53

2.2 Hiện thực xã hội Nam Bộ trong bước ngoặt chuyển mình 57

2.2.1 Sự nỗ lực lưu giữ những giá trị truyền thống 57

2.2.2 Sự chi phối của yếu tố hiện đại 67

Trang 5

2.3 Phác thảo sinh động về thế giới nhân vật 72

2.3.1 Nhân vật trẻ em 72

2.3.2 Nhân vật người lớn 80

2.3.3 Nhân vật loài vật 86

CHƯƠNG 3 VĂN HỌC THIẾU NHI Ở NAM BỘ TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN 1945 NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN 93

3.1 Nghệ thuật dụng ngôn 93

3.1.1 Ngôn ngữ đối thoại 93

3.1.2 Ngôn ngữ kể 96

3.1.3 Ngôn ngữ tả 98

3.2 Nghệ thuật khắc hoạ tính cách nhân vật 100

3.2.1 Qua nghệ thuật đặt tên 101

3.2.2 Qua nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động 106

3.3 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 111

3.3.1 Cốt truyện tự nhiên 111

3.3.2 Cốt truyện nghệ thuật 115

3.4 Nghệ thuật xây dựng thời gian và không gian 119

3.4.1 Thời gian nghệ thuật 119

3.4.2 Không gian nghệ thuật 129

KẾT LUẬN 138

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đã có bước chuyển mình mạnh mẽ với những cách tân, đổi mới từ hệ thống thể loại, quan niệm văn học đến nội dung phản ánh Chính sự du nhập văn hoá Tây phương kết hợp với sự ra đời, ăn sâu và bám rễ của chữ Quốc ngữ cùng với phương tiện truyền tải hữu hiệu là báo chí đã làm nên sự khác biệt của văn học Việt Nam giữa hai giai đoạn văn học trước và sau thế kỉ XX

Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến 1945 luôn được đánh giá là sôi động, hấp dẫn nhất trong dòng chảy văn học nước nhà, đồng thời cũng nhận được sự quan tâm lớn từ phía độc giả và các nhà nghiên cứu Giai đoạn này với sự đóng góp của báo chí và phong trào dịch thuật, cùng với sự truyền bá rộng rãi chữ Quốc ngữ đã có tác động quan trọng tới sự hình thành tầng lớp công chúng văn học [96, Tr.78] Từ đó, văn học giai đoạn này có những bước đột phá trong lực lượng sáng tác, thể loại và nội dung các tác phẩm Điều này cũng thể hiện khá rõ qua diện mạo văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Nơi xuất hiện lượng sáng tác đông đảo với các tác giả tiêu biểu như: Trần Chánh Chiếu, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Trọng Quản, Trần Phong Sắc, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Biến Ngũ Nhy, Việt Đông, Viên Hoành, Hồ Văn Hảo, Đông Hồ, Trần Quang Nghiệp, Cẩm Tâm, Vân Đài… với nhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, phóng sự, thơ… cùng nhiều thể tài như: trinh thám, tình yêu hôn nhân, xã hội… và trong đó có thể tài dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi Trên chặng đường hiện đại hoá văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945, văn học thiếu nhi đã có sự đổi thay đáng kể để góp vào dòng chảy hiện đại hoá của văn học cả nước Nhiều nhà văn đã chú trọng hướng ngòi bút của mình đến một tầng lớp bạn đọc với số lượng cũng không nhỏ, đó là tầng lớp thiếu nhi cùng nhiều thể loại và nội dung phong phú, tiêu biểu như: Trương Vĩnh Ký, Hồ Văn Hảo, Viên Hoành, Việt Đông, Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Ngọc,

Đông Hồ, Bích Thuỷ, Vân Đài… cùng với các tác phẩm tiêu biểu như: Lục súc

Trang 7

tranh công, chuyện thần tiên Ấn Độ, Con nhà nghèo, Con cưỡng của thằng Bá, Thằng Ngã gió, Con nhà thất nghiệp, Chuyện thằng Xảo bị lừa, Tinh tinh tiểu thuyết, Thú vật bất bình, Con sư tử cưới vợ, Con cọp và mèo con, Rùa với vịt rừng, Chị khuyên em, Mẹ khuyên con gái, Tình anh chị em, Hỡi bạn trẻ, Đạo nhớ thầy, Mấy lời khuyên học sinh về dịp Tết nguyên đán, Nghĩa đồng bào…

Trước thế kỉ XX, văn học thiếu nhi có chăng cũng chỉ là những câu chuyện

cổ tích, ít có tác giả dành thời gian để sáng tác cho trẻ em Sang thế kỉ XX, các tác phẩm viết cho thiếu nhi (bao gồm: sáng tác, phóng tác, dịch thuật) đã được tầng lớp nhà văn và cả xã hội dần quan tâm Điều này được minh chứng rõ trên

Phụ nữ tân văn Tờ báo này có hẳn một phụ trương dành đăng những sáng tác

cho đối tượng độc giả là thiếu nhi, đó là mục “Phần Nhi đồng” Bên cạnh đó, sáng tác của các tác giả đã được tập hợp và in thành cuốn riêng biệt như những tác phẩm của Việt Đông, Trương Vĩnh Ký, Ôn như Nguyễn Văn Ngọc… Điều này chứng tỏ văn học thiếu nhi đã, đang và sẽ phát triển cũng như ngày càng được chú trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại

Văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại và đã được nhiều nhà khoa học ngữ văn quan tâm tìm nghiên cứu Dành nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu về thời

kì văn học này, có các tác giả: Trần Đình Hượu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Huệ Chi,

Võ Văn Nhơn, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Công Lý, Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Văn Kha, Hà Thanh Vân, Phan Mạnh Hùng… với nhiều công trình khoa học lớn đã được công bố Nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu đã có chưa đi sâu vào mảng văn học thiếu nhi

Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thể kỉ XX đến 1945 có những đặc điểm độc đáo và vai trò quan trọng, nhưng tính đến thời điểm này, các công trình nghiên cứu một cách sâu rộng về nó còn hạn chế Mặt khác, mảng thể tài viết cho thiếu nhi, nhất là thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 là lĩnh vực chưa được các nhà khoa học quan tâm đúng mức Vì vậy, để không bỏ phí một thành phần không nhỏ cấu tạo nên văn học Nam Bộ cũng như văn học thiếu nhi

Trang 8

Việt Nam hơn bốn mươi năm đầu thế kỉ XX, chúng tôi bước đầu nghiên cứu mảng văn học này Chúng tôi hy vọng tìm hiểu thêm về văn học Nam Bộ nói chung, văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 nói riêng một cách có hệ thống, ngoài ra còn giúp chúng tôi trong công việc giảng dạy sau này, nhất là giảng dạy bộ môn Văn học trẻ em cho sinh viên ngành sư phạm

Những lý do nêu trên đã thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Những nghiên cứu về văn học Quốc ngữ đầu thế kỉ XX

Cho đến nay, nghiên cứu về văn học Nam Bộ, nhất là giai đoạn từ đầu thế kỉ

XX đến 1945 đã có nhiều công trình được công bố Nhiều nghiên cứu đi sâu vào tình hình phát triển của văn học Nam Bộ hơn bốn mươi năm đầu thế kỉ XX ở đội ngũ tác giả và lượng tác phẩm, cũng như tìm hiểu cụ thể về nét mới trong thi

pháp Tiêu biểu có các tác giả và tác phẩm như: Trần Đình Hượu: Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930 và Tiến trình văn học Việt Nam, văn học giai đoạn 1900 đến 1945; Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam từ đầu thế

kỉ XX đến 1945, NXB Giáo dục TP HCM; Đoàn Lê Giang, Khảo sát đánh giá bảo tồn văn học Quốc ngữ Nam Bộ 1930 - 1945; Nguyễn Văn Hiệu, Văn chương Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX nhìn từ quá trình xã hội hoá chữ quốc ngữ; Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (1900 - 1945), Phan Mạnh Hùng, Mối quan hệ giữa người kể chuyện trong tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỉ XX; Cao Tự Thanh, Nghĩ về việc tìm hiểu Văn học viết Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; Bằng Giang, Văn học Quốc ngữ Nam Kỳ 1865 - 1930; Nguyễn Huệ Chi, Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự Quốc ngữ Nam Bộ trong bước khởi đầu, Hà Thanh Vân, Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX trong mối tương quan với tiểu thuyết các nước Đông Nam Á…

Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về văn học Nam Bộ cuối thế kỉ XIX đến 1945 ngày càng nhiều Chẳng hạn, Đoàn Lê Giang, trong

Trang 9

công trình Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945, thành tựu và triển vọng nghiên cứu (2016) đã cung cấp cho bạn đọc cái nhìn toàn cảnh về văn

học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến 1945 Trong công trình này, tác giả cùng nhóm nghiên cứu đã khảo sát văn học Nam Bộ giai đoạn trên với những thành tựu lớn về lượng tác giả và tác phẩm cùng những đặc điểm về văn học Nam Bộ thời kì ấy Tác giả khẳng định: “Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945 là một bộ phận máu thịt của văn học dân tộc.”

Võ Văn Nhơn lại đi sâu nghiên cứu mảng văn học Nam Bộ thời kì trước

1945 ở thành phố Hồ Chí Minh Những nghiên cứu của tác giả được in trong

cuốn Văn học Quốc ngữ trước 1945 ở Thành phố Hồ Chí Minh Công trình này

cũng đã đề cập đến rất nhiều vấn đề của văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX Gần đây nhất, tác giả Võ Văn Nhơn cùng với Nguyễn Thị Phương Thuý cho ra mắt

bạn đọc cuốn Văn chương Phương Nam một vài bổ khuyết Sách được Nhà xuất

bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh in năm 2016 Tuy gọi là “bổ khuyết”, song hai tác giả đã cung cấp nhiều thông tin mới, quan trọng về Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945 như: ảnh hưởng của tiểu thuyết nước ngoài đối với sự hình thành và phát triển nền tiểu thuyết Quốc ngữ ở Nam Kỳ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX; mảng văn học trên báo Sống; Biến Ngũ Nhy – người viết truyện trinh thám đầu tiên ở Việt Nam…

Cuối năm 2016, nhà nghiên cứu Phan Mạnh Hùng cho in cuốn Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Nam Bộ trước 1932 tại Nhà xuất bản Đại học quốc

gia TP Hồ Chí Minh Công trình chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Nam Bộ cùng với những cách tân và hạn chế của nó

Từ đó, tác giả mạnh dạn đặt vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Nam Bộ với tư cách như một loại hình tiểu thuyết đại chúng Tác giả đưa ra nhiều minh chứng, chứng minh sự tồn tại và phát triển của tiểu thuyết ở nhiều đề tài từ lịch sử, trinh thám võ hiệp, trinh thám vụ án đến đề tài về xã hội, đạo lý, phong tục…

Bên cạnh đó, nhiều Hội thảo cấp trường, cấp quốc gia về Văn học Nam

Bộ thế kỉ XX vẫn được tổ chức hàng năm Tháng 10 năm 2016, Hội thảo cấp

Trang 10

quốc gia với nội dung Những vấn đề Văn học và Ngôn ngữ Nam Bộ do Trường

Đại học Thủ Dầu Một, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh và Viện Văn học phối hợp tổ chức Trong hội thảo này, có nhiều bài viết đề cập đến vùng văn học Nam Bộ ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX,

như Văn học Nam Bộ từ cuối thế kỉ XIX đến 1945: đặc điểm và giá trị của Đoàn

Lê Giang; Mấy ghi chép về sự ra đời của văn xuôi Quốc ngữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hoá văn học dân tộc của Phong Lê; Trương Vĩnh Ký và những bước đi đầu tiên của con đường hiện đại hoá văn học ở Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Xuân; Văn học Quốc Ngữ Nam Bộ từ góc nhìn hiện đại hoá của Nguyễn Văn Kha; Văn học tôn giáo Nam Bộ những năm đầu thế kỉ XX qua tuần báo nam Kỳ địa phận của Nguyễn Hữu Hiếu… Tất cả những công trình nghiên

cứu ở trên đã đóng góp giá trị khoa học rất lớn khi nghiên cứu về văn học Nam

Bộ thế kỉ XX, cung cấp cái nhìn toàn cảnh của văn học Nam Bộ từ khi có chữ Quốc ngữ với nội dung, thể loại văn học và tiến trình phát triển của nó trong bước đường hiện đại hoá, chuyển mình để hoà vào dòng chảy lớn của nền văn học nước nhà

