đầu chương V trường ca “Mặt đường khát vọng”.. Cụm từ: Đất Nước bắt đầu, ..có trong…lớn lên thể hiện sự hình thành, phát triển Đất Nước gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống, quá [r]
Trang 1Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 1
Trang 2Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 2
PHẦN I CẤU TRÚC ĐỀ THI THPT QUỐC GIA
Cấu trúc đề thi THPT Quốc gia gồm có hai phần
Phần 1: Đọc hiểu (3.0 điểm) Đề thường có 4 câu hỏi đọc hiểu (Nội dung liên quan đến văn bản thông tin và văn bản nghệ thuật)
Phần 2: Làm văn (7.0 điểm) gồm nghị luận xã hội và nghị luận văn học đánh giá
ở mức độ vận dụng cao
+ Nghị luận xã hội (2.0 điểm): Đề văn yêu cầu thí sinh bàn bạc, nêu ý kiến của mình
về một tư tưởng, đạo lí, một vấn đề chính trị - xã hội hoặc một hiện tượng đời sống được gợi ra từ ngữ liệu đọc hiểu hoặc một yêu cầu độc lập Bài viết được trình bày dưới hình thức một đoạn văn 200 chữ
+ Nghị luận văn học (5.0 điểm): Câu hỏi nghị luận văn học rất đa dạng về nội dung
và cách hỏi Đề văn có thể yêu cầu các em phân tích, cảm nhận về một tác phẩm văn học hoặc một đoạn trích; phân tích vấn đề nội dung hoặc nghệ thuật của tác phẩm; bình luận về một ý kiến bàn về văn học hoặc so sánh văn học
I ĐỌC HIỂU (3.0 Điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Thế giới của chúng ta có muôn vàn điều thú vị để khám phá Cho dù bạn đang
ở độ tuổi nào, bạn cũng nên phá vỡ các giới hạn của nhận thức và luyện cho mình kĩ năng quan sát bằng cách ra khỏi nhà, ra ngoài thiên nhiên và chú ý tới mọi điều xung quanh Hãy đặt cho bản thân những câu hỏi như: “Tại sao ? Tại sao không ?” và thử tự tìm các câu trả lời hay sự trợ giúp của những người quen biết Đừng bao giờ tự cao tự đại nói rằng: “Tôi đã biết hết rồi, anh/chị sẽ không chỉ cho tôi được điều gì mới đâu!” Vì chỉ khi chúng ta nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học, chúng
ta mới có thể bổ sung được nhiều kiến thức mới
Hãy nghe nhạc cổ điển, đến thăm các viện bảo tàng và các phòng trưng bày nghệ thuật, hãy đọc sách về nhiều chủ đề khác nhau, hãy có những sở thích như khiêu
vũ, chơi đàn, hội họa hay tập luyện một bộ môn thể thao Dù bạn chọn cho mình bộ môn nào đi nữa, bạn cũng nên theo học đến cùng và tìm hiểu không ngừng nghỉ cho đến khi đạt được kiến thức sâu sắc về lĩnh vực đó mới thôi Đừng chỉ “chạm đến một lần rồi bỏ xó” Hãy quyết tâm rèn luyện và củng cố trí tò mò để nó trở thành một phần trong cá tính của bạn Biết đâu, trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm
ra được niềm đam mê cho bản thân Có khát vọng khám phá và tìm tòi là một trong những động lực giúp bạn tiếp cận với thế giới và vươn ra biển lớn
(Trích Tìm kiếm niềm đam mê, theo Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới, Nhà
xuất bản Thế giới, 2017, tr17-18)
Câu 1 Ở mỗi đoạn văn trên đây, tác giả đã sử dụng cách trình bày nào trong các cách sau: diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành?
Trang 3Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 3
Câu 2 Theo tác giả, chúng ta sẽ có được lợi ích gì khi “nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học”?
Câu 3 Tại sao tác giả cho rằng “Biết đâu, trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm ra được niềm đam mê cho bản thân”?
Câu 4 Theo anh/chị, cần làm thế nào để niềm đam mê khám phá những điều kì
diệu “trở thành một phần trong cá tính”?
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ nội dung phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết 01 đoạn văn
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc tìm ra niềm đam mê thực sự của chính mình trong cuộc sống
Câu 2 (5.0 điểm)
Về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, có ý kiến cho rằng:
“Tràng là gã trai quê nông nổi, liều lĩnh” Lại có ý kiến nhấn mạnh: “Đó là một con người đầy khao khát tốt bụng”
Bằng cảm nhận của mình về nhân vật Tràng, anh/ chị hãy bình luận ý kiến trên
Đề 2
I ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Leo lên đỉnh núi không phải để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức, tận hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các
em Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm chìm trong Paris chứ không phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các địa điểm các em đã đi qua và tự hào mình là con người từng trải Tập luyện những suy nghĩ độc lập, sáng tạo và táo bạo không phải để mang lại sự thỏa mãn cho bản thân mà là để đem lại lợi ích cho 6,8 tỷ người trên trái đất của chúng ta Rồi các em sẽ phát hiện ra sự thật vĩ đại và thú vị mà những kinh nghiệm trong cuộc sống mang lại, đó là lòng vị tha mới chính là điều tốt đẹp nhất
mà các em có thể làm cho bản thân mình Niềm vui lớn nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳng có gì đặc biệt cả
Bởi tất cả mọi người đều như thế
(Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường trung học Wellesley của thầy Hiệu trưởng David McCullough – Theo http://ehapu.edu.vn, ngày 5/6/2012)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên
Câu 2 Anh/Chị hiểu thế nào về câu nói sau: “Leo lên đỉnh núi không phải để cắm cờ mà là để vượt qua thách thức, tận hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung quanh.”?
Câu 3 Theo anh/chị, vì sao tác giả cho rằng: “Niềm vui lớn nhất trong cuộc đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳng có gì đặc biệt cả.”?
Câu 4 Thông điệp nào của đoạn trích trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
Trang 4Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 4
I LÀM VĂN
Câu 1 (2.0 điểm)
Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến
được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.”
Đọc đoạn trích dưới đây va thực hiện các yêu cầu:
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời Dẫu phải khi cay đắng dập vùi Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu Cây khế chua có đại bàng đến đậu Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!…
Ta lớn lên khao khát những chân trời Những mảnh đất chân mình chưa bén được Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh (Trích Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Văn nghệ giải phóng,
Câu 1 (2.0 điểm) Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ
của anh/chị về sức mạnh niềm tin trong cuộc sống được gợi ra từ đoạn trích ở phần
Đọc hiểu
Câu 2 (5.0 điểm)
“Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người” (Lê Uyển Văn- Báo điện tử Thể thao và Văn hóa ngày 27/8/2008)
Anh / chị hãy phân tích đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? Của Hoàng
Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn 12 tập 1) để làm sáng tỏ ý kiến trên
Trang 5Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 5
Đề thi chính thức môn Ngữ Văn THPT QG năm 2016 – 2017
I ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm Thấu cảm là khả năng nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đặt mình vào cuộc đời của họ Giống như cái lạnh thấu tủy hay cái đau thấu xương, thấu cảm là sự hiểu biết thấu đáo, trọn vẹn một ai đó, khiến ta hiểu được những suy nghĩ của họ, cảm được những cảm xúc của họ, và tất cả xảy ra mà không có sự phán xét Khả năng đọc được tâm trí và tâm hồn của người khác là một khả năng phát triển ở những người mẫn cảm Thấu cảm khiến ta hồi hộp khi quan sát một người đang đi trên dây ở trên cao, làm chúng ta cùng vui buồn với một nhân vật trong truyện
Thấu cảm xảy ra trong từng khoảnh khắc của cuộc sống Một đứa trẻ ba tuổi chìa con gấu bông của mình cho em bé sơ sinh đang khóc để dỗ nó Một cô gái nhăn mặt khi theo dõi bạn mình trên giường bệnh chật vật uống một viên thuốc đắng Mùa EURO 2016 kết thúc với một hình ảnh đẹp: một cậu bé Bồ Đào Nha tiến tới an ủi một fan người Pháp cao to gấp rưỡi mình, đang ôm mặt khóc vì đội Pháp thua trận chung kết Anh người Pháp cúi xuống ôm cậu bé mà người vẫn rung lên nức nở Cậu đợi cho tới khi anh đi khuất hẳn rồi mới tiếp tục phất cờ mừng chiến thắng
(Trích Thiện, Ác và Smartphone – Đặng Hoàng Giang,
NXB Hội nhà văn, 2017, tr.275) Câu 1 Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích
Câu 2 Theo tác giả, thấu cảm là gì?
Câu 3 Nhận xét về hành vi của đứa trẻ ba tuổi, cô gái có bạn bị ốm, cậu bé Bồ Đào Nha được nhắc đến trong đoạn trích
Câu 4 Anh/ Chị có đồng tình với ý kiến: Lòng trắc ẩn có nguồn gốc từ sự thấu cảm?
Vì sao?
