1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc

85 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trị quốc gia, năm 2001; Bài viết Chính sách đối với dân tộc thiểu số thời Lê sơ của Nguyễn Minh Tường trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6/2012; bài viết Chính sách dân tộc của Đả

Trang 1

TRẦN CÔNG KHÁNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN

CẤP HUYỆN VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 2

TRẦN CÔNG KHÁNH

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN

CẤP HUYỆN VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số chuyên ngành: 60380102

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN NHẬT THANH

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Trang 3

trình tổng hợp và nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phan Nhật Thanh Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chính xác

Tác giả luận văn

Trần Công Khánh

Trang 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 5

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 6

7 Kết cấu luận văn 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 8

1.1 Khái niệm về công tác dân tộc 8

1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc 11

1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc 17

1.4 Vai trò và ý nghĩa quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công tác dân tộc 23

1.5 Thẩm quyền của Ủy ban Nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc 29

1.6 Hình thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc của ủy ban nhân dân cấp huyện 33

1.7 Nội dung quản lý nhà nước của ủy ban nhân nhân cấp huyện đối với công tác dân tộc 36

1.7.1 Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc 36

Trang 5

1.7.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc, thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân cấp huyện 40

1.7.4 Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số 41

1.7.5 Kiểm tra, thanh tra phải sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách pháp luật và chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số 42

1.7.6 Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tổ chức tốt các phong trào tương tự, giúp

đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng 43

1.7.7 Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc 44

Kết luận chương 1 45

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN (TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH

2.2 Thực trạng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc đối với cơ quan, tổ chức và

công dân và phương hướng hoàn thiện 53

2.2.1 Thực trạng 53

Trang 6

công chức làm công tác dân tộc của ủy ban nhân cấp huyện và phương

hướng hoàn thiện 60

2.3.1 Thực trạng 60

2.3.2 Phương hướng hoàn thiện 64

2.4 Thực trạng công tác kiểm tra của ủy ban nhân cấp huyện đối với việc chấp hành các quy định của pháp luật về công tác dân tộc của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của ủy ban nhân cấp huyện và phương hướng hoàn thiện 65

2.4.1 Thực trạng 65

2.4.2 Phương hướng hoàn thiện 67

Kết luận chương 2 70

KẾT LUẬN 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng trong lãnh đạo thực hiện công tác dân tộc và chính sách dân tộc là: “các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”1 Vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc, đề ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc ngày càng được Đảng đặc biệt quan tâm Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 27 tháng 11 năm 1989 “Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi”; Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) thể chế hóa Nghị quyết của Đảng thành Quyết định số 72-HĐBT, ngày 13 tháng 3 năm 1990, “Về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế

- xã hội miền núi” Hai văn kiện này đã mở đường cho sự đổi mới công tác dân tộc

Tại địa phương, nhằm đảm bảo công tác dân tộc được tiến hành hiệu quả, liên tục, xuyên suốt thì vai trò cảu Ủy ban nhân dân rất quan trọng theo quy định pháp luật, Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nói cụ thể hơn là Ủy ban thực hiện các chức năng hành chính cơ bản: chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng văn hóa, chức năng xã hội

Trong những năm qua, được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý tập trung của Ủy ban nhân dân, công tác dân tộc đã đạt được những thành công nhất định Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc được nâng lên

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự

thật, Hà Nội, 2011, tr 70

Trang 8

từng bước, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt Theo báo cáo của các địa phương vùng dân tộc và miền núi, chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đều đạt và vượt, bình quân khoảng 3% - 4%/năm, cụ thể là: Các tỉnh vùng Đông Bắc giảm 3,62%; Tây Bắc giảm 4,47%; Tây Nguyên giảm 3,04%; đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,15% Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt: 98,6% số xã có đường

ô tô đến trụ sở ủy ban nhân dân xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện2

Công tác giáo dục đối với đồng bào dân tộc có nhiều tiến bộ: 99,5% số

xã có trường tiểu học; 93,2% số xã có trường trung học cơ sở; 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo/mầm non3

; 100% số xã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở Loại hình trường nội trú, bán trú đang phát triển, hiện nay cả nước

có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú với 80.832 học sinh; 4 trường dự bị đại học với trên 3.000 học sinh/năm Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục,

y tế Mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế

xã đã được quan tâm đầu tư, có 99,39% số xã có trạm y tế, 77,8% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Năm 2011, có 94,2% số thôn có cán bộ y tế thôn Đồng bào dân tộc được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản, người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và được hưởng chính sách bảo hiểm y

tế đúng quy định Các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi, như sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được thì công tác dân tộc còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém, như chính sách còn mang tính nhiệm kỳ, thời gian thực hiện ngắn, thiếu tính chiến lược lâu dài, pháp luật chưa đồng

bộ, còn chồng chéo Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về công tác dân tộc của ủy ban nhân dân còn nhiều yếu kém, phân công chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện một số chính sách, pháp luật chưa hợp lý; việc phối hợp giữa

2 Tổng cục Thống kê (2011), Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011, Hà Nội

3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại buổi làm việc giữa Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 1-6-2012, Hà Nội

Trang 9

các cấp chính quyền chưa chặt chẽ, chỉ đạo có mặt còn chồng chéo, trùng lắp

về địa bàn và đối tượng Năm 2012, tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi Tây Bắc

là 28,55%, miền núi Đông Bắc: 17,39%; Tây Nguyên: 15,58%; các tỉnh Bắc Trung Bộ: 15,01% Các xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo là 45%, cá biệt có những xã, thôn nhóm dân tộc rất ít người tỷ lệ nghèo lên tới trên 90% Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao Một bộ phận đồng bào vẫn còn thiếu đói, nhất là vào những tháng giáp hạt hoặc sau những đợt thiên tai Có trên 220.000 hộ thiếu đất sản xuất, nếu tính cả số hộ thiếu nước sinh hoạt theo đối tượng thực hiện Quyết định số 1592/QĐ-TTg thì con

số đó lên tới 579.804 hộ4…

Chính vì những trăn trở và suy tư như vậy nên tác giả đã quyết định chọn

đề tài:“Quản lý nhà nước của Ủy ban dân dân cấp huyện về công tác dân

tộc”để làm đề tài luận văn Cao học Luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của Ủy ban dân dân cấp huyện đối với công tác dân tộc đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với phạm vi và mức độ khác nhau Có thể

kể ra một số công trình tiêu biểu như: Sách tham khảo Chính sách dân tộc của các chính quyền Nhà nước phong kiến Việt Nam (X - XIX) của Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2001; Bài viết Chính sách đối với dân tộc thiểu số thời Lê sơ của Nguyễn Minh Tường trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 6/2012; bài viết Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước trong thời kì đổi mới của Nguyễn Đức Ái trong Tạp chí Quản lý nhà nước số 5/2010; Bài viết Công tác định canh, định cư và ổn định đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta của Nguyễn Lâm Thành trong Tạp chí Cộng sản, Số chuyên đề 6/2014; Bài viết Chính sách đối với các dân tộc thiểu

số vùng biên giới phía Bắc của vương triều Lý của Nguyễn Minh Tường trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5/2012; bài viết Hiến pháp và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước của Tòng Thị Phóng trong Tạp chí

