1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Viện kiểm sát cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố

128 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì các lý do trên, cho nên tôi chọn đề tài “Viện kiểm sát- cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố” làm luận văn thạc sỹ luật học để nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

ĐỖ THỊ KIM NGÂN

VIỆN KIỂM SÁT-CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành luật hình sự Mã số 60.38.40

Người hướng dẫn khoa học: TS VÕ THỊ KIM OANH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Đỗ Thị Kim Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 4

5.Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

6.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của luận văn 5

7.Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1.NHẬN THỨC CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 6

1.1.Khái niệm chung cơ quan tiến hành tố tụng 6

1.1.1.Định nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng 6

1.1.2.Đặc điểm cơ quan tiến hành tố tụng 7

1.1.3.Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng 13

1.2.Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 16

1.3.Khái niệm chung giai đoạn truy tố 19

1.3.1.Định nghĩa giai đoạn tố tụng hình sự 19

1.3.2.Đặc điểm giai đoạn truy tố 24

1.4.Sơ lược nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự qua các thời kỳ 27

CHƯƠNG 2.PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34

2.1.Pháp luật thực định về nhiệm vụ, quyền hạn của

Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giai đoạn truy tố và thực tiễn áp dụng 34

2.1.1.Quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố 34

2.1.2.Thực tiễn về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố 38

2.2.Pháp luật thực định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn

truy tố và thực tiễn áp dụng 42

2.2.1 Quy định pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 42

Trang 6

2.2.2.Thực tiễn Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi

thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố 58

CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 67

3.1.Cải cách tư pháp và nhu cầu nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự 67

3.1.1.Nhận thức chung cải cách tư pháp 67

3.1.2.Nhu cầu nâng cao vai trò của Viện kiểm sát 69

3.2.Các giải pháp tăng hiệu quả hoạt động Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố 71

3.2.1.Giải pháp về xây dựng pháp luật và hoàn thiện pháp luật 72

3.2.2.Các giải pháp khác 86

KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, trong những năm qua Viện kiểm sát

đã góp phần không nhỏ vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bên cạnh những mặt đã đạt được, phải nhìn nhận thực tế rằng chất lượng công tác

tư pháp chưa ngang tầm với yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới, vẫn còn xảy ra nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, Viện kiểm sát truy tố Tòa tuyên không phạm tội, vi phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước vào các cơ quan tư pháp Vì vậy, cải cách tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và đối với Viện kiểm sát nói riêng là nhiệm vụ cấp bách của công cuộc cải cách tư pháp, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ

trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã nêu “Viện kiểm sát các cấp

thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố

vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ” Viện

kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Trong đó, giai đoạn truy

tố thể hiện rõ nét nhất quyền hạn của Viện kiểm sát quyết định truy tố Hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố có ý nghĩa quan trọng, bởi lẽ đây là giai đoạn Viện kiểm sát xem xét toàn diện hồ sơ vụ án đã kết thúc điều tra về trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng và chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội để quyết định truy tố bị can trước Tòa án xét xử Tòa án không thể xét xử nếu không có quyết định truy tố của Viện kiểm sát Viện kiểm sát có quyền truy tố và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Trong mọi trường hợp Viện kiểm sát truy tố, Tòa tuyên không phạm tội đều thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát, điều đó đồng nghĩa với Viện kiểm sát truy tố oan, sai Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, do những bất cập trong quy định của luật, do hạn chế về năng lực, trình độ nghiệp vụ của Kiểm sát viên Mặt khác, đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh cải

Trang 8

cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người, quyền của bị can, bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, khắc phục oan, sai trong tố tụng Vì vậy, đòi hỏi Viện kiểm sát phải nâng cao nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố, đảm bảo quyết định truy tố đúng người, đúng tội, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Chính vì các lý do trên, cho nên tôi chọn đề tài “Viện kiểm sát- cơ quan

tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố” làm luận văn thạc sỹ luật học để

nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề lý luận chung về cơ quan tiến hành tố tụng, giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng hình sự, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố, quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật đã đạt được kết quả, phát sinh khó khăn, vướng mắc Qua đó, luận văn đưa ra giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc nhằm nâng cao nhiệm

vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

2.Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài, có một số công trình nghiên cứu đã được công bố như Luận văn thạc sỹ luật học năm 1998 “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Xuân Thanh, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1999 “Những vấn đề

lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố Việt Nam từ năm

1945 đến nay”, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2005 “Thực hành quyền công

tố theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003” của tác giả Phan Vũ Trang, Chuyên khảo “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” năm 2008 của tác giả Lê Hữu Thể, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2006 “Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Bùi Văn Hưng, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2007 “Chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự” của tác giả Võ Phước Long, Luận văn thạc sỹ luật học năm 2007 “Hoàn thiện chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự theo định hướng của cải cách tư pháp” của tác giả Triệu Ngọc Nhi Ngoài ra, còn có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Viện kiểm sát Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu cho thấy các tác giả nghiên cứu về quyền công tố, thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt

Trang 9

động tư pháp để nói đến chức năng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

hoặc trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong khi đó, giai

đoạn truy tố thể hiện rõ nét hoạt động của Viện kiểm sát về việc quyết định

truy tố bị can thì cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về Viện

kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố với nội dung

nghiên cứu việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai

đoạn truy tố nhằm nêu lên cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải

pháp nâng cao nhiệm vụ, quyền hạn Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

Từ những lý do đã nêu, trên cơ sở lý luận luật tố tụng hình sự và kinh

nghiệm thực tiễn hoạt động kiểm sát, đồng thời tiếp thu kết quả nghiên cứu

của các tác giả trước đây, tác giả chọn đề tài “Viện kiểm sát-cơ quan tiến

hành tố tụng trong giai đoạn truy tố” làm luận văn Thạc sỹ luật học của mình

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

- Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy

định của pháp luật và thực tiễn liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện

kiểm sát trong giai đoạn truy tố, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nâng cao

nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

- Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm

vụ:

+ Làm rõ lý luận về cơ quan tiến hành tố tụng, mối quan hệ giữa các cơ

quan tiến hành tố tụng; vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự; giai

đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng hình sự, có chủ thể tiến hành tố tụng là Viện

kiểm sát; lược sử nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát qua các thời kỳ

+ Nghiên cứu các quy định pháp luật tố tụng hình sự về nhiệm vụ,

quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố như trực tiếp tiến hành một số hoạt

động điều tra; quyết định truy tố; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;

quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định chuyển vụ án cho Viện

kiểm sát có thẩm quyền truy tố; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện

pháp ngăn chặn

Trang 10

+ Làm rõ thực trạng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn truy tố

+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành và các giải pháp khác nhằm nâng cao nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu chính và chủ yếu của luận văn là những vấn đề

lý luận, pháp lý và thực tiễn về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về nội dung, luận văn nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

+ Về địa bàn, phạm vi khảo sát trên cả nước

+ Về thời gian, khảo sát thực trạng công tác kiểm sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố từ năm 2005 đến nay

5.Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm, về nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật hình sự, luật tố tụng hình sự và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…nhằm làm sáng tỏ nội dung của luận văn

6.Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của luận văn

Luận văn phân tích những điểm mới liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố trong điều kiện đẩy mạnh cải

Trang 11

cách tư pháp Do đó, với những kết quả đã đạt được, luận văn có ý nghĩa và giá trị nhất định về phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn

- Về lý luận, luận văn đã góp phần hoàn thiện về mặt lý luận giai đoạn truy tố cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy

7.Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Nhận thức chung về Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố Chương 2 Pháp luật thực định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Giải pháp nâng cao việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ VIỆN KIỂM SÁT

TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ 1.1.Khái niệm chung cơ quan tiến hành tố tụng

1.1.1.Định nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, “cơ quan tiến hành tố tụng”

là “Cơ quan chuyên trách của Nhà nước thực hiện việc điều tra, truy tố, xét

xử vụ án hình sự”1

Giáo trình của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân ghi

nhận “Cơ quan tiến hành tố tụng là các cơ quan Nhà nước (bao gồm Cơ quan

điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự”2 Theo quan điểm của chúng tôi, định nghĩa nêu trên còn có điểm chưa hợp lý, bởi lẽ hiện nay Luật thi hành án hình sự đã có hiệu lực thi hành cho nên trình tự, thủ tục thi hành án hình sự được áp dụng theo Luật thi

hành án hình sự Do đó, định nghĩa cơ quan tiến hành tố tụng có nội dung “thi

hành án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự” là thiếu chính

xác Chúng tôi đồng ý với quan điểm được nêu trong Tập bài giảng Luật tố

tụng hình sự của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh “Cơ quan tiến

hành tố tụng là những cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Đó là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án” 3

Chúng tôi chia sẻ với quan điểm trên, tố tụng là quá trình tiến hành giải quyết

vụ án hình sự, khi có sự việc phạm tội xảy ra đòi hỏi Nhà nước phải có trách nhiệm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội Để giải quyết vụ án, Nhà nước tổ chức một số cơ quan chuyên trách và giao cho các cơ quan này trách nhiệm giải quyết vụ án hình

sự, được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng do Nhà nước tổ chức, thay mặt Nhà nước giải quyết vụ án hình sự cho nên cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự Giải quyết vụ án hình sự là quá trình phức tạp để xác định sự thật khách quan vụ

án, đòi hỏi Nhà nước phải ban hành các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh để đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự của cơ quan tiến

1 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, NXB Công an nhân dân, tr.163

2 Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (2001), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội, tr.37

3 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, thành phố Hồ Chí

Minh, tr.15

Trang 13

hành tố tụng đúng quy định của pháp luật về trình tự khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và được giao cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thẩm quyền thực hiện, trong đó Cơ quan điều tra có quyền khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát có quyền truy tố, Tòa án có quyền xét xử vụ án đảm bảo mọi tội phạm đều được phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý kịp thời, công minh, đúng pháp luật Do vậy, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là các

cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự

1.1.2.Đặc điểm cơ quan tiến hành tố tụng

- Cơ quan tiến hành tố tụng được giao quyền giải quyết vụ án hình sự

Giải quyết vụ án hình sự là trách nhiệm của Nhà nước Tuy nhiên, Nhà nước không thể tự mình giải quyết vụ án hình sự mà phải tổ chức một số cơ quan và giao quyền giải quyết vụ án hình sự cho các cơ quan này, được gọi là

cơ quan tiến hành tố tụng Trình tự tiến hành tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, do vậy cơ quan tiến hành tố tụng cũng được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự gồm có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án (Điều 33) Theo quy định của pháp luật, Cơ quan điều tra được quyền khởi

tố, điều tra, Viện kiểm sát có quyền truy tố, Tòa án có quyền xét xử Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án khi thực hiện quyền hạn được giao chính là đang tiến hành giải quyết vụ án hình sự Giải quyết vụ án hình sự là các hoạt động xác định sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội trên cơ sở chứng cứ được thu thập, truy cứu trách nhiệm hình sự để xét xử buộc họ phải chịu hình phạt về hành vi phạm tội mà họ đã gây ra Giải quyết vụ án bao gồm một chuỗi hoạt động tố tụng nối liền nhau của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, trong đó Tòa án không thể xét xử nếu không có Viện kiểm sát truy tố, Viện kiểm sát không thể truy tố nếu không có kết quả điều tra của

Cơ quan điều tra Ngoài ra, một số cơ quan khác cũng được quyền khởi tố, tiến hành một số hoạt động điều tra như Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Tuy nhiên, các cơ quan này không phải là cơ quan tiến hành tố tụng

- Cơ quan tiến hành tố tụng là chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình

sự

Trang 14

Phạm pháp hình sự xảy ra đòi hỏi Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết vụ án hình sự, làm phát sinh quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, để đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự đạt hiệu quả, Nhà nước ban hành quy phạm pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh, thay đổi, chấm dứt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, được gọi là quan hệ pháp luật tố tụng hình

sự Trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự luôn luôn có chủ thể tham gia có quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật Chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có nghĩa là các bên tham gia, trong đó có một bên là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là chủ thể bắt buộc có quyền giải quyết vụ án hình sự và một bên là người tham gia tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau nhưng các cơ quan này đều có quyền giải quyết vụ án, cùng thực hiện nhiệm vụ tố tụng hình sự cho nên các cơ quan tiến hành tố tụng có chung một số quyền và nghĩa vụ nhất định

+ Quyền của cơ quan tiến hành tố tụng

Quyền ban hành các quyết định cưỡng chế nhà nước đối với người tham gia tố tụng Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà

nước, phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự kể từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án

hình sự Để giải quyết vụ án hình sự có hiệu quả, đòi hỏi cơ quan tiến hành tố

tụng phải ra quyết định cưỡng chế nhà nước đối với người tham gia tố tụng, nhất là đối với người phạm tội Các quyết định tố tụng mang tính cưỡng chế của cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can thể hiện ý chí của Nhà nước về việc khởi tố hình sự đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội; lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm hạn chế quyền tự do của người phạm tội, ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm; quyết định truy tố bị can ra Tòa xét xử buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; bản án của Tòa án tuyên buộc bị cáo phải chịu hình phạt về hành vi phạm tội và có hiệu lực bắt buộc thi hành Người tham gia tố tụng không tự nguyện chấp hành quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng phải bị áp dụng biện pháp cưỡng chế như truy nã bị can trong trường hợp bị can bỏ trốn,

Trang 15

áp giải bị cáo trong trường hợp bị cáo vắng mặt tại phiên tòa không có lý do

chính đáng…

Quyền buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng Trong tố tụng hình sự,

cơ quan tiến hành tố tụng có quyền giải quyết vụ án hình sự Mục đích giải quyết vụ án hình sự nhằm buộc người phạm tội phải chịu hình phạt về hành

vi phạm tội của mình Quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng chính là thay mặt Nhà nước buộc tội đối với một người hoặc một nhóm người bằng các quyết định tố tụng chứng minh hành vi phạm tội của họ Hoạt động của Cơ quan điều tra trong việc ra quyết định khởi tố vụ án, khởi

tố bị can, Viện kiểm sát truy tố chính là buộc tội bị can để đưa ra Tòa xét xử Tòa án xét xử tuyên bản án, đưa ra phán quyết buộc bị cáo về tội danh và phải chịu hình phạt về hành vi phạm tội, bản án của Tòa án có hiệu lực bắt buộc thi hành Toàn bộ những hoạt động này của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa

án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là thực hiện quyền buộc tội Ngoài

ra, luật quy định một số trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại Tuy nhiên, yêu cầu của người bị hại là điều kiện cần để cơ quan tiến hành

tố tụng áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tội chứ người bị hại không thể hoàn toàn làm thay cơ quan tiến hành tố tụng buộc tội Do vậy, quyền buộc tội bị can, bị cáo chỉ có ở cơ quan tiến hành tố tụng

+ Nghĩa vụ pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng

Nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án Cơ quan tiến hành tố tụng có

quyền giải quyết vụ án hình sự, để giải quyết vụ án đúng đắn đòi hỏi cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án Bộ luật

tố tụng hình sự hiện hành quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 10) Nghĩa vụ xác định sự thật của vụ án được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong suốt quá trình giải quyết

vụ án hình sự Trong giai đoạn khởi tố, Cơ quan điều tra phải xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không, do ai thực hiện Giai đoạn điều tra,

Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, Viện kiểm sát có quyền đề ra yêu cầu điều tra để làm rõ nội dung vụ án, đảm bảo vụ án được khởi tố, điều tra khách quan, toàn diện, đúng sự thật Trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát kiểm tra, xem xét một cách toàn diện việc thu thập, đánh

Trang 16

giá chứng cứ và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án đã được thu thập trong giai đoạn khởi tố, điều tra Ngoài ra, Viện kiểm sát có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ làm rõ nội dung vụ án để quyết định truy tố có căn cứ Quyết định truy tố của Viện kiểm sát là sự đánh giá tổng hợp các chứng cứ chứng minh tội phạm của Cơ quan điều tra trong giai đoạn khởi tố, điều tra và chứng cứ do Viện kiểm sát thu thập trong giai đoạn truy tố bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội…để quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội dựa trên chứng cứ có thật, liên quan đến vụ án chứ không dựa trên suy luận chủ quan Trong giai đoạn xét

xử, Tòa án thẩm tra, đánh giá tổng hợp tất cả các chứng cứ, những tình tiết của vụ án để tuyên bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Nghĩa vụ chấp hành pháp luật và chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình Nhà nước giao cho cơ quan tiến hành tố tụng có quyền

giải quyết vụ án hình sự và quy định cho các cơ quan này có một số quyền hạn nhất định khi tiến hành tố tụng, đồng thời cũng ràng buộc nghĩa vụ pháp

lý buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện quyền của mình trong phạm

vi luật định Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp đảm bảo các hoạt động tố tụng mang tính hợp Hiến; tuân thủ đúng quy định của luật hình sự trong việc xác định tội danh, khung hình phạt, tình tiết tăng tặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định mức hình phạt; tuân thủ quy định của luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo vụ án được giải quyết trên cơ sở luật pháp Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện đúng các quy định của pháp luật thì tùy theo mức độ sai phạm, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, nếu gây thiệt hại cho người tham gia tố tụng hoặc những người khác thì phải

bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

- Các cơ quan tiến hành tố tụng cùng thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn riêng, tuy nhiên việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn riêng của từng cơ quan tiến hành tố tụng đều nhằm phát hiện chính xác, nhanh

Trang 17

chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người

ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 1

Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành) Các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ này cũng chính là nhiệm vụ của tố tụng hình sự Để thực hiện nhiệm

vụ chung đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải có nghĩa vụ phối hợp với nhau Nếu thiếu sự phối hợp, các cơ quan tiến hành tố tụng không hoàn thành nhiệm vụ đề ra, bởi vì mỗi cơ quan đều có nhiệm vụ riêng mà kết quả hoạt động của cơ quan này là tiền đề cho hoạt động của cơ quan khác Tuy nhiên, nếu phối hợp quá mức dễ dẫn đến lạm quyền, do đó để tránh lạm quyền thì giữa các cơ quan tiến hành tố tụng phải chế ước nhau Sự chế ước này giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ riêng và hoàn thành nhiệm vụ chung, làm cho quá trình giải quyết vụ án hình sự có hiệu quả Cơ quan điều tra có nhiệm vụ xác định sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng mọi hành vi phạm tội Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra đảm bảo hoạt động khởi tố, điều tra được tiến hành khách quan, toàn diện Trên cơ sở xem xét, đánh giá kết quả điều tra, xét thấy hành vi của bị can đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm,

vụ án được khởi tố, điều tra đúng trình tự, thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra Tòa án xét xử, tuyên bản án khách quan, công bằng, đúng pháp luật, đảm bảo không có tội phạm nào không bị phát hiện, điều đó

có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Người phạm tội là người đã xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Do đó, hành vi phạm tội phải bị xử lý theo quy định của pháp luật trên cơ sở bản án tuyên của Tòa án không những có tác dụng răn đe, giáo dục người phạm tội mà còn tác động đến những người đang

có ý định chuẩn bị thực hiện tội phạm, ngăn chặn họ phạm tội, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,

Trang 18

quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Từ những đặc điểm cơ quan tiến hành tố tụng đã nêu trên, nhận thấy Viện kiểm sát có đầy đủ các đặc điểm của cơ quan tiến hành tố tụng Bởi lẽ, Viện kiểm sát là cơ quan do Nhà nước thành lập, được Nhà nước giao cho quyền tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng kể từ khi có tin báo, tố giác tội phạm đến khi xét xử như kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát điều tra, truy tố, kiểm sát xét xử nhằm đảm bảo quá trình giải quyết vụ án được vận hành liên tục, nối tiếp nhau về trình tự tố tụng, điều đó có nghĩa là vụ án sẽ không được giải quyết nếu không có Viện kiểm sát Chẳng hạn, Viện kiểm sát không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì vụ án phải dừng lại ở giai đoạn khởi tố, không có giai đoạn tố tụng tiếp theo Mặc dù Tòa án là cơ quan có quyền xét

xử vụ án, xử lý người phạm tội bằng bản án có hiệu lực bắt buộc thi hành để hoàn thành việc giải quyết vụ án, tuy nhiên Tòa án chỉ thực hiện quyền xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm sát, nếu Viện kiểm sát không truy

tố thì Tòa án không được quyền xét xử vụ án và kết quả điều tra cũng trở nên

vô nghĩa Vì vậy, Viện kiểm sát chính là cơ quan có quyền giải quyết vụ án

Để thực hiện quyền giải quyết vụ án, Viện kiểm sát phải tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với tư cách là một bên có quyền giải quyết vụ án Nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án có hiệu quả, Nhà nước ban hành pháp luật quy định Viện kiểm sát có quyền ra các quyết định tố tụng mang tính cưỡng chế Nhà nước đối với người phạm tội như quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn lệnh tạm giam, quyết định truy tố bị can ra Tòa nhằm buộc tội bị can Viện kiểm sát thực hiện quyền giải quyết vụ án hình sự, buộc tội bị can, bị cáo nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Để tránh lạm quyền, luật quy định Viện kiểm sát có nghĩa vụ thực hiện quyền của mình trong phạm vi luật định và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình theo quy định của pháp luật, chẳng hạn như Viện kiểm sát có quyền quyết định truy tố, tuy nhiên Viện kiểm sát chỉ được quyền truy tố đối với bị can đã được khởi tố, điều tra, nếu Viện kiểm sát truy

tố oan, sai thì phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan Các quyền và nghĩa vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự cũng chính là quyền và nghĩa vụ pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng Viện kiểm sát thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hình sự nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt

Trang 19

tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,

tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ này cũng chính là thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng

1.1.3.Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

- Khái niệm mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Mối quan hệ là sự gắn liền mặt nào đó giữa hai hoặc nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia

Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan quyền lực nhà nước có quyền giải quyết

vụ án hình sự theo trình tự do luật tố tụng hình sự quy định, cùng thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng có mối quan hệ với nhau để thực hiện nhiệm vụ đó Theo quan điểm của chúng

tôi, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là sự gắn liền giữa các

cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng này có tác động đến hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng khác nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự

- Đặc điểm mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

+Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Phối hợp có nghĩa là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp để hỗ

trợ cho nhau Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng là cùng hỗ

trợ nhau để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trong đó Cơ quan điều tra có chức năng khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, xét xử, Tòa án có chức năng xét xử Ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ riêng của từng ngành, các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ chung là giải quyết vụ án hình sự chính xác, kịp thời và đúng pháp luật Nếu thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thì hoạt động tố tụng không đạt hiệu quả, vụ án hình sự không được giải quyết theo đúng trình tự tố tụng

