1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ xưng hô trong văn bản kinh tân ước và trong đời sống công giáo hiện nay (khảo sát qua 4 sách tin mừng)

217 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Từ ngữ xưng hô trong văn bản kinh tân ước và trong đời sống công giáo hiện nay (khảo sát qua 4 sách tin mừng)
Tác giả Vũ Thị Minh Huyền
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Trang
Trường học Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể là những dạng sau : - Tên gọi dành cho Thiên Chúa, các thánh, tư tế, vua chúa thời Tân ước - Tên gọi các giáo sĩ thời Tân ước - Tên gọi các đạo giáo, hội dòng, tổ chức - Tên gọi c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2016

Trang 2

XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ CHỈNH SỬA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thị Minh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thị Phương Trang, người đã trực tiếp hướng dẫn, truyền đạt cho tôi nhiều kinh nghiệm quí báu, cũng như động viên tạo điều kiện cho tôi tự lực nghiên cứu

Tôi xin gửi lời tri ân chân thành đến quí Thầy Cô đã truyền đạt cho chúng tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm quí báu trong suốt quá trình học cao học tại trường Xin gửi đến Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Phòng Sau đại học, Thư viện Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp HCM lời biết ơn chân thành nhất vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời tri ân chân thành đến quí Cha, quí Dì, quí Ban hành giáo tại các giáo xứ đã hướng dẫn, chỉ dạy nhiều điều, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành luận văn

Sau cùng xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh, động viên giúp đỡ tôi nhiều mặt để tôi có được ngày hôm nay

Trân trọng

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Minh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 6

5 Ý nghĩa đề tài 8

6 Bố cục luận văn 9

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Từ ngữ tôn giáo - một hiện tượng ngôn ngữ xã hội 10

1.2 Tìm hiểu chung về kinh Tân ước 12

1.3 Tìm hiểu chung về từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo 18

1.4 Những quan niệm về vấn đề xưng hô 23

1.5 Lớp từ xưng hô trong tiếng Việt 27

1.6 Tiểu kết chương 1 31

Trang 6

Chương 2

TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG KINH TÂN ƯỚC

2.1 Từ ngữ dùng để xưng gọi trong kinh Tân ước 33

2.2 Từ ngữ xưng hô trong kinh Tân ước từ trước năm 1960 cho đến nay 52

2.3 Phạm vi hành chức của lớp từ ngữ dùng để xưng gọi trong kinh Tân ước 76

2.4 Từ ngữ dùng để xưng gọi trong kinh Tân ước khi đi vào đời sống sinh hoạt Công giáo 87

2.5 Tiểu kết chương 2 94

Chương 3 TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG ĐỜI SỐNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY 3.1 Quy chuẩn của lớp từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo 97

3.2 Quy tắc xưng hô trong đời sống Công giáo hiện nay 102

3.3 Đặc điểm lớp từ ngữ dùng để xưng gọi Công giáo trong tiếng Việt 126

3.4 Vai trò thiết thực của lớp từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo 133

3.5 Tiểu kết chương 3 141

KẾT LUẬN 143

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146

PHỤ LỤC 153

Trang 7

QUY ƢỚC PHIÊN ÂM, VIẾT TẮT, VIẾT HOA VÀ KÍ HIỆU

1 Phiên âm

A

Jesus Nazareth

Giê-su Na-za-rét

B

Swaziland Joseph Ratzinger

Swaziland Joseph Ratzinger Trong luận văn này, ở trường hợp A, chúng tôi viết tất cả các tên riêng nước ngoài có trong văn bản Kinh Thánh và các biệt ngữ liên quan đến Công giáo (sẽ được liệt kê bên dưới) sang tiếng Việt bằng cách giữ nguyên dạng (theo văn bản) Phiên âm theo âm vần của tiếng Việt dựa vào cách đọc của nguyên ngữ, viết rời các âm tiết và có dấu gạch nối giữa các

âm tiết Với cách viết này, thứ nhất, chúng tôi đã không thay đổi cách thể hiện tên riêng được sử dụng trong văn bản gốc, tôn trọng văn bản gốc mà chúng tôi sử dụng để làm tư liệu Thứ hai, ưu điểm nổi bật của hình thức này là người Việt Nam thuộc mọi trình độ văn hóa đều có thể đọc được dễ dàng Cụ thể là những dạng sau :

- Tên gọi dành cho Thiên Chúa, các thánh, tư tế, vua chúa thời Tân ước

- Tên gọi các giáo sĩ thời Tân ước

- Tên gọi các đạo giáo, hội dòng, tổ chức

- Tên gọi các công đồng, kinh thánh

- Tên các thứ tiếng, địa danh

Ở trường hợp B, đối với những tên riêng nước ngoài không có trong văn bản Kinh Thánh và ngoài các dạng nêu trên thì chúng tôi giữ nguyên cách viết như hiện hành, dưới dạng nguyên ngữ, Anh hóa hoặc chuyển tự

Trang 8

Latinh của từ đó Điều này giúp cho người đọc có thể đọc chuẩn được tất

cả các thứ tiếng trên thế giới

3 Viết hoa

Đối với từ ngữ xưng hô, danh xưng hay chức danh trong ngữ liệu, luận văn xin được dùng lại cách viết hoa theo văn bản Điều này thể hiện tính tôn trọng văn bản, tuy không phù hợp với quy tắc viết hoa trong tiếng Việt hiện hành

Ví dụ : Con Người, tên Ác Quỷ, Ta, Chúa Giê-su, Ngài, v.v

Đối với các từ ngữ xưng hô, danh xưng hay chức danh trong đời sống Công giáo, luận văn xin được dùng cách viết hoa theo các văn bản, ấn phẩm Công giáo hiện nay

Ví dụ : Giáo hoàng, Hồng y, thầy Sáu, Đức Ông, Cha, v.v

Trang 9

4 Ký hiệu

[x; tr.y]: tài liệu tham khảo, trong đó: x là số thứ tự tài liệu tham khảo ở phần tài liệu tham khảo; tr y là số thứ tự trang trích dẫn của tài liệu

đó

(Z a, b): trích nguồn ngữ liệu làm dẫn chứng Trong đó Z là tên Tin

mừng theo sách thánh; a : là số thứ tự đoạn trong kinh Tân ước; b : là số thứ tự câu trong kinh Tân ước

Ví dụ:

(1) (Mt 2, 1-2) – Bản A : Tin mừng theo thánh Mát-thêu, đoạn 2, từ câu 1 đến câu 2, trích từ kinh Tân ước năm 1976

(2) (Ga 3, 12-13) – Bản B : Tin mừng theo thánh Gio-an, đoạn 3, từ câu

12 đến câu 13, trích từ kinh Tân ước năm 2012

Bên cạnh đó, các ngữ liệu trích dẫn làm ví dụ, chúng tôi sẽ in nghiêng Các phần quan trọng cần nhấn mạnh thì chúng tôi sẽ in đậm

Trang 10

Điều này thể hiện tính tôn ti trật tự và nhập gia tùy tục của người Việt

Trong xã hội, khi chúng ta giao tiếp với cùng một đối tượng nhưng trong những môi trường khác nhau sẽ có những cách xưng và hô khác nhau Trong Công giáo cũng vậy Điển hình như cách xưng hô giữa giới tu sĩ với tu sĩ, hay giữa tu sĩ

và tín hữu, dân thường, v.v Không ít người đã lúng túng không biết nên xưng hô như thế nào khi tiếp xúc với những người trong môi trường nhà đạo này, gọi họ là

ông cụ hay bà ma sơ (soeur) thì e không phải phép, lịch sự, nhưng cụ thể hơn thì

không biết như thế nào, vì lớp từ ngữ xưng hô của giới tu sĩ không được mặc định

mà thường được phân biệt trong hai phạm vi : xã giao và thân tình theo các hội dòng, hệ phái Trên phương diện văn bản, học thuật cũng như trong giao tiếp, lớp từ xưng hô trong kinh Tân ước nói riêng hay trong đời sống Công giáo nói chung hiển nhiên được xem là lớp từ chuyên dụng trong Công giáo Ki-tô giáo, cụ thể hơn là Công giáo là một trong những tôn giáo xuất hiện và tồn tại trong xã hội Việt Nam

từ lâu, do vậy, việc sử dụng các biệt ngữ này không còn gì xa lạ Song, không phải

ai cũng biết và hiểu hết ý nghĩa của nó để sử dụng cho phù hợp Làm sao để mọi người khi nhắc đến lớp từ ngữ xưng hô trong Công giáo thì ai cũng có thể hiểu và

sử dụng đúng với mục đích, với hoàn cảnh Đó là điều mà chúng tôi muốn hướng tới

Nhận thấy đây là một vấn đề thú vị, đồng thời bản thân cũng là tín hữu có đời sống gắn bó mật thiết với môi trường Công giáo, vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài

“Từ ngữ xưng hô trong văn bản kinh Tân ước và trong đời sống Công giáo hiện nay (Khảo sát qua bốn sách Tin Mừng)” để thực hiện luận văn Luận văn này sẽ hệ

Trang 11

thống lại lớp từ ngữ xưng hô, từ đó thấy được tính thiết thực của chúng trong giao tiếp thường ngày, cũng như giúp ích cho công tác giảng dạy và học tập tiếng Việt nói chung

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi nhằm mục đích :

- Tìm hiểu từ ngữ xưng hô trong kinh Tân ước và trong đời sống sinh hoạt Công giáo qua các vai nghĩa, ngữ cảnh và mục đích giao tiếp cụ thể

- Tìm hiểu những biến đổi và bảo lưu, những tương đồng và dị biệt của lớp từ này trong văn bản và trong đời sống

- Khảo sát sự ảnh hưởng của từ ngữ xưng hô trong xã hội đối với đời sống sinh hoạt Công giáo và ngược lại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Do nhiều lý do, thành tựu nghiên cứu về các từ ngữ xưng hô ở mỗi nước là rất lớn Dù ở trong bất cứ ngôn ngữ nào, Mỹ, Hàn Quốc hay Việt Nam, v.v thì từ lâu, đại từ là một trong những trọng tâm thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó có các từ ngữ xưng hô

Qua tìm hiểu bước đầu, chúng tôi được biết, từ trước đến nay, có một số công trình nghiên cứu, các ấn phẩm, các bài báo, tạp chí đề cập đến vấn đề hệ thống từ xưng hô trong gia đình, trong đạo Phật, trong tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Nhật, v.v Công trình nghiên cứu của chúng tôi mang tính chất khác biệt Công trình này đi sâu vào việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô trên văn bản kinh Tân ước – Kinh Thánh của Ki-tô giáo và trong đời sống Công giáo hiện nay

Nhìn chung, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp từ ngữ xưng hô trong văn bản kinh Tân ước cũng như trong Công giáo

