1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền chính trị của công dân trong điều kiện hiện nay ở việt nam

85 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể, có các khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên: Đoàn Thị Mỹ Vân 2008 - Bảo đảm quyền dân chủ trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Nguyễn Ngọc Linh 2011 - Quyền biểu tình của công dân,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -

NGUYỄN HUỲNH KIM NGA

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh

đã cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình em học tại trường Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị Ngọc Mai – giảng viên Khoa Luật Hành Chính đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho em cách làm

đề cương, thu thập tài liệu cũng như cách trình bày, bố cục và ngôn ngữ sử dụng trong khóa luận, từ đó tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN

1.1 Khái quát về quyền chính trị của công dân

1.1.1 Khái niệm quyền chính trị của công dân và bảo đảm quyền chính trị

của công dân 1 1.1.2 Đặc điểm quyền chính trị của công dân 3

1.2 Quyền chính trị của công dân trong một số văn bản pháp lý quốc tế và Hiến pháp nước ngoài

1.2.1 Quyền chính trị trong Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948 8 1.2.2 Quyền chính trị trong Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị 1966 10 1.2.3 Quyền chính trị trong Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012 14 1.2.4 Quyền chính trị trong Hiến pháp nước ngoài

1.2.4.1 Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 16 1.2.4.2 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 17

1.3 Quyền chính trị của công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam

1.3.1 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1946 19 1.3.2 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1959 21 1.3.3 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1980 24 1.3.4 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) 27 1.3.5 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) 30

1.4 Ý nghĩa của việc bảo đảm các quyền chính trị của công dân trong điều kiện hiện nay ở nước ta 33 CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM CÁC QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Sự tương quan giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền chính trị của công dân 37

Trang 4

2.2 Thực tiễn thực hiện các quyền chính trị của công dân ở nước ta hiện nay

2.2.1 Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội 42

2.2.2 Quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý 45

2.2.3 Quyền bầu cử, ứng cử 47

2.2.4 Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử 48

2.2.4.1 Bãi nhiệm đại biểu Quốc hội 49

2.2.4.2 Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân 49

2.2.5 Quyền kiến nghị đối với cơ quan nhà nước 50

2.2.6 Quyền khiếu nại, tố cáo 51

2.2.7 Quyền biểu tình của công dân 54

2.2.8 Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc 56

2.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện việc bảo đảm các quyền chính trị của công dân trong điều kiện hiện nay ở nước ta 2.3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền chính trị của công dân 58

2.3.2 Những phương hướng chủ yếu để hoàn thiện các quyền chính trị của công dân 59

2.3.3 Hoàn thiện các quy định cụ thể về quyền chính trị của công dân theo quy định của pháp luật hiện hành 64

2.3.3.1 Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội 64

2.3.3.2 Quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý 64

2.3.3.3 Quyền bầu cử, ứng cử 65

2.3.3.4 Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử 66

2.3.3.5 Quyền kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước 67

2.3.3.6 Quyền khiếu nại, tố cáo 68

2.3.3.7 Quyền biểu tình 69

2.3.3.8 Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc 70

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1.Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 ICCPR

2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) Hiến pháp 1992 3.Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) Hiến pháp 2013 4.Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 UDHR

5.Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN 2012 AHRD

6.Uỷ ban nhân quyền của Công ước quốc tế về quyền dân HRC

sự, chính trị năm 1966

7.Ủy ban Thường vụ Quốc hội UBTVQH

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những nguyên tắc nền tảng được tiếp tục ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và bản Hiến pháp mới 2013, là bảo đảm sao cho tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân làm chủ Nguyên tắc này đã đặt ra trách nhiệm đối với nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân (trong đó quyền và nghĩa vụ công dân không tách rời nhau) Do đó, nhà nước cần đảm bảo cho công dân có thể thực hiện tốt các quyền hiến định của mình trên thực

tế, đặc biệt là các quyền chính trị Bởi vì, chủ yếu thông qua các quyền này, công dân có thể thực hiện một cách trực tiếp và rõ nét quyền lực của mình qua nhiều cách thức khác nhau Thông qua việc bảo đảm các quyền chính trị, ta có thể đánh giá được mức độ dân chủ, trách nhiệm và sự tận tâm của nhà nước trong việc phát huy

vị trí và vai trò của công dân đối với quyền lực nhà nước

Về phía công dân, việc bảo đảm tốt các quyền chính trị trong giai đoạn hiện nay ngày càng cần thiết Với trình độ dân trí đang dần được nâng cao, họ càng nhận thức rõ và có những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng thiết thực hơn về các điều kiện để hiện thức hóa hiệu quả các quyền chính trị của mình vào thực tiễn đời sống Thực tế cho thấy, do còn những hạn chế về mặt pháp lý cũng như những vấn đề từ phía các

cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, đã gây mất niềm tin, khiến công dân có thái độ “thờ ơ” với các quyền chính trị mà mình được “thụ hưởng”

Về phía nhà nước, trước những biến đổi ngày càng phức tạp trong khu vực

và trên thế giới, cùng với những nguyên tắc và mục tiêu đã đề ra trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong thời kì mới, vấn đề bảo đảm các quyền chính trị nói riêng càng phải được chú trọng và nghiên cứu kỹ lưỡng Đứng trước trách nhiệm bảo đảm, nhà nước phải tạo được thế cân bằng, làm sao cho các quyền chính trị vừa có đủ cơ sở để hiện thức hóa, vừa phải phù hợp với những điều kiện đặc thù trong nước như điều kiện chính trị, kinh tế, dân trí,…Đồng thời, cách thức quản lý phải tương ứng để tránh việc lợi dụng các quyền chính trị gây mất ổn định và cản trở các hoạt động của cơ quan nhà nước Vì thế, yêu cầu bảo đảm các quyền chính trị hiện nay đặt ra là phải làm sao để mỗi công dân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền chính trị, không xâm phạm đến quyền, lợi ích chính đáng của người khác và phù hợp với điều kiện của đất nước

Trang 7

Về phương diện trách nhiệm với những cam kết quốc tế và yêu cầu thực tiễn trong nước: với tư cách là thành viên của Hội đồng nhân quyền (2014 - 2016) cùng với những Công ước liên quan đến quyền chính trị mà Việt Nam tham gia, đã đặt ra trách nhiệm trong việc thể chế và bảo đảm hiện thực hóa các quyền chính trị Tuy nhiên, dù đã có nhiều nỗ lực, thực tiễn thực hiện cho thấy vẫn còn phát sinh nhiều hạn chế, thậm chí có quyền chính trị chưa có cách thức bảo đảm tương ứng dù đã được ghi nhận trong Hiến pháp Bên cạnh đó, Chương trình xây dựng Luật, pháp lệnh khóa XIII theo dự kiến Quốc hội sẽ phải thông qua 40 Luật và pháp lệnh Điều này cho thấy, Quốc hội mong muốn sớm được thể chế hóa Chương 2 của Hiến pháp

về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân nói chung, trong đó có các quyền chính trị để những quy định này sớm được cụ thể hóa và thực thi trên thực tế

Vì những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn: Bảo đảm quyền chính trị của công

dân trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

cử nhân luật của mình

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Hiện nay, các vấn đề có liên quan đến quyền chính trị của công dân đã được một số tác giả lựa chọn làm đề tài nghiên cứu của mình, dưới nhiều góc độ và phạm

vi khác nhau Cụ thể, có các khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên: Đoàn Thị Mỹ Vân (2008) - Bảo đảm quyền dân chủ trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Nguyễn Ngọc Linh (2011) - Quyền biểu tình của công dân, những vấn đề lý luận và thực tiễn,…Ở phạm vi luận văn thạc sĩ có Phạm Thị Minh Hiếu (2008) - Trưng cầu dân ý: lý luận và thực tiễn,…Ngoài ra, các quyền chính trị của công dân còn được nghiên cứu dưới các hình thức sách chuyên khảo, giáo trình, bài viết qua báo và tạp chí của một số học giả có uy tín, như Nguyễn Văn Động (2006) - Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, Vũ Văn Nhiêm (2011) - Giáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền,…Tuy nhiên, các tác giả thực hiện việc nghiên cứu chủ yếu tập trung theo một quyền chính trị riêng biệt hoặc đặt ra vấn đề bảo đảm ở phạm vi quyền con người nói chung,…Chính vì vậy, người viết mong muốn thực hiện việc nghiên cứu của mình theo hướng vừa mang tính cụ thể theo từng quyền chính trị, vừa đưa ra các phương hướng chung mang tính phổ quát, phù hợp với các điều kiện thực tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích nghiên cứu

Thứ nhất, thông qua quá trình nghiên cứu, làm rõ cách hiểu về quyền chính

trị và việc bảo đảm quyền chính trị của công dân, tạo sự thuận lợi cho người tiếp

Trang 8

cận, trên cơ sở phân định quyền này với các nhóm quyền khác cũng như nhận biết

về mối liên hệ tác động qua lại giữa quyền chính trị với các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa trong một quốc gia

Thứ hai, tìm hiểu và phân tích các quyền chính trị được ghi nhận cùng với

cách thức bảo đảm các quyền được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế ở phạm vi toàn cầu và khu vực Song song đó, nghiên cứu về sự phát triển của quyền chính trị công dân qua lịch sử các bản Hiến pháp Việt Nam, tạo nền tảng cơ sở để thực hiện đánh giá ưu và hạn chế trong sự tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam trong việc ghi nhận và bảo đảm các quyền chính trị

Thứ ba, đánh giá thực tiễn thực hiện các quyền chính trị ở Việt Nam trên các

tiêu chí về việc ghi nhận trong các văn bản pháp lý và cách thức bảo đảm các quyền này trong đời sống chính trị, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần bảo đảm các quyền này được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, khắc phục những điểm còn hạn chế

Thứ tư, từ những kiến nghị mang tính cụ thể cho từng quyền chính trị của

công dân Việt Nam, tác giả mong muốn đề ra một số phương hướng chung mang tính phổ quát, vừa nâng cao hiệu quả bảo đảm vừa phù hợp với điều kiện, tình hình xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong thời hạn nghiên cứu phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, tác giả chủ yếu đề cập đến các quyền chính trị được thể hiện trong các văn kiện chính trị pháp lý ở phạm vi toàn cầu, có giá trị được nhiều quốc gia trên thế giới tôn trọng và thừa nhận như Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quyền dân sự, chính trị năm 1966, ở phạm vi khu vực như Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN và những vấn đề cơ bản về quyền chính trị trong lịch sử các bản Hiến pháp Việt Nam Trên nền tảng những cơ sở nêu trên, đánh giá sự tương quan trong pháp luật Việt Nam và quốc tế trong việc ghi nhận và cách thức bảo đảm Bên cạnh đó, đánh giá thực tiễn thực hiện các quyền chính trị của công dân Việt Nam và đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với từng quyền, đưa ra phương hướng chung cho việc bảo đảm trong thời gian tới phù hợp với các điều kiện hiện nay ở Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 9

Tác giả đã sử dụng chủ yếu phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp duy vật biện chứng, không nghiên cứu các quyền chính trị một cách riêng lẻ mà luôn đặt nó trong mối quan hệ tác động với các điều kiện khác như chính trị - kinh tế - văn hóa, việc ghi nhận và bảo đảm các quyền chính trị qua lịch sử các bản Hiến pháp Việt Nam để nhận thấy sự hoàn thiện, tiến bộ, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người làm nền tảng nghiên

cứu cho khóa luận

Ngoài ra, trong khóa luận, tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh,…

6 Bố cục đề tài

Mở đầu

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về quyền chính trị của công dân

Chương 2: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm bảo đảm các quyền chính

trị của công dân ở Việt Nam hiện nay

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 10

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN

1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG DÂN

1.1.1 Khái niệm quyền chính trị của công dân và bảo đảm quyền chính trị của công dân

Quyền con người được hiểu là “quyền của thành viên trong xã hội loài

người - quyền của tất cả mọi người, Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật

Commissioner for Human Rights - UNHCHR) thì “quyền con người là những bảo

đảm về mặt pháp lý trên toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự

nhất cho toàn nhân loại, còn quyền công dân chỉ tồn tại trong phạm vi của một quốc gia Do đó, nội dung và phạm vi của quyền công dân bị hạn chế bởi những yếu tố chủ quan và khách quan của chính quốc gia đó

Quyền công dân là quyền cơ bản mà Hiến pháp của mỗi nước quy định cho người mang quốc tịch nước mình và tùy thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh

tế, xã hội mà phạm vi cũng như mức độ quyền công dân rộng hẹp khác nhau

“Chính trị” (politic) có thể được phát triển từ thuật ngữ Polis 3 trong thời kì

Hy lạp cổ đại Về khái niệm chính trị, theo Từ điển Triết học là “sự tham gia các

công việc của nhà nước, việc quy định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Lĩnh vực chính trị bao hàm các vấn đề chế độ nhà nước, quản

lý đất nước, lãnh đạo các giai cấp, vấn đề đấu tranh đảng phái, các quan hệ dân

3 Nhìn từ góc độ lịch sử, Polis có thể được hiểu là nhà nước thành bang (city- states) giai đoạn này chính trị

có thể được hiểu là những công việc hoặc những gì liên quan đến việc quản lý, cai trị của thành bang.

