Việc Thông tư quy định như vậy là không phù hợp, thiếu sót do trên thực tế trong quá trình hoạt động các CSYT vẫn làm phát sinh khí thải, ví dụ như: khí thải lò đốt CTYT, các thiết bị sử
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN
Khóa: 37 MSSV: 1253801011564 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Duyên
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
KHÁI QUÁT QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 4
1.1 Khái niệm chất thải y tế 4
1.1.1 Định nghĩa chất thải y tế 4
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 6
1.2 Tác hại của chất thải y tế và sự cần thiết của việc quản lý chất thải y tế
11
1.3 Quản lý chất thải y tế 14
1.3.1 Các mô hình quản lý chất thải y tế trên thế giới 14
1.3.2 Mô hình quản lý chất thải y tế ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 19
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ 19
2.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 19
2.1.1 Giai đoạn phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát chất thải y tế 19
2.1.2 Giai đoạn phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải y tế 20
2.1.3 Giai đoạn tái chế, tái sử dụng chất thải y tế 23
2.1.4 Giai đoạn xử lý chất thải y tế 24
2.2 Nguyên nhân thực trạng quản lý chất thải y tế 29
2.2.1 Quy định pháp luật về quản lý chất thải y tế còn nhiều bất cập, hạn chế
29
2.2.2 Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong quản lý CTYT còn chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn 33
2.2.3 Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý CTYT còn chưa nghiêm, không triệt để 33
2.2.4 Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý chất thải y tế 41
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế 42
Trang 62.3.1 Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải y tế 42 2.3.2 Đẩy mạnh công tác phát hiện, điều tra, xử lý nghiêm vi phạm 42 2.3.3 Hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải y
tế 43 2.3.4 Tăng cường đầu tư cho hoạt động quản lý chất thải y tế 44
KẾT LUẬN 47
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thời đại hiện nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ, cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao về cả vật chất lẫn tinh thần Công tác khám chữa bệnh ngày càng được chú trọng, vấn đề sức khỏe của con người được quan tâm và đặt lên hàng đầu Ngành y tế đã có những chuyển biến mới mẻ với những máy móc, trang thiết bị hiện đại phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của con
người Tính đến hết năm 2015, Việt Nam có 13.674 cơ sở y tế (CSYT), trong đó có
1.253 bệnh viện; 1.037 cơ sở thuộc hệ dự phòng; 100 cơ sở đào tạo; 180 cơ sở sản xuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã1 Nhưng song song với sự phát triển đó có nhiều vấn đề phát sinh và cần phải được quan tâm Ngành y tế càng phát triển thì càng
phát sinh nhiều chất thải y tế (CTYT) từ các hoạt động: khám bệnh, chữa bệnh, xét
nghiệm, phẫu thuật, nghiên cứu Chỉ tính riêng khối bệnh viện, mỗi ngày phát thải khoảng 450 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 47 tấn chất thải rắn y tế nguy hại Tổng lượng nước thải y tế từ các bệnh viện khoảng 125.000 m3/ngày đêm2
Những chất thải này có thể chứa các yếu tố độc hại và gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người và môi trường nếu không được thu gom, phân loại, xử lý đúng quy trình Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do các loại CTYT gây ra
Trước thực trạng ô nhiễm môi trường từ CTYT, thời gian qua Đảng ta đã ban
hành nhiều văn bản chiến lược bảo vệ môi trường (BVMT) như: Nghị quyết
41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với
đó, Nhà nước cũng cho ra đời nhiều văn bản pháp luật ra đời, đặc biệt là Luật Bảo
vệ môi trường (Luật số số 52/2005/QH11) ngày 29 tháng 11 năm 2005 (Luật BVMT năm 2005), Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng
6 năm 2014 (Luật BVMT năm 2014) cùng với các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành bước đầu tạo hành lang pháp lý để các chủ thể có liên quan thực hiện hoạt động quản lý CTYT Tuy nhiên, vấn đề quản lý CTYT vẫn đang là một vấn đề nan giải, pháp luật về quản lý CTYT vẫn chưa được quy định một cách đầy đủ, cũng như việc xử lý CTYT chưa được quan tâm đặc biệt và còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như trách nhiệm của cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý CTYT, quy trình xử lý CTYT đặc biệt là xử lý CTYT nguy hại, công tác xử lý vi phạm pháp
1 Nguyễn Hữu Hùng, “Xử lý chất thải y tế vẫn là gách nặng cho ngân sách bệnh viện”,
http://vihema.gov.vn/xu-ly-chat-thai-y-te-van-la-ganh-nang-cho-ngan-sach-benh-vien.html, truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016
2 Nguyễn Hữu Hùng, tlđd (1)
Trang 8luật về quản lý CTYT… cần phải được xem xét và đánh giá Những hạn chế, bất cập trên là rào cản lớn đối với hoạt động quản lý CTYT hiện nay Vì vậy, việc xây dựng những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTYT ở Việt Nam hiện nay
là đòi hỏi cấp thiết góp phần đảm bảo phát triển bền vững Đây chính là lý do tác
giả chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế
tại Việt Nam” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc nghiên cứu các khía cạnh của công tác quản lý chất thải có một số đề tài như:
- Hoàng Thị Vui (2008), Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường ở Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
- Võ Thị Bích Hiền (2013), Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường trong
khu công nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh
- Phạm Thị Hợp (2014), Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trong khu công
nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
- Tổng quan về hoạt động quản lý chất thải nguy hại có đề tài khóa luận của Võ
Thúy An (2011), Quản lý chất thải nguy hại – Thực trạng và kiến nghị, Khóa luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh…
Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu trên các tạp chí Luật học, tạp chí Nhà nước
và pháp luật, tạp chí Dân chủ và pháp luật hay tạp chí Tài nguyên và môi trường, nghiên cứu pháp luật môi trường dưới nhiều khía cạnh pháp lý khác nhau như:
- Trần Minh Hưởng (2010), “Rác thải bệnh viện và giải pháp phòng ngừa vi phạm
pháp luật về môi trường trong lĩnh vực y tế ở nước ta”, Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 11 (224)
- Nguyễn Văn Phương (2013), “Pháp luật về quản lý chất thải của một số quốc gia
và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 09 (160)
- Vũ Thị Duyên Thùy (2016), “Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
và một số nước trên thế giới”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 3 (288)
- Nguyễn Đức Việt (2011), “Quản lý chất thải nguy hại được đưa vào Việt Nam”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 08 (280)…
Các nghiên cứu trước đây chỉ mới xoay quanh các vấn đề về quản lý chất thải, quản lý chất thải rắn thông thường, quản lý chất thải nguy hại mà chưa có đề tài nào
