1.1.2 Đặc điểm phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng Là bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung của pháp luật thuế GTGT hiện nay, phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG THEO PHƯƠNG PHÁP TRỰC TIẾP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN THỊ LINH Khóa: 37 MSSV: 1253801011655
GVHD: THS TRẦN MINH HIỆP
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÍNH THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG THEO PHƯƠNG PHÁP TRỰC TIẾP
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN THỊ LINH Khóa: 37 MSSV: 1253801011655
GVHD: THS TRẦN MINH HIỆP
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Trần Minh Hiệp, đảm bảo mang tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này”
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Luật Thuế GTGT 2008 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/
Thông tư 119/2014 TT- BTC
Thông tư số 119/2014/TT-BTC của
Bộ Tài chính ngày 25 tháng 08 năm
2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 156/2013/TT- BTC ngày 06/11/2013, thông tư số 111/2013/TT- BTC ngày 15/8/2013, thông tư
số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, thông tư số 08/2013/TT-BTC ngày 10/ 01/2013, thông tư số 85/ 2011/TT- BTC ngày 17/6/2011, thông tư số 39/2014/TT -BTC ngày 31/3/2014 và thông tư số 78 /2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của bộ tài chính để cải cách, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế;
Thông tư 219/2013 TT- BTC
Thông tư 219/2013/ TT- BTC của
Bộ Tài Chính ngày 31 tháng 12 năm
2013 hướng dẫn về luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18 tháng 13 năm 2013 về hướng dẫn thi hành luật thuế giá trị gia tăng
Luật Quản lý thuế 2006
Luật Quản lý thuế (luật số 78/ 2006 /QH11) của Quốc hội ngày 29 tháng 11 năm 2006
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 4
1.1.1 Khái niệm phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 4
1.1.2 Đặc điểm phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 6
1.1.3 Yêu cầu khi xây dựng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 9
1.2 Nội dung pháp lý về phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 11
1.2.1 Căn cứ tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 11
1.2.2 Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 16
1.2.3 Công thức tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 21 1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ TRỰC TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG 29
2.1 Thuận lợi khi áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 29
2.2 Nhận diện những hành vi gian lận thuế của các đối tượng nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 32
2.3 Những bất cập và định hướng hoàn thiện về phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 38
2.3.1 Bất cập về đối tượng áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và định hướng hoàn thiện 38
2.3.2 Bất cập về công thức tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng và định hướng hoàn thiện 41
2.3.3 Bất cập về chế độ hóa đơn và định hướng hoàn thiện 45
2.3.4 Bất cập trong công tác quản lý và định hướng hoàn thiện 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
KẾT LUẬN 51
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi quốc gia để có thể tồn tại và phát triển đòi hỏi phải có nguồn thu Ngân sách nhà nước, đó chính là tiềm lực để thực hiện các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và phát triển các lĩnh vực khác một cách thuận lợi nhất Ngân sách nhà nước được thu từ nhiều nguồn khác nhau như thuế, phí, lệ phí, đi vay… Tuy nhiên, nguồn thu về thuế là nguồn thu chủ yếu và lâu dài nhất nhằm huy động một phần của cải vật chất trong xã hội cho sự phát triển Thuế là khoản thu bắt buộc, không mang tính bồi hoàn trực tiếp của nhà nước đối với các tổ chức cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì mục đích chung Một nền tài chính lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỉ lệ lớn trong cơ cấu nguồn thu Ngân sách nhà nước, từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng Trong sự đóng góp của thuế, thì thuế GTGT đóng một vài trò quan trọng, hàng năm loại thuế này đóng góp gần 25% nguồn thu cho ngân sách hằng năm Với vai trò quan trọng đó, từ lúc ra đời Luật Thuế GTGT đã nhiều lần được sửa đổi bổ sung để phù hợp với yêu cầu thực tiễn và tránh thất thoát cho ngân sách thu Các quy định của Luật Thuế GTGT cuối cùng cũng nhằm mục đích xác định được số thuế mà các chủ thể phải nộp vì vậy mà phương pháp tính thuế cũng là một yêu cầu quan trọng, đây là khâu cuối cùng để cho ra chính xác số thuế phải nộp Việc có một phương pháp tính khoa học, các thông số rõ ràng là yêu cầu quan trọng nhất Luật Thuế GTGT được Quốc hội khóa XII, tại kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03/06/2008 có hiệu lực ngày 01/01/2009 và luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế GTGT 2013 có hiệu lực ngày 01/01/2014 cùng với các văn bản hướng dẫn khác là nguồn quan trọng để áp dụng hiện nay Qua thực tiễn áp dụng những quy định mới về thuế giá trị gia tăng đã phát huy được vai trò của nó với nguồn thu ngân sách nhà nước và phát triển, lành mạnh hóa nền kinh tế Tuy nhiên, bên cạnh những thành công thì vẫn còn một số hạn chế nhất định do các chủ thể nộp thuế luôn tìm các kẽ hở để trốn thuế, gian lận thuế Vì vậy việc hoàn thiện các quy định về thuế là yêu cầu cần thiết và cấp bách hiện nay Với yêu cầu cấp thiết và tính ứng dụng cao của vấn đề trong thực tiễn hiện nay và mong muốn qua những nghiên cứu nghiêm túc và tìm hiểu thực tiễn góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về thuế GTGT nói chung và hoàn thiện về phương pháp tính thuế
trực tiếp trên GTGT nói riêng, tác giả chọn đề tài “Quy định pháp luật về tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng trong nền kinh tế, là công cụ điều tiết chủ yếu của nhà nước với hành vi sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam Vì thế, từ trước đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu về loại thuế này, có thể khái quát tình hình nghiên cứu theo hai xu hướng sau đây:
Thứ nhất, các đề tài nghiên cứu khái quát về thuế GTGT gồm: Đề tài khóa
luận tốt nghiệp “Luật thuế giá trị gia tăng những vướng mắc và hướng hoàn thiện của Tiền Tú Trinh” (1999); Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vướng mắc và hướng hoàn thiện” của Lê Ngọc Diễm (2003); Đề tài khoá luận tốt nghiệp “Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vướng mắc và hướng hoàn thiện của Đào Thùy Dương” (2006)
Thứ hai, các đề tài đi vào nghiên cứu cụ thể về phương pháp tính thuế
GTGT gồm: Đề tài khóa luận tốt nghiệp “ Pháp luật về khấu trừ thuế giá trị gia tăng, thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện” của Đào Hồng Diễm (2009); Đề tài khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT và thực tiễn áp dụng của Đỗ Thị Minh Quý (2014); Đề tài khóa luận tốt nghiệp “quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng” của Nguyễn Thị Thu Trang (2015)
Các đề tài khi đi vào nghiên cứu đều có đề cập đến phương pháp tính thuế GTGT, có thể là cả hai phương pháp hoặc nghiên cứu đến phương pháp khấu trừ thuế với ý nghĩa phương pháp khấu trừ là phương pháp tối ưu Tuy nhiên chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT, lý do phương pháp này vẫn tồn tại từ luật thuế GTGT đầu tiên và những định hướng hoàn thiện nó
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Khóa luận nghiên cứu những quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT gồm: khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của việc xây dựng phương pháp tính thuế, các quy định cụ thể về căn cứ tính thuế, đối tượng áp dụng, công thức tính thuế và chế độ hóa đơn, chứng từ Đánh giá tính áp dụng thực tiễn, chỉ ra những thuận lợi, bất cập của phương pháp tính thuế trực tiếp, lý giải được những lý do phương pháp tính thuế trực tiếp vẫn được áp dụng tại Việt Nam, từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện phương pháp tính thuế
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Về đối tƣợng nghiên cứu, khóa luận tập trung nghiên cứu hai nội dung: thứ
nhất, khái quát về phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT; thứ hai, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện về phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT Nghiên
Trang 8cứu cụ thể, tác giả tập trung vào các vấn đề gồm đối tượng áp dụng, công thức tính thuế, chế độ hóa đơn, chứng từ để tìm ra những bất cập khi áp dụng vào thực tiễn từ
đó có đánh giá đúng đắn về vấn đề và đưa ra hướng hoàn thiện phù hợp
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu trong phạm vi Luật Thuế GTGT
2008, Luật Thuế GTGT 2013 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT
2008, các văn bản hướng dẫn thi hành Ngoài ra đề tài còn tham khảo quy định về thuế của một số nước trên thế giới nhằm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế GTGT tại Việt Nam