4 Đảng cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi năm 2014 - 2015 và giai đoạn 2016 – 2020, Hà Nội

Trang 10

Nghiên cứu lập pháp số 4/2014; bài viết Xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong tình hình hiện nay của Hoàng Xuân Lương trong Tạp chí Cộng sản Số 1/2012; bài viết Cơ sở đảm bảo và thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số hiện nay của Nguyễn Xuân Đại trong Tạp chí Tổ chức nhà nước số 7/2014; bài viết Hướng tiếp cận trong xây dựng và triển khai chính sách dân tộc trong giai đoạn mới của Sơn Phước Hoan trong Tạp chí Cộng sản số 9/2014; bài viết Một số kết quả bước đầu sau 10 năm thực hiện nghị quyết trung ương 7 (khóa 9) về công tác dân tộc của Nguyễn Quốc Phẩm trong Tạp chí Lịch sử Đảng số 1/2014; bài viết Ngăn chặn tình trạng xác định lại dân tộc nhằm hưởng lợi bất chính từ chính sách dân tộc của nhà nước của Đỗ Văn Nhân trong Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 10/2011; bài viết Những chính sách cơ bản của nhà nước ta về dân tộc thiểu số của Nguyễn Thế Quyền trong Tạp chí Quản lý nhà nước Số 11/2009; bài viết Những điểm mới cơ bản của chế độ chính trị trong Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 của Vũ Văn Nhiêm trong Tạp chí Khoa học pháp lý

số 1/2014; bài viết Thực hiện chính sách phát triển vùng dân tộc và miền núi trong thời kỳ hội nhập của Nguyễn Cúc trong Tạp chí Quản lý nhà nước số 8/2014; bài viết Tăng cường đầu tư cho phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu

số của Trần Quang Tuấn trong Tạp chí Quản lý nhà nước số 8/2014

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách

có hệ thống và chuyên ở góc độ lý luận, hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng trong định quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân cấp huyện Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu khác cho đến hiện nay chưa có tác giả nào chọn đề tài này làm luận văn Thạc sĩ hay luận án Tiến sĩ

3 Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của quản

lý nhà nước về công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân Phân tích những bất cập, hạn chế của các văn bản pháp luật và các công cụ, cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về công tác dân tộc Từ các kết quả nghiên cứu và phân tích thực tiễn, tác giả nêu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân

Trang 11

Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định pháp luật

về quản lý nhà nước về văn hóa của Ủy ban nhân dân, đề tài thực hiện nhằm các mục đích sau:

- Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đối với công tác dân tộc Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc tại địa phương, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở mà chủ yếu là đội ngũ cán bộ công tác dân tộc tại

Ủy ban nhân dân

- Quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc bởi vì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của vùng dân tộc

- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chiến lược công tác dân tộc và các chính sách cho từng vùng giai đoạn 2011 -

2015 đến năm 2020

- Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo được ban hành; huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn (vùng “lõi nghèo”), tránh đầu tư dàn trải, lãng phí Thực hiện nghiêm chỉnh việc phân cấp cho cơ sở, công khai các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư, để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện

4 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật và thực tiễn

về quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận: Để đạt được những mục đích đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Trang 12

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, chứng minh, biện luận, tổng hợp và đối chiếu so sánh Ở chương 1, tác giả đã áp dụng phương pháp nghiên cứu đánh giá tổng hợp thông qua các công trình của các học giả liên quan đến công tác dân tộc và quản lý nhà nước

về công tác dân tộc Bên cạnh đó, tác giả cũng áp dụng phương pháp phân tích trong việc phân tích nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc, phần này chủ yếu dựa vào phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích các khía cạnh của quản lý nhà nước về công tác dân tộc, bao gồm chủ thể, hình thức và nội dung quản lý

Chương 2 chủ yếu áp dụng phương pháp thống kê, so sánh và đánh giá Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nhà nước về công tác dân tộc (bao gồm thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật) tác giả sẽ thực hiện phương pháp so sánh, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước

về công tác dân tộc để từ đó đưa ra những kiến nghị phù hợp Phương pháp tổng hợp cũng được áp dụng để đưa ra những kết luận cần thiết

6 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

Đề tài là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ lý luận đồng thời đưa ra hiện trạng và giải pháp nâng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc của Ủy ban nhân dân

Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên Cao học luật

và những ai quan tâm đến đề tài này Mặt khác, với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay, đề tài sẽ là tài liệu

bổ ích cho những người làm công việc thực tế như cán bộ quản lý công tác dân tộc, cán bộ, công chức công tác liên quan đến chính sách dân tộc

7 Kết cấu luận văn

Phần mở đầu

Phần nội dung: Gồm 2 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước của Ủy ban Nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc

Trang 13

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước của Ủy ban Nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc (từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Long) và phương hướng hoàn thiện

Trang 14

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC 1.1 Khái niệm về công tác dân tộc

Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao như thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Dân tộc là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm

lý, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc Hiện nay, khái niệm về dân tộc được sử dụng trong các văn kiện chính trị, văn bản pháp luật hoặc trên

phương tiện thông tin đại chúng được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:

Thứ nhất, “dân tộc” được hiểu là “ tộc người” với nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng người có đặc trưng cơ bản về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Si-La, dân tộc Chăm… Hiểu theo nghĩa này, kết cấu dân cư của một quốc gia có thể bao gồm nhiều dân tộc (tộc người) khác nhau, trong đó có những dân tộc chiếm đa số trong

thành phần dân cư và có những dân tộc thiểu số

Trong quá trình phát triển của mình, trong bản thân mỗi dân tộc có thể

có sự phân chia thành các nhóm người có đặc điểm khác nhau về nơi cư trú, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, nhưng đều được coi là cùng một dân tộc, bởi có chung 3 điểm đặc trưng (ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác) Ví dụ: dân tộc Dao bao gồm nhiều nhóm người, như các Dao đỏ, Dao tiền, Dao Tuyến, Dao quần chẹt, Dao Thanh phán, Dao Thanh Y, Dao quần trắng

Theo nghĩa thứ hai, dân tộc được hiểu là quốc gia dân tộc Ví dụ: dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Đức… Theo nghĩa này, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ cộng đồng chính trị - xã hội được hợp thành, bởi những dân tộc người khác nhau trên lãnh thổ của một quốc gia nhất định Như vậy, khái niệm dân tộc ở đây được hiểu đồng nghĩa với quốc gia đa tộc người, vàcũng

Trang 15

đồng nghĩa với nhà nước thống nhất của các tộc người trên một lãnh thổ có chủ quyền quốc gia Theo nghĩa này, dân cư của dân tộc này được phân biệt với dân cư của dân tộc khác theo sự di cư của tộc người đó, ví dụ trong kết cấu dân cư của dân tộc Việt Nam và dân tộc Trung Hoa đều có tộc người H’Mông và tộc người Dao