Trang 9nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTYT Hơn nữa, hiện nay, Luật BVMT năm 2014 đã có hiệu lực và thay thế Luật BVMT năm 2005 với nhiều nội dung được thay đổi, bổ sung, trong khi đó phần lớn các khóa luận, bài viết nêu trên đều nghiên cứu các vấn đề theo quy định của Luật BVMT năm 2005 Nên tác giả lựa chọn đề tài này và mong rằng khóa luận có thể góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý CTYT ở Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của đề tài là nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác quản lý CTYT Từ đó, tác giả đề xuất kiến nghị cũng như giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý CTYT tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: khóa luận tập trung nghiên cứu các quy định pháp
luật của Việt Nam liên quan tới quản lý CTYT, thực trạng quản lý CTYT tại Việt Nam và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTYT
- Phạm vi nghiên cứu: trong phạm vi khóa luận này, tác giả chỉ nghiên cứu về
khía cạnh pháp lý và thực tiễn thực hiện của vấn đề quản lý CTYT còn những kiến thức chuyên sâu về y học, kỹ thuật sẽ không được đề cập cụ thể
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc các quan điểm trong các tài liệu liên quan đến quản lý CTYT, khóa luận được trình bày chủ yếu dựa trên phương pháp phân tích, tổng hợp những thông tin thu thập được, từ đó so sánh, đối chiếu các quan điểm khác nhau để đưa ra nhận xét, ý kiến của mình Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp duy vật biện chứng dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin để trình bày một số vấn đề lý luận cụ thể
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong
đó, phần nội dung được bố cục trong hai chương:
Chương 1: Khái quát quản lý chất thải y tế
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế
Trang 10CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ
1.1 Khái niệm chất thải y tế
1.1.1 Định nghĩa chất thải y tế
Khái niệm chất thải lần đầu tiên được quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi
trường ngày 27 tháng 12 năm 1993 (Luật BVMT năm 1993): “Chất thải là chất
được loại ra trong sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hoặc trong các hoạt động khác Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng hoặc các dạng khác” Tuy khái niệm
này đã nêu được nguồn phát sinh và các dạng tồn tại của chất thải nhưng lại gây khó khăn trong việc xác định chất thải vì “chất” rất rộng bao gồm vật chất, các chất hóa học, các yếu tố vật lý và sinh học Mặt khác, trên thực tế chất thải phát sinh trong rất nhiều lĩnh vực, hoạt động chứ không chỉ trong sinh hoạt và trong quá trình sản xuất
Khắc phục những điểm yếu này, Luật BVMT năm 2005 đã có sự sửa đổi về
khái niệm chất thải như sau: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra
từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”3 Như vậy, Luật
BVMT năm 2005 đã khẳng định chất thải là “vật chất” và xác định cụ thể các dạng
tồn tại của nó đó là rắn, lỏng, khí và chất thải không chỉ phát sinh từ hoạt động sinh hoạt và sản xuất mà bao gồm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt Đến Luật BVMT năm 2014, khái niệm chất thải trong Luật BVMT năm 2014 nhìn chung có nội hàm không khác so với khái niệm nêu trong Luật BVMT năm
2005 nhưng được diễn đạt ngắn gọn và tính khái quát cao hơn: “Chất thải là vật
chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”4
Sự ngắn gọn và tính khái quát cao của khái niệm chất thải trong Luật BVMT năm 2014 được thể hiện qua việc luật chỉ quy định “chất thải là vật chất”
mà bỏ đi quy định “ở thể rắn, lỏng, khí” vì bản chất vật chất đã nội hàm dạng tồn tại của chất thải là rắn, lỏng, khí Việc quy định khái niệm chất thải như trên của Luật BVMT năm 2014 tuy ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ ý, vẫn nêu được cụ thể dạng tồn tại và nguồn phát sinh của chất thải Như vậy, so với Luật BVMT năm
1993 và Luật BVMT năm 2005, Luật BVMT năm 2014 đã có sự tiến bộ nhất định giúp cho các cơ quan có thẩm quyền giải thích và áp dụng chính xác quy định của pháp luật
3
Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 52/2005/QH11) ngày 29 tháng 11 năm 2005
4 Khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng 6 năm 2014
Trang 11Chất thải tồn tại trên thực tế rất đa dạng và phong phú Chất thải phát sinh từ rất nhiều nguồn, có thể là: từ các hoạt động sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng Trong đó, chất thải phát sinh từ hoạt động y tế được đánh giá là loại chất thải có tính chất nguy hại cao Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và môi trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế (Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT) thì chất thải y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế5 Hay nói cách khác, CTYT là chất thải phát sinh
từ hoạt động của: (1) các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; (2) cơ sở y tế dự phòng; (3)
cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học6
Cụ thể, CTYT sẽ bao gồm chất thải phát sinh từ các cơ sở sau:
(1) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: bao gồm bệnh viện; cơ sở giám định y khoa;
phòng khám đa khoa; phòng khám chuyên khoa; bác sỹ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; nhà hộ sinh; cơ sở chẩn đoán; cơ sở dịch vụ y tế; trạm y tế cấp xã và tương đương; các hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh khác7
, không bao gồm phòng khám bác sĩ gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức
Hiện nay, ở Việt Nam số lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khá nhiều, chỉ tính riêng khối bệnh viện đã có 1.253 bệnh viện; trạm y tế xã có 11.104 trạm8, trong tổng số 13.674 CSYT Với số lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhiều như vậy nên số lượng CTYT cũng rất nhiều Chỉ tính riêng khối bệnh viện, mỗi ngày phát thải khoảng 450 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 47 tấn chất thải rắn y tế nguy hại Tổng lượng nước thải y tế từ các bệnh viện khoảng 125.000 m3/ngày đêm9
(2) Cơ sở y tế dự phòng: nước ta có khoảng 1.037 cơ sở thuộc hệ dự phòng
tuyến Trung ương, tỉnh và huyện (các viện nghiên cứu, các trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, trung tâm phòng chống các bệnh xã hội, trung tâm phòng chống sốt rét, trung tâm phòng chống HIV/AIDS ) Với các chức năng như: phòng chống dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, các bệnh xã hội; quản lý, sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế; an toàn sinh học; phòng chống tai nạn thương tích; phòng
Trang 12chống các yếu tố nguy cơ tác động lên sức khỏe; khám sàng lọc phát hiện bệnh sớm
và quản lý, điều trị dự phòng ngoại trú các bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm các cơ sở này thường thải ra: ống nghiệm, các vật cấy, cất giữ các chất gây bệnh, túi máu và các chất thải khác để nghiên cứu bệnh tật, huyết học, truyền máu,
vi sinh học, nghiên cứu mô học
(3) Cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học:
hiện nay, nước ta có khoảng 100 cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học Trong quá trình hoạt động, các cơ sở này thường thải ra các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao như: bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
Trên thực tế, trong các nguồn phát sinh CTYT thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
là cơ sở phát sinh nhiều CTYT nhất do số lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã chiếm khoảng 90% trong tổng số các CSYT, các cơ sở còn lại có số lượng ít nên lượng CTYT phát sinh không nhiều
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
CTYT tồn tại trên thực tế rất đa dạng và phong phú CTYT phát sinh từ rất nhiều dạng vật lý và tính chất nguy hại khác nhau Phân loại CTYT có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các phương pháp xử lý, biện pháp quản lý cũng như trách nhiệm của các chủ thể quản lý CTYT
(1) Căn cứ vào dạng tồn tại: bản chất CTYT là một loại chất thải, cũng là vật
chất nên có thể tồn tại ở cả ba dạng: rắn, lỏng, khí Trước đây, trong Quy chế quản
lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng
11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế (đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT) xác định CTYT là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí10 nhưng Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT lại chỉ điều chỉnh hai dạng đó là: rắn và lỏng Việc Thông tư quy định như vậy là không phù hợp, thiếu sót do trên thực tế trong quá trình hoạt động các CSYT vẫn làm phát sinh khí thải, ví dụ như: khí thải lò đốt CTYT, các thiết bị sử dụng khí hóa chất độc hại, khí thải từ các khoa phòng chức năng Như vậy, CTYT có thể tồn tại ở ba dạng: rắn, lỏng và khí, cụ thể:
- Chất thải rắn y tế: theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN
02:2012/BTNMT về lò đốt chất thải rắn y tế thì: “Chất thải rắn y tế là chất thải ở
thể rắn phát sinh từ các hoạt động y tế, gồm có chất thải nguy hại và chất thải
10
Khoản 1 Điều 3 Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày
30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Trang 13không nguy hại (chất thải thông thường)” 11 Như vậy có thể hiểu, chất thải rắn y tế
là chất thải ở thể rắn được thải ra từ hoạt động của các CSYT Ví dụ như: bơm kim tiêm, lưỡi dao mổ, mẫu bệnh phẩm, bông, băng, gạc Hầu hết các chất thải rắn y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại chất thải rắn khác Các nguồn thải chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu
thuật, bào chế dược (Bảng 1.1)
Loại chất thải rắn Nguồn tạo thành
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính,
các loại bao gói
Chất thải chứa các vi trùng
gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ, sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân,
các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất
phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế12
- Chất thải lỏng y tế: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu (Nghị định số 38/2015/NĐ-CP)
quy định chất thải lỏng bao gồm nước thải và sản phẩm thải lỏng: “Nước thải là
nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác Sản phẩm thải lỏng là sản phẩm, dung dịch, vật liệu ở trạng thái lỏng đã hết hạn sử dụng hoặc được thải ra từ quá trình sử dụng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác Trường hợp sản phẩm thải lỏng được thải cùng nước thải thì gọi chung là nước thải” 13
Từ quy định
trên có thể hiểu, chất thải lỏng y tế bao gồm nước thải y tế và sản phẩm thải lỏng y
tế Cụ thể:
11 Mục 1.3.1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2012/BTNMT về lò đốt chất thải rắn y tế
12 Báo cáo môi trường quốc gia 2011 Chất thải rắn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
13
Khoản 5 và Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu
Trang 14 Nước thải y tế là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất được thải ra từ hoạt
động của các cơ sở y tế
Sản phẩm thải lỏng y tế là sản phẩm, dung dịch, vật liệu ở trạng thái lỏng đã
hết hạn sử dụng hoặc được thải ra từ quá trình hoạt động của các cơ sở y tế
Tuy nhiên, trong Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT khi xác
định các loại CTYT thì chỉ đề cập đến nước thải y tế14 Như vậy, quy định này còn
tồn tại thiếu sót do trên thực tế các CSYT thải ra lượng sản phẩm thải lỏng y tế khá
lớn, ví dụ như các dung dịch dùng tráng phim, cố định Việc quy định không đầy
đủ, thiếu chính xác như trên sẽ gây ra nguy cơ ô nhiễm môi trường vì các chất thải
lỏng y tế (trong đó bao gồm sản phẩm thải lỏng) thường chứa vi sinh vật và có thể
chứa kim loại nặng, hóa chất độc hại, đồng vị phóng xạ tùy thuộc vào quy mô và
loại chuyên khoa khám chữa bệnh tại các CSYT
- Khí thải y tế: là chất thải ở thể khí phát sinh trong quá trình hoạt động của
các CSYT Nguồn phát sinh khí thải trong các CSYT chủ yếu là từ các khoa phòng
chức năng (phòng xét nghiệm, pha chế); lò đốt chất thải rắn y tế (thải ra khí CO2,
CO, nếu điều kiện kỹ thuật không đảm bảo thì có khả năng phát thải dioxin, furan)
Khí thải y tế phát sinh phải được xử lý, đảm bảo tiêu chuẩn quy định trước khi thải
ra môi trường
(2) Căn cứ vào tính chất nguy hại: CTYT bao gồm CTYT thông thường và
CTYT nguy hại
- CTYT thông thường: ở nước ta chưa có văn bản nào quy định cụ thể về khái
niệm CTYT thông thường mà chỉ có quy định về khái niệm chất thải thông thường
tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP: “Chất thải thông thường là chất
thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy
hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại” Từ đó, có thể hiểu:
CTYT thông thường là CTYT không thuộc danh mục CTYT nguy hại hoặc thuộc
danh mục CTYT nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng CTYT nguy hại
Một số vật liệu từ CTYT thông thường như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết
thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch
acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác;
một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để
hạn chế việc thiêu đốt CTYT, góp phần giảm tải tác động của CTYT tới con người
và môi trường
14
Khoản 1 Điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế-Bộ Tài nguyên và môi
trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế
Trang 15- CTYT nguy hại: theo quy định của Luật BVMT năm 2014 thì “chất thải
nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây
ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại khác” 15
Tuy nhiên, nếu căn cứ theo
quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT thì CTYT nguy hại là CTYT chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm; chất thải nguy hại không lây nhiễm Như vậy, Thông tư này chỉ quy định CTYT nguy hại có tính lây nhiễm nhưng trên thực tế CTYT nguy hại còn có các yếu tố khác như: CTYT gây độc gen, gây độc tế bào; có chứa độc chất, hóa chất độc hại; có tính ăn mòn (pH ≤ 2,0 hoặc pH3 12,5); có tính phóng xạ (đối với các cơ sở có xạ trị); có tính dễ nổ16 Khái niệm CTYT nguy hại được quy định như trên có thể là do trong lĩnh vực