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích tổng hợp tới cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích - tổng hợp, phân tích những quy định cơ bản về phương pháp tính thuế trực tiếp trong luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó tổng hợp, đưa ra các đánh giá đề làm rõ vấn đề nghiên cứu; Phương pháp chứng minh, đưa ra các dẫn chứng, lập luận để chứng minh vẫn đề và tính thuyết phục của nó.Phương pháp thống kê, sử dụng số liệu thống kê để chứng minh, làm rõ vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng hiện nay; Phương pháp
so sánh, sử dụng phương pháp này để so sánh các quy định pháp luật với nhau, so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với một số nước, từ đó rút ra được những ưu điểm, hạn chế của kết quả so sánh
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận gồm ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận, trong
đó phần nội dung gồm hai chương với nội dung chính như sau:
Chương 1 Khái quát về phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng Chương 2 Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện về phương pháp tính thuế
trực tiếp trên giá trị gia tăng
Trang 9CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH THUẾ TRỰC
TIẾP TRÊN GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
1.1.1 Khái niệm phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Xuất phát từ nhu cầu tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước và điều tiết hoạt động sản xuất, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà nhà nước luôn tìm cách đặt ra các sắc thuế mới Nằm trong nhóm thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ, thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế tuy ra đời muộn nhưng được xem là sắc thuế của thời kỳ hiện đại và có vai trò vô cùng to lớn trong hệ thống thuế của mỗi quốc gia Thuế GTGT được Carl Friendrich Von Siemen nghiên cứu đầu tiên tại Đức năm 1918, đến năm
1954 được một cán bộ thuế của Pháp nghiên cứu phát triển và đưa vào áp dụng chính thức Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt
là Thuế GTGT1 Thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, khuyến khích hoạt động xuất khẩu khi áp dụng chính sách hoàn thuế và tránh được tâm lý phản ứng gay gắt của người dân trong việc chịu thuế Với những ưu điểm vượt trội của loại thuế này đối với nguồn thu của ngân sách nhà nước và phát triển nền kinh tế, hiện nay loại thuế này đã được áp dụng tại khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau2 Tại Việt Nam, Thuế GTGT ra đời khá muộn, dựa trên tiền thân là Thuế Doanh thu áp dụng đối với tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, xây dựng, vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác (gọi chung là cơ sở kinh doanh) có doanh thu đều phải nộp Thuế doanh thu3 Căn cứ tính thuế là toàn bộ doanh thu phát sinh qua mỗi khâu sản xuất, kinh doanh và thuế suất, vì vậy hàng hóa, dịch vụ càng qua nhiều khâu lưu thông,
số tiền thuế doanh thu cho hàng hóa càng tăng (do đã bao hàm tiền thuế doanh thu gây hiện tượng thuế chồng thuế) Tuy nhiên, thuế doanh thu là loại thuế chỉ phù hợp với thời kỳ kinh tế bao cấp nên trong một thời gian dài đã không phát huy được vai trò của một sắc thuế và không phù hợp với nền kinh tế mới của Việt Nam, để khi thuế GTGT ra đời là một bước tiến quan trọng trong hệ thống thuế thu vào hàng
1 “Thuế giá trị gia tăng”, https://websrv1.ctu.edu.vn/coursewares/luat/thue/bai6.htm
2 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Thuế, Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội luật gia
Việt Nam, tr 187
3 Điều 1 Luật Thuế doanh thu năm 1990
Trang 10hóa, dịch vụ4 Trong thực tế, các chủ thể kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi sản xuất kinh doanh đều mong muốn đạt được mục tiêu lợi nhuận, qua mỗi khâu của sản xuất kinh doanh giá cả hàng hóa, dịch vụ lại tăng lên do phải cộng thêm chi phí khác và cả lợi nhuận Vì vậy điều thường thấy là giá cả hàng hóa, dịch vụ ở khâu sau bao giờ cũng cao hơn khâu trước, và phần chênh lệch giá đó là phần giá tăng thêm (hay còn gọi là GTGT) GTGT là phần giá trị tăng thêm được tạo ra trong quá trình sản xuất lưu thông hàng hóa dịch vụ, trong khi đó các chủ thể có hoạt động sản xuất kinh doanh phải chịu sự điều tiết của nhà nước về thuế Vì vậy, khi các chủ thể
có tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phát sinh giá trị tăng thêm thuộc đối tượng chịu thuế thì phải đóng thuế cho nhà nước, đó gọi là thuế GTGT
Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế GTGT 2008: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất,
lưu thông đến tiêu dùng” Thuế GTGT có một số đặc điểm: thứ nhất, thuế GTGT
mang bản chất là loại thuế gián thu, số tiền thuế được hạch toán chung vào giá cả
hàng hóa dịch vụ; thứ hai, có đối tượng tác động rất rộng, đánh thuế hầu hết các loại hàng hóa dịch vụ tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam; thứ ba, phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ là đối tượng tác động của thuế GTGT; thứ tư, việc xác
định số tiền thuế thu trong toàn bộ quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ chính bằng số thuế mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả Các đặc điểm trên của thuế GTGT, nhất là tính chất gián thu được phán ánh rõ nét qua các phương pháp tính thuế, việc quy định áp dụng phương pháp tính thuế nào giúp xác định được chính xác giá trị tăng thêm và phù hợp với thực tiễn là yêu cầu vô cùng quan trọng, trên cơ sở đó đề tài đi vào phân tích làm rõ phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT và giá trị áp dụng của phương pháp
Để hiểu rõ thế nào là phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT trước hết phải hiểu khái niệm phương pháp là gì Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam “Phương pháp là lề lối và cách thức phải tuân theo để tiến hành công tác với kết quả tốt nhất”5 Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông và từ điển Tiếng Việt “phương pháp là cách thức nhận thức nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội”6, đó là cách định nghĩa thông thường nhất về khái niệm phương pháp Kết hợp với khái niệm và các đặc điểm của thuế GTGT, từ đó có thể rút ra khái niệm như sau:
“Phương pháp tính thuế trực tiếp trên giá trị gia tăng là cách thức, biện pháp
Trang 11sử dụng để tính ra số thuế GTGT phải nộp trực tiếp trên giá trị gia tăng hoặc dựa trên doanh thu phát sinh trong quá trình lưu thông hàng hóa với một mức thuế suất hoặc tỷ lệ % nhất định”
Từ khái niệm trên cho thấy phương pháp tính thuế trực tiếp GTGT là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay Thông qua phương pháp tính thuế trực tiếp cùng với phương pháp khấu trừ thuế sẽ góp phần khẳng định bản chất của thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
mà đối tượng nộp thuế và người nộp thuế là hai chủ thể khác nhau hoặc có thể là một7 Trong hoạt động tính thuế trực tiếp trên GTGT mọi khâu kê khai, đăng ký, nộp thuế đều phụ thuộc, bị tác động bởi phương pháp tính thuế8 Vì thế phải có cách tính cụ thể, khoa học và các con số cụ thể mới có thể cho ra kết quả chính xác về số thuế mà các đối tượng nộp thuế phải nộp vào Ngân sách nhà nước
1.1.2 Đặc điểm phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Là bộ phận cấu thành quan trọng trong nội dung của pháp luật thuế GTGT hiện nay, phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT luôn thể hiện là một phương pháp tính phù hợp với các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng chủ yếu của phương pháp này là cơ sở sản
xuất, kinh doanh nhỏ lẻ không đáp ứng đủ điều kiện áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ và cơ sở hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý Những đối tượng này được quy định cụ thể trong luật thuế GTGT 2008 sửa đổi bổ sung năm
2013 bao gồm: hộ cá nhân kinh doanh; doanh nghiệp mới thành lập; tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam; hay tổ chức kinh tế khác quy mô còn nhỏ, chưa đủ điều kiện về vốn quy định hay sổ sách kế toán, hóa đơn Với đặc trưng nền kinh tế Việt Nam hiện nay chủ yếu là cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, thói quen không sử dụng hóa đơn khi mua hàng của khách hàng thì đây là đặc điểm để phân biệt với chủ thể áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế Mục đích quy định họ vào nhóm đối tượng nộp thuế của phương pháp trực tiếp là để đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt các chi phí cho họ Bởi với đặc trưng về đối tượng nộp thuế chủ yếu là cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, doanh thu thường không cao, nếu yêu
Đỗ Thị Minh Quý (2014), Pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT và thực tiễn áp dụng, khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr 11
Trang 12cầu họ phải có thêm công tác kế toán thì sẽ rất tốn kém Trong khi đó, nếu xác định theo phương pháp trực tiếp sẽ khá đơn giản khi chỉ cần xác định doanh thu bán ra,
là toàn bộ số tiền bán hàng với tỉ lệ phần trăm tương ứng với đối tượng chịu thuế Chính các đối tượng nộp thuế hoàn toàn có thể tự kê khai, xác định doanh thu của mình Còn đối với cơ cở mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý, đây có thể coi là đối tượng đặc thù của phương pháp trực tiếp với hàng hóa trao đổi ở đây là vàng bạc, đá quý, có giá trị là vật ngang giá chung trong lưu thông, khó xác định giá trị tăng thêm nên phải tính trên giá đã bao gồm thuế GTGT và tất cả các khoản phụ thu nếu
có
