1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận diện tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

58 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số Luận văn cử nhân khác có đề cập đến về vấn đề tranh chấp lãi suất trong HĐTD như: Luận văn cử nhân của tác giả Phạm Lê Ninh 2010 với đề tài “Tranh chấp về lãi suấ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NHẬN DIỆN TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN: HÀ THỊ DIỆU HẰNG

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S LÊ THỊ NGÂN HÀ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Lê Thị Ngân Hà, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.”

Tác giả khóa luận

Hà Thị Diệu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 01

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG… 05

1 1 Lãi suất……….…… 06

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm lãi suất……….…….06

1.1.2 Phân loại lãi suất……….……10

1.1.3 Cơ chế xác định lãi suất trong hợp đồng tín dụng ……… 12

1.2 Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng……… … 18

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng……….…….18

1.2.2 Các dạng tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng thường gặp……… ……….………… … 21

Kết luận chương 1……… ……… ………22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG……….……… ………24

2.1 Tranh chấp về lãi suất cho vay trong hạn……… …… … 24

2.1.1 Thực trạng……….……… … 24

2.1.2 Nguyên nhân………32

2.1.3 Giải pháp, kiến nghị………35

2.2 Tranh chấp về lãi suất nợ quá hạn……….… … 36

2.2.1 Thực trạng……… ……… 36

2.2.2 Nguyên nhân……… …… …39

2.2.3 Giải pháp, kiến nghị……… …… ……40

2.3 Tranh chấp về lãi chậm trả……… …….….… 40

2.3.1 Thực trạng……….… 40

2.3.2 Nguyên nhân……… ……47

2.3.3 Giải pháp, kiến nghị……… …48

Kết luận chương 2………49

KẾT LUẬN CHHUNG………50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, tín dụng ngân hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy, tăng trưởng kinh tế cũng như cân bằng và ổn định thị trường tiền tệ Kinh tế càng phát triển, nhu cầu vốn vay càng lớn khiến cho vai trò của tín dụng ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay càng trở nên quan trọng hơn nữa Mà cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay lại chính

là các hợp đồng tín dụng Do đó, hợp đồng tín dụng (HĐTD) cũng đóng vai trò không hề nhỏ trong việc điều tiết nền kinh tế

Một trong những điểm đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng đó là chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn đối với bên cho vay (các tổ chức tín dụng) Thời hạn cho vay càng dài thì khả năng rủi ro càng lớn Đó có thể là các rủi ro về việc khách hàng không hoàn trả tiền vốn và lãi đúng hạn hoặc ngân hàng không thể xử lý tài sản bảo đảm cho số nợ khi khách hàng không còn khả năng thanh toán, … Do vậy, tranh chấp HĐTD dễ phát sinh, đặc biệt là các tranh chấp về lãi suất thường xuyên xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với các dạng tranh chấp HĐTD khác

Trong những năm qua, pháp luật ngân hàng đã và đang được Nhà nước ta quan tâm và không ngừng hoàn thiện với sự ra đời của rất nhiều văn bản pháp luật như: Luật Các Tổ chức tín dụng 2010, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010,… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đặc biệt mới đây nhất là sự ra đời của Thông tư 39/2016/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sau đây gọi tắt là Thông tư 39) tạo ra khung pháp lý quan trọng, thúc đẩy hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (TCTD), góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Tuy nhiên, các quy định pháp luật về lãi suất trong các văn bản pháp luật lại không thống nhất và còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho việc hiểu và áp dụng pháp luật khi thực hiện HĐTD cũng như khi giải quyết các tranh chấp phát sinh

Thực tiễn xét xử cũng cho thấy việc giải quyết tranh chấp HĐTD tại Việt Nam hiện nay thường kéo dài, dù nội dung tranh chấp thường không quá phức tạp, hầu hết chỉ xoay quanh vấn đề trả nợ gốc và lãi hoặc xử lý tài sản bảo đảm Điều này đã và đang gây tác động xấu đến tiến độ và hiệu quả thu hồi vốn của các TCTD, ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế

Với những lý do trên, tác giả nhận thấy cần có sự nghiên cứu để nhận dạng được các tranh chấp về lãi suất trong HĐTD, tìm hiểu các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phát sinh tranh chấp, từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhất nhằm khắc phục

Trang 6

tình trạng trên, rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, đồng thời bổ sung những thiếu sót của quy định pháp luật, góp phần ổn định nền kinh tế

và thị trường tiền tệ Do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Nhận diện tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng” để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt

nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình tìm kiếm tài liệu và khảo sát chủ yếu về tình hình nghiên cứu tại trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả thấy rằng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề thực tiễn giải quyết tranh chấp lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng Bởi lẽ, đây là một đề tài không hoàn toàn mới mẻ Trên thực tế, các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng xảy ra ngày càng nhiều nhưng lại chỉ chủ yếu xoay quanh các vấn đề về lãi suất, xử lý tài sản bảo đảm khi khách hàng không thanh toán nợ đúng hạn Do

đó, các nhà nghiên cứu cũng chỉ tập trung tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra các giải pháp tối ưu nhất để giải quyết tranh chấp liên quan đến những vấn đề này Cụ thể như: Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Thùy Trang (2014) tại khoa Luật trường đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam”; Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Anh (2013) với đề tài “Giải pháp pháp lý để hạn chế và khắc phục tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng” Đây là hai luận văn thạc sỹ gần đây nhất mà tác giả tìm được nghiên cứu về giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án Tuy nhiên,

cả hai luận văn này chỉ nêu ra những biểu hiện của các dạng tranh chấp phổ biến phát sinh từ HĐTD được giải quyết ở Tòa án Việt Nam và đề xuất giải pháp mà chưa đi sâu vào các tranh chấp cụ thể liên quan đến lãi suất cũng như làm rõ nguyên nhân chủ yếu của việc xảy ra tranh chấp về lãi suất trên thực tế

Ngoài ra, còn có một số Luận văn cử nhân khác có đề cập đến về vấn đề tranh chấp lãi suất trong HĐTD như: Luận văn cử nhân của tác giả Phạm Lê Ninh (2010) với đề tài “Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng – Thực trạng và giải pháp”; Luận văn cử nhân của tác giả Đào Thị Huyền Trang (2014) về “Những tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hướng khắc phục”; Luận văn cử nhân của tác giả Nguyễn Thị Anh Trân (2015) với đề tài “Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng”; Luận văn cử nhân của tác giả Nguyễn Xuân Linh (2016) về “Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án”

Các công trình nghiên cứu được nhắc đến ở trên đều đưa ra một số dạng tranh chấp về lãi suất phổ biến, nêu lên thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm hạn

Trang 7

chế và khắc phục những tranh chấp phát sinh từ HĐTD Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Anh (2013) đã đề cập ở trên dù chỉ nghiên cứu tranh chấp lãi suất ở những khía cạnh chung nhất nhưng nội dung của luận văn này vẫn có nhiều giá trị khoa học, tạo thuận lợi cho bản thân tác giả khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu Bên cạnh đó, gần đây nhất là Luận văn cử nhân của tác giả Nguyễn Xuân Linh (2016) về

“Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án” cũng có một số phân tích cụ thể đối với dạng tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD

Bên cạnh các công trình nghiên cứu trên, vấn đề lãi suất trong HĐTD cũng được đề cập rất nhiều trong các bài viết trên tạp chí như: bài viết “Một số tồn tại trong việc xác định lãi suất tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay” của các tác giả Ngô Vi Trọng, Trần Nguyễn Minh Hải trên tạp chí Ngân hàng số 24 năm 2013; bài viết “Vướng mắc trong áp dụng pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng vay tiền” của tác giả Đoàn Đức Lương hay bài viết của Lương Khải Ân về “Vận dụng đúng quy định của pháp luật về lãi suất, giải quyết tranh chấp tín dụng ngân hàng tại Tòa án” trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 20, 23, 24 năm 2013; bài viết của ThS Vũ Gia Trưởng về “Những vướng mắc khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng trong kinh doanh thương mại tại Tòa án” trên Tạp chí Nghề luật số 2/2016 hoặc trong các đầu sách chuyên khảo như Nhập môn Tài chính – Tiền tệ của trường đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Giáo trình lý thuyết Tài chính – Tiền tệ của trường đại học Kinh tế quốc dân,… Tuy nhiên, những bài viết này lại chưa thật sự nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, luôn thiếu đi khía cạnh kinh tế hoặc khía cạnh pháp luật trong nghiên cứu, khiến cho vấn đề lãi suất chưa được tìm hiểu một cách sâu rộng trong mỗi bài viết