y tế chất thải thường chứa các mầm bệnh, dịch bệnh nên các nhà làm luật muốn nhấn mạnh tính lây nhiễm của CTYT hoặc có thể là do trong số các yếu tố nguy hại thì tính lây nhiễm nổi trội hơn Tuy nhiên, việc chỉ đề cập tới tính lây nhiễm của CTYT đã vô hình chung loại bỏ các yếu tố nguy hại khác của CTYT, không phù hợp với quy định của Luật BVMT năm 2014 dẫn đến hiện tượng bỏ sót CTYT nguy hại gây khó khăn cho công tác quản lý CTYT và tác động xấu tới môi trường Có hai loại rủi ro liên quan trực tiếp đến CTYT nguy hại bao gồm:
Một là gặp phải nguy cơ chấn thương hoặc bị nhiễm trùng Hai đối tượng
được xếp vào nhóm có nguy cơ cao là nhân viên y tế (bác sĩ, y sĩ, y tá, điều dưỡng,
kỹ thuật viên, hộ lý ) và những người trực tiếp tham gia vào quá trình phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý CTYT
Hai là nguy cơ ảnh hưởng chính đến môi trường là nguy cơ lây nhiễm bệnh tật
đối với cộng đồng Tức là không chỉ những người ở trong bệnh viện mà cả người ở ngoài bệnh viện đều có nguy cơ tiềm ẩn bị phơi nhiễm từ CTYT nguy hại bởi mầm bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua nhiều đường khác nhau như: vết thương, vết cắt trên da, niêm mạc, hệ thống hô hấp, hệ thống tiêu hóa
(3) Căn cứ dưới góc độ y khoa: CTYT được phân loại như sau:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây
Trang 16truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm
- Chất thải giải phẫu bao gồm: mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: là chất thải bao gồm hoặc có thành phần nguy hại nhưng không có tính lây nhiễm tồn tại ở dạng rắn, ví dụ như: thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng; chất hàn răng amalgam thải bỏ
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: ví dụ, hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất; các loại dầu mỡ thải
- CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế
- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế: theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT thì CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế bao gồm: vật liệu giấy (giấy, báo, bìa, thùng các - tông, vỏ hộp thuốc không chứa yếu tố lây nhiễm hoặc đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại); vật liệu nhựa (các chai, lon nước giải khát bằng nhựa và các đồ nhựa sử dụng trong sinh hoạt khác không thải ra từ các phòng điều trị cách ly, các chai đựng thuốc, hóa chất không chứa yếu tố lây nhiễm ); vật liệu kim loại (các chai, lon nước uống giải khát
và các vật liệu kim loại khác không thải ra từ các phòng điều trị cách ly); vật liệu thủy tinh (các chai, lọ thủy tinh thải bỏ đã chứa đựng các loại thuốc, hóa chất chứa đựng các loại thuốc, hóa chất không thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất)18
17 Điểm a Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên
và môi trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế
18 Mục B Phụ lục số 1 Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
Trang 171.2 Tác hại của chất thải y tế và sự cần thiết của việc quản lý chất thải y tế
CTYT là chất thải mang tính đặc thù so với các loại chất thải khác, bởi có nhiều loại nước thải, rác thải bệnh viện được xếp vào danh mục chất thải nguy hại với các đặc tính như có khả năng lây nhiễm; gây độc gen, gây độc tế bào; có chứa độc chất, hóa chất độc hại; tính ăn mòn và có tính phóng xạ CTYT nếu không được
xử lý đúng quy trình thì rất nguy hiểm, nó có tác hại rất lớn tới môi trường và sức khỏe của con người
Tác hại của CTYT tới môi trường: CTYT có thể tác động xấu tới tất cả các
khía cạnh của môi trường, đặc biệt là môi trường đất, nước, không khí
- Đối với môi trường đất: CTYT tích lũy dưới đất trong thời gian dài có thể gây ra nguy cơ đối với môi trường đất Tại các bãi chôn lấp, việc tiêu hủy CTYT không tuân thủ các quy định sẽ dẫn đến sự phát tán các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại gây ô nhiễm đất và làm cho việc tái sử dụng bãi chôn lấp gặp khó khăn
- Đối với môi trường không khí: CTYT từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều có thể gây ra tác động xấu tới môi trường không khí Bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất phát sinh trong các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển CTYT có thể phát tán vào không khí Trong khâu xử lý, đặc biệt
là với các lò đốt CTYT quy mô nhỏ, không có thiết bị xử lý khí thải có thể phát sinh
ra các chất khí độc hại như sau: ô nhiễm bụi (khi nhiệt độ đốt không đủ hoặc không tuân thủ đúng quy trình vận hành, lượng chất thải nạp vào lò quá lớn sẽ làm phát tán bụi, khói đen và các chất độc hại); các khí axit (do trong CTYT có thể có chất thải làm bằng nhựa PVC hoặc chất thải dược phẩm khi đốt có nguy cơ tạo ra hơi axit, đặc biệt là HCl và SO2); dioxin và furan (trong quá trình đốt cháy chất thải có thành phần halogen (Cl, Br, F) ở nhiệt độ thấp có thể hình thành dioxin và furan là những chất rất độc dù ở nồng độ nhỏ); kim loại nặng (đối với những kim loại nặng dễ bay hơi như thủy ngân có thể phát sinh từ các lò đốt CTYT nếu trong quá trình phân loại không tốt) Ngoài ra, một số phương pháp xử lý khác như chôn lấp có thể phát sinh các chất gây ô nhiễm cho môi trường không khí như: CH4, H2S…
- Đối với môi trường nước: CTYT là loại chất thải rất nguy hiểm nếu không được xử lý tốt sẽ nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước, nhất là hệ thống nguồn nước ngầm Nhân tố ảnh hưởng nhiều nhất và trực tiếp đến môi trường đó là nước thải từ các CSYT không được xử
lý mà thải trực tiếp ra môi trường bên ngoài Nước thải từ các CSYT có thể tiềm tàng rất nhiều nguy cơ:
Trang 18 Nguy cơ nhiễm khuẩn: nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella, Coliform, tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn Gram âm đa kháng, các hóa chất độc hại, chất hữu cơ, kim loại nặng; ngu cơ nhễm virus chủ yếu là các loại virus đường tiêu hóa, virus viêm gan A; nguy cơ nhiễm ký sinh trùng như amip, trứng giun sán
Nguy cơ nhiễm chất độc hại thường gặp trong việc rửa, tráng phim hay thủy ngân của các nhiệt kế, huyết áp bị vỡ, các độc dược bị đổ rơi vào các nguồn nước thải Tuy nhiên nguy cơ này không xảy ra nhiều
Nguy cơ nhiễm chất phóng xạ do nguồn phóng xạ sử dụng trong điều trị và nghiên cứu không được bảo quản đúng sẽ gây ra phát xạ nguy hiểm
Nước thải y tế chứa lượng lớn vi khuẩn, trung bình trong 1 lít nước thải từ các CSYT có từ 5.103-10.103 virus gây bệnh, 10-15 trứng giun đũa đặc biệt là nước thải
từ khoa lây nhiễm Do đó, nếu không được xử lý triệt để trước khi xả thải vào nguồn nước tiếp nhận, đặc biệt đối với nguồn tiếp nhận được sử dụng cho sinh hoạt, trồng trọt, chăn nuôi, sẽ có nguy cơ gây ra một số bệnh như: tiêu chảy, lỵ, tả, thương hàn, viêm gan A… cho những người sử dụng các nguồn nước này
Tác hại tới sức khỏe của con người 19 : ngày nay, các CSYT được cho là môi
trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người CTYT có thể gây ra nhiều tác
động xấu tới sức khỏe con người như:
- Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV
- Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở
19 Bộ Y tế, “Sổ tay hướng dẫn quản lý chất thải y tế trong bệnh viện”,
