1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về đời sống mới với vấn đề xây dựng đời sống mới tại thành phố cần thơ hiện nay

134 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài hủ tịch ồ Chí Minh, người có công rất lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước đã để lại những di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ người

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯƠNG THỊ HOÀI THANH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

V ỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG MỚI TẠI

THÀNH PH Ố CẦN THƠ HIỆN NAY

TP H Ồ CHÍ MINH - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LƯƠNG THỊ HOÀI THANH

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

V ỚI VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG MỚI TẠI

THÀNH PH Ố CẦN THƠ HIỆN NAY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Tấn Hưng Các số liệu trong luận văn là trung

thực, những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trên

bất kỳ công trình nào khác

Tp H ồ Chí Minh, ngày 29 tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Lương Thị Hoài Thanh

Trang 4

MỤC LỤC

P N MỞ Đ U 3

Chương 1 11

ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG 11

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI 11

1 1

11

1 1 1 iều kiện lịch sử - xã hội hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới 11

1.1.2 Những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới 19

1 2

29

1.2 1 h i niệm đời sống mới 29

1.2.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới 33

Kết luận chương 1 61

Chương 2 62

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG 62

XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG MỚI Ở THÀNH PHỐ C N T Ơ 62

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 62

2 1 –

Ầ 62

2 2 1 ặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Cần hơ 62

2 2 2 ặc điểm văn hóa gi o dục thành phố Cần hơ 68

2 2 3 ặc điểm con người thành phố Cần hơ 75

2 2

Ầ 78

2.2.1 Những thành tựu trong công tác vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ 78

2.2.2 Những tồn tại trong công tác vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ 109

Trang 5

2 3 Ầ

Ầ CHÍ MINH 114

2 3 1 hương hướng góp phần nâng cao hiệu quả đối với công tác xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ 114

2.3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ 115

Kết luận chương 2 121

PH N KẾT LUẬN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 6

P N MỞ Đ U

1 Tính cấp thiết của đề tài

hủ tịch ồ Chí Minh, người có công rất lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước đã để lại những di sản tinh thần vô giá cho các thế hệ người iệt Nam nghiên cứu và học tập Trong kho tàng

tư tưởng của gười tư tưởng về đời sống mới là một trong những tư tưởng sâu sắc và nổi bật

hi nước nhà mới thoát khỏi ch đô hộ của đế quốc thực dân Pháp, Nhật

và chế độ phong kiến, Chủ tịch Hồ hí inh đã đề ra phong trào xây dựng

ời sống mới để phù hợp với nước Việt am độc lập đồng thời nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ăm 1947 gười đã viết tác phẩm

Đời sống mới dưới dạng hỏi đ p với bút danh ân inh để diễn tả cụ thể

những việc cần làm đối với mỗi người, mỗi gia đình mỗi cơ quan tổ chức nhằm làm cho mỗi con người ngày càng tiến bộ, mỗi gia đình ngày càng đầm

ấm, hạnh phúc, mỗi cơ quan tổ chức ngày một văn minh từ đó làm cho đất nước ta ngày càng vững mạnh rong lời tựa hủ tịch ồ hí inh đã khẳng định ý nghĩa của t c phẩm là giúp nhân dân ta thực hành đời sống mới để cứu

quốc và kiến quốc: “Trong lúc kháng chiến cứu quốc chúng ta phải đồng thời

kiến quốc Thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc Anh Tân Sinh viết quyển “Đời sống mới” một cách vắn tắt, rõ ràng, thiết thực, dễ hiểu Đó là một quyển sách nhỏ, chỉ rõ bước đường đời sống mới Tôi mong đồng bào ta mỗi người có một quyển Đời sống mới

để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới Như thế, chúng ta nhất định sẽ tiến bộ hơn” [67, tr.111]

ời sống mới bao gồm đời sống mới riêng cho từng người và đời sống mới chung cho cộng đồng tập thể như c c gia đình làng xã c c bộ đội c c

nhà m y trường học c c công sở … heo gười thì “làm thế nào cho đời

Trang 7

sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn, đó

là mục đích của đời sống mới” [67, tr.113]

ảng Cộng sản Việt Nam với tư c ch là người lãnh đạo cách mạng đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm về đời sống mới của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta gay từ ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

(1976) ảng ta đã x c định: “Vận động một cách kiên trì và sâu rộng để

tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội; đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất” [39, tr.110 - 111] ặc biệt từ khi tiến hành đổi

mới ảng ta rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đời sống mới trong toàn xã

hội iêu biểu nhất có thể kế đến là uộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây

dựng đời sống văn hóa khu dân cư” (từ năm 1995) được thực hiện một c ch

sâu rộng trong toàn xã hội và đã có những thành tựu đ ng kể

Hiện nay đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa, bên cạnh những thuận lợi, chúng ta cũng phải chịu không ít khó khăn và th ch thức Có nhiều cơ hội

mở ra cho chúng ta, có thể đưa nước ta trở nên giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu nhưng nước ta cũng chịu ảnh hưởng không ít những

tư tưởng, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền từ bên ngoài Bên cạnh đó một bộ phận cán bộ đảng viên bị tha hóa về đạo đức, lối sống, tệ nạn tham

ô lãng phí quan liêu ngày càng tăng dẫn đến nguy cơ chệch hướng chủ nghĩa xã hội Do vậy, vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới là điều rất cần cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay nhằm đ p ứng được yêu cầu chung của công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đ p ứng được sự mong đợi của đông đảo cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân

Xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ bên cạnh tiếp thu tinh hoa văn ho nhân loại, bảo tồn phát huy giá trị văn ho của mình, vừa sử dụng những thành quả kinh tế, chính trị - xã hội và đặc biệt là những thành quả của

Trang 8

khoa học công nghệ hiện đại nhằm đẩy mạnh sáng tạo các giá trị văn ho truyền thống để phát triển bền vững trước những t c động hai mặt của nền kinh tế thị trường, những hạn chế của việc thực hiện chính s ch định cư quy hoạch phát triển kinh tế… ì vậy, việc xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ là nhiệm vụ cấp thiết bên cạnh các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quốc phòng an ninh trên địa bàn

ưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ

Chí Minh” cụ thể trong lĩnh vực xây dựng đời sống mới, thành phố Cần hơ

đã đạt được nhiều thành tựu Bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế rất cần được tiếp tục nghiên cứu, đ nh giá để có những định hướng kịp thời, góp phần làm cho công tác xây dựng đời sống mới ở thành phố Cần hơ có hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới ể nâng cao nhận thức và tìm ra các giải

ph p thúc đẩy việc xây dựng đời sống mới tại thành phố Cần hơ trong giai

đoạn hiện nay, chúng tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đời

sống mới với vấn đề xây dựng đời sống mới tại thành phố Cần Thơ hiện nay” làm luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

ối với vấn đề tư tưởng ồ hí inh về văn hóa và đời sống mới nói chung và vấn đề xây dựng đời sống mới nói riêng từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những phương diện kh c nhau với những kết quả nổi bật

Một là, nghiên cứu làm s ng tỏ tư tưởng ồ hí inh về đời sống mới

đã có c c công trình được công bố có liên quan trước hết phải kể đến như:

“Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất” của Song Thành;“Tư tưởng

Hồ Chí Minh với vấn đề văn hóa trong phát triển” của ỗ hị inh

Thúy (năm 2006) “Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về

xây dựng con người mới, văn hóa mới” của t c giả guyễn rung hu xuất

bản năm 2013; “Cơ sở khoa học và nền tảng văn hoá của tư tưởng Hồ Chí

Trang 9

Minh” của PGS.TS Thành Duy do nhà xuất bản hính trị quốc gia xuất bản

năm 1998,“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa mới ở Việt

Nam”, Nxb hính trị quốc gia, năm 2001 và “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” của Bùi ình

Phong, Nxb hính trị quốc gia, năm 2007,… c công trình này đã làm sáng

tỏ con đường hình thành và một số nội dung cơ bản của tư tưởng ồ hí Minh về văn hóa trong đó có nội dung về đời sống mới

ông trình “Tư duy kinh tế Hồ Chí Minh” của t c giả ao gọc hắng, Nxb hính trị quốc gia, năm 2007; “Góp phần nghiên cứu văn hóa

Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh” của Thành Duy,

Nxb hính trị quốc gia, năm 2004; “Vận dụng và phát triển sáng tạo tư

tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp đổi mới” của Bùi ình

Phong, Nxb Chính trị quốc gia xuất, năm 2007; “Văn hóa và triết lý phát

triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của inh uân Lâm và

PGS.TS Bùi ình hong, Nxb hính trị quốc gia, năm 2008; “Đạo đức

Bác Hồ tấm gương soi muôn đời” của guyễn iết oàn, Nxb Chính

trị quốc gia, năm 2012; “Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, xây dựng

nền văn hoá đạo đức ở nước ta hiện nay” của tác giả Thành Duy và Lê

uý ức, Nxb hính trị quốc gia, năm 2007 c công trình trên chủ yếu luận giải về quan điểm của ồ hí inh về những khía cạnh của vấn đề xây dựng đời sống mới trong xã hội