Bản thân tác giả lại tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng có phần khác biệt với những nghiên cứu kể trên Việc Thông tư 39 ra đời và được áp dụng từ ngày 15/03/2017, thay thế Quy chế cho vay trước đây cùng với Bộ luật dân sự (BLDS)

2015 đã có hiệu lực thi hành khiến tác giả nhận thấy cần nghiên cứu thêm những bất cập của quy định pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp về lãi suất phát sinh

từ HĐTD, nhìn nhận vấn đề lãi suất từ cả hai khía cạnh kinh tế và pháp luật, tạo nên

sự thống nhất khi tìm hiểu và vận dụng những quy định pháp luật trên thực tế, nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết và đưa ra hướng khắc phục tranh chấp về lãi suất

Chính vì vậy, đề tài “Nhận diện tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng” mà tác giả lựa chọn vẫn còn là đề tài cần được nghiên cứu và hoàn thiện

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Bằng việc nghiên cứu đề tài trên, tác giả mong muốn nhận diện được nội dung cốt lõi của dạng tranh chấp HĐTD về lãi suất này là gì, đánh giá thực trạng

Trang 8

giải quyết tranh chấp, tìm hiểu nguyên nhân xảy ra tranh chấp, từ đó đưa ra được những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như góp phần cho việc giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn, hạn chế tối đa nguy cơ tranh chấp

có thể xảy ra trên thực tế

Bên cạnh đó, tác giả cũng muốn chỉ ra những bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành cũng như hướng giải quyết của Tòa án khi giải quyết tranh chấp này, từ đó rút ra kinh nghiệm và đề xuất thêm những giải pháp khác phù hợp hơn, góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến điều khoản lãi suất khi thực hiện HĐTD giữa các TCTD và khách hàng, thực trạng giải quyết tranh chấp về lãi suất phát sinh

từ HĐTD, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp và một số giải pháp kiến nghị

Về phạm vi nghiên cứu, do khóa luận chỉ được nghiên cứu ở mức độ cử nhân nên nhiều vấn đề thực tiễn xoay quanh dạng tranh chấp còn chưa được tìm hiểu sâu rộng ở mức độ chi tiết Tác giả chỉ đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề cốt lõi về thỏa thuận lãi suất trong HĐTD, phát hiện ra nguyên nhân và đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện cũng như khắc phục những bất cập của quy định pháp luật còn tồn tại trong quá trình giải quyết tranh chấp trên thực tế Phạm vi nghiên cứu thực tiễn chỉ dừng lại ở những tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD của Tòa án Việt Nam, trong đó chủ yếu là các Tòa án nhân dân tại Thành phố Hồ Chí Minh

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khóa luận được tiến hành nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp logic học, vận dụng nền tảng tư tưởng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin Bên cạnh đó, tác giả cũng áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, liệt kê, so sánh, bình luận, tổng hợp để làm sáng tỏ cho lập luận và quan điểm của tác giả Các phương pháp này được sử dụng kết hợp trong toàn bộ khóa luận, kéo dài xuyên suốt từ phần tổng quan về lãi suất đến phần thực trạng giải quyết tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, mục lục, nội dung khóa luận được trình bày thành 02 (hai) chương:

Chương 1: Tổng quan về lãi suất trong hợp đồng tín dụng

Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

Trang 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong hoạt động cho vay, lãi suất là một trong những vấn đề được cả các tổ chức tín dụng lẫn khách hàng đi vay quan tâm và xem trọng nhất Những quy định

về lãi suất hầu hết đều được thể hiện trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã thỏa thuận Do đó, chúng ta cần nắm rõ các khái niệm cơ bản về hợp đồng tín dụng để

dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các tranh chấp về lãi suất phát sinh

Quy định của pháp luật hiện hành không nêu rõ định nghĩa hợp đồng tín dụng mà HĐTD chỉ được nhắc đến như là một điều kiện để xác lập quan hệ cho vay thông qua các quy định về hoạt động cho vay vốn của TCTD

Xét về bản chất thì quan hệ cho vay là một dạng của quan hệ dân sự nên HĐTD cũng được xem là một dạng hợp đồng dân sự, mà cụ thể là hợp đồng cho vay tài sản Từ khái niệm “hợp đồng vay tài sản” tại Điều 463 Bộ luật dân sự 20151

có thể suy ra khái niệm hợp đồng tín dụng như sau:

Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (gọi là bên cho vay) với khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.2

Tuy là một dạng quan hệ dân sự nhưng tài sản trong HĐTD lại là vốn tiền tệ, một loại tài sản đặc biệt, do đó, HĐTD cũng có những nét riêng biệt Thứ nhất, một bên chủ thể của HĐTD luôn là TCTD hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam (gọi chung là các TCTD)3 Thứ hai, HĐTD luôn tồn tại dưới hình thức văn bản Hiện nay, pháp luật thừa nhận hai hình thức văn bản của HĐTD đó là văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu Cả hai hình thức này đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch.4 Thứ ba, đối tượng của HĐTD luôn là vốn tiền tệ Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ5 Thứ tư, HĐTD luôn nhằm mục đích sinh lợi

1

Điều 463 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Trang 10

Thứ năm, HĐTD thường chứa đựng nguy cơ rủi ro lớn đối với bên cho vay nên thường là hợp đồng mẫu Trên thực tế, HĐTD thường được các TCTD soạn thảo sẵn theo mẫu dựa trên các quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của TCTD đó, nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho hoạt động vay Bên đi vay thể hiện ý chí tham gia quan hệ tín dụng bằng việc chấp nhận hoặc từ chối giao kết hợp đồng HĐTD sẽ có hiệu lực từ thời điểm giao kết trong trường hợp các bên không thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hoặc các TCTD không đưa ra những điều kiện cụ thể để cấp tiền vay.6

Lãi được xem như là khoản lợi nhuận của ngân hàng từ việc cho vay lại một khoản tiền nhàn rỗi được huy động từ dân chúng Xuất phát từ đặc điểm của quan

hệ tín dụng là một vận động mang tính chất hoàn trả, có kèm theo một khoản lợi tức, lượng giá trị quay về luôn lớn hơn lượng giá trị phát ra nên luôn có một khoản tiền dôi ra từ việc ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong thị trường rồi cho vay lại

Đó chính là lãi hay còn gọi là lợi tức tín dụng Nhưng nếu xét ở khía cạnh khác, lãi

sẽ được xem là giá cả mà người đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn của người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định7 Đây là một hình thức bồi thường cho việc sử dụng tài sản của người khác trong một thời hạn nhất định Số tiền nhàn rỗi

là tài sản của người gửi tiết kiệm nhưng nó sẽ là khoản nợ đối với người đi vay Ngân hàng lúc này chỉ đóng vai trò trung gian, là cầu nối giữa người gửi tiết kiệm

và người đi vay đồng thời tìm kiếm lợi nhuận từ vai trò trung gian đó

Nói tóm lại, tùy theo xem xét trên góc độ người đi vay hay người cho vay mà

có những khái niệm khác nhau về lãi Kết hợp cả hai khía cạnh trên, có thể định nghĩa lãi là khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay và là chi

Trang 11

phí mà khách hàng đi vay phải trả cho việc sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian xác định8

Xét về bản chất, lãi suất được ra đời từ lãi, đó chính là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lãi thu được trong một khoảng thời gian nhất định (ngày, tháng, năm, quý, tuần, …) với tổng số vốn gốc cho vay trong cũng thời gian đó9 Lãi suất chính là cơ

sở để tính toán khoản lãi thu được từ hoạt động cho vay của Ngân hàng Theo đó, lãi = lãi suất * tổng số tiền vay * thời hạn cho vay

Từ đó, cho thấy lãi và lãi suất là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt Trong khi lãi được hiểu là một khoản tiền chênh lệch thì lãi suất chính là tỷ lệ phần trăm của khoản tiền chênh lệch đó với số tiền cho vay gốc Việc phân biệt và sử dụng chính xác hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động nghiên cứu và áp dụng pháp luật

Lãi suất trong HĐTD được đề cập và nghiên cứu trong cả hai khía cạnh kinh

tế và pháp luật Trong từng lĩnh vực đều có những cách hiểu riêng về lãi suất, cụ thể:

Dưới góc độ kinh tế, các nhà kinh tế học đưa ra khái niệm lãi suất chủ yếu dựa vào vai trò của nó đối với cung – cầu về tiền trên thị trường tài chính Đầu tiên, lãi suất chính là “giá trị phần trăm giữa tổng số lợi tức tín dụng thu được với tổng số tiền cho vay phát ra trong một khoảng thời gian nhất định”10 Ở đây lãi suất được hiểu là con số tỷ lệ phần trăm cụ thể, được xác định dựa trên số tiền vay gốc và thời hạn vay tương ứng Mặt khác, lãi suất còn được xem là giá trị của quyền sử dụng vốn tiền tệ, cụ thể: “Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau”11, là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn Có thể hiểu vốn tiền tệ ở đây được xem là một loại tài sản để cho vay mượn, người muốn sử dụng tài sản này phải trả chi phí tương ứng được đo bằng lãi suất Mức lãi suất càng cao thì giá trị của quyền sử dụng loại tài sản đặc biệt này càng lớn và ngược lại

10

Dương Thị Bình Minh, Sử Đình Thành (2004), Lý thuyết tài chính tiền tệ, Nhà xuất bản Thống

kê, tr 220.

