38 2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản ..... Định tội danh là vấn đề r
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH NGUYỄN THANH TRÚC
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI
DÙNG VŨ LỰC HOẶC ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH NGUYỄN THANH TRÚC
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI
DÙNG VŨ LỰC HOẶC ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG LUẬT
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Người viết luận văn này xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung luận văn là kết quả của một quá trình tổng hợp và nghiên cứu nghiêm túc của riêng bản thân người viết Tất cả ý kiến của các tác giả khác được đưa vào luận văn đều được người viết giữ nguyên ý tưởng và có trích dẫn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC, ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7
1.1 Lý luận chung về định tội danh 7
1.1.1 Khái niệm, các loại và ý nghĩa của định tội danh 7
1.1.2 Cấu thành tội phạm – cơ sở pháp lý của định tội danh 12
1.2 Khái niệm và những đặc trưng pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999……… 21
1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 21
1.2.2 Những đặc trưng pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 23
1.3 Phân biệt các tội phạm 26
1.3.1 Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản 26
1.3.2 Phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực với tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy 29
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC, ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 32
2.1 Các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999 32
2.1.1 Tội cướp tài sản 32
2.1.2 Tội cưỡng đoạt tài sản 38
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 41
Trang 52.2.1 Xác định những dấu hiệu pháp lý của các tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong thực tiễn định tội danh 41 2.2.2 Một số vấn đề trong việc định tội danh đối với các tội có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 52 2.2.3 Đánh giá tổng quan thực tiễn định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 63
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh đối với hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản 52
2.3.1 Định hướng hoàn thiện hoạt động định tội danh theo cải cách tư pháp 66
2.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh trong thực tiễn 68
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Định tội danh là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như áp dụng pháp luật hình sự vào trong thực tiễn Về mặt lý luận, nghiên cứu định tội danh là vấn đề khá phức tạp, do đây là một quá trình tư duy yêu cầu sự hiểu biết sâu rộng các quy định của pháp luật hình sự, chính sách và quan điểm lập pháp của pháp luật Việt Nam, từ đó có thể đưa ra các kết luận định hướng cho hoạt động định tội danh trong thực tế sao cho chính xác, hiệu quả Về mặt thực tiễn, định tội danh là khâu quan trọng ảnh hưởng đến cả quá trình áp dụng pháp luật Việc đưa các quy phạm pháp luật khái quát, trừu tượng vào trong thực tiễn với các hành vi phạm tội phức tạp, biến đổi từng ngày, đòi hỏi các chủ thể định tội danh không chỉ
có sự hiểu biết, khả năng tư duy mà còn cần cả sự sáng tạo, linh hoạt trong việc đưa các quy định mang tính khái quát chung của điều luật vào một hành vi cụ thể
Do các đặc điểm đó mà trên thực tế định tội danh là vấn đề được quan tâm
và tranh luận cả về lý luận lẫn thực tiễn Đặc biệt là vấn đề định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu Hiện tội phạm có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp, phương pháp, thủ đoạn ngày càng tinh vi; tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng Hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là những hành vi được xác định trong cấu thành của tội phạm nghiêm trọng xuyên suốt trong lịch sử pháp luật hình
sự cũng như trong Bộ luật hình sự hiện hành của nước ta Các hành vi này cùng một lúc xâm phạm hai khách thể: quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội từ thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đến thiệt hại về tài sản của người bị hại Tuy vậy, vấn đề nghiên cứu về định tội danh các tội phạm này vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ thể và toàn diện
Định tội danh cho hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là khá phức tạp và khó khăn, do các hành vi này mang tính khái quát cao, có thể tồn tại trong nhiều tội danh khác nhau với những biểu hiện và ý nghĩa khác nhau, dẫn đến sự bối rối và khó khăn cho những người tiến hành định tội danh Hoạt
Trang 7động định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn những hạn chế, bất cập như không xác định chính xác sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm thực tế với cấu thành tội phạm, đặc biệt đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo không thể hiện các yếu tố cấu thành tội phạm một cách đặc trưng, rõ ràng, nhất là các yếu tố khách quan mà chủ yếu là hành vi thực hiện tội phạm Nguyên nhân của những vướng mắc, hạn chế này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như bất cập của văn bản giải thích luật, nhận thức pháp luật thiếu thống nhất, phân biệt các tội phạm chiếm đoạt tài sản có sử dụng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực còn những khó khăn nhất định về lý luận cũng như thực tiễn dẫn đến tranh chấp trong việc định tội danh các hành vi này Ngoài ra bất cập trong hoạt động định tội danh những hành vi trên một phần cũng xuất phát từ trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng còn hạn chế, thậm chí đôi khi là sự thiếu tinh thần trách nhiệm
Định tội danh là vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự hình sự nói chung và vụ án có liên quan hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nói riêng, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt một cách công minh, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng… góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mọi công dân Việc định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, đặc biệt là không đảm bảo được tính có căn cứ của hình phạt được tuyên, xét
xử không đúng người đúng tội, không đúng pháp luật Đây cũng là một nguyên nhân của tình trạng oan, sai đang tồn tại Đòi hỏi các chủ thể định tội danh phải có trình độ lý luận cơ bản và vững chắc, trên cơ sở đánh giá, phân tích, tổng hợp từng yếu tố của vụ án, áp dụng các văn bản pháp luật liên quan một cách chính xác thì mới định tội danh đúng
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, thống nhất nhận thức các quy định của Bộ luật Hình sự về định tội danh các hành vi này; phân biệt giữa các tội có sử dụng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong nhóm tội xâm phạm sở hữu, hay giữa chúng với một số tội phạm khác; phân tích những sai sót, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật,
Trang 8trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh đối với các hành vi nêu trên có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Điều đó lý giải
việc người viết chọn đề tài nghiên cứu “Định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vì tầm quan trọng của hoạt động định tội, các chuyên gia Luật hình sự trong nước đã tốn rất nhiều tâm huyết để cho ra đời những tài liệu quý giá giúp cho việc định tội ngày càng chính xác hơn Trong số đó, có tác giả đi sâu nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội phạm, làm rõ mối quan hệ giữa chúng với cơ sở trách nhiệm hình sự giúp cho người định tội nhận thức sâu sắc về bản chất
của tội phạm như: Tìm hiểu khái niệm và những đặc trưng cơ bản của tội phạm theo
Luật hình sự Việt Nam của TS Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
6/2001; Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB Công an nhân dân (2008) của GS
TS Nguyễn Ngọc Hòa biên soạn Có tác giả đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống những lý luận chung của toàn bộ quá trình định tội: Định tội danh một số vấn
đề lý luận và thực tiễn của TS Lê Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3, 4, 5, 6 và
8/1999; Lý luận chung về định tội danh, NXB Công an nhân dân (2003) của PGS.TS Võ Khánh Vinh; Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự
Việt Nam, NXB Công an nhân dân (2004) của TS Lê Văn Đệ Có tác giả đi sâu
phân tích những trường hợp đặc biệt trong việc định tội: Thay đổi định tội danh -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Toà án
nhân dân số 11 và 12/2003; Định tội danh trong những trường hợp đặc biệt, luận
văn cao học Luật của Tạ Thị Kim Tuyến, do PGS.TS Võ Khánh Vinh hướng dẫn Cũng có tác giả đi sâu nghiên cứu từng dấu hiệu của tất cả các tội phạm được quy
định trong Bộ luật hình sự: các Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội
phạm của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, của Viện nghiên cứu khoa học
pháp lý; Các bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự phần các tội phạm của Thạc sĩ