- Về việc nghiên cứu, tìm hiểu văn bản Kinh Thánh (kinh Tân ước) thì đã có khá nhiều công trình khảo cứu, các chuyên luận, các sách báo đề cập đến của các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Hồng Dương, Lý Minh Tuấn

Trang 12

+ Thời trung cổ có nhiều nhà thần học nghiên cứu về kinh Tân ước như : Augustin, Tôma, v.v Nội dung chủ yếu của việc nghiên cứu thời kì trung cổ tập trung vào những vấn đề mang tính thần học thần bí phục vụ cho mục đích tôn giáo + Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác tiếp cận Kinh Thánh ở một thế giới quan

và phương pháp luận duy vật biện chứng : F.Engel với tác phẩm “Bàn về lịch sử Cơ đốc sơ kì” Tác phẩm nói lên quan điểm duy vật chống Duyrinh Mác với tác phẩm

“Về vấn đề Do Thái, góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen”, v.v Trên cơ sở duy vật biện chứng, các tác phẩm chỉ ra nguồn gốc ra đời, tồn tại của tôn giáo, góp phần phê phán tôn giáo đồng thời chỉ ra những điểm tích cực của nó + Năm 2005, Nguyễn Ngọc Rao là người có công trong việc nghiên cứu tổng quát về Kinh Thánh Ông là người đã viết bộ sách gồm ba quyển trong đó có hai cuốn : “Nhập môn Kinh Thánh tổng quát, tìm hiểu ngũ thư” Đây là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Kinh Thánh và được sử dụng làm tài kiệu giảng dạy về Kinh Thánh tại Học viện Đa Minh Tác giả đã phân tích, so sánh những nội dung cơ bản của các tác phẩm, sự nối kết giữa Cựu ước và Tân ước + Năm 2012, trong luận văn “Tư tưởng đạo đức trong kinh Tân ước”, Phạm Văn Thiện đã hệ thống hóa và làm rõ một số tư tưởng đạo đức thể hiện trong kinh Tân ước đặt trong mối tương quan với Cựu ước; làm rõ bản chất của tư tưởng đạo đức trong kinh Tân ước; đưa ra một số đánh giá về hạn chế và tích cực của từng tư tưởng trên lập trường Marx Từ đây, tác giả nêu lên những điểm tích cực và hạn chế khi vận dụng tư tưởng đạo đức trong kinh Tân ước vào trong đời sống đạo đức của người Công giáo

Ngoài những nghiên cứu vừa nêu ở trên, các vấn đề về Kinh Thánh còn được nghiên cứu dưới dạng ấn phẩm tôn giáo như :

- Nguyễn Thế Thuấn (1976), Kinh Thánh, Dòng Chúa Cứu Thế

- Nhóm Hoạt động Văn hóa soạn theo A Elchinger và J Dheilly (Trung tâm

Sư phạm Công giáo Strasbourg), (1960), Tìm hiểu Kinh Thánh Q.II – Tân ước, Nxb

Legio Mariӕ Saigon

- Phạm Gia Thoan (2012), Đạo Tin Lành – Tri thức cơ bản, Nxb Từ điển Bách

Khoa

Trang 13

- Về từ ngữ xưng hô trong tôn giáo thì có luận văn, bài viết sau đã nghiên cứu,

+ Cao Xuân Hải (2014), Đại từ nhân xưng đích thực trong tiếng Thanh Hóa,

Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 9 (227) Bài viết trình bày khái quát về đại từ, cụ thể là đại từ nhân xưng trong tiếng Thanh Hóa, so sánh với tiếng Việt phổ thông Tác giả viết về ba khía cạnh của đại từ, đó là ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức vụ

sử dụng cũng như hoàn cảnh giao tiếp cho hệ thống từ ngữ xưng gọi này

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu Kinh Thánh xuất hiện từ khá sớm qua một số công trình nghiên cứu như, thế kỉ XIX, dưới thời vua Gia Long, hai tác giả Phạm Ngộ Hiện và Nguyễn Hòa Đường đã cho ra đời tác phẩm Tây Dương Gia-tô bí lục

Trang 14

Hiện nay, các cuộc hội thảo về vấn đề tôn giáo, trên các tạp chí nghiên cứu tôn giáo, tạp chí triết học, tạp chí Người Công giáo, Công giáo và dân tộc cũng đề cập đến Kinh Thánh qua một số phương diện, đặc điểm riêng biệt

Hiện nay, Trung tâm Phiên dịch và học hỏi Kinh Thánh với Nhóm Phiên dịch các giờ kinh Phụng vụ, là các giám mục, linh mục được đào tạo, am hiểu Kinh Thánh đảm nhận việc nghiên cứu và biên dịch sách Trung tâm thường xuyên tái bản, phát hành Kinh Thánh và các sách liên quan đến Công giáo

Xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của Việt ngữ học, hệ thống từ ngữ xưng hô được quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu khá nhiều vì tính thiết thực của lớp từ này trong giao tiếp thường ngày Trong những năm gần đây, từ ngữ tôn giáo, trong đó có từ ngữ xưng hô đang được quan tâm và chú ý nhiều hơn Đặc điểm từ ngữ xưng hô trong Kinh Thánh cũng như trong Công giáo vẫn chưa có công trình nào đi vào nghiên cứu một cách hệ thống Nó vẫn chỉ được nhắc đến một cách chung chung trong các nghiên cứu về tôn giáo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là từ ngữ xưng hô xuất hiện trong văn bản kinh Tân ước và trong đời sống Công giáo hiện nay Đối tượng nghiên cứu không chỉ dừng lại ở những từ ngữ xưng hô theo hệ thống mà chúng còn được khảo sát ở tất cả các từ, ngữ dùng để xưng, hoặc dùng để hô trong giao tiếp Đối tượng bao gồm các từ ngữ xưng gọi lâm thời, danh xưng, chức danh, danh từ thân tộc, v.v Trong các từ ngữ chúng tôi thu thập được, có những từ, ngữ được dùng để xưng, có những từ, ngữ chỉ được dùng để hô gọi Việc nghiên cứu đối tượng trên một bình diện rộng giúp cho luận văn khảo sát, tìm hiểu được nhiều khía cạnh hơn liên quan đến vấn đề xưng và hô Trong văn bản hay trong đời sống, ở mỗi vùng miền sẽ có những đặc điểm về từ ngữ xưng, hô, danh xưng và cách gọi khác nhau nên luận văn sẽ hệ thống lại lớp từ dùng để xưng hô này

Trang 15

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các lớp từ ngữ xưng hô của bốn sách Tin Mừng (bỏ qua các sách Khải huyền, sách Công vụ Tông đồ và các thư chung) trong văn bản kinh Tân ước và trong đời sống sinh hoạt Công giáo hiện nay Sở dĩ luận văn chỉ giới hạn khảo sát qua bốn sách Tin Mừng là vì trong kinh Tân ước, dung lượng các từ ngữ dùng để xưng gọi xuất hiện trong bốn sách này khá lớn, còn ở các sách Khải huyền, Công vụ Tông đồ và thư chung thì không đáng kể Đối với những từ ngữ đã đi vào thực tế sử dụng thì sẽ có so sánh với các từ ngữ chuyên biệt trong văn bản Bên cạnh, đề tài còn khảo sát ngữ nghĩa, ngữ dụng của từ, ngữ được hành chức trong giao tiếp, sinh hoạt nghi lễ, v.v ở cả hai lĩnh vực tôn giáo và xã hội

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ việc sưu tầm, miêu tả, phân tích

từ ngữ đến phân loại và sau đó là nhận xét, so sánh các từ ngữ xưng hô trên văn bản

và trong đời sống Công giáo trên ba phương diện từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ dụng

Do đó, luận văn sử dụng chủ yếu các phương pháp sau :

1 Phương pháp phân tích – miêu tả để tìm hiểu các đặc điểm về từ, ngữ nghĩa và ngữ dụng của lớp từ xưng hô, cách hành chức của lớp từ trong phạm vi từ ngữ Công giáo thông dụng

2 Phương pháp so sánh – đối chiếu để tìm hiểu những điểm tương đồng

và dị biệt trên ba phương diện từ, ngữ nghĩa và ngữ dụng của từ ngữ xưng hô đi từ văn bản vào trong đời sống

3 Phương pháp phân tích ngữ dụng học là dùng các thủ pháp ngữ dụng học để phân tích các vai giao tiếp, ngữ cảnh và hiệu quả giao tiếp trong quá trình giao tiếp dựa vào các yếu tố trong và ngoài ngôn ngữ, dưới sự chi phối của một môi trường văn hóa nhất định là Công giáo

Trang 16

4 Phương pháp sưu tầm ngữ liệu giúp tìm kiếm và hệ thống hóa lại các

từ ngữ xưng hô trong văn bản cũng như trong đời sống, đặc biệt là những danh xưng khác lạ để phục vụ cho việc tổng hợp, phân loại

5 Phương pháp phỏng vấn nhằm thu nhận thông tin thông qua câu trả lời của các cá nhân khác nhau về vấn đề xưng hô Các thông tin được ghi chép lại, xử

lý và rút ra nhận xét về từ ngữ xưng hô trong đời sống Công giáo hiện nay

4.2 Ngữ liệu nghiên cứu

Về nguồn ngữ liệu, luận văn sẽ căn cứ vào hai văn bản Kinh Thánh chính, được người Việt dịch từ nguyên bản bằng tiếng Híp-ri, A-ram và Hi Lạp, được bình luận và xuất bản theo khoa học Một là văn bản năm 1976 của linh mục Nguyễn Thế Thuấn; hai là văn bản năm 2012 của Nhóm Các giờ kinh phụng vụ Bên cạnh

đó, văn bản Kinh Thánh năm 1960 của Nhóm Hoạt động Văn hóa soạn theo A.Elchinger và J.Dheilly (Trung tâm Sư phạm Công giáo Strasbourg) cũng được chúng tôi dùng làm ngữ liệu so sánh thêm Bên cạnh, luận văn còn dùng các tư liệu lịch sử, kinh điển, từ điển Công giáo, kỷ yếu, thư chung, tư liệu của ngành Ngôn ngữ học, và các dẫn chứng ví dụ từ nguồn tư liệu điện tử

Ngoài ra, chúng tôi còn trao đổi và tham khảo ý kiến với một số giáo sĩ, tu sĩ Công giáo về những biệt ngữ nhằm xác định lại một cách chắc chắn những đối tượng chúng tôi nghiên cứu Sau đây là danh sách một số giáo sĩ, tu sĩ Công giáo

mà chúng tôi đã trao đổi và tham khảo ý kiến :

1 Linh mục Đa Minh Trần Công Hiển

- Linh mục triều (thuộc giáo phận Xuân Lộc)

- Chức vụ : Chánh xứ giáo xứ Võ Dõng, Trưởng ban Thánh nhạc giáo phận Xuân Lộc

- Nơi công tác mục vụ : Giáo xứ Võ Dõng (Đồng Nai)