Mặc dù những công trình trên khảo sát sâu, rộng về văn học Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỉ XX nhưng các tác giả hầu như chưa dành sự quan tâm đến mảng văn học viết cho thiếu nhi Vì vậy, sự tồn tại của văn học thiếu nhi trong đời sống văn học thời bấy giờ dường như còn bị bỏ ngõ, chưa được nghiên cứu, giới thiệu một cách thích đáng

2.2 Những nghiên cứu về văn học thiếu nhi Việt Nam và văn học thiếu nhi ở Nam Bộ

Về văn học viết cho thiếu nhi cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu

như: Trần Đức Ngôn (chủ biên, 1994), Văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội I; Dương Thị Thu Hương (1996), Văn học thiếu nhi, Trường Cao đẳng sư phạm Mẫu giáo Trung ương 3; Cao Đức Tiến (1997), Văn học thiếu nhi, NXB Giáo dục; Nguyễn Ánh Tuyết (1997), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Quốc gia; Vân Thanh (Sưu tầm và biên soạn,

Trang 11

2003), Văn học thiếu nhi Việt Nam (nghiên cứu, lí luận, phê bình, tiểu luận-tư liệu); Bùi Thanh Truyền (chủ biên, 2009), Thi pháp trong văn học thiếu nhi, NXB Giáo dục Việt Nam; Châu Minh Hùng – Lê Nhật Ký (2009), Hệ thống thể loại trong Văn học Thiếu nhi, NXB Giáo dục Việt Nam; Vũ Thị Lụa (2010), Truyện danh nhân Việt Nam với độc giả thiếu nhi, luận văn thạc sĩ Trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG TP HCM; Lã Thị Bắc Lý (2011),

Giáo trình văn học Trẻ em, NXB Đại học Sư phạm; Lã Thị Bắc Lý (2012), Văn học thiếu nhi với giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư phạm…

Các công trình kể trên bao gồm có giáo trình, các bài nghiên cứu về văn học thiếu nhi, nhưng nhìn chung, trong những bài viết ấy khi đề cập về văn học thiếu nhi Việt Nam đầu thế kỉ XX chỉ nói đến một cách ngắn gọn Chẳng hạn

trong Giáo trình Văn học thiếu nhi Việt Nam của Trần Đức Ngôn và Dương Thu

Hương, khi viết về văn học thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám cũng chỉ đề cập đến sách cho trẻ em “Livre du petit”, sách truyền bá của nhóm Tự lực văn

đoàn, và một số tác giả viết cho trẻ em như: Nam Cao có Con mèo mắt ngọc, Bài học quét nhà… Tô Hoài có Dế mèn phiêu lưu ký nổi tiếng; Tú Mỡ có Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Tấm Cám và một số sách Kim Đồng

Cuốn Giáo trình văn học trẻ em của Lã Thị Bắc Lý được nhà xuất bản

Đại học Sư phạm in năm 2011, có độ dày gần hai trăm trang nhưng chỉ có ba trang nói về văn học thiếu nhi cả nước giai đoạn trước 1945 Tác giả Lã Thị Bắc

Lý kết luận “Nhìn chung trước Cách mạng tháng Tám, ở Việt Nam mới chỉ xuất hiện những tác phẩm viết cho thiếu nhi một cách lẻ tẻ chứ chưa thực sự có phong trào sáng tác cho các em” [62, Tr.9] Trong cuốn Giáo trình văn học 1 do

Bùi Thanh Truyền chủ biên được nhà xuất bản Đại học Huế in năm 2014 cũng

có đề cập đến văn học thiếu nhi trước 1945 nhưng chưa cụ thể nhắc đến mảng văn học này ở Nam Bộ trong cùng thời kì

Khi nói về văn học thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám, đa phần các tác giả và tác phẩm chỉ đề cập đến văn học thiếu nhi ở miền Bắc là chủ yếu với các tác giả nổi tiếng, được coi là những cánh chim đầu đàn của văn học thiếu

Trang 12

nhi hiện đại như Nam Cao, Tô Hoài, Tú Mỡ, Nguyên Hồng… Văn học thiếu nhi

ở Nam Bộ trước cách mạng tháng Tám ít được đề cập đến Điều này cũng gây khó khăn cho người viết khi tìm kiếm và tham khảo tư liệu Cũng có công trình nghiên cứu giới thiệu về tác giả và có nói sơ qua một vài sáng tác cho thiếu nhi, nhưng không chuyên sâu, mà ở đó chỉ là sự liệt kê các tác phẩm trong sự nghiệp sáng tác của một vài tác giả nào đó mà thôi Nhìn chung, chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu vào mảng thể tài văn học thiếu nhi ở Nam Bộ trong giai đoạn mà chúng tôi nghiên cứu

Trong thực tế, khi nghiên cứu văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX, chúng tôi bắt gặp nhiều nhà văn đã sáng tác cho thiếu nhi Nó khác xa nhận định lâu nay của chúng ta về mảng văn học cho thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám, nhất là văn học thiếu nhi ở Nam Bộ cùng thời kì

Chính từ những bất cập trên và dựa vào kết quả khảo cứu của mình, người viết tìm hiểu mảng sáng tác cho thiếu nhi ở Nam Bộ hơn bốn mươi năm đầu thế kỉ XX với hy vọng ở “tầng đất mới” này, đây là những “mũi khoan” đầu tiên dành cho việc “thăm dò” “sa khoáng” để phục vụ cho công tác nghiên cứu

về văn học thiếu nhi Việt Nam của tác giả cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm đến mảng sáng tác này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là các tác giả và tác phẩm viết cho thiếu nhi nằm trong giai đoạn văn học từ đầu thế kỉ XX đến 1945 ở Nam Bộ Tuy nhiên, cũng có trường hợp đề tài cũng chú ý cả “những tác phẩm văn học viết cho người lớn lại đi vào phạm vi đọc của trẻ em” [31, Tr.285] Chẳng hạn như các

tác phẩm của Hồ Biểu Chánh gồm: Con nhà nghèo, Cha con nghĩa nặng hay tiểu thuyết Con cưỡng của thằng Bá của tác giả Viên Hoành, tác phẩm này tuy nói viết

cho người lớn nhưng chúng ta vẫn thấy thấp thoáng đâu đó cuộc sống của trẻ thơ

Trang 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này tập trung nghiên cứu những sáng tác văn học (truyện, tiểu thuyết, thơ, nhàn đàm, truyện cười) viết cho lứa tuổi thiếu nhi của các tác giả ở Nam Bộ trong thời gian từ đầu thế kỉ XX đến 1945 bao gồm những tác phẩm do người miền Bắc, miền Trung sáng tác nhưng được in ở miền Nam và các sáng tác của người Nam nhưng được in ở miền Trung hoặc miền Bắc nằm trong thời

kì nghiên cứu

Các phương diện chính yếu được luận văn tập trung gồm: Khái lược diện mạo, nội dung phản ánh, nghệ thuật thể hiện của văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945

Tư liệu phục vụ cho đề tài là sáng tác của các nhà văn Nam Bộ đầu thế kỉ

XX đăng trên báo Phụ nữ tân văn, báo Gia Định báo, Lục tỉnh tân văn, Nam Phong tạp chí…và những sáng tác đã được in thành tập của các tác giả như Việt

Đông, Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trần Phong Sắc, Hồ Biểu Chánh…

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:

4.1 Phương pháp lịch sử

Phương pháp này được sử dụng ở phần mở đầu, chương 1 và chương 2 Nó giúp chúng tôi trình bày các bước nghiên cứu theo một tuần tự nhất định: văn học có ý nghĩa như thế nào đối với lứa tuổi thiếu nhi; quá trình vận động và phát triển của văn học thiếu nhi ở Nam Bộ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 Từ đó cho thấy nhà văn Nam Bộ thời bấy giờ cũng dành nhiều tâm huyết và bút lực cho độc giả thiếu nhi

4.2 Phương pháp phân tích

Phương pháp này chúng tôi sử dụng ở hầu hết các phần của đề tài nhưng tập trung nhất là chương 2 và chương 3 Qua phân tích, chúng tôi bước đầu nắm được văn học thiếu nhi trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 hình thành và phát triển như thế nào, có những đặc điểm gì nổi bật; giai đoạn này có

Trang 14

những tác giả, tác phẩm nào tiêu biểu, các tác phẩm đó được xuất bản ở đâu; nội dung và thể loại viết cho thiếu nhi trong giai đoạn đó có điều gì khác lạ

4.3 Phương pháp thống kê

Phương pháp này được sử dụng ở tất cả các phần của đề tài, nhưng chủ yếu

là chương 2 và 3 với mục đích tạo ra cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể về tiến trình, diện mạo của văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945, số lượng tác giả, số lượng tác phẩm văn học thiếu nhi trong giai đoạn này sẽ được thể hiện bằng các con số cụ thể

4.4 Phương pháp so sánh

Phương pháp này được sử dụng chính ở chương 2 vì chúng tôi muốn làm rõ

sự có mặt và phát triển của văn học thiếu nhi giai đoạn này có gì khác so với những giai đoạn khác

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi áp dụng tổng hợp tất cả các phương pháp trên, tất nhiên, lúc này hay lúc khác có ưu tiên phương pháp này hay phương pháp kia hơn Các phương pháp bổ sung và hỗ trợ nhau, do đó các kết quả thu được từ việc áp dụng phương pháp này cũng là tiền đề để thực hiện phương pháp khác Mục tiêu cuối cùng là để người đọc bước đầu thấy được tiến trình, diện mạo và đặc điểm của văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 và hơn hết thấy được mảng văn học này đã có được những thành tựu đáng kể

5 Đóng góp của đề tài

Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, sâu rộng về văn học thiếu nhi ở Nam Bộ giai đoạn đầu thế kỉ XX đến 1945, chưa có tuyển tập cho những sáng tác dành cho thiếu nhi ở Nam Bộ thời điểm này Từ việc nghiên cứu

về mảng đề tài văn học thiếu nhi ở Nam Bộ hơn bốn thập kỉ đầu của thế kỉ XX, chúng tôi mong muốn làm rõ sự có mặt và những thành quả của nó trong văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX đến 1945 nói riêng và trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại nói chung Mặt khác, tác giả cũng mong muốn với đề tài này

Trang 15

sẽ đóng góp chút công sức vào nguồn tư liệu cho những nghiên cứu sau ở số lượng các tác phẩm đã khảo sát được với ý tưởng tập hợp các sáng tác viết cho thiếu nhi trong giai đoạn này thành một tuyển tập nhằm giới thiệu đến bạn đọc

6 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục Riêng phần Nội dung được khai triển thành 3 chương:

Chương 1: Văn học viết cho thiếu nhi trong văn học Nam Bộ từ đầu thế kỉ

từ phía các nhà văn Điều này được minh chứng rõ qua số lượng tác giả và tác phẩm dành cho các em Từ kết quả nghiên cứu này làm tiền đề cơ sở để chúng tôi giải quyết các vấn đề đặt ra của luận văn

Chương 2: Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 nhìn từ nội dung phản ánh

Ở chương này, người viết đi vào tìm hiểu những đặc điểm về nội dung phản ánh của văn học thiếu nhi Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 Ở mảng sáng tác cho các em giai đoạn này đã có sự đa dạng, phong phú về đề tài như phản ánh cuộc sống, những ước mơ, khát vọng, những mối quan hệ trong đời sống của trẻ Bên cạnh đó, những tác phẩm viết cho các em không dừng lại ở phản ánh cuộc sống và mối quan hệ của trẻ mà còn đề cập đến cả nhân vật là người lớn, loài vật bởi những nhân vật này luôn song hành tồn tại trong cuộc sống của các em Cũng trong chương này, chúng tôi đề cập sơ lược đến những giá trị truyền thống của người dân Nam Bộ Dưới tác động của văn hoá phương Tây vào nước ta những năm đầu thế

kỉ XX, những giá trị truyền thống ấy sẽ như thế nào trong cuộc sống của người dân phương Nam nói chung và cuộc sống của trẻ em nói riêng

Trang 16

Chương 3: Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945 nhìn từ nghệ thuật thể hiện

Trọng tâm của chương 3 là tìm hiểu văn học thiếu nhi Nam Bộ từ đầu thế kỉ

XX đến 1945 về phương diện nghệ thuật thể hiện Đó là nghệ thuật dụng ngôn, nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật, nghệ thuật xây dựng cốt truyện cũng như nghệ thuật xây dựng không gian và thời gian trong tác phẩm

7 Quy ước trình bày

- Trong luận văn, những từ ngữ sau đây được chúng tôi dùng với hàm nghĩa tương đương:

+ Thiếu nhi/ trẻ em/ con trẻ/ trẻ nhỏ/ trẻ/các em: đối tượng ở độ tuổi từ 3,4 tuổi đến 14, 15 tuổi

+ Văn học thiếu nhi/ văn học trẻ em: Những sáng tác văn học dành cho bạn đọc lứa tuổi từ 3, 4 tuổi đến 14, 15 tuổi

- Từ viết tắt trong luận văn:

Trang 17

và nghệ thuật trong chương 2 và chương 3.