http://syt.kontum.gov.vn/LinkClick.aspx?fileticket=fs2Cxp2zv80%3d&tabid=449, truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016
Trang 19
- Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong bệnh viện, chúng thường có tính
ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn; dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử
lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận
- Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào: chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào
cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc
tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm da Như vậy, nếu việc quản lý CTYT không đảm bảo nó sẽ gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng và nhất là của những người trực tiếp tiếp xúc với chất thải
- Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: loại bệnh và hội chứng gây ra do chất thải phóng xạ được xác định bởi loại chất thải, đối tượng và phạm vi tiếp xúc Nó có thể là hội chứng đau đầu, chóng mặt, buồn nôn Chất thải phóng xạ, cũng như chất thải dược phẩm, là một loại chất thải độc hại tới tế bào, gây ra các vấn đề đột biến gen Tiếp xúc với các nguồn phóng xạ với hoạt tính cao ví dụ như các nguồn phóng
xạ của các thiết bị chẩn đoán như máy X-quang, máy chụp cắt lớp có thể gây ra một loạt các tổn thương chẳng hạn như phá hủy các mô, nhiều khi gây ra bỏng cấp tính Các nguy cơ từ những loại chất thải chứa các đồng vị có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc nhiễm xạ trên bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời gian lưu giữ của loại chất thải này Các nhân viên y tế hoặc những người có nhiệm vụ thu gom, vận chuyển khi tiếp xúc với chất thải chứa các loại đồng vị phóng xạ này là những người có nguy cơ cao mắc phải
Hiện nay, công tác quản lý CTYT đang là mối quan tâm của toàn xã hội trước những nguy cơ dịch bệnh lây lan CTYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng CSYT và tăng
số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế CTYT lại
Trang 20là loại chất thải mang tính đặc thù, tính nguy hại cao so với các loại chất thải khác, loại chất thải này nếu không được quản lý cẩn thận, đúng quy trình trước khi thải chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể đối với môi trường và sức khỏe của con người Tuy nhiên, công tác BVMT trong lĩnh vực y tế còn bộc lộ nhiều hạn chế, tồn tại Vi phạm môi trường trong lĩnh vực y tế hiện nay
là một vấn đề đáng lo ngại, nhiều CSYT xả chất thải ra môi trường không qua xử lý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và tiềm ẩn nhiều nguyên nhân lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường sinh thái Do đó, việc ban hành các quy định của pháp luật về quản lý CTYT là cần thiết nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do CTYT gây ra và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho cộng đồng
1.3 Quản lý chất thải y tế
1.3.1 Các mô hình quản lý chất thải y tế trên thế giới
Hiện nay, công tác quản lý chất thải (cũng như CTYT) không ngừng phát triển, trên thế giới có hai mô hình phổ biến được áp dụng trong quản lý chất thải đó
là quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất (còn gọi là quản lý chất thải ở cuối công đoạn sản xuất) và quản lý chất thải theo đường ống sản xuất (còn gọi là quản
lý chất thải trong suốt quá trình sản xuất, dọc theo đường ống sản xuất) Tại một số nước có nền kinh tế phát triển còn có cách tiếp cận mới trong quản lý chất thải đó là quản lý chất thải đánh mạnh vào khâu tiêu dùng Cách này nhằm nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (bao gồm cả các nhà sản xuất để họ lựa chọn phương thức sản xuất và đòi hỏi các sản phẩm được sản xuất ra phải đạt tiêu chuẩn môi trường, phải thân thiện với môi trường và bản thân người tiêu dùng cũng phải hành động thân thiện với môi trường trong quá trình tiêu thụ sản phẩm)20 Cụ thể:
- Quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất: tức là lắp đặt các hệ thống xử
lý chất thải rắn, nước thải, khí thải ở cuối dòng thải để phân hủy hay làm giảm nồng
độ các chất ô nhiễm nhẳm đáp ứng những yêu cầu bắt buộc trước khi thải vào môi trường Mô hình quản lý này phổ biến vào những năm 1970 ở các nước công nghiệp
để kiểm soát ô nhiễm công nghiệp Tuy nhiên, mô hình này cũng nảy sinh các vấn
đề như: gây nên sự chậm trễ trong việc tìm ra giải pháp xử lý; không thể áp dụng với các trường hợp có nguồn thải phân tán; đôi khi sản phẩm phụ sinh ra khi xử lý lại là các tác nhân ô nhiễm thứ cấp; chi phí đầu tư và sản xuất sẽ tăng thêm do chi phí xử lý; hơn nữa, cách tiếp cận này gây bị động cho các cơ quan chức năng Trên
20 Võ Thị Bích Hiền (2013), Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường trong khu công nghiệp, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.12 trích từ Võ Trung Tín (2011), Đề cương chương trình Luật Môi trường, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Trang 21thực tế, một số quốc gia vẫn áp dụng mô hình này để quản lý chất thải là do mô hình này vẫn cần thiết áp dụng đối với các cơ sở sản xuất không có khả năng đổi mới toàn bộ công nghệ sản xuất cũng như đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải
- Quản lý chất thải theo đường ống sản xuất: cách tiếp cận này đòi hỏi quản lý
chất thải trong suốt quá trình sản xuất, bao gồm việc giảm thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế và thu hồi chất thải ở mọi khâu, mọi công đoạn của quá trình sản xuất Quản lý chất thải theo đường ống sản xuất không giống như xử lý cuối đường ống,
ví dụ như xử lý khí thải, nước thải hay bã thải rắn Các hệ thống xử lý cuối đường ống làm giảm tải lượng ô nhiễm nhưng không tái sử dụng được phần nguyên vật liệu đã mất đi Do đó, xử lý cuối đường ống luôn luôn làm tăng chi phí sản xuất Trong khi đó, quản lý chất thải theo đường ống sản xuất mang lại các lợi ích kinh tế (như: giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải; cải thiện hiệu suất sản xuất ) song song với giảm tải lượng ô nhiễm Quản lý chất thải theo đường ống sản xuất đồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm Quản lý chất thải theo đường ống sản xuất cũng là một bước hữu ích cho hệ thống quản lý môi trường
- Quản lý chất thải đánh mạnh vào khâu tiêu dùng: cách tiếp cận này tập trung
nâng cao nhận thức của người tiêu dùng để họ lựa chọn và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường Vì vậy, nhà sản xuất cũng phải chịu sức ép cải tiến sản phẩm và quy trình sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng (ví dụ: ISO 14001, OHSAS 18001…)
1.3.2 Mô hình quản lý chất thải y tế ở Việt Nam
Tại Việt Nam, việc quản lý CTYT có sự thay đổi theo từng giai đoạn Trong Luật BVMT năm 1993 vấn đề quản lý chất thải nói chung và vấn đề quản lý CTYT nói riêng vẫn còn khá sơ sài, chưa được chú trọng, thể hiện ở việc không quy định
cụ thể thế nào là quản lý chất thải mà chỉ liệt kê ở một số điều luật (Điều 24, Điều 26 ) Khái niệm quản lý chất thải được đề cập lần đầu tiên tại mục I Thông tư 1590/1997/TTLT-BKHCNMT-BXD về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất
thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp như sau: “Quản lý chất thải là các hoạt
động nhằm kiểm soát toàn bộ quá trình từ khâu sản sinh chất thải đến thu gom, vận chuyển, xử lý (tái sử dụng, tái chế), tiêu huỷ (thiêu đốt, chôn lấp ) chất thải và giám sát các địa điểm tiêu huỷ chất thải” Tuy nhiên, Thông tư này chỉ áp dụng đối
với hoạt động quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp chứ không áp dụng cho hoạt động quản lý chất thải nói chung
Trang 22Luật BVMT năm 2005 ra đời là một bước tiến mới bằng việc quy định cụ thể
khái niệm quản lý chất thải tại Khoản 12 Điều 3: “Quản lý chất thải là hoạt động
phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải” Nếu căn cứ theo quy định trên của Luật BVMT năm 2005 thì việc
quản lý chất thải sẽ được tiếp cận theo mô hình quản lý chất thải ở cuối đường ống sản xuất Với cách tiếp cận này, quản lý chất thải chỉ được đặt ra sau khi chất thải
đã phát sinh tại nguồn thải, thông qua các hoạt động: phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải Khi áp dụng mô hình quản lý chất thải này, hiệu quả quản lý tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động xử lý chất thải Do đó, nếu hoạt động này không được thực hiện tốt thì việc phòng ngừa và giảm thiểu những tác động tiêu cực của chất thải hầu như không thực hiện được, không đạt được hiệu quả trong việc BVMT, đòi hỏi chi phí lớn và gây khó khăn cho các cơ quan chức năng
Luật BVMT năm 2014 đã tiếp cận việc quản lý chất thải theo mô hình quản lý chất thải dọc theo đường ống sản xuất bằng việc quy định khái niệm quản lý chất
thải như sau: “Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát,
phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải”21 Như vậy, quy định về khái niệm quản lý chất thải trong Luật BVMT năm 2014 có sự khác biệt so với Luật BVMT năm 2005 Mô hình quản lý chất thải dọc theo đường ống sản xuất đã khắc phục được những hạn chế của mô hình quản lý chất thải cuối đường ống Nó đảm bảo chất thải được kiểm soát trong suốt quá trình sản xuất, bao gồm việc phòng ngừa, giảm thiểu cũng như tái sử dụng, tái chế chất thải ở mọi khâu, mọi công đoạn của quá trình sản xuất chứ không chỉ quản lý chất thải khi đã phát sinh, nên nếu có vấn đề phát sinh tại bất kỳ công đoạn nào cũng có thể xử lý được mà không bị phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động của riêng một công đoạn như
mô hình quản lý chất thải cuối đường ống sản xuất Đây là một tiến bộ rất lớn so với khái niệm quản lý chất thải trong Luật BVMT năm 2005
CTYT cũng là một trong những loại chất thải có đặc tính nguy hại cao và cần được kiểm soát chặt chẽ Khái niệm quản lý CTYT được quy định cụ thể tại khoản
3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT: “Quản lý chất thải y
tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện” Từ khái niệm nêu trên cho
ta thấy hoạt động quản lý CTYT bao gồm các giai đoạn:
- Giảm thiểu CTYT là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT
21 Khoản 15 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng 6 năm 2014
Trang 23- Phân định CTYT là quá trình phân biệt một vật chất là CTYT hay không phải là CTYT, CTYT nguy hại hay CTYT thông thường, trong CTYT nguy hại thì chất thải
đó là lây nhiễm hay không lây nhiễm với mục đích để phân loại và quản lý trên thực tế
- Phân loại CTYT là hoạt động phân loại tại nguồn thải (các CSYT) Tùy theo tính chất, mức độ nguy hại của CTYT mà có phương án thu gom, xử lý cho phù hợp
- Thu gom CTYT là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên CSYT
- Lưu giữ CTYT là việc CTYT được giữ lại tại một địa điểm trong một khoảng thời gian nhất định trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý
- Vận chuyển CTYT là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ chất thải trong CSYT đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý CTYT cho cụm CSYT, cơ sở
xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT
- Tái chế CTYT là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành sản phẩm mới
- Xử lý CTYT là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, tiến bộ khoa học, kỹ thuật nhằm làm giảm, loại bỏ, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong CTYT
Tuy nhiên, khái niệm quản lý CTYT của Thông tư lại bỏ qua hoạt động phòng ngừa và giám sát CTYT trong khi phòng ngừa, giám sát lại là một vấn đề quan trọng trong Luật BVMT năm 2014 Do đó, quy định này chưa phù hợp với quy định của Luật BVMT năm 2014, không đạt yêu cầu trong việc quản lý chất thải nói chung và việc quản lý CTYT nói riêng
Trang 24KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc nghiên cứu khái quát về quản lý CTYT tác giả có một số kết luận như sau:
Thứ nhất, cần khẳng định rằng việc ban hành các quy định của pháp luật về
quản lý CTYT là cần thiết nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do CTYT gây ra và đảm bảo chất lượng môi trường sống cho cộng đồng
Thứ hai, trong chương này, tác giả đã làm rõ một số vấn đề như: khái niệm
CTYT; tác hại của CTYT đến sức khỏe con người và môi trường; các mô hình quản
lý CTYT trên thế giới và công tác quản lý CTYT ở Việt Nam
Thứ ba, việc nghiên cứu khái quát về quản lý CTYT sẽ là căn cứ, cơ sở lý
luận, tạo nền tảng kiến thức cần thiết cho việc đánh giá thực tiễn quản lý CTYT và
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTYT ở chương 2
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT
THẢI Y TẾ
2.1 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với đời sống con người, thời gian qua, nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong lĩnh vực môi trường Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong quá trình thực hiện, các quy định này vẫn chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc, triệt để, nhiều tổ chức, cá nhân vì lợi ích trước mắt của bản thân mà xem thường pháp luật, thực hiện các hành vi trái với pháp luật môi trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng, thiệt hại nặng nề đến môi trường Đối tượng vi phạm quy định trên là các bệnh viện; cơ sở giám định y khoa; phòng khám
đa khoa; phòng khám chuyên khoa; nhà hộ sinh đặc biệt là các phòng khám tư nhân nằm trên địa bàn tỉnh, thành phố, các đô thị lớn chưa đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật
2.1.1 Giai đoạn phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát chất thải y tế
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT: “giảm
thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chất thải y tế” 22, theo đó Thông tư này cũng quy định các biện pháp giảm thiểu phát sinh CTYT theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh CTYT; (2) đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh CTYT; (3) quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả Tuy nhiên, Thông tư lại không có quy định về phòng ngừa, giám sát CTYT trong khi phòng ngừa, giám sát lại là một vấn
đề quan trọng trong Luật BVMT năm 2014 Hoạt động phòng ngừa, giám sát CTYT
có vai trò rất quan trọng trong việc ngăn ngừa sự phát sinh CTYT, từ đó góp phần hạn chế những ảnh hưởng của chúng đến môi trường và sức khỏe của con người
