Đồng thời Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ cho công cuộc cải cách tư pháp là phân định rõ các chức năng trong TTHS, đồng thời “phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm,
Trang 1NGUYỄN THỊ SƠN THUỶ
CHỨC NĂNG BUỘC TỘI CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60.38.40
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Ngọc Đức
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011
Trang 2Tác giả xin cam đoan toàn bộ nội dung Luận văn là kết quả của một quá trình tổng hợp và nghiên cứu nghiêm túc của riêng bản thân tác giả Tất cả ý kiến của các tác giả khác được đưa vào Luận văn đều được tác giả giữ nguyên ý tưởng và trích dẫn cẩn thận
Tác giả
Nguyễn Thị Sơn Thuỷ
Trang 3‐ Bộ Công an: BCA
‐ Bộ luật hình sự: BLHS
‐ Bộ luật tố tụng hình sự: BLTTHS
‐ Cảnh sát điều tra: CS ĐT
‐ Cơ quan An ninh điều tra: CQANĐT
‐ Cơ quan Cảnh sát điều tra: CQCSĐT
‐ Cơ quan điều tra: CQ ĐT
‐ Cơ quan tiến hành tố tụng: CQTHTT
‐ Điều tra viên: ĐTV
Trang 4toàn quốc từ năm 2004 đến Tháng 6/2011
- Bảng 2.2: Kết quả thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong toàn quốc từ năm 2004 đến tháng 6/2011
- Bảng 2.3: Thực trạng thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan An ninh điều tra trong toàn quốc từ năm 2004 đến tháng 6/2011
- Bảng 2.4: Kết quả thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan An ninh điều tra toàn quốc tra từ năm 2004 - tháng 6/2011
- Bảng 2.5: Thực trạng thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan Cảnh sát điều tra Toàn quốc từ năm 2004 đến Tháng 6/2011
- Bảng 2.6: Kết quả thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan Cảnh sát điều tra toàn quốc từ năm 2004 đến 6/2011
- Bảng 2.7: Thống kê số liệu phản ánh nguồn lực thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta đã xác định và đang cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước, trong đó cải cách tư pháp hình
sự là một trong những nội dung trọng tâm, nhằm tạo ra hành lang pháp lý xây dựng
cơ chế hoạt động khoa học, dân chủ cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, với mục tiêu cao hơn là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Chủ trương cải cách tư pháp hình sự của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua nhiều Nghị quyết trong suốt quá trình xây dựng và đổi mới đất nước, thể hiện quyết tâm đổi mới hệ thống pháp luật theo hướng ngày càng dân chủ hơn của Đảng và Nhà nước ta, các Nghị quyết bao gồm: Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3, Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII), Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới”, đặc biệt là Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020” nêu rõ “cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, thuận tiện…” [1] và Nghị quyết 49-
NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm
2020” nhận định: “Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm sửa đổi, bổ sung tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý…vẫn còn tình trạng oan sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy
tố, xét xử…” [2] Đồng thời Nghị quyết cũng đề ra nhiệm vụ cho công cuộc cải cách
tư pháp là phân định rõ các chức năng trong TTHS, đồng thời “phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp” [3], tạo ra sự chuyển
biến mạnh mẽ cả trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, bảo đảm kịp thời xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, bảo đảm thực hiện dân chủ trong hoạt động tố tụng hình
sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Như vậy, một trong những
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005, tr 5.