11

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Ngân hàng – Tài chính (2011), Giáo trình lý thuyết tài

chính- tiền tệ, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, tr 141

Trang 12

Nhìn chung, dù khái niệm về lãi suất được nhận định có phần khác biệt nhau nhưng đều thể hiện lãi suất chính là công cụ để tính toán khoản lợi tức tín dụng mà Ngân hàng nhận được Thông qua đó, chúng ta có thể ước lượng giá trị của quyền

sử dụng nguồn vốn vay và đánh giá được diễn biến của thị trường tiền tệ

Dưới góc độ pháp luật, đầu tiên, theo từ điển Luật học, “lãi suất là tỷ lệ phần trăm tính trên vốn đầu tư để xác định lãi của người đầu tư”12 Cách định nghĩa này

có điểm tương đồng với những khái niệm về lãi suất của các nhà kinh tế học, cho rằng lãi suất là một tỷ lệ phần trăm, thể hiện giá cả của quyền sử dụng vốn tiền tệ

Bên cạnh đó, lãi suất còn được đề cập trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, là đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các văn bản pháp luật này đều không trực tiếp đưa ra một khái niệm cụ thể thế nào là lãi hay lãi suất mà chỉ gián tiếp đề cập đến hai khái niệm này thông qua các quy định về xác định lãi, mức lãi suất, phương thức tính lãi suất Cụ thể, Điều 468 BLDS 2015 quy định về lãi suất cho vay trong hợp đồng vay tài sản hay những quy định về ấn định mức lãi suất tại khoản 1 Điều 12 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010, khoản 2 Điều 91 Luật Các TCTD 2010 Ngay cả trong Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN mới đây thay thế cho Quy chế cho vay cũ ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 31/12/2001 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành, được sửa đổi,

bổ sung bằng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 03/02/2005 (sau đây gọi tắt là Thông tư 39) cũng không nêu rõ định nghĩa lãi hay lãi suất mà chỉ quy định chung lãi suất được điều chỉnh như thế nào, xác định ra sao khi thực hiện HĐTD, nhằm thể hiện vai trò của pháp luật đối với hoạt động cho vay trong nền kinh tế thị trường

Có thể khát quát về khái niệm lãi suất như sau: Lãi suất là tỷ lệ phần trăm

giữa tổng số tiền vay ban đầu với tổng số lợi tức mà TCTD thu được từ hoạt động cho vay tương ứng với thời hạn vay xác định Lãi suất đóng vai trò vừa là khoản lợi nhuận cho Ngân hàng để bù đắp chi phí hoạt động, thiết lập dự phòng và duy trì hoạt động của Ngân hàng, vừa là công cụ hữu hiệu để NHNN điều tiết cung cầu về tiền, thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa

và nhà xuất bản Tư pháp Hà Nội, tr 452, 453.

Trang 13

thời gian nhất định13 Trong quan hệ này luôn tồn tại hai bên đó là người đi vay và người cho vay Trong khi bên đi vay sẽ được thỏa mãn nhu cầu về vốn trong một khoảng thời gian xác định thì bên cho vay lại nhận được một khoản hoàn trả tương ứng khi nhượng lại quyền sử dụng nguồn vốn cho bên đi vay Sự hoàn trả này không những được bảo tồn về mặt giá trị mà còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức hay còn gọi là lãi Như đã phân tích, lúc này, lãi được xác định dựa trên cơ sở lãi suất, tổng số tiền vay gốc và thời hạn cho vay Như vậy, lãi suất đóng vai trò là một trong những yếu tố hình thành nên quan hệ tín dụng

Thứ hai, lãi suất là kết quả của sự thỏa thuận có giới hạn Về bản chất, HĐTD vẫn được xem là một loại hợp đồng dân sự, trong đó, các bên được tự do thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên Pháp luật hiện hành cho phép TCTD và khách hàng đi vay được thỏa thuận mức lãi suất dựa trên cơ sở bình đẳng, tự do, bảo đảm cân bằng lợi ích của các bên Tuy nhiên, sự thỏa thuận này phải phù hợp với các quy định của pháp luật chuyên ngành nói riêng và pháp luật dân sự nói chung, nhằm ổn định nền kinh tế, thực hiện chính sách tiền tệ Đây chính là yếu tố “có giới hạn” của thỏa thuận về lãi suất Trên thực tế, mức lãi suất cho vay thường do các Ngân hàng thương mại tự ấn định, dựa trên lợi thế TCTD chính là người nắm giữ nguồn vốn mà người đi vay đang cần

Thứ ba, lãi suất là tỷ lệ phần trăm để xác định giá cả phải trả cho khoản vốn nhàn rỗi được huy động từ dân chúng Như đã đề cập ở trên, dưới góc độ kinh tế, lãi suất chính là giá cả của quyền sử dụng vốn tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ

cá nhân, tổ chức trong xã hội Như vậy, muốn xác định chính xác giá trị của quyền

sử dụng vốn trên cần xây dựng lãi suất dưới dạng một tỷ lệ phần trăm Thông thường, lãi suất được tính bằng đơn vị %/năm, %/tháng, … Từ đây, chúng ta có thể tính toán được khoản tiền lãi – lượng giá cả mà khách hàng đi vay phải trả cho bên cho vay (các TCTD)

Thứ tư, lãi suất cho vay phụ thuộc vào loại vốn vay, mục đích và thời hạn cho vay Lãi suất cho vay phụ thuộc vào loại vốn vay là đồng Việt Nam hay ngoại

tệ Đối với từng loại vốn sẽ có một mức lãi suất riêng biệt được áp dụng Bên cạnh

đó, lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng Các mục đích cho vay khác nhau sẽ được áp dụng các mức lãi suất khác nhau Nguy

cơ rủi ro khi trả nợ của bên vay được đánh giá một phần dựa vào mục đích vay vốn của họ Các khoản vay dùng trong đầu tư sản xuất, phát triển, mở rộng quy mô kinh doanh thường sẽ áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các khoản vay tiêu dùng Các

13

Phan Thị Cúc, Đoàn Văn Huy (2010), Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ (tái bản lần thứ hai),

Nhà xuất bản Thống kê, tr 267.

Trang 14

TCTD sẽ căn cứ vào khả năng tài chính, sự tín nhiệm và mục đích sử dụng vốn vay

để ấn định mức lãi suất cho vay Ngoài ra, thời hạn cho vay thường được áp dụng tỷ

lệ thuận với lãi suất cho vay Bởi lẽ, thời hạn cho vay luôn gắn liền với rủi ro của bên cho vay Thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro mà Ngân hàng phải gánh chịu càng lớn, do đó, lãi suất cho vay dài hạn thường cao hơn so với lãi suất cho vay ngắn hạn

Thứ năm, lãi suất cho vay luôn chịu sự tác động của các loại lãi suất khác, đặc biệt là lãi suất huy động vốn Trên thực tế, ngoài lãi suất cho vay còn có rất nhiều loại lãi suất khác tồn tại tương ứng với từng hoạt động kinh doanh của các TCTD như: lãi suất huy động vốn, lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu, lãi suất liên ngân hàng, … Khi một trong các loại lãi suất trên thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của lãi suất cho vay Ví dụ như khi lãi suất huy động vốn tăng thì lãi suất cho vay cũng tăng theo do hai loại lãi suất này là cơ sở để các ngân hàng thương mại xác định lợi nhuận thu được trong kinh doanh, tránh tình trạng thua lỗ Do đó, khi xác định mức lãi suất cho vay, các TCTD cần đánh giá đúng đắn sự tác động của những lại lãi suất khác, kết hợp với chính sách điều hành tiền tệ của Nhà nước và mục tiêu lợi nhuận của mình để đưa ra mức lãi suất cho vay phù hợp nhất

1.1.2 Phân loại lãi suất

Tùy thuộc vào cách lựa chọn tiêu chí và mục tiêu phân loại, lãi suất có thể được phân chia thành nhiều loại tương ứng khác nhau Tuy nhiên, để tìm hiểu rõ hơn về nội dung tranh chấp sẽ nói ở phần chương II thì tác giả lựa chọn tiêu chí thời hạn áp dụng lãi suất để phân loại Theo tiêu chí, có thể chia lãi suất thành ba loại là lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất để tính lãi chậm trả