Như vậy, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhiều người còn nhấn mạnh rằng, dù hiểu theo nghĩa nào thì dân tộc cũng vừa là một cộng đồng tộc người, vừa là một cộng đồng chính trị - xã hội Có thể diễn đạt khái quát: dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội - tộc người Quan niệm này tạo nên một ranh giới rõ rệt để phân biệt khái niệm dân tộc với khái niệm sắc tộc, chủng tộc5 Quan niệm trên đây có căn cứ ở chỗ trong quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng dân tộc, những nhân tố tộc người trưởng thành cùng với nhân tố chính trị - xã hội Nhân tố tộc người đó xuất hiện từ những đặc điểm

tự nhiên, xã hội đặc thù của từng cộng đồng người và được tái tạo, sàng lọc, lưu truyền từ thời kỳ thị tộc, bộ lạc, bộ tộc và phát triển đầy đủ hơn cộng đồng dân tộc Nó trở thành giá trị bền vững ngay cả trong thời đại mà giao lưu quốc

tế giữa các dân tộc đã phát triển Nhân tố tộc người đó biểu hiện nổi bật nhất trong văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tâm lý và tình cảm… dân tộc, tạo thành nét riêng trong tính cách của mỗi dân tộc Đó là lĩnh vực phong phú, sâu sắc, tế nhị và rất nhạy cảm trong thế giới tinh thần của dân cư mỗi dân tộc Chính vì thế, ở nhiều nước, người ta căn cứ vào mục tiêu ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác tộc người để xác định thành phần dân tộc của một người, của một nhóm người6

Nhận thức điều đó, trong quá trình quản lý công tác dân tộc Đảng và Nhà nước ta rất chú ý đến tính đặc thù của các dân tộc, hơn nữa cũng đã có những chính sách, quy định pháp luật riêng bổ sung vào các chính sách, pháp luật chung nhằm đáp ứng đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của

Trang 16

từng dân tộc.Đồng thời xác định, công tác dân tộc là một nội dung quan trọng, có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Công tác dân tộc là một lĩnh vực công tác mang tính đa ngành, đa lĩnh vực nhưng tất cả hội tụ lại một điểm là tác động vào các dân tộc thiểu số, giải quyết các mối quan hệ dân tộc, vì sự phát triển của cộng đồng các dân tộc thiểu số - những cộng đồng sinh sống trên một địa bàn tự nhiên rộng lớn của đất nước, song do hoàn cảnh lịch sử hiện đang có nhiều khó khăn trên con đường phát triển Đồng thời, công tác dân tộc có ảnh hưởng và có vị trí trọng yếu đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn phát triển mới Do đó, toàn bộ hệ thống chính trị cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mình về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới, coi việc quán triệt và thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương Các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển; tôn trọng và giữgìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam

Công tác dân tộc có thể hiểu là công tác hoạch định chính sách dân tộc

và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc; đưa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nướcvề chính sách dân tộc đi vào cuộc sống; tổng kết thực tiễn cuộc sống để bổ sung, xây dựng các chính sách dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ

Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định số 05/2011/NĐ-CPngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc thì“Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”7 Quy định nêu trên đã khái quát cơ bản đầy đủ và rõ ràng về công tác dân tộc tạo cơ sở pháp lý quan

7

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011của Chính phủ về công tác dân tộc

Trang 17

trọng để các cơ quan nhà nước thực hiện thống nhất công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc

1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước bằng quyền lực của Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của đồng bào dân tộc, đặc biệt là đồng bào dân tộc

thiểu số nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững

Vậy tại sao phải quản lý Nhà nước về công tác dân tộc?

Quản lý Nhà nước về công tác dân tộc là một nội dung cơ bản và quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của quản lý Nhà nước nói chung, là nội dung đã được quan tâm, thực hiện trong suốt quá trình lịch sử

cách mạng của nước ta

Trước đây các triều đại phong kiến ở Việt Nam đã đặt ra việc quản lý Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số bằng chính sách KyMi (ràng buộc) và Nhu Viễn (mềm mỏng đối với những vùng xa xôi hẻo lánh) Nhất là việc gả các công chúa cho các tù trưởng các tộc người thiểu số (như Hà Bổng, Hà Đặc) hoặc cho các nước lân bang/láng giềng (như Huyền Trân công chúa gả cho Chế Bồng Nga- vua Chiêm Thành) là chính sách ràng buộc để quản lý

dân cư và vùng lãnh thổ

Triều đại nhà Lý, Lý Công Uẩn (1009 - 1225) đã có công trong việc xây dựng và phát triển đất nước với quy mô lớn và nền tảng xã hội được xây dựng vững chắc, toàn diện; chính quyền trung ương tập quyền được củng cố, bộ máy hành chính địa phương được xây dựng tới tận vùng xa xôi hẻo lánh của

đất nước

Thời Trịnh - Nguyễn, chính sách khai thác của nhà Nguyễn ởđàng trong là

chính sách đồn điền, dùng dân lưu vong và tù binh để phát triển xuống phía Nam

Mảnh đất Tây Nguyên nước ta dưới thời Bảo Đại, ngày 25/7/1950, đã ban chiếu chỉ gọi cho vùng này là: “Hoàng Triều Cương Thổ”

Trang 18

Như vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam trong quản lý Nhà nước của mình đã có những chính sách, biện pháp thể hiện sự quan tâm rất lớn đến những vấn đề dân tộc ngay cả các dân tộc thiểu số ở vùng xa xôi, hẻo lánh

của đất nước

Thực dân Pháp đô hộ nước ta gần một thế kỷ cũng đã cónhiều chính sáchnhằm quản lý vùng đồng bào các dân tộc thiểu số như việc đặt quan cai trị, phân chia bản đồ hành chính và hàng loạt các chính sách nhằmtranh thủ, lôi kéo, phân hoá, chia rẽ các dân tộc để phục vụ âm mưu “chia để trị”, chúng còn tự lập ra các “Xứ Nùng tự trị”, “Xứ Thái để trị”, lập ra mặt trận

BaJaRaKa ở Tây Nguyên sau này đổi thành FULRO

Chính quyền miền Nam thời Mỹ - Ngụy đã lập ra hội đồng các sắc tộc

và bộ phát triển các sắc tộc để quản lý Nhà nước về dân tộc

Khi Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng Hoà ra đời tháng 9/1945 Việc quản lý Nhà nước về công tác dân tộc đã được quy định tại Sắc lệnh 58 đặt ra bằng việc thành lập “Nhà dân tộc thiểu số” thuộc Bộ Nội Vụ nhằm “xem xét các vấn đề chính trị và hành chính thuộc về các dân tộc thiểu số trong nước và thắt chặt tình thân thiện giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”8

Bộ trưởng Bộ Nội Vụ chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ông Huỳnh Thúc Kháng ra nghị định ngày 09 tháng 9 năm 1946 giao nhiệm vụ cho nhà dân tộc thiểu số là: “nghiên cứu và giải quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trong toàn cõi Việt Nam để củng cố trên nguyên tắc

bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giữa các dân tộc sống trên đất Việt Nam”

Các văn kiện trên đã đánh dấu mốc đầu tiên của việc quản lý Nhà nước

về dân tộc và công tác dân tộc.Công tác dân tộc bao gồm việc tham mưu giúp Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách, pháp luật, giải quyết các vấn đề về dân tộc; việc triển khai chỉ đạo, thực hiện các chính sách, các chương trình,

dự án nhằm phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh các vùng dân tộc.Chính sách dân tộc được hiểu là: tổng hợp