4

Từ điển triết học (1975), NXB Tiến bộ Mátxcơva, tr.236 Dẫn theo: Đỗ Minh Khôi (2012), Quyền

chính trị của công dân trong Hiến pháp, Hội thảo khoa học: Đổi mới quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân

về chính trị, dân sự trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, TP.HCM, tr.56.

5 Đỗ Minh Khôi, tlđd số 4, tr.56

Trang 11

Đối với khái niệm quyền chính trị của công dân, hiện nay tồn tại khá nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể:

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Động thì quyền hiến định về chính trị “là khả

năng mà Hiến pháp trao cho công dân được hưởng thụ các quy chế công dân, được sống trong tự do và độc lập dân tộc; được bầu cử, ứng cử vào các cơ quan quyền lực nhà nước và được bãi miễn đại biểu mà mình đã bầu ra khi họ không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân nữa; tham gia thảo luận những vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; được khiếu nại, tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào” 6 Như vậy, theo quan điểm trên, các quyền chính trị của công dân là các yêu cầu, đòi hỏi, là khả năng công dân được trao để nhằm thỏa mãn những nhu cầu và lợi ích chính đáng của mình, đối với các vấn đề có liên quan đến việc sử dụng quyền lực, tham gia vào các công việc của nhà nước Khái niệm này thể hiện được: thứ nhất, xác định được hình thức ghi nhận được thể hiện trong Hiến pháp - văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, thể hiện sự tôn trọng của nhà nước đối với các quyền chính trị cơ bản của công dân; thứ hai, có sự liệt kê các quyền chính trị cơ bản của công dân, điều này tạo sự thuận lợi hơn đối với người tiếp cận vì họ có thể dễ dàng hình dung các quyền chính trị mà công dân có là những quyền nào

Tiến sĩ Tô Văn Hòa cho rằng: “các quyền cơ bản trong lĩnh vực chính trị là

quyền mà Nhà nước cam kết dành cho đối tượng thụ hưởng tham gia một cách nhất định vào quá trình thực hiện quyền lực nhà nước hay nói cách khác là tham gia vào đời sống chính trị” 7

Dù có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng tựu chung lại, quyền chính trị của

công dân có thể được hiểu là các quyền cơ bản trong đời sống chính trị được ghi

nhận trong Hiến pháp, dành cho công dân của một quốc gia trong quá trình họ sử dụng và kiểm soát quyền lực, thể hiện những khả năng xử sự của họ trong khi tham gia vào các công việc của nhà nước, bảo đảm quyền lực của dân, do dân, vì dân

Đối với khái niệm bảo đảm quyền chính trị của công dân, thì bảo đảm được hiểu “là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì

Trang 12

cần thiết” 8 Như vậy, bảo đảm quyền chính trị của công dân có thể được hiểu là sự

cam kết, tôn trọng từ phía nhà nước trong việc quy định các cách thức thực hiện nhằm hiện thực hóa các quyền chính trị của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp

Hiện nay, các quyền chính trị nói riêng được đảm bảo bằng nhiều cách thức khác nhau, chủ yếu bằng biện pháp pháp lý ở cả cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia Ở phạm vi quốc tế và khu vực, việc bảo đảm chủ yếu được thể hiện thông qua các văn kiện chính trị - pháp lý quốc tế như Công ước, Tuyên ngôn, ví dụ: Công ước quốc tế về quyền dân sự, quyền chính trị 1966, Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN 2012,…cùng với cơ quan giám sát để đảm bảo việc thực hiện của các quốc gia thành viên Các cơ quan này được thành lập trên cơ sở các Hiến chương hay từ các Công ước quốc tế như Uỷ ban công ước Ở cấp độ quốc gia, các quyền chính trị nói riêng thường được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến pháp Đây được xem là văn bản có hiệu lực pháp lý tối cao trong hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào, là đạo luật gốc, luật “mẹ” và do các cơ quan đại diện có thẩm quyền cao nhất hoặc do nhân dân bỏ phiếu thông qua Các văn bản pháp lý khác khi ban hành đều phải căn

cứ vào nội dung của Hiến pháp, nếu trái đều phải bị bãi bỏ Vì thế, việc thể hiện trách nhiệm bảo đảm ngay trong Hiến pháp đã góp phần hạn chế sự xâm phạm quyền của các cơ quan nhà nước trong các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như không áp dụng việc hạn chế các quyền chính trị nói riêng một cách tùy tiện

Như vậy, nếu như pháp luật chỉ dừng lại ở mức độ tuyên bố, thừa nhận các quyền chính trị nói riêng không là chưa đủ mà còn phải ghi nhận việc bảo đảm các quyền này một cách cụ thể, thiết thực - đây mới chính là vấn đề cốt lõi để hiện thực hóa các quyền chính trị vào đời sống thực tiễn

1.1.2 Đặc điểm quyền chính trị của công dân

Thứ nhất, quyền chính trị của công dân là phương thức và biểu hiện của dân

chủ đồng thời thể hiện bản chất dân chủ của nhà nước

Khi đề cập đến quyền chính trị của công dân phải đặt nó trong mối quan hệ với nhà nước Bởi vì, quyền công dân nói chung và quyền chính trị của công dân nói riêng không mang giá trị phổ quát như quyền con người Quyền này được xác định đối với công dân của một quốc gia cụ thể có độc lập chủ quyền Quyền chính

8 Từ điển Tiếng Việt (2006), Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng , Hà Nội - Đà Nẵng, tr.38.

Trang 13

trị của công dân với tư cách là một bộ phận của quyền con người mà quyền con người luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột, gắn với trình độ

và tiến trình xã hội trong từng thời kì Vì thế, có thể nói, quyền chính trị xuất hiện khi có sự đấu tranh, phân chia giai cấp và hình thành nhà nước

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác thì xã hội loài người trải qua năm hình thái kinh tế xã hội là công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản và xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, chỉ có bốn chế độ nhà nước tương ứng là nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong đó, các tư tưởng về quyền chính trị xuất hiện từ khá sớm:

Trong xã hội công xã nguyên thủy: với đặc trưng của nền kinh tế là chế độ sở

hữu chung về tư liệu sản xuất, chưa có sự phân chia xã hội thành các giai cấp.Việc quản lý giao cho một thiết chế là Hội đồng thị tộc Trong đó, mọi thành viên đều ngang quyền với nhau trong việc phát biểu và tham gia biểu quyết mọi việc trọng đại, nên vấn đề về quyền chính trị chưa được đặt ra

Nhà nước chiếm hữu nô lệ: thời kì này đã có sự xuất hiện của nhà nước

nhưng đây lại là nhà nước của thiểu số giai cấp chủ nô và pháp luật đặt ra chủ yếu là

để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Nô lệ là tầng lớp chiếm đại đa số trong xã

hội nhưng không được xem là một con người đúng nghĩa, mà chỉ là “công cụ biết

nói” và đặt dưới sự toàn quyền quyết định của chủ nô Như vậy, nô lệ trong thời kì

này không có bất kì một quyền cơ bản nào của con người, thậm chí là quyền được sống nên vấn đề về quyền chính trị càng không thể được đặt ra

Pháp luật thời kì này nhằm mục đích bảo vệ cho chủ nô, cụ thể: đối với pháp luật Phương Đông cổ đại, có thể kể đến Bộ luật Hammurapi của Lưỡng Hà, Bộ luật Manu của Ấn Độ, pháp luật Trung Quốc cổ đại thời nhà Hạ, Thương, Đông Chu,…công khai thừa nhận sự bất bình đẳng, nhằm mục đích củng cố sự thống trị tuyệt đối của giai cấp chủ nô và do còn ảnh hưởng bởi nền kinh tế nông nghiệp tự

cung, tự cấp nên pháp luật còn mang nặng tính “trọng hình khinh dân” 9 Pháp luật Phương Tây cổ đại - pháp luật Hy Lạp và La Mã Nhìn chung, pháp luật chỉ bảo vệ giai cấp thống trị (có sự phân biệt trong việc áp dụng giữa các giai cấp trong xã hội)

và nội dung cũng chỉ tập trung điều chỉnh các quan hệ về mặt dân sự, thừa kế, hôn nhân gia đình, hình phạt,…Các vấn đề về quyền chính trị của cá nhân rất mờ nhạt

và chủ yếu chỉ tồn tại dưới dạng tư tưởng, học thuyết, ví dụ: Mặc Tử (nhà tư tưởng

9

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh - Khoa Luật Hành chính - Nhà nước: Tập bài giảng Lịch sử nhà

nước và pháp luật thế giới, tr 36

Trang 14

Trung Quốc, thời Chiến Quốc), trong hệ thống lý luận của mình đã nêu lên tư tưởng xây dựng một xã hội, trong đó người dân theo khả năng của mình đều có thể tham gia quản lý xã hội và hệ thống chính trị Ông cho rằng quyền làm chủ của nhân dân thể hiện bằng việc họ chọn ra người đứng đầu và kiểm tra hoạt động của người đó

hay Mạnh Tử (nhà triết học Trung Quốc, thời nhà Chu), với học thuyết “Nhân

chính” đề ra tư tưởng “Dân vi quý, Quân vi khinh” lấy dân làm gốc, phải chọn

người hiền tài và phản đối dùng người dựa trên đẳng cấp, chủ trương “Thượng

hiền”, người dân chọn và sử dụng người hiền tài để giữ trọng trách Như vậy, với

đặc trưng trong thời kì này, các yêu cầu về mặt chính trị của các cá nhân chỉ mới dừng lại ở mức tư tưởng, học thuyết mà chưa thành một chỉnh thể

Nhà nước phong kiến: với tư tưởng thống trị nhà nước là do thế lực siêu

nhiên (đấng tối cao) tạo ra và giao lại quyền lực cho nhà vua cai trị thiên hạ và tinh thần bị chi phối bởi những giáo điều phản khoa học với mục đích khiến họ cam chịu với địa vị thấp kém Giai đoạn này, đại bộ phận dân chúng (chủ yếu là nông dân)

chỉ được đề cập với khái niệm “thần dân” thể hiện sự phục tùng một vị quân chủ” 10 hay “là để chỉ thân phận toi đòi của người nông dân dưới chế độ phong kiến” 11 Mặc dù, chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ song với những yếu tố trên và cơ chế kinh tế - chính trị khép kín đã triệt tiêu các quyền và tự do cơ bản Do đó, địa vị của người nông dân chỉ khác rất ít so với người nô lệ và các yêu cầu về quyền chính trị của cá nhân cũng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Nhà nước tư sản: cách mạng tư sản bùng nổ và từng bước xây dựng chế độ

xã hội tiến bộ hơn Lần đầu tiên, quyền chính trị của công dân được công khai thừa nhận, có thể nhắc đến như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm

1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789, trong đó ghi nhận hệ thống nội dung quyền chính trị của con người như quyền bầu cử, ứng cử, quyền tự

do bày tỏ ý kiến,…Như vậy, Hiến pháp các nước tư sản đã công khai quyền của cá

nhân chịu sự quản lý của nhà nước tư sản, bằng việc đưa ra khái niệm “công dân”,

quy định quyền bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền trong đó có các quyền chính trị của công dân và thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước Tuy nhiên,

10

Nguyễn Cửu Việt (2012), Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền và quyền con người, quyền công dân,

một số vấn đề lý luận, in trong Trường Đại học Luật TP.HCM, Hội thảo khoa học: Đổi mới quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, tr.14

11

Nguyễn Văn Động (1997), Hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân trong điều

kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.12

Trang 15

trong nhiều nhà nước tư sản, “quyền công dân (có quyền chính trị) luôn bị hạn chế

hoặc vi phạm nghiệm trọng”12

Nhà nước xã hội chủ nghĩa: đây là kiểu nhà nước đề cao vấn đề dân chủ,

không chỉ ghi nhận quyền con người nói chung, quyền chính trị của công dân nói riêng mà còn từng bước hoàn thiện và mở rộng các quyền dân chủ về mặt chính trị của công dân Nhà nước chú trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thông qua các hình thức thực hiện các quyền chính trị, phát huy bản chất dân chủ của nhà nước Trong đó, pháp luật ghi nhận, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân là nét đặc trưng cơ bản, xem lợi ích của nhân dân là mục tiêu tồn tại và phát triển của mình

Thứ hai, quyền chính trị của công dân được thực hiện dựa trên các điều kiện

chính trị - kinh tế - văn hóa và được nhà nước bảo đảm thực hiện

 Về các điều kiện chính trị - kinh tế - xã hội:

Về kinh tế: đối với một quốc gia mà các vấn đề về mặt kinh tế không được

đảm bảo, trình độ phát triển kinh tế còn chưa cao thì tâm tư của người dân vẫn chưa

thể thực sự hướng về các quyền chính trị Bởi vì, họ vẫn còn “vướng bận” đối với các vấn đề mưu sinh, “cơm áo gạo tiền”, chi phối suy nghĩ và làm cho tư tưởng “bó

hẹp” trong các vấn đề của đời sống thường ngày mà chưa thể quan tâm đến các

quyền tự do dân chủ, trong đó thể hiện rõ nét qua các quyền chính trị của công dân Bên cạnh đó, khi các chính sách kinh tế của một quốc gia chưa tốt, nền kinh tế không ổn định, nghèo nàn thì nó sẽ tác động lên hầu hết các lĩnh vực trong đời sống

xã hội như giáo dục, văn hóa, và“khi trình độ dân trí còn thấp kém thì quyền chính

Về chính trị: các quyền chính trị của công dân phải gắn với chủ quyền của

một quốc gia Để đảm bảo được quyền chính trị, điều đầu tiên phải đảm bảo được quyền dân tộc tự quyết Bởi vì, khi đấu tranh thực hiện các quyền cơ bản của mình, con người hoàn toàn không đứng ngoài mối quan hệ hiện thực với giai cấp, quốc gia

hay dân tộc nhất định “Đây là cơ sở thực tế để minh chứng chủ quyền quốc gia,

dân tộc, là biểu hiện trước tiên và là tiền đề của quyền con người trên lĩnh vực chính trị” 14,…và còn tùy thuộc vào các điều kiện về mặt chính trị của một quốc gia

12

Nguyễn Văn Động, tlđd số 11, tr.14

13 Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Trung tâm nghiên cứu quyền con người (1997), Một số vấn đề

về quyền dân sự và chính trị quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.24

14

Học viện chính trị quốc gia, tlđd số 13, tr.26.

Trang 16

Trên cơ sở đó, nhà nước quyết định mức độ và phạm vi của quyền chính trị tương ứng và không thể chỉ căn cứ về mặt số lượng các quyền chính trị của công dân để đánh giá về tính dân chủ của một nhà nước hay một quốc gia Trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng các quyền con người nói chung, quyền chính trị của công dân nói riêng, cũng không thể tuyệt đối hóa các quyền của cá nhân, đặc biệt là các quyền về chính trị để phủ nhận quyền dân tộc tự quyết hay chủ quyền của một quốc gia

Về văn hóa tinh thần: đây là một nhân tố quan trọng quyết định về mặt nhận

thức Có thể nói, nhà nước quy định các quyền chính trị để công dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với quyền lực nhà nước, nhưng về phía công dân lại chưa hoặc không nhận thức được trong việc chủ động thực hiện các quyền chính trị của mình thì việc quy định cũng trở nên vô nghĩa Vì thế, việc ghi nhận và vấn đề bảo đảm các quyền chính trị chỉ có thể phát huy được giá trị và ý nghĩa thực sự của

nó khi khởi nguồn từ hai phía nhà nước và công dân Nhà nước ghi nhận, có cách thức bảo đảm cụ thể và công dân nhận thức, chủ động, tích cực trong việc thực hiện các quyền chính trị của mình

 Nhà nước bảo đảm thực hiện:

Xuất phát từ thời điểm khi các vấn đề về quyền con người nói chung chỉ tồn tại dưới dạng tư tưởng, học thuyết và cùng với tiến trình đề cao dân chủ, đảm bảo quyền con người, quyền chính trị của công dân trong hoạt động tham gia vào các công việc của nhà nước như nhà nước tư sản, xã hội chủ nghĩa,…đã có sự công bố

và ghi nhận một cách chính thức Đó được xem là nội dung cơ bản của mỗi Hiến

pháp, nội dung quan trọng đến mức “nếu không có chế định quyền con người,

quyền công dân thì cũng không thể có bản thân Hiến pháp, nội dung đó chi phối kết cấu của bản Hiến pháp, chế định quyền công dân thường được đặt lên hàng đầu

công dân thì đồng thời cũng phải có sự quy định về cách thức bảo đảm, ghi nhận cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện,…Nếu không, những quyền đó chỉ có thể tồn tại trên giấy mà không có cơ sở để đưa vào thực tiễn đời sống chính trị Sự ghi nhận các quyền chính trị của công dân cũng như việc bảo đảm thường được các

15 Hoàng Văn Hảo, Hiến pháp Việt Nam và vấn đề quyền con người, quyền công dân Dẫn theo: Nguyễn

Đăng Dung - Bùi Tiến Đạt (4/2011), “Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến

pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người”, Nghiên cứu lập pháp, 8(193), tr 6

Trang 17

quốc gia lựa chọn quy định trong Hiến pháp và trên thế giới cũng tồn tại nhiều cách thức quy định khác nhau16

1.2 Quyền chính trị của công dân trong một số văn bản pháp lý quốc tế và Hiến pháp nước ngoài

Bộ luật nhân quyền quốc tế về quyền con người (The International Bill of Human Rights) là một tập hợp của ba văn bản chính là Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa Bộ luật được xem là khuôn mẫu chung mang tính toàn cầu về các quyền con người, được nhiều quốc gia tôn trọng

và xem đây là cơ sở để thể chế các quyền được ghi nhận vào trong Hiến pháp của quốc gia mình, cũng như các văn kiện pháp lý về quyền con người ở tầm khu vực Đối với quyền chính trị, không thể không đề cập đến Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948, đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm

1966, được xem là văn kiện pháp lý có sự ghi nhận đầy đủ và có hệ thống nhất Ngoài ra, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả còn đề cập đến các quyền chính trị được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012, một văn kiện pháp lý về quyền con người ở tầm khu vực

1.2.1 Quyền chính trị trong Tuyên bố thế giới về nhân quyền năm 1948

“Phòng ngừa cho những thế hệ tương lai khỏi thảm họa chiến tranh, như đã xảy ra hai lần trong đời chúng ta và gây cho nhân loại đau thương không kể xiết, và khẳng

16

Trên thế giới có ba cách quy định về quyền con người nói chung, quyền chính trị của công dân nói riêng trong Hiến pháp: Một là, được quy định trong một văn bản riêng gọi là bản Tuyên ngôn nhân quyền của các nước tư bản phát triển, như Tuyên ngôn nhân quyền năm 1689 của Anh và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 Mặc dù, các tuyên ngôn này không nằm trong nội dung chính của Hiến pháp nhưng chúng đều được thừa nhận là một phần của nội dung Hiến pháp, Tuyên ngôn nhân quyền của Anh là một nguồn quan trọng của hiến pháp bất thành văn của Anh quốc,…Điều đó, có nghĩa bản tuyên ngôn này như là một nội dung chính của Hiến pháp; Hai là, nhân quyền được quy định thành chương, điều trong nội dung của Hiến pháp; Ba là, nhân quyền được quy định trong một bản phụ trương của Hiến pháp, như Tu chính án của Hiến pháp Mỹ (Nguồn: Nguyễn Đăng Dung - Bùi Tiến Đạt (4/2011), tlđd số 15, tr.5)

17 Hoàng Văn Hảo - Vũ Công Giao (1999), “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền - Một văn kiện có tính chất

bước ngoặt trong lịch sử nhân quyền thế giới”, Nhà nước và pháp luật, 2(130), tr.8

Trang 18

định lại sự tin tưởng vào những quyền cơ bản của con người…” Mục tiêu ra đời của

bản Tuyên ngôn đã được xác định ngay tại Lời nói đầu: “là thước đo chung cho tất

cả các quốc gia và các dân tộc…sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự

do cơ bản của con người….thúc đẩy sự thừa nhận và tuân thủ chung và hữu hiệu các quyền đó…, thông qua các biện pháp tích cực, kể cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế” Bản Tuyên ngôn gồm Lời nói đầu và 30 điều khoản

* Nội dung quyền chính trị:

Một là, quyền tham gia quản lý đất nước được quy định tại khoản 1 Điều

21:“Mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước mình, một cách trực tiếp

hoặc thông qua các đại diện mà họ được tự do lựa chọn” Như vậy, theo quy định

tại khoản 1 điều này mọi người đều có quyền tham gia quản lý đất nước của mình, một cách trực tiếp hoặc thông qua đại diện mà họ đã lựa chọn

Hai là, quyền bầu cử, ứng cử được quy định tại khoản 3 Điều 21 quy định:“ý

chí của nhân dân phải là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí đó phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, hoặc bằng những thủ tục bầu

cử tự do tương tự” Điều này được quy định bổ sung cho khoản 1 Có thể thấy, cơ sở

để tạo nên quyền lực nhà nước được xác định trên nền tảng ý chí, nguyện vọng của nhân dân và hình thức để thể hiện ý chí được ghi nhận thông qua quyền bầu cử và

tiến hành trên nguyên tắc được xem là tiến bộ hiện nay là “phổ thông đầu phiếu,

bình đẳng và bỏ phiếu kín” hoặc bằng các thủ tục tự do tương tự

* Cách thức bảo đảm:

Tuyên ngôn UDHR chỉ có ý nghĩa kêu gọi, khuyến cáo mà không có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý, nên việc đảm bảo thực hiện các quyền chính trị nói trên chỉ dừng lại ở các cách thức:

+ Kêu gọi các quốc gia tôn trọng các cam kết của mình, thể hiện trong Lời

nói đầu: “Các quốc gia thành viên đã cam kết, cùng với Liên Hợp Quốc, phấn đấu

thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung các quyền và tự do cơ bản của con người”

+ Việc hạn chế quyền chỉ phải tuân thủ do “luật định”, nhằm để “bảo đảm sự

ghi nhận và tôn trọng” đối với quyền lợi thích đáng của người khác cũng như đáp

ứng các “yêu cầu chính đáng” của xã hội và “việc thực hiện không được trái với

mục đích và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc” (Điều 29)

Trang 19

+ “Không diễn giải bất kì một điều khoản nào” theo hướng nhằm “phá hoại”

các quyền nói chung, trong đó có các quyền chính trị được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn (Điều 30)

* Ý nghĩa:

Cho đến nay, UDHR đã được dịch ra thành 337 thứ tiếng khác nhau trên thế giới, giá trị to lớn của nó là ở chỗ tạo ra nền tảng chính trị pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và thừa nhận một hệ thống các quy phạm nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế về quyền con người nói chung và các quyền chính trị nói riêng Vì vậy, nhiều học giả quốc tế cho rằng Tuyên ngôn là “Luật tập quán quốc tế”

1.2.2 Quyền chính trị trong Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm

1966

* Khái quát:

Sự ra đời của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 đã mở ra một thời kì mới cho những cam kết và hành động quốc tế trong việc bảo đảm các quyền

cơ bản của con người, trong đó có các quyền chính trị Tuy nhiên, Tuyên ngôn chỉ

mang tính “khuyến nghị” nên Ủy ban Nhân quyền đã bắt tay vào việc soạn thảo các

công ước quốc tế, nhằm tạo giá trị ràng buộc về mặt pháp lí đối với các quốc gia thành viên, trong đó có Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966

Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR), được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16/12/1966 theo Nghị quyết 2200 (XXI) và 10 năm sau, khi

đã có 35 quốc gia phê chuẩn, ICCPR mới chính thức có hiệu lực vào ngày 23/03/1976 Trong ICCPR, các quyền chính trị đã được ghi nhận một cách cụ thể và

có hệ thống hơn Công ước bao gồm Lời mở đầu và 53 điều, được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc

* Nội dung quyền chính trị:

Một là, Quyền dân tộc tự quyết được quy định tại khoản 1, 2 Điều 1: “Mọi

dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá” và “Vì lợi ích của mình, mọi dân tộc đều có thể tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và của cải của mình, miễn là không làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh tế quốc tế mà dựa trên nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được phép tước đi

Trang 20

những phương tiện sinh tồn của một dân tộc” Công ước, một lần nữa, “lại nâng quyền con người về chính trị lên thành quyền dân tộc tự quyết” 18

Đây là một trong những quyền rất quan trọng và có ý nghĩa 19 đối với các quốc gia là thành viên của ICCPR Bởi lẽ, quyền này được đảm bảo sẽ tạo tiền đề

và điều kiện thuận lợi để các quyền chính trị khác được thực hiện Trên thực tế, các vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, đặc biệt là các quyền trong lĩnh vực

chính trị, về bản chất vẫn là công việc nội bộ của các quốc gia và việc dùng “chiêu

bài nhân quyền” với luận điệu “quyền con người không biên giới”, “tuyệt đối hóa quyền của mỗi cá nhân” nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, đặc

biệt là đối với các nước đang phát triển đang là một vấn đề nhạy cảm hiện nay

Theo đó, ICCPR đã quy định quyền này cho thấy các quốc gia có thể tự do “lựa

chọn thể chế chính trị” cũng như tự do lựa chọn con đường phát triển của mình

Các dân tộc được tự do lựa chọn định hướng phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa phù

hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế, trên cơ sở “tự do định đoạt tài nguyên thiên

nhiên và của cải của mình” Nhìn chung, quyền này nhằm hướng đến chủ thể là các

quốc gia, không phải gói gọn trong một đối tượng riêng lẻ nào Các yêu cầu đặt ra khi thực hiện quyền này là:

+ Không “được làm phương hại đến các nghĩa vụ phát sinh từ hợp tác kinh

tế quốc tế” và được thực hiện trên “nguyên tắc các bên cùng có lợi và các nguyên tắc của Luật quốc tế”

+ Các quốc gia thành viên của ICCPR “trong bất kì hoàn cảnh nào cũng

không được phép tước đi những phương tiện sinh tồn của một dân tộc” Như vậy,

yêu cầu này đã đặt ra cho các quốc gia thành viên của ICCPR nghĩa vụ phải tôn trọng chủ quyền và lợi ích của quốc gia khác

Quyền dân tộc tự quyết đã thể hiện được quan niệm và tư duy hết sức tiến bộ của ICCPR về vấn đề bảo đảm các quyền chính trị của cá nhân, trên cơ sở bảo đảm

về độc lập dân tộc và chủ quyền của một quốc gia Vì khi một quốc gia có được sự độc lập, tự do thì nhà nước của quốc gia đó mới thực sự có năng lực trong việc bảo đảm các quyền chính trị cho công dân nước mình

quốc tế về quyền dân sự và chính trị”, Luật học, (04), tr.65)

Trang 21

Hai là, Quyền của công dân tham gia vào việc điều hành các công việc xã

hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện mà mình đã tự do lựa chọn bầu ra, được quy định tại điểm a Điều 25 Thực chất, đây có thể hiểu là quyền tham

gia quản lý nhà nước và xã hội Mục tiêu của quyền này là “để phát huy sức mạnh,

Theo Ủy ban quốc tế về quyền con người đã có những giải thích thêm về quyền này (được thể hiện trong phần Bình luận chung số 25, ban hành trong kỳ họp

thứ 57 năm 1996) về sự tham gia các hoạt động công quyền: “việc tham gia các

hoạt động công được đề cập tại điểm (a) Điều 25 là một khái niệm rộng: bao gồm thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp…công dân có thể trực tiếp tham gia điều hành các công việc xã hội khi thực hiện quyền lực với tư cách là thành viên của các cơ quan lập pháp hay nắm giữ các chức vụ hành pháp Công dân còn được trực tiếp tham gia vào hội đồng dân cử có thẩm quyền quyết định các vấn đề của địa phương hay các vấn đề của một cộng đồng cụ thể, hay tham gia vào các cơ quan được thành lập để đại diện cho công dân trong việc tham vấn với Chính phủ Ngoài ra công dân còn có thể tham gia vào các hoạt động công thông qua tranh luận và đối thoại công khai với các đại diện của mình hoặc thông qua khả năng tự

tổ chức Sự tham gia này đảm bảo bằng quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội…cho phép các công dân thực hiện quyền của mình tại Điều 25 cần được quy

Việc tham gia điều hành

các công việc quản lý nhà nước và xã hội được dành cho mọi công dân trên cơ sở

“không có bất kì sự phân biệt nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn

gia các hoạt động quản lý

Ba là, Quyền bầu cử và quyền ứng cử được quy định tại điểm b Điều 25:

“Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kì chân thực bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý chí của mình” Về quyền của công dân trong bầu cử, trong Bình luận án số 25, kỳ họp 57

năm 1996, “Ủy ban quốc tế về quyền con người khuyến nghị quyền bỏ phiếu tại các

20

Lê Thị Ngọc Hà (12/2011), Quyền con người trong lĩnh vực dân sự và chính trị theo Công ước quốc tế về

các quyền dân sự và chính trị năm 1966, in trong Trường Đại học Luật TP.HCM - Khoa Luật quốc tế, Kỷ

yếu Hội thảo khoa học: Quyền dân sự và chính trị trong pháp trong pháp luật quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, TP.HCM, tr.72.

21 Dẫn theo: Võ Hồng Tú (2012), Quyền chính trị của công dân trong các văn kiện chính trị, pháp lý quốc tế

và Hiến pháp nước ta năm 1992, in trong Trường Đại học Luật TP.HCM- Khoa Luật Hành chính- Nhà nước,

Hội thảo khoa học: Đổi mới quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân về chính trị, dân sự trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, TP.HCM, tr 164

22

Điều 2 Công ước ICCPR

Trang 22

cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý phải được quy định bởi pháp luật và có thể phải

Quyền bầu cử và ứng cử là một trong các cách thức

để công dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, thông qua các cuộc bầu cử

và ứng cử định kì để lựa chọn ra người đại diện do mình trực tiếp bỏ phiếu, trên nền

tảng nguyên tắc tiến hành bầu cử, ứng cử “chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu,

bình đẳng và bỏ phiếu kín”

Tuy nhiên, điều kiện để thực hiện quyền thì tùy thuộc vào các điều kiện chính trị - xã hội của các quốc gia mà có thể đưa ra các điều kiện nhất định và khi công dân thỏa mãn các điều kiện đó thì mới có thể tham gia, ví dụ: để thực hiện quyền bầu cử, ứng cử, công dân phải thỏa mãn các điều kiện về mặt độ tuổi, năng lực hành vi dân sự,…

* Cách thức bảo đảm:

Công ước ICCPR có giá trị bắt buộc về mặt pháp lý Các quốc gia là thành viên, thì cũng đã tự ràng buộc mình vào các nghĩa vụ thực thi các quyền được quy định trong ICCPR Chính vì thế, để đảm bảo sự tuân thủ một cách nghiêm túc, việc quy định nghĩa vụ chỉ dừng lại ở mức độ ghi nhận trên giấy không là chưa đủ để

đảm bảo các quyền trên thực tế ICCPR đã thành lập một Ủy ban nhân quyền 24

(Committee for Human Rights hay Human Rights Committee - gọi tắt là HRC) nhằm giám sát việc thực hiện Việc giám sát của cơ quan này được tiến hành trên các nhiệm vụ cụ thể như nhận và xem xét báo cáo của các quốc gia thành viên về các biện pháp cụ thể hóa việc thực thi những quy định của ICCPR tại quốc gia mình,…Như vậy, việc bảo đảm thực thi Công ước đối với các quốc gia thành viên được thực hiện thông qua chức năng cơ bản của HRC là giám sát việc hiện thực hóa các quyền được ghi nhận (có các quyền về chính trị) trong Công ước, đồng thời có

sự trợ giúp đối với Chính phủ của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý của họ như đưa ra những khuyến nghị trong lĩnh vực lập pháp

“cơ quan giám sát công ước” bởi nó được thành lập từ những quy định và trên cơ sở của Công ước HRC tồn tại độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc (dù nó được nhận sự hỗ trợ từ phía Liên Hợp Quốc và phải báo cáo

trước Đại hội đồng (Đọc thêm: Nguyễn Thị Yên - Phạm Đình Phú - Trần Thị Thuận Giang (12/2011), Ủy

ban Quyền con người - cơ quan giám sát thực hiện Công ước về các quyền dân sự và chính trị 1966, in trong

Trường Đại học Luật TP.HCM - Khoa Luật quốc tế, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Quyền dân sự và chính trị

trong pháp trong pháp luật quốc tế và thực tiễn ở Việt Nam, TP.HCM, tr.89-90)

Trang 23

Về phương diện pháp luật quốc tế, các quyền chính trị đã có ghi nhận trong một số văn kiện pháp lý quốc tế, nhưng phải đến khi có sự ra đời của Công ước ICCPR, cùng với việc bảo đảm từ một ủy ban chuyên trách về giám sát (HRC), các vấn đề về quyền chính trị mới được quy định một cách cụ thể, có hệ thống và tạo cơ

sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm thực hiện các quyền chính trị trên thực tế ở các quốc gia thành viên

1.2.3 Quyền chính trị trong Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN năm 2012

* Khái quát:

Tuyên bố nhân quyền ASEAN (ASEAN Human Rights Declaration - gọi tắt

là AHRD) là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN nhằm tạo khuôn khổ chung trong việc tăng cường hợp tác về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền ở khu vực AHRD

đã được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18/11/2012, với sự tham gia ký kết của 10 nước ASEAN25 Tuyên ngôn bao gồm 40 Điều khoản, xác định bốn nhóm quyền cơ bản trong đó có các quyền về chính trị, cùng với việc ghi nhận hai quyền mới là Quyền phát triển và Quyền hòa bình Tuyên ngôn được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc về bình đẳng, tôn trọng, đặc thù khu vực và sự đa dạng của mỗi quốc gia, phù hợp với các nguyên tắc và mục tiêu đề ra trong Hiến chương ASEAN

* Nội dung quyền chính trị:

Một là, Điều 25(1): “Mọi người là một công dân của một quốc gia đều có

quyền tham gia vào chính quyền nước mình, trực tiếp hay gián tiếp thông qua các đại biểu được bầu ra một cách dân chủ, theo luật pháp quốc gia” Như vậy, công

dân của một quốc gia có thể tham gia vào các hoạt động quản lý của chính quyền nước mình theo hai hình thức trực tiếp hay thông qua đại diện mà mình đã chọn ra qua các kì bầu cử, trên cơ sở đảm bảo về mặt dân chủ và được thể hiện cụ thể thông qua các hình thức tham gia khác nhau do luật pháp của mỗi quốc gia quy định

Hai là, Điều 25(2): “Mọi công dân có quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử

định kỳ và chân thực, bằng các lá phiếu phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, bỏ phiếu kín, đảm bảo tự do biểu đạt ý nguyện của cử tri, theo luật pháp trong nước” Quy

định này bổ sung cho Điều 25(1), trong đó đề ra các nguyên tắc bầu cử được xem là tiến bộ hiện nay và cũng được nhiều quốc gia xác định là nguyên tắc bầu cử trong

25

Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam

Trang 24

pháp luật quốc gia mình, đó là “phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín” Bên cạnh đó, việc tiến hành và tổ chức bầu cử phải làm sao để cử tri có thể “tự do biểu đạt ý

nguyện” của mình, trên cơ sở thực hiện các trình tự được luật pháp quốc gia quy

định Một cuộc bầu cử chân thực là khi nó phản ánh được đúng ý chí và nguyện vọng của cử tri tham gia bỏ phiếu

* Cách thức bảo đảm:

Tuyên ngôn AHRD là văn kiện không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý, vấn đề bảo đảm các quyền chính trị nói riêng được thực hiện trên cở sở cam kết và hợp tác Thông qua quá trình hợp tác thúc đẩy - bảo vệ các quyền được ghi nhận giữa các quốc gia thành viên, nhằm chia sẻ mối quan tâm chung trong việc thúc đẩy

và bảo vệ các quyền chính trị nói riêng của công dân Bên cạnh đó, với Quyền Hòa bình được ghi nhận, Tuyên bố đã đề ra vai trò của các quốc gia thành viên ASEAN

trong việc “tiếp tục tăng cường tình hữu nghị và hợp tác thúc đẩy hơn nữa hòa

bình, sự hài hòa và ổn định trong khu vực” nhằm mục đích “để những quyền được công nhận trong Tuyên ngôn này có thể trở thành hiện thực hoàn toàn” (Điều 38)

Dù AHRD mang tính chất khu vực nhưng việc hiện thức hóa các nhóm quyền (trong đó có các quyền chính trị) lại cho thấy sự thận trọng, dè dặt hơn từ các

quốc gia thành viên khi hiện thực hóa các quyền này “phải được xem xét trong bối

cảnh khu vực và quốc gia, có tính đến những khác biệt về hoàn cảnh chính trị, kinh

tế, luật pháp, xã hội, văn hóa, lịch sử và tôn giáo” (Điều 7) Tuy nhiên, để tránh sự

lạm dụng, Tuyên bố cũng đã có sự thể hiện tại Quyền Phát triển: “việc chậm phát

triển không thể được lấy làm lý do để biện bạch cho những vi phạm các quyền con người đã được quốc tế thừa nhận” (Điều 35)

Việc hạn chế quyền chỉ được thực hiện “do pháp luật quy định” với mục đích là để “đảm bảo sự công nhận thích đáng với các quyền và tự do căn bản của

những người khác, thỏa mãn những yêu cầu chính đáng về an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, đạo đức chung, cũng như phúc lợi chung của các dân tộc trong một xã hội dân chủ” (Điều 8)

* Ý nghĩa:

Về pháp lý, AHRD không mang giá trị ràng buộc nhưng đã thể hiện được sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo ASEAN, là văn kiện chính trị đầu tiên tạo khuôn khổ chung cho việc tăng cường hợp tác ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền

trong khu vực Về chính trị, ngăn ngừa các hoạt động “lợi dụng nhân quyền” để

Trang 25

chống phá các tổ chức, Chính phủ trong khu vực đồng thời cũng là lời hứa, cam kết của ASEAN tôn trọng và bảo vệ quyền cơ bản của hơn 600 triệu công dân trong khối này, góp phần hội nhập và tiến gần hơn đến việc thành lập Cộng đồng ASEAN vào năm 2015

1.2.4 Quyền chính trị trong Hiến pháp nước ngoài

1.2.4.1 Hiến pháp Liên bang Nga 1993

 Các quyền chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp Liên bang Nga:

- Quyền tham gia quản lý nhà nước: theo Điều 32(1) Hiến pháp Liên bang Nga

thì công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước một cách trực tiếp cũng như thực hiện quyền này thông qua các đại biểu dân cử mà họ đã lựa chọn qua các kì bầu cử

- Quyền bầu cử, ứng cử: theo Điều 32(2) thì công dân Liên bang Nga có quyền

bầu và được bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, các cơ quan tự quản địa phương Để thực hiện quyền này, Hiến pháp ghi nhận các điều kiện như: Về độ tuổi

(Điều 60: “công dân có thể tự mình thực hiện tất cả các quyền và nghĩa vụ từ 18

tuổi trở lên” hay Điều 97(1): “công dân từ 21 tuổi trở lên và đủ điều kiện tham gia bầu cử thì có thể được bầu làm đại biểu Đuma Quốc gia”) Về năng lực thì “các công dân mà tòa án tuyên bố không có năng lực hành vi, những người đang bị giam giữ theo bản án của tòa thì không được bầu cử và ứng cử” Nguyên tắc bầu cử

được xác định gồm “nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”

(Điều 81)

- Quyền trưng cầu dân ý: Quyền trưng cầu dân ý (khoản 2 Điều 32), có thể đề

cập đến các trường hợp tiến hành trưng cầu như một trong các hình thức để thực hiện quyền tự quyết của cư dân ở tầm địa phương (tự quản địa phương), được tiến hành bằng cách trưng cầu dân ý (khoản 2 Điều 130) hoặc trong trường hợp soạn thảo bản Hiến pháp mới, Hội nghị lập hiến có thể thông qua dự thảo bằng cách quyết định trưng cầu phúc quyết toàn dân và khi có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu tán thành thì Hiến pháp được thông qua với điều kiện phải có hơn một nửa tổng số cử tri tham gia phúc quyết (khoản 3 Điều 135)

- Quyền kiến nghị (Điều 33): Hiến pháp ghi nhận công dân có thể kiến nghị trực

tiếp hoặc gửi kiến nghị mang tính cá nhân hay tập thể đến cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan tự quản địa phương

Trang 26

- Quyền biểu tình (Điều 31): Hiến pháp ghi nhận công dân Liên bang Nga có

quyền tụ tập một cách hòa bình, không có vũ trang để tiến hành hội họp, mít tinh, biểu tình, diễu hành, tuần hành

- Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc: Công dân Liên bang Nga có nghĩa vụ và

bổn phận bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quân sự theo pháp luật liên bang và có thể thay nghĩa vụ quân sự bằng hình thức phục vụ dân sự thay thế trong một số trường hợp pháp luật liên bang quy định (Điều 59)

 Bảo đảm quyền trong Hiến pháp Liên bang Nga:

- Không được ban hành các đạo luật tước bỏ hoặc xem nhẹ các quyền và tự do của con người, công dân (khoản 2 Điều 35)

- Việc liệt kê các quyền trong Hiến pháp (trong đó có các quyền chính trị)

không có nghĩa chỉ giới hạn trong khuôn khổ quy định quốc gia, “phủ định hoặc

xem nhẹ các quyền và tự do khác của con người, công dân đã được thừa nhận rộng rãi” (khoản 1 Điều 55)

- Trường hợp giới hạn quyền: các quyền chỉ bị giới hạn bởi pháp luật liên bang

và trong “mức độ cần thiết” nhằm bảo vệ “nền tảng chế độ Hiến pháp, đạo đức,

sức khỏe, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bảo đảm quốc phòng và

an ninh quốc gia” (khoản 3 Điều 55), cụ thể đối với “tình trạng khẩn cấp” như bảo

đảm an toàn cho công dân, bảo vệ Hiến pháp mà theo một đạo luật Hiến pháp liên bang cần phải giới hạn quyền thì phải chỉ rõ được phạm vi và thời gian của việc giới hạn (khoản 1 Điều 56)

1.2.4.2 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946

 Các quyền chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp Nhật Bản năm 1946:

- Quyền bầu cử và ứng cử: để thực hiện hai quyền này, Hiến pháp Nhật cũng

đưa ra những điều kiện nhất định khi thực hiện quyền như về độ tuổi thì công dân Nhật Bản từ 20 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ 25 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào

Hạ viện, từ 30 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Thượng Viện cùng với các điều kiện khác được Hiến pháp dẫn đến các quy định của pháp luật tương ứng, trên cơ sở

“không có sự phân biệt về chủng tộc, tín ngưỡng, nam nữ, điều kiện xã hội, lý lịch gia đình, học vấn, tài sản và thu nhập” (Điều 44) Nguyên tắc bầu cử được xác định

là “phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín”, trong đó công dân khi đạt độ tuổi luật

Trang 27

định có quyền bầu cử “để lựa chọn ra các vị đại biểu nhân dân” và cử tri “không

cần phải tường trình sự bỏ phiếu của mình cho bất kì ai” (Điều 15)

- Quyền tham gia các hoạt động nhà nước, giám sát của nhân dân: tuy không

thể hiện tại một điều khoản cụ thể, nhưng qua việc ghi nhận các quyền khác đã thể hiện được vai trò của nhân dân trong các hoạt động của nhà nước, cụ thể: tại Điều

91 quy định đối với vấn đề tài chính thì Nội các phải đệ trình trước Quốc hội và toàn dân theo định kì nhất định hoặc ít nhất mỗi năm một lần về báo cáo tình hình tài chính quốc gia hay tại Điều 95 về quyền tự trị địa phương thì Quốc hội sẽ không thông qua một đạo luật được áp dụng cho một địa phương khi đa số cử tri của địa phương đó không chấp nhận Trong đó:

Một là, quyền lựa chọn và bãi nhiệm viên chức: Hiến pháp ghi nhận công dân

Nhật Bản có quyền “bất khả xâm phạm” khi thực hiện việc lựa chọn và bãi nhiệm

các viên chức (Điều 15)

Hai là, quyền khiếu nại và kiến nghị: Hiến pháp ghi nhận mọi công dân Nhật

Bản có quyền thực hiện việc khiếu nại trên nhiều lĩnh vực, trong đó xác định hai trường hợp cụ thể về bồi thường thiệt hại và cắt chức các công chức Đối với các

thiệt hại do “bất kì hành vi bất hợp pháp của công chức” thì “công dân có quyền

xin Chính phủ bồi thường theo pháp luật” Đồng thời, công dân có quyền kiến nghị

áp dụng, hủy bỏ, sửa chữa đạo luật, quy tắc hành chính và những người ủng hộ các

kiến nghị trên không bị “phân biệt đối xử” (Điều 16)

Ba là, quyền trưng cầu dân ý: quyền này được ghi nhận trong trường hợp tại

Điều 96, trong đó “việc sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội đề xướng sau khi được ít

nhất 2/3 tổng số đại biểu của mỗi viện thông qua Sau đó, Tu chính án phải được đa

số nhân dân phê chuẩn trong một cuộc trưng cầu ý dân hay qua một cuộc tổng tuyển cử đặc biệt do Quốc hội ấn định”

 Bảo đảm quyền trong Hiến pháp Nhật Bản:

- Đối với các quyền được ghi nhận (trong đó có các quyền chính trị của công dân), Hiến pháp quy định mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ và không được lạm dụng các quyền này vì các mục đích riêng, phải được duy trì vì sự thịnh vượng chung của đất nước (Điều 12)

- Các quyền chính trị nói riêng được ghi nhận trong Hiến pháp - một đạo luật tối cao của quốc gia nên tất cả các đạo luật, sắc lệnh, các công bố của Hoàng gia hoặc

Trang 28

các hoạt động của chính quyền hoặc một bộ phận chính quyền trái với Hiến pháp đều không có giá trị pháp lý và không có giá trị thi hành (Điều 98)

1.3 Quyền chính trị của công dân qua các bản Hiến pháp Việt Nam

1.3.1 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1946

Sự ra đời của bản Hiến pháp 1946 không chỉ có ý nghĩa như là một công cụ pháp lý hiệu quả để bảo vệ thành quả cách mạng, mà còn là văn bản pháp lý quan trọng lần đầu tiên xác lập quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó có các quyền về chính trị, tạo cơ sở cho việc thực hiện quyền lực nhân dân trên nền tảng dân chủ Hiến pháp 1946 bao gồm Lời nói đầu, 7 chương và 70 Điều, được xây

dựng trên nền tảng ba nguyên tắc, trong đó có “bảo đảm các quyền tự do dân chủ”,

bao gồm cả các quyền tự do về mặt chính trị

* Nội dung quyền chính trị:

- Một là, Quyền được tham gia vào chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy

theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều 7): “Tất cả công dân Việt Nam đều bình

đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tuỳ theo tài năng và đức hạnh của mình”

Đứng trước nhu cầu cấp thiết mà hoàn cảnh lịch sử đang đặt ra với một nhà nước vẫn còn non trẻ, nền chính trị chưa ổn định, bản Hiến pháp đầu tiên đã ghi nhận về quyền chính trị này cho công dân Một mặt vừa có thể huy động, tập trung mọi nguồn lực “sức người”, “sức của” từ phía nhân dân để xây dựng và bảo vệ chính quyền mới, một mặt vừa thể hiện được bản chất dân chủ của nhà nước, thể

hiện đúng nghĩa tinh thần “nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước” Hiến

pháp quy định việc tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng, đức độ của mỗi người chứ không bắt buộc phải tham gia hay tham gia vượt quá sức của mình Bên cạnh đó, việc nhân dân tham gia vào chính quyền và công cuộc kiến

quốc, trên nền tảng không có sự phân biệt “nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,

tôn giáo” (Điều 1) và đều bình đẳng như nhau trong việc có cơ hội được góp sức

cho đất nước cả về mặt vật chất lẫn tinh thần

- Hai là, Quyền được bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 18): “Tất cả công

dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền Người ứng cử phải là người

Trang 29

có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”

Độ tuổi để công dân có quyền bầu cử “từ 18 tuổi trở lên” và có quyền ứng

cử “phải ít ra là 21 tuổi” Do đó, không phải mọi công dân nào cũng đều được

quyền bầu cử và ứng cử Để thực hiện quyền này, công dân cần phải đạt độ tuổi quy định nhằm đảm bảo về mặt nhận thức và không yêu cầu phải đủ 18 hay 21 tuổi nhằm tạo điều kiện cho đông đảo công dân có thể tham gia Bên cạnh đó, ngoài điều

kiện về mặt độ tuổi thì khi thực hiện quyền ứng cử, công dân “phải biết đọc, biết

viết chữ quốc ngữ” Quy định như vậy không thừa về mặt ngữ nghĩa, bởi lẽ nó phản

ánh được tình hình giáo dục của đất nước thời điểm đó, khi có đến hơn 90% dân số

mù chữ và trừ những trường hợp “những người mất trí và những người mất công

quyền”, nhằm đảm bảo cho công dân khi thực hiện quyền phản ánh được đúng ý chí

và nhận thức của mình Ngoài ra, Hiến pháp còn xác định nguyên tắc bầu cử là

“phổ thông đầu phiếu, tự do, trực tiếp và kín” (Điều 17) Xét bối cảnh lịch sử ở

trong nước và ngoài nước, “các nguyên tắc bầu cử này là tiến bộ nhất, dân chủ

Hiến pháp cũng quy định trường hợp “công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và

ứng cử”

- Ba là, Quyền bãi miễn đại biểu mà mình đã bầu ra của công dân (Điều 20):

“Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo điều thứ 41 và 61”

Chủ thể thực hiện quyền này là “nhân dân” và không quy định cụ thể là “cử

tri”, nên về chủ thể thực hiện quyền có thể được hiểu theo phạm vi rộng hơn Đối

tượng bị bãi miễn được xác định “các đại biểu mà mình đã bầu ra”, theo Điều 41

và 61 ở đây được hiểu là nghị viên của Nghị viên nhân dân và nhân viên của Hội

đồng nhân dân, khi “nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay

thành phố đã bầu ra nghị viên đó Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức” Ngoài ra, đối tượng bị bãi miễn theo

Điều 61 còn có nhân viên của Ủy ban hành chính

- Bốn là, Quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận

mệnh quốc gia (Điều 21): “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những

việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70”

26 Nguyễn Văn Động, tlđd số 6, tr 94

Trang 30

Chủ thể thực hiện quyền ở đây là “nhân dân” và được thực hiện trong hai

trường hợp: thứ nhất, những việc có liên quan đến vận mệnh quốc gia khi có hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý (Điều 32); thứ hai, vấn đề sửa đổi Hiến pháp, do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu, những điều thay đổi khi Nghị viện đã ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70) Qua đó, việc thực hiện quyền này đã được Hiến pháp quy định khá cụ thể về đối tượng và cách thức thực hiện, đảm bảo quyền này có cơ sở để thực hiện trên thực tế

- Năm là, Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 4), trong đó ghi nhận

trách nhiệm của mỗi công dân là“phải bảo vệ Tổ quốc” Để thực hiện trách nhiệm này, Hiến pháp quy định công dân Việt Nam phải “có nghĩa vụ phải đi lính” (Điều 5)

Dù ra đời trong hoàn cảnh lịch sử hết sức khó khăn nhưng có thể nói Hiến pháp 1946 đã có những quy định hết sức dân chủ và tiến bộ về các quyền chính trị của công dân Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945 và Hiến pháp 1946 đã thực sự khẳng định tính dân chủ của nhà nước

1.3.2 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1959

Trên cơ sở kế thừa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 ra đời với những quy định về các quyền chính trị của công dân phù hợp với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới của đất nước Hiến pháp bao gồm Lời nói đầu, 10 chương, 112 Điều

* Nội dung quyền chính trị:

- Một là, Quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân (Điều 23): “Công dân

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, không phân biệt dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử, từ hai mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử, trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền bầu cử và ứng cử Công dân đang ở trong quân đội có quyền bầu cử và ứng cử” Bên cạnh những điểm kế thừa từ Hiến pháp 1946 về độ

tuổi và công dân trong quân đội có quyền bầu cử, ứng cử thì Hiến pháp 1959 có những điểm mới về quyền này như sau:

Thứ nhất, về tiêu chí bảo đảm bình đẳng, công dân thực hiện quyền bầu cử,

ứng cử: bên cạnh không phân biệt “gái trai” như Hiến pháp 1946 thì còn bổ sung thêm các tiêu chí khác về “dân tộc, nòi giống, thành phần xã hội, tôn giáo, tín

Trang 31

ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú”, nhằm

mục đích đảm bảo cơ hội và tính dân chủ cho tất cả công dân khi đủ yêu cầu về độ

tuổi và “trừ những người mất trí và những người bị Toà án hoặc pháp luật tước

quyền bầu cử và ứng cử” Như vậy, về mặt câu chữ và tiêu chí đã có sự bổ sung,

ghi nhận một cách chặt chẽ và cụ thể hơn, bảo đảm công dân có thể thực hiện các quyền chính trị của mình, phát huy tính dân chủ một cách rộng rãi

Thứ hai, một trong các điều kiện để được quyền ứng cử theo Hiến pháp 1946

là “phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”, đã được bỏ đi theo Hiến pháp 1959 xuất

phát từ tình hình thực tế khi phần lớn người dân đã biết đọc, biết viết nên điều kiện này không còn cần thiết nữa

Thứ ba, tại Điều 5 ghi nhận “Việc tuyển cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đều tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”, được bổ sung thêm một nguyên tắc mới là bình đẳng

Như vậy, nguyên tắc bầu cử được xác định theo Hiến pháp 1959 là “phổ thông,

bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”

- Hai là, Quyền bãi miễn đại biểu dân cử (Điều 5): “Đại biểu Quốc hội và

đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân” Quyền này theo Hiến

pháp 1959 có điểm mới sau đây:

Về chủ thể: được xác định lại là “cử tri” thực hiện, không ghi nhận là “nhân

dân” như Hiến pháp trước Về thời gian, có sự xác định cụ thể là “trước khi hết nhiệm kỳ” Như vậy, cử tri chỉ thực hiện quyền này trong thời gian còn nhiệm kì

của đại biểu dân cử Về nguyên nhân bãi miễn được xác định là khi “nếu tỏ ra

không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”

- Ba là, Quyền khiếu nại và quyền tố cáo của công dân (Điều 29): “Công dân

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”

Đây là hai quyền mới được xác định theo Hiến pháp 1959 Hiến pháp quy định chủ thể thực hiện ở đây là công dân Việt Nam, với đối tượng được xác định là

“những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước” Với quy định này,

Hiến pháp đã trao thêm cho nhân dân một “công cụ” trong việc giám sát các hoạt

Trang 32

động của cơ quan nhà nước, nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ khi thực

hiện công việc Công dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo tại “bất cứ cơ

quan Nhà nước nào” nhằm tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện quyền và nâng

cao tinh thần trách nhiệm khi tiếp nhận các đơn khiếu nại, tố cáo của các cơ quan nhà nước Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định thêm về trách nhiệm giải quyết khi

“phải được xét và giải quyết nhanh chóng”, đồng thời để bảo vệ quyền lợi cho

người bị thiệt hại do những hành vi phạm pháp của nhân viên nhà nước gây ra thì

“có quyền được bồi thường” Như vậy, đối với hai quyền này, công dân có quyền

khiếu nại, tố cáo (gửi đơn hoặc trực tiếp trình bày), có quyền được xét và giải quyết một cách nhanh chóng và quyền được bồi thường khi có thiệt hại xảy ra (có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm pháp)

- Bốn là, Quyền biểu tình được quy định tại Điều 25, trong đó đặt ra trách

nhiệm đối với nhà nước trong việc “bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để

công dân được hưởng các quyền đó” Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 42),

trong đó xác định bảo vệ Tổ quốc là “nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý nhất của

công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” Để bảo vệ Tổ quốc, công dân có “bổn phận làm nghĩa vụ quân sự”

Hiến pháp 1959 đã không có sự ghi nhận đối với hai quyền chính trị đã có

trong Hiến pháp 1946 là “quyền phúc quyết về hiến pháp và những việc quan hệ

đến vận mệnh quốc gia”(Điều 21) và “quyền tham gia chính quyền và kiến quốc”

(Điều 7) Điều này có thể xuất phát từ nhiệm vụ do lịch sử đặt ra, khi miền Bắc vừa

đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa là hậu phương vững chắc chi viện cho miền Nam nên đòi hỏi cần có sự ổn định về mặt chính trị và tính nhanh chóng, kịp thời trong các quyết định Hơn nữa, đất nước vẫn chưa thống nhất nên việc thực hiện quyền phúc quyết hay quyền tham gia cho nhân dân cả hai miền sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, không phải vì vậy mà vị trí, vai trò của người dân trong các hoạt động của chính quyền bị xem nhẹ, Hiến pháp 1959 đã có sự ghi nhận hai quyền mới

về khiếu nại - tố cáo, tạo một “kênh” giám sát hiệu quả cho người dân và nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

1.3.3 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1980

Hiến pháp 1980 trên cơ sở kế thừa, phát triển hai bản Hiến pháp trước, cùng

với nguyên tắc nền tảng “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ

tập thể là nhân dân lao động…Nhà nước bảo đảm không ngừng hoàn chỉnh và củng

cố chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động về các mặt chính

Trang 33

trong việc xác lập và bảo đảm quyền cơ bản của công dân là “Quyền của công dân

không tách rời nghĩa vụ của công dân Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội” (Điều 54)

Hiến pháp bao gồm Lời nói đầu, 12 chương và 147 Điều

* Nội dung quyền chính trị:

- Một là, Quyền tham gia quản lý công việc nhà nước và của xã hội (Điều

56): “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội”

Đây có thể được xem là một quyền mới so với Hiến pháp 1959 và là quyền được khôi phục lại từ Điều 7 Hiến pháp 1946 Trên nền tảng tại Điều 3 và Điều 6

Hiến pháp 1980 về “Nhà nước đảm bảo không ngừng hoàn chỉnh và củng cố chế độ

làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động về các mặt chính trị,…” và

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân,…” Việc khôi phục lại quyền này có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo đảm tính

nhân dân và tính dân chủ trong việc sử dụng quyền lực nhà nước và phát huy vai trò của nhân dân cả nước trong giai đoạn mới của lịch sử, khi nhà nước đã thống nhất làm một và cùng thực hiện một mục tiêu chung là đi lên chủ nghĩa xã hội

- Hai là, Quyền bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 57): “Công dân không

phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, từ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và

từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, trừ những người mất trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó”

Ngoài những điểm kế thừa từ hai bản Hiến pháp trước về độ tuổi bầu cử, ứng

cử “từ 18 tuổi trở lên,…từ 21 tuổi trở lên”, các trường hợp “trừ những người mất

trí và những người bị pháp luật hoặc Toà án nhân dân tước các quyền đó” và

nguyên tắc bầu cử “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 7) Hiến pháp 1980 có những điểm thay đổi về các tiêu chí hạn chế quyền, đã bỏ từ “nòi

giống”, “tình trạng tài sản” và gộp tôn giáo với tín ngưỡng thành “tín ngưỡng tôn giáo” Như vậy, các tiêu chí này theo Hiến pháp 1980 chỉ còn là “không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú”

- Ba là, Quyền bãi miễn đại biểu dân cử (Điều 7): “Cử tri có quyền bãi miễn

đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu đại biểu đó không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”

Trang 34

So với quy định ở Hiến pháp 1959, quyền bãi miễn theo Hiến pháp 1980 có những điểm khác như sau:

Về mặt chủ thể, vẫn xác định là “cử tri” nhưng về cách thức thể hiện có

điểm khác, góp phần thể hiện sự bảo đảm và tạo tâm lý chắc chắn hơn Nếu như tại

Điều 5 Hiến pháp 1959 ghi nhận “có thể bị cử tri bãi miễn” thì Điều 7 Hiến pháp

1980 đã có sự ghi nhận rõ ràng hơn là “cử tri có quyền bãi miễn” Như vậy, quy

định như Hiến pháp 1959 có thể tạo ra một hướng hiểu khác, là bên cạnh việc bị cử tri bãi miễn thì còn có một phương hướng bãi miễn khác Hơn nữa, xét về mặt câu chữ, quy định như Hiến pháp 1959 chưa thể hiện được sự chủ động của cử tri khi thực hiện quyền này

Về mặt thời gian, Hiến pháp 1980 đã bỏ đi cụm từ “trước khi hết nhiệm kì”

Như vậy, việc ghi nhận về quyền bãi miễn theo Hiến pháp 1980 đã có những hoàn thiện nhất định Qua đó, các đại biểu dân cử sẽ luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trước nhân dân, xứng đáng với sự tín nhiệm của

cử tri Đồng thời, quyền này cũng khẳng định và nâng cao vai trò, vị trí của nhân dân trong hoạt động giám sát các công việc của nhà nước

- Bốn là, Quyền khiếu nại và quyền tố cáo của công dân (Điều 73) :“Công

dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo”

So với Hiến pháp 1959, trên cơ sở kế thừa, chủ thể vẫn được xác định là

“công dân” và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo tại “bất cứ cơ quan nào của Nhà nước”, được “xem xét và giải quyết nhanh chóng”, “có quyền được bồi thường”

Hiến pháp 1980 có quy định một số điểm mới như sau:

Về đối tượng, khác với quy định tại Điều 29 Hiến pháp 1959 về “những hành vi phạm pháp”, Điều 73 Hiến pháp 1980 đối tượng bị khiếu nại, tố cáo được

xác định là “những việc làm trái pháp luật” Quy định như vậy thể hiện rõ hơn

quan điểm của nhà nước với các hành vi lệch chuẩn bởi xét về mặt phạm vi thì các

“hành vi phạm pháp” hẹp hơn so với các hành vi “trái pháp luật” Trên thực tế,

nhiều hành vi trái pháp luật cũng đã gây hậu quả nghiêm trọng, cần phải được xử lý,

Trang 35

chứ không phải chỉ những hành vi vi phạm pháp luật mới gây ra hậu quả xấu cho xã hội

Về mặt chủ thể, Hiến pháp 1980 quy định theo hướng mở rộng hơn, không

chỉ có “nhân viên cơ quan nhà nước” như Điều 29 Hiến pháp 1959 mà còn có các chủ thể khác, bao gồm: “cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân

dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó” Việc

mở rộng như vậy góp phần phòng ngừa và đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực

và làm trong sạch bộ máy nhà nước

Về cách thức bảo đảm, ngoài những điểm kế thừa từ Điều 29 Hiến pháp

1959 về “phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng”, “người bị thiệt hại có

quyền được bồi thường” Hiến pháp 1980 đã có những bổ sung đáng ghi nhận như

sau:“mọi hành động xâm phạm đến quyền lợi chính đáng của công dân phải được

kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh” Bên cạnh đó, Hiến pháp còn quy định

việc bảo vệ người khiếu nại, tố cáo là “nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố

cáo”, nhằm ngăn chặn mọi hành vi xâm hại, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho công

dân, khuyến khích họ tiếp tục thực hiện khiếu nại, tố cáo nếu phát hiện các hành vi trái pháp luật của các chủ thể nêu trên

- Năm là, Quyền biểu tình được quy định tại Điều 67, trong đó nhà nước ghi

nhận việc “tạo điều kiện vật chất cần thiết” để thực hiện và không được lợi dụng quyền “để xâm phạm lợi ích Nhà nước và của nhân dân” Quyền và nghĩa vụ bảo

vệ Tổ quốc được ghi nhận từ Điều 50-52, trong đó “Tất cả các cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội và công dân phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định”.

Hiến pháp 1980 đã có sự quy định một quyền mới so với Hiến pháp 1959 và

là quyền được khôi phục từ Hiến pháp 1946 về “quyền tham gia quản lý công việc

Nhà nước và của xã hội” Việc quy định thêm quyền này hoàn toàn phù hợp với

hoàn cảnh lịch sử khi nước nhà đã thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi để huy động

cả trí và lực của toàn dân cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện tính dân chủ rộng rãi của nhà nước ta

1.3.4 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001)

Sau một thời gian dài phát huy hiệu lực, Hiến pháp 1980 tỏ ra không còn phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, ngày 15/4/1992, Quốc hội khóa VIII kỳ họp lần thứ 11 đã thông qua Hiến pháp 1992 và đến năm

Trang 36

2001 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) bao gồm Lời nói đầu, 12 chương và 147 Điều

* Nội dung quyền chính trị:

- Một là, bốn quyền chính trị của công dân có liên quan đến việc tham gia và quản lý nhà nước và xã hội được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 1992 Trên cơ sở

kế thừa Điều 7, Điều 21 Hiến pháp 1946 về “quyền tham gia chính quyền và công

cuộc kiến quốc”, “nhân dân có quyền phúc quyết hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” và Điều 56 Hiến pháp 1980 về “công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội”, Hiến pháp 1992 đã có những

quy định cụ thể về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội mà công dân tham

gia thực hiện như “tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa

phương”, quyền “kiến nghị với cơ quan nhà nước”, quyền “biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý” So với các bản Hiến pháp trước, đối với quyền

tham gia quản lý nhà nước và xã hội, Hiến pháp 1980 có ghi nhận nhưng hết sức chung chung Đối với quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý, trên

cơ sở kế thừa từ Hiến pháp 1946, quyền này ở Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 không có ghi nhận Điều này cho thấy một bước tiến mới trong tư duy lập pháp trên

cơ sở kế thừa những điểm tiến bộ và khắc phục những điểm còn thiếu sót qua các bản Hiến pháp trước, việc mở rộng nội dung quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân là hết sức cần thiết, phù hợp với xu hướng và nhu cầu dân chủ trong đời sống chính trị

- Hai là, Quyền bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 54): “Công dân, không

phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và

đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” Nguyên tắc bầu cử vẫn là: “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 7) Quyền bầu cử, ứng cử trong Hiến pháp 1992 có

những điểm đổi mới như sau:

Về vấn đề độ tuổi: Hiến pháp 1992 quy định phải “đủ 18 tuổi trở lên” và

phải “đủ 21 tuổi trở lên” khi thực hiện quyền ứng cử So với quy định tại Điều 57 Hiến pháp 1980, độ tuổi chỉ tính “từ 18 tuổi” và “từ 21 tuổi” Hiến pháp 1992 đã

có sự thu hẹp hơn về số lượng cử tri có đủ điều kiện về độ tuổi để tham gia bầu cử, ứng cử Dù vậy, quy định trên lại phù hợp với những yêu cầu về nâng cao năng lực

Trang 37

và trách nhiệm của người đại biểu dân cử trước tình hình và nhiệm vụ mới, đảm bảo cho cử tri đủ nhận thức, sáng suốt chọn người tài đức và người ứng cử có đủ năng lực, trình độ để thực hiện trách nhiệm của mình nếu trúng cử

Về các tiêu chí không được hạn chế quyền: Nếu như ở Điều 57 Hiến pháp

1980 đã có quy định gộp “tín ngưỡng tôn giáo” thì tại Điều 54 Hiến pháp 1992 đã

có sự phân tách giữa “tín ngưỡng” và “ tôn giáo” thành hai tiêu chí độc lập (giống

như Điều 23 Hiến pháp 1959) Việc ghi nhận như vậy là hợp lí vì tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm có nội hàm khác nhau27

Về quyền ứng cử: Điều 54 Hiến pháp 1992 quy định “đều có quyền ứng cử”

thay cho câu “có thể được bầu” (Điều 57 Hiến pháp 1980) Quy định như vậy đảm

bảo được tính chính xác về mặt ngữ nghĩa, tránh tình trạng hiểu nhầm vì quy định

như Hiến pháp 1980 “…từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu vào Quốc

hội, Hội đồng nhân dân các cấp” dễ tạo tâm lí hiểu nhầm rằng khi đến độ tuổi đó

thì mọi người đều có thể được bầu làm đại biểu dân cử, nhưng thực chất đó chỉ là tiêu chí để xác định một người có đủ tư cách để ra ứng cử và số lượng ứng cử viên, đại biểu dân cử cũng chỉ có hạn

- Ba là, Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử (Điều 7): “Đại biểu Quốc hội bị cử

tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”

Hiến pháp 1992 đã có sự thay đổi về mặt câu chữ đối với quyền này so với

sự ghi nhận của ba bản Hiến pháp trước, đó là thay từ “bãi miễn” thành “bãi

nhiệm”, điểm thay đổi này mang lại sự chính xác về mặt ngữ nghĩa và tạo tâm lý

nâng cao tinh thần trách nhiệm hơn nữa đối với các đại biểu dân cử Bên cạnh đó,

thay vì quy định một cách khẳng định và trực tiếp như Điều 7 Hiến pháp 1980 “cử

tri có quyền bãi miễn” Hiến pháp 1992 quy định mang tính gián tiếp hơn “Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm…” nhưng dù sao nó vẫn đảm bảo được tính dân

chủ và tính nhân dân trong quyền lực nhà nước

- Bốn là, Quyền khiếu nại và tố cáo của công dân (Điều 74): “Công dân có

quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc

27

Tín ngưỡng là khái niệm chỉ niềm tin nội tâm của cá nhân vào một đạo giáo nhất định, tôn giáo là tên gọi chung cho các đạo giáo mà con người tin theo như Phật giáo, Thiên chúa giáo,…

Trang 38

làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào”

Về nơi khiếu nại, tố cáo: nếu như ở Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định “bất

cứ cơ quan nhà nước nào” và Điều 73 Hiến pháp 1980 quy định “bất cứ cơ quan nào của nhà nước” thì tại Điều 74 Hiến pháp 1992 phạm vi này đã được thu hẹp lại

và xác định cụ thể hơn “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” Quy định như vậy giúp

cho người dân có thể dễ dàng hơn trong việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình đồng thời giảm bớt gánh nặng cho cơ quan nhà nước khác, qua việc xác định

cụ thể trách nhiệm giải quyết là của cơ quan nào và bảo đảm được tính hiệu quả trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo

Về đối tượng khiếu nại, tố cáo: tại Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định là

“hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước”, Điều 73 Hiến pháp 1980

quy định “việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ

trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó”, thì tại Điều 74 Hiến pháp 1992, đối tượng này đã được mở rộng hơn nữa khi

bổ sung thêm hai chủ thể là “tổ chức kinh tế” và “bất cứ cá nhân nào”

Về việc đảm bảo: Thứ nhất, tại Điều 29 Hiến pháp 1959 và Điều 73 Hiến

pháp 1980 đều quy định “việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem

xét và giải quyết nhanh chóng”, nhưng quy định này còn khá chung chung, chưa

xác định “nhanh chóng” là giải quyết trong thời hạn bao lâu Điều 74 Hiến pháp

1992 đã khắc phục điều này khi quy định “xem xét và giải quyết trong thời hạn

pháp luật quy định”; Thứ hai, về phạm vi xâm phạm và bồi thường: đã được mở

rộng hơn Điều 73 Hiến pháp 1980, không chỉ dừng lại ở “hành động xâm phạm đến

quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh” mà Điều 74 Hiến pháp 1992 đó còn là các “hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể” Bên cạnh đó, vấn đề về bồi

thường đã được Hiến pháp 1992 xác định cụ thể nhằm đảm bảo cho lợi ích của người bị thiệt hại, không còn quy định chung chung, không rõ bồi thường về cái gì,

như “người bị thiệt hại có quyền được bồi thường” mà xác định “người bị thiệt hại

có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự”; Thứ ba, vấn đề bảo vệ

người khiếu nại, tố cáo: vẫn giống như Điều 73 Hiến pháp 1980 về “nghiêm cấm

việc trả thù người khiếu nại, tố cáo” nhưng Điều 74 Hiến pháp 1992 đã có sự bổ

sung chặt chẽ hơn, không chỉ bảo vệ người khiếu nại, tố cáo mà còn xác định trách nhiệm của họ trước nhà nước khi thực hiện quyền này, nhằm tránh sự tùy tiện

Trang 39

“nghiêm cấm… lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”

- Năm là, Quyền biểu tình (Điều 69), Hiến pháp ghi nhận việc thực hiện

quyền này trên cơ sở do pháp luật quy định Quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc

được ghi nhận từ Điều 44-48, trong đó xác định “Bảo vệ Tổ quốc…là sự nghiệp của

toàn dân” và công dân Việt Nam có nghĩa vụ “phải làm đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định”

Hiến pháp 1992 đã có quy định thêm ba quyền mới so với Hiến pháp 1980

về quyền tham gia thảo luận, kiến nghị và trưng cầu dân ý Nhìn chung, ba quyền đều là những hình thức cụ thể của quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, thể hiện sự tham gia của người dân vào các hoạt động của cơ quan nhà nước Điều này phù hợp với tiến trình phát triển, yêu cầu hội nhập - nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Công ước ICCPR vào năm 1982 Có thể nói, Hiến pháp 1992 đã có sự thể chế khá đầy đủ về các quyền chính trị được ghi nhận trong Công ước ICCPR, trong đó nội dung các quyền chính trị được quy định cụ thể, đầy đủ hơn cùng với việc bảo đảm được quy định ngày càng thiết thực

1.3.5 Quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001 và 2013 - gọi tắt là Hiến pháp mới 2013)

Hiến pháp năm 1992 tuy đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, song cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, đã trở nên bất cập cần phải sửa đổi toàn diện Hiến pháp mới đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng

11 năm 2013 thông qua với đa số phiếu tuyệt đối Hiến pháp được xây dựng trên

nền tảng các nguyên tắc về “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự,…được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14), và “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…”, “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”(Điều 15) Hiến pháp 2013 bao gồm 11 chương và 120 Điều

* Nội dung quyền chính trị:

- Một là, Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân (Điều

28): “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận

và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước” So với quy định tại Điều 53 Hiến pháp 1992:

Trang 40

Về các nhóm quyền có liên quan đến việc tham gia quản lý, Hiến pháp mới

vẫn quy định về các quyền tham gia thảo luận, quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước và quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý nhưng đã có sự phân tách Theo đó, quyền biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý được quy định

tại một điều riêng (Điều 29) và có xác định độ tuổi công dân khi thực hiện “Công

dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền…”, cho thấy nhà nước đã có sự quan tâm hơn đến

vấn đề trưng cầu dân ý mà thực tế dù được ghi nhận qua các bản Hiến pháp nhưng quyền này vẫn chưa phát huy được tính hiện thực

Về phạm vi, công dân thực hiện các quyền có liên quan đến việc tham gia

quản lý nhà nước và xã hội được quy định một cách cụ thể hơn từ “cơ sở, địa

phương và cả nước” và phạm vi này được áp dụng chung đối với cả hai quyền tham

gia thảo luận và kiến nghị chứ không chỉ đơn thuần quy định cho quyền tham gia thảo luận như Hiến pháp 1992

- Hai là, Quyền bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 27): “Công dân đủ

mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng

cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định”

So với quy định về quyền này tại Hiến pháp 1992 thì quyền bầu cử và ứng cử đã được quy định ngắn gọn Các tiêu chí không được hạn chế quyền, phân biệt đối xử không quy định trực tiếp cùng một điều như các bản Hiến pháp trước mà vấn đề

thực hiện là “do luật định” Từ “luật định” này rất có ý nghĩa về mặt pháp lý Bởi

vì, Hiến pháp 1992 ghi nhận rằng “…đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi

trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”, dẫn đến hiện tượng các cơ quan nhà nước có thể lợi dụng vào các quy

định “cứng nhắc” của pháp luật để làm hạn chế quyền về chính trị của công dân nói riêng Về nguyên tắc, các vấn đề về quyền con người, quyền công dân là không thể

hạn chế, ngoại trừ một số trường hợp cụ thể như “trong trường hợp cần thiết vì lý

do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14) Như vậy, việc ghi nhận “do luật định” vừa có thể khắc

phục tình trạng trên, vừa dẫn chiếu đến những quy định cụ thể của luật nhằm mục đích thể chế hóa các quyền chính trị mà không nhằm mục đích bó hẹp, ràng buộc

các quyền này Nguyên tắc bầu cử theo Hiến pháp 2013 vẫn xác định là “nguyên

tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”

- Ba là, Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử (khoản 2 Điều 7): “Đại biểu Quốc

hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Quốc hội, Hội đồng nhân dân bãi

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Văn Dũng (2010), Sự tham gia của “công dân” vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội dưới phương diện bảo đảm quyền con người, in trong Võ Khánh Vinh (chủ biên), Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học (tập II), Viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của “công dân” vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội dưới phương diện bảo đảm quyền con người", in trong Võ Khánh Vinh (chủ biên), "Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học (tập II)
Tác giả: Trương Văn Dũng
Năm: 2010
2. Nguyễn Minh Đoan (2010), Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế pháp lý của công dân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Nguyễn Văn Động (2006), Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, NXB Tư Pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2006
4. Nguyễn Văn Động (1997), Hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước và công dân trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
5. Tô Văn Hòa (2012), Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Hiến pháp các quốc gia ASEAN
Tác giả: Tô Văn Hòa
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2012
6. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1997) - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị quốc gia, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền dân sự và chính trị quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
7. Nguyễn Mạnh Hùng (2011), Thuật ngữ pháp lý, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ pháp lý
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
8. Vũ Thị Loan (2010), Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Loan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
9. Đinh Văn Mậu (2003), Quyền lực nhà nước và quyền công dân, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực nhà nước và quyền công dân
Tác giả: Đinh Văn Mậu
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2003
10. Vũ Văn Nhiêm (2011), Giáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền
Tác giả: Vũ Văn Nhiêm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Hồ Thị Thu An (6/2011), “Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo”, Nghiên cứu lập pháp, 12(197) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo”, "Nghiên cứu lập pháp
17. Nguyễn Đăng Dung - Bùi Tiến Đạt (4/2011), “Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người”, Nghiên cứu lập pháp, 8(193) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người”, "Nghiên cứu lập pháp
18. Nguyễn Minh Đoan (4/2011), “Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử ở nước ta”, Nghiên cứu lập pháp, 7(192) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hơn nữa chế độ bầu cử đại biểu dân cử ở nước ta”, "Nghiên cứu lập pháp
19. Trần Ngọc Đường (2009), “Bộ luật quốc tế về quyền con người: Gía trị, ý nghĩa và cam kết của Việt Nam”, Khoa học pháp lý, 5(54) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật quốc tế về quyền con người: Gía trị, ý nghĩa và cam kết của Việt Nam”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Năm: 2009
20. Hoàng Văn Hảo - Vũ Công Giao (1999), “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền - Một văn kiện có tính chất bước ngoặt trong lịch sử nhân quyền thế giới”, Nhà nước và pháp luật, 2(130) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền - Một văn kiện có tính chất bước ngoặt trong lịch sử nhân quyền thế giới”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hoàng Văn Hảo - Vũ Công Giao
Năm: 1999
21. Hoàng Minh Hội (2014), “Pháp luật về hoạt động giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, Luật học, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về hoạt động giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”, "Luật học
Tác giả: Hoàng Minh Hội
Năm: 2014
22. Đỗ Minh Khôi (2009), “Vai trò của dân chủ đối với việc bảo đảm thực hiện quyền con người”, Khoa học pháp lý, 5(54) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của dân chủ đối với việc bảo đảm thực hiện quyền con người”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Đỗ Minh Khôi
Năm: 2009
23. Vũ Văn Nhiêm (2006), “Một số vấn đề về trưng cầu ý dân”, Khoa học pháp lý, 1(32) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về trưng cầu ý dân”, "Khoa học pháp lý
Tác giả: Vũ Văn Nhiêm
Năm: 2006
24. Lưu Đức Quang (2007), “Tự do, công bằng trong bầu cử và những liên hệ với bầu cử ở Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, 01(91) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự do, công bằng trong bầu cử và những liên hệ với bầu cử ở Việt Nam”, "Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Lưu Đức Quang
Năm: 2007
25. Trương Hồng Quang (2013), “Thực trạng áp dụng quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn về vấn đề công khai cho nhân dân biết”, Luật học, (12) - theo Dự án điều tra cơ bản của Viện Khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp thực hiện trong hai năm 2011, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng áp dụng quy định của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn về vấn đề công khai cho nhân dân biết”, "Luật học
Tác giả: Trương Hồng Quang
Năm: 2013

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w