 Lãi suất cho vay trong hạn

Lãi suất cho vay trong hạn là mức lãi suất do các bên thỏa thuận áp dụng trong thời hạn vay, được thể hiện rõ trong HĐTD Mặc dù không được quy định cụ thể về khái niệm trong các văn bản quy phạm pháp luật nhưng thông qua thực tiễn

có thể thấy rằng lãi suất cho vay trong hạn đã được các ngân hàng thương mại ấn định từ trước và có thỏa thuận với khách hàng khi ký kết HĐTD Đây chính là căn

cứ để tính toán khoản lợi tức mà ngân hàng thu được từ hoạt động cho vay dựa trên

số tiền vay gốc tương ứng thời hạn vay nhất định

 Lãi suất nợ quá hạn

Lãi suất nợ quá hạn được áp dụng khi bên vay có sự chậm trả nợ gốc và thường cao hơn lãi suất cho vay trong hạn, nhằm mục đích bù đắp phần thiệt hại do

sự vi phạm nghĩa vụ của bên đi vay gây ra

Trang 15

Lãi suất nợ quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn Vậy như thế nào là khoản nợ quá hạn? Theo quy định tại Điều 20 Thông tư 39 thì nợ quá hạn có thể hiểu là khoản dư nợ gốc mà khách hàng không trả được theo đúng thời hạn vay

đã thỏa thuận trong HĐTD và không được TCTD chấp thuận đề nghị gia hạn thời hạn trả nợ Đối với khoản vay chưa quá hạn trả nợ gốc nhưng có lãi tiền vay quá hạn thì TCTD không bắt buộc phải chuyển nợ gốc sang quá hạn Khi đó, TCTD thực hiện theo thỏa thuận hai bên đã ký tại thời điểm cấp tín dụng Như vậy, khoản vay chỉ bị chuyển thành nợ quá hạn khi quá hạn trả nợ gốc mà khách hàng chưa trả hoặc không trả được toàn bộ số dư nợ gốc trong thời hạn vay đã ấn định trước Lúc này, ngân hàng có quyền áp dụng lãi suất nợ quá hạn để tính khoản tiền lãi quá hạn tương ứng với số dư nợ gốc bị quá hạn mà bên đi vay phải thanh toán để bù đắp thiệt hại cho việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ

 Lãi suất để tính lãi chậm trả

Mặc dù đã xuất hiện từ trước khi Thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực nhưng có rất nhiều ý kiến trái chiều không chấp nhận lãi suất này vì nó gây ra hiện tượng lãi chồng lãi hay lãi mẹ đẻ lãi con, đi ngược lại với tinh thần của pháp luật và tạo gánh nặng cho người đi vay Bởi lẽ, những quy định trước đây trong BLDS

200514 và trong Quy chế cho vay15 ban hành kèm theo Quyết định NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam thì trong trường hợp khoản vay bị chuyển

1627/2001/QĐ-nợ quá hạn, bên vay chỉ có nghĩa vụ trả 1627/2001/QĐ-nợ gốc và lãi theo lãi suất 1627/2001/QĐ-nợ quá hạn mà không cho phép TCTD áp dụng lãi chậm trả để phạt nhiều lần về cùng một vi phạm trong hợp đồng tín dụng Vì nếu cho phép phạt nhiều lần thì quy định mức lãi suất phạt quá hạn không được vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay được đề cập trong Quy chế cho vay đã bị vô hiệu hóa, đồng thời khiến người đi vay càng lâm vào tình cảnh khó khăn, không có khả năng thanh toán nợ, làm gia tăng thêm nợ xấu, ảnh hưởng đến nền kinh tế

Tuy nhiên, hiện nay, các quy định trong BLDS 2015 nói chung và trong Thông tư 39/2016/TT-NHNN nói riêng đã trực tiếp thừa nhận áp dụng lãi suất để tính lãi chậm trả khi khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi Cụ thể điểm a khoản 5 Điều 466 BLDS 2015 và điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định lãi suất chậm trả đối với số tiền lãi được giới hạn là không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả Quy định mới này của

Trang 16

pháp luật giúp cho các TCTD hạn chế được nguy cơ rủi ro khi cho vay những khoản vay quá cao với thời hạn vay dài, gia tăng tính an toàn trong hoạt động cho vay, góp phần ổn định và duy trì hoạt động của ngân hàng Nhưng đối với người đi vay đây lại là một quy định tiêu cực vì làm tăng thêm gánh nặng khi họ đã không có khả năng trả nợ đối với các khoản vay có lãi suất cao nhưng lại còn phải trả thêm một khoản lãi chậm trả bên cạnh việc trả lãi quá hạn

1.1.3 Cơ chế xác định lãi suất trong hợp đồng tín dụng

Lãi suất là công cụ để Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, do đó, việc xác định lãi suất như thế nào cho phù hợp với diễn biến của nền kinh tế thị trường là rất cần thiết Chính vì vậy, cần phải xem xét lãi suất ở nhiều khía cạnh, dưới góc độ vĩ mô, vi mô và cả trên hai phương diện kinh tế và pháp luật

Thứ hai, tình trạng lạm phát cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến lãi suất Việc điều hành lãi suất phải thực sự mềm dẻo, linh hoạt theo sự biến động của thị trường tiền tệ Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Mặc dù thua lỗ lớn nhưng TCTD vẫn phải nâng lãi suất huy động lên cao, thậm chí gần sát lãi suất cho vay để huy động vốn, đảm bảo hoạt động kinh doanh, gây bất ổn cho cả hệ thống ngân hàng thương mại Lúc này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền lưu thông trên thị trường bằng việc tăng lãi suất16 Bởi lẽ, khi NHNN tăng lãi suất, sẽ trực tiếp làm cho người đi vay không còn muốn vay, hạn chế được lượng tiền lưu

16

Phạm Huy Hùng, “Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động của ngân hàng và các giải pháp kiềm chế lạm phát”, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/09/15/1669/ , truy cập ngày 14/07/2017

Trang 17

thông trên thị trường, làm giảm lạm phát, cân bằng hóa nền kinh tế Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dự đoán lãi suất cho vay khi nền kinh tế có xu hướng lạm phát tăng Các TCTD cần đưa ra một mức lãi suất cho vay hợp lý để vừa đảm bảo lợi nhuận kinh doanh vừa góp phần ổn định giá trị đồng tiền trong nước

Thứ ba, theo lý thuyết thanh khoản về lãi suất của nhà kinh tế học người Anh, John Maynard Keynes, lãi suất còn được cân bằng bởi sự tác động của tổng cầu và tổng cung tiền tệ Cung – cầu tiền tệ có thể hiểu là tổng lượng tiền tệ được sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trường và tổng nhu cầu tiền mà thị trường cần

Sự thay đổi về cung – cầu vốn tiền tệ sẽ làm thay đổi lãi suất Mối quan hệ này được biểu hiện: khi mức cung tiền tệ tăng so với cầu tiền tệ thì lãi suất sẽ giảm và ngược lại Cụ thể hơn, khi thị trường hàng hóa phát tiển, các doanh nghiệp sẽ muốn mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng, mua bán trao đổi hàng hóa tăng cao dẫn đến việc thị trường bị thiếu hụt về nguồn vốn, cầu tiền tệ tăng Khi đó, NHNN sẽ thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế bằng cách “bơm” tiền vào lưu thông thông qua công cụ lãi suất Lúc này, lãi suất cho vay giảm, kích thích người

đi vay nhiều hơn Đến khi mức lãi suất xuống thấp, nhu cầu vốn ngày càng tăng lên thì NHNN sẽ cân bằng lại bằng cách tăng lãi suất, kích thích ngược lại nhu cầu gửi tiền tiết kiệm để huy động tiền từ dân chúng Lúc này, lãi suất cho vay tại các ngân hàng thương mại cũng tăng theo, đảm bảo cho hoạt động cung ứng vốn ra thị trường

Như vậy, ứng với từng biến động trên thị trường, từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, Nhà nước cần đưa ra các chính sách điều hành lãi suất linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp với sự vận động và nhu cầu vốn trên thị trường