8 Sắc lệnh số 58 ngày 03 tháng 5 năm 1946 tổ chức Bộ Nội Vụ của Chủ tịch chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

Trang 19

những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đề ra, tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc Phạm trù chính sách dân tộc và công tác dân tộc có mối liên hệ bên trong Bởi vì, Chính sách dân tộc là nhằm giải quyết những vấn đề dân tộc đặt ra còn công tác dân tộc là

việc tổ chức thực hiện chính sách dân tộc

Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương bảy khoá IX số 24/NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 đã nêu rõ quan điểm của Đảng về công tác dân tộc là: “công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các nghành, và của toàn bộ hệ thống

chính trị”

Như vậy, có thể thấy rằng, quản lý nhà nước đối với vấn đề dân tộc ở

nước ta là sự kế thừa và tất yếu khách quan từ lịch sử

Trên mảnh đất Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng nhau sinh sống và ở mỗi địa phương của Việt Nam có ít nhất có hai dân tộc cùng cư trú Vì vậy cần thiết phải có quản lý, điều chỉnh của Nhà nước để xây dựng khối đại đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cùng hướng các dân tộc phát triển

và ra sức phấn đấu vì mục tiêu chung là xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh Ở nước ta, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chính là vùng đang tồn tại nhiều bất cập và hạn chế nhất trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Chính vì thế, cần phải có sự tác động của quản lý nhà nước với những công cụ, phương pháp và tiềm lực của mình

để từng bước giải quyết những hạn chế khó khăn đưa đồng bào các dân tộc thiểu số hoà mình vào dòng chảy chung của Quốc gia, của thời đại.Qua những phân tích cơ bản trên ta thấy rằng, quản lý nhà nước về công tác dân tộclà nội

dung cơ bản và là tất yếu khách quan của quản lý nhà nước

Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái

niệm “quản lý” Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác

nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý

Trang 20

dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội Theo từ điển tiếng việt thì “quản lý” có nghĩa

là sự trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định9.Từ điển Luật học định nghĩa: “quản lý” là tác động của chủ thể lên đối tượng theo mục tiêu nhất định10

Các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay thì cho rằng: Quản

lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã

đề ra và đúng với ý trí của người quản lý11

Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của

xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

Theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự

tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm

vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa” 12

Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt, quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa, đó là:

9 Trung tâm từ điển (2011), từ điển tiếng việt, Nxb Đà nẵng, Đà Nẵng, tr 1251

10 Bộ tư pháp (2006), từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.633

11 http://voer.edu.vn/m/khai-niem-va-dac-diem-quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-hoat-dong-bao-hiem-xahoi/753ae70

12

Học viện hành chính quốc gia (2007), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, Nxb Học Viện hành chính quốc gia, Hà Nội, tr 207

Trang 21

Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp vận hành như một thể thống nhất13

Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp như hướng dẫn chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước

Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật

Như vậy, chủ thể quản lý nhà nước là các cá nhân hay tổ chức mang quyền lực Nhà nước tác động tới đối tượng quản lý Còn đối tượng quản lý nhà nước là toàn bộ công dân Việt Nam và những người không phải là công dân Việt Nam đang sống, làm việc trên lãnh thổ Việt Nam cùng toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội

Từ các khái niệm quản lý nhà nước như trên, khái niệm quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc cũng được hiểu theo hai nghĩa, rộng và hẹp Nghĩa rộng: Đó là quá trình dùng quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) của cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình dân tộc và hành vi hoạt động của các dân tộc diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể quản lý

Nghĩa hẹp: Đó là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, UBND các

13 Bộ tư pháp (2006), từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Tư pháp, Hà Nội, tr.633

Trang 22

cấp) để điều chỉnh các quá trình dân tộc và mọi hành vi hoạt động của các dân tộc diễn ra theo quy định của pháp luật

Quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào các dân tộc, để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước

Chủ thể của quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là hệ thống

cơ quan làm công tác quản lý nhà nước (bao gồm cơ quan quản lý và cơ quan chuyên môn) về lĩnh vực công tác dân tộc từ Trung ương xuống địa phương (Ủy ban Dân tộc, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ban Dân tộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, UBND quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, Bộ phận làm công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc thuộc UBND các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; UBND

xã, phường, thị trấn)

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là một nhiệm vụ hình thành trong điều kiện của một Nhà nước kiểu mới ở nước ta từ năm 1945 đến nay Khái niệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay, có thể nói còn những quan niệm chưa hoàn toàn thống nhất, mặc dù nhận thức về bản chất của nội dung vấn đề không có gì đối lập nhau Trên cơ sở lý luận về vấn

đề dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin, sau khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết các nội dung về vấn đề dân tộc trong cách mạng dân tộc dân chủ và xây dựng chủ nghĩa xã hội Có thể nói, việc quản lý nhà nước về vấn đề dân tộc phải được bắt nguồn từ nhận thức mang tính lý luận của vấn đề dân tộc theo học thuyết

tư tưởng cụ thể của một Đảng hay một Nhà nước cầm quyền Cơ sở lý luận

về vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác- Lênin đã được lãnh tụ Hồ Chí Minh

và các thế hệ học trò của Người sử dụng như một cẩm nang để nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam đặt ra trong gần suốt thế kỷ XX và hiện nay

Trang 23

1.3 Đặc điểm quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc

Công tác dân tộc là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm đã và đang được nhiều người quan tâm, theo dõi trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn Bởi nó không chỉ là lĩnh vực đặc thù của một dân tộc thiểu số mang nhiều dấu ấn của lịch sử để lại, có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán và chính sách đại đoàn kết dân tộc của nước ta; là một trong tác nhân dẫn đến những cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo, đang bị các thế lực thù địch lợi dụng ở nhiều quốc gia, liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước

ta Chính vì thế, công tác dân tộc là một lĩnh vực rộng lớn bao gồm việc tham mưu giúp Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách, pháp luật, giải quyết các vấn đề về dân tộc; việc triển khai chỉ đạo, thực hiện các chính sách, các chương trình, dự án nhằm phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, quốc phòng - an ninh các vùng dân tộc

Chủ thể của công tác dân tộc là toàn hệ thống chính trị, trong đó Đảng đóng vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đoàn kết, tập hợp vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Trong công tác dân tộc, Nhà nước đóng vai trò nòng cốt, với sự liên hợp trách nhiệm của tất cả các cơ quan từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp.Trong đó, cơ quan lập pháp có vai trò xây dựng hành lang pháp lý đảm bảo cho thực hiện các chính sách về dân tộc; cơ quan hành pháp tổ chức triển khai thực hiện các đạo luật, chương trình, dự án; cơ quan tư pháp bảo vệ các quyền của các dân tộc được ghi nhận về mặt lập pháp

Với địa vị pháp lý là cơ quan quyền lực nhà nước cấp huyện, Ủy ban nhân dân huyện lãnh đạo điều hành trực tiếp các hoạt động, trong đó có lĩnh vực dân tộc, trên cơ sở tham mưu của Phòng dân tộc Ủy ban nhân dân huyện ban hành kế hoạch ngắn hạn, dài hạn và các dự án, đề án theo tiến độ nhằm thực hiện các chủ trương, chính sách về dân tộc trên địa bàn Vì là cấp cơ sở