II LÀM VĂN (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng
200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự thấu cảm trong cuộc sống
Câu 2 (5.0 điểm)
Đất là nơi anh đến trường Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng Không gian mệnh mông Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Trang 6Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 6
Những ai đã khuất Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái Gánh vác phần người đi trước để lại Dặn dò con cháu chuyện mai sau Hàng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ (Trích Đất nước, trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm,
Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.118-119) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên Từ đó, bình luận quan niệm về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm
Trang 7Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 7
PHẦN II NỘI DUNG ÔN TẬP THEO CHỦ ĐỀ Chủ đề 1 ĐỌC HIỂU VÀ KĨ NĂNG LÀM VĂN
A ÔN TẬP KIẾN THỨC ĐỂ LÀM BÀI ĐỌC HIỂU
1 MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ TIẾNG VIỆT
- Nói quá (phóng đại, khoa trương, thậm xưng, ngoa dụ)
- Nói giảm, nói tránh
+ Câu trần thuật (hay còn gọi là câu kể)
+ Câu nghi vấn (hay còn gọi là câu hỏi)
+ Câu cầu khiến
+ Câu cảm thán
III CÁC PHÉP LIÊN KẾT CÂU
Trang 8Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 8
IV CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ
1 Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt
2 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
3 Phong cách ngôn ngữ báo chí
4 Phong cách ngôn ngữ chính luận
1 VIẾT ĐOẠN VĂN NGẮN
Những điều cần lưu ý khi viết một đoạn văn ngắn có dung lượng xác định
có thể vận dụng linh hoạt cách triển khai vấn đề theo gợi ý sau:
+ Nghị luận về tư tưởng, đạo lí:
Trang 9Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 9
- Kết quả/ hậu quả
- Giải pháp phát huy/ khắc phục
- Bài học nhận thức, hành động của bản thân
2 NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
2.1 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
- Mục đích: tìm hiểu, phân tích từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, nhịp điệu, cấu tứ, qua đó thấy được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ đó
- Đối tượng: rất đa dạng: một bài thơ, một đoạn thơ, hình tượng thơ
- Cách làm bài
a Mở bài: giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ
b Thân bài: bàn về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ
c Kết bài: đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ
2.2 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC
- Đối tượng: đối tượng của một bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học rất đa dạng (về văn học sử, về lí luận văn học, về tác phẩm văn học…)
- Nội dung: thường tập trung vào giải thích, nêu ý nghĩa và tác dụng của ý kiến đó đối với văn học và đời sống
- Cách làm bài
a Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận (trích dẫn ý kiến)
b Thân bài
- Giải thích ý kiến: các khía cạnh, vấn đề được nêu trong đề bài
- Phân tích, chứng minh, bình luận
+ Phân tích các khía cạnh của vấn đề được nêu trong đề bài
+ Bình luận
Ý nghĩa (đối với văn học và đời sống)
Tác dụng (đối với văn học và đời sống)
c Kết bài
- Thái độ, ý kiến của người viết về vấn đề
- Liên hệ rút ra bài học
2.3 NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
- Đối tượng: bao gồm những tác phẩm, đoạn trích văn xuôi đã học
- Nội dung: đa dạng
+ Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm nói chung
+ Một phương diện, một khía cạnh nội dung hay nghệ thuật…
- Cách làm bài
+ Giới thiệu tác phẩm hoặc đoạn trích văn xuôi cần nghị luận
+ Phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật theo định hướng của đề hoặc một số khía cạnh đặc sắc nhất của tác phẩm, đoạn trích
+ Nêu đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích
Trang 10Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 10
Chủ đề 2:
THƠ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XVIII- HẾT THẾ KỈ XIX
A KHÁI QUÁT
- Chế độ phong kiến suy thoái, thực dân pháp xâm lược đất nước
- Thơ ca hướng về quyền sống con người, đặc biệt là người phụ nữ; một số bài thơ bộc lộ tâm sự yêu nước và nỗi đau thời thế
B NỘI DUNG
1 TỰ TÌNH – HỒ XUÂN HƯƠNG
1.1 Tác giả, tác phẩm
- Tác giả
+ Hồ Xuân Hương là thiên tài kì nữ nhưng cuộc đời gặp nhiều bất hạnh
+ Thơ Hô Xuân Hương là thơ của phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm chất dân gian từ đề tài, cảm hứng ngôn từ và hình tượng
- Sáng tác cả chữ Hán và chữ Nôm những thành công ở chữ Nôm → được mệnh
danh là “bà chúa thơ Nôm”
- Tác phẩm: Bài thơ “Tự tình” nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân Hương
1.2 Đặc sắc nộ dung, nghệ thuật
1.2.1 Hai câu đề:
- Khung cảnh nhân vật trữ tình xuất hiện:
+Thời gian: “đêm khuya”, khoảng thời gian tâm tư con người sâu lắng nhất Trong cô đơn, đối diện với chính mình, nhân vật trữ tình cảm nhận được đầy đủ nhất, sâu sắc nhất, thấm thía nhất, cảnh cô đơn, nỗi bất hạnh của chính bản thân mình
+Không gian: mênh mông, vắng lặng càng làm tăng thêm nỗi cô đơn, trống vắng của nhân vật trữ tình
.- Cảm nhận của nhân vật trữ tình: nghe thấy tiếng trống cầm canh từ xa vọng lại văng vẳng nhưng lại dồn dập, liên hồi “Trống canh dồn” không chỉ báo hiệu bước đi dồn dập, vội vã, gấp gáp của thời gian mà còn thể hiện tâm trạng rối bời, buồn bã của nhân vật trữ tình, một con người luôn khao khát tình yêu, hạnh phúc mà phải chịu cảnh sống cô đơn Thời gian vật lí đã hòa cùng thời gian tâm lí
- Nỗi đau đớn, xót xa, cay đắng, bẽ bàng của nhà thơ trước tình cảnh và duyên phận của mình
+ Câu thơ có lẽ là độc đáo vào bậc nhất của thơ xưa khi viết về người phụ nữ sử dụng thơ Đường
+ Nói về nhan sắc của mình mà dùng hai từ “hồng nhan”, có lẽ nhân vật trữ tình
đã tự ý thức được mình là một người phụ nữ có tài năng, nhan sắc Nhưng ý thức được không phải để sung sướng, tự hào mà trái lại, càng thêm ngậm ngùi cay đắng Nhờ sự cách kết hợp từ độc đáo của Xuân Hương, ta thấy được nhan sắc con người thật mỉa mai, rẻ rúng biết bao Thật là mỉa mai khi từ “hồng nhan”, từ dùng để chỉ nhan sắc của người phụ nữ lại được kết hợp với từ “cái”, từ dùng chỉ đồ vật tầm thường Cụm từ
“cái hồng nhan” gợi cho ta một nỗi đau khi người phụ nữ cùng với nhan sắc của mình
đã bị “đồ vật hoá”, coi thường, bị người ta khinh thường, vứt bỏ Nhưng đâu chỉ có thế, khi hạ bút đặt một chữ “trơ” trước “cái hồng nhan”, nữ sĩ còn nhân lên gấp bội nỗi đau đớn, tủi nhục ấy Bởi “trơ” là lẻ loi, trơ trọi, mà “trơ” cũng là phơi ra, bày ra Phơi
Trang 11Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 11
ra, bày ra “cái hồng nhan”, thật là bẽ bàng, tủi hổ Câu thơ sử dụng nghệ thuật: đảo ngữ, đặt từ “trơ” lên đầu câu, kết hợp với cách ngắt nhịp độc đáo 1/3/3 hiếm thấy trong thơ Đường, càng khiến nỗi đau thêm thấm thía, bi kịch thêm cay đắng, xót xa Phải đau, phải tủi hổ, bẽ bàng đến thế nào mới viết nên được một câu thơ như vậy Bốn chữ
“Trơ cái hồng nhan” đã nén chặt nỗi đau ghê gớm của người phụ nữ về duyên phận, làm nên cái nét riêng dường như chỉ có ở Xuân Hương
.-Nhưng câu thơ không chỉ cho ta thấy nỗi đau mà còn cho ta thấy bản lĩnh Xuân Hương Dù duyên phận éo le, dù tâm trạng có tủi hổ, bẽ bàng nhưng Xuân Hương vẫn vững vàng, thách thức với nó Bởi “trơ” không chỉ là tủi hổ, bẽ bàng mà còn là thách thức “Trơ nước non” là trơ ra, thách thức với cả nước non, với một không gian rộng lớn Chữ “trơ” trong trường hợp này đồng nghĩa với chữ “trơ” trong bài thơ “Thăng Long thành hoài cổ” của Bà Huyện Thanh Quan
- Cụm từ “Say lại tỉnh”: một lần nữa cho ta thấy tài năng sử dụng và kết hợp từ ngữ của Bà chúa thơ Nôm (“lại”: quay lại, lặp ,lại) → cum từ được cấu tạo theo lối khép kín, gợi lên cái vòng luẩn quẩn, trở đi trở lại, bế tắc trong tâm trạng và số phận
XH Nữ sĩ tìm đến hương rượu mong muốn được say để quên đi hiện thực nhưng càng say lại càng tỉnh, càng cảm nhận nỗi đau thân phận rõ ràng hơn
- Xuân Hương tìm tới trăng nhưng trăng cũng không giúp đem lại niềm vui cho
nữ sĩ Thậm chí, còn khiến nhà thơ thêm buồn khi soi chiếu vào cuộc đời mình.→ Câu thơ là ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh Trăng và người đồng nhất Đối diện với đêm khuya, với vầng trăng lạnh, nữ sĩ như chìm ngập trong cô đơn của nỗi đau duyên phận Hai câu thơ đa nói rõ hơn thực cảnh và cũng là thực tình của Xuân Hương
1.2.3 Hai câu luận
Ngoại cảnh hòa cùng tâm cảnh Hình ảnh thiên nhiên cũng chính là hình ảnh con người
- Thiên nhiên:
+ Rêu là sinh vật nhở bé, hèn mọn, yếu mềm và chỉ có từng đám nhỏ nhưng cũng không chịu mềm yếu mà nó phải mọc xiên, lại còn “xiên ngang mặt đất”
+ Đá chỉ có mấy hòn nhưng không cam chịu sự nhỏ bé mà phải vùng lên vén trời
“đâm toạc chân mây” để hờ, để oán
→ Thiên nhiên: sức sống mạnh mẽ, không cam chịu số phận mà phẫn uất vùng lên phản kháng Sự phẫn uất, phản kháng đó của đá, của rêu cũng chính là sự phẫn uất, phản kháng trong tâm trạng con người Nếu như đá kia, rêu kia không cam chịu thân phận hèn kém, yếu mềm, vươn lên vạch đất, vạch trời mà oán thì nữ sĩ cũng đâu cam chịu một duyên phận ngán ngẩm trớ trêu, nữ sĩ cũng mạnh mẽ vươn lên phản kháng lại
số phận để tìm cho mình hạnh phúc.- Nghệ thuật: + Sử dụng động từ mạnh “xiên”,
“đâm” kết hợp với bổ ngữ “ngang”, “toạc” thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh
Trang 12Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 12
.+ Đảo ngữ + Đối → Nhấn mạnh hình ảnh thiên nhiên và tâm trạng con người.- Thể hiện phong cách và tạo nên nét đặc sắc trong thơ Xuân Hương
+ Hai câu thơ cho ta thấy đặc điểm cá tính con người Xuân Hương: bản lĩnh, mạnh mẽ, không chấp nhận số phận, hoàn cảnh
+ Từ ngữ được sử dụng trong hai câu thơ thể hiện rõ nét những nét riêng trong phong cách nghệ thuật của bà chúa thơ Nôm “Xiên ngang”, “đâm toạc” là cách dùng
từ “rất Xuân Hương” Nữ sĩ đặc biệt thành công trong việc sử dụng các từ làm phụ ngữ
“mỏi mắt dòm”, “rơi lõm bõm”, “chín mõ mòm”, “khua lắc cắc”, “vỗ long bong”, những phụ ngữ này góp phần làm cảnh vật trong thơ Xuân Hương bao giờ cũng sinh động và căng tràn sức sống, một sức sống mãnh liệt ngay cả trong những tình huống bi thảm nhất
1.2.4 Hai câu kết
Như vậy, hai câu luận đã thể hiện sâu sắc bản lĩnh, cá tính của Xuân Hương Nhưng dù có gắng gượng vươn lên thì cuối cùng vẫn là rơi vào bi kịch Bài thơ khép lại bằng một lời than cho duyên phận của mình của nhân vật trữ tình trong tâm trạng chán trường, buồn tủi