Hai là, trong thời gian gần đây cũng có rất nhiều công trình và hoạt động

liên quan đến việc xây dựng đời sống mới rước hết có thể kể đến Cuộc vận

động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” do Ủy ban rung ương

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ph t động từ năm 1995 có nội dung toàn diện trên c c lĩnh vực chính trị, kinh tế văn ho xã hội, quốc phòng, an ninh, có quy mô rộng lớn nhằm thực hiện chủ trương đường lối của ảng, chính sách, pháp luật của hà nước tại địa bàn dân cư Bên cạnh đó ảng Cộng sản Việt

Trang 10

am đưa ra quan điểm “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên

tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” tại Nghị Quyết Hội nghị rung ương 5 khóa

(1998) quan điểm này đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng nền văn hóa mới đời sống mới trên phạm vi cả nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Trong cuốn “Giá trị truyền thống trước những thử thách của toàn cầu

hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2002, các tác giả Nguyễn Trọng

Chuẩn và Nguyễn ăn uyên đã phân tích về vật chất của toàn cầu ho dưới góc độ triết học, giá trị học; quan hệ của toàn cầu hoá với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn ho truyền thống, những giải pháp và dự báo về vị trí vai trò, khả năng của giáo dục truyền thống trong sự phát triển nền văn ho nước

ta hiện nay

Ba là, vấn đề xây dựng đời sống mới còn được ảng và hà nước ta rất

chú trọng và đã đề ra đường lối, chủ trương chính s ch ph p luật cụ thể Có thể thấy rõ nhất trong c c văn kiện ại hội đại biểu toàn quốc của ảng ó

là những chỉ dẫn quý b u mang tính phương ph p luận quan trọng, soi sáng việc tìm tòi và nghiên cứu của luận văn

goài ra còn có hàng trăm bài viết mỗi năm đã được đăng tải trên các sách báo, tạp chí nghiên cứu về những khía cạnh của vấn đề xây dựng đời sống mới trong cơ chế thị trường hiện nay

Về phía thành phố Cần hơ đã có nhiều công trình tìm hiểu khá sâu sắc đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội văn hóa và con người thành phố Cần hơ

và những khía cạnh của vấn đề xây dựng đời sống mới Cụ thể như sau:

Nhóm những công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành đặc điểm tự

nhiên, kinh tế - xã hội văn hóa của thành phố Cần hơ có “Địa chí Cần

Thơ” do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2002; “Cần Thơ xưa

và nay” của nhà nghiên cứu Huỳnh Minh, xuất bản năm 1966; “Văn hóa sông nước Cần Thơ” do Trần ăn am chủ biên, xuất bản năm 2008; “Văn

Trang 11

hóa văn nghệ dân gian Cần Thơ” của ô oàng ũ và rần ăn am chủ

biên, xuất bản năm 2008; bài b o “Từ Trấn Giang đến thành phố Cần Thơ”

đăng tại Tạp chí Khoa học Cần hơ số 1 năm 2004 và nhiều công trình khác

đã làm nổi bật những nội dung này

Những công trình nghiên cứu như “Cần Thơ 20 năm xây dựng và phát

triển: 1975 - 1995” của Cục Thống kê Cần Thơ xuất bản năm 1995; bài b o

“Cần Thơ thủ phủ miền Tây” của Thịnh h t đăng trên B o ảnh Việt Nam

năm 2005; bài b o “Cần Thơ - Thành phố trẻ đầy sức sống” của Nguyễn Tấn

uyên đăng trên tạp chí Cộng sản năm 2006…cùng với những báo cáo tổng

kết của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Báo cáo tổng

kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII c c văn kiện đại hội

của ảng ủy thành phố Cần hơ đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về công tác xây dựng đời sống mới tại thành phố Cần hơ

hư vậy, từ trước tới nay đã có không ít công trình đề cập đến quan điểm về đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự vận dụng của ảng ta trong sự nghiệp đổi mới ó là những tư liệu quý để tác giả kế thừa và phát triển trong quá trình thực hiện luận văn uy nhiên vấn đề vận dụng tư tưởng

về đời sống mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Cần hơ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa hiện nay, vẫn chưa có công trình nào chuyên sâu nghiên cứu

Vì vậy công trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới với vấn đề xây

dựng đời sống mới tại thành phố Cần Thơ hiện nay” sẽ góp phần làm sáng

tỏ những vấn đề trên

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu: rên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đời

sống mới và sự vận dụng của ảng ta, luận văn đưa ra một số giải ph p để

Trang 12

tiếp tục ph t huy hơn nữa hiệu quả công tác xây dựng đời sống mới tại thành

phố Cần hơ trong giai đoạn hiện nay

Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung

giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là phân tích điều kiện và những tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí

Minh về đời sống mới

Hai là, phân tích nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đời

sống mới

Ba là, khái quát lịch sử hình thành, phát triển c c đặc điểm về tự nhiên,

kinh tế văn hóa - xã hội và con người thành phố Cần hơ

Bốn là, phân tích thực trạng x c định phương hướng và luận chứng các

giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới tại thành phố Cần hơ

Phạm vi nghiên cứu: Tác giả luận văn không nghiên cứu toàn bộ tư

tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mà chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ tư tưởng

Hồ Chí Minh về đời sống mới và sự vận dụng tư tưởng của gười trong xây dựng đời sống mới về kinh tế và văn hóa tại thành phố Cần hơ từ năm 2000 đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa c -

Lênin tư tưởng Hồ hí inh và c c quan điểm của ảng và hà nước về văn hóa và xây dựng đời sống mới

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng những phương pháp

nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, tác giả còn sử dụng c c phương ph p như thu thập thông tin điều tra khảo s t phương ph p phân tích và tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa văn bản học…

Trang 13

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ những tư tưởng cơ

bản của Hồ Chí Minh về đời sống mới đồng thời góp phần cụ thể hóa quan điểm của ảng về xây đời sống mới tại thành phố Cần hơ trong giai đoạn hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần đề xuất những giải pháp thúc đẩy

công cuộc xây đời sống mới tại thành phố Cần hơ hiện nay

Nội dung nghiên cứu và những kết quả đạt được của luận văn được dùng làm tư liệu cho việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới về chính trị, kinh tế văn hóa và đạo đức

Luận văn cũng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu những công trình tiếp theo về lĩnh vực này, góp phần tích cực vào công tác xây dựng đời sống mới ở Việt Nam hiện nay…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương 5 tiết

Trang 14

Chương 1 ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ ÌN T ÀN VÀ NỘI DUNG

TƯ TƯỞNG Ồ C Í MIN VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

hư ai guyễn uân n han ình hùng ở miền rung đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích ở miền Bắc và nổi bật là phong trào Cần ương do vua àm ghi và ôn hất Thuyết khởi xướng hưng do đường lối kháng chiến không còn phù hợp nên trước sau c c phong trào đều thất bại

Rõ ràng ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã không đ p ứng được trước đòi hỏi giành lại độc lập cho dân tộc hính điều đó đã đẩy nước

ta từ một nước độc lập trở thành một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến ưới ách thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam bị áp bức, bóc lột nặng nề, bị gây chia rẽ và làm suy đồi nòi giống Với Hiệp ước atơnốt (1884), triều đình hà guyễn đã chính thức dâng miền Nam nước ta cho Pháp, chịu sự bảo hộ của Pháp ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam hoàn toàn mất độc lập

ang đầu thế kỷ XX, trước chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam bắt đầu có sự biến chuyển và phân hoá sâu sắc, các tầng lớp tiểu tư sản và mầm mống giai cấp tư sản bắt đầu xuất

Trang 15

hiện ồng thời, do ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách của Khang Hữu i Lương hải Siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam, phong trào chống Pháp của nhân dân ta chuyển dần sang xu hướng dân chủ tư sản với sự xuất hiện của c c phong trào ông u uy ân ông inh ghĩa hục, Việt Nam Quang phục hội c phong trào chưa lôi cuốn các tầng lớp nhân dân

và chủ yếu vẫn do c c sĩ phu phong kiến cựu học dẫn dắt, nên còn nhiều hạn chế và kết cục là tất cả đều bị dìm trong bể m u đất nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước

ứng trước tình cảnh đó mỗi người dân yêu nước Việt am đều nhận thấy sứ mệnh của mình là phải tìm ra con đường cứu nước, cứu dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp Là một người Việt am yêu nước, Nguyễn Tất hành đã ra đi tìm con đường cứu nước và từng bước hình thành

tư tưởng của mình và đ p ứng đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại đặt ra Sau khi tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc tích cực vận động thành lập ảng Cộng sản Việt Nam Sự ra đời của ảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 đã đ nh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta đưa phong trào c ch mạng trong nước từ tự phát sang tự giác, từ đó ảng đã lãnh đạo cách mạng Việt am đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Thắng lợi của Cách mạng th ng m năm 1945 là thắng lợi có