1.1 Quan niệm về văn học thiếu nhi

1.1.1 Khái niệm văn học thiếu nhi

Ở lứa tuổi thiếu nhi (từ 3,4 tuổi đến 14, 15 tuổi), tâm hồn các em vô cùng nhạy cảm và thật sự thuần khiết, mong manh, dễ vỡ Trẻ sống trong sự giàu có, phong phú về xúc cảm cũng như trí tưởng tượng không giới hạn của mình Tâm hồn của con trẻ đong đầy những rung động của tình yêu thương, tính trung thực, thẳng thắn và lòng vị tha, bao dung Các em sống trong thế giới của bao ước mơ kỳ diệu với sự hồn nhiên mà chúng ta thấy ngây ngô nhưng đó lại là sự đáng yêu chỉ có thể tìm thấy ở trẻ nhỏ

Lứa tuổi thiếu nhi luôn ưa khám phá, thích tò mò nhưng cũng thấy lo sợ mỗi khi gặp khó khăn hay những tình huống mà mình chưa từng trải qua Nỗi lo sợ của trẻ nhanh chóng được thu hẹp, nhiều khi bị lãng quên, bị chế ngự, bị lấn át đi bởi tính tò

mò, sự thôi thúc kiếm tìm không bao giờ chịu dừng lại khi chưa truy tìm ra đến đích cái mà các em muốn khám phá, muốn tìm hiểu Vì thế, để nắm bắt được những trạng huống cảm thức ở độ tuổi này, người viết phải sống bằng tâm hồn, suy nghĩ của một đứa trẻ mới cảm nhận cuộc sống tràn đầy màu sắc, âm thanh, ánh sáng, đồng thời phải hết sức nhẹ nhàng, tinh tế khi chạm đến cảm xúc của trẻ, nếu không những “sợi dây cảm xúc” sẽ bung vỡ như tơ trời gặp bão Cho nên, văn học viết cho thiếu nhi thật sự

Trang 18

phải dụng công, phải khéo léo, song không được làm mất đi vẻ tự nhiên của độ tuổi này Vậy những sáng tác như thế nào được gọi là văn học thiếu nhi?

Có nhiều định nghĩa về văn học thiếu nhi, và mỗi tài liệu đều có cách giải thích khác nhau Chẳng hạn:

Xét ở mục đích sáng tác, Bách khoa thư văn học thiếu nhi nhấn mạnh mục đích giáo dục của mảng văn học dành cho thiếu nhi khi cho rằng: Những tác phẩm văn học được mọi nhà văn sáng tạo ra với mục đích giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, tính cách cho thiếu nhi Nhân vật trung tâm của nó là thiếu nhi, và nhiều khi, cũng

là người lớn, hoặc là một cơn gió, một loài vật, hay một đồ vật, một cái cây Tác giả của văn học thiếu nhi không chỉ là chính các em, mà cũng là các nhà văn thuộc mọi lứa tuổi [77, Tr.6]

Xét ở đối tượng tiếp nhận, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi có khuynh hướng mở rộng hơn về khái niệm văn học thiếu nhi khi cho rằng những tác phẩm “thuộc phạm vi đọc của trẻ em” đều là văn học thiếu nhi, kể cả các bài viết về phổ cập khoa học hay những tác phẩm của người lớn nhưng được trẻ thích

đọc: Theo nghĩa hẹp, Văn học thiếu nhi gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập

khoa học dành riêng cho thiếu nhi Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn)

đã đi vào phạm vi đọc của thiếu nhi, như Đôn-ki-hô-tê của M Xéc-van-tex, xơn Cơ-ru-xô của Đ Đi-phô, Gu-li-vơ du kí của Gi-Xuýp-tơ, Túp lều bác Tôm của H Bi-sơ-Xtâu… Những tác phẩm văn học viết cho người lớn lại đi vào phạm vi đọc của trẻ em, nhất là các loại truyện viết theo môtíp phonclo, loại cổ tích và một số tiểu thuyết và truyện thuộc thể loại phiêu lưu… [31, Tr.285]

Rô-bin-Lã Thị Bắc Lý trong giáo trình Văn học trẻ em cũng đồng ý khái niệm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi khi cho rằng: Văn học trẻ

em (lâu nay vẫn quen gọi là Văn học thiếu nhi) gồm những tác phẩm văn học hoặc phổ cập khoa học dành riêng cho trẻ em Tuy vậy, khái niệm văn học thiếu nhi cũng thường bao gồm một phạm vi rộng rãi những tác phẩm văn học thông thường (cho người lớn) đã đi vào phạm vi đọc của trẻ em Tác giả nhận định, tất cả những tác

phẩm hay đều gặp nhau ở một điểm là hướng về mục đích nhân văn, hướng tới cái thiện, cái đẹp trong cuộc sống [66, Tr.5-9]

Trang 19

Trong Thi pháp văn học thiếu nhi, tác giả Bùi Thanh Truyền lại nhấn mạnh về

yếu tố nhân vật trung tâm được phản ánh trong tác phẩm dành cho thiếu nhi khi cho

rằng: văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật trung tâm là thiếu nhi

hoặc được nhìn bằng “đôi mắt trẻ thơ”, với tất cả những xúc cảm, tình cảm mãnh liệt, tinh tế, ngây thơ, hồn nhiên, được các em thích thú, say mê và có nội dung hướng đến việc giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, đặt nền móng cho sự hoàn thiện nhân cách của các em thuộc những lứa tuổi khác nhau từ thuở ấu thơ đến suốt cuộc đời [113, Tr.11]

Từ các khái niệm trên, chúng tôi cho rằng: Văn học thiếu nhi là những sáng tác bằng ngôn từ nghệ thuật có thể do người lớn hoặc thiếu nhi sáng tác nhằm mục đích giáo dục tính cách, tâm hồn cho trẻ, khiến trẻ có những rung cảm mãnh liệt, có sự thích thú say mê và thể hiện được sự tinh tế, hồn nhiên… một cách ngây thơ, đáng yêu của trẻ Nhân vật trung tâm của tác phẩm văn học thiếu nhi có thể là con người, loài vật, sự vật, hiện tượng… của giới tự nhiên được nhìn bằng nhãn quan của trẻ

Các tác phẩm thuộc văn học thiếu nhi phải là những sáng tác mà bản thân các

em mỗi khi lật đọc từng trang sách ấy thấy “bóng dáng” của mình được soi chiếu trong đó Trẻ ngụp lặn trong bầu không khí của tác phẩm; trải nghiệm, mơ ước cùng những cuộc phiêu lưu kỳ thú và cảm nhận được các cung bậc cảm xúc dạt dào của nhân vật trong tác phẩm Chính các em, sau khi gấp trang sách lại, cảm thấy mình như vừa lạc vào một thế giới khác lạ Trẻ “bước ra” khỏi thế giới ấy với tâm trạng khoan khoái, phấn khích, thoả mãn với những khám phá của chính mình Các em lim dim đôi mắt với ước mơ ấp ủ trong lòng, đăm chiêu suy nghĩ cùng những hành động hay biến cố cuộc đời của các nhân vật, để từ đó rút ra cho mình bài học kinh nghiệm từ tác phẩm

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của văn học thiếu nhi

Với trẻ, một sự vật dù là sinh vật hay thậm chí là đồ vật vô tri, vô giác cũng có sức sống riêng biệt, có thế giới tồn tại riêng và có quần thể cộng cư như người Những

sự vật, hiện tượng ấy dưới con mắt trẻ thơ đều có sự sống, cũng có cảm xúc, có ngôn ngữ, có thế giới riêng mà chỉ bản thân các em mới có “nội lực” để khám phá Như

Pautopxki đã nhận định: “Với tuổi thơ, mặt trời nóng bỏng hơn, cỏ rậm hơn, mưa to

hơn, trời tối hơn và con người nào cũng thật thú vị” [66, Tr.29] Các em luôn nhìn cuộc sống bằng nhãn quan và trạng thái cảm xúc hết sức nhạy bén, tinh tế Với cái nhìn hồn nhiên trong trẻo, thuần khiết, giàu sức tưởng tượng thì mọi sự vật tồn tại

Trang 20

trước mắt các em cũng muôn hình vạn trạng, đa sắc màu và vô số điều kỳ thú

Từ các đặc điểm về tâm sinh lý, nhãn quan của trẻ về thế giới, theo chúng tôi văn học thiếu nhi cần phải có được những đặc điểm sau:

Thứ nhất, văn học thiếu nhi phải phản ánh và thể hiện được một thế giới vui

tươi, sinh động, đầy âm thanh và màu sắc Thế giới sự vật cơ man nào là cỏ, cây,

hoa, lá, chim muông, nào là các hiện tượng gió, mưa, sấm, chớp… Tất cả các sự vật hiện tượng ấy tồn tại trong cuộc sống một cách hiển nhiên mà người lớn có thể giải đáp được và họ cảm thấy bình thường Nhưng dưới cảm nhận của trẻ thơ các yếu tố ấy lại hết sức mới lạ, kỳ vĩ và độc đáo Trẻ luôn đặt ra biết bao câu hỏi, rất nhiều thắc mắc với nhu cầu cần được giải đáp… Tác phẩm viết cho thiếu nhi vừa phải tạo ra tình huống trong cuộc sống, vừa phải thay mặt các em đặt ra những thắc mắc, đồng thời cũng phải đưa ra được những câu trả lời mà chính các em đang cần đáp án, để khi đọc tác phẩm, trẻ nhỏ như thấy mình trong đó và thoả mãn được sự tò mò Các em có thể

thắc mắc đủ điều, chẳng hạn như trong tác phẩm Em Thanh và mặt trăng, tác giả Dương Hữu Trưng đã viết: “Mặt trăng sao lại tròn? Tại sao khi chúng ta đi, mặt trăng

lại đi theo? 1 ” Hay những câu hỏi nào là: “Khi giết con kiến cứu con trùng (trùn/ giun đất) có phạm tội sát sinh không? 2 ”

Thế giới trong tác phẩm phải sống động như ngoài đời mới tạo cho các em sự thích thú, hưng phấn, hoan hỉ khi thưởng thức tác phẩm Con vật biết ganh tị nhau, biết đòi nợ nhau, biết trả ơn cho người đã cứu mình; sự vật biết nói, bông hoa biết cười… tất cả mọi sự sinh động, vui tươi tràn đầy âm thanh và màu sắc ấy đều được phản ánh trong sáng tác dành cho thiếu nhi Thế giới của trẻ luôn gắn với những trò chơi như đánh trận giả, chơi đồ hàng, tắm ao, làm nhà chòi… Những tác phẩm văn học dành cho lứa tuổi thiếu nhi được đánh giá là thành công khi phản ánh được cuộc sống của trẻ một cách tự nhiên Chẳng hạn khi miêu tả sự chơi đùa vô tư của lứa tuổi thiếu nhi nhưng đôi lúc có phần ranh mãnh, tác giả Bùi Nguyên Ấn đã miêu tả khá chi tiết cảnh các em rủ nhau xem “ông Kẹ” trong sự thôi thúc của tính tò mò nhưng bị kìm hãm bởi tính nhút nhát, sợ sệt, đặc tính đó đứa trẻ nào cũng đều trải qua

Trang 21

Tất cả các tác phẩm viết cho thiếu nhi đều phải được “nhìn bằng con mắt trẻ thơ”, phải có cái “chất” của trẻ thơ Đó có thể là những cái nhìn hết sức ngây ngô, trong trẻo với những xúc cảm hồn nhiên, chân thật Một đứa bé có thể ôm con chó con vào lòng mà tưng tiu, nựng nịu rồi “tâm sự” cùng nó, trong khi đứa khác lại bắt con dế, con cá để nuôi rồi cho nó ăn cơm, vỗ về nó như vỗ về một đứa em, đứa bạn