 Một số phương pháp xác định lãi suất cho vay thường gặp

Các TCTD khi cho vay luôn mong muốn nhận được lãi suất cao để bù đắp hoàn toàn rủi ro liên quan đến khoản vay và đảm bảo mức lợi nhuận mong muốn Tuy nhiên, mức lãi suất cũng phải phù hợp với điều kiện cho bên vay có thể thanh toán nợ gốc, lãi vay mà không phải tìm tới những người cho vay khác hay các nguồn vốn khác trên thị trường Khi cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngày càng cao, TCTD càng cần phải duy trì giá của các khoản tín dụng tại mức hợp lý, phù hợp với mặt bằng chung Như vậy, việc đưa ra một mức lãi suất cho vay hợp lý đảm bảo cạnh tranh được, bù đắp được rủi ro từng khoản vay và kinh doanh có lãi là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng Sau đây là một số phương pháp xác định lãi suất mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng

Trang 18

- Xác định lãi suất cho vay dựa trên tổng hợp chi phí 17 :

Dựa trên các nhân tố tác động đến lãi suất, giả định lãi suất tính trên bất kỳ khoản vay nào cũng bao gồm bốn thành phần: (1) Chi phí huy động vốn phục vụ

cho vay; (2) Chi phí hoạt động gồm các chi phí như: chi phí trang thiết bị, chi phí nhân viên, chi phí quảng cáo, tiếp thị, …; (3) Phần bù đắp cần thiết cho những rủi ro gắn với mỗi khoản vay và (4) Mức lợi nhuận mà các TCTD mong đợi

Như vậy, lãi suất cho vay được xác định như sau:

Lãi suất = Chi phí huy động vốn (1) + Chi phí hoạt động (2) + Phần bù rủi ro

tín dụng (3) + Mức lợi nhuận mục tiêu (4)

Mỗi thành phần trên có thể được tính bằng tỷ lệ % trên dư nợ khoản vay Để

xác định các thành phần trên, TCTD cần có một hệ thống thông tin quản lý được thiết kế hiệu quả

Ưu điểm của phương pháp này là TCTD có thể chủ động điều chỉnh mức lãi suất cho vay sao cho phù hợp với mục tiêu lợi nhuận và chi phí hoạt động của mình Điều này giúp TCTD luôn đảm bảo sẽ thu được một khoản lợi tức phát sinh từ hoạt động cho vay – mục đích kinh doanh chính của TCTD Bên cạnh đó, TCTD cũng không còn phụ thuộc quá nhiều vào mức lãi suất cơ bản mà NHNN đưa ra, phần nào giúp TCTD kịp thời ứng phó được sự thay đổi trong từng giai đoạn khác nhau của nền kinh tế, đáp ứng quy luật cung – cầu về vốn trên thị trường tiền tệ Tuy nhiên, hạn chế của việc xác định lãi suất cho vay theo phương pháp tổng hợp chi phí là đòi hỏi các TCTD phải xác định được chính xác những chi phí trong hoạt động cho vay Nhưng trên thực tế, TCTD thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc phân bổ chi phí hoạt động cho rất nhiều dịch vụ khác nhau trong hoạt động ngân hàng Do đó, việc xác định chính xác những chi phí trên là hoàn toàn không khả thi Hơn nữa phương pháp tổng hợp chi phí giả định rằng ngân hàng có thể định giá khoản vay mà không cần tính tới yếu tố cạnh tranh trên thị trường tín dụng và bỏ qua yếu tố thời gian vay Điều này gây khó khăn cho việc thực hiện khi thực tế hiện nay, yếu tố cạnh tranh tác động rất lớn đến lợi nhuận dự kiến của một khoản vay

- Xác định lãi suất hiệu dụng (thực trả) dựa vào lãi suất danh nghĩa 18 :

Khi thực hiện hoạt động cho vay hay huy động vốn, hầu hết các ngân hàng đều công bố một mức lãi suất cố định (ví dụ 7,3%/năm) Lãi suất đó gọi là lãi suất

17

“Tài liệu Luận văn Phương pháp xác định lãi suất cho vay qua xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Việt Nam”, http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-phuong-phap-xac-dinh- lai-suat-cho-vay-qua-xep-hang-tin-dung-doanh-nghiep-tai-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-

42117/ , truy cập ngày 14/07/2017

18

Nguyễn Minh Kiều, tlđd (8), tr 135, 136

Trang 19

danh nghĩa (nominal rate) Tuy nhiên, khi gửi tiền hoặc cho vay tiền thì mức lãi suất trên thực tế mà khách hàng được hưởng hay phải trả khác so với lãi suất đã công bố, gọi là lãi suất hiệu dụng (effective rate) hay lãi suất thực trả Việc xác định lãi suất thực trả dựa trên lãi suất danh nghĩa phụ thuộc vào kỳ hạn vay và lãi suất áp dụng của mỗi kỳ hạn Chẳng hạn, một doanh nghiệp vay một số tiền P với lãi suất cố định ban đầu là r%/năm, có số kỳ hạn tính lãi trong năm là s Lúc này, lãi suất hiệu dụng (re) được xác định như sau: re = (1 + r/s)s – 1

Phương pháp này áp dụng phổ biến hơn vì lãi suất thực trả thường luôn cao hơn lãi suất danh nghĩa Các ngân hàng sẽ thu lại được nhiều lợi nhuận hơn và mức lãi suất lại không quá phụ thuộc vào NHNN hay mức cung – cầu tiền tệ Hơn nữa, phương pháp này cũng giúp ngân hàng tăng cường tính cạnh trạnh khi đưa ra mức lãi suất ban đầu không cao, nhằm thu hút khách hàng vay vốn nhưng vẫn đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận của mình Nhưng ở khía cạnh người đi vay, việc áp dụng mức lãi suất này gây lúng túng trong việc tính toán khoản lãi phải trả và đôi khi ảnh hưởng xấu đến chi tiêu tài chính của chính người đi vay

1.1.3.2 Dưới góc độ quy định của pháp luật

 Xác định mức lãi suất trong hạn

BLDS 2005 và BLDS 2015 đều tồn tại những quy định khác nhau để điều chỉnh mức lãi suất cho vay trong hạn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS 2015, “lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” Quy định mới này của BLDS đã đặt ra một mức “trần” lãi suất mà các bên được cho vay, hạn chế được tình trạng bên cho vay lợi dụng ưu thế nắm giữ tài sản vay mà đưa ra mức lãi suất cho vay quá cao, không đảm bảo được lợi ích cho bên đi vay So sánh với quy định của BLDS

2005 về mức lãi suất tối đa là 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố, thấy rằng: Mức lãi suất theo BLDS 2015 cao hơn so với BLDS 2005 nhằm mục đích giảm thiểu sự chênh lệch về mức lãi suất trong các hợp đồng dân sự thông dụng với các hợp đồng tín dụng, bình đẳng hóa giữa các chủ thể khi tham gia vào các giao dịch vay tài sản Bên cạnh đó, BLDS 2015 cũng đã thay đổi quy định “trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản của NHNN tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”19 của BLDS 2005 bằng việc áp dụng mức lãi suất “cứng” là 10%/năm của khoản tiền vay20

Trang 20

Đối với pháp luật ngân hàng, hiện nay, lãi suất cho vay được điều chỉnh trực tiếp bằng các quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các TCTD, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN thay thế cho Quy chế cho vay trước đây Theo đó, TCTD và khách hàng được tự do thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp áp dụng mức lãi suất tối đa đối với cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam đối với 05 lĩnh vực ưu tiên do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ21 Quy định mới này đã chốt lại vấn đề xác định mức lãi suất cho vay trong HĐTD là không tồn tại một mức

“trần” cụ thể nào Mức “trần” lãi suất chỉ được áp dụng đối với trường hợp cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam thuộc các lĩnh vực ưu tiên quy định tại Thông tư 39/2016/TT-NHNN Quy định này mở rộng thêm quyền được tự do thỏa thuận về lãi suất giữa khách hàng và TCTD cho vay, giúp các ngân hàng đảm bảo được mục tiêu lợi nhuận và tăng tính cạnh tranh trên thị trường tiền tệ

Tuy pháp luật chuyên ngành đã quy định rất rõ về cơ chế lãi suất thỏa thuận nhưng hiện vẫn còn tồn tại một số vướng mắc xoay quanh vấn đề có được áp dụng

“trần” lãi suất 20%/năm trong BLDS 2015 để điều chỉnh quan hệ cho vay trong HĐTD hay không Giải đáp thắc mắc trên, NHNN đã có ý kiến về việc xác định lãi suất cho vay như sau:

Lãi suất cho vay thực hiện theo quy định tại Luật các TCTD 2010 Căn cứ khoản 3 Điều 90, khoản 2 Điều 91 Luật các TCTD 2010, Thông tư số 39 đã quy định cụ thể về lãi suất cho vay Theo đó, lãi suất cho vay do TCTD và khách hàng thỏa thuận theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng; trừ trường hợp khách hàng vay vốn nhằm đáp ứng một số nhu cầu vốn và khách hàng này đáp ứng các điều kiện vay vốn, được TCTD đánh giá là có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh, thì lãi suất cho vay do TCTD và khách hàng thỏa thuận, nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời

kỳ22

Hơn thế nữa, BLDS 2015 cũng đã loại trừ trường hợp không áp dụng mức

“trần” lãi suất 20%/năm ở cụm từ “trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” nên việc áp dụng pháp luật chuyên ngành ngân hàng, cụ thể là áp dụng Thông

21

Khoản 1, khoản 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (sau đây gọi tắt là Thông tư 39).