2 Linh mục Vinh Sơn Phạm Xuân Hưng

- Linh mục dòng (thuộc dòng Đa Minh)

- Chức vụ : Phụ tá Giám tỉnh tỉnh dòng Đa Minh Việt Nam

Trang 17

- Nơi công tác mục vụ : Trụ sở tỉnh Dòng Đa Minh (Tp.HCM)

3 Sơ Ma-ri-a Phao-lô Ngô Thị Kim Dung

- Sơ dòng (thuộc Hội dòng Đức mẹ Mân Côi)

- Khấn trọn đời

- Nơi công tác mục vụ : Giáo xứ Xuân Ngọc (Bà Rịa – Vũng Tàu)

4 Sơ Ma-ri-a Nguyễn Thị Khánh Trúc

- Sơ dòng (thuộc dòng Con Đức Bà an ủi thánh Augustine)

- Khấn lần đầu

5 Thầy Phê-rô Dương Quốc Mỹ

- Thầy dòng (thuộc dòng Thánh Tâm Huế)

- Khấn lần đầu

6 Thầy Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Minh Tiến

- Thầy dòng (thuộc dòng Thừa sai Thánh Tâm)

Trang 18

Sự lựa chọn từ ngữ xưng gọi trong giao tiếp thể hiện cách ứng xử của người nói : ứng xử với người tham gia giao tiếp với mình và với chính mình Đề tài nhằm tìm hiểu về hệ thống các từ ngữ xưng gọi và cách xưng gọi trong đời sống sinh hoạt Công giáo, hướng tới sự chỉ dẫn cách sử dụng từ ngữ xưng gọi thích hợp hơn trong hoàn cảnh giao tiếp rất đặc biệt này

đề tài

Chương 2 : Từ ngữ xưng hô trong kinh Tân ước

Ở chương này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu từ xưng hô trong văn bản kinh Tân ước, có so sánh – đối chiếu với từ ngữ xưng hô trong đời sống sinh hoạt tôn giáo Việc nghiên cứu này nói lên đặc điểm, những bảo lưu và biến đổi của từ xưng

hô trong văn bản qua mỗi thời kỳ, phạm vi hành chức của lớp từ ngữ dùng để xưng gọi trong kinh Tân ước

Chương 3 : Từ ngữ xưng hô trong đời sống sinh hoạt Công giáo hiện nay Đây là kết quả của việc khảo sát và phân tích hệ thống từ xưng hô trong đời sống Công giáo Chương này sẽ cho ta thấy những ảnh hưởng của lớp từ xưng hô trong môi trường Công giáo đối với xã hội và ngược lại Từ đây, vai trò thiết thực của lớp từ này sẽ góp phần thể hiện phong cách, sắc thái trang trọng và tính trang nhã của người tham gia giao tiếp trong mọi tình huống

Trang 19

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Từ ngữ tôn giáo – một hiện tượng ngôn ngữ xã hội

Ngôn ngữ là thống nhất cho toàn xã hội Mặt khác, ngôn ngữ cũng lại rất đa dạng trong thể hiện Sự thể hiện của một ngôn ngữ có thể được khảo sát theo nhiều bình diện : bình diện phong cách thể hiện, bình diện hiệu quả thể hiện, bình diện khu vực dân cư thể hiện

Ta hoàn toàn có thể nói, ngôn ngữ là thước đo bản chất và bản sắc của một người, là dấu chỉ sự ứng xử văn hóa và trình độ học vấn của người ấy Theo Trần Thị Ngọc Lang [40, tr.16] thì : “Con người xã hội không tồn tại đơn lẻ mà sinh sống – tức có quan hệ trực tiếp với nhau hoặc toàn diện, hoặc về một mặt nào đó – trong một nhóm xã hội nhất định (về nghề nghiệp, về tôn giáo, về địa vị kinh tế trong xã hội, về sinh hoạt văn hóa, v.v.).”

Ngoài ngôn ngữ, con người còn có nhiều phương tiện để giao tiếp như bằng ánh mắt, bằng cử chỉ hoặc một kí hiệu nào đó để biểu đạt điều mình muốn nói, nhưng xét cho cùng, ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu quan trọng nhất

Các hàng rào địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo, … đã ngăn cản con người giao tiếp rộng rãi với nhau Sự cách biệt này làm nảy sinh tính đa dạng về lối sống và một tất yếu kèm theo là sự khác biệt ngôn ngữ sẽ làm nên những hệ thống

từ ngữ chuyên biệt

Mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng dân tộc đều có một ngôn ngữ thống nhất, nhưng tính thống nhất này không mang ý nghĩa tuyệt đối Do hoàn cảnh địa lý và điều kiện lịch sử, ảnh hưởng văn hóa, sự phân bố giai tầng trong xã hội đã làm nảy sinh những lớp từ ngữ mới Ngôn từ ít nhiều bị biến đổi trong các nhóm xã hội cùng tộc người, cùng tôn giáo và cùng địa vị kinh tế, cùng nhóm tiểu văn hóa có cùng trình

độ học vấn

Trong xã hội, khi giao tiếp, không phải lúc nào chúng ta cũng sử dụng chung một hệ thống từ ngữ cho mọi đối tượng, mọi hoàn cảnh Nếu các cộng đồng xã hội được phân biệt theo giới tính (nam, nữ), theo thế hệ (già, trẻ), theo ngành nghề (nông dân, bác sĩ), theo tôn giáo (giáo chức, tín đồ), … thì hoạt động ngôn ngữ của

Trang 20

những cộng đồng này sẽ có những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức, như tác giả Trần Thị Ngọc Lang [40, tr.21-22] cũng nhận định thêm rằng :“Có những tôn giáo, những xã hội quy định rõ các giai tầng và quy cách quan hệ giữa những người cùng một giai tầng hoặc với người ở giai tầng khác, trong đó có những quy định nghiêm ngặt về cách nói … và người ta luôn có sự tự ý thức về tầng lớp xã hội của mình, cố gắng gìn giữ hoặc biến đổi các đặc điểm ngôn ngữ để định ranh giới, làm nên sự khu biệt cho tầng lớp này.”

Nếu một người nào đó có những vai xã hội khác nhau, thì tùy theo vai xã hội của mình trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà phải sử dụng lời ăn tiếng nói của mình sao cho phù hợp, do đó khi thì có đặc điểm của cộng đồng ngôn từ này, khi thì thể hiện đặc điểm của cộng đồng ngôn từ khác Bởi vì sự khác nhau về phong cách nói năng thường cùng thay đổi với những khác biệt về mặt cộng đồng xã hội Sinh hoạt trong cộng đồng xã hội nào thì chúng ta phải nói năng cho phù hợp với thói quen sinh hoạt ngôn ngữ của cộng đồng xã hội ấy

Có những quy luật trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, người ta có xu hướng ứng xử theo những cách thức thông dụng Sống trong những tổ chức xã hội, con người phải tuân theo những khuôn mẫu hành vi chung của tổ chức, xã hội đó Ví dụ: Sống ở Việt Nam, khi nghe hỏi thăm sức khỏe mà câu trả lời là “Tốt” hoặc “Nhờ Trời tôi vẫn khỏe” là chúng ta đã ngầm tự “thông báo” rằng tôi là kẻ “ngoại đạo”, hoặc có người trả lời là “Cảm ơn Chúa, tôi vẫn khỏe”; “Đội ơn Đức Mẹ, sức khỏe vẫn tốt”, … thì đó là người theo Công giáo

Ta biết, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội Đặc điểm quan trọng trong ý thức tôn giáo là một mặt nó phản ánh tồn tại xã hội Mặt khác, nó lại có xu hướng phản kháng lại xã hội đã sản sinh ra và nuôi dưỡng nó Vì vậy, từ khi ra đời đến nay, cùng với sự biến đổi của lịch sử, tôn giáo cũng biến đổi theo Thế nên, từ ngữ

về tôn giáo, hay còn gọi là biệt ngữ, không tránh khỏi nhiều sự biến đổi Nhưng những sự biến đổi của ngôn ngữ không ngoài mục đích giao tiếp, phục vụ cuộc sống con người

Trang 21

Mỗi tôn giáo đều có hệ thống biệt ngữ riêng, biệt ngữ Phật giáo khác biệt ngữ Công giáo, Nho giáo, Cao Đài, v.v Mặc dù ngôn ngữ của từng nhóm người mang những đặc điểm riêng biệt nhưng không tách rời, làm biến chất tiếng Việt, chẳng hạn, các loại sách do nhà in của giáo hội cung cấp cho những người Công giáo,

những truyện, ký do người Công giáo ghi chép hay sáng tác như Nhật trình kim thư nhất chính Chúa giáo của Phi-lip-phê Bỉnh, Truyện thày La-za-rô Phiền của

Nguyễn Trọng Quản và cả trong các bản dịch Kinh Thánh, sách giáo lý Những từ ngữ mới mẻ và lối nói mà trước đó hẳn chưa hề có trong tiếng Việt như “nhờ Chúa ban phước lành”, “tôi xin Chúa giảng ra cho tôi khỏi dấu thày…”, “Đấng chăn chiên coi sóc bổn đạo”, v.v là kiểu thức nói năng đặc thù của cộng đồng Công giáo lúc bấy giờ Thế rồi dần dần một số lối nói như vậy không còn xa lạ đối với đa số và trở thành phổ biến trong tiếng Việt Theo thời gian, lớp từ này cùng với lớp từ thuộc những tôn giáo khác góp thêm vào và làm phong phú cho ngôn ngữ toàn dân

1.2 Tìm hiểu chung về kinh Tân ước

1.2.1 Vài nét sơ lược về Kinh Thánh

Kinh Thánh là một tuyệt tác của Công giáo Kinh Thánh là một quyển sách được phát hành với số lượng lớn nhất trong lịch sử xuất bản của nhân loại Đây là một văn kiện được các tôn giáo lớn như Hội thánh Công giáo La Mã, Hội thánh Công giáo Chính thống phương Đông và rất nhiều Hội thánh Tin Lành khác sử dụng như nền tảng vững chắc của những giáo huấn cơ bản nhất Ngoài ra, Kinh Thánh còn được coi là Lời Của Chúa Riêng đối với các nhà học giả và những bạn đọc không sử dụng Kinh Thánh với mục đích tôn giáo sẽ tìm thấy trong tác phẩm này những giá trị sử học, nhân văn học, triết học, ngôn ngữ học và những giá trị văn hóa tinh thần đã vượt qua nhiều thời đại

Kinh Thánh được chia ra thành hai phần Cựu ước và Tân ước Nhìn chung, tiêu điểm chung của toàn bộ Kinh Thánh tập trung vào giao ước giữa Thiên Chúa và con người, trong đó, nhân vật Chúa Giê-su là tâm điểm của Kinh Thánh – một mắt xích nối kết hai phần Cựu ước và Tân ước với nhau

