1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề trưng cầu ý dân ở việt nam hiện nay thực trạng và kiến nghị

71 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài viết, công trình này được viết rất chi tiết về phần lý thuyết, chưa đi sâu vào phần thực tiễn ở Việt Nam hoặc chỉ là nghiên cứu rời rạc một số vấn đề trong chế định trưng cầu ý d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

BÙI MINH LOAN MSSV: 1155040090

VẤN ĐỀ TRƯNG CẦU Ý DÂN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY-THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2011 - 2015

Người hướng dẫn:

Th.S Nguyễn Thanh Minh

TP.HCM – Năm 2015

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TRƯNG CẦU Ý DÂN Ở

VIỆT NAM 1

1.1 Khái quát chế định trưng cầu ý dân 1

1.1.1 Định nghĩa trưng cầu ý dân 1

1.1.2 Đặc điểm của trưng cầu ý dân 3

1.1.3 Ý nghĩa trưng cầu ý dân 6

1.1.4 Hạn chế của trưng cầu ý dân 7

1.1.5 Phân biệt trưng cầu ý dân với một số chế định khác 9

1.2 Quy định về trưng cầu ý dân theo pháp luật Việt Nam giai đoạn từ Hiến pháp 1946 đến trước Hiến pháp 2013 12

1.2.1 Giai đoạn Hiến pháp 1946 12

1.2.2 Giai đoạn Hiến pháp 1959 14

1.2.3 Giai đoạn Hiến pháp 1980 15

1.2.4 Giai đoạn Hiến pháp 1992 16

1.3 Trưng cầu ý dân trong pháp luật Việt Nam hiện nay 18

1.3.1 Hiến pháp 2013 18

1.3.2 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 19

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG DỰ THẢO LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ 21

2.1 Mục tiêu và yêu cầu của Luật Trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay 21

2.1.1 Mục tiêu của Luật Trưng cầu ý dân 21

2.1.2 Yêu cầu khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân 23

2.2 Kiến nghị một số vấn đề trong dự thảo Luật Trưng cầu ý dân lần năm 25

2.2.1 Phạm vi trưng cầu ý dân 25

2.2.2 Vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân 31

2.2.3 Thẩm quyền đề nghị trưng cầu ý dân 39

2.2.4 Thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân 45

2.2.5 Cơ quan, tổ chức phụ trách trưng cầu ý dân 46

Trang 3

2.2.6 Lập danh sách cử tri 48

2.2.7 Thông tin, tuyên truyền 50

2.2.8 Kết quả trưng cầu ý dân 53

2.2.9 Giám sát trưng cầu ý dân 58

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp 2013 quy định rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp Vấn

đề này được xác định trong nhiều văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước Văn

kiện Đại hội XI của Đảng có nêu “Đảng và Nhà nước tiếp tục đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng,

cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức” và nhấn mạnh “có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp”, “khắc phục dân chủ hình thức” Cùng với chủ trương đổi mới, dân chủ hóa đời sống xã hội, kế

thừa các quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định và

thể hiện rõ hơn bản chất của nhà nước ta Điều 6 Hiến pháp 2013 quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp, từ lời nói

đầu đến chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,… So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013 thể hiện rõ hơn quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân và nhất là quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29 và Điều 120) Tuy nhiên, trên thực tế từ năm 1946 đến nay quyền dân chủ trực tiếp quan trọng này của công dân chưa được thực hiện trên thực tiễn vì nhiều lý do nhưng trong đó lý do quan trọng nhất là chưa có văn bản quy định chi tiết, cụ thể về trưng cầu ý dân Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến

năm 2010, định hướng đến năm 2020 có nêu: “mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của Nhà nước; ban hành Luật về Trưng cầu ý dân” Thực hiện nghị quyết số 70/2014/QH13 của Quốc hội và chương trình

xây dựng luật pháp lệnh năm 2015 để triển khai thực hiện thì Hội luật gia Việt Nam được giao chủ trì soạn thảo và theo kế hoạch dự án Luật Trưng cầu ý dân dự kiến trình Quốc hội thông qua Luật tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế và chính trị với các nước trong khu vực và trên thế giới, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là rất cấp bách tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia sâu hơn với tư cách chủ thể

Trang 5

vào những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng đất nước công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

Để góp phần tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề trưng cầu ý dân ở Việt Nam nên

tác giả đã chọn đề tài “Vấn đề trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và kiến nghị” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp của mình

Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, chưa có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu sâu rộng về trưng cầu

ý dân Các bài viết, công trình này được viết rất chi tiết về phần lý thuyết, chưa đi sâu vào phần thực tiễn ở Việt Nam hoặc chỉ là nghiên cứu rời rạc một số vấn đề trong chế định trưng cầu ý dân như phạm vi, trình tự, vấn đề,… Có thể nêu ra một

số bài viết, công trình nghiên cứu điển hình như: “Trưng cầu ý dân ở Liên Xô và Liên Bang Nga” (2005) trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 8, “Chế định trưng cầu

ý dân trong pháp luật Việt Nam” (2006) trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01 của PGS.TS Đinh Ngọc Vượng “Thủ tục trưng cầu ý dân ở một số nước” (2006) trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 2 của Th.S Trương Thị Hồng Hà “Hình thức lấy ý kiến có tính chất quyết định của nhân dân và những vấn đề thuộc đối tượng trưng cầu ý dân” (2006) trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 01 của tác giả Nguyễn Thị Việt Hương “Phạm vi và đối tượng trưng cầu ý dân” (2006) trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số 2 của TS Trần Minh Hương “Kinh nghiệm của Thụy

Sỹ về dân chủ trực tiếp” (2015) trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của TS Lương Minh Tuân,… Và một số luận văn như “Khái quát chung về trưng cầu ý dân và vấn

đề trưng cầu ý dân ở Việt Nam” (2006) của tác giả Võ Sỹ Chung “Trưng cầu ý dân

Lý luận và thực tiễn” (2008) của tác giả Phạm Thị Minh Hiếu “Trưng cầu ý dân -

Lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (2011) của tác giả Hồ Thị Ngạn,… Vì vậy, tác giả

lựa chọn đề tài này nhằm nghiên cứu những vấn đề quan trọng nhất của chế định trưng cầu ý dân từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm xây dựng Luật Trưng cầu ý dân phù hợp với nước ta

Phạm vi, đối tƣợng và mục đích nghiên cứu đề tài

Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Về mặt không gian: đề tài không chỉ nghiên cứu chế định trưng cầu ý dân ở pháp luật Việt Nam mà còn nghiên cứu tham khảo một số quy định của các quốc gia khác về chế định trưng cầu ý dân

Về mặt thời gian: Ngoài việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành về trưng cầu ý dân, đề tài còn nghiên cứu đến những quy định về trưng cầu ý dân ở các giai đoạn trước để có cái nhìn tổng quát về sự phát triển trưng cầu ý dân ở nước ta

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng của

chế định trưng cầu ý dân tại Việt Nam ở các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992,

2013 và một số văn bản pháp luật khác, quy định của một số quốc gia về trưng cầu

ý dân như Liên Bang Nga, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Philipines,… và dự thảo mới nhất

mà tác giả cập nhật được là dự thảo lần năm Luật Trưng cầu ý dân của Hội luật gia soạn thảo

Mục đích nghiên cứu đề tài: nhằm hiểu rõ hơn những vấn đề cơ bản của

trưng cầu ý dân và đặc biệt là trưng cầu ý dân ở nước ta Từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp cho dự thảo lần thứ năm của Hội luật gia

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử về những vấn đề mang tính lý luận, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, kết hợp với liên hệ thực tiễn để lý giải các vấn đề đặt ra trong khóa luận

Cơ sở lý luận

Việc nghiên cứu khóa luận dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật Đặc biệt là các quan điểm của nhà nước ta về

dân chủ và trưng cầu ý dân

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thông qua nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn đóng góp ý kiến của mình cho dự thảo Luật Trưng cầu ý dân, cung cấp thêm một số thông tin về chế định trưng cầu ý dân Thông qua nguồn thông tin và ý kiến riêng của mình các độc giả và những người quan tâm đến đề tài có thể có những phản biện, gợi mở, đóng góp nhiều ý kiến hơn nữa cho dự thảo luật để có thể xây dựng một văn bản luật phù hợp với tình hình nước ta, dễ dàng thực thi và được sự ủng hộ của người dân

Bố cục

Ngoài phần mục lục và tài liệu tham khảo thì nội dung luận văn bao gồm 4 phần:

Lời nói đầu

Chương 1: Khái quát chung về vấn đề trưng cầu ý dân ở Việt Nam

Chương 2: Một số vấn đề trong dự thảo Luật Trưng cầu ý dân ở Việt Nam và

kiến nghị

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ TRƯNG CẦU Ý DÂN

Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát chế định trưng cầu ý dân

Dân chủ là một phạm trù chính trị xuất hiện từ khi xã hội loài người phân chia thành giai cấp và xuất hiện nhà nước Ta có thể hiểu đơn giản dân chủ là dân làm chủ, dân là gốc của quyền lực nhà nước, mọi hoạt động của cơ quan nhà nước phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân Có hai hình thức biểu hiện của dân chủ đó là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Dân chủ đại diện (representative democracy) là hình thức nhân dân gián tiếp thông qua các cơ quan nhà nước, các cá nhân được nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của mình Dân chủ trực tiếp (direct democracy) có thể hiểu là nhân dân thể hiện một cách trực tiếp ý chí của mình với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước về một vấn

đề nào đó mà không cần thông qua các chủ thể đại diện và ý chí đó có ý nghĩa bắt buộc phải thi hành, Nhà nước chỉ là người tổ chức và đảm bảo các điều kiện để thực hiện ý chí đó Hình thức biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp trên một số quốc gia như: ứng cử, bầu cử thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, bãi miễn đại biểu, sáng kiến của công dân,…và trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là một chế định đặc biệt thuộc hình thức dân chủ trực tiếp, có thể nói đây là hình thức trực tiếp nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân có thể tự mình tham gia, quyết định các vấn

đề hệ trọng của đất nước, nói cách khác làm chủ một cách trực tiếp mà không bị tác động bởi ý chí của các chủ thể khác và ngăn ngừa được sự độc tài, chuyên chế của

cơ quan đại diện

1.1.1 Khái niệm trưng cầu ý dân

Cội nguồn lịch sử ra đời của thuật ngữ “trưng cầu ý dân” (referendum) “có nguồn gốc từ tiếng Latinh và được hiểu là sự bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương”1 Thuật ngữ trưng cầu ý dân trong tiếng Anh là referendum (số nhiều referendums hoặc referenda) nghĩa là việc tất cả người dân bỏ phiếu về một vấn đề quan trọng nào đó của một

quốc gia mình Hiện nay thuật ngữ “referendum” cũng có thể sử dụng như thuật ngữ

“plebiscite” có nghĩa là bỏ phiếu toàn dân Tuy nhiên, ở một số nước trên thế giới

1 Ngô Trung Thành(2006), “Trưng cầu ý dân, đặc điểm bản chất ý nghĩa” , Nghiên cứu lập pháp, (3), tr13,14

Trang 8

thì hai thuật ngữ này được sử dụng khác nhau, khi đối chiếu sang tiếng Pháp ta có thể phân biệt khá dễ dàng giữa Plébiscite và Referendum

Theo cuốn“ Từ điển thuật ngữ chính trị” (Lexique de Politique) của Charles Debbash, Jacques Bourdon, Jean Marie Pontier, Jean Claude Ricci thì Plébiscite (bỏ phiếu toàn dân) là phương thức cho phép một chính trị gia đang nắm quyền yêu cầu toàn thể các công dân biểu lộ cho người đó thấy lòng tin của họ bằng lá phiếu Đây là kỹ thuật được sử dụng lần đầu tiên ở Pháp dưới chế độ độc tài (Điều 95 Hiến pháp của nền cộng hoà năm thứ VIII), là phương thức cầm quyền của một số chế

độ độc tài (chủ nghĩa César dân chủ, chủ nghĩa phát xít) Vì thế thuật ngữ “Plébiscite” thường dùng để nói về nghĩa tiêu cực, thông thường nói về một thủ đoạn chính trị để hợp pháp hoá chính quyền Trong khi đó thuật ngữ “Referendum” thường dùng để nói về nghĩa tích cực khi chính quyền hỏi nhân dân, để nhân dân quyết định một vấn đề quan trọng nào

tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân nào Vì lý do chưa được diễn ra trên thực tế nên chế định này vẫn còn xa lạ với nhân dân nước ta hiện nay và còn nhiều cách hiểu khác nhau

Theo cuốn từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì trưng cầu có nghĩa là

“hỏi ý kiến của số đông người một cách có tổ chức”, ý dân là “ý kiến của nhân dân

về một vấn đề chính trị nào đó”, trưng cầu ý dân là “hỏi ý kiến nhân dân bằng tổ chức bỏ phiếu, để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước” 4

Theo từ điển Pháp -Việt về pháp luật hành chính:

2 Trần Ngọc Đường (2010), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Phân công, phối hợp quyền lực và kiểm soát

quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Hà Nội, tr.82

3

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1040&TabI ndex=2&TaiLieuID=1819, (truy cập 26/05/2015)

4 Hoàng Phê(1994), Từ điển tiếng việt, NXB Giáo dục, Hà nội, tr.239,1019

Trang 9

Trưng cầu ý dân là một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ bán trực tiếp, qua đó nhân dân tham gia quyết định vào những vấn đề hệ trọng của đất nước Trưng cầu ý dân là tổ chức cho nhân dân bỏ phiếu trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng, một chính sách hoặc yêu cầu Quốc hội biểu quyết một dự luật do nhân dân sáng kiến đề nghị5

Từ điển luật học cũng đưa ra định nghĩa “trưng cầu ý dân là việc lấy ý kiến của nhân dân về vấn đề nào đó có liên quan đến lợi ích của nhân dân và lợi ích của đất nước”6

GS.TSKH Đào Trí Úc (ĐH Quốc gia Hà Nội) cho rằng:

Trưng cầu ý dân là một chế định xã hội có tính chất như một phương pháp khảo sát xã hội học nhằm thu thập thông tin phản ánh quan điểm, ý chí nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân về những vấn đề có tính cơ bản, phổ biến phức tạp, được xã hội quan tâm, để phân tích, đánh giá và làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quyết định, chủ trương, biện pháp cụ thể Tuy nhiên, mức độ thực hiện chế định dân chủ trực tiếp trong việc trưng cầu ý dân cao hơn nhiều7

Với những định nghĩa nêu trên ta có thể hiểu một cách cơ bản, khái quát nhất trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước

và công dân, theo đó nhà nước sẽ đưa ra một vấn đề quan trọng nào đó của đất nước

để nhân dân trực tiếp quyết định bằng cách bỏ phiếu

1.1.2 Đặc điểm của trưng cầu ý dân

Thông qua các khái niệm về trưng cầu ý dân nêu trên, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản nhất của trưng cầu ý dân như sau:

Thứ nhất, trưng cầu ý dân là một chế định đặc biệt, là một hình thức trong các

hình thức dân chủ trực tiếp Vì vậy, nó sẽ mang đầy đủ những đặc điểm của hình thức dân chủ trực tiếp và trong đó có mục đích là đảm bảo được nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Thông qua việc bỏ phiếu trưng cầu ý dân, các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương sẽ phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân

Trang 10

Ngoài mục đích chính là nâng cao dân chủ trong xã hội, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì một số quốc gia họ có cách sử dụng trưng cầu ý dân với những mục đích khác nhau như: củng cố vị thế của một chủ thể nào đó như tổng thống hay chính phủ, ví dụ tổng thống Charles de Gaulle, tổng thống Liên Bang Nga Boris Yeltsin sử dụng trưng cầu ý dân để thể hiện sự tin tưởng của nhân dân với mình; giải quyết bất đồng của các nhánh quyền lực nhà nước (Hiến pháp Thụy

quốc gia ở từng thời điểm khác nhau Do đó, không phải quốc gia nào cũng sử dụng trưng cầu ý dân với những mục đích khác như trên

Thứ hai, trưng cầu ý dân là một quyền cơ bản của công dân và nhà nước có

trách nhiệm tổ chức trưng cầu ý dân trên thực tế Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân có nghĩa là quyền lực nhà nước do bất kì chủ thể nào nắm giữ đều là sản phẩm của việc trao quyền từ nhân dân, đều có nguồn gốc từ sự ủy quyền của nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước Vì vậy, nhân dân hoàn toàn có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Trưng cầu ý dân là một hình thức mà nhân dân có thể trực tiếp quyết định các vấn

đề của đất nước theo ý chí, nguyện vọng của mình nên đây là một quyền cơ bản của công dân mà không một nhà nước nào chối bỏ Đối với nước ta hiện nay Hiến pháp

2013 đã quy định rõ ràng trưng cầu ý dân là một quyền cơ bản của công dân Việt

Nam tại điều 29: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”

Thứ ba, trưng cầu ý dân thực chất là một cuộc bỏ phiếu toàn dân Mọi công

dân tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân phải đáp ứng các điều kiện giống như của một cử tri trong một cuộc bầu cử thông thường như về tuổi, quốc tịch, năng lực trách nhiệm,… và thường các nguyên tắc thực hiện trưng cầu ý dân cũng giống như bầu cử Trưng cầu ý dân đa số được tiến hành độc lập, riêng rẽ với các hoạt động khác vì bản chất của trưng cầu ý dân với các vấn đề khác như bầu cử là không giống

8

http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU/Attachments/1218/Hien_phap_Thuy_Si2.0.pdf, (truy cập 02/06/2015)

9

Viện chính sách công và pháp luật (2014), Dân chủ trực tiếp sổ tay Idea quốc tế, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.54

Trang 11

nhau Nhưng ở một số quốc gia khác “tầm quan trọng và ý nghĩa chính trị của vấn

đề luôn gắn với một thể chế chính trị, một chính phủ của một đảng phái chính trị nhất định nên ở các nước trong một số trường hợp trưng cầu ý dân được kết hợp cùng với cuộc bầu cử quốc hội hoặc bầu cử tổng thống”10,…

Thứ tƣ, trưng cầu ý dân nhằm để thông qua một vấn đề cụ thể và đây là các

vấn đề mang tính chất quan trọng của một quốc gia, địa phương hay một cộng đồng dân cư Vấn đề được đa số các quốc gia đưa ra trưng cầu ý dân, thừa nhận rộng rãi

và phổ biến nhất đó là những vấn đề về Hiến pháp như sửa đổi (toàn bộ hoặc một phần), bổ sung, Ngoài ra, tùy theo từng quốc gia khác nhau mà mỗi quốc gia sẽ quy định thêm một số vấn đề quan trọng khác nếu quốc gia đó cảm thấy cần thiết

Ví dụ như Hiến pháp Thụy Sĩ quy định ngoài trưng cầu ý dân về sửa đổi Hiến pháp thì còn trưng cầu ý dân những vấn đề bắt buộc như: việc gia nhập cộng đồng siêu quốc gia; các đạo luật liên bang được tuyên bố khẩn cấp nhưng chưa có cơ sở hiến định Điều 6 Luật Trưng cầu ý dân Liên bang Nga quy định ngoài Hiến pháp thì dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo Điều ước quốc tế mà Liên Bang Nga đã kí kết thì bắt buộc phải đưa ra trưng cầu ý dân,…

Thứ năm, trưng cầu ý dân thường dẫn đến câu hỏi liên quan vấn đề quan

trọng nào đó được in trên lá phiếu một cách rõ ràng, dễ hiểu nhất để nhân dân có thể hiểu đúng câu hỏi và lựa chọn theo ý chí của mình Khác với bầu cử, trong trưng cầu ý dân cử tri chỉ được lựa chọn một trong hai phương án là đồng ý hoặc không đồng ý Nhưng trong một số trường hợp trong lịch sử thì trưng cầu ý dân lại có ba phương án đưa ra để cử tri lựa chọn Ví dụ cuộc trưng cầu ý dân ở Thụy Điển năm

1980 về vấn đề điện hạt nhân hoặc cuộc trưng cầu ý dân về chế độ hưu trí mới ở Thụy Điển 1957 Với quy định từ ba phương án trở lên có thể sẽ gây khó khăn cho nhân dân trong việc quyết định lựa chọn các phương án và các phương án được áp dụng thực hiện đôi khi không là phương án được đa số nhân dân lựa chọn

Thứ sáu, giống như bầu cử thì đa số các cuộc trưng cầu ý dân cũng phải trải

qua một trình tự, thủ tục được quy định chặt chẽ trong pháp luật Trưng cầu ý dân là một hoạt động quan trọng đối với một quốc gia, dân tộc Thủ tục không chặt chẽ, khách quan có thể phản ánh sai lệch sự lựa chọn của nhân dân gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Vì vậy, các quốc gia có chế định trưng cầu ý dân đều quan tâm đặc biệt đến trình tự, thủ tục nhằm thu thập một cách chính xác nhất ý nguyện của nhân dân Ở một số quốc gia như Thụy

10 Ngô Trung Thành (2006), “Trưng cầu ý dân, đặc điểm bản chất ý nghĩa”, Nghiên cứu lập pháp, (3), tr17

Trang 12

Sĩ, Brazil,…trình tự này được quy định thẳng trong Hiến pháp, một số nước thì được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp chế định này sẽ không được quy định trong hai loại văn bản này mà chỉ xảy ra trong những trường hợp nhất thời, trong từng hoàn cảnh cụ thể phát sinh Ví

dụ như tại Singapore năm 1963 đã thực hiện trưng cầu ý dân vấn đề tách Singapore

ra khỏi Malaysia Tại Indonexia cũng tổ chức trưng cầu ý dân một lần khi quyết định vấn đề độc lập của Đông Timor

1.1.3 Ý nghĩa trưng cầu ý dân

Đối với nhân dân: Dù các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau nhưng đều

đề cao “quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Ở các nhà nước, nhân dân ủy

quyền, trao quyền lực của mình cho các chủ thể đại diện thực hiện nhưng nhân dân vẫn giữ lại cho mình những quyền cơ bản nhất như các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp Trong các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp như ứng cử, bãi miễn đại biểu, sáng kiến công dân,….thì trưng cầu ý dân có thể coi là trực tiếp nhất Trưng cầu ý dân có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Nhân dân thông qua trưng cầu ý dân thực hiện quyền tối cao của mình bằng cách bỏ phiếu để quyết định lựa chọn của mình thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của mình một cách trực tiếp (không phải thông qua bất kì chủ thể nào như hình thức dân chủ đại diện) những vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh của quốc gia hay địa phương

Trưng cầu ý dân thể hiện sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, lắng nghe

ý kiến nhân dân Đa số các cuộc trưng cầu ý dân trên thế giới hiện nay thường có giá trị bắt buộc là kết quả cuối cùng Nhưng cũng có một số cuộc trưng cầu ý dân chỉ mang tính chất tham khảo, thăm dò lòng dân và ta có thể thấy cho dù kết quả không bắt buộc áp dụng nhưng xu hướng chung là nhà nước cũng sẽ xem xét và quyết định sao cho phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân

Thông qua hình thức dân chủ đại diện nhân dân lập ra và trao quyền cho các

cơ quan nhà nước để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực của mình thì trưng cầu

ý dân sẽ tạo ra cơ chế giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, giúp cho nhà nước xem xét các chủ trương chính sách của mình phù hợp với thực tế hơn, tránh lạm quyền, quan liêu, xa rời thực tế

Trưng cầu ý dân còn có ý nghĩa giúp cho nhân dân hiểu được vị trí, vai trò của bản thân mình trong xã hội Thông qua tìm hiểu để lựa chọn bỏ phiếu quyết định vấn đề trưng cầu, nhân dân còn có thể nâng cao kiến thức, ý thức trách nhiệm của

Trang 13

mình về chính trị và một số vấn đề liên quan Đây cũng là bước chuẩn bị tạo sự sẵn sàng cho người dân trong việc thực hiện các quy định pháp luật, góp phần đóng góp xây dựng đất nước theo hướng tốt nhất, phù hợp nhất

Đối với nhà nước: Ngoài việc có ý nghĩa quan trọng đối với nhân dân, trưng

cầu ý dân cũng có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan nhà nước Trưng cầu ý dân góp phần mở rộng dân chủ, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Việc nâng cao dân chủ đảm bảo cho nhân dân quyền làm chủ của mình sẽ nâng cao được vị thế, uy tín của nhà nước trên thế giới, bởi vì dân chủ là thước đo sự văn minh của một quốc gia Ngoài ra, khi thực hiện chế định trưng cầu ý dân nhà nước sẽ có thêm những kinh nghiệm tạo cơ sở để nhà nước có thể mở rộng hơn nữa hình thức dân chủ trên thực tế

Khi áp dụng kết quả lựa chọn của nhân dân trong trưng cầu ý dân sẽ tạo ra sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo nên niềm tin của nhân dân đối với nhà nước Vì như ý nghĩa phần trên, trong trưng cầu ý dân nhà nước thường áp dụng kết quả theo tâm tư, nguyện vọng của đa số nhân dân cả nước Nhân dân từ đó sẽ thấy được tầm quan trọng của mình trong xã hội, từ đó tạo nên sự ủng hộ các quyết định của nhà nước và đẩy mạnh được tính tích cực của nhân dân trong việc đóng góp xây dựng đất nước

1.1.4 Hạn chế của trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nhưng về mặt thực tiễn việc thực hiện có khá nhiều phức tạp Ngoài những ưu điểm của thì chế định này cũng có một số khuyết điểm:

Thứ nhất, trưng cầu ý dân là một thủ tục khá giống bầu cử, mỗi lần chuẩn bị

phải trải qua đầy đủ, tuân thủ nghiêm chỉnh các bước được quy định để đảm bảo việc trưng cầu phản ánh đúng đắn nhất ý chí nguyện vọng nhân dân Vì vậy, sẽ kéo dài thời gian nhà nước ban hành quyết định, trong những trường hợp khẩn cấp thì trưng cầu ý dân sẽ bộc lộ rõ khuyết điểm này (ta có thể thấy một số nước quy định không tổ chức trưng cầu ý dân trong trường hợp khẩn cấp)

Thứ hai, trưng cầu ý dân thường liên quan đến các vấn đề quan trọng của địa

phương hay quốc gia, các vấn đề thường mang tính chất quan trọng, vĩ mô Do đó, khi tham gia trưng cầu đòi hỏi nhân dân phải có kiến thức tương đối về các vấn đề Không phải cử tri nào cũng có khả năng để đưa ra quyết định về vấn đề phức tạp nên có thể lựa chọn phương án không phù hợp với tình hình của đất nước Tuy

Trang 14

nhiên, trong một số trường hợp cho dù trình độ cử tri có cao và đồng đều thì không phải mọi lựa chọn là tốt nhất, phù hợp nhất Một số kết quả trưng cầu ý dân lại có thể gây bất lợi cho tình hình của quốc gia Ví dụ:

Ngày 9-2-2014, chính phủ Thụy Sĩ cho tiến hành trưng cầu dân ý nhằm thông qua Dự luật “Ngăn chặn sự nhập cư ồ ạt” Kết quả cho thấy có 50,3% người dân ủng hộ việc kiểm soát chặt hơn người nhập cư Tuy nhiên, nếu dự luật được thông qua, trước hết sẽ gây chia rẽ sâu sắc trong xã hội Thụy Sĩ, một đất nước có tới hơn 23% là người nhập cư trong tổng số tám triệu dân Đạo luật cũng sẽ khiến quan hệ của Thụy Sĩ với các nước trong khối EU trở nên căng thẳng Ngay sau cuộc trưng cầu dân ý, Ủy ban châu Âu (EC) tuyên bố sẽ xem xét lại quan hệ giữa

EU và Thụy Sĩ một cách toàn diện, thậm chí EU sẽ thông qua một số biện pháp trả đũa, ví dụ như hạn chế thương mại11

Thứ ba, trưng cầu ý dân là hình thức dân chủ trực tiếp hiệu quả nhất phản ánh

được ý chí của đa số nhân dân Nhưng có thể trong một số trường hợp kết quả trưng cầu ý dân lại không phản ánh đúng thực trạng xã hội và nguyện vọng, nhu cầu của

đa số nhân dân của một đất nước ví dụ như:

Tại Ai Cập, tuy có tới 98% người dân ủng hộ Hiến pháp mới nhưng đó chỉ là trong số gần 39% người đi bầu Tại Thụy Sĩ, cũng chỉ có khoảng 60% người dân đi bỏ phiếu, còn tại Crưm, tỷ lệ người đi bầu đông nhất khoảng 83% Đấy là chưa kể ngay chính nhiều người đi bầu cũng chỉ là theo cảm tính hoặc theo “hiệu ứng đám đông”12

Thứ tƣ, trưng cầu ý dân cần một trình tự, thủ tục chặt chẽ, khách quan nên

việc tổ chức trưng cầu ngoài tốn nhiều thời gian còn phải tốn khoản kinh phí khá lớn Đối với các quốc gia phát triển thì vấn đề này có thể không là điểm hạn chế nhưng ví dụ như ở nước ta là nước đang phát triển vấn đề kinh tế còn rất khó khăn, đất nước còn tập trung vào phát triển kinh tế, nên việc tổ chức trưng cầu rất khó tổ chức

Một vấn đề lúc nào cũng có những khuyết điểm riêng không tránh khỏi và dù

là hạn chế nhưng nhân dân khi tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia thì họ có những nhìn nhận theo tiêu chí, nhận thức riêng của họ Vì vậy,

11 trung-cau-dan-y.html (truy cập 02/05/2015)

http://nhandan.com.vn/thegioi/goc-nhin-thu-hai/item/22920802-%E2%80%9Chien-tuong%E2%80%9D-12

trung-cau-dan-y.html(truy cập ngày 02/05/2015)

Trang 15

http://nhandan.com.vn/thegioi/goc-nhin-thu-hai/item/22920802-%E2%80%9Chien-tuong%E2%80%9D-“khó có thể nói rằng việc lựa chọn phương án nào (trong số các phương án đưa ra trong một cuộc trưng cầu ý dân) là khôn ngoan nhất”13

và đôi khi người dân đưa ra

những phương án gọi là “khôn ngoan” thì không hẳn là vấn đề sẽ giải quyết theo

chiều hướng tốt (như những ví dụ trên) Khi áp dụng chế định trưng cầu ý dân ta nên nhìn vào những ý nghĩa mà trưng cầu ý dân mang lại đó là đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, góp phần phát huy trí tuệ của nhân dân để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước mà phát huy

1.1.5 Phân biệt trưng cầu ý dân với một số chế định khác

1.1.4.1 Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân

Lấy ý kiến nhân dân là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp, có bản chất là hỏi ý kiến nhân dân và do nhà nước tiến hành tổ chức như trưng cầu ý dân Hiện nay, thuật ngữ lấy ý kiến nhân dân xuất hiện khá nhiều trong các văn bản quy

phạm pháp luật, ví dụ như khoản 2 Điều 110 Hiến pháp 2013: “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do luật định”, khoản 2 Điều 120 Hiến pháp 2013:

“Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội dự thảo Hiến pháp” hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 Điều

35 quy định: “Trong quá trình soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết,

cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến cơ quan, tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan,

tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để các cơ quan,

tổ chức, cá nhân góp ý kiến” Qua những quy định như trên ta có thể hiểu lấy ý kiến

nhân dân là kêu gọi, tạo điều kiện (mở các diễn đàn, tổ chức hội thảo, họp báo…)

để nhân dân trực tiếp đóng góp ý kiến của mình về vấn đề đưa ra lấy ý kiến, có thể cho ý kiến về các vấn đề ưu điểm, hạn chế, bất cập, tính khả thi của vấn đề,… Chế

định này dễ gây nhầm lẫn với trưng cầu ý dân nhất, “khi được hỏi về trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân nên được hiểu như thế nào, vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do nhận thức và chưa được tiếp cận với trưng cầu ý dân nên vẫn có tới 27% luật gia và 57,3% số người dân được hỏi cho rằng trưng cầu ý dân

và lấy ý kiến nhân dân là một”14 Tuy nhiên, lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu ý dân

Trang 16

cũng có nhiều điểm khác nhau Ta có thể phân biệt trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân thông qua bảng sau:

Vấn đề Là những vấn đề quy định trong

Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định (thường là Nghị viện), mang tính chất quan trọng

Có thể những vấn đề do luật định hoặc do đề nghị của các cơ quan,

tổ chức xã hội,…

Đối tượng Thông thường đối tượng tham

gia trưng cầu được quy định giống như trong pháp luật bầu cử

đó là cử tri là những người đáp ứng đủ điều kiện luật định như:

tuổi, năng lực trách nhiệm, quốc tịch,…

Phạm vi đối tượng lấy ý kiến thường rộng hơn là những người

có mong muốn đóng góp ý kiến cho một vấn đề nào đó luật cũng không quy định tiêu chuẩn nào cho đối tượng này

Hình thức Bỏ phiếu Không thực hiện bằng hình thức

bỏ phiếu mà có thể góp ý bằng lời nói, văn bản,…

Sự lựa chọn Đồng ý hay không đồng ý Đồng ý, không đồng ý và ý kiến

Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Công dân được quy định quyền cơ bản là thảo luận

và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước theo quy định tại Điều 28 Hiến pháp 2013 Việc lấy ý kiến nhân dân nhằm tập hợp trí tuệ trong toàn dân, góp phần làm cho các vấn đề được phản ánh một cách đầy đủ

ý chí, nguyện vọng của nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu: “Dễ trăm lần

Trang 17

không dân cũng chịu - Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, hình thức lấy ý kiến nhân

dân càng được chú trọng hơn, những vấn đề luật quy định phải lấy ý kiến nhân dân

càng xuất hiện nhiều “lấy ý kiến nhân dân về dự án luật, dự án pháp lệnh là công việc tiến hành khá thường xuyên và thông qua đó, nhân dân và các tổ chức của nhân dân đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật”15

và nhà nước ta cũng đang xây dựng cơ sở tạo điều kiện lấy ý kiến nhân dân để có hiệu quả tốt nhất Đây cũng là một bước tiến để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân và góp phần quan trọng để làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh

1.1.4.2 Trưng cầu ý dân với bầu cử

Bầu cử là một chế định thông dụng và phổ biến ở mọi quốc gia trong đó có

Việt Nam, “là một loại hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người, nó phát triển cùng với quá trình phát triển của con người và bầu cử ngày càng mang tính chính trị - pháp lý sâu sắc"16

Bầu cử và trưng cầu ý dân có một số nét tương đồng với nhau Hai chế định này đều là cách thức thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện các

ý chí, nguyện vọng của nhân dân và nhân dân là người trực tiếp quyết định Chủ thể tiến hành trưng cầu ý dân và bầu cử ở các nước trên thế giới đa số đều quy định những tiêu chuẩn giống nhau, một người có thể bầu cử thì cũng có quyền trưng cầu

ý dân Cách thức thực hiện giữa hai chế định này cũng giống nhau đó là hình thức

bỏ phiếu Tuy có điểm tương đồng nhưng hai chế định này có những sự khác biệt rõ rệt:

Nội dung Lựa chọn một phương án để giải

quyết vấn đề quan trọng của đất nước

Lựa chọn những người đại diện tham gia vào bộ máy nhà nước

Thời gian Không theo một thời gian nhất

định, khi gặp vấn đề quan trọng của quốc gia được quy định đưa ra

Bầu cử được tiến hành đều đặn theo nhiệm kì

15 Trần Minh Hương (2006), “Phạm vi và đối tượng trưng cầu ý dân”, Dân chủ và pháp luật,( 2), tr.7

16 Vũ Văn Nhiêm (2011), Giáo trình Bầu cử trong nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Thành phố

Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh,tr.19

Trang 18

trưng cầu ý dân thì sẽ được tổ chức trưng cầu

Tổ chức Không chia thành các đơn vị trưng

cầu ý dân, vấn đề sẽ được đưa ra toàn quốc bỏ phiếu

Chia thành các đơn vị bầu cử, mỗi đơn vị bầu ra những người khác nhau

Hình thức

lá phiếu

Đa số trường hợp chỉ đưa ra hai phương án để cử tri trả lời có hoặc không

Đưa ra một danh sách ứng cử viên

1.2 Quy định về trưng cầu ý dân theo pháp luật Việt Nam giai đoạn từ Hiến pháp 1946 đến trước Hiến pháp 2013

1.2.1 Giai đoạn Hiến pháp 1946

Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh

ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 03/9/1945 phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra sáu nhiệm vụ cấp thiết, trong

đó có nhiệm vụ là phải có một bản Hiến pháp dân chủ Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 9/11/1946

Hiến pháp 1946 là một di sản về tư tưởng và văn hóa lập hiến, được tiếp thu,

kế thừa cho các bản Hiến pháp sau này của nước ta Tại Điều 1 của Hiến pháp 1946

đã khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là nguyên tắc cơ bản, là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung Hiến pháp Bên cạnh đó Hiến pháp 1946 còn quy định cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực thực sự của nhân dân

Điều 25 Hiến pháp 1946 quy định công dân được thực hiện các quyền của

mình thông qua Nghị viện “Nghị Viện không phải chỉ thay mặt cho địa phương mình mà còn thay mặt cho toàn thể nhân dân” Ngoài ra, công dân còn thực hiện

quyền dân chủ của mình một cách trực tiếp là phúc quyết theo quy định tại Điều

Trang 19

21:“Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia theo quy định theo Điều thứ 32 và 70”

Phúc quyết là từ Hán - Việt, “phúc” có nghĩa là lật lại, xét kĩ, “quyết” là quyết

định Phúc quyết là việc xem xét lại một quyết định nào đó của chủ thể có thẩm quyền và có thể hiểu là việc đưa vấn đề ra biểu quyết lại Theo Hiến pháp 1946 thì

“Phúc quyết có thể coi như trưng cầu ý dân nhưng trưng cầu ý dân lại không hoàn toàn đồng nhất với phúc quyết”17

Phúc quyết mang tính bắt buộc, mang tính chất quyết định cuối cùng nhưng trưng cầu ý dân có nhiều loại: trưng cầu ý dân có tính bắt buộc và trưng cầu ý dân có tính chất tham khảo Ngoài Hiến pháp quy định về

“phúc quyết” thì tại sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời số 63 - SL ngày

22/11/1945 quy định về cách thức tổ chức chính quyền nhân dân ở các địa phương

có quy định về cách thức phúc quyết ủy ban hành chính các cấp Điều 18: “Nếu một phần ba (1/3) số hội viên Hội đồng nhân dân xã yêu cầu phúc quyết Uỷ ban hành chính xã thì Uỷ ban hành chính xã phải triệu tập ngay Hội đồng nhân dân xã để bỏ phiếu tín nhiệm” Vì vậy, thuật ngữ phúc quyết theo sắc lệnh này lại hiểu theo cách

giống như bỏ phiếu tín nhiệm chức danh nào đó trong tổ chức chính quyền ở địa phương

Điều 32 Hiến pháp 1946 quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viện đồng ý, cách thức phúc quyết sẽ do luật định” Điều 70: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu; b) Nghị viện bầu ra một ban

dự thảo những điều thay đổi; c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” Có thể thấy Hiến pháp 1946 đã quy

định được bốn vấn đề sau:

Một là, Hiến pháp 1946 có quy định những vấn đề được đưa ra nhân dân phúc

quyết đó là về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia (những vấn đề quan trọng, liên quan đế lợi ích quốc gia, …)

Hai là, đối với vấn đề liên quan đến vận mệnh của quốc gia thì hai phần ba

(2/3) nghị sĩ đồng ý phúc quyết thì vấn đề sẽ được đưa ra cho nhân dân phúc quyết Còn đối với việc sửa đổi Hiến pháp thì những vấn đề sửa đổi đã được nghị viện ưng chuẩn thì không cần thiết có sự đồng ý của nghị sĩ hay không đều phải được đưa ra cho nhân dân phúc quyết

17

Đinh Ngọc Vượng (2006), “Chế định trưng cầu ý dân trong pháp luật Việt Nam”, Nhà nước& pháp

luật,(01), tr.4

Trang 20

Ba là, khi một vấn đề đã được nhân dân phúc quyết thì quyết định đó là quyết

định cuối cùng, quyết định có giá trị cao nhất

Bốn là, trình tự thủ tục phúc quyết theo luật định (trên thực tế không có điều

kiện xây dựng luật)

Có thể khẳng định Hiến pháp 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo

là một nền tảng về quyền của công dân trong tư duy lập hiến ở nước ta rất cần được học tập và kế thừa Tuy nhiên, vào thời gian này thực dân Pháp lại một lần nữa quay lại xâm chiếm nước ta, nước ta tập trung mọi nguồn lực để bảo vệ đất nước nên không có thời gian ban hành luật chi tiết hóa các vấn đề trưng cầu ý dân quy định trong Hiến pháp và cũng chưa tổ chức được cuộc trưng cầu dân ý nào trên thực tế

1.2.2 Giai đoạn Hiến pháp 1959

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơ-ne-vơ Nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã không thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước tạm thời chia thành hai miền Với sự thay đổi của tình hình chính trị nói trên Hiến pháp 1946 không còn phù hợp với điều kiện nước ta lúc bấy giờ Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra, ngày 01/01/1960 Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố bản Hiến pháp năm 1959

Hiến pháp 1959 vẫn quy định về chế định trưng cầu ý dân nhưng không dùng

từ “phúc quyết” mà thay vào đó là “trưng cầu ý kiến nhân dân” Theo ý kiến của một số nhà nghiên cứu thì “ý kiến nhân dân” theo Hiến pháp 1959 chỉ là những lời nói, ý kiến đóng góp của nhân dân không có giá trị bắt buộc áp dụng “Việc trưng cầu ý kiến nhân dân trong giai đoạn 1959 - 1991 về cơ bản vẫn chỉ là việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân góp ý cho dự thảo Hiến pháp, dự án luật được xây dựng theo trình tự luật định và trước khi Quốc hội thông qua”18 Vì vậy, trưng cầu ý kiến nhân dân không đồng nghĩa với phúc quyết của Hiến pháp 1946

Theo Hiến pháp 1959 vấn đề trưng cầu ý dân chỉ quy định tại duy nhất Điều

53: “Ủy ban thường vụ Quốc hội có những quyền hạn: Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân” Nhìn chung quy định của Hiến pháp 1959 đã không phát triển nội

dung tiến bộ về quyền phúc quyết và quy định có phần hạn hẹp hơn (không quy định về vấn đề được trưng cầu, giá trị trưng cầu) so với Hiến pháp 1946 Theo quy định tại điều 53 Hiến pháp 1959 thì rút ra được một số vấn đề sau:

18

Đinh Ngọc Vượng (2006), “Chế định trưng cầu ý dân trong pháp luật Việt Nam”, Nhà nước& pháp

luật,(01),tr.5

Trang 21

Một là, Ủy ban thường vụ Quốc hội được quyết định vấn đề trưng cầu ý kiến

nhân dân mà không là Quốc hội

Hai là, Hiến pháp vì không quy định vấn đề nào sẽ được Ủy ban thường vụ

Quốc hội quyết định trưng cầu ý kiến nhân dân nên có thể hiểu là mọi vấn đề nếu

Ủy ban thường vụ Quốc hội xét thấy cần thiết thì sẽ quyết định đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân

Có thể thấy nguyên nhân tại sao Hiến pháp 1959 lại quy định hạn chế hơn vì trong giai đoạn này cả đất nước phải đương đầu với chiến tranh, tập trung toàn lực

để giải phóng, thống nhất đất nước Quốc hội làm việc theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo thì khi có vấn đề xảy ra việc phải hội họp giải quyết sẽ tốn nhiều thời gian nên Hiến pháp này giao quyền quyết định trưng cầu cho Ủy ban thường vụ Quốc hội (làm việc thường trực nên sẽ đưa ra quyết định nhanh chóng hơn phải tổ chức họp Quốc hội) Và cũng xuất phát từ lý do chiến tranh nên các nhà lập hiến không chú trọng vấn đề trưng cầu ý kiến nhân dân quy định trong Hiến pháp và cũng không được luật hóa quy định chi tiết thi hành vì vậy từ khi Hiến pháp 1959 có hiệu lực thì cũng chưa có cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân nào được thực hiện

1.2.3 Giai đoạn Hiến pháp 1980

Ngày 30/4/1975 là dấu mốc trong lịch sử Việt Nam đất nước hoàn toàn thống nhất Tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa VI, Quốc hội đã thông qua một số nghị quyết quan trọng trong đó có nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959 Sau hơn một năm bản Dự thảo Hiến pháp mới được đưa ra lấy ý kiến nhân dân cả nước Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Cũng như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 cũng không kế thừa được quy định nhân dân có quyền trực tiếp quyết định các vấn đề của đất nước thông qua

trưng cầu ý dân Điều 100 Hiến pháp 1980 quy định “Hội đồng Nhà nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:6 - Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân”, trên

cơ sở Hiến pháp 1980 Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng dân tộc năm 1981 quy

định Điều 54: “Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội có thể đề nghị Hội đồng Nhà nước đưa một dự án luật, dự án pháp lệnh hay là một vấn đề quan trọng

ra trưng cầu ý kiến nhân dân” Ta có thể rút ra được những vấn đề trưng cầu ý dân

tại giai đoạn này:

Một là, Hiến pháp 1980 không có chế định Ủy ban thường vụ Quốc Hội nên

Hội đồng Nhà nước quyết định trưng cầu ý kiến nhân dân, theo quy định của Hiến

Trang 22

pháp thì Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Hai là, do chỉ quy định Hội đồng Nhà nước quyết định việc trưng cầu ý kiến

nhân dân nên cũng như Hiến pháp 1959 nên ta cũng có thể hiểu Hội đồng Nhà nước

có quyền quyết định đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân mọi vấn đề

Ba là, Hiến pháp 1980 có quy định thêm quyền đề nghị đó là Hội đồng dân tộc

và các Ủy ban của Quốc hội có quyền đề nghị trưng cầu ý kiến nhân dân những vấn

đề dự án luật, dự án pháp lệnh hay là một số vấn đề quan trọng khác ra Hội đồng Nhà nước

Trong giai đoạn xây dựng Hiến pháp 1980 đất nước ta vừa mới độc lập, thống nhất nên công cuộc xây dựng đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội được đặt ra hàng đầu Ngoài ra, đất nước thời điểm này còn non trẻ, thù trong giặc ngoài luôn đe dọa, phá rối nên việc trưng cầu ý dân có thể sai lệch đi ý chí, nguyện vọng của nhân dân, gây nguy hiểm cho tình hình kinh tế, chính trị nước ta Thêm nữa, các nhà lập pháp giai đoạn này chú trọng thực hiện hình thức dân chủ đại diện theo điều 6 Hiến pháp

1980: “Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”

Vì những lý do trên nên vấn đề trưng cầu ý dân theo Hiến pháp 1980 cũng như Hiến pháp 1959 không có luật chi tiết thi hành và không có cuộc trưng cầu nào được thực hiện

1.2.4 Giai đoạn Hiến pháp 1992

Sau mười một năm thực hiện, Hiến pháp 1980 không còn phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước đang chuyển biến nhanh chóng Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới với nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng để giữ vững ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và đặt ra yêu cầu là xây dựng nên một bản Hiến pháp mới Ngày 15/4/1992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, bản dự thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII thông qua (tại kỳ họp thứ 11) Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của Việt Nam trong thời

kỳ đầu của tiến trình đổi mới Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X

đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Đến ngày 25/12/2001 Hiến pháp này được Quốc hội sửa đổi, bổ sung tại kì họp thứ 10, Quốc hội khóa X (sau đây gọi tắt là Hiến pháp 1992)

Trang 23

Hiến pháp 1992 ra đời phản ánh sự đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, trong đó có nhiều chế định, có sự thay đổi lớn so với Hiến pháp 1980 Cùng với các chế định khác, chế định trưng cầu ý dân cũng được sửa đổi theo hướng tích cực hơn Hiến pháp đã dành 3 điều quy định về vấn đề trưng cầu ý dân:

Một là, Điều 53 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền tham gia

quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Có thể thấy sự khác biệt đó là Hiến pháp đã dành một điều luật

quy định rõ là công dân có quyền vừa tham gia đóng góp ý kiến các vấn đề chung

của đất nước, vừa có thể tham gia trưng cầu ý dân Ngoài ra, thuật ngữ “trưng cầu ý kiến nhân dân” được đổi lại là “trưng cầu ý dân” sự thay đổi này cho ta thấy nhận

thức đúng đắn của nhà nước về bản chất của trưng cầu ý dân

Hai là, tái xác lập Quốc hội có quyền quyết định trưng cầu ý dân như Hiến

pháp 1946 quy định: “Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Quyết định việc trưng cầu ý dân” Nhưng Hiến pháp này vẫn không giới hạn vấn đề nào

được Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân, đề nghị trưng cầu thuộc cơ quan nào, phạm vi, giới hạn,…

Ba là, quy định thêm Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và

quyền hạn: “Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội”

Trong giai đoạn này vấn đề trưng cầu ý dân cũng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật:

Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (sửa đổi, bổ sung 2007) lần nữa nhắc lại quyền quyết định trưng cầu ý dân của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân theo quy định của Quốc hội

Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành kèm theo nghị quyết về việc ban hành quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội số

26/2004/NQ - QH11 năm 2004 Điều 37 quy định: “Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý theo quyết định của Quốc hội; quy định việc phát hành phiếu trưng cầu, thể thức bỏ phiếu và kiểm phiếu; tổ chức việc bỏ phiếu, tổng hợp, công

bố kết quả trưng cầu và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất”

Tuy nhiên, với những quy định như trên thì chúng ta vẫn chưa thể thực hiện được trưng cầu ý dân trên thực tế vì quy định còn quá chung chung chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết Trưng cầu ý dân không là vấn đề đơn giản, tùy ý thực hiện nên trong giai đoạn này nhà nước ta cũng mong muốn soạn thảo Luật Trưng cầu ý dân

Trang 24

để trưng cầu ý dân được hiện thực hóa trên thực tế Nghị quyết số 49/2005/QH11 của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 đã quy định việc trình Quốc hội cho ý kiến Luật Trưng cầu ý dân tại kì họp thứ 10 Uỷ ban Thường

vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số: 987/2006/NQ - UBTVQH11 nhằm thực hiện Nghị quyết Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006, giao cho Hội Luật gia nghiên cứu và soạn thảo Luật Trưng cầu ý dân Nhưng giai đoạn này Luật Trưng cầu ý dân vẫn chưa được thông qua vì còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc

1.3 Trƣng cầu ý dân trong pháp luật Việt Nam hiện nay

1.3.1 Hiến pháp 2013

Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng và với kết quả tổng kết thực tiễn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước để đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, ngày 06/8/2011 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Nghị quyết thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Sau thời gian triển khai lấy

ý kiến góp ý của nhân dân cả nước, ngày 28/11/2013 Quốc hội đã chính thức thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định về trưng cầu ý dân về cơ bản cũng khá

giống với những quy định trong Hiến pháp 1992 Điều 29 khẳng định: “Công dân

đủ 18 tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” Hiến

pháp 2013 quy định về trưng cầu ý dân thể hiện thành điều riêng, thể hiện tư duy của nhà nước về quyền công dân Khoản 15 Điều 70 quy định một trong những

quyền hạn của Quốc hội là: “Quyết định việc trưng cầu ý dân”, khoản 15 Điều 70 quy định nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội: “Tổ chức trưng cầu

ý dân theo quyết định của Quốc hội” Điều 120 quy định: “Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định”

Từ những quy định của Hiến pháp 2013 về trưng cầu ý dân, ta cũng rút ra được một số vấn đề như sau:

Một là, quyền trưng cầu ý dân là quyền của công dân Việt Nam Có thể thấy

quyền tham gia trưng cầu ý dân là sự bổ sung cho hình thức dân chủ trực tiếp (quy định tại Điều 6 Hiến pháp 2013) từ đó tạo điều kiện cho công dân tham gia tích cực, hiệu quả hơn trong vấn đề xây dựng, bảo vệ đất nước

Trang 25

Hai là, Hiến pháp 2013 cũng không quy định rõ những vấn đề nào được đưa

ra trưng cầu ý dân, riêng việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp ở cấp độ toàn quốc do Quốc hội quyết định

Ba là, Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định nhiệm vụ giống như Hiến

pháp 1992 là tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội

1.3.2 Luật Tổ chức Quốc hội 2014

Luật Tổ chức quốc hội 2014 đã được ban hành 20/11/2014, có hiệu lực ngày 01/06/2016 quy định rõ ràng hơn một số vấn đề so với Hiến pháp 2013:

Thứ nhất, luật khẳng định lại Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền trưng cầu ý

dân, Điều 19 quy định: “Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp hoặc về những vấn đề quan trọng khác theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội” Theo

luật này thì cũng không giới hạn vấn đề nào trưng cầu ý dân, Quốc hội có quyền quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp và theo đề nghị của một số chủ thể có thẩm quyền về những vấn đề nào có thể coi là quan trọng

Thứ hai, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định thêm một quyền mới đó là

quyền kiến nghị Theo Điều 33 thì Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân Kiến nghị của đại biểu Quốc hội được gửi bằng văn bản đến Ủy ban thường vụ Quốc hội trong đó nêu rõ lý do, nội dung kiến nghị Khi nhận được kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm tổng hợp, xử lý các kiến nghị của đại biểu Quốc hội theo thẩm quyền Nếu có trường hợp có từ một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên kiến nghị Quốc hội trưng cầu ý dân thì Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo để Quốc hội xem xét, quyết định

Vậy ta có thể hiểu theo quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quyền đề nghị khác so với quyền kiến nghị Quyền đề nghị dành một số chủ thể nhất định tại Điều 19 và khi các chủ thể này đề nghị thì bắt buộc Quốc hội phải xem xét đưa ra quyết định nên trưng cầu ý dân hay không Còn đối với kiến nghị thì chỉ thuộc về đại biểu Quốc hội và khi có kiến nghị trưng cầu ý dân thì Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ xử lý, xem xét các kiến nghị, chỉ khi có từ một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội kiến nghị thì Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định

Thứ ba, vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định khá giống với Quy

chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành năm 2004, Ủy ban thường

vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội; Ủy ban thường

Trang 26

vụ Quốc hội quy định về hình thức phiếu trưng cầu, trình tự bỏ phiếu và kiểm phiếu; quyết định thời gian cụ thể trưng cầu ý dân, nội dung ghi trên phiếu trưng cầu ý dân căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về việc trưng cầu ý dân; kiểm tra, giám sát việc trưng cầu ý dân; Ủy ban thường vụ Quốc hội chịu trách nhiệm công

bố kết quả trưng cầu ý dân với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất

Thứ tƣ, Luật Tổ chức Quốc hội 2014 còn quy định về giá trị của kết quả trưng

cầu ý dân mang tính chất bắt buộc “Kết quả trưng cầu ý dân có giá trị quyết định đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân”

Pháp luật trưng cầu ý dân giai đoạn hiện nay tuy đã có quy định khá rõ ràng hơn so với pháp luật giai đoạn trước nhưng vẫn còn rất khó khăn, thậm chí là không thực hiện được nếu chỉ dựa vào những quy định trên để tổ chức các cuộc trưng cầu

ý dân phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Trang 27

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG DỰ THẢO LUẬT TRƯNG CẦU Ý DÂN Ở VIỆT

NAM VÀ KIẾN NGHỊ 2.1 Mục tiêu và yêu cầu của Luật Trưng cầu ý dân ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển toàn diện về các mặt kinh

tế, văn hóa, xã hội nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc đất nước Để thực hiện được những mục tiêu đó thì phát huy dân chủ là một trong những vấn đề cốt lõi Trong những giai đoạn vừa qua, vấn đề này được Đảng và Nhà nước ta chú trọng và đẩy mạnh thực hiện qua các công tác lấy ý kiến nhân dân, thực hiện quy chế dân chủ ở từng loại cơ sở như xã, phường, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, cơ quan hành chính,… Tuy nhiên, việc thực hiện các biện pháp dân chủ còn chưa tốt

và còn mang tính hình thức Điều này dẫn đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai thực hiện công việc gặp nhiều khó khăn, vấp phải sự phản đối của nhân dân Vì vậy, để khắc phục được những hạn chế này thì việc tổ chức, thực hiện các cuộc trưng cầu ý dân là một trong những phương án phù hợp Bởi vì, cơ chế này vừa thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở mức cao nhất vừa tạo ra được

cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, sát sao đối với cơ quan nhà nước

2.1.1 Mục tiêu của Luật Trưng cầu ý dân

Từ tình hình nói trên, ta có thể rút ra được những mục tiêu của Luật Trưng cầu

ý dân như sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh, phát huy dân chủ trong đời sống xã hội nước ta Một

trong những mục tiêu của nước ta là “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”19 Việc phát huy dân chủ có nhiều cách thức để thực hiện như nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, lấy ý kiến nhân dân, chống tập trung quan liêu, dân chủ hình thức,… Chế định trưng cầu ý dân là một trong những hình thức dân chủ có thể nói

là trực tiếp nhất trong các hình thức dân chủ trực tiếp và mang tính dân chủ cao hơn hình thức dân chủ đại diện, thể hiện quyền bày tỏ ý kiến, trực tiếp quyết định các vấn đề của đất nước của nhân dân Vì vậy, khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân sẽ là một bước tiến trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ mà nước ta xây dựng, góp

19 Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

Trang 28

phần quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

Thứ hai, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và chi tiết hóa các quy

định của Hiến pháp và pháp luật có liên quan Văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cũng nêu rõ: mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào công việc của nhà nước; ban hành luật về trưng cầu ý dân Trong bốn bản Hiến pháp trước đây

ở nước ta đều có quy định về chế định trưng cầu ý dân nhưng chưa cuộc trưng cầu nào diễn ra trên thực tế, gây ảnh hưởng đến quyền làm chủ của nhân dân Đất nước

ta đã thống nhất và đang trong giai đoạn phát triển các trở ngại khiến không thể tiến hành trưng cầu ý dân như trước kia không còn và dù còn một số khó khăn nhất định nhưng hoàn toàn có đủ khả năng tổ chức trưng cầu ý dân Hiến pháp 2013 và một số văn bản pháp luật khác cũng đã có quy định về trưng cầu ý dân nhưng chưa rõ ràng, không thể căn cứ vào một số điều luật này để thi hành trên thực tế Vì vậy, để tránh được sự việc như trong giai đoạn trước là có quy định nhưng không thể thực hiện thì Luật Trưng cầu ý dân phải thể chế hóa được chủ trương, đường lối của Đảng, hướng dẫn một cách chi tiết, cụ thể về trưng cầu ý dân trên nền tảng Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Tổ chức Quốc hội 2014

Thứ ba, đảm bảo cho nhân dân tham gia đầy đủ, rộng rãi, thể hiện ý chí,

quyền quyết định của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước Đối với các hình thức dân chủ đại diện nhân dân không có quyền trực tiếp quyết định những vấn

đề mang tính chất quan trọng liên quan đến quốc gia, địa phương Trưng cầu ý dân

là chế định mà nhà nước đề cao quyền quyết định của nhân dân, nhân dân hoàn toàn

có quyền trực tiếp quyết định các vấn đề theo ý chí mình mong muốn Vì vậy, khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân sẽ tạo cơ sở cho quyền này được thực hiện trên thực

tế Nhân dân có thể thấy rõ được vai trò của mình trong việc xây dựng bảo vệ đất nước từ đó thúc đẩy nhân dân tham gia tích cực, thực hiện quyền dân chủ của mình

Thứ tƣ, tạo cơ chế giám sát đối với các văn bản, các quyết định của cơ quan

nhà nước Như đã nêu thì hình thức dân chủ đại diện là hình thức nhân dân trao quyền của mình cho các cơ quan đại diện thực hiện Đây là hình thức không thể thiếu trong bất kì nhà nước nào Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động hình thức này

có khuyết điểm là ý chí, nguyện vọng của nhân dân phải qua trung gian của người đại diện, có thể bị sai lệch bởi nhiều lý do như trình độ nhận thức, quan điểm, lợi

Trang 29

ích, dẫn đến hậu quả là có những quyết định trái với nguyện vọng nhân dân Vì vậy, cần thiết có một thiết chế giúp nhân dân tạo sự kiểm tra, phản biện đối với các đường lối, chính sách, vấn đề quan trọng của quốc gia do Đảng và Nhà nước đưa ra

Và chế định trưng cầu ý dân là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp tạo ra một cơ chế giám sát tốt nhất, đảm bảo nhân dân trực tiếp quyết định theo đúng ý chí của mình, giúp Đảng, Nhà nước xem xét lại các đường lối, chính sách, quyết định của mình khắc phục quan liêu, xa rời thực tế, tham nhũng, lãng phí,…

2.1.2 Yêu cầu khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân

Với mục tiêu của Luật Trưng cầu ý dân như trên, để đạt được hiệu quả tích cực khi thực thi trên thực tế thì khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân phải đạt được các yêu cầu sau:

Thứ nhất, khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân đòi hỏi trước phải nghiên cứu

các văn kiện, nghị quyết, đặc biệt là Hiến pháp văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất

để đưa ra những quy định phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, nếu Hiến pháp chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa để có thể đưa ra những điều luật hợp lý nhằm để thực thi Luật Trưng cầu ý dân trên thực tế thì vẫn

có thể sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Đồng thời nghiên cứu pháp luật về trưng cầu ý dân các giai đoạn trước, đặc biệt là pháp luật giai đoạn 1946 để chọn lọc và học hỏi Ngoài ra, khi xây dựng luật cần tìm hiểu pháp luật về trưng cầu ý dân các nước trên thế giới, tiếp thu những ưu điểm nhưng không rập khuôn, máy móc để xây dựng ra những phương án phù hợp với nước ta và cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới

Thứ hai, trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ khi tổ chức thực hiện sẽ rất

khó khăn và tốn nhiều thời gian, công sức, tiền của Do đó, Luật Trưng cầu ý dân cần phải được xây dựng sao cho chặt chẽ, hợp lý, đảm bảo tính khoa học và thực tiễn Khi nghiên cứu cần phải dự tính được khoản kinh phí của cuộc trưng cầu ý dân sao cho hợp lý, bố trí các cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ sao cho phù hợp tránh giao cho quá nhiều cơ quan phụ trách mà không cần thiết, dự tính khoảng thời gian tổ chức trưng cầu ý dân không quá ngắn và quá dài để nhân dân vẫn có thể tiếp cận được vấn đề và đảm bảo trưng cầu ý dân được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm

Thứ ba, trong các giai đoạn trước vì không có luật cụ thể hóa Hiến pháp nên

không thể tổ chức được một cuộc trưng cầu ý dân nào trên thực tế Ta có thể thấy nếu chỉ dựa vào một vài điều như trước đây thì không thể thực hiện được Vì vậy,

Trang 30

khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân phải quy định rõ ràng, chi tiết từng vấn đề để có thể căn cứ mà thực hiện trên thực tế, ta cần phải làm rõ được một số vấn đề chính như sau:

Một là, để cuộc trưng cầu ý dân diễn ra đạt chất lượng thì cần phải quy định

các nguyên tắc tổ chức trưng cầu ý dân, có thể tương tự như bầu cử: bình đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín Trên cơ sở các nguyên tắc nhà nước phải triển khai thực hiện sao cho việc trưng cầu phải tự nguyện, khách quan tránh bất kì đối tượng nào ngăn cản, ép buộc,… như vậy mới khẳng định được tính chất nhân dân quyết định, mới là dân chủ

Hai là, về phạm vi trưng cầu và vấn đề trưng cầu ý dân phải xác định rõ việc

tổ chức trưng cầu ý dân có thể được thực hiện ở đâu toàn quốc hay địa phương và toàn quốc việc xác định rõ phạm vi dẫn đến việc xác định vấn đề được trưng cầu ý dân một cách rõ ràng chính xác, ví dụ như phạm vi ở toàn quốc thì vấn đề được đưa

ra trưng cầu là gì? Địa phương vấn đề gì? ,…

Ba là, chủ thể có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân, chủ thể tổ chức

trưng cầu ý dân, các chủ thể có quyền đề nghị, kiến nghị và sáng kiến cần quy định

rõ ràng và quy trình, trình tự tổ chức ra cuộc trưng cầu ý dân của chủ thể tổ chức? Đối với các chủ thể đề nghị, kiến nghị hoặc sáng kiến thì cách thức, thủ tục đề xuất

là như thế nào?

Bốn là, thủ tục trình tự khi nhân dân bỏ phiếu phải quy định rõ ràng, cụ thể,

đảm bảo sự rõ ràng, minh bạch trong suốt quá trình trưng cầu ý dân từ bắt đầu đến kết thúc

Năm là, giá trị của cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân chỉ là tham khảo hay là

quyết định cuối cùng

Sáu là, các chủ thể có quyền giám sát trưng cầu ý dân, cách thức xử lý khi có

vi phạm xảy ra

Thứ tƣ, cũng như các luật khác khi xây dựng Luật Trưng cầu ý dân đòi hỏi

phải mang tính chính xác, có nghĩa là bất cứ ai khi đọc vào bất kì điều luật nào thì phải hiểu theo một nghĩa duy nhất; đảm bảo tính dể hiểu có nghĩa là phải quy định

rõ ràng, chi tiết từng điều mà không cần phải ban hành văn bản để giải thích thêm; tính khách quan phải thể hiện được ý chí của nhà nước, của nhân dân, phản ánh nhu cầu của xã hội, không được đưa lợi ích của một nhóm người hay một cá nhân nào vào luật

Trang 31

2.2 Kiến nghị một số vấn đề trong dự thảo Luật Trƣng cầu ý dân lần năm

2.2.1 Phạm vi trưng cầu ý dân

Phạm vi được hiểu là khuôn khổ, giới hạn nào đó Phạm vi trưng cầu ý dân được hiểu là quy mô của một cuộc trưng cầu ý dân Hiến pháp 2013 có quy định về trưng cầu ý dân nhưng không quy định rõ ràng đầy đủ về quy mô của cuộc trưng cầu ý dân nên có thể dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau trong phạm vi trưng cầu Cách hiểu thứ nhất, Hiến pháp quy định Quốc hội có quyền quyết định và Ủy ban thường vụ quốc hội có quyền tổ chức trưng cầu ý dân vì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nếu quyết định vấn đề ở địa phương thì không hợp lý nên hàm ý phạm vi trưng cầu ý dân chỉ ở phạm vi toàn quốc Cách hiểu thứ hai, cũng có thể Quốc hội sẽ quyết định những vấn đề trưng cầu ý dân trong phạm vi vùng lãnh thổ (liên tỉnh) hoặc ở địa phương

Trưng cầu ý dân là hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp cao nhất để người dân có thể thực hiện quyền làm chủ của mình Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới thì phạm vi trưng cầu cũng khác nhau, tùy thuộc vào những đặc điểm tình hình kinh tế, chính trị, của mỗi quốc gia Ví dụ: Những quốc gia chỉ quy định trưng cầu

ý dân ở cấp toàn quốc như: Myanmar, Thái Lan, Áo,… Có những quốc gia chỉ quy định trưng cầu ý dân ở cấp độ địa phương (bang, tỉnh, vùng) như Hoa Kỳ, Đức,… Các quốc gia quy định trưng cầu ý dân ở cả hai phạm vi toàn quốc và địa phương như Philippines, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Italia,…

Theo quy định tại dự thảo Luật Trưng cầu ý dân lần thứ năm thì “Các cuộc trưng cầu ý dân được thực hiện trên phạm vi cả nước” tức có nghĩa là trưng cầu ý

dân chỉ thực hiện trên phạm vi toàn quốc Hiện nay, cũng có khá nhiều luồng quan

điểm vấn đề này, theo kết quả báo cáo khảo sát của Hội luật gia Việt Nam thì “đại

đa số đối tượng được hỏi cho rằng cần phải có trưng cầu ý dân cả ở hai cấp toàn quốc và địa phương (71,4% luật gia và 85,4% người dân được hỏi)”20

Quan điểm đồng tình với dự thảo chỉ nên tổ chức trưng cầu ý dân ở phạm vi

toàn quốc Thứ nhất, điều này phù hợp với thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân

và tổ chức việc trưng cầu ý dân của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã được

quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội Thứ hai, đối với các vấn đề ở

địa phương và vùng lãnh thổ nhất định thì hiện tại pháp luật đang tiếp tục bổ sung thực hiện các quy định để bảo đảm mở rộng các hình thức cho nhân dân tham gia

20

Hội luật gia Việt Nam (2015), Báo cáo khảo sát về trưng cầu ý dân, Hà Nội, tr.17

Trang 32

trình bày, đóng góp ý kiến, ví dụ như hình thức lấy ý kiến nhân dân các vấn đề của địa phương

Quan điểm khác cho rằng những vấn đề hệ trọng của quốc gia do Quốc Hội quyết định là hợp lý nhưng nếu vụ việc ảnh hưởng đến lợi ích vùng lãnh thổ nhất định (một số địa phương) hoặc những vấn đề quan trọng chỉ xảy ra ở một địa phương thì cần thiết trao thẩm quyền trưng cầu ý dân cho chính quyền địa phương ở khu vực đó quyết định Khi cho phép trưng cầu ý dân ở địa phương thì sẽ có những

ưu điểm như: Thứ nhất, trưng cầu ý dân ở phạm vi toàn quốc mang tính chất quan

trọng, vĩ mô, trong khi đó trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương lại là những sự việc gắn liền với đời sống của người dân nên sẽ dễ dàng thu hút được sự chú ý và

việc thực hiện tham gia bỏ phiếu nhiều hơn Thứ hai, việc trưng cầu ở địa phương

vì chỉ trong một phạm vi nhỏ nên công tác tổ chức nhanh chóng, dễ dàng hơn trên

phạm vi toàn quốc Thứ ba, khi thi hành một vấn đề nào đó đã được trưng cầu thì

sẽ tạo được sự đồng thuận của nhân dân nhiều hơn vì đây là ý chí của đa số nhân dân, tránh được nhiều khiếu nại, tranh chấp xung quanh vấn đề Với những lý do trên nếu chỉ quy định phạm vi trưng cầu ý dân được thực hiện trên toàn quốc là chưa đầy đủ, phù hợp Vì vậy, nhóm đại biểu có quan điểm này đề nghị dự thảo luật cần quy định trưng cầu ý dân có phạm vi trên toàn quốc nhưng trong một số trường hợp cũng có thể tiến hành ở phạm vi một hoặc một số đơn vị hành chính nhất định Trong nhóm ý kiến đồng tình trưng cầu ý dân ở địa phương thì cũng có nhiều ý kiến: có ý kiến là nên tổ chức trưng cầu ý dân trên phạm vi toàn quốc và cấp tỉnh; cũng có ý kiến cho rằng nên mở rộng ở cấp huyện và cấp xã, thậm chí cũng có người cho rằng chỉ nên lấy ý kiến trưng cầu ở địa phương,…

Để lựa chọn được phương án ưu thế nhất cho phạm vi trưng cầu ý dân thì ta cần phải làm rõ được hai vấn đề sau:

Vấn đề thứ nhất: Sự cần thiết trưng cầu ý dân ở phạm vi vùng lãnh thổ, địa

phương

Một là, trưng cầu ý dân là hình thức người dân trực tiếp tham gia vào các công

việc của nhà nước, trực tiếp thể hiện ý chí và thực hiện quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề hệ trọng của đất nước Hiến pháp 2013 quy định nội dung xuyên suốt

và cốt lõi là phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân Quyền làm chủ này có thể thực hiện bằng nhiều hình thức và việc trưng cầu ý dân toàn quốc hay trưng cầu

ý dân vùng lãnh thổ, địa phương đều là hình thức dân chủ trực tiếp mà nhân dân có quyền thực hiện Có thể nói ở địa phương là phạm vi gần dân và là nơi phát sinh nhiều vấn đề trong xã hội nhất Do đó, bên cạnh những vấn đề mang tính toàn quốc,

Trang 33

thì những vấn đề mang tính vùng hoặc liên quan trực tiếp đến địa phương cần có sự tham gia ý kiến, biểu quyết của người dân Việc không thực hiện hoạt động trưng cầu ý dân có thể không giải quyết được vấn đề hoặc giải quyết gây ảnh hưởng đến

quyền, lợi ích và không được sự ủng hộ của nhân dân, V-Lênin khẳng định :“Cần phải xây dựng ngay chế độ dân chủ, bình đẳng từ cơ sở, dựa vào sáng kiến của bản thân quần chúng với sự tham gia thực sự của quần chúng vào tất cả đời sống nhân dân”21 Trên thế giới có nhiều nước tổ chức thực hiện trưng cầu ý dân ở cấp địa phương bên cạnh trưng cầu ý dân ở toàn quốc hoặc thậm chí có những quốc gia chỉ trưng cầu ý dân cấp địa phương Vì vậy, nếu nước ta cho phép trưng cầu ý dân ở

cấp địa phương là việc không mới lạ, “vấn đề chủ yếu là phải tìm và vận dụng các cách thức thích hợp với điều kiện lịch sử - xã hội của nước ta”22

Hai là, Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên gọi từ Hội đồng nhân dân và Ủy ban

nhân dân thành Chính quyền địa phương, thuật ngữ “chính quyền địa phương” đã

được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản của Đảng và Nhà nước,… Đây được

đánh giá là “sự thay đổi hợp lý, phù hợp với lịch sử lập hiến cũng như các văn bản khác của Đảng và Nhà nước ta”23 Hiện nay, tính tự chủ của Chính quyền địa phương được tập trung đẩy mạnh, đổi mới thực sự về mô hình tổ chức cũng như

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương theo hướng: “Bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân; tạo không gian tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao hơn cho chính quyền địa phương; khẳng định rõ nét hơn vị trí của chính quyền địa phương trong hệ thống hành chính thống nhất của đất nước”24 Ta có thể thấy ưu điểm khi phát huy tính tự chủ cho chính quyền địa phương là khi xảy ra vấn đề thì có thể chủ động hơn trong giải quyết công việc, tạo sự năng động cho chính quyền địa phương trong giải quyết nhanh chóng vụ việc mà không quá lệ thuộc, chờ đợi vào ý kiến chỉ đạo của cấp trên Với định hướng như trên thì việc nên trao thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân cho chính quyền địa phương là cần thiết Ngoài những ưu điểm thì cũng có khuyết điểm

nhất định, hạn chế lớn nhất là khi “tự chủ” quá nhiều có thể dẫn đến việc lạm

quyền Tuy là tự chủ gắn với tự chịu trách nhiệm nhưng khi chính quyền địa phương làm trái quy định hoặc có những quyết định không phù hợp, … thì hậu quả

24 http://moj.gov.vn/npl/Pages/dm-tai-lieu-tham-khao.aspx?ItemID=20, (truy cập 01/06/2015)

Trang 34

xảy ra nhân dân là chủ thể chịu sự ảnh hưởng trước tiên Vì vậy, chế định trưng cầu

ý dân để nhân dân trực tiếp quyết định sẽ phát huy hiệu quả trong vấn đề này Tóm lại, dân chủ ở địa phương là dân chủ được thể hiện rõ nét nhất, vì đây là phạm vi gắn liền với đời sống hàng ngày của nhân dân nên không thể bỏ qua phạm

vi trưng cầu ý dân ở địa phương

Vấn đề thứ hai: Phạm vi trưng cầu ở địa phương

Ở nước ta chính quyền địa phương được chia thành ba cấp (tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương), cấp huyện (quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh), cấp xã (xã, thị trấn, phường) Trưng cầu ý dân như phân tích ở trên là cần thiết trưng cầu ở phạm vi địa phương nhưng phải xác định rõ là nên trưng cầu ở những cấp nào

là tốt nhất

Hiện nay, ở cấp xã đang áp dụng quy chế thực hiện dân chủ ở xã Thực tiễn quản lý cho thấy trong quá trình thực hiện dân chủ ở các cơ sở các cơ quan quản lý nhà nước đã sử dụng khá thành công cả hai hình thức lấy ý kiến nhân dân tham khảo và lấy ý kiến nhân dân có tính quyết định

Việc lấy ý kiến nhân dân có tính tham khảo được quy định tại Điều 19 Pháp lệnh thực hiện dân chủ xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL - UBTVQH11, những vấn đề quy định tại điều này là những vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân Vì vậy, trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định thì chính quyền cấp xã phải tạo điều kiện cho nhân dân đóng góp ý kiến của mình, như vậy sẽ làm tăng sức thuyết phục của quyết định hơn Ngoài ra, pháp lệnh còn quy định việc lấy ý kiến nhân dân mang tính quyết định quy định tại Điều 10 bắt buộc phải tổ chức hoặc phát phiếu lấy ý kiến nếu có trên 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã tán thành thì

có giá trị thi hành

Quy chế Dân chủ ở xã, phường, thị trấn thực hiện ở các năm vừa qua đã có được những kết quả tích cực, góp phần tạo đẩy mạnh và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đã phát huy được công sức, trí tuệ của các tầng lớp nhân dân Khắc phục được tình trạng quan liêu tham nhũng ở một bộ phận cán bộ, công chức Theo chủ trương của nhà nước ta là thực hiện, hoàn thiện tốt hơn Quy chế dân chủ cơ sở

và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Vì vậy, từ những lý do trên nên tiếp tục áp dụng quy chế này mà không nhất thiết phải tổ chức trưng cầu ý dân

ở cấp xã mà chỉ nên tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện và vùng lãnh thổ nhất định Ở

Trang 35

nước ta, trong thời gian vừa qua có một số vụ việc gặp phải nhiều sự phản đối, bất bình của nhân dân điển hình như hai vụ việc sau:

Vụ việc thứ nhất là vụ việc xảy ra liên quan đến Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân

2 huyện Tuy Phong tỉnh Bình Thuận Tổng Công ty Phát điện 3 (GENCO3, thuộc EVN), được khởi công xây dựng vào ngày 08/08/2010 với tổng công suất 1.244

MW, ở nhà máy này bãi xỉ rộng hơn 64 ha hằng ngày nhận 3.000 - 4.000 tấn tro, xỉ

từ hai tổ máy của nhà máy nhiệt điện thải ra Cạnh đó còn có ống khói rộng 7 m, cao 210 m liên tục phun khói, bụi chưa qua xử lý ra môi trường và đã gây ra nhiều cơn “bão xỉ” từ bãi than khiến người dân thôn Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Tân gánh chịu toàn bộ Nhiều hộ dân phải đóng chặt cửa suốt ngày, gây ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân trong vùng, cây cối, hoa màu cũng bị nhiều thiệt hại, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm,.… Chiều 15/04/2015, trên quốc lộ 1A đoạn qua xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (Bình Thuận) hàng trăm người dân địa phương dùng bàn ghế, đá, gạch làm chướng ngại vật đưa ra giữa lòng đường chặn xe, ném bom xăng để phản đối nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 gây ô nhiễm môi trường Sau khi thuyết phục người dân đã trả lại mặt đường QL1A quay về nhà lúc 3 giờ sáng Lúc 10g30 sáng 15/04, người dân ở thôn Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong bất ngờ ùa ra đường mang theo bàn ghế “tái chiếm” QL1A để tiếp tục chặn xe phản đối Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 gây ô nhiễm môi trường25

Vụ việc thứ hai liên quan đến dự án lấp sông của Đồng Nai: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã ra quyết định chấp thuận đầu tư dự án cải tạo cảnh quan và phát triển đô thị ven sông Đồng Nai rộng hơn 84.000 m2 cho Công ty Toàn Thịnh Phát triển khai khu đô thị Pegasus Residence Dự án dự kiến được triển khai xây dựng trong 9 năm, kinh phí đầu tư 2.200 tỷ đồng, khi hoàn thành sẽ góp phần rất lớn vào việc cải tạo cảnh quan, môi trường, tăng nhiều diện tích công viên và cây xanh, đồng thời phát triển thêm nhiều dịch vụ tiện ích công cộng cho người dân thành phố Biên Hòa Theo quy hoạch được duyệt, khu đô thị ven sông Pegasus Residence bao gồm khu cao ốc văn phòng kết hợp thương mại - dịch vụ, nhà ở riêng lẻ thấp tầng, chung cư cao cấp, khách sạn cao cấp 4 - 5 sao, trung tâm thương mại Đáng nói là trong đó, thể hiện phần diện tích lấn sông lên tới hơn 77.200 m2, phần còn lại hơn 6.800 m2 là đất hiện hữu

25 Tổng hợp từ các trang 1a-3201050.html,http://phapluattp.vn/thoi-su/binh-thuan-bao-xi-tan-cong-nguoi-dan-than-troi-541636.html, http://phapluattp.vn/thoi-su/dan-lai-tai-chiem-ql1a-tiep-tuc-phan-doi-bao-xi-546277.html (truy cập 18/06/2015)

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w