Sự ngây thơ của trẻ còn được nhiều tác giả khai thác ở những hành động ngây ngô với suy nghĩ non nớt như việc đòi quyền công bằng như người lớn, đòi cha mẹ trả công cho mình khi mình đã làm việc này việc kia cho cha mẹ Các em liệt kê ra nào là: đi nhặt củi, đi mua đồ, hái lá cho thỏ ăn, xách nước tưới kiểng, làm việc nhà… như những người làm công thực thụ để mẹ tính ra tiền công mà trả cho mình Điều này đã

được miêu tả rất tự nhiên trong truyện ngắn Hai cái toa đòi tiền 1 Có lúc chính các em lại đi hù doạ bạn mình như doạ Ma, ông Kẹ, ông Ba Bị… để bạn mình sợ, bằng

những trò chơi ranh mãnh như trong Truyện thằng Xảo bị lừa 2 của Bùi Nguyên Ấn

Sự hồn nhiên chỉ có ở độ tuổi trẻ nhỏ, vì thế bất cứ tác giả nào khi xác định viết cho thiếu nhi đều hết sức chú ý tới đặc điểm này Tác giả được gọi là thành công trong sáng tác dành cho thiếu nhi thì tác phẩm của họ trước tiên phải làm cho người đọc (nhất là trẻ nhỏ) sau khi khép lại trang văn thấy những hoạt động, suy nghĩ của nhân vật sao có lúc giống mình đến thế và cảm thấy say mê, thú vị với những tình tiết trong tác phẩm Còn nếu là người lớn, sau khi đọc xong tác phẩm, họ sẽ cảm nhận như chính mình đang được quay về thời tuổi thơ đã qua Thế giới trong tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi là thế giới mà trẻ con đang bước tới nhưng người lớn đã bước qua Một thế giới mà cả trẻ con và người lớn đều nhìn thấy mình trong đó, để rồi người lớn cũng như trẻ nhỏ đều có cái nhìn chung về sự vật, hiện tượng được phản ánh trong tác phẩm nhưng ở những mức độ đánh giá khác nhau Lúc ấy cả hai đối tượng tiếp nhận này dường như có giao điểm mà như nhà văn Nhã Thuyên nhận

xét:“Những tác phẩm văn học đã sáng tạo ra một thế giới làm cầu nối giữa người

lớn-trẻ em Trong thế giới văn học thiếu nhi, tác giả người lớn giả định mình hướng tới độc giả là trẻ em và người đọc văn học thiếu nhi (bất kể là người lớn hay trẻ em) cũng ngầm được tự giả định rằng mình là độc giả-trẻ con tương thích” [108]

1Hai cái toa đòi tiền, PNTV, số1

2Bùi Nguyễn Ấn, Truyện thằng Xảo bị lừa, PNTV, số 26

Trang 22

Thứ hai, những sáng tác cho thiếu nhi cần phải thể hiện được những cung

bậc cảm xúc tinh tế, nhẹ nhàng, chân thật, không khiên cưỡng Tác phẩm viết cho

trẻ nhỏ phải thể hiện được trí tưởng tượng diệu kỳ của các em, nhưng điều đáng nói, trí tưởng tượng ở đây không phải là sự giả vờ ngây thơ của người lớn, không nhào nặn khiên cưỡng Cảm xúc phải trôi chảy một cách tự nhiên, không gò bó, giả tạo Tác giả phải biết “trẻ con hoá” đúng cách những sự vật, sự việc; thổi được hồn trẻ thơ vào sáng tác của mình để các em cảm thấy thích thú mỗi lần đọc tác phẩm Dưới con mắt quan sát tinh tế, óc tưởng tượng phong phú, trẻ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác khi nhìn thấy vạn vật biến hoá kỳ diệu Ví như đám mây có nhiều hình thù

kì lạ, có lúc là hình ông Thần Nông dắt trâu đi cày, có lúc lại biến hoá thành những luống cày với nhiều tảng đất to, nhỏ khác nhau mà theo suy nghĩ non nớt của trẻ, đó chính là những sản phẩm của ông Thần Nông sau một đêm dài lao động vất vả Tác giả khi viết cho thiếu nhi cần phải có sự đồng điệu từ cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm trong từng động thái như trí tưởng tượng, tính tò mò, nỗi sợ hãi, niềm hoan hỉ… của các em mỗi khi chúng khám phá thế giới mới tạo ra được một thế giới trong tác phẩm

tự nhiên như ngoài đời Có như vậy, tác phẩm mới mang được “chất” của trẻ thơ và mới được các em đón nhận Ngoài ra, chính nội dung và hành động của nhân vật trong tác phẩm sẽ là những tấm gương, những bài học hết sức sống động, chân thực

và vô cùng bổ ích cho trẻ nhỏ Những bài học ấy nhẹ nhàng nhưng hiệu quả giáo dục

vô cùng to lớn

Thứ ba, các tác phẩm viết cho thiếu nhi ngoài hai đặc điểm cơ bản trên, chúng

còn phải là những tác phẩm dễ đọc, dễ tiếp thu (tức là vừa tầm tiếp nhận của độ

tuổi này) Những tác phẩm ấy phải đảm bảo vừa gọn, vừa khéo về hình thức, vừa đơn giản, hấp dẫn về nội dung Ngôn ngữ sử dụng trong các sáng tác dành cho các em không cần phải trau chuốt, rườm ra; không cần quá nghiêm trang; không khó hiểu hay đánh đố trẻ nhỏ Trái lại, để lôi cuốn các em, ngôn ngữ sử dụng khi sáng tác phải trong sáng, dễ hiểu, hồn nhiên, dí dỏm, tinh nghịch… phù hợp với lứa tuổi trẻ thơ Trong thơ, ngôn ngữ lại càng cần phải đảm bảo hài hoà về mặt âm thanh và nghĩa, có nghĩa

là vừa dễ hiểu, vừa đảm bảo được tính nhạc mới lôi cuốn các em trong quá trình thưởng thức Chính từ ngữ giản đơn, lời thơ nhịp nhàng khúc chiết, vần điệu sẽ giúp

các em thích thú và thuộc tác phẩm một cách dễ dàng “Việc tác phẩm văn học liệu có

Trang 23

thực sự đi vào đời sống tâm hồn trẻ thơ hay không phụ thuộc trước hết vào bản thân nội dung tác phẩm và đặc biệt đối với trẻ trước tuổi đi học còn phụ thuộc rất lớn vào việc tác phẩm đó đã được thể hiện như thế nào?” [119, Tr.109]

Thứ tư, văn học thiếu nhi phải là những tác phẩm mang tính giáo dục đạo

đức, tính cách cho trẻ một cách nhẹ nhàng Từ đó, thông qua tác phẩm giúp trẻ nhận

ra những giá trị tốt đẹp để hướng tới chân thiện mỹ trong cuộc sống “Người viết cho

thiếu nhi là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một nhà giáo muốn các em trở nên tốt đẹp Quan điểm sư phạm và văn học thiếu nhi là hai anh em sinh đôi” [62 Tr.27]

Ý nghĩa giáo dục là hướng các em vào những việc làm đơn giản, cụ thể, phù hợp với lứa tuổi như chăm học, biết giúp đỡ người thân những việc làm thường nhật, biết nghe lời người lớn, biết rèn luyện thân thể, biết yêu thương, sẻ chia, biết sống thật thà… Những bài học đó không hề khô khan hay cứng nhắc nếu như tác giả biết khéo léo trình bày Cùng với bố, mẹ, thầy, cô… tác giả là một trong những “trụ đỡ tinh thần”1quan trọng của các em

Đối với trẻ nhỏ, chúng ta không cần phải “đao to búa lớn” trong việc giáo dục các em, với lứa tuổi dễ xúc động, ưa nhẹ nhàng thì việc vỗ về bằng những lời khuyên, những mẩu chuyện nhỏ, những tấm gương hết sức đời thường, tuy giản dị những hiệu quả giáo dục mà nó đem đến lại vô cùng to lớn Chúng ta không cần đến những tác phẩm có độ dày hàng mấy trăm trang, những câu chuyện với nhiều tình tiết li kỳ, số lượng nhân vật lớn Thay vào đó, chúng ta có thể đưa ra những mẩu chuyện nhỏ, một bài thơ ngắn, một đoạn nhàn đàm, một câu chuyện cười nhưng hấp dẫn thì hiệu quả giáo dục mang lại không hề nhỏ chút nào Nhiều bài học tưởng chừng đơn giản như việc đi học, biết thật thà và hối lỗi lại được nhiều tác giả thể hiện qua những mẩu chuyện ngắn, những đoạn nhàn đàm Đó là phương thức thể hiện được nhiều tác giả ở Nam Bộ lựa chọn khi viết cho thiếu nhi trong những thập niên đầu của thế kỉ XX mà tiêu biểu có các tên tuổi: Hiền Tâm, Hy Vọng, Nam Sơn, Tràng Kiều, Vũ Long Vân…

1

Chữ dùng của Ngọc Bi (1/1/2015), trong Nguyễn Nhật Ánh: nhà văn phải là trụ đỡ tinh thần của các

em, http://thanhnien.vn/van-hoa/nguyen-nhat-anh-nha-van-la-tru-do-tinh-than-cua-tre-em-522086.htm

Trang 24

Như vậy, với văn học thiếu nhi, đặc điểm cơ bản phải là những tác phẩm có nội dung phản ánh hết sức phong phú và đa dạng nhưng bình dị và gần gũi với lứa tuổi trẻ thơ Dung lượng không cần dài, nội dung ngắn gọn, rõ ràng, trình bày dễ hiểu, trong sáng, dí dỏm, hài hước… phù hợp với tâm lý lứa tuổi thiếu nhi Ở đây, khi phản ánh sự vật, hiện tượng trong tác phẩm, dù tác giả là người lớn hay trẻ nhỏ đều luôn phải lấy xuất phát điểm từ góc nhìn của trẻ thơ, nhân vật trong tác phẩm phải thực sự gần gũi với các em Phải có xúc cảm bằng sự rung động tinh tế của trẻ nhỏ, đơn giản nhưng không đơn điệu Dễ hiểu nhưng không thể thiếu tính li kỳ, hấp dẫn Ngôn ngữ phải tự nhiên nhưng cũng phải giàu chất tưởng tượng, đầy thanh âm và sắc màu

Nói tóm lại, các tác phẩm văn học cho thiếu nhi phải hướng đến mục đích

cao cả là làm cho trẻ cảm thấy thích thú khi tiếp nhận tác phẩm và sau đó nó phải mang tính giáo dục, định hướng nhân cách cho các em Chính những tác

phẩm phải là những công cụ đắc lực, có nhiệm vụ nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ bằng các bài học hết sức nhẹ nhàng nhưng vô cùng sâu sắc Nó thể hiện những ước mơ bình dị, những rung động tinh tế, những biểu cảm ngộ nghĩnh, cùng trí tưởng tượng không giới hạn của các em Mỗi tác phẩm dành cho thiếu nhi được ví như một mảnh đất mầu mỡ để chúng ta gieo trồng những mầm xanh và hứa hẹn trên mảnh đất ấy, những chồi biếc bụ bẫm sẽ sinh trưởng mạnh mẽ, tốt tươi Trẻ nhỏ, mỗi lần đọc sách

là mỗi lần chúng đắm chìm trong thế giới riêng của mình, để rồi khi gấp trang sách lại, các em như vừa được bước ra từ một thế giới khác lạ, thú vị, li kỳ, để mỗi trang sách luôn đóng vai trò như một người bạn tâm tình của trẻ trong cuộc sống mỗi ngày Làm được điều này là thành công lớn của tác giả viết cho thiếu nhi, vì mỗi sáng tác là

hành trang đường đời cho trẻ mà như nhà văn Vũ Ngọc Phan đã nhận định: Thứ văn

cho trẻ con đọc là thứ văn khó viết, không những phải sáng suốt, ngây thơ, mà lại còn phải có giọng kể chuyện ngọt ngào nữa [85, Tr.35]

1.2 Khái quát về văn học thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám 1945

1.2.1 Một bộ phận văn học đang chuyển động và dần định hình

Văn học thiếu nhi là một bộ phận quan trọng của văn học nói chung Do đó, khi một nền văn học chuyển động thì văn học thiếu nhi cũng chuyển động theo Văn học thiếu nhi ở Việt Nam trước khi có chữ Quốc ngữ đa phần là văn học dân gian

Trang 25

mang tính truyền miệng Nó bao gồm những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, những khúc đồng dao, những câu hát ru, những lời giáo huấn Trong văn học trung đại, các sáng tác bằng chữ viết dành cho thiếu nhi còn rất ít, phần nhiều dịch lại những câu

chuyện từ văn học Trung Quốc như Nhị thập tứ hiếu, giai thoại về các vị hiền nhân