Nguyễn Thơ Sinh trong Yếu tố tâm lý trong Kinh Thánh cho rằng : Theo

nhóm Weo-hau và tính toán của họ thì Kinh Thánh Cựu ước được biên soạn từ thế

Trang 22

kỉ thứ X đến thế kỉ V trước Công nguyên (BC – Before Christ) Kinh Thánh Tân ước được viết ra trong một khoảng thời gian ngắn hơn Tổng cộng có 27 sách trong Kinh Thánh Tân ước viết trong một khoảng thời gian từ năm 50 đến năm 125 (khoảng 75 năm) Ngôn ngữ nguyên thủy của Kinh Thánh bao gồm ba ngôn ngữ là tiếng Do Thái, tiếng Xy-ri và tiếng Koi-ni Hy Lạp

Khi những nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam có thể sử dụng tiếng Việt trôi chảy thì chữ Quốc ngữ đã phổ biến và thay thế chữ Nho để trở nên ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam, mặc dù chữ Nho vẫn còn là ngôn ngữ của các học giả thuộc thế hệ trước Giống những khu vực truyền giáo khác của Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp, các giáo sĩ tại Việt Nam ủy thác việc dịch thuật và văn phẩm cho những tín hữu người Việt đã được huấn luyện đặc biệt cho công việc này, với mục tiêu hàng đầu là dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt

1.2.2 Sự hình thành và phát triển của kinh Tân ước

Tân ước, còn được gọi là Tân ước Hy Lạp (Gờ-rít Tét-ta-men) được dịch ra

từ Kinh Thánh Cơ Đốc, viết sau khi Chúa Giê-su sinh ra Tiếng La Tinh gọi Tân ước là Ni-um Tét-ta-men-tum, được dịch từ tiếng Hy Lạp (I Ke-ni đờ-hi-a-thi-ki),

có nghĩa là Giao ước mới được các tín đồ Cơ Đốc sử dụng để diễn tả quan hệ giữa con người với Thiên Chúa Sau đó, Te-tu-li-an (55-230 sau Công nguyên) là một nhân vật quan trọng của Hội Thánh đã trở thành một cây bút xuất sắc vào những ngày đầu của Cơ Đốc giáo Có thể nói công lao của Te-tu-li-an trong việc dịch thuật Kinh Thánh qua tiếng La tinh là rất quan trọng đối với lịch sử cuốn Kinh Thánh

Bộ kinh Tân ước được viết trong một khoảng thời gian dài, vì thế, mỗi tác phẩm được viết lên gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể và nhằm mục đích

cụ thể Vì thế, để hiểu rõ về bộ kinh này cần đặt nó vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể Bộ kinh được ra đời vào thời đế quốc Rô-ma đang đặt nền đô hộ của mình trên hầu khắp các nước thuộc vùng Địa Trung hải, trong đó có xứ Pa-lét-tin – nơi Chúa Giê-

su sinh ra, cũng là nơi khởi sự nhiều tác phẩm kinh Tân ước

Kinh Tân ước ra đời sau khi kinh Cựu ước đã được hoàn thành Kinh Tân ước với 27 tác phẩm đồ sộ đã được sắp xếp theo một thứ tự mà chúng ta thường gặp trong các sách Kinh Thánh đã được xuất bản : bốn quyển Phúc Âm (Mát-thêu, Lu-

Trang 23

ca, Gio-an, Mác-cô), Công vụ Tông đồ, 21 lá thư của nhiều tác giả Nhưng, các nhà nghiên cứu Kinh Thánh đều thống nhất, đây không phải là trật tự hình thành của kinh Tân ước Các sách này được sắp xếp theo thời gian gắn liền với cuộc đời của Chúa Giê-su : sinh ra, hoạt động tại trần thế, lịch sử tiên khởi của Hội thánh, chỉ dạy

về sống đạo của các Tông đồ và cuối cùng là Cánh chung (tận thế) Cách sắp xếp này có phần giống như trong Cựu ước nhưng không theo thứ tự hình thành các sách Thứ tự xuất hiện các sách trong Tân ước còn gặp nhiều tranh cãi, tuy nhiên, nhiều tác giả cho rằng các thư của Phao-lô ra đời sớm nhất khoảng năm 55 đến năm

62 SCN (sau Công nguyên) Tiếp đến là sự xuất hiện của các Phúc Âm nhất lãm (Mát-thêu, Lu-ca, Mác-cô) và sách Công vụ Tông đồ từ năm 69 đến năm 80 SCN Cùng thời gian này là sự xuất hiện của hai thư Phê-rô, thư Gia-cô-bê và thư Giu-đa Đến năm 80 SCN, thư Do Thái xuất hiện Khoảng năm 100, các tác phẩm của Gio-

an ra đời Sau năm 100, các thư mục vụ của 1 và 2 của Ti-mô-thê, thư Ti-tô

Ở Việt Nam, kinh Tân ước được dịch ra từ khá sớm Giống như đạo Công giáo tại các nước phương Tây, ban đầu các bản dịch Kinh Thánh chỉ dành cho những chức sắc trong đạo Sau này, các bản dịch được phổ biến đến các Ki-tô hữu Khoảng năm 1872, những tác phẩm của kinh Tân ước và Cựu ước bắt đầu được dịch sang tiếng Việt Đến nay, các tác phẩm của Kinh Thánh đều được dịch sang tiếng Việt thành các bộ kinh hoàn chỉnh

Bên cạnh những tác phẩm mang tính chính thống (27 cuốn) còn có một số tác phẩm cùng thời nhưng không được coi là tác phẩm chính thống và không được

sử dụng Những tác phẩm này được gọi là “ngụy thư” – a-pô-ry-phen Người Ki-tô giáo không chấp nhận ngụy thư vì nó không góp phần vào việc phát triển đức tin của tín hữu mà nhằm phá hoại cộng đồng tôn giáo sơ khai Vì thế, những sách này không được công khai sử dụng Năm 1987, Hội thánh Công giáo có nhận định chính thức về ngụy thư, coi chúng là của “kẻ lạc đạo” Trong công trình nghiên cứu của Áp-ba-ze đờ Ma-rét-sau đã ghi nhận có 71 quyển ngụy thư thuộc Cựu ước và 58 quyển ngụy thư thuộc Tân ước Dù không được công khai sử dụng nhưng những tác phẩm này hiện nay vẫn được lưu giữ tại các thư viện Công giáo lớn ở Rô-ma và các nước khác Nó chỉ được coi như những tác phẩm văn chương chứ không phải các

Trang 24

“sách thánh” Nó được liệt vào một trong những loại sách cấm đọc và phổ biến của người Công giáo Thậm chí, những ai dùng nó để phổ biến sẽ bị tội không thể tha và

bị coi là “lạc giáo” Chính vì thế, cho đến nay, nội dung của những tác phẩm này vẫn ít người biết đến

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng hai bản kinh Tân ước để so sánh Bản

thứ nhất là Kinh Thánh, bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn – Dòng Chúa

Cứu Thế, năm 1976 Đây là bản Kinh được người Công giáo công nhận thời ấy và

tin dùng với độ chính xác cao so với bản gốc Bản thứ hai là bản Kinh Thánh Tân ước, bản dịch của Nhóm phiên dịch Các Giờ kinh phụng vụ, năm 2012 Hiện nay,

Công giáo Việt Nam đang sử dụng bản Kinh thứ hai này trong các nghi thức phụng

vụ hay sinh hoạt tôn giáo Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo thêm bản Tìm hiểu Kinh Thánh Q.II – Tân ước, năm 1960 của Nhóm Hoạt động Văn hóa soạn theo

A.Elchinger và J.Dheilly (Trung tâm Sư phạm Công giáo Strasbourg)

Vào thời gian này, bản dịch của linh mục Nguyễn Thế Thuấn được thực hiện trên các nguyên bản bằng tiếng Híp-ri, A-ram và Hi Lạp đã được bình luận và xuất bản theo khoa học Dịch giả cũng đối chiếu với các bản dịch cổ xưa bằng tiếng Hi Lạp, Xy-ri và La tinh

1.2.3 Kết cấu của kinh Tân ước

Kinh Tân ước luôn được bắt đầu bằng bốn sách Tin Mừng của thánh thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an Kết cấu của kinh Tân ước cố định theo thời gian

Mát-Dù có rất nhiều bản dịch, nhiều tác giả, nhiều ý kiến xoay quanh việc tác phẩm nào

ra đời trước hoặc sau, nhưng, kết cấu của kinh Tân ước vẫn không thay đổi Tân ước được bắt đầu bằng bốn Tin Mừng và kết thúc bằng Sách Khải huyền

“Kinh Thánh Tân ước” (2012) theo Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng

Vụ thực hiện, được sự phê chuẩn của Phao-lô Nguyễn Văn Bình – Tổng Giám mục Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay đang được sử dụng rộng rãi có kết cấu như sau:

Trang 25

Dẫn nhập Tân ƣớc

Tin Mừng theo thánh Mát-thêu

Tin Mừng theo thánh Mác-cô

Tin Mừng theo thánh Lu-ca

Tin Mừng theo thánh Gio-an

Sách Công vụ Tông đồ

Thƣ gửi tín hữu Rô-ma

Thƣ 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô

Thƣ 2 gửi tín hữu Cô-rin-tô

Thƣ gửi tín hữu Ga-lát

Thƣ gửi tín hữu Ê-phê-xô

Thƣ gửi tín hữu Phi-líp-phê

Thƣ gửi tín hữu Cô-lô-xê

Thƣ 1 gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca Thƣ 2 gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca Thƣ 1 gửi ông Ti-mô-thê

Thƣ 2 gửi ông Ti-mô-thê

Thƣ gửi ông Ti-tô

Thƣ gửi ông Phi-lê-môn

Thƣ gửi tín hữu Híp-ri

Trang 26

Trong luận văn này, chúng tôi xin được khảo sát nội dung qua bốn sách Tin mừng là Tin mừng theo thánh Mát-thêu, Tin mừng theo thánh Mác-cô, Tin mừng theo thánh Lu-ca và Tin mừng theo thánh Gio-an

1.2.4 Nội dung của kinh Tân ước

Ba Phúc âm của Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca có nhiều điểm giống nhau nên được gọi chung là Phúc âm nhất lãm và Phúc âm của Gio-an có điểm khác biệt Đại thể bốn Phúc âm này kể chuyện về nhân vật Chúa Giê-su người xứ Na-za-rét, là người đã sáng lập ra đạo Cơ Đốc (hay còn gọi là đạo Ki-tô)

Kinh Thánh Tân ước mô tả Chúa Giê-su là một thầy luật sĩ Do Thái xứ li-lê có thể làm được nhiều phép lạ Ngài luôn là cái gai nhọn trong mắt giới nắm quyền tôn giáo Do Thái thời bây giờ Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập giá ở ngoại ô thành Giê-ru-sa-lem vào thời gian cai trị của quan Tổng trấn Po-ti-út Pi-la-