22

Theo khoản 5 Công văn số 1576/NHNN-CSTT của NHNN ngày 14 /03/2017 về việc giải đáp các câu hỏi liên quan đến quy định tại Thông tư số 39/2016/TT-NHNN

Trang 21

tư 39 để điều chỉnh thỏa thuận lãi suất cho vay trong HĐTD là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

Tóm lại, mức lãi suất cho vay trong hạn sẽ do các TCTD và khách hàng vay

tự thỏa thuận khi ký kết HĐTD trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, không phụ thuộc lãi suất cơ bản của NHNN hay mức “trần” lãi suất trong BLDS 2015

 Xác định mức lãi suất nợ quá hạn và lãi suất tính lãi chậm trả

Thời hạn vay là điều khoản bắt buộc trong mọi HĐTD để đảm bảo an toàn và mục tiêu lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của các TCTD Chính vì thế, khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ phát sinh, bên vay chắc chắn phải chịu những khoản phạt nhất định để bù đắp thiệt hại cho bên cho vay Trong HĐTD, khi bên vay không trả nợ đúng hạn và không được TCTD chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư

nợ gốc của HĐTD đó sẽ chuyển thành nợ quá hạn23

Lãi suất nợ quá hạn được xác định theo BLDS 2015 và Thông tư 39 có phần tương đồng và đều dựa trên nguyên tắc sau:

Đối với khoản nợ gốc bị quá hạn và lãi chưa đến hạn thanh toán, hai khoản này đều bị xem là nợ quá hạn nhưng áp dụng mức lãi suất khác nhau:

+ Với nợ gốc quá hạn: áp dụng lãi suất nợ quá hạn Lúc này lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả24

+ Với nợ lãi quá hạn, vẫn áp dụng lãi suất cho vay trong hạn chính là mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong HĐTD

Đối với khoản nợ gốc chưa đến hạn thanh toán nhưng nợ lãi quá hạn thì theo tinh thần của Thông tư 39, các TCTD không nhất thiết phải chuyển nợ gốc sang nợ quá hạn25 mà có thể áp dụng lãi suất tại điểm b khoản 4 Điều 13 Thông tư 39 để tính lãi chậm trả Theo đó, mức lãi suất chậm trả sẽ do hai bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời hạn chậm trả BLDS 2015 cũng có quy định tương tự như trên tại điểm a khoản 5 Điều 466

Quy định này sẽ thúc đẩy được trách nhiệm trả nợ của bên vay, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người cho vay, phù hợp với xu thế của thực tiễn trong các giao dịch tranh chấp hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, người đi vay sẽ là chủ thể gặp bất lợi khi thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD nếu áp dụng quy định trên vì phải chịu hai khoản phạt khác nhau cho sự vi phạm nghĩa vụ trả nợ

Trang 22

1.2 Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng

1.2.1.1 Khái niệm

Khái niệm tranh chấp là một khái niệm pháp lý và có nhiều cách hiểu Theo

từ điển Luật học (Black’s Law Dictionary) do West Pub Co xuất bản năm 1999, khái niệm “tranh chấp” được hiểu là sự mâu thuẫn hay bất đồng về các yêu cầu hay quyền lợi, sự đòi hỏi về yêu cầu hay quyền lợi từ một bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược từ bên kia26

Từ đó, có thể suy ra định nghĩa tranh chấp phát sinh từ HĐTD như sau:

“Tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ

HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ hay lợi ích phát sinh từ HĐTD”27

Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau có thể dẫn đến phát sinh tranh chấp HĐTD Nhưng, hầu hết các tranh chấp này đều bắt nguồn từ hành vi vi phạm nghĩa

vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng là chủ yếu Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp

vi phạm đều khiến tranh chấp phát sinh mà nó chỉ phát sinh khi các bên có sự biểu hiện những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng ra bên ngoài bằng những hành vi phản kháng có giá trị chứng cứ cụ thể Trong thực tiễn, việc xác định đúng đắn và chính xác thời điểm phát sinh tranh chấp có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định thời hiệu khởi kiện cũng như lựa chọn phương án giải quyết tranh chấp phù hợp, bảo vệ lợi ích Nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong xã hội

Như vậy, tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD là sự xung đột hay bất đồng về quyền và nghĩa vụ các bên phải thực hiện liên quan đến điều khoản lãi suất,

đã được thỏa thuận trong HĐTD Đó có thể là tranh chấp về việc vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền vốn và lãi, cũng có thể là tranh chấp về mức lãi suất, cách áp dụng lãi suất hay phương thức tính lãi suất

1.2.1.2 Một số đặc điểm cơ bản

Tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD về cơ bản vẫn là một loại tranh chấp phát sinh trên cơ sở HĐTD nên vẫn mang những nét đặc trưng cơ bản của tranh chấp HĐTD

Thứ nhất, tranh chấp phát sinh từ HĐTD luôn có sự tham gia của TCTD, bên còn lại là cá nhân, tổ chức đi vay Trong hầu hết các vụ tranh chấp đã xảy ra trên

26

Nguyễn Anh (2013), Giải pháp pháp lý để hạn chế và khắc phục những tranh chấp phát sinh từ

hợp đồng tín dụng, Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường đại học Luật Tp HCM, tr 11

27

Trường đại học Luật Hà Nội, tlđd (2), tr 185.

Trang 23

thực tế, nguyên đơn thường là các TCTD còn bị đơn lại là người đi vay Các HĐTD trên thực tế thường do chính các TCTD soạn thảo theo mẫu và tự đề ra quy định về nghĩa vụ của bên vay (nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, lãi suất cho vay, thời hạn trả nợ, phạt vi phạm,…) để đảm bảo bên vay sẽ thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ Vì thế, tình trạng bên vay không trả đúng hạn nợ gốc và lãi là điều rất dễ xảy ra, dẫn đến việc phát sinh tranh chấp Xuất phát từ lợi thế nắm giữ quyền sử dụng vốn, các TCTD luôn là bên “nắm đằng chuôi” trong quan hệ HĐTD28 nên các vi phạm nghĩa vụ thường phát sinh từ khách hàng vay mà ít khi xuất phát từ hành vi của các ngân hàng Trong trường hợp đó, TCTD sẽ là chủ thể bị xâm phạm lợi ích nên thường là nguyên đơn trong vụ việc Bị đơn phần lớn sẽ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ

sở sản xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể ở các khu vực làng nghề do làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng khó khăn, không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn

Thứ hai, đối tượng của tranh chấp bao giờ cũng là vốn tiền tệ, giá trị của tranh chấp thường lớn Như đã phân tích, đối tượng của HĐTD luôn luôn là vốn tiền tệ nên tranh chấp phát sinh từ HĐTD cũng luôn gắn liền với đối tượng này Bên cạnh đó, trong hoạt động cho vay của TCTD, tùy thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay mà khoản vay cho từng khách hàng sẽ có giá trị khác nhau HĐTD cho vay với mục đích sản xuất, kinh doanh trong các dự án trung và dài hạn thường mang giá trị lớn hoặc rất lớn, có thể lên đến hàng chục, hàng trăm tỷ đồng Việc phát sinh tranh chấp từ những HĐTD có giá trị lớn này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của TCTD nói riêng và thậm chí là nền kinh tế nói chung

Thứ ba, hầu hết trong các tranh chấp HĐTD xảy ra đều không có mâu thuẫn liên quan đến nợ vốn Nợ vốn là khoản tiền vay cố định mà bên vay có yêu cầu vay

và được TCTD chấp thuận cho vay Khoản tiền này được các bên thỏa thuận và có bằng chứng cụ thể được thể hiện trong HĐTD đã ký kết, biên bản giải ngân của TCTD và các khế ước nhận nợ Bên vay và bên cho vay đều tự nguyện tham gia quan hệ tín dụng và một khi HĐTD được thực hiện thì mục đích ban đầu khi tham gia quan hệ của cả hai bên sẽ được đáp ứng nên hầu như các bên đều không có bất đồng về nợ vốn

Thứ tư, các tranh chấp HĐTD thường được giải quyết bằng con đường thương lượng, hòa giải hơn là bằng con đường Tòa án Tuy nhiên, tỷ lệ hòa giải thành không cao trong những năm gần đây Pháp luật tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong quan hệ dân sự vì thế các bên có quyền lựa chọn phương thức giải

28

Nguyễn Xuân Linh (2016), Thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án, Khóa

luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 10.