Ủy ban nhân dân huyện có vai trò quan trọng trong việc triển khai, tổ chức

Trang 24

thực hiện các văn bản pháp lý của cấp trên và đưa các văn bản này vào trong cuộc sống góp phần phát triển văn hóa, xã hội, kinh tế vùng đồng bào dân tộc của địa phương Vai trò công tác quản lý của Ủy ban nhân dân huyện là nhằm tạo được sự bình đẳng, công bằng, tiến bộ và đoàn kết đối với các dân tộc, tạo điều kiện cho các dân tộc phát triển nâng cao đời sống, ổn định chính trị tại địa phương

Ủy ban nhân dân huyện còn là cơ quan cấp trên chỉ đạo công tác dân tộc tại các xã, trên cơ sở đánh giá tình hình tại các xã Ủy ban nhân dân huyện ban hành các nghị quyết, kế hoạch và chủ trương để thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc của cấp trên Đồng thời,Ủy ban nhân dân huyện còn tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp xã thực hiện công tác dân tộc

Ủy ban nhân dân huyện với vai trò là chủ thể quản lý công tác dân tộc tại

cơ sở, triển khai thực hiện các văn bản của cấp trên và quản lý cấp xã về công tác dân tộc Do đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện được xem là cơ quan trung gian thực hiện công tác quản lý dân tộc, vừa nắm tình hình tại địa phương để chỉ đạo cấp xã giải quyết những khó khăn và vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân tộc, vừa tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh các giải pháp, biện pháp thực hiện tốt công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh, thông qua báo cáo dân tộc của cấp huyện, Ủy ban nhân dân tỉnh nắm tình hình và đề ra các quyết định, chỉ thị chỉ đạo về công tác này sát với thực tiễn trong tỉnh

Quản lý dân tộc là một bộ phận cấu thành đối tượng quản lý của Nhà nước - đó là quản lý con người - về tộc người gắn với từng vùng lãnh thổ, từng ngành, lĩnh vực trong phân hệ quản lý nhà nước Quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Vì lẽ đó mà trong quản lý nhà nước không gọi là ngành dân tộc mà thường gọi là lĩnh vực dân tộc, thực chất là liên ngành, đa lĩnh vực trong quá trình tác động đến con người - tộc người Do đặc điểm, tính chất phức tạp, nhạy cảm nên công tác dân tộc nói chung và công tác quản lý

Trang 25

nhà nước về công tác dân tộc nói riêng có đặc điểm mang tính đặc thù, tùy theo tình hình đặc điểm của từng địa phương mà có các chính sách thích hợp

để điều chỉnh

- Đặc thù về lĩnh vực quản lý: Công tác dân tộc là lĩnh vực đa ngành, đa lĩnh vực và cần có sự tham gia của nhiều ngành trong hệ thống chính trị Với tính chất và đặc điểm đó, công tác dân tộc đòi hỏi cán bộ phải hiểu biết chuyên môn đa ngành, có tâm huyết đối với sự nghiệp, có phẩm chất chính trị vững vàng, có kiến thức quản lý nhà nước và năng lực chuyên môn tốt, hiểu

rõ đặc điểm dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán và văn hóa truyền thống của đồng bào, phải gần dân, hiểu dân và trọng dân và có kỹ năng vận động quần chúng Cán bộ phải gương mẫu, giữ gìn phẩm chất đạo đức “nói đi đôi với làm” để làm gương vận động, thuyết phục đồng bào thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nên đòi hỏi người cán bộ phải trong sạch “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”

- Đặc thù về địa bàn quản lý: Công tác dân tộc, còn phải thực hiện trên địa bàn rộng, chiếm ¾ diện tích cả nước và là vùng phên giậu của Tổ quốc Địa hình chia cắt phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỉ lệ đói nghèo cao nhất cả nước Đây cũng là địa bàn xung yếu, nhạy cảm về an ninh, chính trị

Tần suất công tác của đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc đến địa bàn vùng dân tộc nhiều hơn các ngành khác Cơ quan làm công tác dân tộc phải thường xuyên xuống cơ sở, nắm bắt tình hình, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào để đề xuất xây dựng chủ trương, chính sách, đồng thời phải tổ chức triển khai thực hiện, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án và chính sách đó Mặt khác, còn có nhiệm vụ thăm hỏi, động viên, vận động đồng bào, giải quyết, xử lý những vấn đề phát sinh trên địa bàn vùng dân tộc, miền núi

- Đặc thù về đối tượng quản lý: Đối tượng công tác dân tộc là các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Với khoảng hơn 13 triệu người, chiếm tỷ lệ 13,8% dân số cả nước, sống rải rác ở 52 tỉnh, thành và tập

Trang 26

trung chủ yếu ở 3 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam bộ14 Mỗi dân tộc có nền văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo truyền thống riêng và phát triển không đều nhau; cá biệt, có những dân tộc rất ít người, không thể tự phát triển, đòi hỏi phải có chính sách đặc thù để bảo tồn và phát triển

Vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn song hành và nhạy cảm trong khi trình

độ dân trí, văn hóa của đồng bào còn thấp, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng làm ảnh hưởng đến sự ổn định về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội

- Đặc thù về hệ thống bộ máy, đội ngũ quản lý:

Dân tộc là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm đã và đang được nhiều người quan tâm, theo dõi trên cả phương diện lý luận cũng như thực tiễn Bởi nó không chỉ là lĩnh vực đặc thù của một dân tộc thiểu số mang nhiều dấu ấn của của lịch sử để lại, có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống, phong tục tập quán và chính sách đại đoàn kết dân tộc của nước ta, là một trong những tác nhân dẫn những cuộc xung đột sắc tộc và tôn giáo, đang được các thế lực thù địch lợi dụng ở nhiều quốc gia; liên quan đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Chính vì thế, hệ thống cơ quan quản lý công tác dân tộc đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương

Do đặc điểm, tính chất phức tạp, nhạy cảm nên công tác dân tộc nói chung và công tác quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác dân tộc nói riêng mang tính đặc thù như: cán bộ công tác trên lĩnh vực này phải làm việc trong điều kiện khó khăn, vất vả, dân trí thấp, nghèo nàn, lạc hậu khác với lĩnh vực quản lý nhà nước khác Mặt khác, chế độ đãi ngộ chưa được quan tâm đúng mức nên có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thường có tâm trạng xin chuyển đổi vị trí công tác, hoặc kiêm nhiệm miễn cưỡng.Đối tượng của lĩnh vực quản lý Nhà nước về công tác dân tộc là già làng, trưởng bản, là người đồng bào dân tộc ít người, có trình dộ dân trí thấp, nhưng vai trò của họ kết hợp với hủ tục có lúc, có nơi vượt qua khỏi giới hạn

14 http://ubdt.gov.vn/wps/portal/tapchidantoc/diendantraodoi/chitiet/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz 9CP0os3hnd0cPE3MfAwMDI39zA08_D6cwJwNT41AvM_2CbEdFAKewGU!/?WCM_GLOBAL_CONTE XT=/wps/wcm/connect/ubdt/tapchidantoc/chuyenmuc/diendantraodoi/9dadd7004011c1b393eabb3da27dd78