ý nghĩa rất lớn đối với cách mạng Việt Nam Thắng lợi này đã đưa nước ta từ một nước nô lệ trở thành nước tự do; từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành nước độc lập, dân chủ Thắng lợi của Cách mạng th ng m năm

1945 đã xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm chế độ thực dân hơn 80 năm và chế độ ph t xít 5 năm ở nước ta Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta đứng trước những khó khăn rất lớn, bởi vì hơn 80 năm thực dân

h p lợi dụng l cờ ự do - Bình đẳng - Bác ái đến cướp đất nước ta p bức đồng bào ta làm cho nền kinh tế chính trị văn hóa nước ta rơi vào khủng khoảng trì trệ nghiêm trọng

Trang 16

Về kinh tế “chúng bóc lột dân ta đến xương tủy khiến cho dân ta nghèo

nàn thiếu thốn nước ta xơ x c tiêu điều húng bóc lột công nhân ta một

c ch vô cùng tàn nhẫn” [66 tr 2] iều này được thể hiện rõ ở những hành động như: thiết lập hệ thống ngân hàng độc quyền phát hành in giấy bạc và cho vay nặng lãi gân hàng ông ương là một tập đoàn tư bản tài chính có thế lực nhất làm chúa tể và chi phối mọi ngành kinh tế ở ông ương Thực dân Pháp không từ bỏ bất kỳ chính sách bóc lột nào kể cả những hình thức bóc lột kinh tế thời Trung cổ ó là “chế độ thuế khóa nặng nề và hết sức vô lý: thuế thân, thuế chợ, thuế đò thuế vỉa hè, thuế môn bài, thuế xe, thuế lưu trú, nộp thuế cho ngân s ch ông ương thuế nộp cho ngân sách xứ, cho tính phần trăm (%) nộp cho quan lại, kỳ hào trong thôn xã cùng hàng trăm thứ thuế khác Thuế má nặng oằn lưng và luôn luôn thay đổi có lợi cho thực dân

và phong kiến tay sai Hậu quả của chính s ch độc quyền về kinh tế và chính sách thuế nặng nề làm cho đa số nông dân mất dần ruộng đất ưới thời thuộc

h p ước tính 50% nông dân Việt Nam không có ruộng” [107, tr.168] Thêm vào đó chúng bóc lột công nhân Việt Nam một cách vô cùng tàn nhẫn ặc biệt, thực dân h p đã tiến hành các kế hoạch khai thác thuộc địa (1897 - 1914) và tiếp đó là kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) Những cuộc khai thác thuộc địa để thỏa mãn cơn kh t thiếu hụt năng lượng và lòng tham vô đ y của thực dân Pháp, càng làm cho mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân ta với thực dân Pháp trở nên sâu sắc hơn ồng thời cũng đã dẫn đến những biến đổi trong cơ cấu kinh tế đó là quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm dân cư mới Trong xã hội, nhiều ngành kinh tế mới ra đời như ngành kinh tế công nghiệp, khai thác mỏ, giao thông vận tải thương nghiệp Trong nông nghiệp đã xuất hiện kinh tế đồn điền kinh doanh theo lối tư bản Tuy nhiên, thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng

Trang 17

kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận một cách tối đa hính vì thế nước Việt Nam cũng không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một c ch bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu

hư vậy, với chính sách bóc lột nặng nề của thực dân của Pháp, với sự thống trị của chế độ phong kiến lỗi thời cùng với sự vơ vét đến kiệt quệ của phát xít Nhật tất yếu dẫn đến kết quả một nền kinh tế Việt Nam què quặt đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân bị bần cùng hóa, cực khổ, lầm than Chính những nhu cầu của thực tiễn nền kinh tế đất nước đã t c động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, phải làm sao giải quyết được nạn đói trước mắt, làm sao cho kinh tế nước ta phục hồi và phát triển, từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân?

Về chính trị - xã hội năm 1858 thực dân h p nổ súng xâm lược iệt

am triều đình nhà guyễn từng bước ký hòa ước với h p nước ta bị chia cắt làm 3 miền Bắc rung am với ba chế độ chính trị kh c nhau rong đó miền am chính thức trở thành thuộc địa của h p Bắc kỳ là xứ bảo hộ và rung kỳ là xứ nửa bảo hộ đó triều đình nhà guyễn vẫn tiếp tục tồn tại nhưng dưới sự điều khiển của viên khâm sứ người h p ây chính là âm mưu hòng thực hiện chế độ “chia để trị” của thực dân h p muốn nhân dân ta nghi ngờ lẫn nhau gây mất đoàn kết nội bộ để không thể chống lại sự xâm lược của họ

ưới chế độ cai trị của thực dân h p dân ta sống trong cảnh đói r ch lầm than những quyền tự do, dân chủ cơ bản như đi lại ngôn luận hội họp… đều bị ràng buộc và hạn chế hực dân h p còn thi hành những luật ph p dã man xem thường tính mạng của người dân iệt am những tòa n bao giờ cũng bênh vực những người da trắng và thẳng tay đàn p người dân chống đối

ừ khi bị thực dân h p xâm lược và đô hộ nước ta xuất hiện thêm nhiều giai cấp và tầng lớp mới Bên cạnh giai cấp địa chủ phong kiến và nông

Trang 18

dân, đã hình thành giai cấp tư sản giai cấp công nhân và nhiều tầng lớp trung gian kh c ự phân hóa giai cấp trong xã hội cuối thế kỷ đầu thế kỷ dẫn đến hai mâu thuẫn cơ bản: một là mâu thuẫn giữa nông dân với địa chủ phong kiến; hai là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc iệt am với thực dân

h p xâm lược rong đó nổi lên hàng đầu là mâu thuẫn thứ hai, bởi mỗi người dân iệt am đều chịu sự đàn p bóc lột thậm tệ của thực dân h p đặc biệt là nông dân và công nhân họ phải chịu nhiều tầng p bức đời sống

vô cùng cực khổ

rong khi đó người dân iệt am không chỉ chịu sự p bức của thực dân và của địa chủ phong kiến kể từ năm 1940 thực dân Pháp đã rước ph t xít hật vào nước ta ước ta lại thêm một tầng xiềng xích mới làm cho đời sống người dân iệt am đã cực khổ lại càng cực khổ hơn đã nghèo nàn lại càng nghèo nàn hơn đã bị hạn chế quyền tự do dân chủ nay càng trở nên tồi

tệ hơn iều đó đã t c động mạnh mẽ đến tư tưởng ồ hí inh để rồi sau

c ch mạng h ng ám thành công gười chủ trương xây dựng một nền chính trị thật sự dân chủ trong đó ảng và hà nước phải phục vụ cho lợi ích của nhân dân phải làm sao chăm lo đến đời sống nhân dân tất cả hoạt động của ảng và hà nước đều vì quyền và lợi ích của nhân dân

Về văn hóa - đạo đức thực dân h p chủ trương ph t triển nền gi o dục

có giới hạn chủ yếu đào tạo những người hợp t c những công chức bản xứ lương trả ít tốn hơn cho ngân s ch thuộc địa Bên cạnh việc duy trì ho học với chế độ khoa cử cũ thực dân h p triển khai tổ chức thí điểm nền gi o dục Pháp - iệt đào tạo công chức thuộc địa ảnh hưởng của nền văn hóa h p nhưng chỉ mang tính nhỏ giọt ì vậy đến năm 1908 cả 3 kỳ mới có 25 trường tiểu học 3 trường trung học và 1 trường đại học hực tế này được ồ

hí inh tố c o là thực dân h p lập ra nhà tù nhiều hơn trường học hơn 80 năm h p khai hóa văn minh ở nước ta đã làm cho hơn 95% dân số nước ta

mù chữ Cùng với giáo dục, thực dân Pháp còn mở thêm một số viện nghiên

Trang 19

cứu như iện Vi trùng, Viện Quang học, Viện Hải dương học, Sở hí tượng,

Sở ịa lý, Sở ịa chất, Sở Kiểm lâm, Sở hú y… nhưng thực chất là để phục

vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa Thực dân Pháp còn phát hành báo chí

với các tờ b o như Gia định báo, tờ b o đầu tiên phát hành năm 1865 sau đó

là Nhựt trình Nam Kỳ, Thông loại khóa trình, Phan Yên báo, Lục tỉnh tân văn,

Phụ nữ tân văn, Đuốc nhà nam, Thực nghiệp dân báo,…với âm mưu là dùng

văn hóa h p để tấn công đi đến xóa bỏ nền văn hóa cổ truyền của người Việt

am uy nhiên văn hóa iệt am đã trải qua nhiều thử thách của các cuộc chiến tranh và xâm lược từ phương Bắc đã tô điểm cho mình một bản sắc văn hóa riêng biệt Giờ đây đứng trước nguy cơ đồng hóa văn hóa h p văn hóa Việt Nam lại vươn lên phản kháng mạnh mẽ hính đặc điểm này đã ngấm sâu vào tâm hồn Hồ hí inh t c động mạnh mẽ đến sự hình thành tư tưởng của gười về đời sống mới