Đinh Văn Quế Một số tác giả lại tập trung phân tích những dấu hiệu đặc trưng của một tội hoặc một nhóm tội phạm cụ thể giúp cho người định tội nhận thức được sự khác nhau giữa chúng với các tội phạm khác thuộc cùng một nhóm hoặc thuộc
nhóm tội khác trong Bộ luật hình sự: Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong
Bộ luật hình sự 1999 của TS Trần Văn Độ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
6/2000; Đặc điểm và các dạng hành vi cơ bản của tội phạm tin học của Nguyễn
Trang 9Mạnh Toàn, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2002; Về việc xác định tội danh
đối với một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực viễn thông của Mai Thế Bày, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 3/2002; Những dạng hành vi của tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma tuý của Trần Đức Thìn, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2002; Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng của con người của Thạc sĩ Đỗ Đức Hồng Hà, Tạp chí Toà án nhân dân số 2/2003; Phân biệt tội kinh doanh trái phép với một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khác theo
Bộ luật hình sự 1999 của Trần Mạnh Đạt, Tạp chí Toà án nhân dân số 9/2002; Đối
với nhóm tội xâm phạm sở hữu có: Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự
năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị Quốc gia (2010) do
Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ biên soạn; Bàn về định tội danh đối với một số tội xâm
phạm sở hữu của Lê Văn Luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 01/2006; Vấn đề định tội danh trong các tội xâm phạm sở hữu của Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 8/1997; Định tội danh đối với hành vi chiếm đoạt tài sản có thủ
đoạn gian dối trong các tội xâm phạm sở hữu, khóa luận của Vũ Thị Mai Hương
năm 2011; Tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam của Thạc sĩ Nguyễn Văn
Báu, Tạp chí Luật học số 10/2010;
Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản tuy được nghiên cứu nhiều trong khoa học pháp lý hình sự nước ta nhưng nội dung của các hành vi này thường được đặt trong các công trình nghiên cứu về các tội xâm phạm
sở hữu nói chung, trong các giáo trình và bình luận khoa học Bộ luật Hình sự hay ở góc độ tội phạm học và được đề cập trong các bản tổng kết, các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Các công trình đó hoặc đã được thực hiện trên cơ sở pháp luật hình sự cũ hoặc chỉ đề cập đến một số khía cạnh của hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, cho đến nay nhìn chung vẫn còn thiếu công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về việc định tội danh đối với các hành vi này theo quy định của Luật hình sự Việt Nam hiện hành, nêu lên những vướng mắc cũng như tìm ra những nguyên nhân dẫn đến sai sót trong quá trình định tội để có các kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
Trang 103 Mục đích và phạm vi nghiên của đề tài:
Mục đích của đề tài:
Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận định tội danh đối với nhóm tội phạm cụ thể (nhóm tội phạm có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản), phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật chỉ ra những vướng mắc trong thực tế định tội danh đối với các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội danh các hành vi này
độ nội dung pháp lý
Đối tượng nghiên cứu:
Quy định của pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản và thực trạng áp dụng pháp luật đối với các tội phạm này
Nhiệm vụ của đề tài:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về định tội danh các hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động định tội chúng, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động định tội hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm
Trang 11Phương pháp cụ thể là sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phân tích, tổng hợp, so sánh, tham khảo chuyên gia Việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở thực tiễn hoạt động định tội danh hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của các cơ quan tiến hành
tố tụng để làm rõ nội dung đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc nghiên cứu hoàn thành đề tài có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn Đề tài góp một phần vào nhận thức chung về việc định tội danh hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong khoa học luật Hình sự Việt Nam
Kết quả nghiên cứu tổng kết những vướng mắc trong thực tế định tội danh
về hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội đối với chúng, đảm bảo hoạt động định tội các hành vi này được chính xác
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
02 chương:
Chương 1: Khái quát chung về định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
Chương 2: Thực tiễn định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999 và một số kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC, ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC
NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Lý luận chung về định tội danh
1.1.1 Khái niệm, các loại và ý nghĩa của định tội danh
* Khái niệm
Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, định tội danh là một trong những biện pháp, cách thức đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống, là tiền đề, cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Định tội danh được thực hiện thông qua ba khía cạnh, đó là quá trình nhận thức, là hoạt động áp dụng pháp luật và là sự đánh giá pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội
Định tội danh chính là một hoạt động tư duy logic và chặt chẽ, là một quá trình nhận thức từ những điều đã biết để xác nhận những vấn đề chưa biết, quá trình này chịu sự chi phối trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức như quan sát, phân tích, tổng hợp và so sánh cùng các quy luật logic như: quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quy luật bài trung hay quy luật lý do đầy đủ
Định tội danh là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật, định tội danh được hiểu là việc xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm (CTTP) tương ứng do luật hình sự quy định thông qua các thủ tục tố tụng hình sự Hoạt động định tội của những người tiến hành tố tụng có những nét đặc thù tùy thuộc vào chức năng tố tụng mà họ thực hiện Đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên phạm vi hoạt động định tội danh của họ khá rộng, tuy nhiên phạm vi hoạt động của Kiểm sát viên vẫn bị giới hạn bởi những bằng chứng đã được thu thập trong hồ sơ, tức bị giới hạn bởi khung pháp lý Riêng Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì phạm vi hoạt động định tội hẹp hơn bởi chịu sự chi phối của chứng cứ và cáo trạng của Viện kiểm sát, Tòa
án chỉ được định tội danh đối với những hành vi bị Viện kiểm sát truy tố và phải tuân thủ giới hạn xét xử
Trang 13Quá trình định tội danh diễn ra theo ba giai đoạn (ba bước) có tính logic Giai đoạn đầu tiên là xác định quan hệ pháp luật, người tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật hình sự xem xét, đánh giá hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện có dấu hiệu của tội phạm hay không Việc đánh giá này có thể dựa vào các căn cứ như tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ phương tiện thực hiện tội phạm; tính chất mức độ thiệt hại do hành vi gây ra hay tính chất của động
cơ, mức độ lỗi và nhân thân người phạm tội Sau khi xác định hành vi cụ thể thực hiện trên thực tế có dấu hiệu của tội phạm, quá trình định tội danh chuyển sang giai đoạn thứ hai Giai đoạn này những người tiến hành định tội danh xem tội phạm mà chủ thể thực hiện thuộc loại tội phạm nào và được quy định ở chương nào trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự (BLHS) Đó là xác định khách thể loại nào được pháp luật hình sự bảo vệ đã bị tội phạm xâm hại, trong một số trường hợp nhất định thì phải xác định cả chủ thể đặc biệt (như người có chức vụ hoặc quân nhân) Giai đoạn thứ ba của việc định tội là phải xác định xem đó là tội phạm gì, đồng thời tương ứng với CTTP nào (cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ) và thuộc khoản nào trong điều luật cụ thể Giai đoạn tìm quan hệ pháp luật hình sự cụ thể này có thể được coi là quan trọng nhất để so sánh, đối chiếu và kiểm tra các dấu hiệu của tội phạm do điều luật cụ thể nào trong chương đã tìm được của giai đoạn hai quy định Quá trình định tội danh phải trải qua ba giai đoạn trên, cả ba giai đoạn này có thể được thực hiện độc lập, cũng có thể thực hiện một cách đồng thời với nhau
Định tội danh là sự đánh giá pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội Với ý nghĩa là kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh là đánh giá pháp lý hình sự của một chủ thể đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã được thực hiện trên thực tế, nghĩa là kết luận về tội phạm, điều luật cần áp dụng đối với trường hợp phạm tội cụ thể Việc đánh giá pháp lý này được thể hiện thông qua các quyết định tố tụng hình sự Sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự chính là tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật
Như vậy, định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy
đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ
Trang 14thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định 1
* Các loại định tội danh
Căn cứ vào chủ thể tiến hành định tội danh, khoa học luật hình sự phân chia định tội danh làm hai dạng: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức
Định tội danh chính thức cũng như định tội danh không chính thức đều là xác định sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu CTTP được quy phạm pháp luật hình sự quy định Nhưng chủ thể và hậu quả của hai dạng định tội danh này là khác nhau
Định tội danh chính thức: là sự đánh giá về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện Các chủ thể này là các cơ quan tiến hành tố tụng: cơ quan điều tra, truy
tố, xét xử và một số cơ quan khác có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra cũng có quyền định tội danh trong giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án trong phạm vi pháp luật quy định Đại diện cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc định tội danh là những người có thẩm quyền trực tiếp tiến hành tố tụng hình sự đối với
vụ án hình sự cụ thể, đó là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Hậu quả của việc định tội danh do các chủ thể này thực hiện là những hậu quả pháp lý tố tụng hình sự như khởi tố vụ án hình sự, bắt đầu quá trình điều tra, khởi tố bị can, truy tố, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc ra bản án kết tội, trên cơ sở đó phát sinh quyền và nghĩa vụ tương ứng giữa người phạm tội với các cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam hiện hành quy định chỉ có tội danh cuối cùng trong bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới được coi là tội danh chính thức mà người phạm tội đã thực hiện
Định tội danh không chính thức: là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể Các chủ thể của dạng định tội danh này rất đa dạng, không nhất thiết là những người nhất định nào, thường là các luật gia, cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ làm công tác giảng dạy, cán bộ làm công tác thực tiễn, các sinh viên luật… hoặc bất kỳ người nào đó quan
1
Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lý luận chung về định tội danh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 24
Trang 15tâm nghiên cứu vụ án hình sự cụ thể tương ứng mà đưa ra tội danh Việc định tội danh này thể hiện trong các bài báo, báo cáo khoa học, sách chuyên khảo, giáo trình, bài giảng của giáo viên luật.v.v…Định tội danh không chính thức không phát sinh quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ pháp luật hình sự, tố tụng hình sự giữa người thực hiện hành vi nguy hiểm với các cơ quan tố tụng mà chỉ là sự thể hiện quan điểm hay ý kiến cá nhân Tuy nhiên đây là dạng định tội có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật và cũng là một phương pháp nhận thức luật pháp, góp phần trong việc phát triển khoa học luật hình sự, nâng cao kiến thức của cán bộ tư pháp, nâng cao trình độ cho sinh viên luật, đồng thời nó cũng góp phần tạo thành dư luận xã hội về pháp luật
* Ý nghĩa của việc định tội danh
Định tội danh là hoạt động áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào thực tiễn cuộc sống nên nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, thể hiện trên một số khía cạnh sau:
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và BLHS nói riêng là sự cần thiết của khoa học về lĩnh vực tư pháp hình sự Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, do đó định tội danh đúng có nghĩa là tuân thủ chính xác, thống nhất và đầy đủ các quy định của đạo luật hình sự, phản ánh được sự đánh giá pháp lý của Nhà nước đối với tội phạm đã thực hiện Đồng thời hỗ trợ việc thực thi các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong luật hình
sự quốc tế cũng như trong luật hình sự nước ta như nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm, trách nhiệm do lỗi, nguyên tắc nhân đạo Như vậy, tất cả những điều này cho thấy định tội danh đúng góp phần bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa Định tội danh đúng còn bảo đảm quyền con người, quyền đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào Sự thực thi chính xác trong việc định tội danh là sự bảo đảm tối đa việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, bảo vệ danh
dự nhân phẩm con người Từ đó tạo nên lòng tin của công dân vào tính minh bạch,
sự bình đẳng của pháp luật cũng như sức mạnh và uy tín của hệ thống tư pháp, tính nhân đạo và dân chủ trong xã hội Với ý nghĩa thực tiễn quan trọng này, định tội danh thật sự là một trong những công cụ bảo vệ các quyền và tự do của con người
Trang 16với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại
Định tội danh đúng là bảo đảm công bằng xã hội, bởi khi hành vi của người có lỗi cấu thành tội phạm nghiêm trọng hơn nhưng lại được định tội danh theo tội nhẹ hơn hay ngược lại hành vi cấu thành tội ít nghiêm trọng nhưng bị định tội nặng hơn, tức người có lỗi chịu hình phạt ít nghiêm khắc hơn hoặc quá nghiêm khắc so với hình phạt đáng lẽ người đó phải chịu theo luật, còn tội phạm thì được đánh giá nhẹ
về đạo đức, chính trị và pháp lý một cách thiếu cơ sở Điều đó làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh với tình hình tội phạm và cùng lúc gây ra sự căm phẫn hợp pháp, công bằng của nhân dân Nên định tội danh đúng là đáp ứng được đòi hỏi của nguyên tắc công bằng
Ngoài ra, định tội danh còn là kênh thực hiện hóa chính sách hình sự vào thực tiễn Một trong ba hình thức chủ yếu của việc triển khai chính sách hình sự vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ngoài sáng tạo pháp luật và giáo dục, phát triển ý thức pháp luật, văn hóa pháp lý trong xã hội, thì đó chính là hình thức áp dụng pháp luật Chính sách hình sự đã được pháp điển hóa thông qua các quy phạm pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự Và định tội danh chính là hoạt động thực tế của các cơ quan tiến hành tố tụng đưa các quy phạm pháp luật hình sự, tố tụng hình sự này vào điều chỉnh các quan hệ xã hội trong thực tiễn Định tội danh đúng sẽ là tiền đề cho việc xác định khung hình phạt, quyết định hình phạt được chính xác, phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ, đúng pháp luật Đồng thời để áp dụng chính xác các quy định của BLHS về các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi, tái phạm, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, án treo, thời hiệu v.v…
Định tội danh đúng là điều kiện cho việc áp dụng các quy định tố tụng hình sự như thời hạn tạm giam, các biện pháp ngăn chặn, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử…Bằng cách này, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự Bên cạnh
đó, định tội danh đúng cũng là yếu tố bảo đảm xác định chính xác tình hình tội phạm trong một không gian, thời gian nhất định
Trang 171.1.2 Cấu thành tội phạm – cơ sở pháp lý của định tội danh
Về mặt khoa học luật hình sự thì CTTP được coi là cơ sở pháp lý của định tội danh, thực hiện việc định tội danh theo các dấu hiệu của CTTP là phương pháp khoa học của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Muốn định tội danh cho hành vi cụ thể gây nguy hiểm cho xã hội, người áp dụng luật hình sự phải căn cứ vào các CTTP đã được quy định trong BLHS Việc xác định tội danh chính là quá trình xác định xem hành vi phạm tội đã thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP nào trong BLHS Nếu các tình tiết của hành vi phạm tội phù hợp với các dấu hiệu của CTTP được quy định trong BLHS thì hành vi được định theo tội danh của CTTP đó Chính
vì vậy CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS và là mô hình pháp lý của tội phạm
* Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự
CTTP được hình thành trên cơ sở tổng hòa các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố của CTTP: khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phân chia các dấu hiệu trong CTTP theo bốn yếu
tố trên là tương đối, chúng tồn tại trong một thể thống nhất tạo nên các CTTP riêng biệt
là giai đoạn cần thiết, đầu tiên trong định tội danh, nó cho người áp dụng luật hình
sự định hướng tìm được một quy phạm cần thiết trong hệ thống pháp luật hình sự Trong cấu thành của một tội phạm cụ thể, khách thể của tội phạm là khách thể trực tiếp
2 Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr
62
Trang 18Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại Bất cứ tội phạm nào cũng đều có khách thể trực tiếp Có tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp, nhưng cũng có tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp Đó là trường hợp tội phạm xâm hại trực tiếp nhiều quan hệ xã hội và sự gây thiệt hại cho bất cứ quan hệ xã hội nào trong số những quan hệ xã hội bị gây thiệt hại cũng đều chưa thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi chỉ được thể hiện một cách đầy