- Câu thơ bộc lộ rõ tâm trạng chán chường, ngán ngẩm của Xuân Hương khi ý thức rõ sự trôi chảy của thời gian, đời người với bao xót xa, nuối tiếc Trong câu thơ Xuân Hương đã sử dụng hai từ “xuân” và hai từ “lại” với các tầng ý nghĩa khác nhau ( ) góp phần quan trọng trong việc thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình
- Xuân Hương ngán lắm rồi “Xuân đi, xuân lại lại”, ngán lắm rồi sự trở lại của mùa xuân, bởi sự trở lại của mùa xuân đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân Với nhịp điệu đều đều, dàn trải câu thơ là một tiếng thở dài ngao ngán, một nỗi chua chát khôn nguôi Hình ảnh “Xuân đi, xuân lại lại” gợi cho người đọc về sự ra đi của biết bao mùa xuân, tuổi trẻ tàn phai thế mà tình yêu vẫn không đến
- Người phụ nữ ấy khao khát tình yêu, náo nức đón chờ tình yêu là thế mà cuối cùng cái nhận được thật là ít ỏi, chẳng đáng là bao Chỉ là một mảnh tình (vốn đã nhỏ bé) → (bị) san sẻ → (trở thành) tí con con (có mà như không) Thủ pháp nghệ thuật tăng tiến được sử dụng trong câu thơ có tác dụng nhấn mạnh sự nhỏ bé dần, làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn, hoàn cảnh càng xót xa hơn Câu thơ là tiếng thở dài buông xuôi trước dòng đời của nữ sĩ Hai câu thơ được viết ra từ tâm trạng của một con người khi đã mang thân đi làm lẽ nhưng tầm khái quát lại lớn hơn một hoàn cảnh lấy chồng chung Nó là nỗi lòng của người phụ nữ xưa khi hạnh phúc với họ là một chiếc chăn quá hẹp Họ càng khao khát hạnh phúc thì càng thất vọng, ước mơ càng lớn thì thực tại càng mỏng manh
1.3 Tổng kết
- Thơ Đường luật nhưng mang đậm nét dân tộc, dân gian.; từ ngữ giản dị mà đa nghĩa, giàu sức gợi; các biện pháp đảo ngữ, đối, được sử dụng thành công → in đậm
cá tính mà mang phong cách riêng độc đáo của tác giả
- Bài thơ mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc khi khẳng định quyết tâm vượt lên trên số phận và khao khát tha thiết, mãnh liệt của người phụ nữ được sống trong hạnh phúc, tình yêu dù rơi vào hoàn cảnh bi kịch nhất
Trang 13Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 13
+ Quê làng Vị Xuyên - Mĩ Lộc - Nam Định
+ Tú Xương sống 37 năm chỉ đỗ tú tài nhưng sự nghiệp thơ ca của ông trở thành bất tử
+ Sáng tác của Tú Xương gồm 2 mảng: trữ tình và trào phúng
Kể về công việc làm ăn và gánh nặng mà bà Tú phải đảm đang:
- Quanh năm : Cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này sang năm
khác
- Mom sông : Địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định
- Nuôi đủ 5 con… 1 chồng : Bà Tú nuôi 6 miệng ăn Ông Tú tự coi mình như
một thứ con riêng đặc biệt (Một mình ông = 5 người khác)
=> Lòng biết ơn sâu sắc công lao của bà Tú đối với cha con ông Tú Lòng vị tha cao quí của bà càng thêm sáng tỏ
2.2.2 Hai câu thực
Đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú
- Lặn lội thân cò: Vất vả, đơn chiếc khi kiếm ăn
- Quãng vắng, đò đông: Cảnh kiếm sống chơi vơi, nguy hiểm
- Eo sèo: Chen lấn, xô đẩy, vì miếng cơm manh áo của chồng con mà đành phải
rơi vào cảnh liều lĩnh cau có, giành giật
- Nghệ thuật đảo ngữ: Sự vất vả, sự hi sinh lớn lao của bà Tú đối với gia đình
=> Nói bằng tất cả nỗi chua xót Thấm đẫm tình yêu thương
2.2.3.Hai câu luận
- Một duyên / năm nắng
- Hai nợ / mười mưa
- Âu đành phận / dám quản công
=> Câu thơ như một tiếng thở dài cam chịu Cách sử dụng phép đối, thành ngữ,
từ ngữ dân gian, bộc lộ kiếp nặng nề nhưng rất mực hi sinh của bà Tú
- Dùng số từ tăng tiến: 1-2-5-10: Đức hi sinh thầm lặng cao quí Bà Tú hiện thân của một cuộc đời vất vả, lận đận Ở bà hội tụ tất cả đức tính tần tảo đảm đang, nhẫn nại Tất cả hi sinh cho chồng con
=> Ông Tú hiểu được điều đó có nghĩa là vô cùng thương bà Tú Nhân cách của Tú Xương càng thêm sáng tỏ
- Từ tấm lòng Thương vợ đến thái độ đối với xã hội
=> Nhân cách của Tú Xương ân tình, nhân ái, chân thật
2.3 Tổng kết
Trang 14Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 14
- Vận dụng sáng tạo ngôn ngữ và thi liệu văn hóa dân gian; kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và trào phúng
- Chân dung người vợ trong cảm xúc yêu thương cùng tiếng cười tự trào và một cách nhìn về thân phận người phụ nữ của Tú Xương
3 CÂU CÁ MÙA THU – NGUYỄN KHUYẾN
3.1 Tác giả, tác phẩm
- Tác giả
Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là người thông minh, cần cù, chăm chỉ,
có nghị lực nên đạt được được những vinh quang trên con đường học tập, khoa cử Xuất thân trong một gia đình nhà nho có truyền thống khoa bảng nhưng nghèo, Nguyễn Khuyến phải đi dạy học để kiếm sống và để nuôi mẹ
Nguyễn Khuyến là người có cốt cách thanh cao, tính tình đôn hậu Đỗ đạt cao nhưng ông chỉ làm quan hơn mười năm còn phần lớn cuộc đời là sống ờ quê nhà, dạy học trong hoàn cảnh thanh bạch, ông sống chan hoà với gia đình, họ hàng, xóm giềng,
bè bạn Ông gắn bó với người dân quê, với quê hương, làng cảnh một cách chân tình, nhiều khi đến mộc mạc
Sáng tác của Nguyễn Khuyến gồm cả chữ Hán và chữ Nôm, hiện còn khoảng trên 800 bài gồm thơ, văn, câu đối nhưng chủ yếu là thơ Đóng góp nổi bật của tác giả đối với văn học dân tộc là ở mảng thơ viết về làng quê, thơ trào phúng và ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến được mệnh danh là nhà thơ số một về quê hương, làng cảnh
vì ông viết nhiều, viết đúng và viết hay về thiên nhiên, con người và cuộc sống thôn quê
- Tác phẩm
Bài thơ “Câu cá mùa thu” (Thu điếu) nằm trong chùm thơ viết về đề tài mùa thu của Nguyễn Khuyến bên cạnh Thu vịnh, Thu ẩm
3.2 Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
3.2.1 Vẻ đẹp của cảnh thu điển hình cho mùa thu làng cảnh Việt Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Cảnh mùa thu với những chi tiết điển hình, mang nét đẹp của mùa thu vùng đồng bằng Bắc Bộ
Cảnh trong Câu cá mùa thu là “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam” (Xuân Diệu) Không khí mùa thu được gợi lên từ sự dịu nhẹ, thanh sơ của cảnh vật Dịu nhẹ, thanh sơ trong màu sắc : nước trong vèo sóng biếc, trời xanh ngắt Dịu nhẹ thanh sơ trong đường nét, chuyển động : sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng…
Nét riêng của làng quê Bắc Bộ, cái hồn dân dã được gợi lên từ khung ao hẹp, từ cánh bèo, từ ngõ trúc quanh co
- Cảnh đẹp nhưng tĩnh lặng và đượm buồn
Không gian ưong Câu cá mùa thu là một không gian tĩnh lặng, vắng người, vắng tiếng (Ngõ trúc quanh co khách vắng teo) Các chuyển động rất nhẹ, rất khẽ không đủ tạo âm thanh : sóng hoi gợn, mây lơ lửng, lá khẽ đưa Tiếng cá đớp mồi càng làm tăng
sự yên ắng, tình mịch của cảnh vật Cái tình bao trùm được gợi lên từ một cái “động” rất nhỏ của tiếng cá đớp mồi
3.2.2 Vẻ đẹp tâm hồn thi nhân: tâm trạng thời thế, tấm lòng yêu thiên nhiên đất nước
Trang 15Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 15
Bài thơ có nhan đề là Câu cá mùa thu nhưng không chú ý vào việc câu cá mà thực ra là để đón nhận trời thu, cảnh thu vào cõi lòng
+ Dường như nhà thơ rất hờ hững với việc câu cá mà chỉ chú ý tới cánh thu : bâng quơ trước tiếng cá đớp động dưới chân bèo những cảm nhận sâu sắc mọi biến thái tinh tế của cảnh vật
+ Cõi lòng nhà thơ yên tĩnh, vắng lặng đến ghê gớm Tĩnh lặng trong sự cảm nhận độ trong veo của nước, cái hơi gợn tí của sóng, cái độ rơi khe khẽ của lá Đặc biệt sự tĩnh lặng trong tâm hồn thi nhân được gợi lên một cách sâu sắc từ tiếng động (Cá đâu đớp động dưới chân bèo) Cái động rất nhỏ ở ngoại cảnh lại gây ấn tượng đậm đến thế, là bởi tâm cảnh đang trong sự tĩnh lặng tuyệt đối
+ Sự tình lặng của ngoại cảnh và tâm cảnh đem đến sự cảm nhận vẻ một nỗi cô quạnh, uẩn khúc trong tâm hồn nhà thơ Trong bức tranh Câu cá mùa thu xuất hiện nhiều gam màu xanh và’phần nhiều là gam màu lạnh : độ xanh trong của nước, độ xanh biếc của sóng, độ xanh ngắt của trời Cái lạnh của cảnh, của ao thu, trời thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái cảnh từ tâm hồn nhà thơ lan toả ra cảnh vật ?
Tấm lòng yêu thiên nhiên đất nước thể hiện qua sự cảm nhận tinh tế vẻ đẹp của mùa thu đất nước
Ở Câu cá mùa thu, tác giả đã cảm nhận mùa thú bằng nhiều giác quan : thị giác (nước trong veo, tầng mây lơ lủng; trời xanh ngắt :.), thính giác (lá vàng khẽ đưa vèo,
cá đớp động dưới chân bèo), xúc giác (ao thu lạnh lẽo) Phải là người gắn bó sâu sắc
và tha thiết yêu quê hương đất nước» Nguyễn Khuyến mới cảm nhận và thể hiện được những biến thái tinh vi của cảnh sắc mùa thu
3.3 Nghệ thuật tả cảnh và bộc lộ tâm trạng
- Sử dụng bút pháp nghệ thuật cổ điển, vừa có những sáng tạo riêng
+ Bút pháp nghệ thuật quen thuộc của thơ cổ với những hình ảnh ước lệ như thu thiên (Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt), thu thuỷ {Ao thu lạnh lẽo nước trong veo), thu diệp [Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo), ngư ông (tựa gối buông cần lâu chẳng được) Tác giả sử dụng bút pháp nghệ thuật lấy động nói tình rất quen thuộc trong nghệ thuật phương Đông Để gợi cái yên vắng của cảnh vật, cái tĩnh lặng của tâm trạng, nhà thơ sử dụng một nét động ở ngoại cảnh: cá đâu đớp động dưới chân bèo + Sáng tạo của tác giả trong những hình ảnh công thức ước lệ đem đến cho cảnh thu nét vẽ hiện thực hơn, hình ảnh, từ ngữ đậm đà chất dân tộc Cũng là thu thuỷ nhưng đó là chiếc ao làng quen thuộc của vùng chiêm trũng của miền quê Bình Lục Cũng là thu diệp nhưng là chiếc lá thu rơi mang cả nỗi niềm và tâm trạng
- Nghệ thuật sử dụng tiếng Việt
+ Tiếng Việt ưong Câu cá mùa thu giản dị, trong sáng đến kì lạ, nó có khả năng diễn đạt những biểu hiện rất tinh tế của sự vật, những uẩn khúc thầm kín rất khó giãi bày của tâm trạng
+ Nhà thơ sử dụng thành công nhiều từ láy: lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng Những từ láy này góp phần tạo thanh, tạo hình, tạo hồn cho cảnh vật
+ Đặc biệt vần eo – một loại “tử vận” oái oăm, khó làm – được Nguyễn Khuyến
sử dụng một cách rất thần tình Đây không đơn thuần là hình thức choi chữ mà chính
là dùng vần để biểu đạt nội dung Trong văn cảnh bài thơ, vần eo góp phần diễn tả một không gian thu nhỏ, phù họp với tâm ưạng đầy uẩn khúc cá nhân
Trang 16Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 16
và văn hóa phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam
Cảm hứng xuyên suốt của văn học cuối Thế kỷ XIX là cảm hứng yêu nước chống giặc ngoại xâm và mang một âm hưởng bi tráng bởi nó ghi lại một thời khổ nhục nhưng vĩ đại, thất bại nhưng vẫn hiên ngang của dân tộc Việt Nam
B NỘI DUNG
1 Tác giả
- Con người Nguyễn Đình Chiểu là tổng hoà của ba khía cạnh:
+ Một nhà nho, nhà giáo mẫu mực
+ Một thầy thuốc y đức
+ Một nhà thơ, nhà văn yêu nước
- Quan điểm sáng tác: Văn thơ để nói đạo lí và chiến đấu cho sự nghiệp chính nghĩa
b Thể loại
Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú luật Đường trong đó có
cách hiệp vần độc vận (một vần) hoặc liên vận (nhiều vần), cách đặt câu (gồm các kiểu câu: tứ tự, bát tự, song quan, cách cú và gối hạc) và luật bằng trắc
c Bố cục: 4 đoạn:
- Lung khởi ( câu 1-2): Khái quát bối cảnh bão táp của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của người nông dân - nghĩa sĩ
- Thích thực ( từ câu 3 – 15 ): Tái hiện chân thực hình ảnh người nông dân nghĩa
sĩ, từ cuộc đời lao động vất vả, tủi cực đến giây phút vươn mình trở thành dũng sĩ đánh giặc và lập chiến công
- Ai vãn ( câu16 - 28 ): Bày tỏ lòng tiếc thương, sự cảm phục của tác giả và nhân dân đối với người nghĩa sĩ
- Kết ( 2 câu cuối ): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ
Trang 17Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 17
3 Nội dung và nghệ thuật
a Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện:
- Xuất thân: Những người chiến sĩ cần giuộc đều xuất thân từ những người nông
dân chất phát cần cù làm ruộng, “việc cuốc việc cày việc bừa tay đã làm quen”
– Vẻ bề ngoài chỉ là những người nông dân nhưng họ lại có những phẩm chất rất đáng ngợi khen, do hoàn cảnh nghèo đói túng thiếu những người chiến sĩ này phải chăm chỉ làm ăn và có những chiến công vang dội cho dân cho nước
– Họ có một tấm lòng rất đáng quý dam xả thân vì đất nước tuy tay cày tay bừa nhưng khi có chiến tranh họ sẵn sàng cầm súng để chiến đấu, không một kẻ thù nào có thể đánh bại ý chí kiên cường của những người chiến sĩ cần giuộc
– Những biểu hiện của lòng câm thù giặc: bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ông khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ… đây là những biểu hiện của lòng căm thù quân giặc không có một hành đọng nào của kẻ thù mà nhân dân
ta bỏ qua, muốn tới ăn gan, cắn cổ đây là những biểu hiện thẻ hiện lòng căm thù mọt cách sâu sắc
– Công cụ chiến đấu và trang bị cá nhân của những người chiến sĩ rất thô sơ và mộc mạc, đối lập với công cụ chiến đâu của ta thì kẻ thù lại có những đạn to đạn nhỏ tàu đồng, ta thì vũ khí thô sơ, nhưng điều đó không làm cho nhân dân ta nản chí và lùi bước những hành động và những động từ mạnh được tác giả sử dụng đó là đam ngang, đâm chéo…
b Lòng tiếc thương của tác giả và nhân dân đối với liệt sĩ
- Thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ, tiếc thương của tác giả, của nhân dân và của gia đình đối với những người nông dân yêu nước, những nghĩa sĩ, những anh hùng vô danh Nỗi tiếc thương được nảy sinh từ cảnh ngộ éo le, từ cuộc đời chiến đấu của
nghĩa sĩ chưa thỏa chí bình sinh mà cái chết đã phũ phàng ập tới: “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo”
- Thiên nhiên quê hương, con người quê hương khóc thương cho sự hi sinh của
những người nghĩa sĩ và khóc cho cả Tổ quốc đau thương
=> Như vậy, Nguyễn Đình Chiểu đã nhân danh lịch sử mà cất tiếng khóc cho những người nông dân - “Nghĩa sĩ Cần Giuộc” - họ đứng trên triều đại, đã làm nên lịch
sử Họ hy sinh vì non sông vì dân tộc, cái chết cao đẹp của họ đã đi vào vĩnh cửu Cái chết của họ đã nhuộm đau thương, tang tóc trùm lên vạn vật
Ở đây, nói về nghệ thuật, quả thật không phải chỉ là vấn đề bút pháp mà điều cốt lõi nhất là cảm xúc chân thành và sâu nặng của tâm hồn, đó là gốc của nghệ thuật trữ tình
c Ca ngợi linh hồn bất diệt của các liệt sĩ
- Kết thúc bài văn tế, tác giả tập trung ca ngợi linh hồn bất diệt của các liệt
sĩ: “Ôi!
Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ”
- Khí tiết, tiếng thơm của người trung nghĩa sẽ sống mãi trong lòng mến thương, cảm phục của nhân dân qua các thế hệ:
“Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen; thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”
- Ca ngợi công ơn lớn lao của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc theo hướng vĩnh viễn hóa thời gian “nghìn năm, muôn đời”: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”
Trang 18Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 18
- Trách nhiệm của những người đang sống phải đứng lên, viết tiếp trang sử hào hùng chống giặc cứu nước: “Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ”
4.Tổng kết
– Hình tượng xây dựng nhân vật của tác giả, tác giả đã rất thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực, ngôn ngữ của bài văn tế giản dị gần gũi mang đạm chất Nam Bộ, những hình ảnh người chiến sĩ thật sinh động qua những tấm áo rách, những công cụ chiến đấu thô sơ nhưng tinh thần chiến đấu vẫn rất kiên cường
– Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương những vĩ dại cho cả một dân tộc, những hình ảnh về người chiến sĩ cần giuộc sẽ còn mãi trong thơ văn việt nam
Trang 19Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 19
Chủ đề 4
TỔNG QUAN VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XX
A VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM 1945
I Đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945
1 Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hóa
- Khái niệm hiện đại hoá: được hiểu là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi
hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học trên thế giới
- Cơ sở xã hôi:
+ Đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp xâm lược và đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa, làm cho xã hội nước ta có nhiều thay đổi: xuất hiện nhiều đô thị và nhiều tầng lớp mới, nhu cầu thẩm mĩ cũng thay đổi
+ Nền văn học dần thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn học Trung Hoa và dần hội nhật với nền văn học phương tây mà cụ thể là nền văn học nước Pháp
+ Chữ quốc ngữ ra đời thay cho chữ Hán và chữ Nôm
+ Nghề báo in xuất bản ra đời và phát triển khiến cho đời sống văn hóa trở nên sôi nổi
- Quá trình hiện đại hóa diễn ra qua 3 giai đoạn
a Giai đoạn 1: Từ đầu thế kỉ XX đến khoảng năm 1920
- Chữ quốc ngữ được truyền bá rộng rãi, tác động đến việc ra đời của văn xuôi
- Báo chí và phong trào dịch thuật phát triển giúp cho câu văn xuôi và nghệ thuật tiếng Việt trưởng thành và phát triển
- Những thành tựu đạt được là sự xuất hiện của văn xuôi và truyện kí ở miền Nam
- Thành tựu chính của văn học trong giai đoạn này vẫn thuộc về bộ phận văn học yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế…
→ Nhìn chung văn học chưa thoát khỏi hệ thống văn học trung đại
b Giai đoạn 2: Từ 1920 đến 1930
Quá trình hiện đại hóa đạt được nhiều thành tích với sự xuất hiện của các thể loại văn học hiện đại và hiện đại hóa của các thể loại truyền thống: tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách…; truyện ngắn: Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn…; thơ: Tản Đà, Trần Tuấn Khải, ; kí: Phạm Quỳnh, Tương Phổ, Đông Hồ…đều phát triển
c Giai đoạn 3: Từ 1930 đến 1945
Có sự cách tân sâu sắc ở nhiều thể loại, đặc biệt là tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, phóng sự, phê bình ra đời và đạt được nhiều thành tựu
Về thơ có phong trào thơ mới
- Tiểu thuyết có nhóm Tự Lực văn đoàn
- Truyện ngắn có: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao,…
- Phóng sự có Tam Lang, Vũ Trọng Phụng,
- Bút kí, tùy bút: Xuân Diệu, Nguyễn Tuân,…
2 Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển
Trang 20Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 20
a Bộ phận văn học công khai là văn học hợp pháp tồn tại trong vòng luật pháp
của của chính quyền thực dân phong kiến Những tác phẩm này có tính dân tộc và tư tưởng lành mạnh nhưng không có ý thức cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp với chính quyền thực dân Phân hóa thành nhiều xu hướng:
- Xu hướng văn học lãng mạn:
+ Nội dung: Thể hiện cái tôi trữ tình đầy cảm xúc, những khát vọng và ước mơ + Đề tài: Thiên nhiên, tình yêu và tôn giáo
+ Thể loại: Thơ và văn xuôi trữ tình
- Xu hướng văn học hiện thực:
+ Nội dung: Phản ánh hiện thực thông qua những hình tượng điển hình
+ Đề tài: Những vấn đề xã hội
+ Thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự
b Bộ phận văn học không công khai là văn học cách mạng, phải lưu hành bí
mật Đây là bộ phận của văn học cách mạng và nó trở thành dòng chủ của văn học sau này
- Nội dung:
+ Đấu tranh chống thực dân và tay sai
+ Thể hiện nguyện vọng của dân tộc là độc lập tự do
+ Biểu lộ nhiệt tình vì đất nước
3 Văn học phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng
- Văn học phát triển mau lẹ cả về số lượng và chất lượng
- Nguyên nhân:
+ Sức sống văn hoá mãnh liệt mà hạt nhân là lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, biểu hiện rõ nhất là sự trưởng thành và phát triển của tiếng Việt và văn chương Việt + Ngoài ra phải kể đến sự thức tỉnh ý thức cá nhân của tầng lớp trí thức Tây học + Còn một lí do rất thiết thực: sự thúc bách của thời đại (Lúc này văn chương trở thành một thứ hàng hoá và viết văn là một nghề có thể kiếm sống)
II.Thành tựu chủ yếu của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng 8/1945:
1 Về nội dung, tư tưởng
Văn học Việt Nam vẫn tiếp tục phát huy 2 truyền thống lớn của văn học dân tộc: Chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo
=> Nhân tố mới: Phát huy trên tinh thần dân chủ
Lòng yêu nước gắn liền với quê hương đất nước, trân trọng truyền thống văn hóa dân tộc, ca ngợi cảnh đẹp của quê hương đất nước, lòng yêu nước gắn liền với tinh thần quốc tế vô sản Chủ nghĩa nhân đạo gắn với sự thức tỉnh ý thức cá nhân của người cầm bút
2 Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học
- Các thể loại văn xuôi phát triển đặc biệt là tiểu thuyết và truyện ngắn
+ Tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ ra đời đến những năm 30 được đẩy lên một bước mới
Trang 21Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 21
+ Truyện ngắn đạt được thành tựu phong phú và vững chắc
+ Phóng sự ra đời đầu những năm 30 và phát triển mạnh
+ Bút kí, tuỳ bút, kịch, phê bình văn học phát triển
- Thơ ca: Là một trong những thành tựu văn học lớn nhất thời kì này
+ Bảng so sánh:
- Đề tài, cốt truyện: vay mượn
Xoá bỏ những đặc điểm của tiểu thuyết trung đại
- Kể theo trật tự thời gian
- Nhân vật: phân tuyến rạch ròi, thể hiện tâm lí theo hành vi bên ngoài
- Chú trọng cốt truyện li kì
- Tả cảnh, tả người theo lối ước lệ
- Kết cấu tác phẩm: chương hồi
- Kết thúc tác phẩm: Có hậu
- Lời văn biền ngẫu
Mang đầy đủ những đặc điểm thi