Trang 27

1.3 Tìm hiểu chung về từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo

Nghiên cứu từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo là một công việc còn mới mẻ Trước đây, có các bài viết, bài báo tìm hiểu, góp ý về đại từ nhân xưng, danh xưng trong Công giáo, nhưng, đó là những bài viết nhỏ, chưa khái quát hết được hệ thống vốn đa dạng này Vấn đề xưng hô trong Công giáo chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, chưa có những công trình nghiên cứu chuyên biệt về mảng

biệt ngữ (tạm sử dụng khái niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1999)) Lớp từ này phản ánh một quá trình hình thành, thay đổi và phát

triển lâu dài, gắn liền với quá trình phát triển của chữ Quốc ngữ Từ ngữ dùng để xưng gọi trong Kinh Thánh nói riêng và trong đời sống Công giáo nói chung rất đa dạng và phong phú, có khi ngay cả giáo dân cũng không biết hết được

Sống trong giáo hội, người tín hữu không có chung một chức năng và nhiệm

vụ Theo giáo lý, tín lý và giáo luật hiện hành của giáo hội, thì Dân Chúa được khai sinh qua Phép Rửa, được lớn lên trong đức tin, đức cậy và đức mến nhờ bí tích Thêm Sức và bí tích Thánh Thể Tín hữu được mời gọi sống trong ba ơn gọi, hay bậc sống khác nhau Đó là bậc giáo sĩ, bậc tu sĩ và bậc giáo dân có gia đình Ngày nay, có thêm một bậc sống nữa là bậc độc thân, tức những người không thuộc ba bậc sống nói trên Ứng với mỗi bậc sống sẽ có những danh xưng khác nhau, thay đổi theo từng giai đoạn, từng thời điểm Qua cách những người trong nhà đạo xưng

hô với nhau, chúng ta có thể đoán biết được chức vụ, vai vế hay quá trình tu học của

họ

1.3.1 Lớp từ xưng hô trong Công giáo

Công giáo Việt Nam bắt nguồn từ Công giáo Rô-ma ở phương Tây nhưng cái nôi của Công giáo là ở phương Đông, Ít-ra-en Vì vậy, bên cạnh yếu tố người dịch thì chúng ta có thể thấy lớp từ sinh hoạt nói chung cũng như lớp từ xưng hô nói riêng trong Công giáo tại Việt Nam đều bị ảnh hưởng và mang dáng dấp của từ ngữ phương Đông cũng như phương Tây

So với những thế kỉ đầu, lớp từ ngữ này chỉ thuộc phạm vi văn bản, học thuật thì hiện nay đã được phổ cập trong xã hội và có sự lan rộng Chúng ta thấy, có lớp

từ xưng hô trong Công giáo nay đã trở nên thông dụng ngoài xã hội; có lớp từ vẫn

Trang 28

thuần ý niệm về biệt ngữ, mượn nguyên âm Hán Việt không thể chuyển nghĩa khác

đi hay phiên âm tiếng Pháp và giữ nguyên nghĩa; có lớp từ mang nét nghĩa tương tự, nhưng hàm nghĩa rộng, tinh tế hơn nghĩa thông dụng ngoài xã hội (cha, thầy, dì, đệ

tử, v.v.) Chính vì lẽ này đã hình thành và tồn tại một lớp từ xưng hô Công giáo dù

đi vào xã hội, đời sống sinh hoạt của mỗi người nhưng vẫn giữ nguyên sắc thái trang trọng, lễ nghi đồng thời vẫn mang đầy đủ tính chất của tôn chỉ Điều đó dẫn đến rất nhiều người ngoại đạo, ngay cả những Ki-tô hữu tuy thường xuyên đến nhà thờ, tham dự các lễ nghi tôn giáo, tiếp xúc với hàng giáo sĩ, tu sĩ, những người phục

vụ giáo hội nhưng cũng chưa có cơ hội tiếp cận đầy đủ và hiểu sâu về các lớp từ xưng hô và cách ứng dụng trong Công giáo

1.3.2 Từ ngữ dùng để xưng gọi dành riêng cho giáo sĩ

Giáo sĩ là cấp bậc để gọi chung những người Công giáo tự nguyện hiến thân cho việc truyền đạo và giúp giáo dân giữ đạo Giáo sĩ là những người có chức thánh thông qua bí tích Truyền chức Chức thánh được xác lập bởi hai phía : Từ đương sự

và từ Bề trên, anh em trong tu hội Theo Giáo luật Công giáo Việt Nam, điều kiện

để lãnh bí tích Truyền chức là những nam nhân Có hai hình thức tu là Dòng và Triều

Giáo sĩ dòng được định nghĩa là “Giáo sĩ sống bên ngoài thế gian, có cộng đoàn luật riêng, theo huấn điều : thanh tịnh, nghèo khó, vâng phục đúng lời thề riêng của dòng” Giáo sĩ dòng đi tu trong các nhà dòng riêng, nói chung không trông coi phần hồn giáo dân Họ từ bỏ cuộc sống bình thường để sống chung với nhau trong nhà dòng (tu viện hay đan viện) để giúp nhau tu theo phương thức riêng của mỗi dòng

Giáo sĩ triều thì coi sóc giáo dân theo địa bàn dân cư Giáo sĩ dành phần lớn thời giờ cho việc mục vụ Họ không bị ràng buộc bởi lời khấn khó nghèo hay đời sống chung, nhưng trong giáo hội Công giáo La Mã, họ long trọng thề sống độc thân và hứa vâng phục giám mục như Bề trên trực tiếp của mình dưới Đức Giáo hoàng

Hàng giáo sĩ có ba cấp bậc từ thấp đến cao là phó tế, linh mục và giám mục

Về giám mục, ứng với mỗi bổn phận thi hành mà có những tên gọi khác nhau cho

Trang 29

giám mục đó, như giám mục giáo phận, giám mục phụ tá, giám mục hiệu tòa, v.v

Linh mục ở dưới hàng giám mục về thứ bậc Linh mục thuộc một dòng tu nào đó

được gọi là linh mục dòng Linh mục không thuộc dòng tu được gọi là linh mục triều Sau khi thụ phong chức thánh, vị linh mục được giáo hội bổ nhiệm vào một công tác : trông coi xứ đạo gọi là cha xứ; truyền giáo gọi là linh mục thừa sai; giảng dạy gọi là cha giáo; linh hướng gọi là cha linh hướng, v.v Vấn đề này sẽ được nói

cụ thể ở chương ba

Phó tế là những người đã hoàn tất chương trình học tập và chuẩn bị để được

phong chức thánh Phó tế được gọi với tên thân mật là thầy Sáu (vì đã tu đến bậc

thứ sáu)

1.3.3 Từ ngữ dùng để xưng gọi dành riêng cho tu sĩ

Tu sĩ nói chung là những người từ bỏ cuộc sống trần thế để cống hiến trọn đời cho việc đạo, sống kín đáo trong các nhà dòng, theo phương châm tu đạo của riêng từng dòng Tu sĩ là những người có lời khấn (khấn đơn, khấn trọn) chứ chưa

có chức thánh Nam và nữ đều có thể trở thành tu sĩ chứ không giống giáo sĩ là chỉ nam mà thôi

Nhìn chung, tu sĩ nam và tu sĩ nữ đều có những từ ngữ xưng gọi chung theo từng giai đoạn tu khấn Giống như Phật giáo chia thành nhiều tông phái, hệ thống Công giáo Việt Nam cũng được chia thành nhiều dòng, tu viện, đan viện khác nhau Mỗi dòng tu hay đan viện sẽ có những điều luật khác nhau cho hoạt động tu khấn, nhưng nhìn chung đều đi theo chương trình học tu như sau :

Đầu tiên, những giáo dân nào có mong muốn tìm hiểu và đi theo con đường của Chúa thì sẽ nộp đơn và trải qua một kỳ thi tuyển Vượt qua kỳ thi này, họ sẽ vào

các chủng viện để học Lúc này, họ đều có tên gọi chung là chủng sinh (cho các dòng tu thuộc địa phận) hay tu sinh Khi họ bắt đầu tham gia vào quá trình học tu,

tên gọi này có thể thay đổi Quá trình học chia ra làm ba giai đoạn chính : thỉnh viện (khoảng 02 năm), tập viện (01 năm) và học viện (từ 06 - 07 năm)

- Thỉnh viện : Trong giai đoạn này, người nam được gọi là thỉnh viện hay thỉnh sinh, ví dụ : mấy chú thỉnh sinh, mấy anh thỉnh viện, v.v Với nữ thì ta có tên

Trang 30

gọi là đệ tử, như các chị đệ tử Vào cuối giai đoạn, cả nam và nữ đều được gọi là tiền tập Tên gọi này được gọi theo tên của giai đoạn

- Tập viện : Kết thúc giai đoạn thỉnh viện, tu sinh sẽ có 1 năm để hoàn tất giai

đoạn tập viện Cá nhân mỗi người nam được gọi là tập viện, người nữ ở một số nơi được gọi là tập ngặt, nhưng tên gọi chung cho họ là tập sinh Cuối giai đoạn này,

các tu sinh sẽ tuyên khấn lần đầu Lời khấn là lời hứa cách ý thức và thong dong đối với Thiên Chúa, về một điều thiện tốt hơn và có thể thi hành được Xét vì thuộc về đức thờ phượng, lời khấn buộc phải được chu toàn Và sau khi khấn, họ chính thức trở thành tu sĩ

- Học viện : Đây là giai đoạn cuối cùng và cũng là giai đoạn dài nhất Các tu sĩ

có bảy năm để hoàn thành việc học triết học, thần học và thực tập Họ được gọi là

sinh viên, giống như cách gọi ở ngoài xã hội Khi gọi những người này, mọi người thường gọi một cách thân thương là anh em sinh viên Đặc biệt, đối với nữ, họ còn

có tên gọi khác là kinh viện hay sơ sinh (cách gọi hóm hỉnh)

- Khấn sinh : Kết thúc giai đoạn Học viện, sinh viên người mà được tuyển

chọn và chuẩn bị lãnh nhận ơn khấn trọn đời được gọi là khấn sinh

Những danh xưng quy chuẩn này sẽ được nói rõ hơn ở mục 3.3.1.2, bảng 3.2 Ngoài những tên gọi mang đặc trưng theo từng giai đoạn nói trên, khi giao tiếp với

nhau, họ có thể xưng hô theo kiểu thân mật như trong gia đình là chú - tôi, cậu - tôi, chị - em, Đối với họ, tất cả đều là anh chị em của nhau

1.3.4 Từ ngữ dùng để xưng gọi dành riêng cho giáo dân

Nguyễn Hồng Dương [13; tr.255] với câu hỏi Từ “giáo dân” xuất hiện lúc nào trong lịch sử? thì ông cho rằng : “Sách Đại Nam Thực lục chính biên viết : Tự