Trang 27

của các quy tắc xử sự của luật pháp Chính vì thế, công tác quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện về công tác dân tộc là công tác vận động quần chúng nhất là già làng, người có uy tín vì họ có vai trò vô cùng quan trọng, mang ý nghĩa quyết định trong công tác quản lý nhà nước Song, công tác vận động nếu không được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và đúng đắn

sẽ trở nên lệch chuẩn, làm cho các đối tượng quản lý hiểu lầm và quy chuẩn công tác vận động vào công tác an ninh gây khó khăn cho hoạt động quản lý Nhà nước Do đó, Ủy ban nhân dân huyện để làm tốt công tác vận động già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thì đòi hỏi cán bộ Phòng công tác dân tộc cấp huyện phải thường xuyên có mặt tại các cơ sở, gần gũi với già làng, trưởng bản, những người có tư tưởng tiến bộ, có uy tín

để trao đổi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của họ để vận động, tranh thủ, tìm những điểm tương đồng, khích kệ, khơi dậy, phát huy, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực Việc này, ngoài sự tận tâm, tận lực của mỗi cán bộ, công chức thực thi công vụ dân tộc cần phải có sự quan tâm thỏa đáng về chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước để động viên, bù đắp đối với họ Trên cơ sở đó, Phòng công tác dân tộc tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện trong việc ban hành các chính sách dân tộc trên địa bàn Vì khi giải quyết các vấn đề liên quan đến dân tộc dù chỉ là một vấn đề nhỏ nếu xử lý không tốt sẽ tạo ra điểm nóng phức tạp, hậu quả khó lường Phòng công tác dân tộc phải tỉnh táo, cân nhắc, tìm ra nguyên cớ đưa ra nhiều giải pháp khác nhau Muốn thực hiện được điều đó cán bộ làm công tác dân tộc phải gần gũi với dân, cùng ăn, cùng ở với dân mới nắm được tâm tư nguyện vọng của già làng, của dân để vận động chủ trương chính sách, tác động, điều chỉnh họ ngay từ trong ý nghĩ

Mặt khác, Phòng dân tộc huyện trong công tác tham mưu giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách dân tộc phải thận trọng, sâu sát từng nơi, từng dân tộc vì mọi sơ suất nhỏ nhất có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đến chính sách đại đoàn hết dân tộc

- Đặc thù về chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh: Ngành công tác dân tộc chưa xây dựng được tiêu chuẩn chức danh theo nghề đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc như một số ngành, nghề khác để được hưởng chế độ phụ

Trang 28

cấp nghề theo quy định hiện hành Nguyên nhân là do cơ quan công tác dân tộc có nhiều biến động, thiếu ổn định; việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được quy chuẩn nghề nghiệp chung Mặt khác, công tác dân tộc có tính tổng hợp, mang tính chất đa ngành, đa lĩnh vực nên rất khó trong việc chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh Do vậy, hiện nay, chưa thể xây dựng chế độ phụ cấp ưu đãi nghề như các Bộ, ngành khác, nên việc xây dựng chính sách phụ cấp ưu đãi đặc thù ngành là một yêu cầu tất yếu khách quan

Để bảo đảm tương quan về chế độ, chính sách trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung, ổn định, thu hút và động viên, khuyến khích, cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương, việc xây dựng và trình Chính phủ Nghị định về Chính sách phụ cấp

ưu đãi đặc thù đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc là yêu cầu cấp bách và cần thiết

Qua phân tích nêu trên cho thấy, công tác dân tộc có những đặc thù khác

so với công tác khác như:

Về đối tượng quản lý: là đồng bào dân tộc thiểu số có trình độ văn hóa thấp, có nền văn hóa, phong tục, tập quán rất khác nhau, đa dạng, phong phú Chính vì thế, đối tượng công tác dân tộc hẹp hơn các công tác khác nhưng nó mang tính nhạy cảm, phức tạp hơn

Về cách thức quản lý: Vì thực hiện quản lý đối với lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên công tác dân tộc chủ yếu là vận động, giáo dục là chính, rất ít khi áp dụng các biện pháp mang tính hành chính, mệnh lệnh thể hiện quyền lực nhà nước Trong cách thức quản lý Cơ quan nhà nước rất tăng cường công tác tuyên truyền để đồng bào dân tộc hiểu được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào nhằm ngăn chặn các thế lực thù địch chống phá chia rẻ đoàn kết dân tộc

Cán bộ làm công tác dân tộc cũng đặc thù so với công tác khác, cụ thể ngoài việc sử dụng cán bộ có trình độ, năng lực chuyên môn cao thì Nhà nước ta còn sử dụng người dân tộc, trưởng bản, già làng hoặc những người

Trang 29

có uy tín trong cộng đồng dân tộc thực hiện công tác dân tộc Những cán bộ đặc thù này tuy còn hạn chế về trình độ chuyên môn nhưng tiếng nói của họ rất có uy tín được đồng bào dân tộc tin tưởng, lắng nghe và làm theo, nhờ đội ngũ cán bộ này mà trong thời gian qua Nhà nước ta đã thực hiện quản lý công tác dân tộc rất tốt, phát huy được những giá trị, truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng dân tộc Chính vì thế, việc chuẩn hóa cán bộ làm công tác dân tộc cũng rất khó khăn và chưa có tiêu chuẩn cụ thể Cán bộ làm công tác dân tộc không những linh hoạt, mềm dẻo, mà còn thường xuyên gần gũi, gắn bó với đồng bào dân tộc

Về địa bàn quản lý: Nếu như các công tác khác thường địa bàn quản lý ở thành phố, nông thôn… thì địa bàn quản lý chủ yếu của công tác dân tộc là vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế ít phát triển nên việc quản lý thực hiện rất khó khăn, nhiều vất vả nhất là công tác vận động, triển khai thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

1.4 Vai trò và ý nghĩa quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công tác dân tộc

Cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới của đất nước theo đường lối

“Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc” công tác quản lý nhà nước về dân tộc ngày càng trở thành một lĩnh vực hoạt động quan trọng của bộ máy nhà nước Vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc thể hiện ở những điểm chủ yếu dưới đây:

Thứ nhất, vấn đề dân tộc là một nội dung trọng yếu trong đường lối cách mạng của Đảng ta nhằm giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cội nguồn sức mạnh cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Chính sách dân tộc của Đảng ta luôn nhất quán, đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với thực tiễn vấn đề dân tộc ở nước ta Tuy nhiên, để những nội dung đúng đắn và sáng tạo của chính sách dân tộc đi vào cuộc sống thì vai trò của Ủy ban nhân dân huyện là cần phải tổ chức thực hiện một cách triệt để các chính sách bằng hoạt động quản lý, điều hành về công tác dân tộc

Trang 30

Thứ hai, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng miền, thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục… của các dân tộc hiện nay còn đang ở trong tình trạng kém phát triển Để thực hiện được mục tiêu cấp thiết này, Nhà nước ta đang nổ lực đầu tư cho khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó, đặc biệt quan tâm đầu tư cho đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn Các chiến lược, chương trình, kế hoạch hoạt động hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện thông qua hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc

Thứ ba, để hướng đến mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng một nước kém phát triển, thì cùng với việc tích cực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, một vấn đề quan trọng đặt ra là Đảng và nhà nước ta cần phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc Để làm được điều này không thể thiếu công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, với tính chất là một lĩnh vực hoạt động thường xuyên trong tổ chức, điều hành nền hành chính quốc gia

Thứ tư, hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang là một trong những vấn đề thường xuyên bị các thế lực thù địch lợi dụng để gây rối an ninh chính trị, trật tự xã hội, phá hoại sự ổn định chính trị của chế độ và sự phát triển bền vững của Nhà nước ta Trước tình hình đó, công tác dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng của toàn bộ hệ thống chính trị mà trong đó, hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc có vị trí rất quan trọng

Vai trò Ủy ban nhân dân huyện là cấp cơ sở tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách về dân tộc Mặc dù, Ủy ban nhân dân huyện không trực tiếp ban hành các chủ trương, chính sách chung về công tác dân tộc nhưng Ủy ban nhân dân huyện lại là cơ quan chủ lực tổ chức thực hiện và đưa các chính sách về dân tộc của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Nhờ

Ủy ban nhân dân huyện xây dựng kế hoạch thực hiện tốt công tác quản lý dân tộc tại cơ sở mà tạo được sự chuyển biến tích cực về văn hóa, xã hội và phát

Trang 31

triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc Tạo được sự công bằng, bình đẳng cho đồng bào dân tộc

Trong công tác quản lý Ủy ban nhân dân huyện theo dõi tình hình công tác dân tộc tại địa phương từ đó có những biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch dùng thủ đoạn chia rẻ đoàn kết giữa các dân tộc, giúp cho đồng bào dân tộc nhận thức được âm mưu của của kẻ thù không bị dụ dỗ, lôi kéo bảo vệ an ninh trật tự tại địa phương, đồng thời cũng bảo vệ quyền, lợi cho chính đồng bào dân tộc

Thông qua công tác quản lý Ủy ban nhân dân huyện đã tạo được sự đoàn kết, gắn bó giữa các đồng bào dân tộc với nhau

Ủy ban nhân dân huyện đóng vai trò quyết định trong việc thực hiện đầy

đủ và thành công các dự án, chương trình về công tác dân tộc

Thực hiện việc quản lý về dân tộc Ủy ban nhân dân huyện tham mưu, báo cáo kịp thời tình hình dân tộc tại cơ sở giúp cơ quan cấp trên có đầy đủ thông tin để hoạch định các chủ trương, chính sách về dân tộc sát với thực tiễn đặt ra, tránh được tình trạng hình thức, chủ quan

* Ý nghĩa công tác dân tộc

Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi thủ đoạn để lợi dụng vấn đề dân tộc nhằm can thiệp, phá vỡ sự ổn định hệ thống chính trị, xã hội, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc Một trong những thủ đoạn ấy là kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ dân tộc, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, đặc biệt là khu vực tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số Do đó, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhất quán quan điểm, đường lối, chính sách về dân tộc theo nguyên tắc: “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”15 Ba nguyên tắc trên có quan hệ hữu cơ, hợp thành một thể thống nhất, tác động qua lại lẫn nhau Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển vừa là mục tiêu,vừa là động lực phát triển; vừa là tiền đề, vừa là hệ quả Bình đẳng là cơ sở của đoàn kết dân tộc

15 Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc

Trang 32

Tương trợ giúp nhau cùng phát triển là điều kiện của đoàn kết và bình đẳng dân tộc

Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, Ủy ban nhân dân huyện đã tạo được sự bình đẳng giữa các dân tộc đây là một nguyên tắc cơ bản có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của chính sách dân tộc Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và Pháp luật Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết là quyền bình đẳng về chính trị, chống mọi biểu hiện chia rẽ, kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, tự ty dân tộc… Quyền bình đẳng về kinh tế, đảm bảo sự bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc Nhà nước có trách nhiệm giúp các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để cùng đạt được trình độ phát triển chung với các dân tộc khác trong cả nước Bình đẳng về văn hóa, xã hội bảo đảm cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, làm phong phú và đa dạng nền văn hóa Việt Nam thống nhất Do phần lớn các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay có trình độ phát triển thấp, vì vậy bên cạnh việc bảo đảm quyền bình đẳng toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội cần phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng bào các dân tộc thiểu

số có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác Sự quan tâm tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển, đó chính là biểu hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam

Thực hiện quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện đã tạo điều kiện cho các dân tộc cùng chung sống lâu đời bên nhau, gắn bó máu thịt với nhau, đồng cam cộng khổ, sát cánh cùng nhau dựng nước và giữ nước Truyền thống đoàn kết đã được gìn giữ và phát triển trong suốt tiến trình hàng ngàn năm lịch sử, gắn kết các dân tộc chung sức xây dựng Tổ quốc Việt Nam thống nhất Kế thừa truyền thống đoàn kết quý báu của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, bao gồm cả đoàn kết giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, giữa dân tộc thiểu

Trang 33

số này với dân tộc thiểu số khác, giữa dân tộc ta với các dân tộc khác trên thế giới Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc đang phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, cùng nhau xây dựng đất nước và đều phải có trách nhiệm chăm lo, vun đắp, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”

Do những đặc điểm của lịch sử, hiện nay giữa các dân tộc ở Việt Nam vẫn còn tồn tại tình trạng phát triển không đồng đều Tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển là một tất yếu khách quan trong một quốc gia đa dân tộc Vì vậy, Ủy ban nhân dân huyện đã coi tương trợ giúp nhau cùng phát triển là một nguyên tắc quan trọng của chính sách dân tộc Trên tinh thần đó, các dân tộc

có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn phải có trách nhiệm giúp đỡ các dân tộc có điều kiện phát triển khó khăn hơn Tương trợ lẫn nhau không chỉ là giúp đỡ một chiều, mà chính sự phát triển của dân tộc này là điều kiện để cho các dân tộc khác ngày càng phát triển hơn Giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển thể hiện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Tương trợ, giúp nhau để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhằm thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

Chính sách dân tộc của Nhà nước đã được thể chế bằng Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Điều 5, Hiến pháp năm 2013 đã chế định các quyền của dân tộc: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”

“Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tụctập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình” “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”

Trang 34

Đồng thời, với việc thể chế bằng Hiến pháp và pháp luật, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước được cụ thể hóa trong chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; trong các chương trình, dự án đầu tư phát triển cho vùng dân tộc và miền núi; trong các chính sách, các quy định cụ thể ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… đối với đồng bào dân tộc thiểu số Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ…16

“Công tác dân tộc là phải đảm bảo cho các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”17

; kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi Trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và kết cấu hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự hỗ trợ, giúp đỡ của Trung ương và của các địa phương trong cả nước Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc

là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị

Trang 35

1.5 Thẩm quyền của Ủy ban Nhân dân cấp huyện trong quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc

Trải qua các thời kỳ phát triển, cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị quản lý công tác dân tộc đã có nhiều thay đổi Thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp với cơ chế quan liêu, bao cấp, nặng nề hành chính, cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị chưa phù hợp với thực tiễn của địa bàn dân cư, đặc điểm kinh tế, xã hội, ngay cả cơ cấu tổ chức cũng mang tính áp đặt, chú trọng hình thức, tách rời với thực tế địa phương, chức năng mờ nhạt, xa rời quần chúng, thậm chí chỉ tồn tại trên danh nghĩa18 Tuy nhiên, từ khi thực hiện bước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, hệ thống quản lý về công tác dân tộc có nhiều chuyển biến tích cực, ngày càng hoàn thiện, sát với thực tế bước đầu phát huy được vai trò quản lý của nhà nước đối với công tác quản

lý dân tộc

Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc được quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 có hiệu ngày 01 tháng 01 năm 2016, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Nghị định

số 5/2011/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về công tác dân tộc; Thông tư liên tịch số 4/2010/TTLT-UBDT-BNV của Ủy ban dân tộc và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về công tác dân tộc thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện; Nghị định số 84/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Dân tộc Hệ thống cơ quan quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

18 Viện dân tộc (2004), một số vấn đề đổi mới nội dung quản lý nhà nước và phương thức công tác dân tộc,

Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr.87

Trang 36

Riêng Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thị xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc

Chú thích:

Quan hệ chỉ đạo, chấp hành

Cơ quan chuyên trách về dân tộc, có chức năng tham mưu

Cơ quan thực hiện các thẩm quyền về quản lý dân tộc

Ủy ban dân tộc CHÍNH PHỦ

-Phòng Dân tộc -Phòng quản lý đa ngành, trong đó có công tác dân tộc (VD: Phòng Dân tộc – Tôn giáo)

-Bộ phận chuyên trách thuộc VP.UBND

-1 Ủy viên UBND theo dõi công tác dân tộc (các xã trọng điểm có cán bộ tăng cường)

Trang 37

theo quy định của pháp luật ở địa phương Xét về mặt quản lý Nhà nước thì

không có sự khác nhau giữa cấp quận, huyện, thị xã trong quản lý về dân tộc

Hằng năm, Ủy ban nhân dân huyện xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác dân tộc Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án của địa phương đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Ủy ban nhân dân cấp huyện định kỳ 06 tháng, năm báo cáo về tình hình dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở địa phương mình gửi Ban Dân tộc tỉnh

tổng hợp chung

Tương tự như đối với cấp tỉnh, căn cứ đặc điểm, khối lượng công việc quản lý nhà nước về dân tộc trên địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh mà việc tổ chức đơn vị làm công tác dân tộc có thể thực hiện theo 1 trong

- Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ các tiêu chí nêu trên thì tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc theo một trong hai mô hình sau:

+ Thành lập phòng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực dân tộc và các lĩnh vực khác liên quan nhiều đến lĩnh vực dân tộc (ví dụ: lĩnh vực tôn giáo), trực thuộc Uỷban nhân dân cấp huyện nhưng phải bảo

Trang 38

đảm số phòng ở cấp huyện theo quy định của Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2001 của Chính phủ

- Phòng Dân tộc hoặc Phòng có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc là cơ quan chuyên môn, tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc tại địa phương, có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

+ Trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác dân tộc trên địa bàn và tổ chức, triển khai thực hiện theo các văn bản

đó sau khi được phê duyệt

+ Trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện kế hoạch công tác dài hạn và hàng năm về lĩnh vực dân tộc; hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác sau khi được phê duyệt

+ Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn; công tác định canh, định cư đối với đồng bào dân tộc thiểu số

+ Phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp huyện và các đoàn thể, tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách và vận động đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và các quy định của pháp luật

+ Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan tới dân tộc theo quy định của pháp luật

+ Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về công tác dân tộc + Thực hiện công tác thông tin, báo cáo, thống kê, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện công tác dân tộc trên địa bàn với Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Ban Dân tộc cấp tỉnh

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của Uỷ ban nhân dân cấp huyện như tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của nhà

Trang 39

nước, đặc biệt là các hướng dẫn, kế hoạch, chủ trương của Ủy ban nhân dân cấp huyện

Về cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác hiện có của Uỷ ban nhân dân cấp huyện có chức năng, nhiệm vụ:

Tổ chức phát triển sản xuất, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, làm chuyển biến tích cực tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn phụ trách

Tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số và bảo vệ tài nguyên môi trường Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp với tập quán, văn hóa của mỗi vùng dân tộc

Tổ chức thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh - quốc phòng, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo

Tổ chức công tác tuyên truyền, vận động quần chúng thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng

Cần gần gũi, gắn bó, sâu sát, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc giúp công tác quản lý dân tộc ngày càng chặt chẽ, ngăn chặn trình trạng các thế lực thù địch lợi dụng gây chia rẻ đoàn kết

1.6 Hình thức quản lý nhà nước về công tác dân tộc của ủy ban nhân dân cấp huyện

Hình thức quản lý hành chính nhà nước về công tác dân của Ủy ban nhân dân huyện là những hình thức biểu hiện bên ngoài của hoạt động chấp hành, điều hành các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước thực hiện như: ban hành các văn bản quản lý (văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật), các hoạt động mang tính pháp lý, áp dụng các biện pháp tổ chức trực tiếp và thực hiện những tác động về nghiệp vụ - kỹ thuật, cụ thể:

Trang 40

- Thực hiện những hoạt động mang tính chất pháp lý

Vì là cấp cơ sở nên việc hình thức ban hành văn bản áp dụng pháp luật

và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên và cùng cấp là hình thức chủ yếu của Ủy ban nhân dân huyện nhằm sử dụng để giải quyết các công việc, cụ thể hàng ngày Do đó, văn bản áp dụng quy phạm pháp luật có số lượng rất lớn, có nội dụng, tính chất, mục đích sử dụng rất khác nhau

Ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật Ủy ban nhân dân huyện còn thực hiện những hoạt động mang tính pháp lý trong công tác quản

lý về dân tộc khi phát sinh những điều kiện tương ứng được quy định trước trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng không cần ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Những hoạt động mang tính pháp lý bao gồm rất nhiều các hoạt động cụ thể khác nhau như: Áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn và phòng ngừa vi phạm pháp luật, đăng ký những sự kiện nhất định như

cư trú hộ tịch đối với đồng bào dân tộc; lập và cấp các loại giấy tờ như chứng nhận quyền sử dụng đất, lập biên bản vi phạm trong lĩnh vực dân tộc… Các hoạt động mang tính pháp lý là hình thức quản lý hành chính nhà nước quan trọng, được thực hiện một cách rộng rãi, hoạt động này không có tác động pháp lý trực tiếp nhưng gián tiếp làm phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định Như vậy, thực hiện các hoạt động mang tính pháp lý là hình thức hoạt động để Ủy ban nhân dân huyện tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật Các hoạt động này cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và nghĩa

vụ của công dân Chính vì vậy, khi thực hiện các hoạt động mang tính pháp lý đòi hỏi Ủy ban nhân dân huyện phải thực hiện đúng yêu cầu theo của pháp luật về trình tự, thủ tục, thẩm quyền

- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp

Là hình thức hoạt động không mang tính pháp lý Ủy ban nhân dân huyện tiến hành nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi để ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w