Trung Hoa như Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử với các môn đồ Khảo sát văn học trước 1900, ta sẽ khó tìm thấy các tác phẩm viết thuần nhất viết cho thiếu nhi trên khắp cả nước chứ không nói riêng gì đến vùng đất Nam Bộ Văn học nước nhà trước

1900 không phải là không có những tác phẩm văn học thiếu nhi, nhưng nhìn chung,

cả chủ thể sáng tác cũng như đối tượng tiếp nhận đều chưa xác định rõ ràng mục đích sáng tác và đối tượng tiếp nhận là thiếu nhi Thành thử, trong các sáng tác của thời kì này còn chưa thực sự phân biệt được đó là tác phẩm viết cho thiếu nhi hay cho người

lớn Điều này thể hiện rõ qua các tác phẩm như Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ,

Ve sầu và nhặng xanh của Phạm Quý Thích, Con hổ có nghĩa của Vũ Trinh Những

tác phẩm này được học giả Nguyễn Đăng Na sưu tầm, tập hợp và đã in thành sách1;

Giai đoạn sau có các tác phẩm như: Chuyện giải buồn cuốn 1(1880) Chuyện giải buồn

cuốn 2 (1885) của Huỳnh Tịnh Của; Chuyện khôi hài (1882), Lục súc tranh công

(Dịch từ chữ Hán 1887) của Trương Vĩnh Ký

Nhìn chung, văn học viết thời kì trước 1900 từ độc giả thưởng thức đến đối tượng phản ánh trong tác phẩm không thuần nhất là thiếu nhi và phục vụ cho lứa tuổi thiếu nhi Trong những tác phẩm ấy đối tượng độc giả cũng như đối tượng phản ánh chủ yếu là người lớn Với trẻ em không được phản ánh một cách cụ thể, đa chiều, mà chỉ được nói tới ở mức độ ngắn gọn như một lát cắt mỏng trong tác phẩm Đơn cử,

trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ (Truyện thứ 16 trong 20 truyện trong sách Truyền kỳ mạn lục) có yếu tố hoang đường, kỳ ảo, huyền hoặc và

cũng có bóng dáng và hành động của trẻ nhưng nó chưa phải là tác phẩm hoàn toàn cho thiếu nhi Đôi khi, tác phẩm viết thời kì trung đại cũng ít nhiều hướng đến độc giả nhỏ tuổi ở nội dung giáo huấn về những chuẩn mực xã hội, những quy tắc ứng xử

trong cuộc sống chẳng hạn như: Ông tiên ăn mày, Con hổ có nghĩa của tác giả Vũ

Trinh [66, Tr 449], Ve sầu và nhặng xanhcủa tác giả Phạm Quý Thích [66, Tr 478] Tình trạng này kéo dài cho tới những năm cuối thế kỉ XIX

1

Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung đại, Tập một, NXB giáo dục, 2001

Trang 26

Cuối thế kỉ XIX, chữ Quốc ngữ ngày càng hoàn thiện và dần trở thành công cụ giao tiếp chính thức của nhà cầm quyền, đồng thời cũng dần là công cụ sáng tác chính của văn học trên đất nước ta Bên cạnh đó, việc truyền bá văn hoá, văn học phương Tây vào nước ta thông qua báo chí, những người Pháp định cư tại Việt Nam và tầng lớp trí thức Tây học đã phần nào ảnh hưởng tới nền văn hoá, văn học nước nhà Lúc này, chữ Quốc ngữ đã ăn sâu, bám rễ vào đời sống cũng như quá trình sáng tác văn học Ngoài ra, báo chí, ngành in ngày càng phát triển là tiền đề để văn hoá, văn học nước ta có điều kiện tiếp xúc với nền văn hoá và văn học nước ngoài, chủ yếu là văn hoá và văn học phương Tây mà cụ thể là nền văn hoá và văn học Pháp theo đúng chức năng “báo chí hướng đạo, gầy dựng văn học” [92, Tr.175] Chính các tiền đề về chữ viết, văn hóa và văn học phương Tây vào nước ta thời kì ấy đã góp phần làm cho nền văn học cả nước nói chung, văn học Nam Bộ nói riêng trong mấy thập niên đầu thế kỉ

XX có những chuyển biến rõ nét, trong đó có mảng sáng tác cho thiếu nhi Mặc dù có điều kiện tiếp xúc với nền văn học phương Tây từ rất sớm, nhưng trong những năm cuối thế kỉ XIX, các sáng tác trong nước dành cho thiếu nhi còn rất hạn chế chủ yếu là

các tác phẩm dịch từ truyện ngụ ngôn của La Fontaine và Perrault như: Con ve và con

kiến, Nồi đất với nồi đồng, Đứa con nít với thầy dạy học, Con cưỡng mang lông con công, Ếch nhái xin cho có một vua, Con mèo con chồn với con thỏ nhỏ, Con sư tử với con công… những tác phẩm dịch tự truyện ngụ ngôn nước ngoài đăng chủ yếu trên

phần Thứ vụ của Gia Định báo

Những năm đầu thế thế kỉ XX, sau khi đặt ách đô hộ lên đất nước ta một cách toàn diện, thực dân Pháp đã tiến hành ngay cuộc khai thác thuộc địa và “khai hoá nền văn minh” với quy mô lớn ở nước ta như chúng rêu rao Nhưng thực chất các cuộc khai thác, những chiêu trò khai hoá văn minh chính là công cuộc bóc lột và vơ vét tài nguyên trên mảnh đất Việt Nam một cách triệt để mà thôi Trên lộ trình tiến hành âm mưu của mình, thực dân Pháp đã tạo điều kiện cho chữ Quốc ngữ phát triển và đi vào đời sống của người dân một cách sâu rộng như mở trường dạy chữ Quốc ngữ, cho xuất bản nhiều tờ báo Bên cạnh các trường học dạy chữ Quốc ngữ còn dạy cả tiếng Pháp Mục đích chính của thực dân Pháp khi để cho chữ Quốc ngữ và chữ Pháp có điều kiện phát triển vì chúng chủ yếu muốn đào tạo đội ngũ tay sai Ngoài ra, thực dân Pháp còn muốn dân chúng nắm rõ các thông báo, quy định, chính sách, sắc lệnh

Trang 27

Chính từ những mục đích này, thực dân Pháp vô tình đã tạo điều kiện cho nhiều người Việt Nam tiếp cận được với văn hoá và văn học nước ngoài, nhất là văn học Pháp Từ những năm đầu của thế kỉ XX, văn học thiếu nhi ở Nam Bộ đã có một đời sống mới

“Dưới chế độ thực dân phong kiến, qua những cuộc cách tân văn học theo xu hướng

hiện đại hoá, văn học trẻ em mới bắt đầu được chú ý” [62 Tr.6] Điều này được

minh chứng ở đông đảo các tác giả và số lượng lớn các tác phẩm dành cho thiếu nhi Văn hoá và văn học nước ngoài được người dân Việt Nam tiếp cận không chỉ thông qua trường học do Pháp mở ra mà còn qua một kênh thứ hai khác đó chính là theo bước chân của các tầng lớp Tây học Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của văn học nước ta nói chung và Nam Bộ nói riêng như nhận định của Bằng

Giang: Địa lý văn học đi sát với địa lý chính trị [28]

Đầu thế kỉ XX có Thơ mẹ dạy con (1907) của tác giả Huỳnh Tịnh Của1

, tuy vậy chúng tôi chỉ thấy thống kê trong sự nghiệp sáng tác chứ chưa tìm thấy tập thơ cụ thể Thời điểm này, các tác phẩm viết cho thiếu nhi đã xuất hiện rải rác bao gồm các tác phẩm dịch thuật và sáng tác Mảng dịch thuật, tiếp tục phong trào dịch từ các tác phẩm văn học phương Tây mà cụ thể là văn học Pháp với những sáng tác của các nhà văn lớn Điều này cũng thật dễ hiểu vì thực dân Pháp vào nước ta mang theo nền văn hoá, văn học của họ Mặt khác, chính tầng lớp trí thức Tây học cũng góp phần đưa văn hoá và văn học nước nhà có điều kiện tiếp xúc với văn hoá và văn học phương Tây Chính những yếu tố này đã thúc đẩy nền văn học nước ta có điều kiện bước mạnh sang một giai đoạn văn học mới, giai đoạn hiện đại nền văn học nước nhà như

nhận xét của Phạm Thị Thu Hương viết trong lời giới thiệu cuốn Trần Quang Nghiệp

cây bút truyện ngắn xuất sắc Nam Bộ đầu thế kỉ XX: “Trong tiến trình hiện đại hóa

văn học Việt Nam, giai đoạn 30 năm đầu thế kỉ 20 có một vị trí, vai trò quan trọng, được xem là giai đoạn văn học giao thời, đánh dấu bước quá độ, chuyển tiếp về mặt

hệ hình giữa văn học trung đại và văn học hiện đại” [88, Tr.9] Văn học thiếu nhi cũng không nằm ngoài dòng “hải lưu” ấy Chúng cũng có sự chuyển mình mau lẹ để bắt kịp thời đại

Các sáng tác dành cho thiếu nhi trong những năm đầu của thế kỉ XX ngoài một

số tác phẩm dịch từ văn học Pháp, Trung Quốc còn có những sáng tác đã được in

1

https://vi.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_T%E1%BB%8Bnh_C%E1%BB%A7a

Trang 28

thành sách như: sách Hoa hồng, Hoa mai, Hoa xuân… của nhóm Tự lực văn đoàn

Bên cạnh dịch thuật cũng đã có những tác phẩm sáng tác Ở miền Bắc, Tản Đà có hai

cuốn Lên sáu và Lên tám, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc có hai tuyển tập Đông tây ngụ

ngôn và Nhi đồng lạc viên Ở miền Nam có Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn của

La Fontaine trong Đông Dương tạp chí (1913-1917) và sau được nhà xuất bản Trung

bắc tân văn ấn hành năm 1928, Trần Phong Sắc với tác phẩm dịch Nhị thập tứ hiếu

(1911), Trần Chánh Chiếu với bút danh là Kỳ Lân Các đã dịch Ba người ngự lâm

pháo thủ từ tiểu thuyết Les trois mousquetaires của Alexandre Dumas Truyện dịch

được khởi đăng trên báo Lục tỉnh tân văn từ số 269 (10-4-1913) và dừng ở số 340

(27-8-1914) nhưng vẫn chưa kết thúc Điều đáng nói nhất trong giai đoạn này chính là việc xuất hiện những tác giả đã dành sự quan tâm đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của mình cho trẻ em Cùng với đó là những tác phẩm đã tiến sát đến “sự thuần nhất” hướng đến đối tượng độc giả thiếu nhi Nội dung và nhân vật trung tâm trong tác phẩm là thiếu nhi và hướng đến thiếu nhi Tuy nhiên, hơn mười năm đầu của thế kỉ

XX số lượng tác giả và tác phẩm văn học dành cho các em vẫn còn hạn chế

Từ những năm cuối thập niên thứ 2 của thế kỉ XX trở đi, văn học thiếu nhi Nam Bộ mới có bước khởi sắc Mốc đánh dấu cho sự phát triển vượt bậc phải kể đến

từ giữa năm 1920 với sự ra đời của tờ báo Phụ nữ tân văn Tờ báo này đã dành hẳn một phần trong mỗi số xuất bản để đăng bài cho thiếu nhi Phần này được Phụ nữ tân

văn in tựa đề to, rõ, đậm, trang trọng với tên gọi Phần nhi đồng Hầu hết các tác

phẩm văn học viết cho thiếu nhi trong giai đoạn này chúng tôi khảo cứu chủ yếu thấy

có trên báo Phụ nữ tân văn là chính, ngoài ra còn in rải rác trên các tờ báo khác cùng thời mà nhiều thứ hai phải kể đến là tờ Lục tỉnh tân văn, Nam Phong tạp chí

Trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy có những tác giả là người miền Nam

có bài viết cho thiếu nhi đăng trên các báo miền Bắc như các sáng tác của Nguyễn

Văn Kiêm, Đông Hồ, Cao Văn Hai… trên báo Nam Phong tạp chí và những nhà văn

phía Bắc nhưng tác phẩm của họ được in trong các tờ báo phía Nam chẳng hạn như các tác giả Tản Đà, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Cử, Vân Đài… đều nằm trong vùng khảo sát và nghiên cứu của chúng tôi

Sự trưởng thành của văn học thiếu nhi miền Bắc ở giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX phải kể đến những tên tuổi như: Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Tản Đà, Nam Cao,