Có thể nói hơn 80 năm khai hóa nước ta chính s ch ngu dân thâm độc của thực dân h p đã khiến cho văn hóa iệt Nam ngày càng kiệt quệ, chúng giam hãm dân ta trong vòng ngu dốt Những truyền thống tốt đẹp đều bị bóp nghẹt hoặc xuyên tạc, mọi văn hóa nô dịch, trụy lạc, hủ tục mê tín… được khuyến khích phát triển và gieo rắc khắp nơi tinh thần dân tộc, truyền thống tốt đẹp của dân tộc bị nhấn chìm ứng trước thực trạng nền văn hóa của đất nước trước yêu cầu của công cuộc xây dựng xã hội mới, khôi phục lại những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, cổ vũ lòng yêu nước, Hồ hí inh đã tích cực vận động xây dựng ời sống mới gười đã đưa ra nhiều phương pháp, biện pháp thực hiện nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, từng bước trở nên văn minh, tiến bộ

Bên cạnh đó thù trong giặc ngoài đang tìm mọi cách nhằm lật đổ chính quyền của ta nước ta rơi vào tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” với chính quyền non trẻ nhưng phải đảm đương những trọng trách rất nặng nề, Chủ tịch

Hồ hí inh đã đề ra hàng loạt những giải ph p để giải quyết khó khăn ới

Trang 20

tinh thần đó Chủ tịch Hồ hí inh đã đề ra phong trào xây dựng ời sống mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân nhằm xây dựng

xã hội mới và sau này đã trở thành phong trào rộng khắp trong cả nước

Cùng với bối cảnh trong nước, tình hình thế giới đầu thế kỷ cũng đầy biến động

1.1.1.2 Tình tình thế giới những năm đầu thế kỷ XX

Vào cuối thế kỷ đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ và chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Lúc bấy giờ chỉ với chín nước đế quốc đã chi phối tình hình thế giới, trong đó hầu hết c c nước châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ đã trở thành thuộc địa của đế quốc hân dân c c nước thuộc địa và phụ thuộc bị c c nước đế quốc tước đoạt hết tự do đảo lộn các giá trị truyền thống dân tộc tước đoạt cả quyền lợi kinh tế và địa vị xã hội,…mạng sống của người dân thuộc địa bị xem thường và đôi khi bị bắt ra làm trò tiêu khiển Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất mang tính chất tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất với lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa ngày càng cao, chủ nghĩa đế quốc đã làm ph t sinh một mâu thuẫn mới,

đó là mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt dẫn đến phong trào giải phóng dân tộc ở

c c nước thuộc địa ngày càng phát triển

phương ông mâu thuẫn này càng trở nên sâu sắc dẫn đến những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc diễn ra đầu thế kỷ XX Trung Quốc, những phong trào đấu tranh dẫn đến cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 Lãnh tụ ôn rung ơn đã xây dựng một chế độ mới với chủ trương là “ ân tộc độc lập - Dân quyền tự do - Dân sinh hạnh phúc” rong khi đó sự phát triển không đồng đều của các nước đế quốc, một số nước đế quốc muốn phân chia lại thuộc địa và thị trường thế giới ây chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), cuộc chiến tranh diễn ra

Trang 21

rất ác liệt, với quy mô toàn thế giới này đã làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa

c c nước tư bản chủ nghĩa với nhau và giữa những nước đế quốc, thực dân với c c nước thuộc địa và phụ thuộc Trong bối cảnh ấy, V.I Lênin và ảng Bônsêvích đã lãnh đạo Cách mạng h ng ười Nga (7 - 11 - 1917) giành thắng lợi Thắng lợi này mở ra một thời đại mới của lịch sử loài người - thời đại qu độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Cách mạng xã hội chủ nghĩa h ng ười Nga đã tạo tiền đề và điều kiện

cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở c c nước thuộc địa phát triển mạnh mẽ Sau cách mạng h ng ười, chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá mạnh mẽ và rộng rãi ở c c nước thuộc địa và Hồ hí inh là người có công lao

to lớn trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt am ăm 1920 ồ

hí inh đã đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và

vấn đề thuộc địa” của V.I Lênin được thông qua tại ại hội II của Quốc tế

Cộng sản (1920) Từ đó gười đã quyết định lựa chọn con đường cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đó là con đường cách mạng vô sản

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, một số nước đế quốc chưa hài lòng với sự phân chia thuộc địa và thị trường thế giới, cùng với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang ph t triển mạnh mẽ ở c c nước thuộc địa và phụ thuộc đã dẫn đến Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 - 1945) Cuộc chiến tranh này diễn ra ác liệt hơn kéo dài hơn và tốn hao nhiều sức người sức của hơn so với cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hàng loạt c c nước xã hội chủ nghĩa ra đời và trở thành một

hệ thống đối lập với hệ thống tư bản chủ nghĩa trên phạm vi thế giới Những nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên Xô, đã ra sức giúp đỡ c c nước thuộc địa và phụ thuộc trong công cuộc giải phóng đất nước, trong đó có iệt Nam, chống lại chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên thế giới ồng thời, khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển văn hóa xã hội để từng bước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Trang 22

1.1.2 Những tiền đề lý luận hình thành tư tưởng ồ Chí Minh về đời sống mới

ư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới được hình thành trên cơ sở kế thừa những di sản văn hóa tinh thần dưới đây:

1.1.2.1 Những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam

Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị tinh thần truyền thống hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam, là hành trang quý b u để Hồ hí inh ra đi tìm đường cứu nước là tiền đề để hình thành nên hệ thống c c quan điểm về con đường cách mạng iệt am rước hết,

có thể nói đến sự ảnh hưởng của truyền thống lịch sử văn hóa quê hương của gười, bởi đây là nơi mà tuổi thơ gười đã trải qua và lớn lên để từ đó hình thành nên một nhân cách, tâm hồn và tư tưởng vĩ đại

Hồ Chí Minh sinh ra tại xã Kim Liên, huyện Nam àn tỉnh Nghệ An, một vùng đất có truyền thống yêu nước kiên cường, truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất gay trong gia đình guyễn Tất hành đã học hỏi sự cần cù, chịu khó của mẹ (bà oàng hị Loan (1968 - 1901)), sự chăm chỉ học hành, một lòng vì nước vì dân của cha (ông guyễn inh ắc (1962 - 1929)), cùng với đạo đức của một nhà nho yêu nước… ruyền thống quê hương gia đình là cội nguồn hun đúc lòng yêu nước, chống ngoại xâm của

Hồ hí inh cũng như hình thành tư tưởng về xây dựng một đời sống mới tốt tươi cho đất nước

Bên cạnh đó Hồ Chí Minh đã tiếp thu vốn văn hóa quý b u của dân tộc rước hết là lòng yêu nước và ý chí kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm của dân tộc iệt am Lòng yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phẩm chất tinh thần của người dân Việt Nam

mà nó đã được phát triển thành chủ nghĩa yêu nước thành dòng tư tưởng xuyên suốt lịch sử của dân tộc Việt Nam Trong lịch sử iệt am, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi anh hùng dân tộc sáng ngời như: ai Bà

Trang 23

rưng gô uyền, Trần ưng ạo, Nguyễn Trãi, Quang Trung…cũng như

từ tư tưởng và hành động của toàn thể dân tộc đều phản ánh tinh thần của chủ nghĩa yêu nước Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành đạo lý sống, niềm tự hào và là nhân tố đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần của người Việt Nam,

để rồi trước những khó khăn của thiên tai trước những kẻ thù hung bạo và lớn mạnh thì tinh thần ấy lại được nhân lên gấp bội, khiến cho kẻ địch dù có hung hăng, tàn bạo đến đâu nhất định nhân dân ta sẽ đ nh đuổi được Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống đạo lý làm người của người Việt Nam nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng Sau này,

Chủ tịch Hồ hí inh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó

là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ

và to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nước và cướp nước” [69, tr.38]

êu nước cũng chính là động lực chi phối mọi suy nghĩ mọi hành động trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh Chủ nghĩa yêu nước đã thôi thúc gười ra đi tìm đường cứu nước và cũng chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa gười đến với chủ nghĩa c - Lênin một cách tự nhiên Sau này, gười đã

viết:“Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản

đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [74, tr.563]

Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn hấp thụ tinh hoa dân tộc qua truyền thống tinh thần nhân nghĩa truyền thống đoàn kết tương thân tương i; những truyền thống này của dân tộc cũng được hình thành cùng với

sự hình thành của dân tộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm của dân tộc ta Hồ hí inh đã thể hiện tập trung trong bốn chữ “đồng” (đồng tình đồng sức đồng lòng và đồng minh) gười nhiều lần nhấn mạnh, nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa đó là những lẽ phải, là lòng ngay thẳng là không lùi bước trước những