Thứ hai, phương pháp tính trực tiếp trên GTGT sử dụng các yếu tố là căn cứ
tính thuế và GTGT Cũng giống như phương pháp khấu trừ thuế, phương pháp tính trực tiếp trên GTGT cũng sử dụng 2 yếu tố là căn cứ tính thuế và giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế Căn cứ tính thuế là giá tính thuế
và mức thuế suất quy định Phải có các thông số này thì mới có thể xác định được nghĩa vụ thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Phương pháp tính thuế tồn tại không tách rời, là cái đi sau và luôn gắn liền với căn cứ tính thuế Phương pháp tính thuế sử dụng những dữ liệu là căn cứ tính thuế GTGT, trong đó xác định căn cứ tính thuế là giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ Nên nếu không có căn cứ tính thuế thì phương pháp tính thuế GTGT không thể đưa vào vận hành trong thực tế được9 Thực tế, khi áp dụng phương pháp tính thuế với đối tượng cụ thể ta luôn xác định được kết quả cuối cùng, kết quả đó có thể là một số âm (-), số dương (+) hoặc bằng không (0) Mục tiêu của các chủ thể luôn là lợi nhuận, nhưng kết quả kinh doanh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vì thế kết quả không phải lúc nào cũng dương, tức kinh doanh có lợi nhuận mà có thể hao hụt so với giá trị ban đầu đã bỏ ra10
Thứ ba, Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu nhưng không phải
người tiêu dùng trực tiếp tính nộp mà chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn là người phải nộp tiền thuế vào Ngân sách nhà nước Khi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa, cung ứng dịch vụ, chủ thể chịu trách nhiệm nộp thuế vào ngân sách nhà nước là bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Như vậy, phương pháp tính thuế nói chung hay phương pháp tính thuế trực tiếp nói riêng là công thức tính
áp dụng khi người nộp thuế tính nộp số thuế phải nộp vào Ngân sách nhà nước vào cuối kỳ tính thuế Xét về bản chất, thuế GTGT là loại thuế gián thu, đánh và phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
9 Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng, khóa luận
tốt nghiệp cử nhân luật, trường ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 06
10 Nguyễn Thị Thu Trang (2015), tlđd(9) tr 06
Trang 13mà người nộp thuế và người chịu thuế là khác nhau đối với đối tượng chịu thuế GTGT (đối tượng chịu thuế là hàng hóa, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam) Trong khi người chịu thuế cuối cùng là người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ thì người nộp thuế luôn là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT Theo quy định pháp luật hiện nay, người nộp thuế là chủ thể đăng ký,
kê khai và nộp thuế vào Ngân sách nhà nước Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý, giám sát, kiểm tra, xử lý khi thấy cần thiết Còn người chịu thuế, khi thực hiện hành
vi mua hàng hóa, dịch vụ, họ chỉ cần trả đủ số tiền mua hàng và tiền thuế trên số hàng đó cho người bán hàng, sau đó tách ra khỏi quy trình kê khai nộp thuế vào ngân sách nhà nước và không phải chịu bất kỳ nghĩa vụ nào nữa Các chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp khi thực hiện hoạt động kinh doanh luôn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, họ luôn tìm cách đẩy hết số thuế lên giá cả hàng hóa, dịch vụ của khâu bán cho bên mua chịu, hoặc là nâng giá bán, hoặc là để cạnh tranh thì họ phải chịu một mức lợi nhuận thấp hơn so với chủ thể tính thuế theo phương pháp khấu trừ Như vậy, người cuối cùng phải thực hiện việc nộp số thuế
đó chính là chủ thể có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Thứ tƣ, khác với phương pháp khấu trừ thuế, trong mọi trường hợp, đối
tượng nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT đều không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào dù họ có hạch toán được thuế GTGT với doanh thu bán hàng hay không Với đặc trưng đối tượng nộp thuế chủ yếu là cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ nên không thể xác định được chính xác giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất, lưu thông Hoặc đối với hoạt động có tính chất đặc thù như hoạt động kinh doanh, chế tác vàng bạc
đá quý thì dù có thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ pháp luật đều quy định đối tượng nộp thuế theo phương pháp này đều không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào Khấu trừ thuế GTGT đầu vào là khi đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tính nộp thuế vào ngân sách nhà nước, nếu khâu trước có phát sinh nghĩa
vụ thuế và chủ thể nộp thuế đã tiến hành nộp thuế thì ở khâu kinh doanh sau sẽ được trừ ra khỏi doanh thu tính thuế Tức thuế GTGT chỉ đánh thuế một lần vào khâu kinh doanh cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng, còn những chủ thể trước khi mua hàng vào chỉ phải tạm nộp và sẽ được trừ ra khi tính thuế, nếu có đầy
đủ hóa đơn, chứng từ đầu vào Còn đối với việc nộp thuế tính trên doanh thu không yêu cầu đối tượng nộp thuế phải xác định số thuế GTGT phải nộp đầu vào nên không thể có cơ sở để khấu trừ
Trang 14Tóm lại, việc phân tích những đặc điểm trên có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ bản chất của phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, là cơ sở để xác định vị trí, vai trò của phương pháp này trong hệ thống pháp luật thuế
1.1.3 Yêu cầu khi xây dựng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Qua việc tìm hiểu những lý luận cơ bản về thuế GTGT, tìm hiểu bản chất của thuế GTGT và phân tích những đặc điểm của phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, có thể thấy rằng đây là phương pháp tính thuế có vai trò quan trọng trong thuế GTGT nói chung cũng như phương pháp tính thuế nói riêng Vì vậy, để một phương pháp tính thuế phát huy được hiệu quả khi đưa vào áp dụng trong thực tiễn
thì việc xây dựng phương pháp tính thuế phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Thứ nhất, dưới góc độ quản lý nhà nước về thuế giá trị gia tăng
Quan điểm xuyên suốt trong chỉ đạo, điều hành là “xây dựng ngành thuế hiện đại, hiệu lực và hiệu quả” Mục tiêu đổi mới trong giai đoạn tới là “xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả phù hợp với thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng mức động viên hợp lý nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hiệu quả”11 Vì vậy, để thực hiện mục tiêu trên, yêu cầu đầu tiên được đặt ra khi xây dựng phương pháp tính thuế là đảm bảo đi đúng bản chất của thuế GTGT, đảm bảo tính minh bạch, dễ áp dụng, thuận lợi cho công tác quản lý của cơ quan thuế và trong hành thu thuế, hạn chế tối đa hiện tượng thất thu thuế Được đánh giá là phương pháp tính thuế phù hợp với thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn đầu phát triển hiện nay, phương pháp tính trực tiếp trên GTGT có vài trò quan trọng trong quản lý và cơ chế hành thu thuế GTGT của cơ quan quản lý thuế Với đặc điểm chủ thể kinh doanh của Việt Nam chủ yếu là kinh doanh nhỏ lẻ, thói quen trao đổi bằng tiền mặt và không sử dụng đầy đủ chế độ hóa đơn chứng từ nên không thể áp dụng phương pháp khấu trừ thuế cho tất cả các đối tượng chịu thuế12 Trong khi các chủ thể kinh doanh này khi thực hiện hoạt động thuộc đối tượng chịu thuế GTGT đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước Vì vậy việc quy định phương pháp tính này giúp các chủ thể quản lý thuế xác định được số thuế phải thu từ các đối tượng này là bao nhiêu, đánh giá tính ứng dụng và hiệu quả của sắc thuế này trong đời sống, giúp các cơ quan chức năng trong việc điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung, tiến tới
11 Lan Anh - Nguyễn Vũ, “Hoàn thiện hệ thống thuế phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH”, Tạp chí Thuế nhà
nước, số 27 (541) , tr 30
12
Điều kiện tiên quyết để được đăng ký kê khai thuế theo phương pháp khấu trừ là phải thực hiện đầy đủ chế
độ hóa đơn, chứng từ trong hoạt động kinh doanh, hóa đơn sử dụng là hóa đơn GTGT
Trang 15hoàn thiện các quy định pháp luật cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ hội nhập
Thứ hai, dưới góc độ đảm bảo công bằng về nghĩa vụ cho các chủ thể nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp
Hiến pháp nước ta quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định”13 Như vậy, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất đã quy định rõ nộp thuế là nghĩa vụ của công dân, thực hiện việc động viên một phần thu nhập của mình vào ngân sách nhà nước để thực hiện việc duy trì và phát triển bộ máy Nhà nước Yêu cầu chung đặt ra đối với một sắc thuế là phải đảm bảo bao quát hết các đối tượng có nghĩa vụ thuế, áp dụng công thức như thế nào để tính được số thuế cho tất cả các đối tượng chịu thuế GTGT Hiện nay, pháp luật thuế GTGT quy định hai phương pháp tính thuế khác nhau trên hai loại đối tượng áp dụng và điều kiện áp dụng khác nhau Tuy nhiên mục tiêu chung là phải đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế cho các chủ thể nộp thuế Vì thế, phương pháp tính thuế trực tiếp cũng phải đảm bảo tính được số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế trực tiếp không được chênh lệch quá nhiều so với tính theo phương pháp khấu trừ, đảm bảo các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực được áp dụng tính thuế như nhau và được hưởng các ưu đãi tốt nhất Thực tế không phủ nhận vai trò tối ưu của phương pháp khấu trừ, vì thế nếu không thể chính xác tuyệt đối thì việc tính ra số thuế phải nộp cao hơn nhiều sẽ
là không thỏa đáng Một phương pháp tính thuế được xây dựng phải dựa trên các thông số cụ thể, rõ ràng, cách xác định thống nhất, tránh các cách áp dụng khác nhau cho ra các kết quả khác nhau
Thứ ba, đảm bảo hài hòa lợi ích của người chịu thuế
Thực tế, bản chất của thuế GTGT là thuế gián thu, người nộp thuế chỉ là người nộp thay số thuế phải thu vào ngân sách nhà nước, còn người chịu thuế luôn
là người tiêu dùng cuối cùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Khi số thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ cao thì giá thành sẽ cao lên, càng qua nhiều khâu lưu thông như vậy thì giá thành lại càng cao Bởi mục tiêu của các chủ thể kinh doanh là việc tối
đa hóa lợi nhuận, khi hàng hóa, dịch vụ kinh doanh bị đánh thuế cao, họ sẽ tìm cách đẩy hết số thuế đó lên giá khi bán ra, khi số thuế phải nộp cao thì người chịu thuế toàn bộ là người tiêu dùng, thiệt thòi cuối cùng người phải chịu cũng chính là người tiêu dùng Với mục tiêu xây dựng một tỉ lệ động viên thuế hợp lý, một sắc thuế được ban hành phải “hợp với lòng dân”, tức tránh được những phản ứng tiêu cực từ phía người chịu thuế Để việc đóng thuế trở thành nghĩa vụ và người dân đóng thuế
13 Điều 47, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 16một cách tự nguyện từ những gì họ được hưởng mà không cảm thấy như là bị bắt buộc Vì thế, yêu cầu phương pháp tính thuế phải thể hiện đúng bản chất của thuế GTGT là thuế gián thu, đảm bảo mức thuế hợp lý để người tiêu dùng có cảm giác mình không phải là người đóng thuế, như thế sẽ kích thích tiêu dùng, thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trong nước
Tóm lại, việc tuân thủ các yêu cầu của phương pháp tính thuế chính là cơ sở
để từ đó có những định hướng xây dựng những đại lượng, tỉ lệ phù hợp áp dụng trong công thức thuế Đảm bảo cho phương pháp đó khi áp dụng vừa có thể vận hành được trên thực tế, mức độ tác động phù hợp, mang lại hiệu quả mà không gây nên những ảnh hưởng, phản ứng gay gắt từ đối tượng nộp thuế và người tiêu dùng
1.2 Nội dung pháp lý về phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng 1.2.1 Căn cứ tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
1.2.1.1 Giá tính thuế
Theo quy định tại điều 6 Luật Thuế GTGT 2008 sửa đổi bổ sung năm 2013 thì căn cứ tính thuế gồm giá tính thuế và thuế suất GTGT = giá tính thuế GTGT x mức thuế suất quy định Giá tính thuế là căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT phải nộp, là giá chưa có thuế được ghi trên hóa đơn của người bán hàng, cung cấp dịch vụ hoặc người nhập khẩu Giá tính thuế được quy định tại điều 7 Luật thuế GTGT 2008, khoản 2 Điều 1 luật thuế GTGT 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành như sau:
Thứ nhất, đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là
giá bán chưa có thuế GTGT Quy định này là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với thông
lệ quốc tế khi xác định giá tính thuế với hàng sản xuất trong nước là giá hàng hóa bán ra (chưa bao gồm thuế GTGT) Tránh được vấn đề chồng chéo, trùng lắp thuế, đảm bảo nguyên tắc một đối tượng chịu thuế không bị đánh thuế nhiều lần Ngoài ra thể hiện tính chất gián thu khi xác định rõ phần thuế mà người tiêu dùng phải chịu khi mua hàng được ghi trên hóa đơn và người nộp thuế có nghĩa vụ thu và nộp số thuế đó vào ngân sách nhà nước14 Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế GTGT; đối với hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa
14
Phạm Thế Văn(2014), Pháp luật về khấu trừ thuế giá trị gia tăng, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật trường
Đại học Luật tp Hồ Chí Minh, tr 13
Trang 17có thuế GTGT Theo quy định pháp luật hiện hành thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo
vệ môi trường là loại thuế gián thu Theo đó thuế tiêu thụ đặc biệt loại thuế gián thu, thu trực tiếp vào hành vi sản xuất, nhập khẩu vào các loại hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và kinh doanh dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế bảo
vệ môi trường là loại thuế gián thu tính bằng mức tuyệt đối cộng vào giá bán của hàng hóa chịu thuế do người mua, người nhập khẩu hàng hóa trả Giá tính thuế GTGT là giá bán cuối cùng đến tay người tiêu dùng chưa có thuế GTGT nhưng đã bao gồm tất cả các loại thuế, phí lệ phí khác Như vậy, thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt đều là thuế gián thu nên sẽ được cộng vào trong giá tính thuế của thuế GTGT nhằm đảm bảo đồng bộ trong chính sách thuế
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng (+) với thuế bảo
vệ môi trường (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu Tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy giá tính thuế GTGT là giá cuối cùng bao gồm tất cả các các loại thuế gián thu (nếu có) như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường các khoản phí, lệ phí thu vào hàng hóa và dịch vụ đó do người mua phải trả mà chưa bao gồm thuế GTGT
Ví dụ: ở Thái Lan, ô tô nhập khẩu phải chịu thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
và một loại thuế địa phương có tên gọi là interior tax (áp dụng ở mức tương đương 10% số thuế Tiêu thụ đặc biệt phải nộp), khi đó giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng với tất cả các loại thuế này Đối với những quốc gia có áp dụng thuế môi trường, giá tính thuế GTGT đối với những mặt hàng chịu thuế môi trường là giá đã
có thuế môi trường, ví dụ ở Nam Phi, kể từ năm 2010, khi phí khí thải CO2 được áp dụng, giá tính thuế được quy định có bao gồm cả mức phí này Các nước trong khu vực EU có áp dụng quy định tương tự, giá tính thuế GTGT đối với hàng hóa chịu thuế môi trường là giá có bao gồm thuế môi trường15 Về mặt nguyên tắc khi một loại thuế được đánh trên cơ sở một loại thuế khác thì không gọi là đánh trùng thuế
và việc đánh thuế này đảm bảo chính sách thuế của nhà nước về quyền đánh thuế hàng hóa dịch vụ tiêu dùng trên lãnh thổ nước mình Nếu cùng một loại hàng hóa như nhau nhưng nhập khẩu vào thì sẽ bị đánh thêm thuế nhập khẩu, lúc đó giá cả hàng nhập khẩu sẽ cao hơn hàng sản xuất trong nước Chính quy định này khuyến khích nền sản xuất trong nước phát triển, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng
Trong một số trường hợp đặc biệt giá tính thuế được xác định như sau:
15
Chính phủ, Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng của một số nước trên thế giới
(kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013), tr 11
Trang 18Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế GTGT Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho thời hạn thuê thì giá tính thuế là số tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trong nước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả cho nước ngoài Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế GTGT Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế GTGT, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế GTGT Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế được xác định theo công thức giá chưa có thuế GTGT = Giá thanh toán/ (1+ thuế suất của hàng hóa, dịch vụ %)
Thứ hai, giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu
và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng Giá tính thuế là giá cuối cùng của hàng hóa, dịch vụ trong một khâu lưu thông, vì vậy giá tính thuế không những bao gồm tất cả các loại thuế gián thu (nếu có) mà nó còn gồm tất cả các khoản thu phí, lệ phí mà cơ sở kinh doanh được hưởng Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam, trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi
ra đồng Việt Nam theo tỉ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế
1.2.1.2 Thuế suất
Thuế suất là con số ấn định một số tiền thuế trích ra từ cơ sở tính thuế, thường được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%), trong một số trường hợp nhất định nó là một con số tuyệt đối nhất định bằng tiền đối với từng loại chịu thuế16 Thuế suất là linh hồn của một sắc thuế, nó cho thấy nhu cầu cần tập trung nguồn tài chính và
16
Trường ĐH Luật tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Thuế, NXB Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam
năm, tr 56
Trang 19biểu hiện từng chính sách điều chỉnh kinh tế xã hội của Nhà nước đối với từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh Một mức thuế suất cụ thể xác định mức độ huy động từ thuế và nó ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển đối với một phạm vi đối
tượng chịu thuế nhất định Vì thế có thể định nghĩa thuế suất thuế GTGT như sau:
“Thuế suất thuế GTGT là số tiền phải thu từ thuế GTGT, thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách theo một mức nhất định”17
Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới, hiện nay có khoảng 54% số nước áp dụng thuế GTGT có biểu thuế suất gồm 1 mức (không tính mức thuế suất 0% cho xuất khẩu); 23% số nước áp dụng biểu thuế suất thuế GTGT với hai mức thuế suất
và số còn lại là nhiều hơn hai mức18 Đối với Việt Nam, theo quy định tại Luật Thuế GTGT 2013 có ba mức thuế suất là 0%, 5%, 10% áp dụng với hàng hóa sản xuất, kinh doanh trong nước và xuất khẩu Trong phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT chỉ có hoạt động của cơ sở kinh doanh, chế tác vàng bạc, đá quý sử dụng mức thuế suất 10%, còn các đối tượng còn lại không sử dụng các mức thuế suất để xác định số thuế phải nộp mà việc tính thuế dựa trên doanh thu với các mức tỉ lệ nhất định tùy vào các ngành nghề khác nhau Theo đó:
Thuế suất 10% áp dụng đối với cơ sở kinh doanh, chế tác vàng bạc, đá quý Đối với mặt hàng kinh doanh là vàng bạc, đá quý pháp luật thuế GTGT không
liệt kê mà dựa vào quy định loại trừ xếp vào nhóm chịu mức thuế suất phổ thông là 10% Dựa trên công thức tính dành riêng cho đối tượng này và đặc trưng về tính chất kinh doanh cũng như giá trị của nó đối với xã hội việc đánh thuế như vậy là hoàn toàn phù hợp Thực tế, mức thuế suất phổ thông 10% của Việt Nam là thấp so với khu vực và thế giới, cụ thể: Theo Ngân hàng thế giới (2012), qua thống kê mức thuế suất của 112 nước trên thế giới cho thấy: có 88 nước có mức thuế suất phổ thông từ 12% đến 25 %, trong đó có 56 nước mức thuế suất từ 17% đến 25%; có 24 nước mức hơn 10% Mức thuế suất phổ thông cao ở các nước phát triển như Pháp 19,6%, Đức 19%, Anh 20%,…Một số nước trong châu Á như Hàn Quốc 10,5%, Phi-lip-pin 12%, In-do-ne-xi-a 10%, Trung Quốc 17%19,…Trong thời gian tới chúng ta cần xem xét nâng cao mức thuế suất thuế GTGT, tăng cường vai trò của
17 Lê Thanh Thiện (2014), Pháp luật về thuế suất thuế giá trị gia tăng, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
trường ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 08
18
Ngân hàng Thế giới (2012), “Cải cách thuế ở Việt Nam: Hướng tới một hệ thống công bằng và hiệu quả hơn”
19 Chính phủ (2013), Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế giá trị gia tăng của một số nước trên thế
giới (kèm theo Tờ trình Quốc hội số 161/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2013), tr 04
Trang 20thuế GTGT và giảm dần thuế suất thuế thu nhập để hấp dẫn môi trường đầu tư, phát triển kinh tế
Quy định mức thuế suất 10% là quy định áp dụng thống nhất cho cả khâu chế tác, kinh doanh vàng bạc, đá quý Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nhiều mặt hàng chịu các mức thuế suất khác nhau thì chủ thể nộp thuế phải khai thuế theo các mức thuế suất khác nhau tương ứng với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể Nếu cơ
sở kinh doanh không hạch toán được theo từng mức thuế suất thì áp dụng mức thuế suất cao nhất của hàng hóa, dịch vụ mà cơ sở đó sản xuất, kinh doanh20 Nếu cơ sở kinh doanh có hoạt động kinh doanh liên quan đến vàng bạc, đá quý thì phải hạch toán riêng hoạt động này để tính thuế Quy định này nhằm đơn giản công tác quản
lý cho cơ quan thuế và nâng cao trách nhiệm, ý thức tự giác kê khai của chủ thể nộp thuế cũng như tránh thất thu ngân sách nhà nước Bởi với quy định nhiều mức thuế suất với nhiều mặt hàng khác nhau như hiện nay, nếu chủ thể nộp thuế không trung thực trong kê khai thì rất khó cho cơ quan thuế trong công tác quản lý và hành thu thuế
Tỷ lệ 1%, 2%, 3%, 5% trên doanh thu đối với các đối tƣợng khác, đây
không phải là các mức thuế suất theo điều 8 Luật Thuế GTGT 2008 Thuế suất là các mức thuế áp dụng cho loại hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh, sản xuất, nhập khẩu mặt hàng đó thuộc mức thuế suất bao nhiêu thì đóng thuế theo quy định đó, thuế suất quy định thống nhất cho loại hàng hóa ở tất cả các khâu kinh doanh Còn
tỉ lệ phần trăm là quy định cho hoạt động kinh doanh, tức cùng một mặt hàng nhưng nếu là cơ sở sản xuất sẽ chịu mức tỷ lệ khác (ví dụ 3%), còn cơ sở phân phối, cung
cấp hàng hóa lại chịu mức tỷ lệ khác (ví dụ 1%) Pháp luật quy định các mức tỉ lệ
khác nhau tùy vào ngành nghề kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ21 theo bảng danh mục các ngành nghề kinh tế của Bộ Tài chính và tùy vào nhu cầu cũng như giá trị của loại hàng hóa, dịch vụ với đời sống xã hội
Việc quy định nhiều mức tỉ lệ này cho thấy sự khác nhau của chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối những với các loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Trong điều kiện hiện nay, khi mặt bằng kinh doanh của các ngành nghề chưa đồng nhất thì việc phân biệt các mức tỷ lệ thuế là cần thiết Tuy nhiên, với điều kiện chỉ áp dụng với các đối tượng tính thuế theo phương pháp trực tiếp, thiết nghĩ việc tiến tới áp dụng một mức tỉ lệ thuế sẽ góp phần hạ thấp chi phí tuân thủ thuế, đơn
20 Điều 11 thông tư 219/2013/TT-BTC, thông tư hướng dẫn thi hành luật thuế GTGT và nghị định 209/2013/ NĐ-CP ngày 31/12/ 2013
21 Xem phụ lục 1
Trang 21giản hóa các yêu cầu về quản lý Trong khi đó, áp dụng nhiều mức thuế suất có thể làm gia tăng chi phí thu nộp thuế đối với cả người nộp thuế và cơ quan thuế
1.2.2 Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Luật số 31/2013/QH13 và Điều 8 Nghị định 209/2013NĐ-CP thì đối tượng áp dụng theo phương pháp tính thuế trực tiếp
trên GTGT gồm:
Cơ sở kinh doanh có hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý Luật
Thuế GTGT 2013 quy định cơ sở kinh doanh có hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý phải hạch toán riêng hoạt động này để nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT theo quy định của pháp luật Do tính đặc thù của hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý trong trao đổi, lưu thông hàng hóa, dịch vụ với hàng hóa trao đổi là vàng bạc, đá quý Vàng bạc, đá quý là loại hàng hóa trao đổi có tính chất đặc thù, chúng là vật ngang giá chung, là phương tiện trao đổi, không có
cơ sở để xác định GTGT trong quá trình lưu thông Nếu có giá trị tăng thêm cũng thực chất là biểu hiện thông qua sự gia tăng giá trị của một loại hàng hóa, dịch vụ khác22 Vì vậy, pháp luật quy định phương pháp tính trực tiếp đối với những doanh nghiệp có hoạt động này, dù có thực hiện chế độ hóa đơn chứng từ đầy đủ hay có đáp ứng các điều kiện về ngưỡng doanh thu hay không Trong trường hợp cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nhưng có hoạt động chế tác vàng bạc đá quý thì doanh nghiệp cũng phải hạch toán riêng cho loại hoạt động này theo phương pháp trực tiếp trên GTGT Trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra không hạch toán riêng được23 Trong đó tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ gồm doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT và chênh lệch giữa giá bán ra và giá mua vào của hoạt động kinh doanh vàng bạc, đá quý
Doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng trừ trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Quy định này được đánh giá là thay đổi có tính
chất căn bản trong lần sửa đổi, bổ sung của Luật Thuế GTGT 2013 Việc quy định ngưỡng doanh thu giúp đơn giản hóa thủ tục, tiết kiệm chi phí cho người nộp thuế
22 Nguyễn Thị Thảo (2012 ), Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai và nộp thuế GTGT, khóa luận tốt nghiệp cử
nhân luật trường Đh Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 20
23 Điểm a Khoản 4 Điều 12 thông tư 219/2013 TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 31/12/2013
Trang 22và chống gian lận thuế24 Đây là trường hợp dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ điều kiện áp dụng thuế theo phương pháp khấu trừ, tức doanh nghiệp có doanh thu dưới một tỷ đồng không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ và doanh nghiệp có doanh thu dưới một tỷ đồng, thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ nhưng không đăng ký tự nguyện kê khai nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT Sở dĩ pháp luật quy định đối tượng này vào nhóm đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp bởi những doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động với doanh thu hằng năm không tới 1 tỷ đồng này là những đối tượng quy mô không lớn, nhân lực không nhiều, nếu họ muốn đơn giản về thủ tục, tiết kiệm chi phí, nhân lực thì họ chọn áp dụng phương pháp trực tiếp Còn không doanh nghiệp hoàn toàn có thể lựa chọn áp dụng theo phương pháp khấu trừ khi đủ điều kiện
Doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập, trừ trường hợp đăng ký tự
nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế theo Điểm b, Khoản 3, Điều 3 Thông tư 119/2014/TT- BTC Đây là quy định tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có điều kiện được thành lập và hoạt động, để quy định về thuế không gây khó khăn, cản trở cho doanh nghiệp mà việc nộp thuế trở thành nghĩa vụ của các chủ thể nộp thuế Trước đó, Nghị định 209/2013/NĐ-CP và Thông tư 219/2013/TT-BTC về việc doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập muốn đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế phải có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị trên hóa đơn mua từ một tỷ đồng trở lên ghi trên hóa đơn mua tài sản cố định, máy móc, thiết bị trước khi thành lập (không bao gồm ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống của cơ sở kinh doanh không hoạt động vận tải, du lịch, khách sạn) Quy định này đã giới hạn các doanh nghiệp đăng ký tự nguyện áp dụng đồng thời thu hẹp cửa cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đăng ký thành lập mới (chủ yếu là doanh nghiệp trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghệ cao) vì các doanh nghiệp này không có nhu cầu đầu tư, mua sắm tài sản cố định, máy móc, thiết bị có giá trị cao Như vậy, các doanh nghiệp không chỉ là làm thủ tục đăng ký tự nguyện áp dụng, mà còn kèm thêm điều kiện, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp mới thành lập Điều này dẫn đến những hệ quả như lượng doanh nghiệp mới được thành lập giảm xuống; doanh nghiệp mới thành lập trong 2014 phải tính thuế theo phương pháp trực tiếp và dùng hóa đơn bán hàng thì chịu không nổi và muốn tạm ngưng hoặc giải thể; một số doanh nghiệp phải nhờ xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng dưới tên doanh nghiệp khác, cá nhân chọn mua lại các doanh nghiệp cũ thay vì lập doanh nghiệp mới25
24 Theo Tạp chí thuế, “áp dụng ngưỡng nộp thuế GTGT”,
http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/24861/Ap-dung-nguong-nop-thue-GTGT , truy cập ngày 03/04/2016
25
Nguyễn An, “Thông tư 119 tháo gỡ bất cập về hai phương phá tính thuế và hai loại hóa đơn cho doanh nghiệp”, http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat-binh-luan-gop-y/8179/thong-tu-119-thao-go-
Trang 23Thông tư 119/TT- BTC năm 2014 đã tháo gỡ những vướng mắc trên, tạo môi
trường cạnh tranh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường,
theo đó những doanh nghiệp mới thành lập có thực hiện đầu tư, mua sắm tài sản cố
định, máy móc có giá trị cao được tự nguyện đăng ký nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ mà không cần phải đáp ứng tiêu chí về ngưỡng đầu tư trên hay dưới một tỷ
đồng nữa
Thực tế, không phải doanh nghiệp nào mới thành lập đi vào hoạt động cũng
có quy mô lớn, điều kiện vật chất đầy đủ mà còn phải tùy thuộc vào ngành nghề, đối
tượng kinh doanh Vì thế, theo quy định mới, các doanh nghiệp, hợp tác xã mới
thành lập nếu đáp ứng đủ điều kiện thì tự nguyện đăng ký nộp thuế theo phương
pháp khấu trừ Vì thực chất, nộp thuế theo phương pháp khấu trừ là có lợi cho
doanh nghiệp, số thuế phải nộp sẽ đúng với GTGT Còn nếu doanh nghiệp mới
thành lập là vừa và nhỏ thì áp dụng theo phương pháp tính thuế trực tiếp, nếu sau
hoạt động có mở rộng quy mô, đáp ứng đủ điều kiện thì hoàn toàn có thể chuyển
đổi đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ Như theo quy định của Luật
Doanh nghiệp thì cơ sở sản xuất sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải
đăng ký thành lập doanh nghiệp26, với những cơ sở này quy mô rất nhỏ, việc quy
định nộp thuế theo phương pháp trực tiếp là hoàn toàn phù hợp và tạo điều kiện cho
doanh nghiệp có cơ hội phát triển
Hộ, cá nhân kinh doanh: là những trường hợp kinh doanh thường do một
cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ kinh doanh làm
chủ, đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, không sử dụng quá 10 lao động Như
vậy, có thể thấy quy mô kinh doanh của các đối tượng này thuộc loại rất nhỏ, có thể
chính là nơi cư trú, sinh hoạt của cá nhân, gia đình đó Theo quy định Luật thuế
GTGT 2013 hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu hàng hóa, dịch vụ hằng năm trên
100 triệu đồng mới phải đóng thuế GTGT Theo đại diện Tổng cục Thuế, hiện nay
ngành thuế đã cấp mã số thuế cho trên 3 triệu hộ kinh doanh, trong đó có hơn 1,6
triệu hộ hoạt động thường xuyên, chủ yếu là hộ kinh doanh nhỏ, mang tính thời vụ,
hoặc kinh doanh lưu động27 Và thực tiễn khảo sát, kiểm tra cho thấy hầu như không
có hộ cá nhân kinh doanh nào đáp ứng điều kiện về thực hiện đầy đủ chế độ hóa
đơn, chứng từ28 Vì vậy không có cơ sở để xác định số thuế GTGT đầu vào đã nộp
bat-cap-ve-hai-phuong-phap-tinh-thue-va-hai-loai-hoa-don-cho-doanh-nghiệp, truy cập ngày 26/4/ 2016, truy
cập ngày 18/06/ 2016
26
Luật Doanh nghiệp, Luật số 68/2014/QH13, ngày 26/11/2014
27Trung Bảo, “Sẽ triển khai nộp thuế điện tử đối với hộ kinh doanh, Tạp chí Thuế nhà nước, số 25 (539), tr
13
28
Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, “giới thiệu luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật thuế GTGT”,
http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/ttpltc/r/m/dcvbpl/dcvbpl_chitiet;jsessionid=15pCXhGFvvT1GWvvt
Trang 24hoặc số thuế GTGT đầu ra phát sinh Tỷ lệ hộ kinh doanh đạt ngưỡng doanh thu
một tỷ đồng trở lên cũng không nhiều nên để đơn giản hóa thủ tục và tạo điều kiện
cho chủ thể nộp thuế thực hiện việc đóng thuế, pháp luật quy định hộ, cá nhân kinh
doanh bắt buộc phải nộp thuế theo phương pháp trực tiếp Còn đối với các hộ, cá
nhân kinh doanh phát triển, có thể chuyển đổi loại hình kinh doanh và đăng ký
phương pháp tính thuế khấu trừ khi đáp ứng đủ điều kiện theo quy định pháp luật
Hiện nay đối với hộ, cá nhân kinh doanh, pháp luật thuế GTGT cho phép họ tự tính
số thuế GTGT trên tỷ lệ phần trăm và kê khai nộp thuế GTGT theo quý Đối với các
hộ, cá nhân kinh doanh khác khi không thực hiện đăng ký kinh doanh, không phải
đăng ký kinh doanh, không phải đăng ký thuế, không thực hiện việc đăng ký thuế;
không thực hiện chế độ hóa đơn, chứng từ hoặc thực hiện không đúng chế độ hóa
đơn, chứng từ mà không xác định được số thuế phải nộp phù hợp với thực tế kinh
doanh thì nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán, số thuế khoán do cơ quan thuế
xác định căn cứ vào tài liệu kê khai, vào điều tra thực tế và sự tư vấn của hội đồng
tư vấn thuế xã, phường và chỉ nộp một lần trên năm Thông thường số thuế GTGT
phải nộp theo phương pháp khoán này sẽ thấp hơn tình hình kinh doanh thực tế
Một số cơ sở kinh doanh vì điều kiện chưa cho phép nên nộp thuế theo phương
pháp thuế khoán, còn một số nữa, lợi dụng các mối quan hệ, thỏa thuận với cơ quan
thuế để được khai thuế theo phương pháp khoán với số thuế nộp thấp hơn và chia
lợi nhuận
Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo luật
đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế
toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật trừ các tổ chức, cá nhân nước
ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát
triển và khai thác dầu khí do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay Việc quy định đối
tượng này vào đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp nhằm để thống nhất
trong quản lý, với các tổ chức cá nhân không theo luật đầu tư… Theo quy định của
Luật Thuế GTGT 2008, nếu nhà thầu nước ngoài thực hiện đầy đủ sổ sách kế toán,
hóa đơn, chứng từ thì áp dụng phương pháp khấu trừ; nếu không đáp ứng điều kiện
thì áp dụng phương pháp tính trực tiếp Những đối tượng là tổ chức cá nhân nước
ngoài có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nhưng không theo Luật Đầu tư (không
có hiện diện thương mại tại Việt Nam) thì họ phải nộp thuế nhà thầu, trong thuế nhà
Trang 25thầu bao gồm cả thuế GTGT và thuế TNDN29 Khi đó, họ không sử dụng đầy đủ hóa đơn chứng từ nên đương nhiên nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp Thực tế, các nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài, các tổ chức cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam đều lựa chọn phương pháp tính trực tiếp trên GTGT Một số ít nhà thầu, chủ yếu trong các dự án ODA không hoàn lại, chọn nộp theo phương pháp khấu trừ để được hoàn thuế GTGT Thời gian qua đã phát sinh vướng mắc trong lĩnh vực dầu khí, cụ thể: do các liên doanh khai thác dầu khí không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, số thuế GTGT đầu ra mà nhà thầu trong nước tính nộp theo phương pháp khấu trừ bằng 10% trên doanh thu, cao hơn số thuế GTGT mà nhà thầu nước ngoài tính nộp bằng 5%, 7% trên doanh thu Vì vậy doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được với nhà thầu nước ngoài30 Để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, Luật Thuế GTGT 2013 sửa đổi bổ sung một số điều Luật Thuế GTGT 2008 bổ sung quy định nhà thầu nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch
vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm khai thác dầu khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam khấu trừ nộp thay31
Tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã trừ trường
hợp đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ Tổ chức kinh tế khác như tổ chức kinh tế của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội,…Các tổ chức này có hoạt động kinh doanh hàng hóa dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT thì phải kê khai nộp thuế theo phương pháp trực tiếp nếu không đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ Đối với đối tượng là tổ chức kinh tế khác như tổ chức kinh tế trong tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, trong một số trường hợp họ được hoạt động kinh tế từ những hoạt động văn hóa, thể thao, kinh doanh Tuy nhiên, sản xuất kinh doanh, lợi nhuận không phải mục đích hoạt động chính của họ và hoạt động này thường do chính tổ chức đó quản lý Những đối tượng chịu thuế thường là do thành viên do tổ chức làm
ra, hoặc khó xác định được đầu vào Vì thế trừ những tổ chức đủ điều kiện và đăng
29 Điều 1, 2 chương 1; mục 1, 2 chương 2 Thông tư 103/2014/ TT-BTC ngày 06 tháng 8 năm 2014, Thông tư
quy định thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc
có thu nhập tại Việt Nam
Trang 26ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thì nhà nước tạo điều kiện cho họ được nộp thuế theo phương pháp tính trực tiếp
Như vậy, trong các đối tượng nộp thuế trên thì có doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng, doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập, tổ chức kinh tế khác nếu thực hiện đầy đủ chế hóa đơn, chứng từ thì có thể lựa chọn đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế hoặc tính thuế trực tiếp trên GTGT Còn đối với cơ sở có hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý, hộ cá nhân kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì phải bắt buộc áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
Nhìn chung, các chủ thể áp dụng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
đa phần là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chưa thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ hoặc không đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Vì thế với những chủ thể này nhà nước không thể áp dụng theo phương pháp khấu trừ và để tạo điều kiện thuận lợi cho họ cũng như đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thì pháp luật quy định tính theo phương pháp tính trực tiếp Hơn nữa, thường đối với những doanh nghiệp không có thuế GTGT mua vào, hoặc thuế GTGT mua vào
là quá nhỏ so với bán ra như những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực không
có thuế GTGT đầu vào như mua bán sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, các lĩnh vực
tư vấn pháp lý, tư vấn nhân sự, tư vấn thiết kế,…nếu chọn theo phương pháp khấu trừ thì số thuế phải nộp sẽ rất lớn, chính vì vậy nộp thuế theo phương pháp trực tiếp
sẽ tối ưu hơn, vì số thuế phải nộp sẽ nhỏ hơn Chính vì không có sự quy định riêng những lĩnh vực kinh doanh nào phải đăng ký nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, những lĩnh vực nào phải đăng ký theo phương pháp khấu trừ nên luật để cho doanhh nghiệp dưới ngưỡng một tỷ đồng được tự lựa chọn tùy vào nhu cầu của doanh nghiệp muốn gọn nhẹ thủ tục hay lợi nhuận mà lựa chọn phương pháp tính thuế
1.1.3 Công thức tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Khác với quy định pháp luật trước đây là chỉ dùng một công thức tính chung cho các đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT, luật thuế GTGT 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành quy định mới hai công thức tính thuế riêng cho hai loại đối tượng chịu thuế GTGT Trên cơ sở đối tượng
Trang 27áp dụng đã phân tích ở phần đối tượng áp dụng trên, có thể chia thành hai loại đối tượng áp dụng khác nhau với hai công thức tính như sau:
Thứ nhất: đối với hoạt động mua, bán, chế tác vàng bạc, đá quý:
Số thuế GTGT phải nộp = GTGT x Thuế suất (10%)
GTGT = Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra - Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào tương ứng
Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý bán ra là giá thực tế bán ghi trên hóa đơn bán vàng, bạc, đá quý, bao gồm cả tiền công chế tác (nếu có), thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu thêm mà bên bán được hưởng Giá thanh toán của vàng, bạc, đá quý mua vào được xác định bằng giá trị vàng, bạc, đá quý mua vào hoặc nhập khẩu, đã có thuế GTGT dùng cho mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý bán ra tương ứng Khi áp dụng công thức này có thể sẽ cho ra các kết quả sau: Trường hợp trong kỳ tính thuế phát sinh GTGT âm (-) của vàng, bạc, đá quý thì được tính bù trừ vào GTGT dương (+) của vàng, bạc, đá quý; Trường hợp không có phát sinh GTGT dương (+) hoặc GTGT dương (+) không đủ bù trừ GTGT âm (-) thì được kết chuyển để trừ vào GTGT của kỳ sau trong năm Kết thúc năm dương lịch, GTGT
âm (-) không được kết chuyển tiếp sang năm sau; Trường hợp không phát sinh GTGT thì cơ sơ kinh doanh không phải đóng thuế (hay số thuế phải nộp là không) Trường hợp phát sinh GTGT dương (+) thì cơ sở sản xuất kinh doanh cũng sẽ không được hoàn thuế mà chỉ được tính bù trừ vào GTGT âm (-) nếu có32
Đây là công thức tính dành riêng cho hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc
đá quý, xuất phát từ tính chất đặc thù riêng của hoạt động này trên đối tượng chịu thuế là vàng bạc, đá quý Nên dù cơ sở sản xuất kinh doanh có thực hiện đầy đủ chế
độ hóa đơn chứng từ hay đáp ứng ngưỡng doanh thu tính thuế thì pháp luật quy định vẫn phải áp dụng bắt buộc phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT Yêu cầu của phương pháp này là chủ thể kinh doanh phải quản lý hóa đơn đầu vào và bán ra để xác định đúng phần GTGT
Thứ 2: đối với các hàng hóa, dịch vụ khác
Số thuế GTGT phải nộp = Doanh thu x tỉ lệ %
Doanh thu = Tổng số tiền bán hàng hóa dịch vụ ghi trên hóa đơn bán hàng + thuế GTGT và các khoản phụ thu, phí thu (nếu có)
32
Điều 11 Luật Thuế GTGT 2008 và Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế GTGT
2013
Trang 28Theo đó việc xác định giá trị tăng thêm trong công thức là tổng số tiền ghi trên hóa đơn bán hàng hóa dịch vụ, đó có thể đã bao gồm thuế GTGT và các chi phí khác Tỷ lệ % để tính thuế GTGT trên doanh thu được quy định tại Khoản 5 Điều
11 Luật Thuế GTGT 2013 theo từng hoạt động như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1%; Dịch vụ, xây dựng (trừ bao thầu nguyên vật liệu): 5%; Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%; Hoạt động kinh doanh khác: 2%
Cơ sở kinh doanh, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật thì nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán thuế Cơ quan thuế căn cứ vào tài liệu kê khai của
hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế, ý kiến của hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn để xác định mức thuế khoán Mức thuế khoán được tính theo năm dương lịch và phải được công khai trong địa bàn xã, phường, thị trấn Trường hợp có thay đổi ngành, nghề, quy mô kinh doanh, người nộp thuế phải khai báo với cơ quan thuế để điều chỉnh mức thuế khoán33
Công thức tính thuế dựa trên doanh thu và tỷ lệ phần trăm như trên với tỷ lệ phần trăm mang tính ước lệ (1%, 2%, 3%, 5%) xác định dựa vào từng nhóm hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khác nhau Vì thuế GTGT đánh thuế trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ, việc áp dụng phương pháp tính thuế là để xác định được số thuế mà các chủ thể phải nộp Nhưng thực tế, giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ trong nhiều trường hợp không thể xác định được một cách chính xác khi các chủ thể kinh doanh không thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ Hoặc do đặc thù ngành nghề kinh doanh đó khó có thể hạch toán được một cách rõ ràng số thuế GTGT đầu ra và thuế GTGT đầu vào Vậy nên, mặc dù phương pháp tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT không hoàn toàn chính xác và có phần không công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế nhưng chúng ta vẫn phải quy định
áp dụng một mức thuế cho tất cả các chủ thể kinh doanh thuộc nhóm ngành nghề
đó
Trước đây, Luật Thuế GTGT 2008 quy định một công thức tính thuế cho tất
cả các đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT theo công thức:
Thuế GTGT phải nộp bằng (=) GTGT nhân (X) thuế suất, về mặt lý luận nó
đúng với tên gọi tính thuế trực tiếp trên GTGT Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng lại khó khăn về việc xác định GTGT của một số đối tượng như hộ, cá nhân kinh doanh bởi không đủ cơ sở để xác định GTGT khi chế độ hóa đơn, chứng từ chưa được thực
33 Điều 38 Luật số 78/2006/QH11, Luật quản lý thuế ngày 29/11/2006
Trang 29hiện đúng hoặc thực hiện giao dịch trên 200.000 đồng không xuất hóa đơn bán hàng
Luật Thuế GTGT 2013 sửa đổi bổ sung đã khắc phục bất cập trên bằng công thức tính thuế mới đối với đối tượng khác ngoài cở sở mua bán, chế tác vàng bạc đá quý Cách thức tính thuế mới này đã giúp đơn giản hóa quá trình tính và thu thuế GTGT khi chỉ cần xác định doanh thu cuối cùng mà cơ sở kinh doanh có được Các chủ thể nộp thuế ở khâu kinh doanh của mình chỉ cần xác định doanh thu bán hàng cuối cùng, tức đầu ra của hàng hóa, dịch vụ mà không cần xác định đầu vào là bao nhiêu ở khâu tính thuế Doanh thu chính bằng tiền hàng mà cơ sở bỏ ra khi nhập vào cộng với số thuế phải nộp ở khâu đầu vào mà cở sở kinh doanh phải trả cộng với các khoản thu khác mà cơ sở sản xuất, kinh doanh có được Chủ thể nộp thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu không cần xác định với cơ quan thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ mà chỉ cần xác định doanh thu đầu ra, đã bao gồm tất cả chi phí trong đó bởi với những chủ thể kinh doanh không thực hiện chế độ hóa đơn chứng từ thì việc xác định GTGT là rất khó Mặc dù vô hình chung phương pháp tính này dễ bị hiểu nhầm là tính trên doanh thu giống như thuế doanh thu trước đây,
đi ngược lại với bản chất là loại thuế gián thu của thuế GTGT Việc áp dụng phương pháp tính này sẽ không xác định được số thuế qua từng khâu như phương pháp khấu trừ thuế mà chỉ xác định được số GTGT tính ở khâu cuối cùng kết hợp với mức thuế suất luật định34 Tuy nhiên, cách tính này lại đơn giản hơn rất nhiều cho các chủ thể nộp thuế và có điểm khác với thuế doanh thu trước đây Thuế doanh thu là sắc thuế chỉ phù hợp với nền kinh tế bao cấp, nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh qua từng khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng với thuế suất quy định, cách đánh thuế này dẫn đến hiện tượng trùng thuế và mức thuế phải nộp rất cao Tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp hiện nay tuy có hiện tượng đánh trùng thuế trên một mức doanh thu nhất định, tuy nhiên với các mức tỷ lệ phần trăm như hiện nay cho thấy số thuế đánh không chênh lệch bao nhiêu so với tính thuế theo phương pháp khấu trừ, ngược lại nếu các chủ thể muốn đơn giản thủ tục, quy trình thì phải chấp nhận mức thuế như vậy
1.2.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng
Qua phân tích nội dung quy định pháp luật về tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp có thể thấy: một phương pháp tính thuế đều tồn tại những ưu điểm và hạn chế nhất định Phương pháp tính thuế trực tiếp có thể có những quy định chưa
34
Nguyễn Thị Thu Trang( 2015), “Quy định của pháp luật về phương pháp tính thuế GTGT”, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật,Trường ĐH Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr 25
Trang 30phù hợp với yêu cầu của phương pháp khấu trừ và một số hạn chế cần khắc phục Nhưng nó cũng có những ưu điểm riêng tạo thuận lợi cho đối tượng nộp thuế và cơ quan quản lý thuế, có những lý do riêng để nó vẫn tiếp tục tồn tại với vị trí là một phương pháp tính thuế độc lập trong hệ thống thuế GTGT hiện nay Qua việc phân tích những ưu điểm và hạn chế cũng chính là cơ sở cho việc định hướng hoàn thiện các quy định pháp lý của phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT
1.2.4.1 Ƣu điểm
Thứ nhất, đối với đối tƣợng nộp thuế: mặc dù phương pháp tính trực tiếp
trên GTGT không phải là phương pháp tối ưu, được áp dụng với những đối tượng không đủ điều kiện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, nhưng với điều kiện phát triển của Việt Nam hiện nay, chúng ta vẫn phải áp dụng phương pháp này vì nó có
ưu điểm là phù hợp với điều kiện nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam, tồn tại nhiều thành phần kinh tế nhỏ lẻ mà chủ yếu là hộ cá nhân kinh doanh Đối tượng này thường kinh doanh những mặt hàng nhỏ lẻ, khó xác định được chi phí đầu vào, doanh thu bán ra và thường sử dụng hóa đơn bán hàng hoặc không sử dụng hóa đơn trong giao dịch thay vì phải đáp ứng điều kiện hóa đơn, chứng từ nghiêm ngặt như trong phương pháp khấu trừ Phương pháp này tạo điều kiện thuận lợi việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các chủ thể nộp thuế, tiết kiệm được thời gian, chi phí tuân thủ đồng thời đảm bảo tính giản đơn trong thực thi pháp luật Ở phương pháp khấu trừ, đối tượng nộp thuế mặc dù được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, chi phí giảm xuống, khả năng cạnh tranh cao hơn tuy nhiên, yêu cầu nghiêm ngặt nhất là về hóa đơn, chứng từ, vì thế đối tượng nộp thuế muốn áp dụng phương pháp này phải bỏ thêm chi phí cho công tác kế toán, chưa kể chi phí giám sát, quản lý quá trình kế toán Yêu cầu của việc này phải là chủ thể kinh doanh đủ lớn, nguồn thuế được khấu trừ đủ bù đắp chi phí bỏ ra thì mới áp dụng theo phương pháp khấu trừ Ngược lại, với phương pháp trực tiếp, không cần yêu cầu nghiêm ngặt về hóa đơn, chứng
từ Mặc dù không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nhưng với đặc trưng là chủ thể kinh doanh nhỏ, doanh thu không cao thì so với việc tính theo phương pháp trực tiếp và việc phải đáp ứng điều kiện để được khấu trừ thì việc tính thuế trên doanh thu đơn giản hơn nhiều, tiết kiệm thời gian cho đối tượng nộp thuế Như vậy, điều thuận lợi nhất khi áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp là độ đơn giản, nhanh chóng trong tính thuế, giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí kế toán
Thứ hai, đối với công tác quản lý thuế: theo quy định của pháp luật về
quản lý thuế35 về nguyên tắc khai thuế và tính thuế quy định: người nộp thuế phải
35 Điều 30 Luật quản lý thuế, Luật số 78/2006/QH11, ngày 29/11/2006
Trang 31khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dụng trong tờ khai thuế; người nộp thuế phải tự tính số thuế phải nộp trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của chính phủ Kê khai thuế là một trong những thủ tục pháp lý bắt buộc của quá trình thu nộp thuế GTGT để đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời số thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Các đối tượng nộp thuế đến kỳ quyết toán thuế đều phải thực hiện việc nộp thuế theo doanh thu mình kê khai và tự chịu trách nhiệm với mức kê khai đó, vì thế công việc cơ quan thuế phải làm là giám sát việc kê khai doanh thu, công việc thu thuế đơn giản hơn, chỉ cần xác định doanh thu cuối kỳ, kiểm tra tỷ lệ phần trăm tương ứng với ngành nghề kinh doanh, không cần kiểm tra hệ thống hóa đơn chứng từ như phương pháp khấu từ thuế Việc tính thuế theo phương pháp trực tiếp giúp tiết kiệm chi phí quản lý cho cơ quan quản lý thuế, tận thu đối với nguồn ngân sách nhà nước, đảm bảo thu đúng, thu đủ
và đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế của các chủ thể nộp thuế trong nền kinh tế
1.2.4.2 Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp tính thuế trực tiếp cũng bộc lộ những hạn chế nhất định Việc nhận diện những hạn chế này là yêu cầu vô cùng quan trọng đối với công tác hoàn thiện, đảm bảo việc hoàn thiện các quy định là hợp lý và có tính ứng dụng thực tiễn cao Có thể nêu ra những hạn chế sau:
Thứ nhất, tính thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT không thể tách
bạch được doanh thu tính thuế (phần chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào tương ứng) và thuế Tính thuế theo phương pháp này được xem là một phương pháp tính “cứu cánh”, “bù đắp” mà các nhà làm luật quy định áp dụng cho các chủ thể nộp thuế không thể xác định được GTGT trong quá trình sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hay đó là các chủ thể không đủ điều kiện áp dụng tính thuế theo phương pháp khấu trừ Phương pháp này không thể hiện được bản chất của thuế GTGT là thuế gián thu như phương pháp khấu trừ vì số thuế phải nộp đánh trực tiếp trên toàn bộ doanh thu hàng hóa, dịch vụ Trong các trường hợp tính thuế không thể tách bạch được đâu là thuế, đâu là doanh thu bán hàng, số tiền thuế đánh trên toàn
bộ doanh thu, đã bao gồm cả tiền thuế của khâu kinh doanh trước đó
Thứ hai, vẫn có hiện tượng thuế đánh trùng thuế khi xác định số thuế phải
nộp trên doanh thu theo tỉ lệ phần trăm, trong nhiều trường hợp, khi càng qua nhiều khâu trung gian thì số thuế bị đánh trùng trên một mức doanh thu càng cao Bởi theo đúng nguyên lý về thuế GTGT, việc tính thuế theo bất kỳ phương pháp nào thì tổng số thuế nhà nước thu được đều như nhau Nếu giá bán ra và giá mua vào làm căn cứ xác định GTGT ở phương pháp trực tiếp là giá chưa thuế GTGT thì hai công
Trang 32thức ở trên thực chất có thể biến đổi để trở về một36 Tuy nhiên, ở phương pháp tính thuế trực tiếp hiện nay, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu đã bao gồm thuế GTGT, phí, lệ phí khác nên hai phương pháp tính thuế có thể sẽ cho hai kết quả khác nhau Nói cách khác, phương pháp tính thuế trực tiếp này có khả năng tạo ra hiện tượng đánh trùng thuế Hạn chế này có thể thấy rõ qua ví dụ sau:
Doanh nghiệp A sản xuất mặt hàng là sản phẩm quần áo phân phối cho các cửa hàng nhỏ và bán ra thị trường, lô hàng 1 gồm 1000 cái, giá bán ra cho A là 200,000 đồng/cái, thuế suất thuế GTGT 10%, tỉ lệ trên doanh thu tính thuế 1% tính bằng Việt Nam đồng
Số thuế phải nộp theo phương pháp tính thuế trực tiếp trên doanh thu tại A
như sau: Thuế GTGT phải nộp = (1000 cái x 200,000 x 10%) x 1% = 2,000,000 đồng Doanh nghiệp A nhập cho B, ở khâu này B bán ra với giá 230,000 đồng/bộ,
số thuế B phải nộp tính cả 2,000,000 đồng tiền thuế của A Thuế GTGT B phải nộp= ((230,000,000 + 2,000,000) x 10% )x 1%= 2,300,000 đồng Nếu tiếp tục
càng qua nhiều khâu lưu thông thì số thuế trùng lại càng cao hơn mặc dù cùng một mức thuế suất, cùng tỉ lệ phần trăm, số tiền thuế đã nộp ở khâu trước được cộng vào giá tính thuế ở khâu sau Như vậy, trên một mức thuế đã có sự đánh trùng nhiều lần, đến cuối cùng số thuế mà người tiêu dùng phải nộp trong giá hàng hóa tính theo phương pháp trực tiếp sẽ cao hơn phương pháp khấu trừ Như vậy, hạn chế lớn nhất
ở phương pháp trực tiếp đối với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp
là số thuế phải nộp sẽ cao hơn Vì thế, nếu doanh nghiệp cùng lĩnh vực kinh doanh muốn giữ lợi nhuận tương đương với doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thì phải tăng giá thành sản phẩm lên, việc này có thể sẽ làm cho các doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp khó cạnh tranh trên thị trường Hoặc nếu muốn cạnh tranh được thì bắt buộc phải chịu mức lợi nhuận thấp hơn để bù vào
số thuế phải nộp
Thứ ba, cách thức tính thuế chưa phù hợp với tên gọi của phương pháp tính
thuế, chưa phù hợp với bản chất của thuế GTGT Mặc dù tên gọi của phương pháp
là phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT nhưng rõ ràng phương pháp tính thuế trực tiếp này đánh thuế trên doanh thu bán hàng, hoặc toàn bộ giá bán đầu ra trừ giá bán đầu vào Đại lượng tính này đã bao gồm thuế GTGT và toàn bộ các khoản chi phí khác, hoàn toàn không tách bạch được đâu là GTGT, đâu là giá gốc của hàng
36 Đỗ Thiện Anh Tuấn, “Cải cách thuế GTGT ở Việt Nam (2012),kinh tế học khu vực công, chương trình giảng dạy kinh tế fulbright", http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP04-513-C04V-2012-05-09-16005422.pdf , truy cập ngày 14/05/2016