Trang 29

Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài với hàng loạt các tác phẩm: Nhi đồng lạc

viên, Lên sáu, Lên tám, Từ ngày mẹ chết, Bài học quét nhà, Bảy bông lúa lép, Những ngày thơ ấu, Dế mèn phiêu lưu ký… là minh chứng đánh dấu sự phát triển của văn học

thiếu nhi nước nhà nói chung và văn học thiếu nhi miền Bắc nói riêng

Góp phần vào thành công cho mảng văn học thiếu nhi Việt Nam hơn bốn thập

kỉ đầu của thế kỉ XX, văn học thiếu nhi Nam Bộ cũng đã xuất hiện nhiều tác giả và tác phẩm Nhiều tác phẩm từ sáng tác đến dịch thuật được đăng trên các tờ báo cùng kỳ

như: Phụ nữ tân văn, Lục tỉnh tân văn, Nam Phong tạp chí… với các tác giả và tác phẩm tiêu biểu như: Cần kiệm của Dị Sử, Ba ông táo của Đặng Hưng Châu, Tích con

cắc ké của Huấn Trai, Lân Tam bất như của Nguyễn Tử Thứt, Chuyện thằng khùng và dại lại thèm làm biếng của Nguyễn Đức Đạo, Thằng Ngả gió của Chương Dân, Nhớ

ơn mẹ của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Nghĩa đồng bào của Thuần Phong, Lục tài tử

của Nguyễn Nùng Sơn, Hai đứa con hiếu của Long Vân, Đối với thầy của Vũ Đình Tuệ, Mấy lời khuyên học - sinh về dịp Nguyên - đán của Nguyễn Văn Kiêm, Trẻ mồ

côi của Vân Đài, Con nhà thất nghiệp của Hồ Văn Hảo…

Ở thể loại phóng tác, dịch thuật, nhiều tác giả tên tuổi viết cho người lớn nay ta bắt gặp họ dành cho lứa tuổi thiếu nhi sự ưu ái trong sự nghiệp sáng tác như tác giả Hồ Biểu

Chánh với tác phẩm Cay đắng mùi đời, phóng tác từ Không gia đình của nhà văn Pháp Hector Malot đăng trên báo Lục tỉnh tân văn, ngoài ra còn có những tác phẩm sáng tác xuất sắc khác như Cha con nghĩa nặng, Con nhà nghèo Tác giả Nguyễn Văn Vĩnh dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine, Truyện trẻ con của Perrault, Tê-lê-mạc du ký của Fénélon, Ba

chàng ngự lâm pháo thủ của Alexandre Dumas Ngoài Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn

Vĩnh, chúng ta phải kể đến sự góp công không nhỏ của các tác giả trong việc dịch và phóng tác các tác phẩm nước ngoài như: Ái Thông, Hoài Sơn, Hy Vọng, Mile Long Quang, Nguyễn Nùng Sơn, Nguyễn Văn Nhứt, Nguyễn Tuấn Anh, Phan Văn Chính,

Thanh Ngôn với hàng loạt các tác phẩm như: Bốn anh tài tử, Cậu bé đờn hay vẽ giỏi, Ba

người bạn hữu, Người cao lớn và thằng lùn đủn, Lục tài tử, Chuyện con nai làm hoàng hậu, Chuyện tên tiều phu mất búa, Cứu vật, vật trả ơn cứu nhơn, nhơn trả oán, Cái hang mầu nhiệm… và tập truyện dịch Chuyện thần tiên Ấn Độ của Việt Đông

Trang 30

Như vậy, văn học thiếu nhi giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 của cả nước nói chung và Nam Bộ nói riêng đã xuất hiện nhiều tác giả và tác phẩm hơn hẳn so với những năm cuối thế kỉ XIX Mảng văn học này đã đi được một chặng đường dài, tuy chậm mà chắc trong lộ trình phát triển Thời kì đầu thế kỉ XX chỉ là những tác phẩm dịch thuật hoặc sáng tác đơn thuần bằng việc viết lại các tác phẩm văn học dân gian Ngôn từ và phong cách sáng tác còn nặng về văn phong biền ngẫu Nhưng càng về sau, văn học thiếu nhi càng hoàn thiện hơn trên con đường hiện đại hoá Nội dung trong các sáng tác phong phú với rất nhiều chủ đề, đề tài được thể hiện thông qua nhiều thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện cười, nhàn đàm, đến thơ Những tác phẩm sáng tác ở giai đoạn sau ngày càng tiệm cận đến yêu cầu của văn học dành cho thiếu nhi Số lượng tác phẩm sáng tác những năm sau luôn nhiều hơn năm trước Những điều nói trên chứng tỏ văn học thiếu nhi Việt Nam nói chung và văn học thiếu nhi Nam Bộ nói riêng giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đang dần định hình và hứa hẹn một lộ trình phát triển với nhiều kết quả

1.2.2 Một bộ phận văn học bước đầu đạt được những thành tựu nhất định

Giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỉ XX, văn học viết cho thiếu nhi chủ yếu thể hiện ở mảng dịch thuật Nhưng bắt đầu từ khoảng những năm sau 1931, văn học viết cho thiếu nhi đã có bước phát triển đáng kể, số lượng tác giả và tác phẩm tăng nhiều

so với ba thập kỉ đầu Cùng với đó, có nhiều tờ báo dành số lượng trang in đáng kể

cho văn học thiếu nhi Phụ nữ tân văn đã dành hẳn một phần từ 3-5 trang in trên mỗi

số báo để đăng tải các nội dung liên quan đến nhi đồng trong đó có văn học Đây được coi là diễn đàn văn học dành cho thiếu nhi đầu tiên và lớn nhất tính đến thời điểm đó Có những tác giả, tác phẩm đề cập đến những cung bậc cảm xúc, những ước

mơ, khát vọng của tuổi thơ hồn nhiên trong sáng, tiêu biểu như: Thằng Đễ của An Khương, Hai cái toa đòi tiền (khuyết danh), Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh,

Thằng Ngã gió của Chương Dân, Làm việc nghĩa của Lương Tâm, Ba đứa chăn trâu

của Tô Văn Trước, Đối với thầy của Vũ Đình Tuệ, Công cha nghĩa mẹ của Vũ Đăng Nghị, Tình nghĩa chị em của Ngẫu Trì, Ở Trong cuốn sách của Vĩnh An Hà-Du Nhiên

Tử… Có nhiều tác phẩm là lời giáo huấn, là câu chuyện mang tính giáo dục nhẹ

nhàng, là bài thơ răn khuyên con trẻ như Sắt mài chày ngày nên kim của Nguyễn Tấn Hưng K.B, Ơn thầy dạy của Hy Vọng, Yêu mến cha mẹ của Long Vân, Công ơn cha

Trang 31

mẹ lấy chi đáp đền của Hiền Tâm… cũng như bày tỏ cảm xúc trước những sự vật, hiện tượng gặp phải trong cuộc sống, nhất là cuộc sống của của người dân nô lệ,

mất nước thể hiện trong Lòng háo nghĩa của Hy Vọng, Tình yêu nước (một tác phẩm khuyết danh), Đồng xu phi nghĩa của Bích Thuỷ, Nghĩa đồng bào của

Nguyễn Văn Ngọc…

Từ năm 1931 đến năm 1945, ở Nam Bộ, văn học dành cho thiếu nhi đã dần phát triển sôi động Bên cạnh những tác phẩm được nhà văn sáng tác, có nhiều tác phẩm dịch đã được in thành sách với dung lượng lớn mà tiêu biểu là loạt truyện dịch

từ truyện Ấn Độ mang tựa đề Chuyện thần tiên Ấn Độ của dịch giả Việt Đông Mỗi một truyện được Việt Đông cho in thành từng cuốn riêng, cụ thể như: Con sư tử cưới

vợ, Đường đi xuống địa ngục, Cưỡi ngựa lên trời, Ai cướp công nương… Nhiều tác

giả đã nổi tiếng ở mảng sáng tác cho người lớn, nhưng nay cũng đóng góp vào quỹ văn học cho thiếu nhi qua hàng loạt các tác phẩm như: Chương Dân (Phan Khôi), Bích Thuỷ, Hồ Văn Hảo, Viên Hoành, Vĩnh An Hà - Du Nhiên Tử (Nguyễn Chánh Sắt), Vân Đài, Việt Đông, Đông Hồ Ngoài ra còn có các sáng tác từ những học sinh đang ngồi trên nghế nhà trường như: Trịnh Tố (học sinh Ninh Cương), Vũ Ngọc

Cử (học sinh trường bảo hộ Hà Nội), Nguyễn Thị Dần, Trần Trọng Giao (Học sinh Nha Trang)…

Nội dung phản ánh chủ yếu trong các sáng tác dành cho thiếu nhi giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 đều hướng vào việc giáo dục nhân cách trẻ em, nhưng không phải là những lời giáo huấn khô khan, cứng nhắc mà thay vào đó là hình tượng nhân vật điển hình cùng nhiều hành động cụ thể gắn với đời sống thường nhật và tâm lý của trẻ Ngoài ra, các sáng tác thời kì này còn thể hiện những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của lứa tuổi thần tiên - lứa tuổi ưa khám phá, thích tìm hiểu Có tác giả lại đi vào khai thác trên bình diện tính cách con trẻ ở những trò nghịch ngợm, những thắc mắc rất trẻ con, nét tâm lý rất dễ xúc động với xúc cảm mãnh liệt chỉ có ở trẻ Nét mới trong các sáng tác dành cho đối tượng thiếu nhi ở thời kì này chính là phản ánh cuộc sống của trẻ gắn liền với cuộc sống chung của dân tộc, của đất nước Đời sống của các em cũng được phản ánh đa diện từ trẻ nhỏ của gia đình giàu có, những đứa trẻ bất hạnh đến những mối quan hệ đa chiều của trẻ như tình bạn, tình thầy - trò, tình cảm gia đình và xa hơn là tình đồng bào, tình yêu quê hương đất nước

Trang 32

Như vậy, đến đây có thể tạm kết luận, văn học thiếu nhi ở Nam Bộ hơn bốn thập kỉ đầu của thế kỉ XX đã có được những thành tựu đáng ghi nhận Với đội ngũ sáng tác đông đảo cùng một lượng tác phẩm không nhỏ, thêm vào đó là sự thoát xác dần về thể loại, nội dung phản ánh, hình thức thể hiện, ngôn ngữ diễn đạt đã cho thấy mảng sáng tác này có sự sống độc lập và một vị trí quan trọng trong nền văn học chung của cả nước Qua việc khảo sát và nghiên cứu về mảng văn học cho thiếu nhi ở Nam Bộ từ đầu thế kỉ XX đến 1945, với những vấn đề nêu ra ở trên, cho thấy đây là

bộ phận văn học đã đạt được những thành quả nhất định Từ đó góp phần không nhỏ vào tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam nói chung, văn học quốc ngữ Nam Bộ nói riêng và quan trọng nhất vẫn là những đóng góp của nó cho sự phát triển ở mảng văn học thiếu nhi những chặng đường về sau

1.3 Văn học thiếu nhi ở Nam Bộ giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 – dòng riêng giữa nguồn chung

1.3.1 Diện mạo văn học Nam Bộ đầu thế kỉ XX đến 1945

Từ cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, Nam Bộ đã hoàn toàn trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Trên con đường hoàn thành công cuộc biến nước ta thành thuộc địa đã cuốn theo luồng văn hoá, văn học phương Tây vào vùng đô hộ của Pháp Nam Bộ là vùng đất không những bị đô hộ về mặt chính trị đầu tiên của Pháp ở Việt Nam mà nơi đây cũng chính là vùng đất tiếp cận khởi đầu của văn học, văn hoá nước

ta với nền văn hoá, văn học phương Tây Kể từ đó, vùng đất này không chỉ có sự thay đổi về các mối quan hệ xã hội mà còn có cả sự thay đổi lớn về văn học và nghệ thuật

Sau khi đặt được ách đô hộ vững chắc trên đất Nam Bộ, thực dân Pháp đã thi hành nhiều chính sách về kinh tế, chính trị, văn hoá nhằm mục đích hàng đầu là biến nước ta thành thuộc địa bền vững của Pháp Vì lẽ đó, về kinh tế, thực dân Pháp đã cho xây dựng nhiều công trình như đường xe lửa, bệnh viện, trường học, các công ty, xí nghiệp, hầm mỏ, xưởng máy… nhằm vơ vét của cải, đào tạo tay sai