Đức 21, mùa thu (1868) giám mục Đông (nguyên ở Hà Nội giảng đạo), giám mục Hậu, giám mục Bình đệ đơn đến Bộ Lệ đổi bốn chữ “tả đạo”, “dữu dân” Bộ Lễ cho

là triều đình thương dân như một vốn không có phân biệt, phàm kính làm sổ sách hoặc khi có giấy tờ đổi viết là dân đạo, dùng để nhớ mà thôi Vua y cho”

Trang 31

Sách trên chú giải :

- Tả đạo : đạo bất chính, tà đạo, trái với chính đạo

- Dữu dân : chữ “dữu” nghĩa đen là cây cỏ lồng vực giống cây lúa, mọc xen trong khóm lúa làm hại lúa Nghĩa bóng là : xấu, tập nhiễm thói xấu, thói ác gọi là dữu, dân tục thiện gọi là “lương”, ác gọi là “dữu” Thời Tự Đức dùng chữ “dữu” này để chỉ bên dân giáo Trong bộ sử này, chữ “dữu dân” vẫn dịch là “dân giáo” để cho dễ hiểu

Trên cơ sở của điều khoản thứ IX, trong Hòa ước 1874 niên hiệu Tự Đức 27,

năm này vua Tự Đức : “Chuẩn cho dân đi đạo gọi là giáo dân, dân đi lương gọi là bình dân” Vậy là ít ra vào thờ vua Tự Đức tín đồ theo đạo Công giáo đã được gọi

là giáo dân trong các văn bản chính thức của Nhà nước”

Theo Hội đồng Giám mục Việt Nam [27, tr.129] thì “Giáo là đạo; dân là người thuộc một nhóm Giáo dân là người cùng đạo Giáo dân là các Ki-tô hữu không có chức thánh Nhờ bí tích Thánh tẩy, giáo dân được tháp nhập vào nhiệm thể Đức Ki-tô, tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Người Cùng với Hàng Giáo phẩm, giáo dân thi hành sứ mệnh trong Hội thánh và trên trần gian theo cách thức của họ” Tuy nhiên, đây đó trong các văn bản, trong sách báo giáo

dân còn được gọi khác nhau là giáo hữu, đạo hữu, Ki-tô hữu, con chiên, Chiên Chúa, Nhân Thiên Chúa, Nhân Danh, v.v

Vì Chúa Giê-su được gọi là Người Mục tử nhân lành nên những người đi theo Chúa được gọi là con Chiên hay chiên Chúa Chiên Chúa đầu tiên là nhóm

Mười hai, sau trở thành Mười hai Tông đồ, trụ cột của giáo hội tiên khởi

Công giáo ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo, những người không thuộc

Công giáo được gọi là ngoại giáo hay dân ngoại Trong chính môi trường ngoại giáo, những người tin theo Đức Ki-tô được gọi là Ki-tô hữu, … Về từ ngữ dùng để xưng gọi các tín hữu cũng có nhiều tên gọi Các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem gọi là anh

em Nếu tín hữu ở ngoại bang Pa-lét-tin thì được gọi là môn đệ

Nhìn chung, chúng ta có thể hiểu giáo dân theo tinh thần của Công đồng ti-căng II là tất cả những Ki-tô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được giáo hội công nhận, nghĩa là Ki-tô hữu được tháp nhập vào thân thể Chúa Ki-tô nhờ phép

Trang 32

Va-rửa tội, đã trở nên dân Chúa và tham dự vào chức vụ Tư tế, Tiên tri và Vương giả

của Chúa Ki-tô theo cách thức của họ Đến nay, từ giáo dân được sử dụng để gọi những người theo đạo Công giáo Ngoài ra, ta có thể dùng từ Ki-tô hữu để chỉ

những người theo Ki-tô giáo nói chung Những từ này chỉ được dùng để gọi, không dùng khi xưng

1.4 Những quan niệm về vấn đề xưng hô

1.4.1 Quan niệm về xưng hô trong xã hội, dân gian

Con người trong quá trình giao tiếp, luôn mong muốn hoặc là làm vui lòng đối phương hoặc là làm cho đối phương phải khó chịu Khi giao tiếp với động cơ làm vừa lòng đối phương, người nói luôn không ngừng điều chỉnh phong cách, thanh điệu, tốc độ nói, cử chỉ, tư thế, từ ngữ của mình làm sao cho gần với đặc điểm của đối phương

Trong hoạt động giao tiếp bằng lời, một số thành tố thường được nhắc đến như những điều kiện : nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, hiện thực được nói đến, và hệ thống tín hiệu (ngôn ngữ) với tư cách phương tiện giao tiếp Khi giao tiếp, các nhân vật nói và nghe được những gì, nói và nghe như thế nào, có phần chịu ảnh hưởng từ vị thế xã hội của họ Trong giao tiếp bằng lời, mối quan hệ này được xác lập và thể hiện ra thành vai giao tiếp, trước hết nhờ hệ thống các từ ngữ xưng gọi

Dân gian có câu nói : “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, nhằm nhấn mạnh phép lịch sự tối thiểu của con người trong giao tiếp Đôi khi gặp nhau vội vàng chỉ kịp nói “chào ông”, “chào anh” hay “chào nhé !” cũng đủ làm ấm lòng người, tạo thêm

sự tin tưởng và tiếp tục duy trì mối quan hệ thân thiện

Vừa để duy trì trật tự công cộng, vừa để thúc đẩy quan hệ tương tác xã hội thì lời chào chính là một nhân tố không thể thiếu trong quan hệ xã hội Lời chào thể hiện tính lịch sự, là chìa khóa mở cánh cửa tâm hồn của người đối diện, mà theo tác giả Nguyễn Đức Dân [7, tr.142], tính lịch sự đó ảnh hưởng rất mạnh tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp Nguyễn Văn Khang đã có so sánh ngầm rất hay về điều này Ông cho rằng, mỗi người trong xã hội đều có “mã số” riêng cho mình, người nào có thể mã hóa được “mã số” đó, chứng tỏ thành công trong bước đầu

Trang 33

giao tiếp Một cá nhân không chỉ có một “mã số” nhất định mà có rất nhiều “mã số”, nhưng tiêu biểu nhất là “mã số” danh xưng Trong giao tiếp, gọi đúng tên, đúng chức danh, địa vị là một điều khá tinh tế, dễ lưu lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng người trước khi đi sâu vào cuộc hội thoại

1.4.2 Quan niệm về xưng hô của các nhà Việt ngữ học

Các nhà Việt ngữ học từ trước đến nay đã nghiên cứu khá kĩ hệ thống từ xưng hô trong tiếng Việt (Nguyễn Văn Chiến - 1988, Stan-kê-vích N.V - 1993, Hoàng Thị Châu - 1995, v.v.) Đa số các tác giả tập trung xem xét mặt thể hiện của các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt (vốn được biểu hiện hết sức đa dạng, tế nhị) Theo quan điểm của lý thuyết hội thoại, xưng hô được coi là yếu tố trước tiên, bắt buộc có của giai đoạn đầu tiên – giai đoạn thiết lập các cuộc thoại Giao tiếp ngôn ngữ chỉ bắt đầu được thực hiện khi chủ thể giao tiếp (người nói) xác lập được vai giao tiếp, tức là tìm được các cặp từ xưng hô thích hợp Với tiếng Việt thì tiếng Việt còn phức tạp hơn nhiều, do hệ thống từ xưng hô rất đa dạng, nhiều sắc thái, và nói chung, phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh

“Xưng gọi”, hiểu theo nghĩa phổ thông là cách tự xưng đối với mình và gọi người khác, để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau trong giao tiếp Từ ngữ xưng gọi theo Nguyễn Thị Thanh Bình [32; tr.118] là tất cả các hình thức ngôn ngữ dùng để chỉ người nói và/ hoặc người nghe (người nói và người nghe được hiểu theo nghĩa rộng như hai chủ thể trong giao tiếp, tức là người phát và người nhận ngôn ngữ) trong giao tiếp ngôn ngữ, ví dụ : “anh”, “em” và “chúng mình” trong

phát ngôn : Anh đến nhà em rồi chúng mình cùng đi nhớ !” Hệ thống từ xưng gọi

trong tiếng Việt thu hút sự chú ý của các nhà khoa học không chỉ bởi vì sự đa dạng của các biến thể từ vựng mà còn vì sự phong phú về chức năng dụng học của chúng

Sự lựa chọn từ xưng gọi chịu sự chi phối của các quy tắc khác nhau Trong phạm vi gia đình và họ hàng, luật tôn ti hành chức tương đối chặt chẽ Ở ngoài xã hội, sự lựa chọn trên thường chịu sự chi phối của nguyên tắc trọng tuổi tác và địa vị xã hội Mỗi một thành viên trong xã hội được xếp vào các giai tầng xã hội khác nhau theo các tiêu chí giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thành phần xuất thân và trình độ văn hóa đều có lớp từ xưng hô tương ứng Ở chế độ quân chủ phong kiến thì có lớp từ

Trang 34

xưng hô đối lập, thể hiện rõ ràng thần dân, vua tôi, v.v Ở nông thôn cũng có lớp từ xưng hô khác với thành thị Tuy nhiên, các yếu tố khác như phong cách ngôn từ, sự thân mật giữa những người tham gia giao tiếp, mục đích giao tiếp, v.v cũng ảnh hưởng đến cách dùng từ xưng gọi Nguyễn Thị Thanh Bình [32; tr.119] nhận định :

“Trong những trường hợp nhất định, một trong những yếu tố này có thể trở thành yếu tố quyết định sự lựa chọn từ xưng gọi như một biểu hiện của sự tôn trọng, tính thân thiện, tình cảm hoặc những điều gì đó khác mà người nói muốn dành cho người nghe”

Từ các quan điểm trên, Cù Đình Tú [73, tr.261] ghi nhận : “Từ xưng hô, cách xưng hô, mô hình xưng hô là phương tiện biểu cảm và là phương tiện phong cách” Theo chúng tôi, từ ngữ xưng hô là từ ngữ dùng để tự xưng (ngôi thứ nhất), để gọi người đối thoại (ngôi thứ hai), để trỏ người hay sự vật nói tới (ngôi thứ ba) Nó

là toàn bộ những đơn vị từ vựng dùng để tự xưng và gọi nhau khi giao tiếp dù là trực tiếp hay gián tiếp Từ ngữ xưng hô có thể là những đại từ xưng hô, danh từ chung (từ chỉ quan hệ họ hàng, từ chỉ chức vụ, học vị, nghề nghiệp, v.v.), danh từ riêng (thường là tên người) Nguyễn Thị Trung Thành (2007) đã thể hiện trong bài

viết “Cần phân biệt từ xưng hô với đại từ xưng hô” rằng “Khái niệm từ xưng hô có

nội hàm rộng hơn khái niệm đại từ xưng hô” Xưng hô là hành vi ngôn ngữ, chính

vì thế trong giao tiếp hàng ngày của mỗi dân tộc, xưng hô được sử dụng rất nhiều và không thể thiếu được Phạm vi xưng hô thì rất rộng, bao gồm xưng hô trong gia đình và xưng hô ngoài xã hội