Do đó, quy định này chưa phù hợp với quy định của Luật BVMT năm 2014, không đạt yêu cầu trong việc quản lý chất thải nói chung và việc quản lý CTYT nói riêng Năm 2015, Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) đã tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyên ngành môi trường tại 25 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế về việc thực
22
Khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên và môi trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế
Trang 26hiện các thủ tục hành chính BVMT tại các bệnh viện23 Qua kiểm tra 25 bệnh viện trong việc thực hiện các thủ tục hành chính BVMT, có 23/25 bệnh viện (chiếm 92%) đã được các cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp Sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại; 92% các bệnh viện kiểm tra được cấp có thẩm quyền phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc Đề án BVMT chi tiết, còn 2 bệnh viện đã lập Báo cáo ĐTM hoặc Đề án BVMT chi tiết, đang trình các cơ quan chức năng xem xét để thẩm định Về giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, có 4 bệnh viện chưa được cấp phép xả nước thải hiện đang làm các thủ tục cấp phép xả thải vào nguồn nước gửi Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét, phê duyệt Đối với công tác quan trắc môi trường định kỳ, đa số các bệnh viện đã thực hiện tốt và thường xuyên làm báo cáo giám sát môi trường Các bệnh viện được kiểm tra đã xây dựng, triển khai, thực hiện kế hoạch về quản lý CTYT hàng năm Tuy nhiên, một số bệnh viện chưa chú trọng tới việc lập kế hoạch, kế hoạch còn chung chung, chưa cụ thể, đầy đủ thông tin để quản lý CTYT được hiệu quả hơn
2.1.2 Giai đoạn phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải y tế
Về phân loại CTYT: theo quy định tại Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thì
“phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực
tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau”24 từ đó có thể hiểu phân loại CTYT là hoạt động phân tách CTYT (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm CTYT để có các quy trình quản lý khác nhau
Đối với quy trình phân loại Điểm b Khoản 1 Điều 72 Luật BVMT năm 2014 quy định các cơ sở y tế phải tiến hành phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn Ngoài Luật BVMT năm 2014, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT cũng
có quy định về việc phân định, phân loại CTYT tại Điều 4 và Điều 6 của Thông tư Trong đó, CTYT được phân định như sau: (1) chất thải lây nhiễm; (2) chất thải nguy hại không lây nhiễm; (3) CTYT thông thường Điều 6 của Thông tư này quy định về phân loại CTYT, cụ thể:
- Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng
Trang 27- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và
Nguyên tắc phân loại CTYT được quy định trong Thông tư liên tịch số
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT như sau: “Chất thải y tế nguy hại và chất thải y tế
thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh”25 nhưng trên thực tế nhiều CSYT không phân loại triệt để tại nguồn; để lẫn CTYT nguy hại với các chất thải khác; túi đựng, thùng đựng chưa hợp lý Do đó, khi chuyển chất thải để tái chế thông thường đã “vô hình chung” lẫn CTYT nguy hại gây ra hậu quả nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe người tiếp nhận, tái chế
Có rất nhiều bệnh viện bị Cục Quản lý Môi trường y tế (Bộ Y tế) nêu đích danh về việc phân loại CTYT chưa tốt tại Hội nghị tập huấn công tác quản lý chất thải y tế cho lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Y tế ngày 13 tháng 4 năm 201526, ví dụ như: bệnh viện E (Hà Nội), bệnh viện Da liễu trung ương, bệnh viện Đại học Y Thái Bình
Về thu gom, vận chuyển CTYT: theo quy định của Luật BVMT năm 2014 thì
việc “thực hiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế phải bảo đảm đạt quy chuẩn
25 Điểm a Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT của Bộ Y tế - Bộ Tài nguyên
và môi trường ngày 31 tháng 12 năm 2015 quy định về quản lý chất thải y tế
26 Vũ Lê, “Nhiều bệnh viện phân loại rác thải không đúng quy định”, te/2015/04/8102b6f2/nhieu-benh-vien-phan-loai-rac-thai-khong-dung-quy-dinh/, truy cập ngày 01 tháng 7 năm 2016
Trang 28http://www.kinhtedothi.vn/xa-hoi/y-kỹ thuật môi trường”27 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định cụ thể về hoạt động thu gom, vận chuyển CTYT: Điều 7 về thu gom CTYT; Điều 11 về vận chuyển chất thải y tế nguy hại để xử lý theo mô hình cụm cơ sở y tế
và Điều 12 về vận chuyển chất thải y tế để xử lý theo mô hình tập trung
Theo đó, “thu gom chất thải y tế là là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi
phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ
sở y tế” 28, Thông tư cũng quy định trong quá trình thu gom túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, đảm bảo không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom (đặc biệt là đối với CTYT nguy hại); CSYT quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong CSYT Chất thải
có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên CSYT Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên CSYT ít nhất 1 lần/ngày Đối với các CSYT có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 5 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên CSYT hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 1 lần/tháng Theo Thông tư, chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên CSYT Về thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị
vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân, Thông tư quy định, chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường
Đối với hoạt động vận chuyển CTYT, tại Khoản 6 Điều 3 Thông tư liên tịch
số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định:“vận chuyển chất thải y tế là quá trình
chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ,
xử lý chất thải của cơ sở xử lý chất thải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế” Theo đó, Thông tư này quy định việc vận chuyển CTYT
nguy hại để xử lý theo mô hình cụm CSYT và vận chuyển CTYT theo mô hình tập trung như sau:
- Vận chuyển CTYT nguy hại để xử lý theo mô hình cụm CSYT thì CSYT, đơn vị được thuê vận chuyển CTYT nguy hại sử dụng xe thùng kín hoặc xe bảo ôn
Trang 29chuyên dụng để vận chuyển hoặc sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác để vận chuyển CTYT nguy hại từ CSYT đến cơ sở xử lý
- Vận chuyển CTYT theo mô hình tập trung theo mô hình tập trung: đối với chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các bao bì, dụng
cụ kín, bảo đảm không bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển; thùng của phương tiện chuyên dụng để vận chuyển chất thải lây nhiễm là loại thùng kín hoặc thùng được bảo ôn Đối với CTYT thông thường, việc vận chuyển sẽ được thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý chất thải thông thường
Năm 2015, Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) cũng đã tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyên ngành môi trường tại 25 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế về việc thực hiện công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế29 Theo kết quả kiểm tra của Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) thì đa số các bệnh viện đã thực hiện thu gom chất thải ngay tại nguồn phát sinh, vận chuyển tạm giữ và quản lý chất thải đảm bảo theo quy chế quản lý CTYT Tuy nhiên, một số bệnh viện tổ chức thu gom, vận chuyển, lưu giữ và quản lý CTYT chưa được đảm bảo như thiếu thùng đựng CTYT; túi đựng và nơi lưu giữ chưa đạt yêu cầu Cụ thể: tại bệnh viện Lão Khoa Trung ương, đoàn kiểm tra phát hiện túi đựng chất thải chưa hợp lý, cũng chưa bố trí được khu vực lưu giữ chất thải tạm thời cho các khoa, phòng Tình trạng này cũng diễn ra tương tự tại một số khoa của bệnh viện K Trung ương khi CTYT thông thường vẫn chưa được thu gom vào thùng theo quy định; khu lưu giữ chất thải tái chế của bệnh viện này còn để dưới gầm cầu thang, chưa có khóa, đây chính là cơ hội để CTYT tuồn ra ngoài
2.1.3 Giai đoạn tái chế, tái sử dụng chất thải y tế
Một trong những chính sách của Nhà nước về BVMT đó là đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng chất thải30 (cũng như CTYT), hiện nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể khái niệm tái chế CTYT và tái sử dụng CTYT, theo Nghị định số 38/2015/NĐ-
CP “tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu
lại các thành phần có giá trị từ chất thải”31 và “tái sử dụng chất thải là việc sử
dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải”32, theo đó có thể hiểu tái chế CTYT là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ CTYT và
29
Bùi Khánh Toàn, tlđd (23)
30 Khoản 3 Điều 5 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng 6 năm 2014
31 Khoản 14 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu
32
Khoản 12 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 4 năm 2015 về quản lý chất thải và phế liệu
Trang 30tái sử dụng CTYT là việc sử dụng lại CTYT một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế
mà không làm thay đổi tính chất của CTYT
Tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT có quy định chỉ được phép tái chế chất thải y tế thông thường và chất thải lây nhiễm sau khi xử
lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các
đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều vụ việc vi phạm không tuân thủ quy định này Điển hình là vụ việc bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) bán CTYT (bao gồm bơm tiêm, vỏ lọ thuốc bằng thủy tinh, nhựa, dây truyền dịch đã qua sử dụng, nhiều chiếc còn dính máu chưa được khử trùng và diệt khuẩn ) vào năm 2007 cho các cơ sở sản xuất để tái chế thành đồ gia dụng33 Gần đây, bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) có sai phạm: tái chế các rác thải y tế nguy hại ngay tại khu xử lý rác thải của bệnh viện
Cụ thể là các loại rác thải y tế như dây chuyền, kim tiêm… còn dính máu của bệnh nhân được nhân viên xử lý bằng các thiết bị thô sơ, dập, cắt, ngâm tẩy… rồi bán ra ngoài thị trường Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt vào loại lớn nhất nước, mỗi ngày trung bình có khoảng 7.000 bệnh nhân cả nội và ngoại trú
Do số lượng bệnh nhân nhiều nên lượng chất thải mỗi ngày của bệnh viện cũng khá lớn Mỗi ngày, bệnh viện Bạch Mai có khoảng 5,7 tấn CTYT, trong đó chủ yếu là chất thải thông thường khoảng 4,5 tấn (chiếm khoảng 80% CTYT) và khoảng 300kg chất thải tái chế, 800kg chất thải lây nhiễm độc hại34 Ngoài các bệnh viện nói trên, Cục Cảnh sát môi trường cũng xác định hàng loạt bệnh viện (bệnh viện Phụ sản Trung ương, bệnh viện Phụ sản Hà Nội ) đã không thực hiện đúng quy định về tái chế của Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
2.1.4 Giai đoạn xử lý chất thải y tế
Theo quy định tại Khoản 16 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP thì “xử lý
chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế)
để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải” từ khái niệm xử lý chất thải, có thể hiểu xử lý CTYT
là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp CTYT và các yếu tố có hại trong CTYT
Trang 31Luật BVMT năm 2014 quy định xử lý chất thải (cũng như CTYT) phải bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường35, theo đó, Điều 13 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT cũng quy định CTYT nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Ngoài ra, Thông tư còn quy định hình thức xử lý CTYT nguy hại theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) xử lý tại các cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc tại cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT; (2) xử lý CTYT theo mô hình cụm cơ sở y tế, tức là CTYT của một cụm cơ sở y tế được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị xử lý của một
cơ sở trong cụm; (3) tự xử lý tại công trình xử lý CTYT nguy hại trong khuôn viên
cơ sở y tế
Theo đại diện Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường - Bộ Công
an cho biết các hành vi vi phạm về môi trường chủ yếu tại các CSYT là vi phạm quy định xử lý CTYT36 CTYT bao gồm: chất thải rắn y tế (bơm kim tiêm, lưỡi dao
mổ, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ, bông, băng, gạc, mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm… ngoài ra, còn có các chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong CSYT), chất thải lỏng y tế (nước thải được phát sinh từ các phòng phẫu thuật, xét nghiệm, thí nghiệm và từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, việc làm vệ sinh phòng bệnh của nhân viên, bệnh nhân, người chăm nuôi) và khí thải y tế (dioxin, furan) Với mỗi loại chất thải phải có một quy trình xử lý khác nhau để đảm bảo trong việc loại bỏ vi trùng, các chất lây nhiễm độc hại đối với sức khỏe và môi trường sống của con người Tuy nhiên, quy trình xử lý CTYT ở nhiều bệnh viện chưa được xử lý đúng theo quy định
Về xử lý chất thải rắn y tế, Luật BVMT năm 2014 có quy định “xử lý chất
thải rắn y tế bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường”37 Hiện nay, nhiều bệnh viện còn xử lý chất thải rắn bằng lò đốt một buồng, đốt thủ công hoặc tự chôn lấp trong khuôn viên bệnh viện, hầu hết các trạm y tế xã đều chưa có hệ thống xử lý chất thải rắn y tế cũng mới chỉ chôn lấp hoặc đốt thủ công Các chuyên gia y tế cho rằng việc xử lý CTYT bằng công nghệ lạc hậu hoặc đốt thủ công, xử lý không tốt sẽ
có nguy cơ tạo ra nhiều hóa chất độc hại thải vào môi trường qua khói lò đốt như: dioxin, furan Theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế đưa ra tại Hội nghị tập huấn công tác quản lý chất thải y tế ngày 13 tháng 4 năm 2015 thì tại
35 bệnh viện tuyến trung ương, chỉ có 22 bệnh viện hợp đồng với Công ty môi
35 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng 6 năm 2014
36 Vietnam+, “Chất thải y tế nguy hại: Cần chấm dứt quản lý trên giấy tờ”,
http://cect.gov.vn/index.php?m=news&p=detailNews&newid=5605, truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2016
37 Điểm b Khoản 1 Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường (Luật số 55/2014/QH13) ngày 23 tháng 6 năm 2014