Về chính trị, Pháp tuyên truyền mọi chính sách lừa bịp, mị dân hòng ru ngủ quần chúng Bên cạnh đó, chúng ra sức đàn áp những người có ý thức yêu nước, những tổ chức chống giặc của người dân Việt Nam

Trang 33

Về văn hoá xã hội, Pháp lập ra trường học nhưng chủ yếu đào tạo lớp công chức thuộc địa, tay sai và phục vụ cho việc giáo dục con em những người dân Pháp sống ở Việt Nam Chúng tổ chức nhiều hội hè, các cuộc thi nhằm ru ngủ quần chúng, nhất là tầng lớp thanh thiếu niên, lôi kéo họ sa vào tệ nạn xã hội để quên đi trách nhiệm của người dân mất nước Thời kì này, các trường học không còn dạy chữ Hán, chữ Nôm nữa mà thay vào đó là chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, điều này tạo điều kiện cho người học tiếp cận với văn hoá, văn học phương Tây một cách dễ dàng Báo chí thời kì này cũng phát triển rầm rộ Theo thống kê của nhóm nghiên cứu do Đoàn Lê Giang chủ nhiệm, văn học Nam Bộ trước 1945 có trên dưới 50 tờ báo ở đủ thể loại Nếu kể riêng đến báo có đăng về văn học, đã có ngót ngét trên 20 đầu báo như: Gia Định báo, Thông loại khoá trình, Lục tỉnh tân văn, Phụ nữ tân văn, Nông cổ mín đàm, Nam Kỳ địa phận, Nam Kỳ Kinh tế báo, Đông Pháp thời báo, Kỳ lân báo, Tân thế kỉ…1

Việc lớn mạnh nhanh chóng của báo chí kết hợp với sự phổ biến sâu rộng của chữ Quốc ngữ là điều kiện thuận lợi để văn học nước nhà có bước tiếp cận với văn học, văn hoá phương Tây Điều này đã tạo nên đội ngũ nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, dịch thuật đông đảo với số lượng tác giả lên đến trên 2002 như: Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn An Khương, Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Trần Phong Sắc, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoàng Mưu, Phú Đức, Trần Quang Nghiệp, Biến Ngũ Nhy, Tân Dân Tử, Bửu Đình, Đông Hồ, Phan Thị Bạch Vân, Vân Đài, Việt Đông… Những tác giả ấy đã rất thành công ở nhiều thể loại sáng tác như: thơ, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết với nhiều thể tài khác nhau và để lại cho nền văn học nước nhà một khối lượng tác phẩm đồ sộ

Sự lớn mạnh của Văn học Nam Bộ giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 còn được minh chứng ở khối lượng lớn các tác phẩm sáng tác với trên 700 cuốn sách3,

1Đoàn Lê Giang, Văn học Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỉ 19 - 1945 – thành tựu và triển vọng

Trang 34

ngoài ra còn vô số bài viết lẻ tẻ đăng trên các tờ báo cùng kỳ Các tác phẩm sáng tác trong khoảng thời gian này có những cuốn khổ nhỏ, độ dày chỉ chừng vài trang là những bài vè, truyện ngắn sáng tác, truyện dịch đã được in thành cuốn như tác phẩm

Giấc mộng anh thợ vẽ của Khổng Lồ (12 trang), Con sư tử cưới vợ, truyện dịch của

Việt Đông; có những cuốn độ dày đến cả trăm trang, có khi lên đến gần cả nghìn

trang như cuốn Lửa lòng của Phú Đức (858 trang) Có tác phẩm chỉ là những bài thơ

có độ dày khoảng 8 đến 10 câu, những mẩu chuyện nhỏ khoảng từ 500 đến 1000 từ trở lại Nhưng trong giai đoạn này cũng đã xuất hiện nhiều tiểu thuyết in trên các báo

kéo dài đến mấy số như tiểu thuyết Hòn máu bỏ rơi của tác giả Phan Huấn Chương,

Con Cưỡng của thằng Bá của tác giả Viên Hoành, truyện dịch Ba người ngự lâm pháo thủ của Trần Chánh Chiếu…

Những nhà văn đầu thế kỉ XX xác định chủ thể tiếp nhận sản phẩm của mình là

người đọc giải trí Loại hình chủ thể tiếp nhận này “được cấu thành bởi tầng lớp tiểu

thị dân, những người buôn bán nhỏ, học sinh, các bà nội trợ, cư dân đô thị có chút học vấn và nhìn chung là bình dân” [40] Chính đối tượng tiếp nhận phong phú như

vậy nên đề tài phản ánh và thể loại sáng tác cũng vô cùng rộng mở để đáp ứng nhu cầu thưởng thức của đông đảo độc giả Các mảng sáng tác trong giai đoạn này hướng đến đối tượng thưởng thức là những tầng lớp biết đọc chữ Quốc ngữ như tầng lớp trí thức, dân thành thị, người buôn bán nhỏ, tầng lớp điền chủ ở nông thôn, trong đó tầng lớp thiếu nhi cũng đã được các tác giả hướng tới

Nội dung phản ánh trong các sáng tác thời kì này vô cùng phong phú và đa dạng Nhiều đề tài được các tác giả đề cập đến như đề tài lịch sử, tình yêu – hôn nhân, thời sự, phong cảnh, xã hội, chính trị Chỉ riêng ở thể loại tiểu thuyết chúng ta cũng thấy được sự giàu có trên phương diện nội dung trong các sáng tác Điều này được thể hiện rõ trong việc đặt tên thể loại cho các tác phẩm như: ái tình tiểu thuyết, trinh thám tiểu thuyết, lịch sử tiểu thuyết, xã hội tiểu thuyết, tâm lý tiểu thuyết, phong cảnh tiểu thuyết, triết học tiểu thuyết… trong đó phải kể đến cả nhi đồng tiểu thuyết Sự phong phú trong nội dung phản ánh chứng tỏ ngòi bút của tác giả đã đi sâu vào đời sống xã hội bằng việc tái hiện nó trên những trang văn Đồng thời, các tác giả khi sáng tác phải hướng tới đông đảo công chúng thưởng thức Nhìn chung, thời kì này công chúng thưởng thức còn hạn chế về mặt sử dụng chữ Quốc ngữ Vì thế, từ các tác

Trang 35

phẩm sáng tác đến các tác phẩm dịch, phóng tác đều được các tác giả cân nhắc trong việc sử dụng từ ngữ, lối diễn đạt nhằm đem lại hiệu quả truyền tải cao nhất Cho nên, bên cạnh việc sử dụng lối viết mới theo văn học phương Tây ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, việc lựa chọn các thể loại truyền thống như thơ lục bát, song thất lục bát hay thất ngôn bát cú vẫn được các tác giả khai thác triệt để

Văn học viết cho thiếu nhi giai đoạn hơn bốn thập kỉ đầu của thế kỉ XX ở Nam

Bộ trong đó văn xuôi, bước đầu có những sáng tác thuộc thể loại nhàn đàm, truyện ngắn sau đó đến tiểu thuyết Nội dung đề cập đến trong các sáng tác cũng được chú ý

ở mức độ đơn giản, dễ tiếp cận với người thưởng thức, nhất là những tác phẩm dịch hoặc phóng tác Những tác phẩm ấy, dưới tài năng của dịch giả đã biến những tác phẩm gốc với nội dung dài, nhiều tình tiết rối rắm, ngôn từ xa lạ, lối sống chưa quen biết, tên gọi của nhân vật khó nhớ, khó đọc đã được nhà văn “Việt hoá” sao cho người đọc thấy được những nhân vật, những bối cảnh, những sự việc và lời ăn tiếng nói của

họ trong tác phẩm như diễn ra tại nơi người đọc sinh sống Ví dụ, ta khó có thể thấy đâu là bóng dáng của con người nước Pháp, phong tục Pháp, đất nước Pháp trong tác

phẩm Cay đắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh khi phóng tác tác phẩm Không gia đình của nhà văn Pháp Hector Malot Nếu như chưa bao giờ đọc Không gia đình, chắc chắn một điều không ai biết Cay đắng mùi đời là tác phẩm phóng tác Ở đó, ta thấy

tên nhân vật, hoàn cảnh xã hội, lời ăn tiếng nói rặt chất Nam Bộ

Ở thể loại thơ, bên cạnh sử dụng thể thơ truyền thống như lục bát, song thất lục bát, thơ luật Đường thì phương thức sáng tác theo thể thơ mới đã được nhiều tác giả

sử dụng Truyện cười với nội dung vui tươi, dí dỏm ngôn ngữ gần gũi với trẻ thơ cũng được nhiều tác giả khai thác Cũng có người cho rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học giai đoạn này vì quá đơn giản, kết cấu tác phẩm lỏng lẻo, nội dung phản ánh nghèo nàn, ít tình tiết, làm nên chất lượng tác phẩm không cao Điều này, chúng ta cần nhìn nhận lại dựa trên nhãn quan về văn hoá, và lịch sử văn học của vùng đất Nam Bộ giai đoạn này

Văn học Nam Bộ hơn 45 năm đầu thế kỉ XX được đánh giá là giai đoạn mở đầu cho diễn trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam Trong giai đoạn này, văn học Nam Bộ đã đạt được nhiều thành tựu lớn Số lượng tác giả và tác phẩm tăng nhanh so với những năm cuối thế kỉ XIX và so với những vùng khác của cả nước trong cùng

Trang 36

thời kì Theo nhận định của Đoàn Lê Giang “Vùng văn học này đã có một đời sống rất sôi nổi với hàng trăm cây bút và hàng mấy trăm tác phẩm cuốn hút hàng mấy triệu độc giả” [22, Tr.5]

Với số lượng tác giả và tác phẩm đồ sộ, sự phong phú về đề tài phản ánh cũng như nét mới trong nghệ thuật thể hiện, văn học Nam Bộ hơn bốn thập kỉ đầu của thế

kỉ XX trong đó có mảng văn học dành cho thiếu nhi được xem là nền móng của văn học Việt Nam hiện đại nói chung và văn học thiếu nhi nước nhà nói riêng

1.3.2 Mảng sáng tác cho thiếu nhi trong đời sống văn học Nam Bộ 45 năm đầu thế kỉ XX

Có thể thấy rằng, so với chiều dài tiến trình văn học Việt Nam, khoảng 45 năm đầu thế kỉ XX quả là khoảng thời gian ngắn ngủi, tuy nhiên nó cũng đủ dài để cho mảng văn học thiếu nhi đạt được những thành tựu nhất định Từ đầu thế kỉ XX đến

1945, một thời gian có nhiều biến đổi trong đời sống, xã hội, văn hoá, trong đó có mảng văn học, thì những sáng tác viết cho thiếu nhi thời kì này cũng có nhiều biến chuyển tất yếu của nó Văn học nước nhà giai đoạn này đã dịch chuyển dần sang sáng tác theo văn phong hiện đại của phương Tây Trong đó, Nam Bộ là vùng đất tiếp xúc

và chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây sớm nhất và sâu sắc nên có điều kiện phát triển nền văn học theo lối hiện đại là lẽ tự nhiên, trong đó mảng văn học thiếu nhi bước đầu cũng tham gia vào lộ trình ấy Mảng văn học này ở Nam Bộ giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 tuy chưa phải là giai đoạn văn học có nhiều thành tựu lớn nhưng bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định Nó chính là những “trái ngọt đầu mùa” có được do sự vun bồi của nhiều nhà văn trên bước đường hiện đại hoá văn học đầy khó khăn và thử thách Từ những “trái ngọt” này sẽ cho ra “hạt giống tốt” hứa hẹn những “vụ mùa bội thu” sau đó, và điều này đã được kiểm chứng qua thời gian Thành quả mà mảng văn học viết cho thiếu nhi giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến

1945 ở Nam Bộ được nhìn nhận trên nhiều phương diện từ số lượng tác giả, khối lượng tác phẩm, đến nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện

Theo thống kê bước đầu của chúng tôi, văn học viết cho thiếu nhi từ đầu thế kỉ

XX đến 1945 ở Nam Bộ đã quy tụ được hơn 174 tác giả (Con số này có thể nhiều hơn

vì có những tác phẩm khuyết danh, những tác phẩm đăng trên các báo, sách in thành