pháp văn học trung đại
- Phá bỏ các quy phạm chặt chẽ
- Thoát khỏi hệ thống ước lệ mang tính phi ngã
- Lí luận phê bình
- Ngôn ngữ, cách thể hiện, diễn đạt, trình bày
- Dần thoát li chữ Hán, chữ Nôm, lối diễn đạt công thức, ước lệ, tượng trưng, điển cố, qui phạm nghiêm ngặt của văn học trung đại
=> Kế thừa tinh hoa của truyền thống văn học trước đó
- Mở ra một thời kì văn học mới: Thời kì văn học hiện đại
B VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX
I Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975
1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hoá
Văn học Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ngày càng ác liệt:
- Chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp
- Hai mươi mốt năm kháng chiến chống Mĩ
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc
a Mười năm (1945-1964) cuộc sống con người có nhiều thay đổi
Nền kinh tế nghèo nàn, chậm phát triểnhình ảnh quê hương, đất nước và những con người kháng chiến như bà mẹ, anh vệ quốc quân, chị phụ nữ, em bé liên lạc Tất
cả đều thể hiện chân thực và gợi cảm
b Từ 1954-1965
* Chủ đề
Trang 22Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 22
+ Tập trung thể hiện hình ảnh người lao động, ca ngợi đất nước và con người trong những ngày đầu xd CNXH ở miền Bắc với cảm hứng lãng mạn, tràn đầy niềm vui và tin tưởng vào ngày mai
+ Hướng về miền Nam với nỗi đau chia cắt và ý chí thống nhất đất nước
* Thành tựu
+ Văn xuôi: Những tác phẩm tiêu biểu: Cửa biển (4tập) - Nguyên Hồng, Vỡ bờ (2 tập) - Nguyễn Đình Thi,Sống mãi với thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng - Hữu Mai, Trước giờ nổ súng -Lê Khâm,Mười năm - Tô Hoài, Cái sân gạch, Mùa lúa chiêm - Đào Vũ, Mùa lạc - Nguyên Khải, Sông Đà - Nguyễn Tuân
+ Thơ: Gió lộng -Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa - Chế Lan Viên, Riêng chung - Xuân Diệu, Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài ca cuộc đời -Huy Cận, Tiếng sóng
+ Tế Hanh, Bài thơ Hắc Hải - guyễn Đình Thi, Những cánh buồm - Hoàng Trung
+ Tổ quốc và xã hội chủ nghĩa
- Văn xuôi:
+ Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình - Nguyễn Đình Thi, Rừng
xà nu - Nguyễn Trung Thành(Nguyên Ngọc)
+ Ở Miền Bắc: Kí của Nguyễn Tuân - Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi,Vùng trời (3 tập)
- Thơ: Ra trận Máu và hoa (Tố Hữu), Hoa ngày thường, chim báo bão (Chế Lan Viên) Và những gương mặt: Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm Tất
cả đã mang tới cho thơ ca tiếng nói mới mẻ, sôi nổi, trẻ trung
- Kịch: Đại đội trưởng của tôi - Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt - Vũ Dũng Minh
- Lý luận, nghiên cứu phê bình:Tập trung ở một số tác giả như Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên
+ Vũ Bằng với (Thương nhớ mười hai)
+ Sơn Nam với (Hương rừng Cà Mau)
3 Đặc điểm của văn học Việt Nam từ 1945-1975:
a.Văn học vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
Trang 23Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 23
- Nhà văn - chiến sĩ
- Văn học trước hết phải là một thứ vũ khí đấu tranh Cách mạng
- Hiện thực đời sống Cách mạng và kháng chiến là nguồn cảm hứng lớn cho văn học
- Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường của lịch sử dân tộc
- Đề tài chủ yếu:
+ Đề tài Tổ Quốc
+ Đề tài XHCN
- Nhân vật trung tâm:
Ngưòi chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh vũ trang và những người trực tiếp phục vụ chiến trường, người lao động
b.Nền văn học hướng về đại chúng
Quần chúng đông đảo vừa là đối tượng phản ánh vừa là đối tượng phục vụ ; vừa
là nguồn cung cấp, bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học:
+ Quan tâm tới đời sống của nhân dân lao động, nói lên nỗi bất hạnh cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ
+ Nền văn học mới tập trung xây dựng hình tượng quần chúng Cách mạng: miêu
tả người nông dân, người mẹ, người phụ nữ, em bé …
c Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Khuynh hướng sử thi:
- Đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân tộc
- Nhân vật chính thường là những con người đại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất và ý chí của dân tộc; tiêu biểu cho lý tưởng cộng đồng hơn là lợi ích và khát vọng cá nhân -> Con người chủ yếu được khám phá ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn
- Giọng văn ngợi ca, hào hùng…
Cảm hứng lãng mạn:
Cảm hứng khẳng định cái tôi tràn đầy cảm xúc và hướng tới lý tưởng Ca ngợi
CN anh hùng Cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc -> Nâng đỡ con người Việt Nam vượt qua thử thách
=> Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn đã làm cho văn học giai đoạn này thấm nhuần tinh thần lạc quan, đồng thời đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển Cách mạng
II Vài nét khái quát Văn học Việt Nam từ 1975 đến hết thế kỉ XX
1 Vài nét về hoàn cảnh lịch sử xã hội, văn hoá
- Chiến tranh kết thúc, đời sống về tư tưởngtâm lí, nhu cầu vật chất con người đã
có những thay đổi so với trước Từ 1975-1985 ta lại gặp phải những khó khăn về kinh
tế sau cuộc chiến kéo dài cộng thêm là sự ảnh hưởng của hệ thống XHCN ở Đông Âu
bị sụp đổ
- Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) mở ra những phưương hướng mới thực sự cởi
mở cho văn nghệ Đẳng khẳng định: "Đổi mới có ý nghĩa sống còn là nhu cầu bức thiết Thái độ của Đảng nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật"
2 Qúa trình phát triễn và thành tựu chủ yếu
- Trường ca: "Những người đi tới biển" (Thanh Thảo)
- Thơ: "Tự hát" (Xuân Quỳnh) , "Xúc xắc mùa thu" (Hoàng Nhuận Cầm), …
Trang 24Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 24
- Văn xuôi: "Đứng trước biển", " Cù lao tràm ", (Nguyễn Mạnh Tuấn), Thời xa
vắng (Lê Lựu)…
- Kí: "Ai đã đặt tên cho dòng sông" (Hoàng Phủ NgọcTường), "Cát bụi chân ai" (Tô Hoài)
Trang 25Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 25
Có biệt tài về truyện ngắn
Truyện của ông thường không có cốt truyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm của nhân vật và những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày
Văn Thạch Lam trong sáng, giản dị mà thâm trầm, sâu sắc
Không có cốt truyện với tình huống gay cấn, éo le, mâu thuẫn xung đột
Không có những bước xoay chuyển số phận nhân vật
Truyện giống như một bài thơ không vần đậm chất thơ, dễ tác động vào tình cảm
+ Kết cấu
Theo sự vận động của thời gian: chiều - đêm
Theo diễn biến tâm trạng của nhân vật Liên: buồn man mác - buồn khắc khoải - buồn thấm thía, lắng sâu
1.2 Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
1.2.1 Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
Trang 26Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 26
-> Buổi chiều quê êm ả, gần gũi, bình dị như bao buổi chiều quen thuộc ở làng quê Việt Nam Tuy nhiên buổi chiều này cũng gợi lên chút gì hiu hắt
Mở rộng thêm: Trong câu: Chiều, chiều rồi, phải chăng Thạch Lam đã viết thừa một chữ chiều?
Không Vì:
– Ngoài nội dung thông báo về thông tin: buổi chiều đã đến, thì còn có thông tin
về tâm trạng mà nếu bỏ mất một chữ chiều thì câu văn sẽ chưa truyền tải được (do
thiếu nhịp điệu)
– Nếu không có chữ chiều tưởng như là thừa ra đó, sự buông lơi êm đềm của câu
sau sẽ ít có hiệu quả hơn
– Hai chữ chiều lặp lại gợi lên một sự lặp lại quen thuộc, tẻ nhạt
* Bức tranh con người
– Cảnh chợ: người về hết, tiếng ồn ào cũng mất, trên mặt đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị…
– Con người: lầm lũi trong bóng tối
– Bao quanh những con người này là những đồ vật tàn: một ngôi quán ọp ẹp, cái chõng sắp gãy, một cái đàn còm, manh chiếu rách…
-> Cuộc sống tàn tạ, nghèo đói
* Nổi bật lên trong bức tranh phố huyện ấy là chị em Liên:
– Lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn
– Động lòng thương đối với lũ trẻ nhà nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền
để cho chúng
– Xót thương cho mẹ con chị Tí (thể hiện qua lời văn, giọng văn: Ngày, chị đi mò cua bắt tép; tối đến chị mới dọn cái hàng nước này [ ] Để bán cho ai?[…]Chị Tí chả kiếm được bao nhiêu….)
-> Là người có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người Thái độ, tình cảm của nhà văn:
Tình cảm yêu mến, gắn bó đối với thiên nhiên, quê hương, đất nước
Niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ
1.2.2 Phố huyện lúc đêm khuya
* Ý nghĩa biểu tượng của bóng tối và ánh sáng
+ Miêu tả trực tiếp bóng tối;
+ Thông qua ánh sáng để nói về bóng tối
– Trong cửa hàng hơi tối
– Đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần
– Những hòn đá nhỏ một bên sáng
một bên tối
– Đèn hoa kỳ leo lét – Đèn dây sáng xanh – Cửa hé một khe ánh sáng – Vòm trời hàng ngàn ngôi sao
Trang 27Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 27
– Trời nhá nhem tối
– Một đêm mùa hạ êm như nhung
– Đường phố và các ngõ con chứa đầy
bóng tối
– Tối hết cả, con đường thăm thẳm…,
các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa
sáng lấp lánh – Quầng sáng thân mật xung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tý
– Một chấm lửa nhỏ, vàng lơ lửng đi trong đêm tối
– Ngọn đèn của Liên, thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa
->Bóng tối đậm đặc dường như bao phủ toàn bộ không gian, nhìn đâu cũng thấy một màu tối Không gian tối tăm nên càng trở nên tịch mịch
Các loại ánh sáng
+ Thiên tạo: đom đóm, vì sao
+ Nhân tạo: ánh sáng ngọn đèn nơi hàng nước chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, ngọn đèn của Liên…
-> Ánh sáng xuất hiện chỉ nhằm tô đậm thêm cho bóng tối
->Biểu tượng cho những con người bé nhỏ, vô danh đang sống âm thầm, lặng lẽ trong đêm tối mênh mông của xã hội
* Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối
- Hình ảnh mẹ con chị Tí: ;là nhân vật điển hình nhất cho cuộc sống lay lắt, ngoi ngóp, quẩn quanh của phố huyện Ngày thì mò cua, bắt tép, tối đến lại đội cái chõng tre tàn ra sân ga bày hàng nước bán Dẫu biết rằng cũng chẳng ăn thua gì những vẫn phải đi
-> Đó không phải là sống mà chỉ như một sự cầm chừng, cầm cự, một việc làm theo thói quen
- Bác phở Siêu, gia đình bác xẩm:
+ Bác phở Siêu, lưng vốn có vẻ khá hơn, nhưng lại là mối hàng nhiều nguy cơ nhất, vì ở nơi phố huyện này món hàng của bác được coi như một món hàng xa xỉ mà chị em Liên cũng chỉ dám mơ tới
+ Vợ chồng bác xẩm rách rưới, tiếng đàn run lên bần bật
- Đối thoại giữa các nhân vật:
Trang 28Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 28
+ Hỏi:
Cái chõng này sắp gẫy rồi chị nhỉ?
A, cô bé làm gì thế?