Trang 24

quyết phù hợp, có lợi nhất Thực tiễn xét xử cho thấy, các tranh chấp HĐTD phát sinh chủ yếu chỉ xoay quanh các vấn đề như lãi suất, thời hạn trả nợ, xử lý tài sản bảo đảm nên thường không quá phức tạp, các bên có thể thương lượng và thỏa thuận lại được Hơn nữa, giá trị trong các tranh chấp về HĐTD thường lớn kéo theo

án phí lớn và thời gian tố tụng kéo dài mà khả năng thắng kiện cũng không phải là tuyệt đối, tạo khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các bên và rất tốn kém Do đó, các bên luôn ưu tiên lựa chọn phương thức hòa giải, thương lượng khi giải quyết tranh chấp, giữ thế chủ động và tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, hiện nay, Tòa án thường gặp nhiều khó khăn trong việc triệu tập bị đơn, người có quyền lợi

và nghĩa vụ liên quan bởi tình trạng các doanh nghiệp thua lỗ “thi nhau” đóng cửa, tạm ngưng hoạt động, không làm thủ tục giải thể, phá sản, nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hay tình trạng người đại diện theo pháp luật của bên vay và người bảo lãnh

bỏ đi khỏi nơi cư trú ngày một gia tăng Việc không hợp tác hoặc vắng mặt các đương sự này tại phiên hòa giải mới là nguyên nhân chính khiến cho hòa giải không thành và làm tỷ lệ hòa giải thành ngày càng thấp trong những năm trở lại đây29

Ngoài những đặc điểm cơ bản trên, tranh chấp về lãi suất cũng mang một vài nét riêng biệt:

Thứ nhất, tranh chấp về lãi suất trong HĐTD hầu hết đều bắt nguồn từ những yếu tố khách quan tác động đến mức lãi suất cho vay như sự biến động của thị trường tiền tệ, chính sách điều tiết kinh tế của Nhà nước hoặc là những thay đổi của quy định pháp luật về lãi suất Không phải tất cả các tranh chấp về lãi suất đều xuất phát từ ý chỉ chủ quan của các bên Khi mức cung – cầu về tiền tệ trên thị trường biến động thì Ngân hàng Nhà nước sẽ sử dụng công cụ lãi suất để thực hiện chính sách tiền tệ, nhằm điều tiết nền kinh tế, cân bằng hóa cung cầu về tiền, gây ra sự biến động về lãi suất Lúc này, lãi suất cho vay có thể tăng cao, các TCTD sẽ phải gia tăng mức lãi suất sao cho phù hợp để đảm bảo lợi nhuận, nhằm duy trì hoạt động kinh doanh của mình nhưng lại không được khách hàng chấp nhận, từ đó gây

ra tranh chấp Tranh chấp cũng có thể xảy ra khi lãi suất cho vay thỏa thuận trong hợp đồng ở giai đoạn trước đã không còn phù hợp với những thay đổi mới trong quy định của pháp luật tại thời điểm thanh toán nợ

Thứ hai, tranh chấp về lãi suất thường phát sinh khi HĐTD đã được giao kết, thực hiện một phần và bên đi vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ vì không đồng ý với thỏa thuận lãi suất Các dạng tranh chấp về lãi suất không phát sinh đơn lẻ mà thường đi kèm với nhau trong đó mâu thuẫn về mức lãi suất áp dụng là vấn đề tranh chấp nhiều nhất Trên thực tế, nhiều ngân hàng thương mại áp dụng lãi suất thả nổi (lãi

29

Nguyễn Xuân Linh, tlđd (25), tr.14

Trang 25

suất điều chỉnh theo diễn biến thị trường) làm căn cứ tính toán khoản lãi mà khách hàng phải trả Khi cầu tiền tệ tăng so với cung tiền tệ ở thời điểm trả nợ, lãi suất cho vay lúc này sẽ có nguy cơ tăng cao, vượt quá mức lãi suất được ấn định trong HĐTD, gây trở ngại cho việc thanh toán nợ của bên đi vay, dẫn đến tranh chấp phát sinh

1.2.2 Các dạng tranh chấp về lãi suất phát sinh từ hợp đồng tín dụng thường gặp

Tranh chấp trong quan hệ dân sự nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng rất đa dạng và phức tạp Do đó, khi xét xử những vụ án về tranh chấp HĐTD, các cơ quan Nhà nước thường không dễ dàng đưa ra những đường lối giải quyết thống nhất và tương đồng nhau về cùng một vấn đề lãi suất Chính vì vậy, qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu một số tranh chấp đã xảy ra trên thực tế, tác giả đã phân chia các tranh chấp về lãi suất phát sinh từ HĐTD thành các dạng thường gặp sau:

Thứ nhất là dạng tranh chấp phát sinh khi có yêu cầu thay đổi lãi suất dù thời hạn vay chưa kết thúc Khi các cá nhân, tổ chức kinh doanh lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ, họ sẽ làm đơn yêu cầu TCTD miễn hoặc giảm tiền lãi trong một thời hạn nhất định, có kèm theo điều kiện trả nợ Tuy nhiên, đến thời hạn thanh toán nợ, bên vay vẫn không thực hiện việc trả

nợ đúng hạn, dẫn đến tranh chấp Ở khía cạnh người cho vay, các TCTD vì muốn tăng lãi suất huy động nhằm thu hút tiền gửi, tạo nguồn vốn cho hoạt động cho vay nên đã yêu cầu nâng mức lãi suất cho vay cao hơn so với thỏa thuận ban đầu trong HĐTD Điều này gây khó khăn cho việc trả nợ của bên vay và tạo ra sự bất công trong hoạt động cho vay nên hầu như không được bên vay đồng ý Tuy nhiên, trước sức ép của nhu cầu vốn để đáp ứng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng, chủ thể đi vay phải đành chấp nhận mức lãi suất mới cao hơn nhiều so với mức lãi suất trước đó Khi có tranh chấp xảy ra, các bên thường yêu cầu Tòa án xác định lại mức lãi suất áp dụng để tính nợ

Thứ hai là dạng tranh chấp về mức lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn Ở từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội, để cân bằng và điều tiết kinh tế, NHNN không ngừng thay đổi chính sách lãi suất cho vay Trong giai đoạn từ tháng 06/2002 đến tháng 05/2008, NHNN áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận, sau đó từ ngày 19/05/2008 đến tháng 02/2010 lại chuyển sang áp dụng cơ chế trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố đối với loại cho vay tương ứng Tiếp theo đó, sau khi Luật Các TCTD 2010 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 cho đến nay thì cơ chế xác định lãi suất cho vay lại quay lại theo

Trang 26

cơ chế thỏa thuận tự do Điều này dẫn đến việc mức lãi suất cho vay mà TCTD thỏa thuận với khách hàng trong giai đoạn trước sẽ không còn phù hợp, thường cao hơn nhiều so với mức lãi suất theo quy định pháp luật trong giai đoạn sau, làm phát sinh tranh chấp Bên cạnh đó, cách thức tính lãi cũng là một trong những vấn đề gây phát sinh tranh chấp Việc tính lãi sai có thể làm mức lãi suất mà khách hàng phải chịu cao hơn nhiều so với mức lãi suất đã thỏa thuận

Thứ ba là dạng tranh chấp về mức lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi nợ quá hạn Các quy định của pháp luật hiện hành đều đưa ra mức lãi suất nợ quá hạn là không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn Tuy nhiên, cách tính lãi nợ quá hạn như thế nào cho đúng với quy định của pháp luật vẫn còn là một vướng mắc đối với các TCTD Theo đó, TCTD sẽ áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn tính trên toàn bộ số dư nợ quá hạn (bao gồm toàn bộ nợ gốc quá hạn và nợ lãi quá hạn) hay chỉ tính trên số dư nợ gốc còn lại bị quá hạn mà không tính nợ lãi quá hạn? Khi chủ thể đi vay không đồng ý với cách tính của các TCTD

sẽ dễ làm tranh chấp phát sinh Thêm vào đó, khi gặp phải tình trạng tài chính khó khăn, sản xuất kinh doanh trì trệ, các cá nhân, tổ chức đi vay thường yêu cầu TCTD không áp dụng mức lãi suất quá hạn để tính lãi phải trả cho khoản vay theo đúng mức 150% lãi suất cho vay trong hạn vì cho rằng mức lãi suất như vậy là quá cao, gây bất lợi cho việc thanh toán nợ, dẫn đến việc tài sản bảo đảm cho khoản vay bị đưa ra xử lý Các TCTD không chấp thuận yêu cầu trên với quan điểm cho rằng thực chất lãi suất nợ quá hạn chính là khoản phạt cho sự vi phạm hợp đồng của chủ thể đi vay, nhằm bù đắp chi phí thiệt hại do sự vi phạm đó gây ra Từ đó làm tranh chấp phát sinh