Trang 37

cuốn của từng tác giả nhưng do thời gian dài và bảo quản không tốt nên bị thất lạc, rách và mờ dẫn đến khó thống kê, không đọc rõ tên tác giả) Nhiều tác giả viết cho đối tượng độc giả lớn tuổi mà chúng ta đã rất quen thuộc như Trương Vĩnh Ký, Trần Phong Sắc, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh, Chương Dân, Lê Văn Hoanh, Viên Hoành, Bích Thuỷ, Vân Đài, Hồ Văn Hảo, Việt Đông, Đông Hồ… khi khảo sát chúng tôi thấy trong sự nghiệp sáng tác văn học họ còn dành sự quan tâm của mình cho thiếu

nhi với hàng loạt các tác phẩm như: Con nhà nghèo, Thằng Ngả gió, Tứ thể tranh công, Con cưỡng của thằng Bá, Đồng xu phi nghĩa, Con sư tử cưới vợ, Con nhà thất

nghiệp… Chính những tác giả nòng cốt này đã mang đến nhiều kinh nghiệm sáng tác

cho các thế hệ nhà văn sau này khi gia nhập vào đội ngũ các nhà văn nói chung và khi sáng tác cho thiếu nhi nói riêng Bên cạnh đó, một lực lượng tác giả nhỏ tuổi như: Trịnh Tố (học sinh Ninh Cương), Vũ Ngọc Cử (học sinh trường bảo hộ Hà Nội), Nguyễn Thị Dần, Trần Trọng Giao (Học sinh Nha Trang)… đã đóng góp một phần không nhỏ công sức của mình làm cho lực lượng sáng tác thêm đông đảo và có màu sắc riêng Họ không chỉ là đối tượng thưởng thức của văn học dành cho lứa tuổi thiếu nhi, mà giờ đây, bản thân Họ đã tham gia tích cực vào quá trình sáng tác Tác phẩm của các em không những nói lên được tâm tư, nguyện vọng của lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng mà còn thể hiện được tài năng trong lĩnh vực sáng tác văn học, góp phần làm phong phú đội ngũ sáng tác Nhiều tác phẩm của các em cho thấy đó không đơn thuần chỉ mang tính giải trí, thông qua tác phẩm, chúng ta thấy được những bài học vô cùng bổ ích mà các em muốn nhắn nhủ lại với các bạn đồng trang lứa Đó là những

bài học về tình nghĩa anh chị em mà Trần Trọng Giao đã gửi gắm qua câu chuyện Gà

cùng một mẹ đá nhau; những bài học về các đức tính tốt như Tính thật thà của tác giả

Nguyễn Thị Dần; tinh thần yêu lao động, sống có trách nhiệm, có ước mơ trong

Khuyên em của Trịnh Tố, Ông cụ và chàng trai của Vũ Ngọc Cử

Đội ngũ sáng tác hùng hậu như vậy, nhưng sẽ là thiếu sót nếu không kể đến những tác giả chỉ để lại bút danh như M; N; N.T.A; Mym;Y.M; TK; TrK; M.T; B.L; NTQ; NĐL.V; C.N; N.H.N; V.A; V.H; … và nhiều tác phẩm khuyết danh khác Hầu hết các tác giả viết cho thiếu nhi thời kì này chúng tôi không tìm thấy dữ liệu về tiểu

sử cũng như sự nghiệp sáng tác của họ Chúng tôi hy vọng khi có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu, chúng tôi sẽ tìm hiểu được ít nhiều dữ liệu về cuộc đời và sự nghiệp

Trang 38

sáng tác của những tác giả ấy để góp phần nhỏ bé vào nguồn dữ liệu văn học dân tộc tránh mai một về sau

Điểm lại lực lượng sáng tác cho thiếu nhi ở Nam Bộ nửa đầu thế kỉ XX ta thấy

có nhiều tác giả với bút lực dồi dào Điều này được minh chứng bằng số lượng tác phẩm và thể loại mà họ đã sáng tác được Chẳng hạn, tác giả X có tới 8 truyện ngắn

sáng tác đăng trên báo Phụ nữ tân văn từ số 200 đến số 233, Khúc Khích với 8 truyện

cười, Vũ Đăng Nghị cũng đóng góp tới 5 tác phẩm thơ, Hồ Biểu Chánh có tiểu thuyết

Cha con nghĩa nặng và Con nhà nghèo và tác phẩm phóng tác Cay đắng mùi đời với

độ dài lên đến hàng trăm trang Nhiều tác giả không chỉ sáng tác ở một thể loại mà thành công trên rất nhiều thể loại văn học từ thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhàn đàm cho đến cả truyện cười Tiêu biểu như tác giả Bích Thuỷ với 14 tác phẩm ở nhiều thể loại, cụ thể: 5 truyện ngắn sáng tác, 1 truyện dịch, 2 tác phẩm nhàn đàm - gia huấn, 6 truyện cười; tác giả Hy Vọng có 16 tác phẩm bao gồm: 5 truyện sáng tác, 1 truyện dịch, 7 sáng tác nhàn đàm-gia huấn, 3 truyện cười… Bên cạnh sáng tác, dịch tác phẩm văn học thiếu nhi cũng được nhiều tác giả quan tâm Thời kì này, dịch và phóng tác các tác phẩm nước ngoài, chủ yếu là văn học phương Tây mà cụ thể là văn học Pháp chiếm số lượng lớn Ngoài những tác giả, dịch giả quen thuộc như: Nguyễn Chánh Sắt, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Văn Vĩnh, Hồ Biểu Chánh , còn có sự góp mặt của nhiều dịch giả khác, tiêu biểu như: Hoài Sơn, Nguyễn Văn Nhứt, Ái Thông, Việt Đông, Thanh Ngôn, Mile Long Quang, Nguyễn Nùng Sơn Trong đó phải kể đến những tác giả có số lượng tác phẩm lớn như: Nguyễn Nùng Sơn đã dịch 6 tác phẩm,

trong đó tác phẩm Lục tài tử và Jupiter có độ dài gần chục trang; Cậu bé đờn hay, vẽ

giỏi của Hoài Sơn đăng liên tiếp 6 kỳ của báo Phụ nữ tân văn; Cay đắng mùi đời của

Hồ Biểu Chánh, một tác phẩm phóng tác có độ dày cả trăm trang Trong đội ngũ tác giả-dịch giả cho thiếu nhi, Việt Đông được coi là dịch giả có nhiều tác phẩm cho thiếu nhi mà quan trọng nhất ở chỗ, những truyện dịch của ông được xuất bản thành cuốn

riêng biệt bao gồm: Con sư tử cưới vợ, Ai lỗi ba sinh, Cưỡi ngựa lên trời, Ai cướp

công nương, Đường đi xuống địa ngục… Tất cả đều được in trong Việt Đông văn tập

và lấy tên là Chuyện thần tiên Ấn Độ

Trang 39

Thành quả của mảng văn học dành cho thiếu nhi ở Nam Bộ hơn bốn thập kỉ đầu của thế kỉ XX còn được nhìn nhận trên khối lượng tác phẩm sáng tác được Theo khảo sát của chúng tôi, trong giai đoạn này có 263 tác phẩm sáng tác cho các em Trong tổng số 263 tác phẩm ấy, truyện ngắn và tiểu thuyết có 83 tác phẩm (chiếm 31,5%); Truyện dịch và phóng tác có 37 tác phẩm (chiếm 14,%); Thơ có 49 tác phẩm (chiếm 18,7%); Nhàn đàm- gia huấn có 49 tác phẩm (chiếm 18,7%); Truyện cười cũng có tới 45 truyện (chiếm 17.1%) Trong hàng loạt tác phẩm đã khảo sát trên, có tác phẩm chỉ khoảng 3-5 dòng (truyện cười), cũng có tác phẩm lên tới bốn, năm trang

và được đăng liên tiếp trên nhiều số báo như Tinh tinh tiểu thuyết 1 của Ngu Viên, Tứ

thể tranh trưởng 2 của Tri Cơ, Thằng Ngả gió 3 của Chương Dân, Vì một quan tiền 4,

Dấu hiệu 5 của tác giả X Tiêu biểu hơn cả là tiểu thuyết sáng tác Con cưỡng của

thằng Bá của tác giả Viên Hoành kéo dài mấy chục trang, được đăng từ số 124 đến

164 trên báo Phụ nữ tân văn Nhưng có lẽ đáng nói nhất nếu xét về độ dài trong các

sáng tác cần phải đề cập đến những tác phẩm phóng tác và dịch thuật từ văn học nước

ngoài như: Cái hang mầu nhiệm của Thanh Ngôn6, Cậu bé đờn hay vẽ giỏi của dịch

giả Hoài Sơn7 và một số truyện khuyết danh như Con rắn vàng và con rắn xanh 8,

Chàng thiếu niên tóc vàng 9 và nhiều tác phẩm dịch thuật và phóng tác khác có độ dày

gần trăm trang như: Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Cay đắng mùi đời, Tê-lê-mặc phiêu

lưu ký, Cậu bé đờn hay vẽ giỏi, Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơn trả oán

Nội dung những sáng tác văn học dành cho độ tuổi thiếu nhi ở Nam Bộ trong giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX rất phong phú và đa dạng Nếu như văn học ở giai đoạn trước thế kỉ XX là những tác phẩm văn học dân gian, văn học trung đại có ít nhiều liên quan đến trẻ em với nội dung nghiêng về phản ánh cuộc sống của thế giới tưởng tượng trong những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết… hoặc những sáng tác với nội dung giáo huấn trẻ nhỏ bằng những lời răn dạy khô khan, cứng nhắc Thì nay, văn học

Trang 40

dành cho các em có nội dung sinh động, hấp dẫn hơn nhiều Trong những tác phẩm thời kì này, tuy vẫn sáng tác với mục đích giáo dục các em nhưng nét khác biệt ở chỗ, tác giả đã biết lồng ghép những bài học thông qua hành động, việc làm, suy nghĩ, phản ứng tâm lý của những nhân vật cụ thể nên hiệu quả giáo dục cao hơn rõ rệt Chẳng hạn, dạy trẻ biết giúp đỡ người lớn, biết làm việc cẩn thận, có trách nhiệm trong công việc, các tác giả đã đưa những bài học đơn thuần từ việc quét nhà, giúp mẹ đưa thư, trông nhà cho chủ… đến việc giáo dục trẻ biết yêu thương sẻ chia, sống nhân

ái, thật thà qua những bài học như nhặt được của rơi, trả cho người đánh mất, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn, biết yêu thương đồng bào, quê hương đất nước…

Nếu trước kia, văn học dành cho thiếu nhi phần lớn là những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết, những câu chuyện mang tính li kỳ, huyền bí, những bài ca dao, những lời ru, những bài đồng dao với nội dung kể về sự tích các con vật, loài vật, các anh hùng dân tộc hay giải thích một hiện tượng nào đó trong tự nhiên Thì nay, nội dung

đó tiếp tục được các tác giả sáng tác Bằng chứng là hàng loạt các tác phẩm ra đời

như: Ba ông Táo 1

, Tích con Cắc ké 2 , truyện dịch Chuyện con nai làm hoàng hậu 3 , Chuyện con gà mái tơ đòi nợ vua 4 … và những tác phẩm dịch đã được in thành sách

như các truyện trong tập truyện Truyện thần tiên Ấn Độ của tác giả Việt Đông với nhiều truyện nhỏ như Con sư tử cưới vợ, Cưỡi ngựa lên trời, Ai lối ba sinh, Ai cướp

công nương, Đường xuống địa ngục

Bên cạnh việc tiếp tục phản ánh nội dung về sự tích các con vật, loài vật, các anh hùng dân tộc, giải thích một hiện tượng tự nhiên, văn học thiếu nhi ở Nam Bộ giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945 nhiều tác giả còn gom nhặt và kể lại những mẩu chuyện đời thường luôn gắn với các hoạt động của lứa tuổi thiếu nhi như chăn trâu, tắm ao, tập bơi, thả diều, nhảy dây, bắt ve, đi học… hay chơi những trò chơi con trẻ, trong đó có cả những hành động mà dường như lứa tuổi nhỏ của bất kỳ ai cũng có là chơi đồ hàng, thích đánh lộn và đi ăn cắp vặt Cũng có tác giả khai thác ở nội dung giáo dục các em ở những đức tính tốt như tính thật thà, chăm học, lễ phép (với ông bà, cha mẹ, anh chị, thầy, cô, những người lớn tuổi), biết yêu thương và chia sẻ, biết yêu

1 Đặng Hưng Châu, Ba ông Táo, LTTV, số 34

2 Huấn Trai, Tích con Cắc ké, LTTV, số 31

3 Nguyễn Văn Nhứt, Chuyện con nai làm hoàng hậu, PNTV, số 98

4

Chuyện con gà mái tơ đòi nợ vua, PNTV, số 5

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w