-> Hỏi chỉ để hỏi, chứ không nhất thiết cần có câu trả lời, bởi lẽ ngay cả người hỏi và người được hỏi đều biết câu trả lời là gì Hỏi chỉ nhằm phụ họa, thậm chí là chứng tỏ cho sự tồn tại của mình
+ Người được hỏi thường là mãi rồi mới chép miệng trả lời, ngẫm nghĩ rồi đáp,
mà có đáp cũng chỉ đáp vẩn vơ
-> Những mẩu đối thoại vừa cực kỳ thưa thớt, vừa gián đoạn, ngắt quãng
-> Ấn tượng buồn nản, xót thương thậm chí bực bội trước những câu hỏi tủn mủn, bâng quơ không cần thiết phải trả lời và những câu trả lời nhát gừng, nhạt nhẽo
- Tiếng reo:
+ Kìa hàng phở của Bác Siêu đã đến kia rồi
+ Đèn ghi đã ra kia rồi
-> Không những không vui, mà ngược lại nó càng hiu hắt và buồn hơn Niềm vui vừa mới được nhen nhóm lên đã vội vàng bị dập tắt Món phở đối với chị em Liên là
một món hàng xa xỉ mà “hai chị em không bao giờ mua được”, còn đoàn tàu hôm nay
thì kém sáng và ít người hơn mọi hôm
-> Mong đợi vẫn chỉ là mong đợi, reo lên để rồi chỉ thêm buồn và thất vọng -> Nhịp sống của người dân nơi phố huyện: Nhịp sống quẩn quanh, tù đọng, lặp
đi lặp lại một cách nhàm chán
1.2.3 Hình ảnh đoàn tàu và tâm trạng của Liên lúc chuyến tàu đến và đi qua
* Hình ảnh đoàn tàu
- Là hoạt động sống cuối cùng của phố huyện
- Đoàn tàu là hình ảnh của một thế giới khác, hoàn toàn tương phản với phố huyện
+ Từ xa: tiếng dồn dập, tiếng rít mạnh vào ghi, một làn khói bừng sáng lên đằng
xa, tiếng hành khách ồn ào, khe khẽ
+ Đến gần: các toa đèn sáng trưng, chiếu cả xuống đường, các toa hạng sang đồng và kền lấp lánh, cửa kính sáng
+ Lúc đoàn tàu đi qua: để lại những đốm than nhỏ bay tung trên đường sắt, chấm nhỏ của cái đèn xanh treo trên toa sau cùng
-> Chuyến tàu mang về một chút ánh sáng của một thế giới khác, ánh sáng của hoài niệm quá khứ và cũng là ánh sáng của niềm mong ước tương lai Dù chỉ là trong
ít phút ngắn ngủi nhưng phố huyện cũng đã có những giây phút tươi vui hơn
Đặc biệt với Liên, ánh sáng của đoàn tàu đã đem tới cho cô những khát vọng, mơ ước về sự thay đổi
* Cuộc sống của phố huyện sau khi đoàn tàu đi qua
- Phố huyện: cả phố huyện giờ chỉ còn đêm khuya, tiếng trống cầm canh và tiếng chó cắn
Trang 29Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 29
- Con người: chị Tý sửa soạn đồ đạc, bác Siêu đã gánh hàng đi vào trong làng, vợ chồng bác Sẩm ngủ gục trên manh chiếu tự bao giờ, An ngủ say, Liên cũng dần ngập vào giấc ngủ
-> Phố huyện yên tĩnh, tịch mịch đầy bóng tối khi đoàn tàu đã đi qua
* Tâm trạng của Liên khi đoàn tàu đến và đi qua
- Đợi tàu như một nhu cầu bức thiết để hai chị em có thể tạm thoát ra khỏi cái không khí tịch mịch, u tối của phố huyện
- Đợi tàu còn có ý nghĩa như một thú vui, một trò chơi tuổi nhỏ
- Đợi tàu để được nhìn, được mơ tưởng, được nuôi dưỡng kỷ niệm đẹp và mơ một một thế giới khác, nhiều ánh sáng và niềm vui
*Diễn biến tâm trạng Liên
– Tâm trạng của Liên khi đoàn tàu tới:
+ Hồi tưởng lại Hà Nội: một Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo
+ Mơ ước về một thế giới khác: một thế giới tươi sáng hơn, hạnh phúc hơn, sôi động hơn cuộc sống bình lặng, ngày ngày lặp đi lặp lại nơi phố huyện này
- Tâm trạng Liên khi đoàn tàu đi qua:
+ Những cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên
+ Hình ảnh thế giới quanh mình mờ đi trong mắt chị
+ Liên thấy mình sống giữa bao sự xa xôi không biết
-> Nỗi buồn thấm thía, sâu sắc
-> Tác giả muốn thức tỉnh những tâm hồn đang uể oải, đang lụi tàn dần đi trong một cuộc sống cũng đang cùn đi, đang gỉ ra, nhà văn mong họ hãy sống có hi vọng và ước mơ vì một khi còn những thứ đó thì còn sự sống
Tác giả cũng đã thể hiện niềm xót xa, thương cảm đối với những người dân nơi đây
III Tổng kết
– Niềm xót thương đối với những con người nghèo đói, quẩn quanh và sự cảm thông, trân trọng trước mong ước có một cuộc sống tốt đẹp hơn của họ
– Cốt truyện đơn giản; giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh; lời văn bình dị, tinh tế; có
sự kết hợp giữa hiện thực và trữ tình; tập trung miêu tả nội tâm nhân vật
2 CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
2.1 Tác giả, tác phẩm
- Tác giả:
+ Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam Sự nghiệp của ông trải ra trên hai chặng đường: trước và sau CM T8 năm 1945: trước năm 1945, là nhà văn lãng mạn; sau năm 1945, chuyển biến thành nhà văn cách mạng
+ Trước năm 1945, sáng tác của Nguyễn Tuân xoay quanh các đề tài chính:
Chủ nghĩa xê dịch: Viết về cái tôi lãng tử qua những miền quê, trong đó hiện ra cảnh sắc và phong vị quê hương, cùng một tấm lòng yêu nước thiết tha Tác phẩm
chính: Một chuyến đi, Thiếu quê hương…
Vẻ đẹp “ vang bóng một thời”: Là những nét đẹp còn vương sót lại của một
thời đã lùi vào dĩ vãng gắn với lớp nho sĩ cuối mùa Tác phẩm chính: Vang bóng một thời
Trang 30Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 30
Đời sống truỵ lạc: Ghi lại quãng đời do hoang mang bế tắc, cái tôi lãng tử đã lao vào rượu, thuốc phiện và hát cô đầu, qua đó thấy hiện lên tâm trạng khủng hoảng
của lớp thanh niêm đương thời Tác phẩm chính: Chiếc lư đồng mắt cua, ngọn đèn dầu lạc,…
+ Sau năm 1945, sáng tác Nguyễn Tuân tập trung phản ánh hai cuộc kháng
chiến, qua đó thấy được vẻ đẹp của người Việt Nam vừa anh dũng vừa tài hoa Tác
phẩm chính: Tình chiến dịch, Đường vui, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi,…Ông cũng viết về
công cuộc xây dựng đất nước, trong đó hiện lên con người Việt Nam với vẻ đẹp cần
cù mà rất mực tài hoa Tác phẩm chính: Sông Đà, ký Nguyễn Tuân,…
+ Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm cái đẹp và khẳng định những giá trị
nhân văn cao quý, với những nét phong cách nổi bật: tài hoa, uyên bác, hiện đại mà cổ điển,…Ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của thể tuỳ bút và tiếng Việt,…
- Tác phẩm
“Chữ người tử tù” ( đăng báo 1939, in trong tập “ Vang bóng một thời” (1940) )
là truyện ngắn đặc sắc nhất của Nguyễn Tuân Cốt truyện xoay quanh cuộc gặp gỡ kì
lạ và éo le của hai nhân vật chính: Ông Huấn Cao có tài viết chữ đẹp, có thiên lương
và khí phách đã lãnh đạo nông dân khởi nghĩa và bị bắt giam vào trại giam tỉnh Sơn Viên quản ngục lại là một kẻ say mê chữ đẹp của ông Huấn Cao, quyết tâm tìm mọi cách để xin chữ của Huấn Cao.Truyện kết thúc bằng cảnh cho chữ - Một cảnh tượng xưa nay chưa từng có
2.2 Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
2.2.1 Tình huống chuyện độc đáo
Tình huống là hoàn cảnh có vấn đề nhà văn tạo dựng để các nhân vật buộc phải thể hiện đúng tính cách của mình Hoàn cảnh điển hình sẽ làm nảy sinh tính cách điển hình Nguyễn Tuân đã tạo dựng một tình huống vừa kì lạ vừa oái oăm: ( Có lẽ chứ hề xảy ra trong thực tế ) Nơi gặp gỡ là nhà ngục và sự gặp nhau giữa hai con người thộc
về hai phía đối lập nhau: Huấn Cao – kẻ tử tù bất đắc dĩ và viên quản ngục
- Xét trên bình diện xã hội họ không thể tồn tại chung, Huấn Cao đại diện cho những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn chống lại triểu đình, quản ngục đại diện cho hệ thống
và trật tự của giai cấp cầm quyền đương thời Nhưng éo le thay, Huấn Cao lại là người
có tài viết chữ đẹp, còn quản ngục lại lả kẻ tôn thờ những con chữ, hàng ngày khát mong có được chữ của Huấn Cao
- Xét trên bình diện nghệ thuật họ hoàn toàn có thể trở thành tri âm, tri kỉ Huấn Cao – người sáng tạo ra cái đẹp tuyệt vời của nghệ thuật thư pháp, quản ngục người gìn giữ và tôn thờ cái đẹp Nếu gặp nhau trong một hoàn cảnh khác, hay một bầu trời chỉ có nghệ thuật thì họ lại trở thành Bá Nha và Tử Kì thuở trước.Cuộc gặp gỡ đã tạo dựng một tình huống kịch tính, từ cuộc gặp gỡ này hai nhân vật sẽ bộc lộ tính cách Huấn Cao: tài hoa, thiên lương và khí phách anh hung, quản ngục là kẻ dịu dàng, biết giá người, biết trọng người ngay Hành rình gian nan và có lúc tưởng như ngục tù ấy không chỉ giam giữ Huấn Cao mà còn là tiêu tan đi cái đẹp bởi cái nhơ bẩn và cái ác Thế nhưng những tấm lòng trong thiên hạ đã gặp nhau, sự thành tâm và sở thích cao quý của quản ngục đã làm Huấn Cao cảm động
2.2.2 Vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao
- Huấn Cao được nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng từ nguyên mẫu người anh hùng Cao Bá Quát đầu thế kỷ XIX
Trang 31Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 31
- Nguyễn Tuân đã tạo ra tình huống éo le để tô đậm những vẻ đẹp khác thường của nhân vật ( Tình huống điển hình lảm nảy sinh những tính cách điển hình)
* Huấn Cao – Một nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp:
- Tài viết chữ của ông Huấn qua lời đồn của dân vùng tỉnh Sơn và qua những lời nhận xét của viên quản ngụ c và thầy thơ lại
- Niềm ao ước cháy bỏng của quản ngục và tấm chân tình, sự đối đáp của quản ngục để xin chữ Huấn Cao “ Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm ( …) Có được chữ Huấn Cao mà treo là có một vật báu trên đời” Cho nên , “ Sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia treo ở nhà riêng mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết” Để có được chữ của ông Huấn Cao, viên quản ngục không chỉ phải kiên trì, mà còn phải liều mạng Bởi quản ngục cũng biết thế nào là cái giá phải trả cho
kẻ bỏ qua lệnh triều đình biệt đãi tội phạm nguy hiểm, có khi phải trả giá bằng tính mạnh của mình
- Chữ Huấn Cao vuông vắn, tươi tắn, nó nói lên cái hoài bão tung hoành của cả một đời con người
* Huấn Cao – Một con người có thiên lương trong sáng:
- Ông chỉ cho chữ chỗ bạn thân và tri kỉ, không vì bạc vàng hay quyền thế mà ép mình viết chữ bao giờ “ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay vì quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ”
- ý thức tự trọng, tinh thần nghĩa khí qua hành động đuổi viên quản ngục
- Trọng thiên lương, Huấn Cao đã thực sự cảm động trước “tấm lòng trong thiên hạ” và sở thích cao quý của quản ngục
- Muốn người khác giữ trọn thiên lương, bằng việc gửi lại cái đẹp, cái ân tình của nhữngc người tri kỉ Huấn Cao đã khuyên quản ngục và quản ngục cảm động, tỉnh ngộ Việc Huấn Cao cho chữ quản ngục không chỉ vì mục đích chơi chữ mà chủ yếu để cữu người, cứu một thiên lương lầm đường lạc lối quá lâu ngủ quên trong lớp tro tàn nguội lạnh của ngục tù phong kíên
* Huấn cao – Một khí phách anh hùng
- Lãnh đạo nông dân khởi nghĩa chống triều đình, chấp nhn tội danh “ cầm đầu bọn phản nghịch”