1.4.3 Quan niệm về xưng hô của Công giáo

Quan niệm về xưng hô trong tôn giáo nói chung, đặc biệt là trong Công giáo thì việc sử dụng từ xưng hô như thế nào cho chuẩn xác là rất quan trọng Người nói khi muốn gọi giáo sĩ, tu sĩ, những người có chức danh, địa vị trong Công giáo thì có

thể tìm hiểu trước, hoặc gợi mở câu hỏi như : Tôi có thể gọi ông/ bà/ anh/ chị… như thế nào? (Nếu là giáo dân thì có thể xưng là con/ em thay vì tôi) Người nói không thể “tự phong” cho người đối diện, ví dụ, gọi người đó là cha, thầy, hoặc sơ, dì bề trên, … khi họ chỉ là những người mới bắt đầu vào nhà dòng, nhà xứ để tìm hiểu ơn

gọi Người nói có phần quan niệm cứ giới thiệu quá lên thì càng tốt Có thể nói đó

Trang 35

là một lối ứng xử xưng hô nhưng khiến người nghe cảm thấy ngượng, mất tự nhiên nên cách xưng hô tùy hứng sẽ kéo theo một không khí thiếu tự tin và ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng các cuộc giao tiếp Để điều chỉnh sự lệch lạc ấy, nhiều khi đối

tượng giao tiếp phải trực tiếp cải chính : “Xin lỗi, cứ gọi tôi là thầy Sáu/ sơ/ đệ tử/

tu sinh/… nhé !”

Trong cuộc sống thường ngày, vấn đề xưng hô theo kiểu nhà đạo cũng thường xảy ra nhiều phiền toái Một người làm linh mục rồi nhưng người tham gia giao tiếp

không biết nên cứ gọi là thầy khiến người nghe cũng tự ái, không vui, nhiều khi còn

mất cảm tình hoặc cáu gắt Khấn dòng rồi mà người đối diện không biết nên cứ gọi

là đệ tử thì cũng buồn, xem như bản thân bị hạ thấp phẩm giá Đối tượng tham gia

giao tiếp đã là cha bề trên tổng quyền, cha quản hạt, cha tuyên úy, cha văn phòng,

cha quản lý, cha cố mà người đối diện chỉ gọi là cha không thì nhiều khi cũng bị

đánh giá là không tế nhị Cho nên trong phụng vụ, người Công giáo cũng chỉ đáp

“Và ở cùng cha” sau tiếng “Chúa ở cùng anh chị em” dù chủ tế có là Đức Thánh cha, Đức Hồng y, Đức Giám mục, cha bề trên, … đi nữa Trong khi cử hành nghi thức phụng vụ, chính vị chủ tế đại diện cho Chúa Ki-tô mà cũng không đòi phải

thưa rườm rà, thế nên các tín hữu chỉ thưa một cách ngắn gọn là cha mà không cần

phải thưa một cách đầy đủ vai vế, tuổi tác Vì nếu phải thưa đầy đủ vai vế, chức vị của cộng đoàn thì còn nhiều, như là : hồng y đoàn, tổng giám mục, giám mục hiệu tòa, giám mục phụ tá, linh mục chánh xứ, thầy Sáu, … Nhìn chung, cách xưng hô ngắn gọn, lược bỏ đi vai vế, chức danh được cộng đồng Công giáo lựa chọn và sử dụng trong môi trường nhà đạo

Cách xưng hô trong đời sống Công giáo cũng mang đặc điểm chung của tiếng Việt : Đó là dùng lại các từ chỉ quan hệ thân thuộc làm lời xưng gọi Nói chung, các

từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, trong cái đa dạng của cách xưng hô hàng ngày, chúng ta vẫn thấy mức độ thống nhất giữa các lớp từ ngữ đặc thù tôn giáo

Trong Kinh Thánh, từ ngữ xưng hô được phân theo giai tầng như tầng lớp thống trị và bị trị, thần thánh với ma quỷ, dân theo đạo với dân ngoại đạo; hoặc theo

Trang 36

đặc điểm cá nhân như người lành, kẻ dữ, kẻ liệt, quân tội lỗi, v.v Trong đời sống Công giáo hiện nay, xưng hô theo thành phần dân Chúa là chủ yếu, bao gồm ba thành phần chính là giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân

Đặc điểm từ ngữ dùng để xưng gọi trong Công giáo cũng như từ ngữ dùng để xưng gọi trong Phật giáo nói riêng và tôn giáo nói chung là không có tính cố định, chỉ là tạm mượn, vì chúng sẽ được thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn

tu học Vì vậy, các từ ngữ xưng gọi được tạm xem là thước đo quá trình tu học của một vị tu sĩ Đó là kết quả từ một đệ tử, tu sinh, v.v mới vào nhà dòng cho đến cấp bậc sơ/ dì, linh mục, giám mục Các từ ngữ xưng hô này có chức năng và tác dụng tương tự như từ ngữ xưng hô của ngôn ngữ xã hội, vừa để duy trì trật tự nội bộ, vừa

để thúc đẩy quan hệ tương tác giữa giới tu sĩ và xã hội Tuy chỉ là những từ ngữ tạm xưng nhưng kết quả của các từ ngữ xưng gọi này phải được tích lũy qua quá trình học tập và làm việc lâu dài, sau đó có sự kiểm duyệt, phê chuẩn của Hội thánh mới được tấn phong (để trở thành linh mục tối thiểu là 8 hay 10 năm, trở thành sơ tối thiểu là 5 hay 6 năm)

Chọn cách xưng hô là một vấn đề mang tính xã hội, nó bị các điều kiện của bối cảnh giao tiếp chi phối Trong xu hướng phát triển đa dạng mang tính công nghiệp hóa, cùng với sự phát triển của văn hóa và văn minh giao tiếp, hệ thống từ xưng hô đã ít nhiều bị thay đổi và có sự điều chỉnh theo những chiều hướng khác nhau Xưng hô trong Công giáo là một vấn đề cần được quan tâm để giao tiếp đạt được hiệu quả như mong muốn

1.5 Lớp từ xưng hô trong tiếng Việt

Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nghi thức, trong đó xưng hô là nghi thức cần thiết và có tính chất mở màn, sau chào hỏi Theo Trần Văn Tiếng [66, tr.10] thì

“Trong phạm vi giao tiếp xã hội, xưng hô tạo hiệu quả thuận lợi cho tiến trình hội thoại Chiến lược xưng hô được vận dụng ở đây là “xưng thì khiêm, hô thì tôn” hình thành trong sự quy ước chung có tính xã hội” Thông thường, cơ sở để định

vai người đối thoại dựa vào sự đoán định về tuổi tác mà có cách xưng hô phù hợp Trong giao tiếp, mọi vi phạm vào quy tắc ứng xử xưng hô chung cho xã hội đều xuất phát từ dụng ý của người nói Vì những chiến lược, quy tắc cũng như dụng ý

Trang 37

này mà trong giao tiếp, người Việt đôi khi cảm thấy lúng túng vì không biết phải gọi và xưng như thế nào cho phù hợp khi đối thoại

Lớp từ xưng hô, so với các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản, v.v thì Việt Nam phong phú hơn hẳn Tiếng Việt có nhiều từ xưng hô và nhiều cách xưng hô thể hiện sắc thái, phong cách biểu cảm khác nhau

Theo Trần Trọng Dương thì “Hệ thống quy tắc xưng hô, đại từ để xưng hô của chúng ta thực sự đa dạng, phức tạp Điều này, chúng ta khá tương đồng Trung Quốc Chúng ta cùng chịu những ảnh hưởng của Nho giáo, của khái niệm “lễ” Lễ luôn đề cao vị trí của vai vế Vai vế rất nhiều Mà vế nào phải ra vế đấy Cô, dì, chú, bác đều phải có tên gọi hết, đều phải có vai vế hết Cái đó là do đặc tính của mối quan hệ Nho giáo” Trong dịch thuật, nếu chúng ta xem tiếng Việt là ngôn ngữ

đích để chuyển dịch các ngôn ngữ khác qua nó thì lớp từ xưng hô của tiếng Việt là một hiện tượng gây ra nhiều phiền toái, rắc rối Rõ ràng, chúng ta thấy, hệ thống xưng hô của tiếng Việt rất đa dạng Từ một đại từ nhân xưng tiếng nước ngoài, tùy hoàn cảnh, ta có thể quy đổi ra nhiều từ khác nhau Với Kinh Thánh – kinh điển của thế giới thì việc lựa chọn hệ thống từ ngữ xưng hô như thế nào khi chuyển dịch để vừa đáp ứng được sự chuẩn xác theo thần học của Kinh Thánh, đồng thời không gây khó hiểu nơi người đọc là một việc phức tạp Điều này đòi hỏi sự uyên thâm nơi người dịch Chọn lựa đại từ nhân xưng thích hợp để xưng hô là một việc đôi khi gây lúng túng cho cả chính người Việt bản ngữ Quy tắc chung là trong xưng hô, người Việt ưu tiên sử dụng các đại từ nhân xưng lâm thời và danh từ thân tộc

Đại từ là một từ loại mang tính phổ niệm cho hệ thống ngữ pháp của các ngôn

ngữ Theo Nguyễn Như Ý [80; tr.85] thì “Đại từ là từ loại mà ý nghĩa phạm trù của chúng là không định danh sự vật mà chỉ định chúng trong một cảnh huống nhất định, một hoàn cảnh nói năng nhất định”

Xét về nguồn gốc, đại từ nhân xưng của các ngôn ngữ có thể chia thành hai loại : đại từ nhân xưng thực thụ và đại từ nhân xưng lâm thời Đại từ nhân xưng thực thụ là những đại từ chuyên dùng để xưng hô, ngôn ngữ nào cũng có, được phân loại và vận dụng theo các tiêu chí khách quan như ngôi (ngôi 1 – phát ngôn,

Trang 38

ngôi 2 – thụ ngôn, ngôi 3 – khiếm diện), số (số ít, số đôi, số nhiều) và giống (giống đực, giống trung, giống cái) nên thường có sắc thái trung hòa Đại từ nhân xưng lâm thời là những đại từ được chuyển dụng từ các danh từ và đại từ khác, được phân loại

và vận dụng theo các tiêu chí chủ quan như đánh giá của người phát ngôn về vị trí

xã hội và tương quan xã hội của các ngôi giao tiếp, sắc thái tình cảm mà người phát ngôn muốn biểu thị, cho nên nội dung ngữ nghĩa của nó mang nhiều yếu tố xã hội

và nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau

Nguyễn Văn Chiến đã chia danh từ thân tộc thành hai loại : danh từ thân tộc trực xưng và danh từ thân tộc gián xưng Danh từ thân tộc trực xưng là những danh

từ đơn mà ego “tôi” dùng để xưng gọi trực tiếp ở ngôi 1 hoặc ngôi 2 với các vai có quan hệ thân tộc với mình Do số lượng danh từ thân tộc trực xưng ở mỗi ngôn ngữ bao giờ cũng ít hơn số lượng các vai, nên một danh từ thân tộc trực xưng thường biểu thị một số vai khác nhau Những vai cùng được biểu thị bởi một danh từ trực xưng thường có chung một số giá trị trong quan hệ giữa mỗi vai với ego Thí dụ

trong tiếng Việt, dượng chỉ các vai nam, thuộc thế hệ thứ nhất trên ego và không có

quan hệ huyết thống với ego : chồng chị cha, chồng em gái cha, chồng chị mẹ, chồng em gái mẹ, cha ghẻ Danh từ thân tộc gián xưng thường là những danh từ ghép, tập hợp một số từ tố đứng cạnh nhau theo một kiểu trật tự nhất định, nhằm phân biệt từng vai một trong nghĩa chung của một danh từ thân tộc trực xưng Công dụng của danh từ thân tộc gián xưng là dùng để giới thiệu mối quan hệ thân tộc cụ thể giữa ego với một vai nào đó cho người thứ ba hiểu, và đôi khi cũng được dùng

để xưng hô Bằng cách đó, nó bổ sung, lấp đầy những vai mà nhóm danh từ thân tộc trực xưng bỏ qua vì không cho là quan yếu, giúp cho sự giao tiếp trong thân tộc và trong xã hội được thuận tiện hơn

Danh từ thân tộc gián xưng, theo Nguyễn Văn Khang [37; tr.39] là “từ xưng

hô thân tộc”, được hình thành từ các từ thân tộc có nguồn gốc từ sự phân chia thân tộc của người Việt Từ thân tộc dùng làm xưng hô có các đặc điểm : Thứ nhất là chỉ

có thuật ngữ thân tộc cơ bản và thuật ngữ thân tộc ghép được sử dụng làm từ xưng

hô Tất cả các thuật ngữ thân tộc miêu thuật không được sử dụng làm từ xưng hô;

Trang 39

thứ hai là các thuật ngữ thân tộc cơ bản có xu hướng chỉ sử dụng các từ thân tộc đơn

tiết, mang nghĩa chung, như ông chung cho các từ về ông (ông nội, ông ngoại, ông trẻ); thứ ba là không dừng lại ở từ xưng hô của tiếng Việt toàn dân, từ xưng hô thân

tộc còn có một số lượng lớn các từ xưng hô thân tộc của tiếng Việt phương ngữ Đặc điểm này tạo nên sự đa dạng, phong phú về các từ thân tộc nói chung, từ xưng

hô thân tộc nói riêng trong tiếng Việt

Một đặc điểm của tiếng Việt là các đại từ nhân xưng thực thụ có số lượng rất

ít, và phạm vi sử dụng bị giới hạn trong những hoàn cảnh giao tiếp thân mật hoặc suồng sã Do đó, sắc thái biểu cảm của nó cũng không còn trung hòa nữa mà đã chuyển sang sắc thái thân mật hoặc suồng sã

Theo tài liệu của tác giả Lý Tùng Hiếu [23; tr.28] thì lớp từ xưng hô trong tiếng Việt rất đa dạng, được chia thành các lớp từ sau :

(1) Đại từ nhân xưng thực thụ : tao, ta, qua, choa, mày, mi, mậy, bậu, bây, nó, hắn, y, tụi tao, tụi bây, chúng ta, v.v Bù lại, các đại từ nhân xưng lâm thời trong tiếng Việt có số lượng rất lớn, bao gồm đến 7 nhóm danh từ và đại từ khác nhau, có phạm vi sử dụng rất rộng rãi và sắc thái biểu cảm vô cùng phong phú Trong số đó, danh từ thân tộc trực xưng và danh từ thân tộc gián xưng là hai nhóm được sử dụng thường xuyên nhất, cả trong quan hệ thân tộc và trong quan hệ xã hội

(2) Danh từ thân tộc trực xưng : cố, cụ, ông, bà, nội, ngoại, cha, mẹ, chú thím, anh chị, bà con, cô bác, tụi con, tụi cháu, v.v

(3) Danh từ thân tộc gián xưng : bố cu, bố đĩ, mẹ cu, mẹ đĩ, ba con Lan, má thằng Nam, chồng con Hoa, vợ thằng Sáu, má sắp nhỏ, má bầy trẻ, bà nó, v.v (4) Danh từ chỉ quan hệ xã hội : thầy, trò, bạn, đồng nghiệp, đồng chí, đồng bào, chiến hữu, gia chủ, chủ nhà, quan khách, khứa, v.v

(5) Danh từ chỉ địa vị xã hội : thủ trưởng, sếp, ông chủ, chủ tịch, đại úy, giáo sư, bác sĩ, giám đốc, v.v

(6) Danh từ chỉ người : ngài, ngươi, người, người ta, thằng, cái, gã, ả, mình, vú, chúng, chúng mình, tụi mình, quý vị, v.v

Trang 40

(7) Danh từ chỉ tên riêng : Nam, Hùng, Hương, Cu Anh, Đực Em, Hoa, Gái Lớn, Gái nhỏ, Út Hết, Út Chính, v.v

(8) Đại từ nơi chốn : đây, đó, ấy, bên í, đằng í, bên bển, đằng đó, v.v

1.6 Tiểu kết chương 1

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, biệt ngữ thích ứng với hoàn cảnh, vì thế nên việc mượn lẫn tiếng nói, ngôn từ của nhau giữa các quốc gia, các dân tộc là điều dễ hiểu Trong đó, từ ngữ xưng hô đóng vai trò khá quan trọng trong môi trường giao tiếp

Mặc dù vay mượn từ ngữ La-tinh, Pháp, Anh hay Hán - Việt nhưng chúng ta biết gia giảm làm cho lớp từ sử dụng chứa đựng sắc thái trang trọng, tôn nghiêm mà không đánh mất nghĩa chân thành, cởi mở và thân thiện của dân tộc Việt Nam Có dịp nghe và nói đến từ “cha, dì, thầy” hay “đệ tử, sư huynh” trong lòng ai nấy đều

có sự liên tưởng về hình ảnh một tu sĩ hiền hòa, dễ mến, đưa tiếng nói Công giáo đi vào lòng người không mang màu sắc tôn giáo, mà thực sự là một đại gia đình thân thiết

Xưng hô theo quan niệm xã hội, dân gian hay quan niệm của các nhà Việt ngữ học thì cũng không ngoài mục đích đạt hiệu quả cao trong giao tiếp Để tạo được ấn tượng đẹp với người đối thoại, việc nắm rõ vị thế, chức vụ nghề nghiệp của người đó là rất cần thiết Trong tôn giáo, vấn đề xưng hô khá là phong phú và có phần phức tạp Những vị tu hành là những người có chức danh riêng biệt trong cuộc sống ngày nay, vì vậy, việc xác định rõ danh xưng, đại từ khi xưng gọi gặp đôi chút khó khăn Tôn giáo không xa lạ với chúng ta, nhưng việc xưng hô trong tôn giáo thế nào cho phù hợp, đúng đắn thì không phải ai cũng rõ

Chúng tôi nhận thấy, lớp từ ngữ Công giáo trong tiếng Việt cũng mang những đặc điểm của từ ngữ trong tiếng Việt nói chung Nhưng bên cạnh đó, lớp từ ngữ này cũng có những đặc điểm riêng biệt Việc nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong tiếng Việt cũng giống như nghiên cứu từ ngữ tiếng Việt nói chung là công việc khá phức tạp Công giáo cũng như những tôn giáo khác có một hệ thống từ ngữ xưng hô riêng cho mình Qua danh xưng ta có thể biết được đời sống và bổn phận thi hành người

đó Mỗi dòng tu, mỗi tu viện hay đan viện có những tiêu chí hoạt động khác nhau

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
2. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập - Từ vựng – Ngữ nghĩa, tập Một, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập - Từ vựng – Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
3. Hoàng Thị Châu (1995), “Vài đề nghị về chuẩn hóa cách xƣng hô trong xã giao”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài đề nghị về chuẩn hóa cách xƣng hô trong xã giao”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 1995
4. Hoàng Thị Châu (2009), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
5. Kim Jae Chon (2001), Các từ ngữ dùng để xƣng hô trong tiếng Việt và tiếng Hàn, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các từ ngữ dùng để xƣng hô trong tiếng Việt và tiếng Hàn
Tác giả: Kim Jae Chon
Năm: 2001
6. Lê Khắc Cường (chủ biên) (2013), Việt Nam học tuyển tập, Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam học tuyển tập
Tác giả: Lê Khắc Cường (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2013
7. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học (I), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (I)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
8. Trương Thị Diễm (2002), Từ xưng hô có nguồn gốc từ danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ, Nxb Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xƣng hô có nguồn gốc từ danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Trương Thị Diễm
Nhà XB: Nxb Trường Đại học Vinh
Năm: 2002
9. Trương Thị Diễm (2012), “Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng Công giáo Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong cộng đồng Công giáo Việt”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Trương Thị Diễm
Năm: 2012
10. Nguyễn Đình Diễn (2002), Từ điển Công giáo Anh Việt, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Công giáo Anh Việt
Tác giả: Nguyễn Đình Diễn
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2002
11. Nguyễn Hồng Dương (2008), Kitô giáo ở Hà Nội, Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kitô giáo ở Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa Hà Nội
Năm: 2008
12. Nguyễn Hồng Dương (2008), Công giáo Việt Nam – Một số vấn đề nghiên cứu, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo Việt Nam – Một số vấn đề nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2008
13. Nguyễn Hồng Dương (2012), Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của Công giáo ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2012
14. Nguyễn Hồng Dương (2013), Công giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công giáo trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2013
15. Hữu Đạt (2009), Đặc trƣng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trƣng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
16. Geoffrey Wigoder (2013), Từ điển Kinh Thánh Anh – Việt, Minh họa và sách dẫn, Nxb Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Kinh Thánh Anh – Việt, Minh họa và sách dẫn
Tác giả: Geoffrey Wigoder
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2013
17. Hoàng Thúy Hà (2008), “Từ hô gọi đi kèm tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ hô gọi đi kèm tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh”, "Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Hoàng Thúy Hà
Năm: 2008
18. Dương Quảng Hàm (2005), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
19. Mai Thanh Hải (2002), Từ điển Tôn giáo, Nxb Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tôn giáo
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2002
20. Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w