Trang 24

khó khăn thử th ch chăm lo cuộc sống của nhân dân như câu nói của

Nguyễn Trãi “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”

Truyền thống lạc quan yêu đời cũng là văn hóa truyền thống của dân tộc Việt am và đã được Hồ Chí Minh tiếp thu một cách sáng tạo Tinh thần lạc quan đó được hun đúc từ bề dày của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, tạo cơ sở niềm tin tất thắng vào chân lý chính nghĩa

Truyền thống dân tộc còn được thể hiện qua những đức tính như: cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo ham học hỏi và chủ động mở cửa đón nhận tinh hoa văn hóa nhân loại Bởi người Việt xưa rất xa lạ với óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan mà trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cái tốt, c i đẹp của người biến thành những giá trị riêng của mình và Hồ hí inh cũng chính là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó

Tất cả những truyền thống tốt đẹp đó đã trở thành triết lý nhân sinh đạo

lý sống của mỗi người Việt Nam, trở thành bản sắc văn hóa đặc trưng của dân tộc ta Thấm nhuần những truyền thống đó trong sự nghiệp cách mạng - cả chiến đấu cũng như xây dựng xã hội mới, Hồ hí inh đã có những quan điểm chỉ đạo hết sức sâu sắc đến nay vẫn còn ý nghĩa trong qu trình xây dựng một đời sống văn hóa mới ở Việt Nam

Có thể thấy rằng, không phải ngẫu nhiên khi tôn vinh gười là nhà văn hóa kiệt xuất và anh hùng giải phóng dân tộc, tổ chức đã ghi nhận:

“ hà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là kết tinh của truyền thống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt Nam và những tư tưởng của gười là hiện thân của những khát vọng của những dân tộc trong việc khẳng định bản sắc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy, hiểu biết lẫn nhau” [103, tr.5 - 6] Bên cạnh đó gười còn hấp thụ cả tinh hoa văn hóa phương ông và phương ây

để hình thành nên tư tưởng về đời sống mới của mình

Trang 25

1.1.2.2 Tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây

Ngay từ nhỏ, Hồ hí inh đã được tiếp thu tinh hoa văn ho phương ông; lớn lên gười bôn ba khắp thế giới và đã đến với nền văn hóa phương Tây Với trí tuệ mẫn tiệp, tinh thần ham học hỏi nên ở gười đã biết chọn lọc, tiếp thu tinh hoa văn ho ông - Tây kim cổ gười đã dẫn lời Lênin: “ hỉ có những người cách mạng chân chính mới thu h i được những hiểu biết quý báu của c c đời trước để lại” [68, tr.357]

Tinh hoa văn hóa phương Đông

Một là, tư tưởng Nho giáo Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo ngay từ nhỏ

và có vốn hiểu biết sâu sắc về ho gi o gười nhận xét về Khổng Tử tuy là phong kiến nhưng ụ có những cái hay cần phải học iểm phong kiến lạc hậu của ho gi o là duy tâm đẳng cấp nặng nề khinh thường lao động chân tay, coi khinh phụ nữ được Hồ Chí Minh phê phán triệt để hưng những yếu tố tích cực của ho gi o như triết lý hành động tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp đời; lý tưởng về một xã hội thái bình thịnh trị, một “thế giới đại đồng”; triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính; tư tưởng đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học đã được Hồ hí inh khai th c để phục vụ nhiệm vụ cách mạng nước ta lúc bấy giờ

Những kiến thức Nho học đã ăn sâu vào tâm trí ồ hí inh nên gười cho rằng đạo đức là cái gốc của người cách mạng gười luôn nhấn mạnh

“ ần, Kiệm Liêm hính hí công vô tư” và suốt đời kiên trì nêu gương về đạo đức gười còn thay đổi về bản chất các khái niệm cũng như c c mệnh đề đạo đức của Nho giáo, khiến nó trở nên thích hợp với tình hình mới của đất nước ta hư trước đây rung và iếu được xem là hai chuẩn mực đạo đức

cơ bản trong xã hội phong kiến trong đó rung là trung với vua, còn Hiếu là hiếu với cha mẹ Hồ hí inh đã mở rộng ra là “ rung với nước, Hiếu với dân” ó thể nói, Hồ hí inh đã vận dụng rất tinh tế tư tưởng ho gi o để đưa ra quan điểm của mình ó là nét rất đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí

Trang 26

Minh Bên cạnh Nho giáo, Hồ Chí Minh còn tiếp thu tư tưởng từ bi, bác ái của Phật giáo ở phương ông

Hai là, Phật giáo Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm Trải

qua hàng trăm năm ảnh hưởng, Phật gi o đã đi vào đời sống tinh thần Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống đến tư tưởng chính trị Hồ hí inh đã chỉ ra nhiều điều hay của Phật giáo cần được khai th c để góp vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng như tư tưởng vị tha,

từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn thương người như thể thương thân, một tình yêu bao la đến cả chim muông, cỏ cây Phật giáo dạy con người nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị chăm lo làm điều thiện Phật giáo chủ trương tinh thần bình đẳng, dân chủ chất phác, chống lại mọi phân biệt đẳng cấp Hoặc như hật giáo Thiền tông đề ra luật “ hấp t c”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” đề cao lao động, chống lười biếng ặc biệt là từ truyền thống yêu nước của dân tộc đã làm nảy sinh nên Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam (thời Trần), chủ trương không xa đời mà sống gắn bó với nhân dân, với đất nước, tham gia vào cộng đồng, vào cuộc đấu tranh của nhân dân, chống kẻ thù dân tộc Có thể thấy rằng, những mặt tích cực của Phật gi o đã đi vào đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam, và Hồ hí inh cũng đã thấm nhuần tinh thần đó để rồi góp phần hình thành nên tư tưởng của gười về đời sống mới Bên cạnh đó chúng ta còn tìm thấy rất nhiều trích dẫn khác của các nhà

tư tưởng phương ông như hổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử, Quản Tử… trong suy nghĩ hành động, bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về văn hóa đạo đức, cũng như sau này khi đã trở thành người mácxít, Hồ Chí Minh vẫn tìm hiểu

về Chủ nghĩa Tam dân của ôn rung ơn ặc biệt là chính s ch “ hân

Nga, liên Cộng, hỗ trợ công nông” của ôn rung ơn là rất tiến bộ, có thể

vận dụng vào Việt am gười nhận xét chủ nghĩa ấy có “những điều thích

hợp với điều kiện nước ta” Những tiêu chí của chủ nghĩa am dân là Dân tộc

độc lập - Dân quyền tư do - Dân sinh hạnh phúc sau này được Hồ Chí Minh

Trang 27

rút gọn trong quốc hiệu iêt am “ ộc lập - ư do - Hạnh phúc” uy nhiên

Hồ hí inh cũng nhận thấy chủ nghĩa Tam dân của ôn rung ơn cơ bản vẫn là tư tưởng dân chủ tư sản, nằm trong hệ tư tưởng tư sản nên có nhiều hạn chế,… Cho nên khi cụ Phan Bội Châu chuyển Việt Nam Quang Phục Hội thành Việt Nam Quốc dân ảng theo cương lĩnh của ôn rung ơn thì ồ

hí inh đã có lời khuyên chân thành là không thể dừng lại ở những chủ trương của Quốc dân ảng

hư vậy, Hồ hí inh là người am hiểu sâu sắc triết học và tư tưởng văn hóa phương ông nhất là Nho giáo và những tư tưởng này không chỉ thể hiện ở văn hóa ứng xử mà còn ở phương ph p phong c ch tư duy và hành động, từ đó ồ hí inh đã biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hóa phương ông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng nước ta, nhất là trong việc xây dựng một đời sống văn hóa mới cho dân tộc Cùng với vốn kiến thức mang đậm nét văn hóa phương ông năm 1911 guyễn Tất Thành

đã ra đi tìm đường cứu nước và bắt đầu tiếp cận trực tiếp với nền văn hóa rực

rỡ phương ây

Tinh hoa văn hóa phương Tây

Ngay từ khi học ở trường Pháp - Việt gười đã biết đến khẩu hiệu “ ự

do - Bình đẳng - B c i” của đại cách mạng h p năm 1789 và sau đó gười bắt đầu tìm đọc những tác phẩm của những nhà tư tưởng tiến bộ phương ây