Thứ tư là dạng tranh chấp về áp dụng lãi chậm trả Có rất nhiều ý kiến trái chiều về khoản lãi chậm trả khi cho rằng đây là hiện tượng lãi chồng lãi, là cách mà các ngân hàng lợi dụng để tính lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất thỏa thuận ban đầu, nhằm kiếm được lợi nhuận nhiều hơn Hơn nữa, quy định của BLDS 2005 và Quy chế cho vay cũ cũng không thừa nhận loại lãi này Do đó, việc các TCTD buộc chủ thể đi vay phải trả thêm một khoản lãi chậm trả trong khi đã phải trả lãi quá hạn cho cùng một khoản vay làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên đi vay, dẫn đến xung đột lợi ích, khiến tranh chấp phát sinh

Kết luận chương 1

Chương 1 trình bày những lý luận chung nhất về lãi suất cũng như tranh chấp

về lãi suất phát sinh từ HĐTD dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành và dưới góc độ kinh tế Qua nội dung đã trình bày, có thể nắm bắt được những quy định của pháp luật về thỏa thuận lãi suất trong HĐTD đồng thời nhận biết được

Trang 27

những tranh chấp về lãi suất nào thường phát sinh từ hành vi vi phạm HĐTD Tranh chấp HĐTD về lãi suất tuy không phải là một dạng tranh chấp phức tạp nhưng thời gian giải quyết tranh chấp trên thực tế thường kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ cho vay

Những nội dung ở chương này sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài ở chương tiếp theo về thực trạng tranh chấp, nguyên nhân chính làm phát sinh tranh chấp cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết tranh chấp, từ

đó đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này

Trang 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong thời gian qua, dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, sự tăng giảm lãi suất bên cạnh vai trò ổn định giá trị tiền tệ vẫn gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội Trong thực tiễn, các tranh chấp hợp đồng dân sự, tranh chấp HĐTD trong hoạt động kinh doanh thương mại ngày càng diễn biến phức tạp và theo hướng gia tăng về số lượng Quá trình giải quyết các tranh chấp này, bên cạnh thuận lợi là chúng ta đã xây dựng được một hệ thống pháp luật tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh, kể cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng Tuy nhiên, đường hướng xét xử của Tòa án vẫn còn bộc lộ một số vấn đề hạn chế về nhận thức và áp dụng pháp luật30 Sự gia tăng số lượng vụ tranh chấp HĐTD gây khó khăn cho việc thụ lý và giải quyết tranh chấp tại Tòa án Số vụ tranh chấp còn tồn đọng nhiều, thời gian giải quyết kéo dài, ảnh hưởng đến uy tín của các TCTD nói riêng và đến nền kinh tế Việt Nam nói chung bởi giá trị tranh chấp thường rất lớn

Nội dung khởi kiện thường không quá phức tạp, chủ yếu là về việc bên đi vay vi phạm nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc, lãi và quy định về mức lãi suất áp dụng để tính nợ

2.1 Tranh chấp về lãi suất cho vay trong hạn

2.1.1 Thực trạng

Các tranh chấp loại này xảy ra khá phổ biến trong quan hệ HĐTD trên thực

tế Thường thấy nhất trong các tranh chấp dạng này là việc nguyên đơn (các TCTD) yêu cầu bị đơn (khách hàng đi vay) phải trả nợ lãi với mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng Nguyên đơn cho rằng, lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện Do vậy, dù mức lãi suất cho vay có cao hơn mức “trần” lãi suất như trong BLDS nhưng khi bị đơn chấp nhận vay đồng nghĩa với việc bị đơn phải tuân thủ thỏa thuận của mình Trong khi đó, phía bị đơn thường yêu cầu Tòa án không chấp nhận mức lãi suất mà các bên thỏa thuận vì cho rằng mức lãi suất như thế là cao, không phù hợp với quy định của pháp luật Ngoài ra, thực tiễn cũng cho thấy mức lãi suất đối với khoản vay trong hạn được các TCTD áp dụng thường là lãi suất thả nổi (là lãi suất được tính dựa trên mức lãi suất cố định do

30

Lê Anh Dũng, “Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại, khó khăn, vướng mắc và hướng giải quyết (Phần 1)”, http://toaan.quangtri.gov.vn/index.php/vi/news/Trao-doi- nghiep-vu/Thuc-tien-giai-quyet-cac-tranh-chap-ve-kinh-doanh-thuong-mai-kho-khan-vuong-mac- va-huong-giai-quyet-250/ , truy cập ngày 14/07/2017

Trang 29

TCTD công bố cộng với một biên độ nhất định, khoảng 3,5% - 6%/năm31), chỉ cố định trong thời gian đầu tiên và thay đổi theo diễn biến lên xuống của thị trường tài chính – tiền tệ Nhiều khách hàng đi vay chỉ quan tâm đến tiền gốc, lãi phải trả hàng tháng, ít để ý đến việc lãi suất ở các kỳ hạn vay sau là bao nhiêu nên đôi khi, họ bị thu hút bởi mức lãi suất thấp ban đầu mà quên đi lãi suất họ phải chịu trong thời gian dài Đến khi TCTD điều chỉnh tăng mức lãi suất huy động vốn, khiến lãi suất cho vay trong hạn tăng cao hơn rất nhiều, làm bên vay không còn khả năng thanh toán nợ, dẫn đến tranh chấp phát sinh Có thể dẫn ra một số bản án điển hình liên quan đến loại tranh chấp về lãi suất trong hạn này:

Thứ nhất, bản án số 1253/2016/KDTM-ST ngày 29/06/2016 của Tòa án nhân dân (TAND) quận BT Thành phố Hồ Chí Minh32 về việc “tranh chấp HĐTD” giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Minh Quân với bị đơn là ông Lê Văn Hà và bà Trần Thị Xuân Thủy Nội dung vụ án như sau: Ngày 19/01/2012, Ngân hàng TMCP Minh Quân ký HĐTD số GDH12C0100003A để cho ông Lê Văn Hà và bà Trần Thị Xuân Thủy vay số tiền 4 tỷ đồng với thời hạn vay 12 tháng từ ngày 19/01/2012 đến ngày 19/01/2013, lãi suất cho vay 24%/năm, điều chỉnh 03 tháng 01 lần, lãi suất vay hiện tại là 13,45%/năm Trong quá trình thực hiện HĐTD trên, bị đơn đã yêu cầu nguyên đơn cho gia hạn thời hạn cho vay thêm 12 tháng do gặp khó khăn và đã được nguyên đơn chấp nhận Tuy nhiên, hết thời hạn gia hạn, bị đơn vẫn không thanh toán nợ gốc, lãi cho nguyên đơn theo HĐTD, dẫn đến tranh chấp phát sinh

Tại phiên tòa sơ thẩm, phía Ngân hàng TMCP Minh Quân yêu cầu bị đơn phải thanh toán tổng nợ vốn và nợ lãi tính đến ngày 29/06/2016 là l6.798.600.000 đồng (trong đó, lãi trong hạn được tính theo mức lãi suất 13,45%/năm và lãi nợ quá hạn được tính theo mức lãi suất 20,18%/năm như đã thỏa thuận trong HĐTD) Phía

bị đơn cho rằng mức lãi suất cho vay trên là cao nên yêu cầu nguyên đơn giảm lãi, không tính lãi (trong hạn, quá hạn) và chỉ đồng ý trả nợ vốn còn dư lại

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định mức lãi suất mà Ngân hàng Minh Quân áp dụng để tính lãi trong hạn và quá hạn như trên là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 về lãi suất cơ bản của NHNN và BLDS 2005 Theo đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ở thời điểm bị đơn vay là 9%/năm Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 quy định lãi suất vay không

31

“Vay tiền ngân hàng: Nên chọn lãi suất vay cố định hay thả nổi?”,

suat-vay-co-dinh-hay-tha-noi-a89210.html , truy cập ngày 14/07/2017

http://www.doisongphapluat.com/kinh-doanh/tai-chinh-ngan-hang/vay-tien-ngan-hang-chon-lai-32

Bản án số 1253/2016/KDTM-ST ngày 29/06/2016 của Tòa án nhân dân (TAND) quận BT Thành phố Hồ Chí Minh, https://caselaw.vn/ban-an/bmJQVjH8kd , truy cập ngày 11/07/2017

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm