Đề bài: Đánh giá các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Mục lục I. Đánh giá các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 1 1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn 2 2. Điều kiện về ý chí tự nguyện của nam và nữ, tức là có sự đồng lòng đến từ hai bên 4 3. Điều kiện về năng lực của người muốn kết hôn 5 4. Điều kiện về các trường hợp cấm kết hôn, theo quy định của pháp luật thì các trường hợp cấm kết hôn là: 6 4.1 Cấm kết hôn giả tạo 6 4.2 Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn 7 4.3 Cấm kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng 7 4.4 Cấm kết hôn với những người có quan hệ trực hệ 3 đời, với những người đã từng có quan hệ thân thích 8 5. Điều kiện về giới tính ( hai người kết hôn phải không cùng giới tính, tức là phải một nam và một nữ) 8 II. Giải pháp để nâng cao công tác quản lý, hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn 9 Bài làm Từ xưa đến nay kết hôn vẫn luôn được coi là công việc hệ trọng của cả đời người. Chính vì tính chất quan trọng của việc hôn nhân nên trong các thời kì chúng ta luôn xây dựng một quy định cụ thể của pháp luật để điều chỉnh vấn đề này. Luật Hôn nhân và gia đình chứa đựng tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về các quan hệ trong hôn nhân và quan hệ trong gia đình, trong đó có quy định cụ thể về điều kiện kết hôn mà pháp luật ghi nhận. I. Đánh giá các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về điều kiện kết hôn như sau: “1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự; d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này. 2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” Các hành vi bị cấm theo điểm a, b, c, d của khoản 2 điều 5 luật này quy định như sau: “a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ; d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”. > Như vậy, theo quy định trên ta thấy phát sinh 2 nhóm đối tượng. Một là giữa nam và nữ, hai là đối tượng giữa những người cùng giới tính. Để việc coi là đăng kí kết hôn đúng pháp luật thì 2 người phải đáp ứng các điều kiện sau: 1. Điều kiện về độ tuổi kết hôn Không giống với quy định của Luật Hôn nhân và g
Trang 1
Mục lục
I Đánh giá các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 1
1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn 2
2 Điều kiện về ý chí tự nguyện của nam và nữ, tức là có sự đồng lòng đến từ hai bên 4
3 Điều kiện về năng lực của người muốn kết hôn 5
4 Điều kiện về các trường hợp cấm kết hôn, theo quy định của pháp luật thì các trường hợp cấm kết hôn là: 6
4.1 Cấm kết hôn giả tạo 6
4.2 Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn 7
4.3 Cấm kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng 7
4.4 Cấm kết hôn với những người có quan hệ trực hệ 3 đời, với những người đã từng có quan hệ thân thích 8
5 Điều kiện về giới tính ( hai người kết hôn phải không cùng giới tính, tức là phải một nam và một nữ) 8
II Giải pháp để nâng cao công tác quản lý, hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn 9
Trang 2Đề bài: Đánh giá các điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Bài làm
Từ xưa đến nay kết hôn vẫn luôn được coi là công việc hệ trọng của cả đời người Chính vì tính chất quan trọng của việc hôn nhân nên trong các thời kì chúng ta luôn
xây dựng một quy định cụ thể của pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Luật Hôn
nhân và gia đình chứa đựng tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về các quan
hệ trong hôn nhân và quan hệ trong gia đình, trong đó có quy định cụ thể về điều kiện kết hôn mà pháp luật ghi nhận
I Đánh giá các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Kết hôn được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về điều kiện kết hôn như sau:
“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”
Các hành vi bị cấm theo điểm a, b, c, d của khoản 2 điều 5 luật này quy định như sau:
Trang 3“a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ
vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”
-> Như vậy, theo quy định trên ta thấy phát sinh 2 nhóm đối tượng Một là giữa nam và nữ, hai là đối tượng giữa những người cùng giới tính Để việc coi là đăng kí kết hôn đúng pháp luật thì 2 người phải đáp ứng các điều kiện sau:
1 Điều kiện về độ tuổi kết hôn
Không giống với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 có quy định về
tuổi kết hôn là: “Nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên” mà Luật hôn nhân và gia đình 2014 thêm từ “đủ” để nâng mức độ tuổi kết hôn, đây là nội dung thay đổi quan trọng giữa luật mới và luật cũ để phù hợp với quy định của pháp luật về dân
sự tại thời điểm ban hành luật năm 2014 có quy định phải đủ 18 tuổi thì khi tham gia các giao dịch dân sự thì mới không cần sự đồng ý của người đại diện Vậy, điều kiện về tuổi kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 là nam phải
từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi Mặt khác việc quy định nữ phải từ đủ
18 tuổi mới được kết hôn có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nữ giới trong tố tụng dân sự Khi đủ 18 tuổi thì nữ giới có thể tự mình xác lập các yêu cầu dân sự như ly hôn mà không cần có người đại diện Ngoài ra còn có sự chưa đồng
bộ trong quy định của pháp luật các nước về độ tuổi kết hôn dẫn đến khó khăn
Trang 4trong việc cấp đăng kí kết hôn Điều kiện về tuổi kết hôn, được quy định tại Điều 8, nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên, một số nước và vùng lãnh thổ quy định về tuổi kết hôn thấp hơn so với Việt Nam; nếu áp dụng pháp luật nước ngoài đối với quan hệ Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam thì
có được áp dụng hay không? Ngoài ra, thực tiễn thi hành quy định về tuổi kết hôn còn rất nhiều bất cập giữa quy định của pháp luật và tập quán về tuổi kết hôn Thực tiễn áp dụng quy định về tuổi kết hôn cho thấy tình trạng tảo hôn vẫn diễn ra phổ biến ở khu vực miền núi, dân tộc thiểu số Theo khảo sát quốc gia về tình hình kinh
tế xã hội 53 dân tộc thiểu số cho thấy tỷ lệ tảo hôn của 53 dân tộc thiểu số lên tới
Nghiên cứu của nhóm bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy, trong năm
2017 - 2018, tỷ lệ sinh ở tuổi vị thành niên tại bệnh viện ở mức cao với 227 sản phụ, trong đó, có 178 trường hợp đã lập gia đình Số sản phụ 17 - 18 tuổi chiếm 83,5%, 34 sản phụ từ 14 - 16 tuổi
Vấn đề này đang gặp rất nhiều khó khăn về phương hướng giải quyết Bà con vùng đồng bào dân tộc hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm nên mặc dù việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng 2 bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán, họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng
Không chỉ ở miền núi, tại một số vùng kể cả các đô thị lớn, tình trạng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng chưa tới độ tuổi này và Pháp luật về hộ tịch vẫn thừa nhận quyền làm mẹ của người chưa đủ 18 tuổi, vẫn được đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú Điều này ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của cả xã hội cũng như như tính nghiêm mình của pháp luật nhưng đến nay vẫn không có các biện pháp xử lý thật sự hiệu quả
Trang 52 Điều kiện về ý chí tự nguyện của nam và nữ, tức là có sự đồng lòng đến từ hai bên
Tự nguyện kết hôn được hiểu là hai bên nam nữ tự mình thực hiện việc kết hôn, thể hiện ý chí mong muốn trở thành vợ chồng của nhau Hai bên mong muốn trở thành vợ chồng xuất phát từ tình yêu thương, mục đích cuối cùng là để xây dựng một gia đình hạnh phúc
Cưỡng ép kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc trái với ý muốn của họ
Lừa dối để kết hôn là hành vi cố ý của một bên Hoặc của người thứ ba nhằm làm
cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn
Quy định này có sự kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, thể hiện sâu sắc bản chất của nhà nước muốn xây dựng một xã hội công bằng, văn minh, mọi người được tôn trọng tự do quyết định ý chí, cuộc sống của riêng mình Quy định này hoàn toàn phù hợp với nội dung, tinh thần của Hiến pháp 2013 Nó cũng thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới đã và đang được thực thi rất tốt ở Việt Nam, hạn chế một cách tối đa nhất sự bất bình đẳng do hủ tục lạc hậu của một số vùng miền trong kết hôn như kết hôn theo sự sắp đặt của hai gia đình, kết hôn do tập tục bắt vợ, kết hôn
do bị lừa dối, bị cưỡng ép vì nguyên nhân nào đó…
Tuy nhiên điều kiện về sự tự nguyện của nam, nữ lại có một số hạn chế nhất định Trong luật Hôn nhân và gia đình cũng như các văn bản hướng dẫn cũng hướng dẫn
về những trường hợp bị coi là một bên lừa dối nhưng là dưới dạng liệt kê hành vi như: lừa dối là nếu kết hôn sẽ xin việc cho, nếu kết hôn thì bảo lãnh ra nước ngoài, chứ không có những tiêu chí như thế nào là " lừa dối ", không khái quát được hết các trường hợp lừa dối khiến cho việc xác định hành vi lừa dối trong hôn
Trang 6nhân có nhiều vướng mắc.Trên thực tế sự tự nguyện chỉ có thể được xác định thông qua hành vi thể hiện ý chí của người kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc kết hôn Bản thân yếu tố chủ quan bên trong như tình cảm, mong muốn, nguyện vọng của người kết hôn như thế nào thì lại khó có thể biết Bên cạnh đó vấn đề thẩm định sự tự nguyện kết hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều hạn chế, nhất là trong cách tiến hành phỏng vấn Một số cơ quan nhà nước vẫn tiến hành phỏng vấn một cách hời hợt cho qua, chưa làm đúng với tinh thần và tầm quan trọng của thủ tục phỏng vấn, cán bộ biết tiếng nước ngoài cũng không nhiều nên nhiều khi cán bộ phỏng vấn không hiểu được các đương sự nói gì
3 Điều kiện về năng lực của người muốn kết hôn
Đó là người kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự Bởi vì
người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không có khả năng nhận thức, bày tỏ ý chí kết hôn do vậy họ cũng không thể tự mình kết hôn Ngoài ra, việc người mất năng lực hành vi dân sự mà kết hôn sẽ có ảnh hưởng giống nòi không đảm bảo được trách nhiệm là chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ Đây là quy định có sự tiến bộ của các nhà làm luật, nhưng lại rất khó để đi vào thực hiện thực tế
Bởi lẽ việc xác định thế nào là không bị mất năng lực hành vi dân sự đòi hỏi một quy trình và tuân theo thủ tục rất chặt chẽ, và cuối cùng là phải thông qua một quyết định của Tòa án Người mất năng lực dân sự được hiểu là người bị mắc căn bệnh làm mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó bị mất năng lực hành vi dân sự Tuy vậy, có rất ít người là ông,
bà, cha, mẹ, anh, chị,em yêu cầu tòa án tuyên bố người thân của mình bị mất năng lực hành vi dân sự nên vẫn có nhiều trường hợp người mất năng lực hành vi dân sự được đăng kí kết hôn như người bình thường Nhiều cơ quan đăng kí kết hôn còn lúng túng trong việc xác minh người này có thuộc diện cấm kết hôn không Thực tiễn giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình liên quan vấn đề này đã phát sinh vấn đề: Có nhiều trường hợp vì một số lý do mà kết hôn với người thực tế không
Trang 7thể nhận thức, không làm chủ được hành vi của mình nhưng chưa bị Toà án tuyên
bố mất năng lực hành vi dân sự, khi nhận ra hoặc không thể chung sống với người này được nữa, người vợ, chồng có nhu cầu muốn ly hôn được hướng dẫn yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định Tòa án thụ lý yêu cầu giải quyết hủy hôn nhân trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền (cụ thể là Hội liên hiệp phụ nữ,…) thì gặp phải ý kiến phản đối của phía gia đình người vợ/chồng và Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng
ký kết hôn Ủy ban nhân dân nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho rằng:
Họ đã tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật vì người vợ/chồng chưa bị Toà án tuyên bố là mất năng lực hành vi dân sự Do đó người vợ/chồng tuy không thể nhận thức, không làm chủ hành vi nhưng chưa có quyết định của Tòa án tuyên người đó mất năng lực hành vi dân sự thì vẫn coi là người bình thường Một số trường hợp kết hôn và đã gây hậu quả xấu cho xã hội
4 Điều kiện về các trường hợp cấm kết hôn, theo quy định của pháp luật thì các trường hợp cấm kết hôn là:
4.1 Cấm kết hôn giả tạo
Kết hôn giả tạo là việc hai người đăng kí kết hôn nhưng không nhằm mục đích chung sống, xây dựng một gia đình hạnh phúc, không xuất phát từ tình cảm yêu thương của hai bên mà nhằm đạt được mục đích nào đó từ việc kết hôn Đó có thể
là việc kết hôn nhằm chiếm đoạt tài sản, kết hôn với người nước ngoài để nhập quốc tịch…
Tuy nhiên trong thực tế, quy định này rất khó để xác định và thực thi một cách nghiêm túc khi cấp giấy đăng kí kết hôn Bởi việc cấp giấy đăng kí kết hôn thông qua một quy trình đơn giản tại xã, phường, những người làm công tác cấp giấy nếu chỉ qua vài thao tác đơn giản rất khó để xác minh mục đích kết hôn là giả tạo hay
Trang 8thực sự Chưa kể có trường hợp cả 2 bên tự nguyện kết hôn giả tạo nhằm che đậy cho mục đích của mình
4.2 Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn
Tảo hôn là hai nam nữ kết hôn trước tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật tức
là lấy vợ trước khi đủ 20 tuổi, lấy chồng trước khi đủ 18 tuổi Việc cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn đều vi phạm quy định về sự tự nguyện của các bên trong hôn nhân Đây là quy định nhằm tăng cường, đảm bảo cho nguyên tắc đảm bảo về độ tuổi kết hôn được thực hiện nghiêm chỉnh và nguyên tắc tự nguyện kết hôn được tuân thủ triệt để
Nhìn chung, những quy định rất tiến bộ, tác động nhiều và tạo ra được thay đổi và nhận thức đáng kể trong quan niệm về kết hôn tại những vùng đô thị, vùng đồng bằng, nơi có trình độ dân trí cao Mặc dù vậy, nhưng những quy định này dường như chưa thể làm thay đổi nhận thức và hành vi về kết hôn tại một số vùng miền núi những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí còn thấp, hiểu biết pháp luật chưa cao, một số hủ tục: tảo hôn, hôn nhân đính ước từ trước, hay quan niệm cha
mẹ đặt đâu, con ngồi đấy vẫn còn ăn sâu, bám rễ vào nhận thức của người dân hàng trăm năm nay
4.3 Cấm kết hôn với những người đang có vợ hoặc có chồng
Quy định cấm này nhằm bảo đảm chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã được thừa nhận trở thành quan điểm xuyên suốt của pháp luật hôn nhân và gia đình trong các thời kì Tuy nhiên sau 4 năm Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, một
số vấn đề đã nảy sinh khi thực hiện quy định này Đó là việc xác định thế nào là người đang có vợ, có chồng Trên thực tế việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên không phải lúc nào cũng đơn giản Rất khó xác định họ chung sống với nhau
từ thời điểm nào, thế nào là chung sống với như vợ chồng, đặc biệt đối với những cặp không sống chung thường xuyên tại một địa phương Vì vậy dẫn đến tình trạng
Trang 9người đang có vợ hoặc có chồng vẫn được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận yêu cầu đăng kí kết hôn
4.4 Cấm kết hôn với những người có quan hệ trực hệ 3 đời, với những người
đã từng có quan hệ thân thích
Việc quy định cấm những người có quan hệ như điểm d khoản 2 điều 5 của Luật này kế thừa và bảo vệ thuần phong mỹ tục của văn hóa Việt Nam, đồng thời bảo vệ giống nòi của người Việt Nhìn chung đây là quy định được đại bộ phận xã hội đồng lòng và thực hiện rất nghiêm túc
Nhưng tại một số địa phương nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nhất là khu vực có tập quán kết hôn cận huyết thì quy định này dường như chưa được người dân quan tâm và thực hiện nghiêm túc Ví dụ như đồng bào dân tộc Xinh Mun trên địa bàn huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La còn có hôn nhân cận huyết nhiều Theo thống
kê của Hội đồng Dân tộc thì tại đây có đến hơn 80% cặp vợ chồng có quan hệ hôn nhân cận huyết từ 3 đời trở lại Điều này không chỉ vi phạm quy định của pháp luật
về hôn nhân gia đình mà còn đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của dân tộc này
5 Điều kiện về giới tính ( hai người kết hôn phải không cùng giới tính, tức là phải một nam và một nữ)
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia đã công nhận kết hôn đồng giới Tuy nhiên ở
Việt Nam pháp luật mặc dù đã xóa bỏ điều cấm kết hôn đồng giới nhưng Nhà nước
ta vẫn không thừa nhận với vẫn đề này Việc không thừa nhận kết hôn giữa những người cùng giới tính này nhằm bảo vệ các giá trị văn hóa về gia đình trong xã hội Việt Nam, đồng thời ngăn chặn một số hiện tượng biến tướng từ việc công nhận hôn nhân đồng giới Như vậy, đây là đối tượng gần như được để ngỏ trong quy định của luật, chưa được đưa vào để điều chỉnh Luật chưa thừa nhận nhưng cũng
Trang 10vẫn có nhiều trường hợp những người đồng giới tự đến với nhau, sinh hoạt như vợ chồng Quy định không công nhận như trên dường như chỉ tồn tại về mặt thủ tục
Có thể thấy, dù hiện nay pháp luật chưa thừa nhận kết hôn đồng giới nhưng sự thay đổi nêu trên vẫn được coi là tín hiệu vui đối với những cặp đôi có cùng giới tính, là kết quả của một quá trình vận động và thảo luận trong suốt một thời gian dài Các cặp đôi đồng tính tại Việt Nam đều kỳ vọng rằng, việc Việt Nam cho phép kết hôn đồng giới như 25 quốc gia khác trên thế giới sẽ không còn xa Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Việt Nam hiện có khoảng 2,5 triệu người đồng tính và hầu hết trong số họ đều khao khát được kết hôn với những người có cùng giới tính để đồng cảm, chia sẻ, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, cùng xây dựng hạnh phúc gia đình
Tuy nhiên, để thừa nhận kết hôn đồng giới vẫn là một vấn đề khó với các nhà làm luật Bởi lẽ, nếu thừa nhận có thể sẽ gây ra những hệ lụy tiêu cực với xã hội, không phù hợp với thuần phong mỹ tục và nền văn hóa Á Đông Dưới góc độ pháp lý, thừa nhận hôn nhân đồng giới thì sẽ phải sửa đổi, bổ sung tất cả các quy định liên quan trong hệ thống pháp luật, như xác định quan hệ vợ chồng, quan hệ tài sản, xác định cha, mẹ con…
II Giải pháp để nâng cao công tác quản lý, hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn
Một là, Nâng cao công tác tuyên truyền, coi đây là công tác hàng đầu để người
dân hiểu, thực hiện đúng theo quy định về điều kiện kết hôn Bên cạnh đó cũng cần
có những biện pháp thích hợp để thực thực thi hiệu quả của việc thẩm định sự tự nguyện kết hôn và nâng cao trình độ của các cán bộ trong các cơ quan nhà nước như tình trạng người thuộc trường hợp cấm kết hôn vẫn kết hôn
Hai là, Đánh giá thay đổi một số quy định cho phù hợp với thực tế, chẳng hạn như: khoản 3 điều 8 luật Hôn nhân và gia đình theo hướng giống như điểm b điều 7