Trang 20

+Mối quan hệ chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng

Khái niệm chế ước được hiểu là bị hạn chế, bị khống chế trong những phạm vi và trong những điều kiện nhất định Quan hệ chế ước là sự tác động qua lại giữa các bên theo hướng khống chế lẫn nhau Như vậy sự chế ước giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự được thể hiện mỗi cơ quan bị khống chế việc thực hiện các hoạt động tố tụng của mình trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do luật quy định đối với từng

cơ quan để tránh lạm quyền giữa các cơ quan trong trường hợp phối hợp quá mức, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật

+ Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng được đặt ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Các cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền giải quyết vụ án hình sự

Do vậy, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng được đặt ra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Kể từ khi có sự việc phạm tội xảy ra, mỗi cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cùng nhau phối hợp

để tìm ra sự thật của vụ án, xác định đúng người thực hiện hành vi phạm tội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng pháp luật

+ Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng xuất phát từ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan trong quá trình tiến hành tố tụng

Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng bắt nguồn từ quy định

về tổ chức, hoạt động của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước, Nhà nước giao cho Cơ quan điều tra có chức năng khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự, Tòa án có chức năng xét xử Các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện đúng chức năng của từng ngành và có nhiệm vụ, quyền hạn để đảm bảo giải quyết vụ án được thực hiện xuyên suốt theo tiến trình tố tụng Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án Vì vậy, khi nghiên cứu mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiên cứu mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong tố tụng hình sự

Trang 21

-Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được đặt ra từ khi

có tin báo, tố giác tội phạm Cơ quan điều tra giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, Viện kiểm sát kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiểm sát việc khởi tố của Cơ quan điều tra đảm bảo việc khởi tố có căn cứ Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành thu thập chứng cứ, Viện kiểm sát kiểm sát điều tra đảm bảo kết quả điều tra khách quan, toàn diện Hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra là tiền đề để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra, do đó Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phải có mối quan hệ phối hợp với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Ngoài ra, để tránh lạm quyền trong tố tụng hình sự, giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát còn có mối quan hệ chế ước Viện kiểm sát chế ước Cơ quan điều tra thông qua quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra Tuy nhiên, Cơ quan điều tra cũng có quyền chế ước lại Viện kiểm sát đó là nếu Cơ quan điều tra không đồng ý với quyết định của Viện kiểm sát cùng cấp thì có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên

- Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong tố tụng hình sự

Tòa án có chức năng xét xử, Viện kiểm sát có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử cho nên giữa Viện kiểm sát và Tòa án vừa

có quan hệ phối hợp vừa có quan hệ chế ước để đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và Tòa án được hình thành khi Viện kiểm sát quyết định truy tố và chuyển

hồ sơ đến Tòa án để xét xử Quyết định truy tố của Viện kiểm sát là cơ sở để Tòa án xét xử Tòa án xét xử để khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ hay không Viện kiểm sát chế ước Tòa án thông qua quyết định truy tố của Viện kiểm sát giới hạn xét xử của Tòa án Mặt khác, Tòa án cũng có quyền chế ước đối với Viện kiểm sát, cụ thể như Tòa án có quyền xét

xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát

đã truy tố, có quyền tuyên bị cáo không phạm tội nếu xét thấy hành vi không

đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà không phụ thuộc vào quyết định truy tố

Trang 22

- Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Tòa án trong tố tụng hình sự

Cơ quan điều tra và Tòa án thực hiện nhiệm vụ riêng được quy định ở những giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau cho nên giữa Cơ quan điều tra và Tòa án không có mối quan hệ chế ước Tuy nhiên, việc thực hiện nhiệm vụ riêng đó không ngoài nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật cho nên giữa

Cơ quan điều tra và Tòa án có mối quan hệ phối hợp với nhau Quan hệ giữa

Cơ quan điều tra và Tòa án được thể hiện thông qua hoạt động xét xử, Tòa án kiểm tra công khai kết quả điều tra của Cơ quan điều tra Cơ quan điều tra thực hiện những việc làm đảm bảo cho Tòa án thực hiện nhiệm vụ xét xử như truy nã, bắt bị can, bị cáo để phục vụ xét xử, áp giải giải bị cáo

1.2.Vị trí, vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

- Vị trí Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát chiếm vị trí đặc biệt quan trọng,

có tính quyết định xuyên suốt toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng từ khi khởi

tố, điều tra, truy tố đến lúc xét xử Hoạt động của Viện kiểm sát là hoạt động không thể thiếu được trong tố tụng hình sự, Tòa án muốn xét xử vụ án thì trước đó vụ án phải được khởi tố, điều tra, Viện kiểm sát phải kiểm sát việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra như kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giam, kiểm sát các hoạt động điều tra đúng trình tự, thủ tục

tố tụng Vị trí quan trọng của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự không chỉ giới hạn ở hoạt động kiểm sát, đánh giá việc thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra như chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội để quyết định truy tố người phạm tội mà quyết định truy tố của Viện kiểm sát là căn cứ giới hạn việc xét

xử của Tòa án và là cơ sở pháp lý để Tòa án tuyên bản án đúng pháp luật Sự nhận định, đánh giá tội phạm của Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người phạm tội và kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án là cơ

sở quan trọng để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Viện kiểm sát quyết định sự thành bại đối với cả tiến trình tố tụng thông qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Tính quyết định xuyên suốt quá

Trang 23

trình tố tụng thể hiện ở chỗ Viện kiểm sát là cơ quan độc quyền truy tố và không cơ quan nào khác ngoài Viện kiểm sát là cơ quan chịu trách nhiệm về mặt chứng cứ của vụ án trước Tòa án Kết quả điều tra, chất lượng truy tố cũng như hoạt động xét xử của Tòa án có đúng theo quy định của pháp luật hay có sai lầm nghiêm trọng như bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, chứng cứ yếu, thiếu, không đầy đủ dẫn đến Tòa án phải đình chỉ

vụ án hoặc tuyên bị cáo không phạm tội đều thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát, điều đó đồng nghĩa với việc Viện kiểm sát đã truy cứu trách nhiệm hình

sự một người không đúng pháp luật Do vậy, nếu không có Viện kiểm sát thì Tòa án không thể tiến hành xét xử vụ án, việc giải quyết vụ án không được thực hiện và hoạt động của Cơ quan điều tra cũng trở nên vô nghĩa

- Vai trò Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định khi tiến hành tố tụng Viện kiểm sát có hai nhiệm vụ đó là thực hành quyền công

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát còn có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc phòng ngừa tội phạm và giáo dục pháp luật Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hai chức năng cơ bản của Viện kiểm sát đã được quy định rõ tại Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành

Quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước truy

cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ra trước Tòa án Quyền công

tố chỉ có trong tố tụng hình sự chứ không có trong các lĩnh vực khác Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự là sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy tố bị can ra Tòa xét xử Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự từ khi có hành vi phạm tội xảy ra cho đến khi vụ án được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự, đó là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư

Trang 24

pháp hình sự Kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất là Viện kiểm sát thực hiện Thông qua hoạt động này, Viện kiểm sát có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của Cơ quan điều tra, Tòa án và những người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp

do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để loại trừ vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động trong quá trình tiến hành tố tụng vụ án hình sự được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hai chức năng có nội dung khác nhau nhưng có liên hệ mật thiết với nhau, biện chứng, hỗ trợ cho nhau, trong đó hoạt động công tố là tiền đề cho hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và ngược lại, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả là điều kiện đảm bảo hoạt động công tố đúng đắn Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lý kịp thời, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải khởi tố và quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ pháp lý Trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động điều tra nhằm bảo đảm kết quả điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác và đúng pháp luật, các quyền công dân không bị hạn chế một cách trái pháp luật nhất là quyền tự do, dân chủ Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên cơ sở kiểm tra kết quả điều tra của Cơ quan điều tra để quyết định truy tố có căn cứ và đúng pháp luật Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố để đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án đảm bảo việc xét xử được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, bản án của Tòa án tuyên có căn cứ, đúng với tính chất, hành vi của bị cáo Trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và là cơ quan chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước, trước xã hội và công dân về hoạt động và kết quả điều tra, truy tố,

Trang 25

xét xử vụ án hình sự Mọi hành vi phạm tội có được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo đúng pháp luật hay làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đều thuộc trách nhiệm của Viện kiểm sát

1.3 Khái niệm chung giai đoạn truy tố

1.3.1.Định nghĩa giai đoạn tố tụng hình sự

Tố tụng hình sự là trình tự, quá trình tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm xác định sự thật khách quan vụ án Luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định và được phân chia thành các giai đoạn tố tụng hình

sự khác nhau Theo Tập bài giảng của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí

Minh ghi nhận “Giai đoạn tố tụng hình sự là các bước nối tiếp nhau của quá

trình giải quyết vụ án hình sự mà ở mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng, có chủ thể, có hành vi và quyết định tố tụng đặc thù”4

Chúng tôi đồng ý với quan

điểm trên về những đặc trưng cơ bản của giai đoạn tố tụng hình sự: nhiệm vụ, chủ thể, hành vi, quyết định tố tụng đặc thù và khẳng định giai đoạn tố tụng hình sự là các bước nối tiếp nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, phân tích như thế chưa đủ, theo chúng tôi ngoài các nội dung trên, giai đoạn tố tụng hình sự phải có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng, bởi vì thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc xác định ranh giới giữa các giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó kết thúc giai đoạn tố tụng phải có văn bản hoặc quyết định tố tụng chính là cột mốc để xác định ranh giới đó Sự tồn tại của mỗi giai đoạn tố tụng hình sự không tách rời khỏi sự tồn tại của tố tụng hình sự Các giai đoạn tố tụng hình sự được xác lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và được thực hiện liên tục, kế tiếp nhau

về mặt thời gian, kết thúc giai đoạn tố tụng này mới chuyển sang giai đoạn tố tụng khác, giai đoạn tố tụng trước làm nền tảng cho giai đoạn tố tụng sau, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả đạt được của giai đoạn trước Sự phân chia các giai đoạn không chỉ đơn thuần là xác định nhiệm vụ của từng giai đoạn mà còn làm rõ chủ thể trong giai đoạn có quyền và nghĩa vụ nhất định, có đặc trưng riêng về hành vi và quyết định tố tụng, có thời điểm bắt

4 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng luật tố tụng hình sự,thành phố Hồ Chí

Minh, tr.9

Trang 26

đầu và thời điểm kết thúc giai đoạn tố tụng được xác định bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng để đánh dấu bước ngoặc chuyển sang giai đoạn tố tụng

khác Vì vậy, chúng tôi định nghĩa như sau: Giai đoạn tố tụng hình sự là các

bước nối tiếp nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự mà ở mỗi giai đoạn

có nhiệm vụ riêng, có chủ thể, có hành vi, quyết định tố tụng đặc thù, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng Từ

định nghĩa trên, giai đoạn tố tụng hình sự có đặc trưng cơ bản sau đây:

- Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng, nhưng đều nhằm thực hiện nhiệm

chung của tố tụng hình sự

Nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nhiệm vụ chung đó được thực hiện thông qua nhiệm vụ của từng giai đoạn tố tụng Giai đoạn khởi tố có nhiệm vụ xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không có dấu hiệu tội phạm Sự việc không có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Trên cơ sở quyết định khởi tố vụ án hình sự, giai đoạn điều tra có nhiệm vụ thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội Căn cứ vào chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố có nhiệm

vụ kiểm tra, đánh giá chứng cứ để truy tố người phạm tội ra tòa Trên cơ sở quyết định truy tố, giai đoạn xét xử có nhiệm vụ ra bản án giải quyết vụ án trên cơ sở thẩm tra, đánh giá chứng cứ công khai tại phiên tòa Thực hiện tất

cả các nhiệm vụ của từng giai đoạn tố tụng tạo thành nhiệm chung của tố tụng hình sự Điều này có nghĩa là giai đoạn tố tụng hình sự là một bộ phận, là một phần của tố tụng hình sự Sự tồn tại của mỗi giai đoạn tố tụng hình sự không tách rời khỏi sự tồn tại của tố tụng hình sự và của các giai đoạn tố tụng hình

sự khác, nhiệm vụ của giai đoạn này là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ giai đoạn tiếp theo Giai đoạn sau nối tiếp giai đoạn trước và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động của giai đoạn trước, phát hiện, khắc phục sai sót của giai đoạn trước Tuy nhiên, giải quyết vụ án hình sự không phải lúc nào cũng phải trải qua tất cả các giai đoạn, trong một số trường hợp giải quyết nhiệm vụ của một giai đoạn tố tụng hình sự có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự

Ví dụ thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố, nếu xác định không có dấu hiệu của tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án Cũng có trường hợp

Trang 27

thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn truy tố, nếu có căn cứ phải chấm dứt tiến hành tố tụng thì quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố, không có giai đoạn xét xử

- Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có đặc trưng riêng về chủ thể

Trong một giai đoạn tố tụng hình sự luôn có sự tham gia của hai loại chủ thể là cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Nhiệm vụ của mỗi giai đoạn khác nhau quy định đặc trưng chủ thể khác nhau Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố là xác định có hay không

có dấu hiệu của tội phạm để quyết định khởi tố vụ án hình sự Do tội phạm xảy ra mọi lúc, mọi nơi và phải được phát hiện nhanh chóng, kịp thời cho nên luật quy định chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự gồm nhiều cơ quan: Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử; những người tham gia tố tụng gồm người tố giác tội phạm, người bị tạm giữ, người làm chứng Chủ thể của giai đoạn điều tra là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan Hải Quan, Kiểm Lâm, Bộ đội biên phòng và các cơ quan khác trong Công an và Quân đội được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động đều tra; bị can và một số người tham gia tố tụng khác Tuy nhiên, giai đoạn điều tra đòi hỏi phải có nghiệp vụ điều tra để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm cho nên chủ thể chủ yếu của giai đoạn này là Cơ quan điều tra Đồng thời, giai đoạn điều tra cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn bị can để phục vụ hoạt động điều tra có hiệu quả cho nên đòi hỏi phải có sự can thiệp mạnh mẽ của Viện kiểm sát để đảm bảo các hoạt động điều tra và việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật Giai đoạn truy tố nhằm truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội cho nên chủ thể trong giai đoạn này là cơ quan có chức năng buộc tội đó là Viện kiểm sát, những người tham gia tố tụng gồm bị can và những người tham gia tố tụng khác Giai đoạn xét xử, chủ thể trong giai đoạn này là Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng gồm

bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để thực hiện chức năng buộc tội, gỡ tội, bào chữa

- Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có đặc trưng riêng về hành vi và quyết

định tố tụng

Trang 28

Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ và chủ thể khác nhau đòi hỏi phải có hành vi và quyết định tố tụng khác nhau Hành vi và quyết định

tố tụng đặc trưng của giai đoạn khởi tố là xác minh tin báo, tố giác tội phạm, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo luật định để tìm ra dấu vết của tội phạm, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị

can Giai đoạn điều tra có các hành vi và quyết định tố tụng đặc trưng là sử

dụng nghiệp vụ, chiến thuật điều tra để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và có bản kết luận điều tra Giai đoạn truy tố có hành vi và quyết định

tố tụng đặc trưng là kiểm sát, đánh giá kết quả điều tra của Cơ quan điều tra

để quyết định truy tố bị can ra Tòa Hành vi và quyết định tố tụng đặc trưng của giai đoạn xét xử là thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa để Hội đồng xét xử ra bản án

- Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có đặc trưng riêng về các quan hệ pháp

luật tố tụng hình sự

Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng, chủ thể riêng, các hoạt động tố tụng riêng cho nên cũng có đặc trưng riêng về quan hệ pháp luật tố tụng Giai đoạn khởi tố có mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền khởi tố với Viện kiểm sát, mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền khởi tố với người tố giác tội phạm Giai đoạn điều tra có mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền điều tra với Viện kiểm sát, mối quan hệ giữa cơ quan có thẩm quyền điều tra với bị can, người bị hại Giai đoạn truy tố có mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với bị can, người bị hại Giai đoạn xét xử có mối quan hệ giữa Tòa án với Viện kiểm sát, giữa Tòa án với bị cáo, người bị hại

- Mỗi giai đoạn tố tụng hình sự có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết

thúc bằng văn bản hoặc quyết định tố tụng

Quá trình tiến hành tố tụng được phân chia thành các giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi giai đoạn tố tụng có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc, thời điểm kết thúc của giai đoạn được đánh dấu bằng văn bản hoặc quyết định

tố tụng chấm dứt giai đoạn tố tụng này, làm phát sinh giai đoạn tố tụng tiếp theo Trong giai đoạn tố tụng hình sự có rất nhiều quyết định tố tụng nhưng

Trang 29

chỉ có quyết định tố tụng làm thay đổi cơ bản đối với tiến trình tố tụng hình sự trong một giai đoạn mới có ý nghĩa làm xuất hiện hay kết thúc một giai đoạn

tố tụng Quyết định khởi tố vụ án hình sự làm kết thúc giai đoạn khởi tố và phát sinh giai đoạn điều tra; bản kết luận điều tra làm kết thúc giai đoạn điều tra và phát sinh giai đoạn truy tố; quyết định truy tố làm kết thúc giai đoạn truy tố, phát sinh giai đoạn xét xử; bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án làm kết thúc giai đoạn xét xử thực hiện nhiệm vụ giải quyết vụ án

1.3.2.Đặc điểm giai đoạn truy tố

Theo Tập bài giảng luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật thành

phố Hồ Chí Minh ghi nhận“Truy tố là giai đoạn của tố tụng hình sự do Viện

kiểm sát có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết nhằm buộc tội bị can trước Tòa án thẩm quyền thể hiện qua bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố” 5

Chúng tôi đồng ý với quan điểm trên đã ghi nhận truy tố là

một giai đoạn tố tụng hình sự, bởi vì truy tố có đặc trưng riêng về nhiệm vụ truy tố bị can ra Tòa, chủ thể trong giai đoạn truy tố là Viện kiểm sát và bị can, làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa hai chủ thể này, trong đó Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng có quyền thực hiện hoạt động tố tụng buộc tội bị can và có quyết định truy tố bị can ra Tòa Giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng hình sự, bởi vậy giai đoạn truy tố có đầy đủ đặc trưng của giai đoạn tố tụng hình sự:

- Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố có nhiệm vụ kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố bị can ra Tòa Nhiệm vụ này được thể hiện qua nội dung:

+Nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra có được tuân thủ đúng quy định của pháp luật hay không Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ vụ án đã kết thúc điều tra, kiểm tra lại kết quả điều tra trên cơ sở đánh giá một cách toàn diện, khách quan các chứng

cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng xem

có được tuân thủ đúng quy định của luật tố tụng hình sự hay còn thiếu sót để

5 Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tập bài giảng luật tố tụng hình sự, thành phố Hồ Chí

Minh, tr.279

Trang 30

quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục sai

phạm để chắc chắn rằng Viện kiểm sát chỉ ra quyết định truy tố khi kết quả

điều tra được tiến hành đầy đủ, toàn diện

+Nhiệm vụ thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố

Thực hành quyền công tố có nghĩa là sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung quyền công tố nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối

với người phạm tội Sau khi kiểm sát kết quả điều tra vụ án, xét thấy hồ sơ đã

đủ chứng cứ buộc tội và được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng,

Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can ra Tòa án để xét xử Nếu xét thấy có

căn cứ không được truy tố bị can theo luật định thì quyết định tạm đình chỉ

hoặc đình chỉ vụ án Nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành

quyền công tố trong giai đoạn truy tố có nội dung khác nhau nhưng có mối

liên hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, trong đó nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong giai đoạn truy tố là tiền đề đảm bảo quyết định truy tố của

Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật

- Chủ thể trong giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố có hai loại chủ thể đó là cơ quan tiến hành tố tụng

(Viện kiểm sát), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó viện trưởng, Kiểm

sát viên) và những người tham gia tố tụng (bị can, bị hại…) Do nhiệm vụ của

giai đoạn truy tố là kiểm sát, đánh giá kết quả điều tra của Cơ quan điều tra và

quyết định truy tố bị can ra Tòa cho nên cơ quan tiến hành tố tụng trong giai

đoạn truy tố phải là Viện kiểm sát Chỉ có Viện kiểm sát mới có nhiệm vụ

thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn

truy tố để quyết định truy tố nhằm buộc tội bị can Viện kiểm sát có quyền

truy tố người bị tình nghi thực hiện tội phạm đã được khởi tố, điều tra do vậy

người tham gia tố tụng bắt buộc trong giai đoạn này phải là bị can và có sự

tham gia của những người tham gia tố tụng khác liên quan đến vụ án

- Giai đoạn truy tố có đặc trưng riêng về hành vi và quyết định tố tụng

Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá chứng cứ của Cơ

quan điều tra và quyết định truy tố bị can ra Tòa cho nên đòi hỏi giai đoạn

truy tố phải có hành vi và quyết định tố tụng đặc trưng để thực hiện nhiệm vụ

đó, bao gồm các hành vi như xem xét, đánh giá chứng cứ buộc tội, chứng cứ

Trang 31

gỡ tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân người phạm tội, định tội danh, khung hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự, trình tự tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Các hoạt động tố tụng này nhằm thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn truy tố là quyết định truy tố bị can cho nên quyết định truy tố chính là quyết định tố tụng đặc thù trong giai đoạn truy tố

+ Giai đoạn truy tố có đặc trưng riêng về các quan hệ pháp luật tố

tụng hình sự

Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự là mối quan hệ giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Giai đoạn truy tố có nhiệm vụ truy tố bị can ra Tòa cho nên quan hệ pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn truy tố là mối quan hệ giữa một bên là cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) và một bên chủ thể là người tham gia tố tụng (bị can ) Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn truy tố có quyền và nghĩa vụ pháp lý gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ giai đoạn truy tố Vì vậy, trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát có quyền như sau: Đối với nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát có quyền quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên, yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra và thay đổi Điều tra viên; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và

vi phạm pháp luật Đối với nhiệm vụ thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát

có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; khởi tố bị can; quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ cho rằng hồ sơ thiếu chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được, có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định truy tố Ngoài ra, khi tiến hành

tố tụng Viện kiểm sát có nghĩa vụ tuân thủ đúng quy định của pháp luật và

Trang 32

phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình Đối với người tiến hành tố tụng nhân danh cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện quyền và nghĩa

vụ của cơ quan tiến hành tố tụng cho nên quyền và nghĩa vụ của họ gắn liền với quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng Đối với bị can có quyền được biết mình phạm tội gì, được nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát

và phải có nghĩa vụ chấp hành quyết định tố tụng của Viện kiểm sát

+ Giai đoạn truy tố có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc bằng quyết định tố tụng

Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra làm kết thúc giai đoạn điều tra và phát sinh giai đoạn truy tố Thời điểm bắt đầu giai đoạn truy tố từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ vụ án đã kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định nhằm thực hiện nhiệm vụ giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố bị can ra Tòa xét xử vụ án Do đó, Viện kiểm sát quyết định truy tố có nghĩa là thực hiện xong nhiệm vụ giai đoạn truy tố, vì vậy quyết định truy tố chính là quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn truy tố Thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn truy tố cũng nhằm thực hiện nhiệm

vụ của tố tụng hình sự là xử lý người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Cho nên, khi có căn cứ cho rằng nếu truy tố sẽ dẫn đến oan sai thì Viện kiểm sát phải quyết định đình chỉ vụ án, chấm dứt tiến hành

tố tụng đối với vụ án, vì vậy quyết định đình chỉ vụ án cũng là quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn truy tố

1.4 Sơ lƣợc nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình

sự qua các thời kỳ

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát từ trước năm 1988

Luật tố tụng hình sự Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, việc giải quyết vụ án hình sự chỉ căn cứ vào các văn bản pháp luật tố tụng hình sự như Chỉ thị ngày 16/4/1945 của Tổng bộ Việt Minh quy định lề lối làm việc của tiểu ban tư pháp và thẩm quyền xét xử của tiểu ban này Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, mặc dù chưa

có Bộ luật tố tụng hình sự, không có tên gọi Viện kiểm sát, tuy nhiên, Nhà nước ban hành Sắc lệnh ngày 13/9/1945 về việc thành lập Tòa án quân sự,

Trang 33

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc Lệnh số 33A ngày 14/9/1945 quy định mỗi khi bắt người phải thông báo ngay cho ông Biện Lý biết (tức là Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố) Tiếp theo, trong Sắc Lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định đứng buộc tội, tùy quyết nghị của Bộ trưởng Bộ tư pháp sẽ là một nhân viên của công tố viện do ông Chưởng lý tòa Thượng thẩm chỉ định Như vậy, Công tố viện đã được hình thành dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Tuy nhiên, Sắc lệnh quy định đầy đủ về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp là Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa án, quy định Tòa thượng thẩm có Thẩm phán buộc tội gồm Chưởng lý, Phó chưởng lý, Tham lý; Tòa đệ nhị cấp có Biện lý, Phó biện lý; các Thẩm phán buộc tội hợp thành một đoàn thể độc lập với Thẩm phán xử án có nhiệm vụ truy tố bằng cáo trạng, thay mặt Nhà nước buộc tội tại phiên tòa Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định người làm nhiệm vụ Công tố viện có nhiệm vụ tư pháp cảnh sát, giám sát hành động ban tư pháp cảnh sát; thực hiện nhiệm vụ công tố, có quyền hỏi cung bị can, hạ trát tống giam, tạm đình cứu hoặc miễn tố vô thẩm quyền, khởi tố trạng, quyết tố trạng ra mệnh lệnh đưa việc kiện ra xét xử tại phiên tòa hoặc phải có mặt tại phiên tòa để buộc tội bị can, giám sát hoạt động xét xử,

có quyền kháng cáo án đã tuyên; có nhiệm vụ thi hành những án đã có tư pháp hiệu lực, đốc thúc chấp hành án văn liên quan đến trật tự chung; trông nom và đệ lên Bộ trưởng Bộ Tư pháp những hồ sơ xin ân xá hay xin phóng thích; trông nom việc thi hành các đạo luật, sắc lệnh, quy tắc hiện hành Ngày 09/11/1946 Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời quy định cơ quan tư pháp gồm có Tòa án tối cao, Tòa án phúc thẩm, Tòa án

đệ nhị cấp và sơ cấp Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định Tòa án được thành lập theo Sắc lệnh số 13/SL đổi thành Tòa án nhân dân các cấp huyện, tỉnh, Tòa án liên khu, Tòa phúc thẩm Năm 1958 Viện Công tố trung ương được thành lập, tách khỏi Bộ

tư pháp và trực thuộc Phủ thủ tướng Nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công tố được quy định tại Nghị định 256-TTg ngày 01/7/1959 của Phủ thủ tướng, Viện công tố có nhiệm vụ điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp hình sự, giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của

Cơ quan điều tra, giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của Tòa

án, giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án hình sự

và giam giữ và cải tạo

Trang 34

Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc Năm 1959 Hiến pháp được ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 được ban hành theo tinh thần Hiến pháp 1959 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ra đời đánh dấu sự hình thành Viện kiểm sát nhân dân và có nhiệm vụ, quyền hạn: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan Nhà nước địa phương, của nhân viên cơ quan Nhà nước và của công dân; điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác; kiểm sát việc xét xử của các Toà án và trong việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc giam giữ của các trại giam Thời kỳ này, Viện kiểm sát nhân dân chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Thực hành quyền công tố không được coi là chức năng kiểm sát mà là một quyền năng thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Khi Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật mà phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì phát động quyền công tố, truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa Ngoài ra, Viện kiểm sát thực hiện theo Thông tư liên Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 427/TT-LB ngày 28/6/1963 quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ công an quy định Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc điều tra của Cơ quan điều tra, có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc ra quyết định khởi tố vụ án khi thấy quyết định khởi tố hoặc đình chỉ khởi tố của cán bộ công an không đúng; có quyền phê chuẩn việc bắt, khám người, khám nhà, tạm giữ hoặc kê biên tài sản, tạm giam, miễn tố, tạm tha bị can; chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám người, khám nhà, hỏi cung bị can hoặc tự mình hỏi cung bị can; kiểm sát quyết định tạm đình chỉ, đình cứu, quyết định tiếp tục cuộc điều tra vụ án, quyết định di lý vụ án, đề ra yêu cầu điều tra; trực tiếp điều tra phạm pháp kinh tế và trị an xã hội mà kẻ phạm pháp và hành vi phạm pháp đã tương đối

rõ, điều tra lập hồ sơ những vụ phạm pháp hình sự Sau khi kết thúc điều tra, nếu thấy cần truy tố ra trước pháp luật thì Cơ quan công an làm bản cáo trạng gửi đến Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ, Viện kiểm sát thẩm tra và ra một trong các quyết định: phê chuẩn bản cáo trạng và truy tố; miễn tố hoặc đình cứu vụ

án theo quy định của pháp luật; hoàn lại hồ sơ để Cơ quan công an điều tra bổ sung nếu thấy hồ sơ thiếu những chứng cớ chủ yếu và nêu yêu cầu cụ thể; hoàn lại hồ sơ và bản cáo trạng nếu xét thấy cần thay đổi về căn bản nội dung

Trang 35

bản cáo trạng, trường hợp sai sót trong bản cáo trạng không làm thay đổi căn bản nội dung bản cáo trạng thì Viện kiểm sát góp ý kiến Cơ quan công an sửa lại bản cáo trạng hoặc tự mình làm bản cáo trạng khác để Tòa án xét xử Lúc này chưa có Bộ luật tố tụng hình sự cho nên việc giải quyết vụ án hình sự căn

cứ vào Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao về trình tự sơ thẩm hình sự (kèm theo Thông tư 160-TATC ngày 27/9/1974), Hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao về hình sự (kèm theo Thông tư số 19-TATC ngày 02/10/1974), Thông tư số 62 ngày 10/6/1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về trình tự giám đốc thẩm vụ án hình sự

Sau khi đất nước Việt Nam thống nhất năm 1975, Chính phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 01-SL-

76 ngày 15/3/1976 quy định về Tổ chức Tòa án nhân dân và một số thủ tục giải quyết vụ án hình sự Hiến pháp năm 1980 ra đời Năm 1981 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật tổ chức Tòa án nhân dân được ban hành Luật

tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1981 quy định Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố và có nhiệm vụ, quyền hạn: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản pháp quy và biện pháp của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, trong hành vi của các nhân viên Nhà nước và công dân (kiểm sát chung); kiểm sát điều tra; kiểm sát việc xét xử; kiểm sát việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 bổ sung nội dung thực hành quyền công tố, mặc dù chưa coi nội dung thực hành quyền công tố là một chức năng của Viện kiểm sát nhưng đây là bổ sung quan trọng nhằm nhấn mạnh quyền năng cơ bản của Viện kiểm sát là truy tố, buộc tội

- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát sau năm 1988 đến năm 2003

Ngày 28/6/1988 Quốc hội ban hành Bộ luật tố tụng hình sự quy định tương đối đầy đủ trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, quyền và nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó, quy định Viện kiểm sát có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự như kiểm sát việc khởi tố, tự mình khởi tố vụ án hình sự và chuyển đến Cơ quan điều tra để yêu cầu tiến hành điều tra; trực tiếp điều tra theo luật

Trang 36

định; kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam; quyết định truy tố, trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; thực hành quyền công tố tại phiên tòa, kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa

án, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát thi hành án hình sự

Ngày 30/6/1990 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng hình

sự năm 1988 được ban hành, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát không có thay đổi lớn, bổ sung quy định Viện kiểm sát có quyền khởi tố bị can

Trên cơ sở quy định Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát năm 1992 được ban hành quy định ngoài chức năng kiểm sát chung việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát còn thực hành quyền công tố và có quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các văn bản pháp quy của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương; của các cơ quan Nhà nước nói trên, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; kiểm sát việc điều tra của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc xét xử của Toà án; kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án; kiểm sát việc giam, giữ và cải tạo; điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định; khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu Ngày 22/12/1992 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi

bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 lần thứ hai, quy định căn cứ Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung; căn cứ Viện kiểm sát đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án Ngày 09/6/2000 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 lần thứ ba quy định cụ thể thời hạn truy tố, gia hạn thời hạn truy tố đối với từng loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)

+ Năm 2002 Luật tổ chức Viện kiểm sát ban hành quy định Viện kiểm sát không thực hiện chức năng kiểm sát chung mà chỉ kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố, trong đó chức năng thực hành quyền công

tố được đặt lên hàng đầu Viện kiểm sát có quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp; thực

Trang 37

hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử án hình sự; kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù; có quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ Như vậy, so với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự như thu hẹp thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát nhân dân theo hướng cơ quan điều tra chỉ được tổ chức ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao và chỉ điều tra một

số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nghiên cứu luận văn “Viện kiểm sát-cơ quan tiến hành tố tụng trong

giai đoạn truy tố” trước tiên tác giả nghiên cứu nhận thức chung về Viện

kiểm sát trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát có đầy đủ đặc điểm của cơ quan tiến hành tố tụng như có quyền giải quyết vụ án hình sự, là chủ thể bắt buộc trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện nhiệm vụ tố tụng hình

sự là phát hiện chính xác, nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội, do đó Viện kiểm sát chính là cơ quan tiến hành tố tụng Viện kiểm sát có vị trí, vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo kết quả điều tra, truy tố, xét xử khách quan, toàn diện, đúng sự thật Viện kiểm sát là cơ quan có quyền truy tố và quyết định truy tố được thực hiện trong giai đoạn truy tố Giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng hình sự độc lập Nhiệm vụ của giai đoạn truy tố là kiểm tra, đánh giá kết quả điều tra và quyết định truy tố, có hoạt động tố tụng

là xem xét, đánh giá chứng cứ để quyết định truy tố; có thời điểm bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ vụ án kết thúc điều tra và kết thúc khi Viện kiểm sát quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án; chủ thể trong giai đoạn truy

tố là cơ quan tiến hành tố tụng (Viện kiểm sát), người tiến hành tố tụng (Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên) và người tham gia tố tụng (bị can…) Từ những luận chứng nêu trên, có đủ cơ sở khẳng định Viện kiểm sát

là cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố Qua nghiên cứu sơ lược nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự qua các thời kỳ cho thấy, trước năm 1988 mặc dù chưa có Bộ luật tố tụng hình sự, chưa có tên gọi Viện kiểm sát (trước năm 1960) nhưng hoạt động công tố thực hiện chức năng buộc tội đã được hình thành kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời năm 1945 và hoạt động công tố được thực hiện theo các văn bản pháp luật dưới luật cho đến nay, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát được quy định tương đối đầy đủ trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật

tố tụng hình sự hiện hành

Trang 39

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN

CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1.Pháp luật thực định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố và thực tiễn áp dụng

2.1.1.Quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố

Giai đoạn truy tố có thời điểm bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận hồ sơ

vụ án kết thúc điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ chính là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động khởi tố, điều tra

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát phải thực hiện tốt kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố ngay từ thời điểm bắt đầu của giai đoạn truy tố đó là kiểm sát hồ sơ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố có nghĩa giám sát việc chấp hành pháp luật của Cơ quan điều tra để đảm bảo việc điều tra khách quan, toàn diện và đầy đủ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn truy tố

là tiền đề quan trọng cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố có hiệu quả Chất lượng thực hành quyền công tố phản ánh kết quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật Qua kiểm sát, nếu phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát truy tố theo thẩm quyền; kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan điều tra để trả hồ sơ điều tra bổ sung nếu phát hiện hồ sơ vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan

áp dụng các biện pháp xử lý hành vi vi phạm pháp luật, các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:

- Viện kiểm sát quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm

Trang 40

không chỉ có nhiệm vụ đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội mà còn phải đúng thẩm quyền truy tố Sau khi nhận hồ sơ vụ án đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác định vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình thì quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền (Khoản 4 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự) Sau khi nhận quyết định chuyển

vụ án cùng hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát có thẩm quyền tiếp tục tiến hành tố tụng trong giai đoạn truy tố cho đến khi có quyết định tố tụng kết thúc giai đoạn truy tố Quyết định chuyển vụ án của Viện kiểm sát là quyết định tố tụng quan trọng được Viện kiểm sát thực hiện trong giai đoạn truy tố, nhằm đảm bảo Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng thẩm quyền theo luật định, không có sự nhầm lẫn thẩm quyền truy tố giữa các cấp

- Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về

vi phạm pháp luật của Điều tra viên, yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử

lý nghiêm Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra, thay đổi Điều tra viên

Viện kiểm sát kiểm sát hồ sơ vụ án hình sự phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Điều tra viên cố tình làm sai lệch nội dung hồ sơ

vụ án, bức cung, mớm cung, nhục hình trong khi điều tra dẫn đến kết quả điều tra không khách quan thì tùy theo mức độ sai phạm, Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm Điều tra viên đã vi phạm pháp luật Đồng thời, Viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra và yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên khi có căn

cứ cho rằng họ không vô tư khi làm nhiệm vụ (Điều 36, Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự)

- Viện kiểm sát quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung do vi phạm

nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Hồ sơ vụ án hình sự là một tập tài liệu bao gồm hệ thống các văn bản tố tụng do Cơ quan tiến hành tố tụng thu thập và được sắp xếp theo trình tự nhất định Hồ sơ vụ án hình sự được lập từ khi khởi tố vụ án và được chuyển giao giữa các cơ quan tiến hành tố tụng theo từng giai đoạn tố tụng xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, hồ

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w