đủ trong sự tổng hợp các thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho tất cả các quan
hệ xã hội Nên không phải chỉ có một quan hệ xã hội được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm Ví dụ: hành vi cướp tài sản vừa trực tiếp xâm hại quan hệ sở hữu vừa trực tiếp xâm hại quan hệ nhân thân nên quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân đều là khách thể trực tiếp của hành vi cướp tài sản
Khách thể trực tiếp là cơ sở để người định tội danh xác định được CTTP cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội của người phạm tội Định tội danh theo khách thể trực tiếp của tội phạm là việc đánh giá pháp lý hình sự một trong những yếu tố thể hiện rõ nét bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhằm lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự trong phần các tội phạm của BLHS, làm căn cứ pháp lý cho các bước tiếp theo của hoạt động định tội
Ngoài ra, khi định tội danh cần phân biệt khách thể của tội phạm với đối
tượng bị sự xâm hại của hành vi phạm tội “Đối tượng tác động của tội phạm là bộ
phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ”3
Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm các loại sau:
- Con người có thể là đối tượng tác động của tội phạm Con người với ý nghĩa vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội có thể là chủ thể của nhiều quan hệ
xã hội khác nhau Trong số những quan hệ xã hội này có những quan hệ xã hội chỉ
có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại này
- Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm Trong những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
3 Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr
67
Trang 19vệ, có những quan hệ xã hội bị tội phạm gây thiệt hại qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vật chất như quan hệ sở hữu …Tất cả những hành vi làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản một cách trái pháp luật đều
là những hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu như hành vi chiếm đoạt, hành vi chiếm giữ, hành vi sử dụng, hành vi hủy hoại hay làm hư hỏng v.v…
- Hoạt động bình thường của chủ thể có thể là đối tượng tác động của tội phạm Luật hình sự bảo vệ những loại quan hệ xã hội nhất định qua việc bảo đảm hoạt động bình thường của chủ thể với ý nghĩa là nội dung của quan hệ xã hội Trong những trường hợp này hoạt động bình thường của chủ thể được coi là đối tượng của tội phạm Sự làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động ở đây chính
là sự cản trở hoạt động bình thường của chủ thể hoặc dưới hình thức làm biến dạng
xử sự của người khác hoặc dưới hình thức tự làm biến dạng xử sự của chính mình
Ví dụ: hành vi đưa hối lộ (Điều 289 BLHS) là hành vi nhằm làm biến dạng xử sự của người có chức vụ, quyền hạn; Hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 259 BLHS) là hành vi tự làm biến dạng xử sự của chính mình
Đối tượng tác động của tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội danh Nó là yếu tố có ý nghĩa định tội Ví dụ: đối tượng của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm theo Điều 155 BLHS phải là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh Hoặc trong một số trường hợp đối tượng phạm tội là tình tiết định khung của tội phạm Ví dụ: trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trong tội hiếp dâm theo Điều 112 BLHS Vì vậy, để định tội danh đúng trong những trường hợp này, một mặt cần phải phân tích, nhận thức đúng các quy định của pháp luật về vai trò của các loại đối tượng, mặt khác phải xác định được đối tượng cụ thể trên thực
tế
Như vậy, quá trình xác định khách thể của tội phạm nhìn từ góc độ định tội danh là quá trình tìm câu trả lời cho các câu hỏi: hành vi phạm tội xâm hại hoặc có thể xâm hại tới quan hệ xã hội nào? Những quy phạm pháp luật hình sự nào bảo vệ quan hệ xã hội đó? Định tội danh theo khách thể tội phạm giúp làm sáng tỏ một trong những yêu cầu của quá trình định tội, bởi bất cứ tội phạm nào cũng là sự thống nhất hữu cơ của các dấu hiệu CTTP
Trang 20Mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan4
Mặt khách quan bao gồm: hành vi phạm tội, hậu quả nguy hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra cũng như những biểu hiện bên ngoài khác như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội v.v…Việc đánh giá chính xác về mặt pháp lý hình sự các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm giúp người định tội danh phân biệt đúng từng tội phạm cụ thể, căn cứ vào các dấu hiệu cơ bản và điển hình nhất được nhà làm luật ghi nhận với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tại điều (khoản) tương ứng trong Phần các tội phạm BLHS, đồng thời tạo lập được một hệ thống lập luận chính xác, khách quan
để từ đó đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi đã thực hiện một cách thuyết phục
- Hành vi khách quan là dấu hiệu bắt buộc thuộc mặt khách quan, hành vi này được người phạm tội thực hiện qua hành động hoặc không hành động phạm tội Hành động phạm tội là người phạm tội thực hiện những động tác cơ học của cơ thể
mà luật hình sự cấm Không hành động phạm tội là người phạm tội không thực hiện những động tác mà theo pháp luật họ có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được Việc xác định, phân loại được CTTP nào có hành vi chỉ là hành động, cấu thành nào có hành vi chỉ là không hành động, cấu thành nào có cả hai hành vi hành động và không hành động có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh đúng
- Hậu quả của tội phạm là những thay đổi nhất định trong thế giới khách quan do hành vi phạm tội gây ra đối với các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ, hậu quả này có thể ở dạng vật chất hoặc phi vật chất Do đó, việc xác định rõ hậu quả phạm tội cũng là điều kiện quan trọng để định tội danh đúng Hậu quả phạm tội khi được nhà làm luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm tại các cấu thành tương ứng thì người định tội danh nhất thiết phải xác định được hậu quả
đó, nếu không xác định được hậu quả theo luật định thì hành vi đó không CTTP hoặc CTTP ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay giai đoạn phạm tội chưa đạt Trường hợp hậu quả không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm tại các
4 Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr
71
Trang 21khung tương ứng thì nó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt
- Việc xác định rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra chính là điều kiện quan trọng để định tội danh chính xác và quyết định hình phạt đúng pháp luật Quan hệ nhân quả là mối quan hệ giữa các hiện tượng của thế giới khách quan, tồn tại bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội Một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nếu về mặt khách quan hậu quả đó do chính hành vi của họ gây ra Xác định điều này chính là sự xác định giữa hành vi và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau Xác định quan hệ nhân quả là xác định mối quan hệ đặc biệt giữa hai hiện tượng khách quan: hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Quan hệ nhân quả không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà chỉ tồn tại trên cơ sở tồn tại của hai hiện tượng khách quan đó Để xác định rõ quan hệ nhân quả đòi hỏi người định tội danh phải xác định được những căn cứ sau:
+ Nguyên nhân bao giờ cũng xảy ra trước so với hậu quả về mặt thời gian Không thể có nguyên nhân xảy ra đồng thời hoặc sau hậu quả, đây là căn cứ cần thiết đầu tiên cho việc kiểm tra sự tồn tại của quan hệ nhân quả Vì vậy nếu xác định căn cứ này không thỏa mãn thì có thể loại trừ được sự tồn tại quan hệ nhân quả
+ Hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm phải có khả năng thực tế gây ra hậu quả và cũng chính là nguyên nhân gây ra hậu quả
+ Khi hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm được thực hiện thì
nó tạo ra sự thay đổi tình trạng bình thường của đối tượng bị tác động và khả năng thực tế gây nên hậu quả phạm tội trong thực tế khách quan
- Ngoài ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải thu thập, kiểm tra và đánh giá các tình tiết khác thuộc mặt khách quan của tội phạm như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, thủ đoạn, phương pháp, phương tiện thực hiện tội phạm, bởi các tình tiết này trong một số trường hợp là dấu hiệu cơ bản của CTTP có ý nghĩa về định tội danh hoặc trong việc định khung tăng nặng Trường hợp không được luật quy định là dấu hiệu bắt buộc của CTTP, thì các tình tiết đó cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc cá thể hóa hình phạt
Trang 22Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội Mặt chủ quan phản ánh mối liên hệ giữa ý thức và ý chí của người phạm tội với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó đã thực hiện Đánh giá pháp lý các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm là nhằm xác định hình thức lỗi của tội phạm được thực hiện cũng như vai trò của lỗi, động cơ và mục đích phạm tội trong việc định tội danh đối với tội phạm
Nguyên tắc chung khi xem xét mặt chủ quan của tội phạm, người định tội
danh nhất thiết phải chứng minh được lỗi (cố ý hoặc vô ý) của tội phạm “Người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện kiện để nhận thực được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội”5 Trong BLHS hiện hành có quy định một số CTTP mà trong đó hình thức lỗi hoặc mục đích phạm tội được nhà làm luật ghi nhận là dấu hiệu định tội bắt buộc của CTTP cơ bản, những trường hợp này để đảm bảo định tội danh chính xác đòi hỏi người định tội danh cần xem xét hành vi cụ thể nào trong thực tế khách quan cho phép nói lên rõ rệt nhất ý thức và ý chí cũng như động cơ và mục đích của người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan của người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội Trong quá trình định tội danh, động cơ và mục đích phạm tội chỉ được xem xét trong các tội có lỗi cố ý Chỉ trong trường hợp luật quy định về dấu hiệu động cơ, mục đích thì chúng mới là dấu hiệu định tội
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố CTTP, vì vậy nếu không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội phạm thì hành vi nguy hiểm cho xã hội sẽ không bị coi
là tội phạm “Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt
độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể”6
5 Nguyễn Ngọc Hòa (2008), Tội phạm và cấu thành tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.91
6 Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân
dân, Hà Nội, tr 69
Trang 23Một người để trở thành chủ thể của tội phạm đòi hỏi người đó phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định Năng lực trách nhiệm hình sự
là năng lực nhận thức được ý nghĩa xã hội của hành vi thực hiện và năng lực điều khiển được hành vi theo đòi hỏi tất yếu của xã hội Để có được năng lực này, con người phải đạt độ tuổi nhất định được quy định tại Điều 12 BLHS Do đó, hai điều kiện năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc của chủ thể của tội phạm Hai dấu hiệu này được phản ánh trong tất cả các CTTP
Tóm lại, khi xác định các dấu hiệu của một CTTP cụ thể cần phải xem xét toàn bộ hệ thống pháp luật hình sự hiện hành Việc làm sáng tỏ CTTP được hiểu là làm sáng tỏ một kết luận logic, vì vậy nó là một đảm bảo quan trọng đối với định tội danh chính xác Và định tội danh là việc đối chiếu, so sánh một hiện tượng xảy ra trong thực tiễn khách quan sinh động với một CTTP, với những dấu hiệu đặc trưng
cơ bản nói lên bản chất của loại tội phạm tương ứng
* Cấu thành tội phạm là mô hình pháp lý của tội phạm
Phần các tội phạm của BLHS tồn tại như một mô hình về tội phạm làm cơ sở pháp lý cho việc định tội danh Mô hình đó thể hiện dưới dạng một cấu thành cụ thể
và sự đánh giá tội phạm về phương diện pháp lý của Nhà nước tức định tội danh được thể hiện dưới dạng CTTP đó Bởi vậy CTTP là mô hình khái quát, mang tính khoa học gồm những dấu hiệu chung, cơ bản nhất của tội phạm cùng thuộc một loại Đó là những dấu hiệu điển hình và có tính lặp đi lặp lại ở tất cả các hành vi phạm tội thuộc loại đó CTTP là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ để xác định tội phạm Chúng cần ở nghĩa thiếu bất kỳ một dấu hiệu nào của cấu thành đều không thể buộc tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và do đó không thể truy cứu trách nhiệm hình sự người đó Chúng đủ vì không cần phải xác định thêm những dấu hiệu khác mới có cơ sở buộc tội và đủ để phân biệt một CTTP cụ thể này với các CTTP khác (điều này không loại trừ việc xác định các tình tiết thực tế khác nhằm cá thể hóa hình phạt, quyết định hình phạt bổ sung…)
CTTP là khái niệm pháp lý của loại tội phạm cụ thể, là sự mô tả khái quát loại tội phạm nhất định trong luật hình sự Quan hệ giữa tội phạm với CTTP là quan
hệ giữa hiện tượng và khái niệm Tội phạm là hiện tượng xã hội cụ thể, tồn tại khách quan còn CTTP là khái niệm pháp lý của hiện tượng đó Khi CTTP đã được quy định trong luật hình sự thì nó có giá trị pháp lý để thực hiện Khi đã xác định
Trang 24được CTTP của một loại tội phạm cụ thể thì các nhà làm luật đặt tên và đưa vào quy định trong luật hình sự, nhờ đó có thể định tội này hay tội khác Mỗi CTTP được các nhà làm luật đặt một tên tương ứng với điều luật, tức trở thành tội danh được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS Như vậy có thể nói rằng, nếu không
có CTTP được quy định trong luật hình sự thì cũng không có cơ sở để xác định một tội phạm với tên gọi cụ thể - tức tội danh nào đó Vì vậy, CTTP là mô hình pháp lý của tội phạm
CTTP là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự, là cơ sở pháp lý để định tội danh, còn cơ sở thực tế để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người
là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực hiện Điều này loại trừ nguyên tắc tương tự trong pháp luật hình sự, đồng thời đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong
áp dụng pháp luật hình sự, đảm bảo cho việc định tội danh được tiến hành trên cơ
rõ ràng, phản ánh được những nội dung biểu hiện về cấu trúc có tính đặc trưng của một loại tội, đủ để phân biệt các loại tội phạm với nhau đồng thời phân biệt với trường hợp chưa phải là tội phạm
+ CTTP tăng nặng: là CTTP ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung tăng nặng, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể
+ CTTP giảm nhẹ: là CTTP ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung giảm nhẹ, tức dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể
Để xác định tội danh, cơ sở pháp lý của việc xác định tội danh là CTTP cơ bản Một người chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt giảm nhẹ hay tăng nặng khi đã thỏa mãn các dấu hiệu cơ bản của CTTP Các cấu
Trang 25thành tăng nặng hay giảm nhẹ đều xuất phát từ các dấu hiệu đặc trưng cơ bản của tội phạm cộng với tình tiết định khung tăng nặng hoặc giảm nhẹ
Như vậy, với sự phân tích trên có thể thấy rằng trong ba loại CTTP này chỉ CTTP cơ bản là cấu thành có ý nghĩa trong việc định tội danh
Khoa học luật hình sự cũng phân loại CTTP theo đặc điểm cấu trúc của nó gồm:
+ CTTP vật chất: là cấu thành mà mặt khách quan bao gồm hành vi, hậu quả
và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Để xác định một tội phạm hoàn thành khi định tội danh phải xác định tất cả các tình tiết đó
+ CTTP hình thức: là cấu thành có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành
vi nguy hiểm cho xã hội Còn hậu quả của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với định tội danh, tức là để định tội danh chỉ cần xác định hành vi phạm tội là
đủ
+ CTTP cắt xén: cũng giống trong CTTP hình thức, trong CTTP loại này chỉ
có dấu hiệu hành vi mà không có dấu hiệu hậu quả Nhưng khác với CTTP hình thức, dấu hiệu hành vi trong CTTP cắt xén không phải là sự phản ánh chính hành vi phạm tội (của loại tội được CTTP cắt xén phản ánh) mà là hành vi “hoạt động” nhằm thực hiện hành vi đó – hành vi phạm tội của loại tội phạm được CTTP cắt xén phản ánh CTTP tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 BLHS)
là CTTP thuộc loại này Trong CTTP của tội này, dấu hiệu hành vi phản ánh tất cả những hoạt động nhằm thành lập hoặc tham gia tổ chức có mục đích lật đổ chính quyền, chứ không phải phản ánh chính hành vi thành lập hoặc tham gia là hai loại hành vi phạm tội của loại tội phạm này Trong CTTP cắt xén thì tội phạm hoàn thành ngay từ khi có hành vi bất kỳ nhằm thực hiện hành vi phạm tội
Như vậy, việc phân loại CTTP theo đặc điểm cấu trúc là cơ sở xác định thời điểm hoàn thành tội phạm, có ý nghĩa cho việc định tội
Trang 261.2 Khái niệm và những đặc trƣng pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu
có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999
1.2.1 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
Trong BLHS Việt Nam hiện hành, các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt được quy định tại Chương XIV (từ Điều 133 đến Điều 140), gồm 8 tội thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu Đó là các tội: Tội cướp tài sản; Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; Tội cưỡng đoạt tài sản; Tội cướp giật tài sản; Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; Tội trộm cắp tài sản; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt và (do vậy) trong cấu thành tội phạm của những tội này
có dấu hiệu chiếm đoạt 7
Từ khái niệm trên cho thấy các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt
là những tội xâm phạm sở hữu có đặc trưng là dấu hiệu chiếm đoạt, dấu hiệu chiếm đoạt có thể là mục đích chiếm đoạt, là hành vi chiếm đoạt hoặc là chiếm đoạt được
“Tội xâm phạm sở hữu là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại chương XIV Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến chế độ sở hữu của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân”8 Với khái niệm này, có thể thấy đây là cách tiếp cận dựa vào các đặc trưng
cơ bản của tội phạm để khái quát nên khái niệm các tội xâm phạm sở hữu Và theo
đó các tội xâm phạm sở hữu cũng có đầy đủ các dấu hiệu tội phạm đó là tính trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, và phải chịu hình phạt
“Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”9 Đây là tiếp cận khái niệm các tội xâm
7 Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr
Trang 27phạm sở hữu trên góc độ bản chất của hành vi và theo đó các tội xâm phạm sở hữu cũng gồm các yếu tố như là hành vi có lỗi, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu, quan hệ nhân thân
Các tội xâm phạm sở hữu được chia thành hai nhóm: các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt và các tội xâm phạm sở hữu khác Các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là những tội phạm thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt Các tội phạm này có những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đó là các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực gây thiệt hại hoặc tạo ra khả năng gây thiệt hại cùng một lúc cho cả hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Các hành vi này do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định thực hiện Bên cạnh đó, các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực là những hành vi có lỗi được thể hiện dưới hình thức cố ý Tức người phạm tội nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra Qua các đặc điểm này, có thể đưa ra khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản như sau:
Các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ
sở hữu và quan hệ nhân thân, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đúng độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác
BLHS năm 1999 quy định hai tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản gồm: tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
Điều 133 BLHS quy định tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản Về cơ cấu, tội cướp tài sản gồm 5 khoản với các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt Và hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật
Điều 135 BLHS quy định tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Tội
Trang 28này có 5 khoản cùng nhiều tình tiết là yếu tố định khung hình phạt như: phạm tội có
tổ chức; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; giá trị tài sản được lượng hóa bằng một số tiền
cụ thể Ngoài ra hình phạt bổ sung cũng được quy định ngay trong điều luật
1.2.2 Những đặc trưng pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
Giống như những tội phạm khác, các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng
vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản cũng có những dấu hiệu chung
có tính chất đặc trưng pháp lý với bốn yếu tố CTTP, đó là khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm
- Khách thể của các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản
Bản chất nguy hiểm của các tội phạm này là đồng thời xâm phạm đến hai khách thể: quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Do vậy, cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp của tội phạm Như vậy, các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, sự gây thiệt hại này phải phản ánh được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc xếp các tội này (cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản) vào Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” là xuất phát từ quan điểm cho rằng mục đích chính của người phạm tội là nhằm vào quan hệ sở hữu và việc xâm hại quan hệ nhân thân xét về mặt nào đó chỉ là phương tiện để đạt mục đích chính
Đối tượng tác động của những tội phạm này là tài sản và con người Con người là những người đang sống, đang tồn tại độc lập trong xã hội với tư cách là một thực thể tự nhiên và xã hội Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền
về tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005) Tuy nhiên, có một số vật không phải là đối tượng tác động của các tội phạm này, đó là tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai, tài nguyên trong lòng đất, nước…và các vật có công dụng đặc biệt như phương tiện thông tin liên lạc, các loại vũ khí quân dụng, chất nổ, chất phóng xạ.v.v…Hay vật đã bị chủ tài sản hủy bỏ cũng không được coi là đối tượng tác động của các tội phạm này như gia súc bị chôn do mắc bệnh
Trang 29Về nguyên tắc đối tượng tác động của tội phạm phải là tài sản hợp pháp, nhưng điều này không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp không bị coi là phạm tội, mà những hành vi này vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực Việc coi những hành vi đó là trái pháp luật và có thể bị xử lý hình sự là cần thiết nhằm đảm bảo trật
tự chung của xã hội
- Biểu hiện mặt khách quan của tội phạm
Đây là những tội phạm có CTTP hình thức, thời điểm hoàn thành tội phạm là thời điểm thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản Dấu hiệu mặt khách quan là hành vi Hành vi khách quan của các tội này là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực
Dùng vũ lực: được hiểu là hành vi (hành động) dùng sức mạnh vật chất (có
vũ khí hoặc không có vũ khí) mà người phạm tội tác động vào nạn nhân như đấm,
đá, bóp cổ, bắn, đâm, chém, nhét giẻ vào miệng, trói v.v Hành động tấn công này
có khả năng phương hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công và làm mất khả năng chống cự lại của họ Hậu quả gây thương tích nặng, gây tổn hại nặng cho sức khỏe hoặc làm chết người phải xảy ra ngoài ý muốn của người phạm tội (tức là
cố ý về hành vi và vô ý về hậu quả)10 Người bị tấn công có thể là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản nhưng cũng có thể là người bất kỳ
mà người phạm tội cho rằng người này đã hoặc có khả năng sẽ ngăn cản hành vi chiếm đoạt của mình
Đe dọa dùng vũ lực: là hành vi dọa sẽ gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe nếu không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội Đây là trường hợp người phạm tội bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ (hoặc cả hai) dọa dùng vũ lực để tạo cảm giác cho người bị tấn công sợ và tin rằng người phạm tội sẽ dùng bạo lực nếu chống cự lại việc chiếm đoạt Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa Hành vi đe dọa dùng vũ lực gồm:
+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc: theo Từ điển Luật học “Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi của người cướp tài sản đã sử dụng lời nói hoặc
10 Nghị quyết 04/1986/HĐTPTANDTC ngày 29 tháng 11 năm 1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự
Trang 30cử chỉ hay hành động đe dọa xâm phạm ngay đến tính mạng, sức khỏe và làm tê liệt ngay ý chí chống cự, phản kháng của người có tài sản”11 Với hành vi này người phạm tội có thể làm tê liệt ý chí của người bị tấn công Dấu hiệu ngay tức khắc chỉ
sự nhanh chóng về mặt thời gian (sẽ xảy ra ngay lập tức) và chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa Hành vi này là hành vi khách quan của tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS
+ Hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực: với hành vi này sự đe dọa chưa đến mức có thể làm tê liệt ý chí chống cự của người bị đe dọa mà chỉ có khả năng khống chế ý chí của họ và họ còn có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để quyết định hành động Đây
là hành vi khách quan được quy định tại Điều 135 BLHS về tội cưỡng đoạt tài sản
- Biểu hiện mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực là diễn biến bên trong phản ánh trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra Những dấu hiệu mặt chủ quan của các tội phạm này bao gồm: lỗi và mục đích phạm tội
Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt và mong muốn chiếm đoạt tài sản đó
Mục đích phạm tội là dấu hiệu định tội Đối với các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Nếu hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực không có mục đích “chiếm đoạt tài sản” thì không cấu thành các tội này Vì thế mục đích “chiếm đoạt tài sản” phải có trước hoặc đồng thời với hành vi nguy hiểm cho xã hội
Mục đích giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt bằng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt Đây là trường hợp người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản bằng thủ đoạn không phải là cướp tài sản mà bằng thủ đoạn trộm cắp, cướp giật, cưỡng đoạt…nhưng ngay sau đó bị phát hiện, người phạm tội đã tấn công lại chủ tài sản hoặc người khác nhằm giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt trước đó Thực tiễn
11
Từ điển luật học (2006), NXB TĐ Bách khoa, Hồ Chí Minh, tr.207
Trang 31xét xử coi trường hợp này là trường hợp chuyển hóa từ một số hình thức chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản12
- Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường Những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định theo quy định của Điều 8 và Điều 12 BLHS thì đều
có khả năng trở thành chủ thể của các tội phạm này Tuy nhiên đối với tội cưỡng đoạt tài sản thì chủ thể của tội phạm có độ tuổi đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2, 3 và 4 của Điều 135 BLHS
1.3 Phân biệt các tội phạm
1.3.1 Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản
Đây là hai tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại các Điều 133 và 135 BLHS năm 1999 Để phân biệt hai tội phạm này phải tìm hiểu CTTP của từng tội phạm cụ thể, từ đó rút
ra những điểm giống và khác nhau giữa hai tội phạm này
Theo quy định tại khoản 1 điều 133 BLHS thì tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Còn tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại điều 135 BLHS là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần đối với người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Về cơ bản hai tội phạm này có điểm giống nhau về khách thể đó
là đều xâm phạm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân, có dấu hiệu mặt chủ quan là tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản Sự khác biệt chủ yếu tập trung vào hành vi khách quan và tuổi chịu trách nhiệm hình
12 Nghị quyết số 01/1989/HĐTPTANDTC ngày 19 tháng 4 năm 1989 hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một
số quy định của Bộ luật hình sự
Trang 32Người phạm tội cướp tài sản có thể thực hiện hành vi sử dụng vũ lực, trong khi người phạm tội cưỡng đoạt tài sản không sử dụng hành vi này Việc sử dụng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất để tấn công vào người khác, hành động tấn công này có khả năng làm phương hại đến tính mạng, sức khỏe của người bị tấn công và nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của họ Dùng vũ lực ở đây là nhằm mục đích làm nạn nhân mất khả năng chống cự để cướp tài sản
Đối với tội cướp tài sản thì hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là việc
đe dọa dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất như nói ở trên nếu người bị tấn công không chịu khuất phục, buộc người bị tấn công phải sợ và tin rằng nếu không để cho lấy tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại Còn hành vi đe dọa sẽ dùng
vũ lực của tội cưỡng đoạt tài sản là việc đe dọa sẽ dùng sức mạnh vật chất (có thể gián tiếp hoặc trực tiếp) và có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác nếu không đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản “Sẽ dùng vũ lực” là trường hợp một thời gian nhất định sau khi đe dọa, người phạm tội mới dùng vũ lực Mặc dù cả hai hành vi này thông thường được thể hiện ở thái độ, cử chỉ, lời nói hung bạo để tạo cảm giác cho nạn nhân sợ nhưng hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực” khác với hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” ở chỗ: hành vi đe dọa sẽ dùng
vũ lực có khoảng cách nhất định về thời gian từ khi người phạm tội đe dọa đến lúc dùng vũ lực; còn hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thể hiện sự nhanh chóng
về mặt thời gian (sẽ xảy ra ngay lập tức) từ khi kẻ phạm tội đe dọa đến lúc dùng vũ lực Chính vì sự nhanh chóng về mặt thời gian này nên hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho nạn nhân rơi vào tình trạng không thể chống cự được và tội phạm nhanh chóng chiếm đoạt được tài sản Hơn nữa, xét tính chất thì hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mãnh liệt, hung hãn hơn so với hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực Để phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản trong trường hợp này cần xem xét một cách toàn diện thái độ, hung khí, hoàn cảnh không gian và thời gian, tương quan lực lượng giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa, tình hình trật tự
xã hội nơi và lúc xảy ra hành vi phạm tội.v.v…
Trong tội cướp tài sản, hành vi khác làm cho người bị tấn công tuy biết sự việc đang xảy ra nhưng không có cách nào chống cự được (bị trói, bị nhét giẻ vào miệng không kêu cứu được, bị nhốt vào buồng kín không thể chạy đi cầu cứu…), hoặc tuy không bị nguy hại đến tính mạng, sức khỏe nhưng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra (đánh thuốc mê, cố ý chuốc rượu cho nạn nhân say để lấy
Trang 33tài sản…) Trong khi đó, hành vi dùng thủ đoạn khác ở tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ làm một việc gây thiệt hại về tài sản, danh dự, uy tín nếu người bị
uy hiếp không thỏa mãn yêu cầu chiếm đoạt của người phạm tội (đe dọa hủy hoại tài sản, tố giác hành vi phạm pháp hoặc vi phạm đạo đức của nạn nhân hay đe dọa loan tin về đời tư mà nạn nhân muốn giữ kín…) Hành vi dùng thủ đoạn khác ở đây không có giới hạn, mà bất cứ một thủ đoạn nào có thể uy hiếp, khống chế được ý chí của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản đều được coi là hành vi uy hiếp tinh thần trong tội cưỡng đoạt tài sản
Từ sự phân tích trên cho thấy “thủ đoạn khác” ở tội cưỡng đoạt tài sản thực chất cũng là “hành vi khác” Bởi vì, theo quy định tại Điều 8 BLHS thì tội phạm là hành vi chứ không phải là thủ đoạn Nhưng hành vi khác ở tội cướp tài sản lại khác
“thủ đoạn khác” ở tội cưỡng đoạt tài sản Sự khác nhau giữa hai hành vi này thể hiện ở mức độ khống chế tinh thần nạn nhân Với tội cướp tài sản, hành vi khác đã làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, còn thủ đoạn khác trong tội cưỡng đoạt tài sản chỉ mới uy hiếp tinh thần mà chưa làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được
Xét về chủ thể của tội phạm, theo quy định tại Điều 12 BLHS thì người từ đủ
16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tội cướp tài sản có 4 khoản đều
là từ tội rất nghiêm trọng đến tội đặc biệt nghiêm trọng Tội cưỡng đoạt tài sản có khoản 1 là tội nghiêm trọng, các khoản 2, 3, 4 là tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng Cho nên về mặt chủ thể, hai tội này có sự khác nhau ở chỗ: chủ thể của tội cướp tài sản là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự; Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự, riêng người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 135 BLHS
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì việc định tội danh đối với tội phạm cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản là rất dễ nhầm lẫn Và
sự khác nhau cơ bản giữa hai tội này thể hiện ở dấu hiệu khách quan của CTTP giúp người áp dụng pháp luật định tội danh được chính xác Do vậy, việc phân biệt hai
Trang 34tội phạm này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
1.3.2 Phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực với tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy
Các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 133 và 135 trong Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu”; Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy được quy định tại Điều 221 trong Chương XIX “Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng” của BLHS năm 1999 Các nhà làm luật sở dĩ xếp chúng ở hai Chương khác nhau bởi mặc dù về mặt khách quan các tội phạm này đều có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản, chủ thể thường và là người đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng giữa chúng vẫn có nhiều điểm khác nhau về khách thể, đối tượng tác động và mặt chủ quan
Xét về sự giống nhau: tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy Như vậy, các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy đều có hành vi sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực
để khống chế nạn nhân (chủ sở hữu hay người quản lý tài sản; chủ phương tiện, người điều khiển, bảo vệ phương tiện) làm tê liệt ý chí chống cự của họ để chiếm đoạt tài sản hay tàu bay, tàu thủy Và đây cũng là các tội có CTTP hình thức, tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội đã dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản, tàu bay, tàu thủy Bên cạnh đó, chủ thể của các tội phạm này là chủ thể thường, là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Xét về sự khác nhau: các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản và tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy tuy cùng xâm phạm đến quan hệ sở hữu là tài sản và quan hệ nhân thân là tính mạng, sức khỏe của con người nhưng đối với các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì hành vi gây thiệt hại tài sản mới thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi nên khách thể (quan hệ xã hội) đóng vai trò quyết định là quan hệ sở hữu Trong khi đó tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy bên cạnh xâm hại quan hệ nhân thân, tài sản thì đồng thời còn xâm phạm đến an toàn
Trang 35công cộng và trật tự công cộng (sự an toàn của hoạt động hàng không, hàng hải) và đây chính là khách thể trực tiếp của tội phạm này bởi hành vi gây thiệt hại thể hiện đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho các quy tắc xử sự an toàn xã hội
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản và tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy mới chính là dấu hiệu quan trọng cho việc định tội danh Tàu bay, tàu thủy có tính chất
và công dụng đặc biệt liên quan trực tiếp đến an toàn xã hội và trật tự công cộng nên chúng là đối tượng tác động cụ thể của tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy
+ Tàu bay được hiểu là phương tiện bay trên không bằng động cơ thường hoặc động cơ phản lực phục vụ các hoạt động dân sự, kinh tế, khoa học hay quân sự như máy bay, tàu lượn, khinh khí cầu…
+ Tàu thủy được hiểu là phương tiện giao thông trên sông hoặc trên biển có động cơ và có trọng tải lớn đáng kể, dùng trong các hoạt động chuyên chở người, hàng hóa, nghiên cứu khoa học hay hoạt động quân sự như tàu vận tải, tàu chở khách du lịch, tàu chiến, tàu tuần tra, tàu lặn13
Tuy các tội này đều được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhưng đối với các tội xâm phạm sở hữu có dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực thì mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu đặc trưng, cơ bản thuộc mặt chủ quan của tội phạm, nếu người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không cấu thành tội phạm này
Tóm lại, để hỗ trợ một cách có hiệu quả cho cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung cũng như việc định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nói riêng, thì cần nghiên cứu những vấn đề chung, khái quát mang tính lý luận Việc nghiên cứu và giải quyết những vấn
đề lý luận chung của việc định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa mang tính nguyên tắc, bởi vì chính dựa trên những vấn đề chung đó mới có thể áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh các tội có sử dụng những hành vi này chính xác, đúng pháp luật trong thực tiễn Đồng thời nó bảo đảm tính ổn định của hoạt động định tội danh các tội xâm phạm
sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe đọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong
13 Trường Đại học luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.532
Trang 36thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, đảm bảo tính thống nhất và tính pháp chế trong việc áp dụng pháp luật
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC,
ĐE DỌA DÙNG VŨ LỰC NHẰM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
2.1 Các tội xâm phạm sở hữu có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999
2.1.1 Tội cướp tài sản
* Dấu hiệu pháp lý
Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999 trong Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” Khoản 1 Điều 133 BLHS quy định:
“1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành
vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”
Về khách thể, hành vi cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân Đối tượng tác động là tài sản và con người
Về mặt khách quan, khoản 1 Điều 133 BLHS quy định tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản Như vậy theo quy định của điều luật có ba dạng hành vi khách quan, trong đó:
+ Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động
vào người bị tấn công nhằm làm tê liệt sự chống cự của họ chống lại việc chiếm đoạt tài sản Người bị tấn công có thể là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản nhưng cũng có thể là người bất kì mà người phạm tội cho rằng có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản
+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi bằng lời nói hoặc
bằng cử chỉ (hoặc cả hai) dọa dùng ngay tức thì sức mạnh vật chất nếu người bị tấn công không chịu khuất phục, buộc người bị tấn công sợ và tin rằng nếu không để
Trang 38cho lấy tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa
+ Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể
chống cự được là hành vi làm cho người bị tấn công không có khả năng ngăn cản được việc chiếm đoạt như bị trói, bị nhét giẻ vào miệng, bị nhốt, bị đầu độc, bị gây mê…14
Về mặt chủ quan, tội cướp tài sản được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp Người
phạm tội nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội và mong muốn hành vi đó đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người bị tấn công, để thực
hiện được mục đích chiếm đoạt tài sản Mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc
của cấu thành tội cướp tài sản Đây là tội phạm có cấu thành hình thức và được coi
là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi được quy định tại khoản 1 Điều 133 BLHS, bất luận người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không
Về chủ thể, tội cướp tài sản có chủ thể thường, là người từ đủ 14 tuổi trở lên
Phạm tội có tổ chức (điểm a khoản 2 Điều 133 BLHS): là trường hợp có từ
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện tội cướp tài sản và có sự thống nhất với nhau
về ý chí Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao, phạm tội có tổ chức phải có
sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm Sự câu kết có thể thể hiện dưới các dạng như cùng tham gia một tổ chức phạm tội có người chỉ huy, cầm đầu hay là tổ chức tuy không có người cầm đầu nhưng là sự tập hợp những tên
14 Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (1993), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr 165-166
Trang 39chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội; Cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước hoặc chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả phương án che giấu tội phạm15
Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 133 BLHS): chỉ
áp dụng tình tiết tăng nặng này khi có đủ các điều kiện: Cố ý phạm tội từ 5 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích Đồng thời người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính16
Tái phạm nguy hiểm (điểm c khoản 2 Điều 133 BLHS): Theo quy định tại
khoản 2 điều 49 BLHS thì những trường hợp sau được coi là tái phạm nguy hiểm:
Người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý Tội cướp tài sản là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và phạm tội do cố ý nên đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội cướp tài sản thì đều là phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm
Người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý Đây là trường hợp người phạm tội đã có ít nhất hai án tích trở lên, chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội cướp tài sản
Phạm tội cướp tài sản do sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác (điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS) Vũ khí, phương tiện ở đây không
đồng nhất với công cụ phạm tội, chỉ những công cụ, phương tiện có tính chất dễ dàng gây nguy hiểm đến tính mạng của người bị tấn công mới được coi là vũ khí, phương tiện Thủ đoạn nguy hiểm khác tức người phạm tội có thể dùng các thủ đoạn như sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê với liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi nguy hiểm
15 Tòa án nhân dân Tối cao (1990), Các văn bản về hình sự, dân sự và tố tụng, Hà Nội, tr.75-76
16 Nghị quyết số 01/2006/HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
Trang 40đến tính mạng, sức khoẻ; dùng dây chăng qua đường để làm cho nạn nhân đi mô tô,
xe máy vấp ngã để cướp tài sản đối với người bị tấn công hoặc những người khác17
Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà
tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% (điểm đ khoản 2 Điều 133 BLHS) Đây là trường
hợp người phạm tội đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người bị tấn công
Phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng (điểm e khoản 2 Điều 133 BLHS) Tại II của Thông tư liên tịch số
02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: giá trị tài sản bị cướp được xác định theo giá thị trường của tài sản đó tại địa phương vào thời điểm tài sản bị cướp Trong trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi cướp tài sản có ý định xâm phạm đến tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ, thì lấy giá trị tài sản
đó để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm Trường hợp có đầy đủ căn cứ chứng minh rằng người có hành vi cướp tài sản
có ý định xâm phạm đến tài sản, nhưng không quan tâm đến giá trị tài sản bị xâm phạm, thì lấy giá thị trường của tài sản bị cướp tại địa phương vào thời điểm tài sản
bị xâm phạm để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng (điểm g khoản 2 Điều 133 BLHS) Theo
hướng dẫn của Thông tư liên tịch số BTP ngày 25/12/2001 thì hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả) Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản hoặc hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội) Đối với tội cướp tài sản quy định tại Điều 133 BLHS thì thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng đã được quy định thành tình tiết định khung riêng biệt, cho nên không xem xét các thiệt hại này một lần nữa để đánh giá hậu quả do hành vi phạm tội gây ra
17 Thông tư liên tịch số 02/2001/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 về hướng dẫn
áp dụng một số quy định tại chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự năm 1999