Có thể nói tư tưởng “ ự do - Bình đẳng - B c i” có một t c động lớn lao đối với Hồ Chí Minh, từ việc chọn phương hướng đến quá trình hình thành và phát

triển tư tưởng Sau này, Hồ hí inh đã kể lại: “Vào độ 13 tuổi, lần đầu tiên

tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái… Từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn chứa đằng sau những chữ ấy…” [63, tr.461] Việt Nam lúc bấy giờ là một nước thuộc địa

chìm trong đêm tối với những bất công đau khổ và tội c gười đã quyết tâm

đi tìm một con đường mới cho dân tộc Việt am ăn minh phương ây với

Trang 28

những thành tựu khoa hoc kỹ thuật và những tư tưởng tiến bộ là lựa chọn để hướng tới sự tìm tòi con đường cứu nước của gười lúc bấy giờ

rên hành trình tìm đường cứu nước, Hồ hí inh đã từng đến c c nước Pháp, Mỹ nh…là những trung tâm văn minh của nhân loại lúc bấy giờ Trong các bài viết sau này, Hồ hí inh thường nhắc tới ý chí đấu tranh cho

tự do độc lập, quyền được sống của con người được ghi trong Tuyên ngôn

độc lập năm 1776 của nước Mỹ à gười cũng sớm ghi nhận những gì mà

cuộc cách mạng h p (1789) đã làm được như xóa bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô đấu tranh cho sự tự do của con người, lập hiến ph p… ó là

“sự nghiệp rất nhân đạo” một trong những cội nguồn của “ ự do - Bình đẳng

- B c i” uy nhiên bằng sự nhạy bén về chính trị và nhãn quan văn hóa qua chứng kiến thực tế của nhân loại đau khổ, Hồ Chí inh đã thấy rõ sự thật đằng sau của cái khẩu hiệu “ ự do - Bình đẳng - B c i” là sự bất công, áp bức, bóc lột và đàn p tàn bạo nhân dân lao động

Hồ hí inh đã tìm đến những tác phẩm của những nhà tư tưởng dân chủ khai sáng với những nhà tư tưởng điển hình như: onte (Voltaire), Rútxô (Rousseau) ôngtetxkitơ (Montesquieu) … và sự có mặt của gười ở những hội thảo về văn hóa triết học, chính trị, ở các câu lạc bộ của phương ây những cuộc hội ngộ, những buổi sinh hoạt câu lạc bộ có tính chất văn hóa tư tưởng, nghệ thuật đã đem lại cho Hồ Chí Minh những hiểu biết về văn hóa phương ây như chủ nghĩa lãng mạn, sự phân tích khoa học và lý tính của văn hóa phương ây ghiên cứu về tinh hoa tư tưởng văn hóa phương ây trong việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, thấy rõ dấu ấn của

nó trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 th ng 9 năm 1945 của gười

ói đến tư tưởng văn hóa phương ây góp phần vào việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới còn phải kể đến những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc của Hồ Chí Minh với các nhà hoạt động chính trị, xã hội nổi tiếng của phương ây như ăngri B cbuyt ( enri Barubusse) ôn aiăng

Trang 29

Cutuyariê (Paul Vaillant Couturier), Maxen asanh ( arcel achin) êvơrin ( éverin)… từ đó ồ hí inh đã chắt lọc một cách kỹ lưỡng với một th i độ khách quan, khoa học, trân trọng và với tầm nhìn rộng mở của mình và cũng chính việc thông qua Hồ Chí Minh, những tri thức đó được vận dụng, bổ sung

và trở thành những giá trị vĩnh hằng của nhân loại tiến bộ

Có thể thấy, Hồ Chí Minh đã biết làm giàu trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, cả phương ông lẫn phương ây vừa thâu hái, vừa gạn lọc

để có thể từ tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển để tạo ra phong c ch tư duy đặc sắc của mình

Chủ nghĩa Mác – Lênin Một bước ngoặt quan trọng trong việc hình

thành tư tưởng Hồ hí inh là khi gười đã bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin

Bắt đầu bằng sự kiện th ng 7 năm 1920 gười đọc “Sơ thảo lần thứ nhất

những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I Lênin Chính luận

cương của V.I Lênin đã nâng cao nhận thức của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc, nó phù hợp và đ p ứng những tình cảm suy nghĩ hoài bão được ấp ủ từ lâu nay đang trở thành hiện thực Theo chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cách mạng của thời đại là cách mạng vô sản, giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là xây dựng chế độ cộng sản chủ nghĩa trên toàn thế giới Những mục tiêu đẹp đẽ đó đã thu hút mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa đi vào con đường cách mạng vô sản hi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này, gười quyết định

“tin theo Lênin tin theo Quốc tế thứ ba” [74, tr.562] và đi đến khẳng định

“muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Cần phải thấy được rằng với bản lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng vốn sống thực tiễn đã nâng cao khả năng tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, gười không rơi vào sự sao chép gi o điều, rập khuôn mà biết tiếp thu vận dụng có chọn lọc những nguyên lý của chủ nghĩa

Trang 30

Mác - Lênin để giải quyết những vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam, chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở

Sự kiện gười tham gia ảng Xã hội Pháp và trở thành một trong những người sáng lập ảng Cộng sản h p đ nh dấu một bước ngoặt mới trong cuộc đời hoạt động cách mạng của gười, từ một người yêu nước gười đã thành người cộng sản; từ chủ nghĩa yêu nước chân chính gười đã đến với chủ nghĩa quốc tế vô sản

Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết tiến bộ, phản ánh nhiều khía cạnh của đời sống xã hội một cách khoa học, biện chứng rong đó có những

tư tưởng về xây dựng nền kinh tế thời chiến và thời bình, tiêu biểu là Chính

sách kinh tế mới (NEP) của Lênin rong đó chỉ rõ các thành phần kinh tế trong

thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các biện pháp phát triển kinh tế cơ cấu kinh

tế, các biện pháp quản lý điều hành của nhà nước vô sản,… Bên cạnh đó gười còn tiếp thu tư tưởng về xây dựng hà nước, xây dựng ảng Cộng sản

và các tổ chức quần chúng để vận dụng vào thực tế Việt Nam iều đặc sắc trong chủ nghĩa Mác - Lênin là xây dựng một nền văn hóa mới, một nền văn hóa tiên tiến, hiện đại đoạn tuyệt với những tư tưởng bảo thủ, mê tín dị đoan trọng nam khinh nữ với nhiều hủ tục lạc hậu của xã hội trước để lại ồng thời, xây dựng lối sống văn hóa cho người dân, xây dựng tư tưởng vì cộng đồng, vì lợi ích của toàn dân tộc cho mọi người để từng bước xây dựng xã hội văn minh

ây là những tư tưởng rất quan trọng t c động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh trong qu trình hình thành tư tưởng về đời sống mới của gười

Thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp

Hồ Chí Minh tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn để tìm ra con đường đưa đất nước tiến lên gười cho rằng “trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu

lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ

có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị

áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” [72, tr.128]

Trang 31

hư vậy, gười đã nhận thấy chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn cao cả với mục tiêu hướng đến giải phóng cho con người, xây dựng một xã hội văn minh giàu mạnh, mọi người yêu thương giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển iều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước khi nước nhà mới độc lập gười luôn tìm ra những giải pháp để xây dựng một đời sống mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân ta

Tóm lại, Hồ hí inh đã tiếp thu những tinh hoa văn hóa phương ông lẫn phương ây giữa truyền thống và hiện đại để làm phong phú tư tưởng của mình và vận dụng một cách sáng tạo để từ đó phục vụ cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Có thể nói, mỗi tiền đề lý luận góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đời sống mới đều có vị trí, vai trò quan trọng riêng; nhưng nổi bật và quan trọng hơn cả là những quan điểm cách mạng và tiến

bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin

Bên cạnh đó, ở Hồ Chí Minh có sự hội tụ đầy đủ những yếu tố của người cách mạng, có khả năng đi trước thực tiễn, dự b o tương lai dẫn dắt phong trào cách mạng của quần chúng từ tự phát lên tự gi c ó được tầm nhìn chính trị rộng lớn để giải quyết thành công mọi vấn đề chiến lược cũng như s ch lược của cách mạng; thành công trong việc tổ chức một chính đảng cách mạng có sức chiến đấu mạnh mẽ lãnh đạo quần chúng đứng lên chống ngoại xâm gay sau khi giành được độc lập gười đã ph t động phong trào xây

dựng Đời sống mới và viết sách “Đời sống mới” để hướng dẫn nhân dân thực

hiện Phong trào này đã tạo ra một sự biến đổi lớn trong toàn xã hội để đất nước ta xóa bỏ dần những hủ tục, những tàn dư của xã hội phong kiến và thực dân để xây dựng xã hội mới trên tất cả c c lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hóa đạo đức để làm cho nước ta trở thành một nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh

Trang 32

1.2 K I NIỆM VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỜI SỐNG MỚI

1.2.1 Khái niệm đời sống mới

rước hết nói về khái niệm đời sống, từ trước đến nay đã có nhiều quan

niệm khác nhau về vấn đề này Theo Đại từ điển Tiếng Việt của Nguyễn hư

Ý, đời sống là “sự sinh sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể một sinh vật, hay

hoạt động của con người về một lĩnh vực nào đó nói chung” [108, tr.670]

Nguyễn ăn ạm lại cho rằng đời sống là “hoạt động về một hoặc nhiều mặt

(vật chất, tinh thần…) của một xã hội, một cá nhân” [25, tr.297]

phương ây từ cuối thế kỷ đầu thế kỷ đã xuất hiện trường phái triết học đời sống Khái niệm trung tâm của triết học này là khái niệm

“đời sống” song lại không phải là vật chất và ý thức, mà là một bản nguyên tuyệt đối, vô hạn của thế giới có tính tích cực đa dạng, vận động vĩnh viễn ồng thời “đời sống” không thể nhận thức được bằng cảm gi c hay tư duy logic, mà chỉ có thể nhận thức bằng trực giác, bằng cảm xúc, chủ yếu là cảm xúc tôn giáo Về đại thể, có thể nhận thấy triết học đời sống có hai nhóm chính: một nhóm [Becxon (H Bergson)] quan niệm đời sống theo nghĩa sinh học và phổ hóa c c đặc tính sinh học cho toàn bộ hiện thực; một nhóm [ itsơ (F ietzsche) inthây (W.Dilthey)] thì lại quan niệm đời sống như là ý chí cảm xúc bên trong ặc điểm tiêu biểu của triết học đời sống là chủ nghĩa phi

lý trí và chủ nghĩa trực giác Triết học này có ảnh hưởng đến chủ nghĩa Hêghen mới, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa nhân c ch …[55]

hư vậy có nhiều quan niệm khác nhau về đời sống, ở đây luận văn tập trung bàn về đời sống xã hội Thanh Lê cho rằng “đời sống xã hội là một khái niệm chỉ rõ các hiện tượng phát sinh do sự t c động lẫn nhau giữa các

cá thể và cộng đồng tồn tại trong một khoảng không gian nhất định với việc

sử dụng chung các tài nguyên hiện có Nó bao hàm tất cả những hiện tượng

t c động có ý thức và thích nghi không có ý thức ó là tổng thể c c cơ chế

Trang 33

ràng buộc nhau bởi sự t c động qua lại giữa các quá trình sống của chúng và

t c động vào môi trường” [61, tr.48] Mục tiêu cơ bản của các xã hội là phồn vinh và hạnh phúc cho nhân dân như ảng Cộng sản iệt am luôn nhấn mạnh mục tiêu xây dựng xã hội là “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh” ời sống xã hội phản nh t c động qua lại giữa xã hội và con người nhằm mục tiêu hạnh phúc cho con người Các yếu tố của đời sống xã hội là kinh tế, chính trị văn hóa gi o dục và đào tạo, những yếu

tố này t c động lẫn nhau, biểu hiện một trình độ phát triển của xã hội trong những giai đoạn nhất định

ời sống xã hội nước ta khi mới giành được độc lập năm 1945 còn rất nhiều bất cập ời sống vật chất khó khăn đời sống tinh thần nghèo nàn, những tàn dư của xã hội thuộc địa nửa phong kiến còn đó dân số đa phần bị

mù chữ lương thực thiếu thốn, ngân sách trống rỗng, thù trong giặc ngoài… ứng trước tình hình đời sống xã hội như thế, Chủ tịch Hồ hí inh đã ph t động phong trào xây dựng ời sống mới trong phạm vi toàn quốc

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nói rằng mục tiêu xây dựng chủ nghĩa

xã hội là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Toàn bộ quan tâm của gười là lo làm sao cho dân đủ ăn mặc, ở, học hành,

đi lại, chữa bệnh, giải trí sao cho mỗi người dân lao động đều được ấm no, hạnh phúc ó là mục tiêu đồng thời cùng là thước đo tính đúng đắn ý nghĩa giá trị của mỗi chính sách, biện pháp, chủ trương của ảng và hà nước ta Khi nước nhà được độc lập hủ tịch ồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn

đề xây dựng xã hội mới xây dựng đời sống mới iều này càng thấy rõ trong phong trào xây dựng ời sống mới do hủ tịch ồ Chí Minh phát động vào tháng 1 năm 1946 và đặc biệt tháng 4 năm 1946, gười đã ký ắc lệnh thành lập Ủy ban Trung ương vận động ời sống mới Tháng 3 năm 1947, Người

đã viết cuốn sách “Đời sống mới” để hướng dẫn việc xây dựng ời sống mới

trong các tầng lớp nhân dân và trong toàn xã hội uộc vận động ngay sau đó

Trang 34

trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi rộng khắp ngay cả lúc cách mạng mới thành công và nhân dân ta phải đi ngay vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm hết sức khốc liệt cuộc sống còn trăm bề thiếu thốn

Trả lời câu hỏi: ời sống mới là gì? Người viết: “ ời sống mới không phải c i gì cũ cũng bỏ hết, không phải c i gì cũng làm mới” [67,

tr.112] Người phân tích: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ, cái gì cũ mà không

xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý, cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm, cái gì mới mà hay, thì ta phải làm” [67, tr.112 -

113] heo gười đổi mới chính là sự kế thừa có chọn lọc truyền thống dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại ch tư duy này tr nh được sự không tưởng; tr nh được sự lãng phí sức lực, tiền của, thời gian không cần thiết; tr nh được sự vòng vo, lặp lại vô ích iều căn bản là làm thế nào để

phân biệt x c định được cái xấu, cái không xấu, cái tốt và c i hay để “làm

cho đời sống của dân ta, vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn Đó là mục đích đời sống mới” [67, tr.113]

Mục đích của việc xây dựng đời sống mới, theo cách nói của Hồ Chí inh cũng là mục đích của cách mạng - cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa - mà ảng ta lãnh đạo nhân dân ta thực hiện suốt hơn bảy mươi năm qua

Người nói rõ hơn: ời sống mới “ ó chỉ sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi c ch ăn cách mặc, cách ở c ch đi lại, cách làm việc Sửa đổi được những điều đó thì mọi người đều được hưởng hạnh phúc Mà chắc sửa đổi được, vì nó không có

gì là gay go khó làm” [67, tr.113]

Tuy việc sửa đổi có tính chất phổ thông như vậy nhưng lại là sự sửa đổi căn bản, sửa đổi tận gốc ý thức con người Nó là nền tảng cho sự nhận thức mới Vì vậy đổi mới là một quá trình sửa đổi liên tục sự nhận thức (đổi mới

tư duy) không cho phép thỏa mãn với những gì đã đạt được Nó phù hợp với

Trang 35

quy luật phát triển xã hội, với chính nhu cầu (vật chất và tinh thần) của bản thân mỗi c nhân con người trong quá trình tự hoàn thiện mình

Do hoàn cảnh thực tế của cách mạng và cũng do trình độ dân trí ở thời điểm đó, Hồ hí inh đã lựa chọn hình thức diễn đạt phổ thông nhất nội

dung và cách thực hiện đời sống mới Thực chất, tác phẩm “Đời sống mới” và

những bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về đời sống mới, là học thuyết về đổi mới, bao gồm trong đó cả phương ph p luận và cả phương ph p khoa học, được phát triển trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin một c ch độc

đ o và sáng tạo rong bài “Khổng Tử” viết ngày 20 th ng 2 năm 1947 đăng

trên báo thanh niên số 80 gười phê phán Chính phủ Trung Hoa dân quốc ra quyết định xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử - một nhà tư tưởng vĩ đại gười viết: “ ới việc xóa bỏ những nghi lễ tưởng niệm Khổng Tử, Chính phủ Trung Quốc đã làm mất đi một thể chế cũ và tr i với tinh thần dân chủ Còn những người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng c ch đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” [64, tr.563]

Kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại từ cổ chí kim, cả ông và

ây gười chỉ ra c ch “tự hoàn thiện mình” cho người Việt Nam Sự vận dụng những c i hay c i đẹp của học thuyết Khổng Tử và học thuyết Lênin là một sáng tạo độc đ o đã nâng tư tưởng đổi mới của gười lên tầm thời đại Việc sửa đổi bao quát toàn bộ đời sống kinh tế và xã hội văn hóa đạo đức đời sống vật chất và tinh thần của toàn bộ các tầng lớp dân cư không phân biệt già trẻ, nam nữ, thành phần xuất thân, tôn giáo, dân tộc trình độ nhận thức, miễn là ai

ai cũng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu hòa bình độc lập, dân chủ và giàu mạnh Với ý nghĩa đó đời sống mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh

đề xướng đã trở thành cái gốc, cái nền của một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa và một nền đạo đức xã hội chủ nghĩa - hai nhân tố không thể thiếu trong

quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

Trang 36

hư vậy, với mục đích vì cuộc sống của nhân dân, phấn đấu để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của nhân dân lao động,

tư tưởng về đời sống mới của Hồ Chí Minh thể hiện rõ: “làm sao cho nhân dân được đủ ăn đủ mặc ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau

có thuốc già không lao động thì được nghỉ Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng tinh thần ngày càng tốt” [75, tr.438]

1.2.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng ồ Chí Minh về đời sống mới

1.2.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới trong kinh tế

Khi nước ta xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến cũng là lúc nhà nước dân chủ nhân dân phải giải quyết một loạt những nhiệm vụ để đưa đất nước nhanh chóng tho t khỏi sự bần cùng lạc hậu Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ gười đã ph t biểu: “ húng ta tranh được tự do độc lập rồi mà dân cứ chết đói chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì ân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ Chúng ta phải thực hiện ngay:

1 Làm cho dân có ăn

ư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế mới thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:

Trang 37

Về cơ cấu kinh tế

ơ cấu kinh tế được hiểu là “tổng thể các bộ phận hợp thành, cùng với vị trí, tỷ trọng và quan hệ tương t c phù hợp giữa các bộ phận trong hệ thống kinh tế quốc dân” [11, tr.208] Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ hí inh đã quan tâm đến mối quan hệ và tỷ lệ giữa các yếu tố hợp thành của nền kinh tế quốc dân gười đã có ý kiến về cơ cấu của hầu hết các cấp, các ngành, các lĩnh vực kinh tế, từ cơ cấu kinh tế cả nước đến cơ cấu kinh tế từng ngành cơ cấu vùng (đồng bằng, trung du, miền núi, miền biển) cơ cấu các thành phần kinh tế v.v

Về cơ cấu kinh tế ngành

Chúng ta biết rằng thời kỳ Chủ tịch Hồ hí inh lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước từ 1945 đến 1969 cơ cấu kinh tế ngành của Việt am lúc đó bao hàm bốn ngành kinh tế lớn là nông nghiệp, công nghiệp thương nghiệp và giao thông vận tải Các ngành kinh tế khác như du lịch, dịch vụ… còn chiếm một vị trí rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế quốc dân Do vậy, Chủ tịch Hồ hí inh thường xuyên quan tâm nhiều hơn đến

cơ cấu kinh tế công - nông ong trong điều kiện của Việt Nam sau khi cách mạng tháng Tám thành công, nông nghiệp luôn là lĩnh vực quan trọng nhất, nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người là ăn mặc ối với nước ta là nước nông nghiệp thì Hồ Chí Minh khẳng định rằng trong cơ cấu các ngành thì “nghề nông là gốc” rong hư gửi điền chủ nông gia Việt am đăng trên b o ứu quốc, số 229, ngày 1/5/1946, Hồ Chí Minh viết: “ iệt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn ông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [66, tr.246]

ể phát triển kinh tế, theo Hồ Chí Minh, phải phát triển toàn diện các

Trang 38

ngành công nghiệp thương nghiệp, tài chính ngân hàng, giao thông, kiến trúc văn hóa y tế… ong c c ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm nhiệm vụ trọng tâm Một mặt khẳng định vai trò to lớn của nông nghiệp đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội, mặt kh c gười cũng nêu rõ giữa nông nghiệp và công nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển gười cho rằng “công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng nhau phát triển như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích” [75, tr.376]

Về cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Thành phần kinh tế được hiểu là khu vực kinh tế, kiểu quan quan hệ kinh tế được đặc trưng bởi hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất Do

đó cơ cấu các thành phần của một nền kinh tế phụ thuộc vào các hình thức

sở hữu, các kiểu quan hệ sản xuất vào trình độ lực lượng sản xuất của sản xuất hàng hóa trong thời kỳ qu độ hư Lênin đã từng cho rằng nền kinh tế trong thời kỳ qu độ, xét về toàn bộ, nó là nền kinh tế qu độ, còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu do đó sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu khách quan Mỗi thành phần kinh tế còn phát huy tác dụng tích cực, có đóng góp vào nền kinh tế thì không thể dùng sắc lệnh, mệnh lệnh hành chính

mà xóa bỏ ngay một lúc được

Khi nghiên cứu Chính sách kinh tế mới của V.I Lênin (NEP) để vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, trong tác phẩm “ hường thức chính trị” hủ tịch Hồ hí inh đã nói rõ ở vùng tự do của ta, còn tồn tại sáu thành phần kinh tế đồng thời gười chỉ ra tính tích cực và mặt hạn chế của từng thành phần kinh tế như sau:

“- Kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô nhưng vì để thuận tiện

chính s ch đại đoàn kết dân tộc ảng và hà nước ta chưa chủ trương xóa

bỏ ngay thành phần kinh tế này, mà chỉ thực hiện giảm tô, giảm tức để tập hợp mọi lực lượng của dân tộc đưa kh ng chiến đến thành công

Trang 39

- Kinh tế quốc doanh, có tính chất chủ nghĩa xã hội Vì tài sản các xí

nghiệp ấy là của chung của nhân dân, của nhà nước, chứ không phải của riêng trong các xí nghiệp quốc doanh thì xưởng trưởng công trình sư và công nhân đều có quyền tham gia quản lý đều là chủ nhân Việc sản xuất thì do sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ nhân dân

- Các hợp tác xã tiêu thụ và hợp tác xã cung cấp, có tính chất nửa chủ

nghĩa xã hội hân dân góp nhau để mua những thứ mình cần dùng hoặc để bán những thứ mình sản xuất không phải kinh qua các thương buôn, không bị

họ bóc lột

- Kinh tế cá nhân của nông dân và của thủ công nghiệp, họ thường tự

túc ít có gì b n và cũng ít khi mua gì ây là một kiểu kinh tế lạc hậu

- Kinh tế tư bản tư nhân Họ bóc lột công nhân nhưng đồng thời họ

cũng góp phần vào xây dựng kinh tế

- Kinh tế tư bản nhà nước là hà nước chung vốn với tư bản tư nhân để

kinh doanh và do hà nước lãnh đạo Trong loại này tư bản của tư nhân là chủ nghĩa tư bản ư bản của hà nước là chủ nghĩa xã hội” [70, tr.266] Khi chế độ dân chủ mới ở nước ta ra đời và phát triển, giai cấp địa chủ phong kiến ngày càng bị thu hẹp, thành phần kinh tế địa chủ phong kiến bóc lột địa tô ngày càng mất dần vị trí và sẽ bị thủ tiêu trong xã hội Bên cạnh đó kinh tế quốc doanh là kinh tế lãnh đạo và phát triển nhanh hơn cả Cho nên kinh tế nước ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hội chứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản

Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là một sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể nước ta đã đem lại kết quả to lớn trong công cuộc xây dựng nền kinh tế mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và cũng phù hợp với quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trang 40

Về cơ chế quản lý kinh tế

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển nền kinh tế thì tư tưởng về quản lý kinh tế giữ một vị trí rất quan trọng Quản lý kinh tế tốt được thể hiện ở năng suất lao động với số lượng nhiều, chất lượng tốt, giá thành hạ Vì vậy, trong quá trình sản xuất, Hồ hí inh đề xuất phương châm nhiều - nhanh - tốt - rẻ Người cũng yêu cầu, làm nhiều nhưng phải làm cho tốt Làm xấu mau hỏng, dùng lại không bền, lại phải làm nhiều mới đủ dùng Phải làm nhanh để không phí phạm thời giờ, nguyên vật liệu Làm tốt, rẻ thì hàng b n được nhiều người lao động có việc làm ổn định, sản xuất có điều kiện để phát triển Thực chất đây chính là mối quan hệ rất chặt chẽ giữa các khâu của quá trình sản xuất xã hội trong đó bao gồm sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng

Bên cạnh đó ồ hí inh thường chỉ ra những khuyết điểm, yếu kém phổ biến của ta là tổ chức còn lủng củng, quản lý thiếu chặt chẽ nên sản xuất kém hiệu quả, dẫn đến hiện tượng "người thì nhiều việc quá, làm không hết, người thì ngồi chờ việc, " Sở dĩ có tình trạng đó là do c n bộ quản lý không tham gia lao động sản xuất, xa rời thực tế, quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, chưa ph t huy được vai trò làm chủ xí nghiệp của cán bộ và công nhân; còn công nhân vì chưa tham gia quản lý nên còn kém tinh thần trách nhiệm và kỷ luật không ph t huy được sáng kiến gười chỉ rõ: "công nhân tham gia quản

lý sẽ làm cho cơ quan quản lý khỏi cồng kềnh, bớt giấy tờ bề bộn, bớt chế độ phiền phức,…và sản xuất nhất định sẽ nhiều, nhanh, tốt, rẻ" [73, tr.538]

Hồ hí inh cũng là người đầu tiên ở Việt Nam nêu vấn đề phải kết hợp hài hòa ba lợi ích: cá nhân, tập thể và xã hội ặc biệt khi tổ chức các loại hình hợp tác xã nông nghiệp gười nói: "mua bán phải theo giá cả thích

đ ng gi cả phải đảm bảo cho nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi

để xây dựng nước nhà", hay "về thuế cũng phải làm sao cho nhà nước, hợp tác xã và nông dân cùng có lợi" [75, tr.221]

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w