- Ngục tù chỉ gông cùm được thể xác, Huấn Cao vẫn sống tự do về tinh thần, vẫn những hứng sinh bình mà ông từng làm: Rỗ gông, nhận rượu thịt thảm nhiên, đuổi quản ngục…lạnh lùng, thảm nhiên trước cái chết đang đến gần
- Một tử tù chỉ đợi ngày ra pháp trường mà không hề nao núng, vẫn ung dung, đàng hoàng “ Đến cái cảnh chết chém, ông còn chẳng sợ nữa là…” Đối với viên quản ngục, ônh chẳng những không sợ mà còn tỏ ra khinh bạc đến điều”
- Sáng tạo thư pháp và truyền lại cái đẹp trước khi lĩnh án tử hình mà vẫn ung dung, đường hoàng chứng tỏ trong con người tài hoa ây là một khí phách vô cùng cứng cỏi và vượt trên hoàn cảnh
* Cảnh cho chữ - Nơi hội tụ và thăng hoa tất cả những vẻ đẹp của hình
tượng Huấn Cao
- Cảnh xưa nay chưa từng có: Thời gian, không gian đặc biệt, tư thế cuả kẻ xin người cho Cái đẹp, cái thiện đã chiến thắng cái ác và cái xấu, thiên lương và nhân cách con người đã làm cảm động và thanh lọc tâm hồn một con người
*Tư tưởng của nhà văn gửi gắm
Trang 32Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 32
- Một tinh thần dân tộc sâu sắc: Yêu mến và trân trọng nét đẹp của truyền thống văn hoá dân tộc
- Lòng say mê cái đẹp và đi tìm cái đẹp ở tài năng, đạo đức và nhân cách con người
- Khẳng định sự chiến thắng của cái đẹp, thiên lương và nhân cách ngay trong hoàn cảnh ngặt nghèo, ngay ở môi trường của cái ác và bóng tối
2.2.2 Nhân vật viên quản ngục
- Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ mãy thống trị đương thời, nhưng viên quản ngục lại có thú chơi thanh cao- thú chơi chữ
Ngay từ thời trẻ khi mới “ biết đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền” ông đã có sở nguyện “ một ngày kia được treo ơ rnhà riêng của mình một câu đối do tay ông Huấn Cao viết
- Quản ngục trân trọng giá trị con người Điều đó thể hiện rõ qua hành động “
biệt đãi” của ông đối với Huấn Cao: Dám chơi chữ của một kẻ đại nghịch là Huấn Cao, Dám xin chữ tử tù ngay trong nhà ngục; Kiên trì, nhẫn nhục để có được một bức chữ như sở nguyện
- Sở nguyện thanh cao muốn có được chữ Huấn Cao để treo ở nhà riêng của mình bất chấp nguy hiểm, cùng thái độ thành kính đón nhận chữ của Huấn Cao cho thấy tấm lòng “ biệt nhỡn liên tài”, biết trân trọng những giá trị văn hoá của viên quản ngục
- Diễn biến nội tâm, hành động và cách ững xử của viên quản ngục cho ta thấy không chỉ Huấn Cao mà cả viên quản ngục cũng có một nhân cách đẹp đẽ “ một tấm lòng trong thiên hạ” tri âm, tri kỉ với Huấn Cao Đó là một âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”
- Viên quan ngục là một người biết chữ thiên lương, biết trân trọng giá trị văn hoá và tài năng, là người có tâm hồn nghệ sĩ, không có tài nhưng yêu tài, không sáng tạo được cái đẹp nhưng biết yêu và trân trọng cái đẹp
2.3 Tổng kết
- Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ thành công hình tượng Huấn Cao – một con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang, bất khuất Qua đó nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp khẳng định sự bất tử của cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước
- Tác phẩm thể hiện tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong việc tạo dựng tình huống truyện độc đáo; trong nghệ thuật dựng cảnh khắc hoạ tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng, trong việc sử dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình
3 CHÍ PHÈO – NAM CAO
3.1 Tác giả, tác phẩm
- Tác giả
+ Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Xam Sang phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam Ông là một trong những cây bút viết truyện ngắn rất thành công của dòng văn học hiện thực phê phán thời kì trước Cách mạng
+ Con người Nam Cao nhìn bề ngoài có vẻ lạnh lùng, ít nói nhưng đời sống nội tâm thì rất phong phú Nam Cao là người có tấm lòng đôn hậu, chan chứa yêu thương Ông gắn bó sâu nặng, giàu ân tình với quê hương và những con người nghèo khổ bị áp
Trang 33Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 33
bức, khinh miệt trong xã hội cũ Ông từng quan niệm, không có tình thương đồng loại thì không đáng gọi là người Đó chính là một trong những lí do dẫn Nam Cao đến với con đường nghệ thuật “vị nhân sinh” và tạo nên những tác phẩm thấm đượm tư tưởng nhân đạo sâu sắc
+ Sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng tập trung vào hai đề tài chính người trí thức nghèo và người nông dân nghèo
1946, khi in trong tập “Luống cày”, tác giả đặt lại tên là “Chí Phèo”
Chí Phèo là tác phẩm thành công của Nam Cao viết về đề tài người nông dân Nhân vật Chí Phèo thể hiện tấn bi kịch tinh thần lớn nhất của con người, đó là bi kịch
bị tha hoá Những thế lực tàn bạo đã tước đoạt của người nông dân chất phác hiền lành những khát vong và ước mơ về một cuộc sống lương thiện, biến họ thành kẻ lưu manh Và khi lương tâm thức tỉnh, họ đã phải tự kết thúc đời mình khi nhận ra rằng mình không còn con đường trở về với cuộc sống lương thiện
+ Giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm đều được tập trung ở nhân vật Chí Phèo Tác phẩm phản ánh hai mâu thuẫn gay gắt và tiêu biểu nhất trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám là: Mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị với nhau và mâu thuẫn giữa bọn cường hào ác bá và người nông dân Nhân vật đều đạt đến trình độ điển hình
3.2 Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
3.2.1 Nhân vật Chí Phèo
a Cuộc đời cùng quẫn của Chí Phèo
+Hoàn cảnh của Chí Phèo
– Chí Phèo là một đứa con hoang bị bỏ rơi ở một cái lò gạch cũ Một người đi đánh ống lươn nhặt được Chí Phèo ‘!trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không”
- Sau đó, anh đánh ống lươn đem cho bà goá mù, rồi bà goá mù lại cho bác phó cối
- Khi bác phó cối chết, Chí Phèo làm canh điền cho nhà Lí Kiến
+Chí Phèo trước khi đi tù
– Là người canh điền khỏe mạnh, siêng năng Chí Phèo cũng có những ước mơ
giản dị như bao người lao động hiền lành khác: Chí “ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”
– Chí phèo là người có lòng tự trọng Bà ba nhà Lí Kiến cứ hay gọi Chí lên để bóp chân Chí Phèo lấy đó làm nhục
– Lí Kiến (khi đó chưa là Bá Kiến) ghen bóng gió và đã đẩy Chí Phèo vào nhà tù Một người thanh niên hiền lành vô tội đã bị đẩy vào tù
+ Chí Phèo sau khi ở tù về
– Diện mạo bên ngoài của Chí hoàn toàn thay đổi, khiến cho cả làng lúc đầu
không ai biết hắn là ai “Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen
Trang 34Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 34
mà rất cơng cơng Hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết!”
– Hành động của Chí cũng hoàn toàn thay đổi “Về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều” Hành vi này quả thật
không bình thường đối với một người bình thường Đúng là như vậy, sau khi bị Bá Kiến biến thành tay sai Chí Phèo trở thành kẻ đâm thuê, chém mướn, rạch mặt ăn vạ Không mua được rượu vì chủ quán không bán chịu, Chí Phèo liền đốt quán ngay Người dân làng Vũ Đại coi Chí Phèo là một “con quỷ” không hơn không kém Không
ai coi Chí là một con người Thấy Chí Phèo, người ta tránh như gặp phải một con quỷ Chí Phèo vẫn triền miên trong cơn say Say trong lúc ăn, say trong lúc ngủ…
– Khi gặp Thị Nở, Chí Phèo mới thức tỉnh muốn được làm người lương thiện + Thị Nở đã ngoài 30 tuổi, dở hơi và lại xấu “ma chê quỷ hờn”
+ Thị Nở quan tâm đến Chí Phèo, nấu cháo hành cho Chí ăn khi hắn bị ốm Sự
quan tâm ấy đã thức tỉnh Chí Phèo Bưng bát cháo hành thị Nở đưa cho “hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho Xưa nay, nào hắn có thấy tự nhiên ai cho cái gì Hắn vẫn phải dọa nạt hay giật cướp hắn mới có cái để ăn “Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng””
+ Hình ảnh bát cháo hành có giá trị đặc sắc Nó thể hiện tình thương của con người đối với đồng loại
+ Với Chí Phèo, năm ngày sống với thị Nở là năm ngày hạnh phúc của đời Chí Hạnh phúc ấy quá ngắn ngủi so với cuộc đời một con người Đó cũng là những ngày Chí Phèo không say Chính thị Nở đã làm cho Chí Phèo thức tỉnh
+ Tính lương thiện trong Chí Phèo không hề mất đi mà chỉ ngủ mê trong cái vỏ
bề ngoài của một con quỷ dữ Bản chất ấy khi có được tình người sẽ thức tỉnh Tình yêu, sự quan tâm của thị Nở sẽ là cơn gió lành thổi bùng lên đốm lứa thiên lương còn
âm ỉ trong Chí Phèo Chính thị Nở đã suy nghĩ về Chí Phèo: “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người” Bản
tính thiên lương của Chí Phèo được miêu tả khá thành công trong buổi sáng hôm sau
khi Chí tỉnh dậy “Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy sau một cơn mê rất dài”, “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy” Những ngày trước đây làm sao Chí Phèo có thể nghe được những
âm thanh của cuộc sống vì trước khi gặp thị Nở, cuộc sống của Chí Phèo là những cơn say dài bất tận Ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, hung dữ trong lúc say, chửi trong
lúc say… Vì thế mà hắn phải thốt lên: “Chao ôi là buồn!”, “Hắn lại nao nao buồn”,
“hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm
ba sào ruộng làm” Một ước muốn thật chính đáng và giản dị, đời thường
b.Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo
– Tình yêu, sự quan tâm chăm chút của thị Nở đã thức tỉnh Chí Phèo, làm bùng lên đốm sáng lương tri còn sót lại trong Chí Chí Phèo khát vọng được quay trở về với cuộc sống lương thiện, được hoà mình trong xã hội loài người mà thị Nở sẽ là cây cầu nối
– Chí Phèo không còn đường để trở về làm người lương thiện được nữa Bà cô thị Nở ngăn cấm không cho cháu mình lấy Chí Phèo
Trang 35Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 35
– Chí Phèo bị cự tuyệt về tình yêu Nguyên nhân trực tiếp là thị Nở và bà cô của thị Nhưng nguyên nhân sâu xa chính là do xã hội phong kiến tàn ác, bất công đã biến Chí thành một “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại Tuyệt vọng, Chí Phèo tìm đến rượu
Nhưng lần này, càng uống, Chí Phèo càng tỉnh ra “Hắn ôm mặt khóc rưng rức” Điều
đó chứng tỏ rằng Chí Phèo luôn khát khao được trở về làm người lương thiện Khi không còn tình yêu, không còn con đường trở về làm người lương thiện, Chí Phèo quyết trả hận
– Hắn quyết định đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó” Chí Phèo ra đi với một con dao cầm trong tay Nhưng “hắn không rẽ vào nhà thị Nở mà thẳng đường đến nhà Bá Kiến và nói thẳng với Bá Kiến; “Tao muốn làm người lương thiện”, “Ai cho tao lương thiện?” Chí Phèo giết Bá Kiến và tự kết
liễu đời mình Chí Phèo giết Bá Kiến nghĩa là Chí Phèo đã nhận đúng kẻ thù của mình Hai cái chết thể hiện mâu thuẫn đối kháng gay gắt trong xã hội có giai cấp Đó là mâu thuẫn giữa người nông dân với giai cấp phong kiến mà đại diện là bọn địa chủ, cường hào, ác bá ở nông thôn
-> Chí Phèo chết ngay trước ngưỡng cửa bước vào cuộc sống lương thiện Đó là
bi kịch của Chí Phèo cũng là bi kịch của của những người nông dân bị bần cùng, bị lưu manh hoá Quá thực, Chí Phèo không có lối trở về Đứng trước hai con đường, Chí Phèo chỉ được chọn một mà thôi
Thứ nhất, Chí Phèo tiếp tục trở về sống cuộc sống của một “con quỷ dữ’ Hai là,
Chí Phèo chết để giữ lại phần hiền lương còn sót trong tâm hồn Chí Phèo đã chọn con đường thứ hai Chí Phèo đã chết vì ý thức về nhân phẩm đã trở về trong anh Anh không thể chấp nhận cuộc sống thú vật được nữa
Chí Phèo đã chết quằn quại trên vũng máu trong niềm đau thương vô hạn vì khát khao được làm người lương thiện đã bị từ chối một cách lạnh lùng Lời nói cuối cùng
của Chí Phèo vừa đanh thép vừa chất chứa phẫn nộ: “Ai cho tao lương thiện?” Phải
chăng câu nói ấy đã được đặt ra một cách bức thiết khi tác phẩm ra đời Làm thế nào, bằng con đường nào để người nông dân không rơi vào tấn bi kịch như Chí Phèo
Ý nghĩa hình tượng Chí Phèo : Qua truyện ngắn này, Nam Cao khái quát một hiện tượng xã hội ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hoá, lưu manh hoá Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thế xác lẫn tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ, ngay khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính
3.2.2 Một số chi tiết đặc sắc
a Tiếng chửi của Chí Phèo
– Hắn chửi tất cả : từ trời đời cả làng Vũ Đại “cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”=> đối tượng chửi đã được xác định : xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc
– Cái mà Chí nhận được là : “trời có của riêng nhà nào” “đời là tất cả nhưng chẳng là ai” “không ai lên tiếng cả” “không ai ra điều” “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ
ra Chí Phèo” Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “tiếng chó cắn lao xao”
• Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo:
Trang 36Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 36
- Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ
có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”) Chí đã bị đánh bật ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng
- Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình: sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình
b Chi tiết bát cháo hành
* Sự xuất hiện: Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn
* Ý nghĩa:
– Về nội dung:
+ Thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo
+ Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng + Là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí : gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo
c Ý nghĩa đoạn kết, hình ảnh cái lò gạch cũ
Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”, “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện
ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”
– Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới: sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời (…)
– Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn: Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng – kết cấu vòng tròn Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên dữ dội, song không thể giải quyết Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại
- Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam Cao.Với hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới
2.2.3 Giá trị hiện thực và nhân đạo trong truyện Chí Phèo
Trang 37Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 37
Giá trị hiện thực: là sự tái hiện một cách chân thực những điều đang diễn ra trong cuộc sống; mà ở đây là bức tranh cuộc sống một làng quê trong xã hội thuộc được nửa phong kiến
*Giá trị hiện thực được thể hiện qua:
Mặc dù không được đặc tả ngoại hình, nhưng qua tiếng cười và tiếng quát, ta
có thể tưởng tượng phần nào sự bề thế, uy quyền của Bá Kiến
Con người Bá Kiến được thể hiện trong nhiều mối quan hệ:
Hắn là con mọt già chuyên đục khoét và tìm mọi cách vắt kiệt sức của người dân
Là con cáo già gian xảo quỷ quyệt với những đường đi nước bước được tính toán cẩn thận để áp bức nhân dân (Điều này được thể hiện rõ qua những lầ Chí Phèo đến nhà Bá Kiến)
+ Thực dân:
Ảnh hưởng của chế độ thực dân được thể hiện gián tiếp qua sự xuất hiện của nhà tù
Làm con người biến dạng về ngoại hình, méo mó nhân cách
- Miêu tả cuộc sống khốn cùng của người dân lao động:
+ Người nông dân phải sống trong cảnh bần cùng cơ cực (không có của cải, nghề nghiệp; chỉ biết làm thuê để kiếm sống)
+ Người nông dân bị tha hóa, lưu manh, mất nhân phẩm (Chí Phèo, Năm Thọ, Binh Chức) (Nguyên nhân: do cuộc sống khó khăn, ; họ bị chính đồng loại của mình quay lưng; làm mất “sức đề kháng”)
Giá trị nhân đạo:
*Giá trị nhân đạo: Sự quan tâm đến những người có hoàn cảnh không may; thông cảm, chia sẻ và phát hiện những phẩm chất tốt đẹp ở họ
*Biểu hiện:
– Thấu hiểu hoàn cảnh của người lao động; bày tỏ sự thương cảm sâu sắc
+ Sự xót xa với thân phận một sinh linh bé nhỏ (Chí Phèo từ lúc bị bỏ rơi ở cái lò gạch cũ đã được nhiều người dân chuyền tay nhau nuôi nấng)
+ Cảm nhận được thế giới nội tâm của Chí với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau
+ Hiểu được tâm trạng phẫn uất, tuyệt vọng của Chí (khi bị cự tuyệt tình yêu và đòi lương thiện)
– Phát hiện những phẩm chất tốt đẹp của họ
+Chí Phèo: hiền lành, cần cù lao động, ước mơ trong sáng, giàu lòng tự trọng
Trang 38Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 38
+Thị Nở: giàu tình người (thể hiện ở sự chăm sóc với Chí Phèo, bát cháo hành) -Khẳng định chất lương thiện trong con người tưởng chừng đã hóa quỷ dữ (qua lời đối thoại và độc thoại nội tâm của Chí
Kết luận :
Chí Phèo là truyện ngắn thành công của Nam Cao qua việc xây dựng kết cấu, tình huống truyện, chi tiết đắt giá; xây dựng được nhân vật điển hình Nhà văn đã phản ánh đầy đủ và cụ thể bức tranh xã hội một làng quê Bằng cái nhìn vừa căm phẫn cái xấu vừa thấm đẫm tình yêu thương đối với tầng lớp thấp cổ bé họng, tác phẩm vì thế
đã có giá trị rất lớn trong việc nâng cao nhận thức, tình cảm cho người đọc
4 HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA – TRÍCH SỐ ĐỎ - VŨ TRỌNG PHỤNG
4.1 Tác giả, tác phẩm
* Tác giả
- Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939)
- Là nhà văn hiện thực xuất sắc trước cách mạng tháng Tám
- Ông nổi tiếng về tiểu thuyết Truyện ngắn và đặc biệt thành công ở thể phóng
+ Thuộc chương 15 của tiểu thuyết Số đỏ
+ Nhan đề: Do nhà biên soạn sách đặt
4.2 Đặc sắc nội dung, nghệ thuật
4.2.1 Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề chứa đựng mâu thuẫn trào phúng hàm chứa tiếng cười chua chát, kích thích trí tò mò của người đọc:
- Nhà có tang mà lại vui vẻ, sung sướng, hạnh phúc
→ Hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của lũ con cháu đại bất hiếu
- Phản ánh một sự thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn: Con cháu của đại gia đình này thật sung sướng khi cụ cố tổ chết
→ Tình huống trào phúng chủ yếu của toàn bộ chương truyện
* Niềm vui chung cho cả gia đình: “cụ cố tổ chết cái chúc thư kia sẽ đi vào thời
kì thực hành chứ không còn lí thuyết viễn vông nữa
=> Một gia đình đại bất hiếu
* Niềm vui của những thành viên trong gia đình:
- Cố Hồng (con trai cả): sướng điên lên vì lần đầu tiên được diễn trò già yếu trước mọi người cụ mơ màng nghĩ mình được mặc áo xô gai, lụ khụ ho khạc mếu máo
“úi kìa con giai nhớn đã già thế kia kìa”
→ điển hình cho loại người háo danh
- Ông Văn Minh (cháu nội ): thích thú vì cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành chứ không còn trên lý thuyết viễn vông nữa
Trang 39Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 39
→ Bất hiếu, đầy dã tâm
- Bà Văn Minh (cháu dâu): mừng rỡ vì được lăng xê những mốt y phục táo tạo nhất
→ Thực dụng, thiếu tình người
- Cô Tuyết: Được dịp mặc y phục ngây thơ để chứng tỏ mình hãy còn trinh tiết
nhưng đau khổ như kim châm vào lòng “ không thấy bạn giai đâu cả”
→ Hư hỏng, lẳng lơ
- Cậu Tú Tân: sướng điên người lên vì được dịp sử dụng cái máy ảnh đã lâu không có dịp dùng đến
→ Niềm vui của con trẻ kém hiểu biết
- Ông Phán: Sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị
→ Là người không có nhân cách, vô liêm sĩ
- Xuân tóc đỏ: Hạnh phúc đặc biệt vì nhờ hắn mà cụ Tổ chết, danh giá uy tín lại càng to hơn
* Niềm vui của những người ngoài gia đình:
- Hai vị cảnh sát Min Đơ và Min Toa “sung sướng cực điểm” vì đang thất nghiệp được thuê dẹp trật tự cho đám đông
- Bạn bè cụ cố Hồng: Có dịp phô trương đủ thứ huân, huy chương, các kiểu quần
áo, đầu tóc, râu ria
- Đám phụ nữ quý phái, đám trai thanh gái lịch: Có dịp tụ tập để khoe khoang, hẹ
hò nhau, chim chuột nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau
→ Mọi người dù chủ hay khách đều vui vẻ, hạnh phúc trước cái chết của cụ cố
Tổ Đó chính là sự suy đồi về đạo lý, sự tha hoá về nhân cách con người
=> Tác giả khai thác những yếu tố mâu thuẫn để gây cười, cái cười phê phán đây mỉa mai châm biếm về một xã hội thực dân thu nhỏ với tất cả sự đồi bại, xuống dốc của đạo lý và nhân cách con người, đó là lời tố cáo của tác giả đối với xã hội âu hoá rởm
=> Sự giả tạo, đóng kịch của giới tri thức rởm, đạo đức suy đồi của nền văn minh
=> Đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch Nó nói lên tất cả sự lố lăng vô đạo
đức của cái xã hội thượng lưu ngày trước Cái xã hội mà tác giả gọi là Chó đểu, khốn nạn
4.3 Tổng kết
Trang 40Tổ Ngữ Văn - Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng 40
- Đoạn trích “ Hạnh phúc của một tang gia” là một bi hài kịch, phơi bày bản chất nhố nhăng, đồi bại của một gia đình đồng thời phản ánh bộ mặt thật của xã hội thượng lưu thành thị trước Cách mạng tháng Tám
- Nghệ thuật tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác; phát hiện những chi tiết đối lập gay gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc; thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa,… được sử dụng một cách linh hoạt; miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân vật