2 Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, tr 2
3 Bộ Chính trị, tài liệu đã dẫn 2, tr 3
Trang 6nhiệm vụ quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp hiện nay là xác định rõ chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức bộ máy tư pháp
Chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản trong tố tụng hình
sự, có vai trò phát động tố tụng hình sự Chức năng buộc tội được thực hiện bởi nhiều chủ thể tố tụng khác nhau, với các vị trí, vai trò tố tụng khác nhau Các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự thực hiện quyền buộc tội với các mức độ và trong các giai đoạn tố tụng khác nhau, trong đó có Cơ quan điều tra Những hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra một mặt để chứng minh tội phạm và người phạm tội, mặt khác là để thực hiện chức năng buộc tội theo tố tụng Cơ quan điều tra là một chủ thể buộc tội không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là chủ thể mà hoạt động của nó giữ vai trò khởi động các hoạt động tố tụng hình sự, mở đầu cho sự vận hành của các chức năng tố tụng
Luật tố tụng hình sự Việt Nam đến nay đã có nhiều sửa đổi, bổ sung phù hợp hơn trong từng thời kỳ cách mạng của đất nước Qua các giai đoạn phát triển của hoạt động tố tụng hình sự nước ta, luật tố tụng hình sự ngày càng hoàn thiện, tuy nhiên của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn còn nhiều vấn đề cần phải quan tâm, đặc biệt
là vấn đề hoàn thiện mô hình tố tụng Việt Nam, định hướng xác định các chức năng
tố tụng hình sự theo hướng nào, mức độ tranh tụng đến đâu, phạm vi, giới hạn các chức năng cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng như thế nào là phù hợp với định hướng mô hình tố tụng Những điều đó được thể hiện ở vấn đề sửa đổi quy định pháp luật tố tụng hình sự về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng, và những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra là một trong những chủ thể quan trọng, giữ vai trò phát động các hoạt động tố tụng hình sự, thực hiện chức năng khởi động của tố tụng hình sự
Thời gian qua, pháp luật tố tụng hình sự nước ta đã có nhiều sự điều chỉnh tích cực, đặc biệt trong việc phân định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cải cách hệ thống tổ chức các cơ quan tư pháp, tạo cơ sở pháp lý để hoạt động tố tụng hình sự đạt hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp tổ chức, công dân Tuy vậy, luật tố tụng hình sự vẫn chưa quy định cụ thể chức năng tố tụng và chủ thể thực hiện chức năng
tố tụng, nhưng các quy định về quyền và nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã khẳng định Cơ quan điều tra là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội Điều 1 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 xác định nhiệm vụ của
Bộ luật tố tụng hình sự nước ta là “Bộ luật tố tụng hình sự quy định…chức năng,
Trang 7nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng … ”, nhưng
trong những quy định cụ thể của Bộ luật tố tụng hình sự thì không xác định cụ thể,
rõ ràng cơ quan nào, người tiến hành tố tụng nào thực hiện chức năng gì của tố tụng hình sự, và tố tụng hình sự có những chức năng gì Mặt khác, việc quy định quyền
và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng trong tố tụng hình sự còn nhiều bất cập như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ vừa thu thập chứng cứ buộc tội, vừa thu thập chứng cứ gỡ tội; Tòa án vừa xét xử vừa có quyền khởi tố vụ án, khởi
tố bị can Như vậy, chủ thể nào thực hiện chức năng buộc tội, chủ thể nào thực hiện chức năng bào chữa và chủ thể nào thực hiện chức năng xét xử, điều đó Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay vẫn còn chưa xác định rõ và quy định cụ thể, do đó những quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự còn có phần chồng lấn, trùng dẫm Vì vậy, những quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện vẫn chưa khoa học, chưa hợp logic trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng
Việc xác định những quy định về quyền và nghĩa vụ của Cơ quan điều tra,
về vấn đề thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự góp phần làm cho Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn theo tinh thần của công cuộc cải cách tư pháp mà Đảng ta đã đề ra đó là phân định chức năng, thẩm quyền trong tố tụng hình sự bên cạnh với cải cách Bộ máy các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Cơ quan điều tra
Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra
trong TTHS Việt Nam ” làm luận văn Thạc sỹ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay đã có một số bài viết, đề tài nghiên cứu về chức năng tố tụng, đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các Cơ quan điều tra như đề tài “Chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự” của Phó giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hồng Hải, bài viết “Các chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử trong tố tụng hình sự” của tác giả Hoàng Thị Sơn, “Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Tiến sĩ Lê Tiến Châu, “Hoàn thiện chức năng tố tụng hình sự của VKS trong tố tụng hình sự theo định hướng của cải cách tư pháp” của tác giả Triệu Ngọc Nhi, …“Đổi mới tổ chức và hoạt động của các Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân theo tiến trình cải cách tư pháp” của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Anh, “Một số định hướng hoàn thiện Cơ quan điều tra trong bối cảnh cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” - của tác giả Nguyễn Ngọc Nghĩa; “Tổ chức Cơ quan điều tra và định hướng hoàn thiện” của tác giả Dương Văn Chăm; bài viết “Đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu
Trang 8quả hoạt động của Cơ quan điều tra” trong tạp chí nghiên cứu lập pháp, “Quá trình hình thành và phát triển của Pháp luật về tổ chức và hoạt động Cơ quan điều tra hình sự” của tác giả Nguyễn Văn Tỉnh, “Một số ý kiến sửa đổi bổ sung các quy định
về tổ chức Cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra trong Bộ luật tố tụng hình sự” của tác giả Nguyễn Đức Thuận Tuy nhiên các bài viết, đề tài này đề cập nhiều về nội dung chủ thể thực hiện các chức năng tố tụng cơ bản nói chung hoặc chức năng
tố tụng của TA, VKS, của những người tham gia tố tụng hoặc có nội dung về đổi mới, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ cấu, tổ chức của Cơ quan điều tra, chưa có bài viết, công trình nghiên cứu nào nghiên cứu riêng về chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra cả về phương diện lý luận, pháp lý lẫn thực tiễn tác giả chỉ ra những cơ sở khẳng định chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra, xác định quyền và nghĩa vụ buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài chỉ ra những vướng mắc, hạn chế về lý luận và thực tiễn
áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra Đồng thời, đề ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm xác định rõ chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời góp phần hoàn thiện chức năng tố tụng cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu của cải cách tư pháp
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Những mục đích trên đã đặt ra cho đề tài những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về chức năng buộc tội và chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự
- Phân tích đầy đủ, có hệ thống, thực trạng thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự Việt Nam của Cơ quan điều tra qua các giai đoạn lịch sử, qua
đó xác định vai trò, nội dung, phạm vi và giới hạn chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra Đồng thời chỉ ra những ưu điểm, vướng mắc trong quy định pháp luật tố
Trang 9tụng hình sự ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra cần được khắc phục
- Đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng buộc tội của
Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự, cụ thể là đưa ra một số kiến nghị đề xuất và hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra, góp phần nâng cao năng lực và nhận thức của chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
- Chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra trong Công
an nhân dân
- Những bảo đảm thực hiện chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự của Cơ quan điều tra trong thời gian qua (từ 1945 đến nay), thực trạng thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra từ khi Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có hiệu lực đến tháng 6/2011
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về đấu tranh phòng chống tội phạm, về chiến lược cải cách tư
pháp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020
Ngoài ra, tác giả sử dụng một số phương pháp cụ thể khác gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp tổng kết thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Nghiên cứu, tổng kết đầy đủ, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chức năng buộc tội, chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong
tố tụng hình sự Việt Nam Qua đó giúp nhận thức đúng đắn về vai trò của chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự, vị trí, vai trò của Cơ quan điều tra trong thực
Trang 10hiện chức năng buộc tội tố tụng hình sự, cũng như xác định quyền và nghĩa vụ của
Cơ quan điều tra trong việc thực hiện chức năng buộc tội, chỉ ra những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự
- Góp phần hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự nước ta trong giai đoạn cải cách tư pháp phần nội phân định rõ các chức năng tố tụng hình sự
- Góp phần thực hiện chính sách đấu tranh chống tội phạm Đảng và Nhà nước ta đã đề ra hiệu quả mà vẫn đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng
- Các kiến nghị của đề tài liên quan đến những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về việc thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra nhằm góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện chức năng buộc tội
6 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự
Chương 2: Thực trạng thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện việc thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong
tố tụng hình sự
Trang 11CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG BUỘC TỘI TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Một số vấn đề lý luận về chức năng trong tố tụng hình sự
1.1.1 Chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự Việt Nam
Bất kỳ một hành động, một hoặc các loại hoạt động có ý thức nào của một chủ thể nào đều thể hiện mục đích của chủ thể đó Một chủ thể có thể có những hành động, những hoạt động đều dựa vào năng lực nhất định của mình Năng lực đó
có thể do chính chủ thể có được hoặc cũng có thể do các cá nhân, tổ chức khác trao cho, ủy quyền cho Việc trao quyền, ủy quyền cho một chủ thể nào đó tuỳ thuộc vào
sự phù hợp của mục đích mà các hành động hoặc các hoạt động chủ thể đó muốn thực hiện vì lợi ích chung của số đông các cá nhân, của xã hội, được sự ủng hộ của các cá nhân, các tổ chức, được các cá nhân, tổ chức uỷ quyền đại diện và hỗ trợ cho chủ thể thực hiện Năng lực chủ thể đó có được do sự uỷ quyền của số đông cá nhân, tổ chức, năng lực đó sẽ trở thành quyền năng của chủ thể Với mục đích hoạt động quyền năng đó được giới hạn trong phạm vi nhất định, trong sự cho phép của
số cá nhân, tổ chức uỷ quyền Chức năng cũng xuất hiện từ đó, khi quyền lực, chủ thể thể hiện vai trò, vị trí nhất định trong một nhóm cá nhân, hoặc trong cộng đồng
xã hội, và vị trí, vai trò của chủ thể đó được cụ thể hoá bằng một chức danh Nói cách khác, với năng lực chuyên môn sẵn có, với chức danh, vị trí của mình được tin tưởng trao cho, chủ thể đó được quy định những quyền hạn và thực hiện trong phạm
vi nhất định, chủ thể đó phải hoạt động để đạt được mục tiêu đã đề ra Như vậy, khi một chủ thể được trao quyền lực, chủ thể đó phải có trách nhiệm sử dụng quyền lực
để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng mà chủ thể
đó đã đề ra với sự cho phép của các cá nhân, tổ chức uỷ quyền
Vì vậy, có thể nói chức năng là những phương diện hoạt động có tính định hướng lớn trên cơ sở quyền, nghĩa vụ, mục tiêu đã đề ra để của một chủ thể nhất định Chức năng phải gắn với một chủ thể cụ thể, một chủ thể có một địa vị, chức danh được công nhận bởi các cá nhân, tổ chức trao quyền trở thành địa vị pháp lý Hay nói cách khác, đó chính là những mặt, những loại hoạt động trên cơ sở quyền năng được tra (năng lực) có giới hạn nhất định (quyền hạn) của chủ thể đó để thực hiện một hoặc nhiều trách nhiệm, nhiệm vụ nhằm đạt những mục tiêu mà chủ thể đó
đề ra, vì lợi ích chung được sự đồng thuận của số đông các cá nhân, tổ chức, cộng đồng xã hội đã trao quyền cho chủ thể đó
Trang 12Chức năng được khái quát là những phương diện hoạt động lớn của chủ thể, các chủ thể đề ra các nhiệm vụ, các nhóm nhiệm vụ và tổ chức thực hiện bằng các nguồn lực được phép sử dụng, được thể hiện bởi các hoạt động, các hành động cụ thể trong phạm vi quyền hạn của các chủ thể Chức năng của các chủ thể khác nhau
là khác nhau, nó ứng với vị trí, vai trò, địa vị pháp lý riêng của từng chủ thể trong các mối quan hệ xã hội khác nhau
Chức năng của các cơ quan nhà nước là những mặt, những định hướng hoạt động cụ thể hơn và bao giờ cũng phụ thuộc vào chức năng của nhà nước Việc thực hiện các chức năng của cơ quan nhà nước, mục đích cuối cùng là để thực hiện chức năng của Nhà nước Một chức năng chung của Nhà nước có thể do nhiều cơ quan nhà nước với các chức năng và nhiệm vụ cụ thể khác nhau thực hiện
Chức năng TTHS là một loại chức năng nhà nước, chức năng này do nhiều CQTHTT thực hiện gồm CQĐT, VKS, TA Với vai trò là các CQTHTT, CQĐT, VKS, TA tiến hành các hoạt động tố tụng trong phạm vi quyền hạn do BLTTHS quy định, thể hiện các chức năng cơ bản như: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử
Đến nay, trong khoa học luật TTHS vẫn có nhiều quan điểm chưa thống nhất nhau về chức năng TTHS Theo M.A.Chenxốp cho rằng: “Chức năng TTHS là định
hướng các hoạt động được các nhà làm luật đề ra buộc các cơ quan chức năng hay các cá nhân có thẩm quyền và có nghĩa vụ thực hiện” [4]
Theo M.A.Chenxốp thì chức năng TTHS là những định hướng các hoạt động được đề ra trong luật Như khái niệm về chức năng như trên, thì chức năng không thể là sự định hướng, mà là các phương diện hoạt động Tuy nhiên, khái niệm này nhưng chưa xác định cụ thể hoạt động gì, do chủ thể nào thực hiện và cũng chỉ xác định là các cơ quan chức năng có thẩm quyền và nghĩa vụ chung chung, và không xác định đó là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Hoạt động TTHS được đặc trưng bởi các chức năng cơ bản, các chức năng này vừa được thực hiện một cách độc lập, vừa thể hiện mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không thể thiếu nhau và không thể tách rời, đó là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Các chức năng TTHS được thực hiện bởi các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng khác nhau Những chức năng này luôn tồn tại và thể hiện trong quá trình giải quyết các VAHS Ở từng giai đoạn TTHS khác nhau, các chức năng được giao cho một số chủ thể tố tụng thực hiện, chẳng hạn chức năng buộc tội ở GĐĐT do
4 Lê Tiến Châu (2009), Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam, NXB Tư pháp, tr 16
Trang 13CQĐT thực hiện, giai đoạn truy tố, xét xử do VKS thực hiện; chức năng bào chữa
do người bị can, bị cáo, người bào chữa thực hiện, chức năng xét xử do TA thực hiện Khi thực hiện các chức năng được giao, các CQTHTT, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trên có quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định được BLTTHS quy định
Còn Giáo sư VS M.X.Xtrogoovich đưa ra khái niệm rõ ràng, cụ thể hơn, ông
cho rằng: “Chức năng tố tụng được hiểu là những định hướng đặc biệt phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng khác nhau trong những phạm vi nhất định” [5] Quan điểm này chỉ khẳng định chức năng TTHS là những sự định hướng,
mà theo khái niệm về chức năng và chức năng nhà nước thì chức năng không chỉ sự định hướng mà chỉ những phương diện hoạt động lớn của chủ thể tiến hành và tham gia các hoạt động tố tụng Tuy nhiên, trong quan điểm này, tác giả đã đã xác định chức năng tố tụng không chỉ có một loại hoạt động mà hoạt động TTHS là sự tổng hợp của nhiều mặt hoạt động tố tụng có những định hướng khác nhau, các hoạt động TTHS do nhiều chủ thể có vị trí, vai trò, quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau thực hiện được thể hiện dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng Các chủ thể có
vị trí, vai trò khác nhau, được Luật TTHS quy định quyền và nghĩa vụ khác nhau, thực hiện những mục tiêu tố tụng khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau Những chủ thể có cùng mục đích được quy định quyền và nghĩa vụ có điều kiện cho việc thực hiện các hoạt động nhằm mục đích riêng của mình Những hoạt động của mang tính định hướng trong TTHS của các chủ thể quan hệ pháp luật TTHS nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ và mục đích của mình được gọi là chức năng TTHS Chức năng TTHS có những loại chức năng thể hiện tính định hướng lớn, tính chỉ đạo nhằm phân định các hoạt động tố tụng của các chủ thể khác nhau, quyền và nghĩa vụ khác nhau trong những phạm vi nhất định
Và theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh: “Chức năng TTHS được hiểu là những phương hướng hoạt động được tiến hành trong phạm vi, giới hạn của việc giải quyết VAHS Đó là chức năng điều tra, truy tố, bào chữa, xét xử Ở dạng chung nhất, chức năng thứ nhất thuộc các CQĐT, chức năng thứ hai thuộc VKS, chức năng thứ ba thuộc bị can, bị cáo; chức năng thứ tư thuộc TA” [6] Quan điểm này cũng cho rằng chức năng TTHS là những phương hướng hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng, nhưng đã xác định cụ thể hơn về chủ thể và các chức năng TTHS, khẳng định những định hướng hoạt động nhằm phân định các hoạt động của các chủ thể quan hệ pháp luật TTHS Đồng thời,
5 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 18
6 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 17
Trang 14những hoạt động của các chủ thể này được giới hạn trong phạm vi nhất định của quá trình giải quyết VAHS Trong hoạt động của mình, các chủ thể quan hệ pháp luật TTHS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn với những hướng khác nhau, tùy vào vị trí, vai trò tố tụng của chủ thể đó Chức năng TTHS là một bộ phận của chức năng nhà nước chung, nó là chức năng tư pháp bao trùm, còn chức năng tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng là chức năng cụ thể
Theo Tiến sĩ Lê Tiến Châu “Chức năng TTHS là những định hướng lớn, cơ bản nhằm phân định các hoạt động trong lĩnh vực TTHS của các chủ thể khác nhau, trong phạm vi nhất định trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, quyền và nghĩa
vụ tố tụng của các bên tố tụng, nhưng đều nhằm đến mục tiêu chung của TTHS” [7]
Với quan điểm này, chức năng TTHS được xác định chỉ là những định hướng lớn,
cơ bản trong lĩnh vực TTHS, mà chưa xác định cụ thể là những phương diện hoạt động và cũng chưa xác định chủ thể thực hiện chức năng trong TTHS Tuy nhiên, quan điểm này đã làm rõ hơn vấn đề các chủ thể tố tụng khác nhau hoạt động trong các lĩnh vực TTHS được thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trên cơ sở được xác định mục đích và nội dung hoạt động
Mặc dù có cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau về khái niệm chức năng TTHS, tuy chưa thật rõ ràng nhưng đều có chung quan niệm về chức năng TTHS:
“Chức năng TTHS là những mặt hoạt động mang tính định hướng cơ bản trong TTHS nhằm đảm bảo giải quyết VAHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội của các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng trong phạm vi quyền hạn của các chủ thể và trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích của các bên tham gia tố tụng”
Chức năng tố tụng không chỉ là những sự định hướng tố tụng mà nó thể hiện
là các phương diện hoạt động có tính định hướng làm cho các bên tham gia tố tụng xác định rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết VAHS Các mặt hoạt động của các chủ thể được phân định thành các hướng hoạt động khác nhau trong lĩnh vực TTHS, trong phạm vi giới hạn về nhiệm vụ, quyền hạn và trên cơ sở phù hợp với nội dung, mục đích, nghĩa vụ tố tụng của các bên tham gia tố tụng
1.1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự
Chức năng TTHS cơ bản có nhiều loại như chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Mỗi loại chức năng TTHS thực hiện một nhiệm vụ, những hoạt động khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau, có phạm vi nội dung
7 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 20
Trang 15và chủ thể tiến hành khác nhau Các chức năng tố tụng buộc tội, bào chữa, xét xử tuy có định hướng khác nhau, thậm chí ngược chiều nhau, đối trọng với nhau, nhưng đều nhằm đến mục tiêu chung là xác định sự thật khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Mỗi chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS trong hoạt động của mình đều hướng các hành vi tố tụng tới một mục đích tương ứng với nhiệm vụ, vai trò nhất định do pháp luật quy định cho mình Chức năng cơ bản của TTHS là những chức năng khi chúng được thực hiện sẽ giải quyết được nhiệm vụ chung của TTHS, đó là giải quyết các VAHS đảm bảo đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Vấn đề phân loại các chức năng cơ bản trong TTHS đã được quan tâm nghiên cứu trong khoa học luật TTHS, song vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau
Loại ý kiến thứ nhất cho rằng: “Trong TTHS, ngoài ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử còn có chức năng điều tra với tính cách là một chức năng độc lập”
[8] Những người theo quan điểm này cho rằng, chức năng buộc tội chỉ xuất hiện ở giai đoạn xét xử sơ thẩm tại phiên toà và do VKS thực hiện, còn trong GĐĐT chỉ có chức năng điều tra; chức năng buộc tội hoàn toàn không tồn tại và xuất hiện ở GĐĐT Chức năng điều tra không đồng nhất với chức năng buộc tội, mà đó là một chức năng độc lập, có đối tượng và nội dung cụ thể, riêng biệt
Loại ý kiến thứ hai cho rằng: “Trong TTHS, ngoài ba chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử còn được thực hiện bởi chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật do VKS thực hiện và các hoạt động này trong TTHS Xô Viết được coi là hoạt động vô cùng quan trọng trong tất cả các giai đoạn của TTHS” [9] Khi tham gia
vào quan hệ pháp luật TTHS, ngoài chức năng buộc tội còn chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp
là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng” [10]
Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTHS là chức năng Hiến định được thực hiện thông qua hoạt động của cơ quan nhà nước có quyền lực đặc thù, là hoạt động kiểm sát các hoạt động thực hành pháp luật của các CQTHTT, không có mục đích giải quyết nhiệm vụ chung của TTHS, mà mục đích của nó là đảm bảo
8 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 21
9 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 24
10 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 24
Trang 16việc thực hiện các hoạt động TTHS đúng pháp luật Do đó, nó không phải là chức năng cơ bản trong TTHS Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật là chức năng chung - chức năng nhà nước, không phải chức năng cục bộ hay chức năng đặc thù Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật có phạm vi rất rộng: ở đâu có pháp luật, ở đó có yêu cầu giám sát việc tuân theo pháp luật Trong lĩnh vực tư pháp, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không chỉ có trong lĩnh vực TTHS mà còn xuất hiện và tồn tại trong tất cả các lĩnh vực phi TTHS như tố tụng dân sự, hành chính, lao động, kinh tế… Điều khác nhau cơ bản trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các lĩnh vực tố tụng đó là đối tượng kiểm sát khác nhau (khi có dấu hiệu tội phạm và tranh chấp xảy ra), nguyên tắc cơ bản đặc thù khác nhau (nguyên tắc công tố, nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về các CQTHTT với nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự…), phạm vi chủ thể khác nhau, phương thức, hình thức và nội dung hoạt động cũng khác nhau, cho nên nội dung, phương thức và bản chất thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động thực thi pháp luật cũng khác nhau Vì vậy, kiểm sát việc tuân theo pháp luật không phải là chức năng cơ bản trong TTHS
Loại ý kiến thứ ba cho rằng, ngoài chức năng buộc tội, chức năng bào chữa,
chức năng xét xử, trong TTHS “người ta còn tìm thấy chức năng duy trì kiện tụng dân sự và chức năng bảo vệ quyền dân sự…”[11] Tức là chức năng kiện tụng và
bảo vệ quyền dân sự Quan điểm này ít được đề cập đến trong các nghiên cứu và được khoa học pháp lý thừa nhận Bởi lẽ, một chức năng cơ bản phải là một chức năng xuất hiện và tồn tại trong việc giải quyết tất cả các VAHS của các CQTHTT,
đó phải là những hoạt động định hướng cơ bản của các hoạt động được thực hiện trong phạm vi TTHS
Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại các chức năng cơ bản trong TTHS, nhưng hầu hết các ý kiến đều cho rằng trong TTHS ba chức năng
cơ bản gồm chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Các chức năng cơ bản do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện Các chức năng cơ bản trong TTHS được thực hiện bởi nhóm các chủ thể tiến hành tố tụng (CQTHTT: CQĐT, VKS, TA) và nhóm các chủ thể tham gia tố tụng, trong sựthống nhất bởi quyền của
nhóm này đồng thời là nghĩa vụ của nhóm kia và ngược lại Trong đó, chức năng
buộc tội là chức năng khởi động hoạt động tố tụng giải quyết VAHS
Các chức năng cơ bản trong TTHS là những chức năng tố tụng riêng biệt, nó
có những đặc trưng khác nhau về chủ thể thực hiện, nhiệm vụ, mục đích tố tụng,
11 Lê Tiến Châu (2009), Tài liệu đã dẫn 4, tr 26
Trang 17phương thức thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chức năng
tố tụng trong các giai đoạn tố tụng
Chức năng buộc tội là một phương diện hoạt động trong TTHS, được đặc trưng bởi tính quyền lực của chủ thể buộc tội Chủ thể thực hiện chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước là CQĐT và VKS Các chủ thể này tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ theo trình tự thủ tục luật định nhằm xác định những nội dung mang tính chất xác định chính xác người phạm tội, chứng minh lỗi, động cơ, mục đích, hậu quả thiệt hai do tội phạm gây ra để buộc người phạm tội chịu sự trừng trị của pháp luật theo quy định của BLHS và BLTTHS Chức năng buộc tội còn đặc trưng bởi thời điểm bắt đầu và kết thúc của nó
Chức năng bào chữa là một phương diện hoạt động tố tụng theo hướng đảm bảo cho người bị buộc tội khả năng bằng cách tự mình hay nhờ người khác đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự buộc tội, làm giảm nhẹ TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho người bị buộc tội trong quá trình tố tụng Chức năng bào chữa được đặc trưng bởi chủ thể tham gia tố tụng, là những người bị buộc tội (bị can, bị cáo), những người có quyền bào chữa theo luật định (Luật sư, bào chữa viên nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp…) Chức năng bào chữa còn được đặc trưng ở thời điểm xuất hiện và thời điểm kết thúc chức năng này, chức năng bào chữa xuất hiện phụ thuộc vào thời điểm bắt đầu của chức năng buộc tội Sau khi chức năng buộc tội được khởi động và được thông báo chính thức bằng văn bản cho người bị buộc tội thì cũng là lúc chức năng bào chữa xuất hiện Thời điểm kết thúc chức năng bào chữa là lúc người bị buộc tội có quyết định đình chỉ điều tra bị can của CQĐT hoặc VKS, hoặc có quyết định hay bản án có hiệu lực pháp luật của TA
Chức năng xét xử là chức năng tố tụng của TA, là việc thực hiện quyền xem xét, ra quyết định đối với người bị buộc tội, phán quyết người bị buộc tội là có tội
hay không có tội và mức độ truy cứu TNHS đối với người có tội Chức năng xét xử
được đặc trưng bởi tính chất quyền lực của chủ thể thực hiện chức năng này Xét xử
là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước do TA nhân danh Nhà nước thực hiện theo trình tự tố tụng do luật điều chỉnh
Ba chức năng cơ bản trong TTHS tuy là ba chức năng khác nhau nhưng chúng không vận hành một cách độc lập hoàn toàn mà giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, phụ thuộc, bổ trợ cho nhau, không thể tách rời nhau Ba chức năng cơ bản trong TTHS hoạt động nhằm mục đích chung, sự vận động của bất kỳ chức năng
Trang 18nào cũng ảnh hưởng chung đối với mục đích chung đó Mối quan hệ độc lập và phụ thuộc đó được thể hiện ở các mặt sau:
Thứ nhất, các chức năng cơ bản là những chức năng tố tụng có tính chất định hướng làm xuất hiện, vận động hay chấm dứt quá trình tố tụng Các chức năng này
buộc phải có mặt và tồn tại trong quá trình giải quyết trong bất kỳ VAHS nào
Trong TTHS có ba chức năng cơ bản, chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử Mỗi chức năng có vị trí, vai trò và bản chất, chủ thể thực hiện khác nhau, hoạt động đặc trưng khác nhau và đặc biệt là giữa chúng có sự độc lập với nhau Tuy vậy, giữa các chức năng này có mối liên hệ chặt chẽ, ràng buộc nhau để đảm bảo giải quyết VAHS Tùy vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể mà các chức năng tố tụng được thực hiện ở các cấp độ khác nhau, có những giai đoạn chỉ
có hai chức năng hoạt động, nhưng cũng có giai đoạn nếu thiếu một trong ba chức năng cơ bản thì TTHS không thể vận hành tốt được Cho dù dưới hành thức tố tụng nào (tố cáo, thẩm vấn hay tranh tụng…) cả ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét
xử vẫn luôn luôn xuất hiện và tồn tại, chúng chỉ khác là mức độ, ranh giới phân định như thế nào và do chủ thể nào thực hiện mà thôi
Thứ hai, các chức năng TTHS vừa độc lập vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau
Các chức năng TTHS trong các giai đoạn tố tụng khác nhau được thực hiện bởi các chủ thể tố tụng khác nhau Chức năng buộc tội trong GĐĐT do CQĐT hoặc chủ trì, tổ chức thực hiện với sự hỗ trợ và đảm bảo tính hợp pháp của các hoạt động TTHS cho CQĐT, cùng thực hiện chức năng buộc tội với CQĐT nhưng thong qua kết quả điều tra của CQĐT Chức năng buộc tội trong giai đoạn truy tố, xét xử do VKS chủ trì và tổ chức thực hiện, chức năng bào chữa do những người tham gia tố tụng thực hiện gồm bị can, bị cáo, người bào chữa Và chức năng xét xử do TA chủ trì, tổ chức thực hiện Chức năng xét xử tồn tại độc lập với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Như vậy, khi chức năng xét xử chưa xuất hiện, các chức năng buộc tội và bào chữa chỉ được thực hiện một cách độc lập; các chứng cứ, tài liệu về
vụ án chưa được thu thập, kiểm tra và đánh giá một cách đầy đủ, các tình tiết của vụ
án cũng chưa được xem xét, đánh giá một cách toàn diện và khách quan vì thiếu một chức năng quan trọng là chức năng xét xử Các chủ thể tiến hành tố tụng có vị trí, vai trò khác nhau, được giao thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác nhau, tiến hành các hoạt động tố tụng với quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm theo luật định, không chủ thể nào sử dụng quyền và nghĩa vụ của chủ thể khác để thực hiện chức năng của mình hoặc làm thay chức năng tố tụng của chủ thể khác
Trang 19Tuy nhiên, giữa các chức năng tố tụng không thể tồn tại độc lập tuyệt đối mà mỗi chức năng tồn tại, vận động vì sự tồn tại, vận động của hai chức năng còn lại
Bởi lẽ, các chức năng cơ bản của TTHS nằm trong chỉnh thể thống nhất của hệ thống chức năng TTHS, được thực hiện nhằm một mục đích chúng đó là xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Do đó, các chức năng tố tụng gồm chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử có mối liên hệ mật thiết với nhau, đó là mối quan hệ tương hỗ, chế ước lẫn nhau. Chức năng tố tụngnày phải là cơ sở, là tiền đề cho việc tồn tại và vận động của chức năng tố tụng kia Chủ thể thực hiện chức năng tố tụng vừa thực hiện chức năng tố tụng của mình, vừa giám sát việc thực hiện chức năng của chủ thể khác để đảm bảo việc thực hiện quyền tố tụng của mình
Khi giải quyết VAHS, các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử phải đặt trong mối quan hệ phối hợp, tác động, chế ước lẫn nhau, chỉ như vậy sự thật mới được kiểm chứng, chứng minh, hành vi phạm tội mới được xử lý Sự vận hành của các chức năng vừa thể hiện mục đích riêng, nhưng đồng thời cũng thực hiện những mục đích chung của TTHS, thiếu một trong các chức năng trên, tố tụng không thể vận hành, thực hiện
Thứ ba, giữa chúng có mối quan hệ chế ước, đối trọng với nhau trong quá trình giải quyết VAHS
Có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa thì hoạt động tố tụng là đơn chiều, có tính kết buộc không thể hiện được tính tranh tụng Và ngược lại, chức năng bào chữa không thể tồn tại nếu không có chức năng buộc tội Như vậy, có thể nói chức năng buộc tội và chức năng bào chữa như hai mặt đối lập trong một thể thống nhất Trong đó, chức năng buộc tội là tiền đề, quyết định chức năng bào chữa Đến lượt chức năng bào chữa tác động lại chức năng buộc tội, từ đó sự thật được kiểm chứng, giúp cho TA thực hiện chức năng xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nếu chức năng buộc tội và chức năng bào chữa vi phạm, khiếm khuyết sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng xét xử Các chức năng trên
sẽ không có ý nghĩa nếu không có chức năng xét xử của TA Chính chức năng xét
xử của TA đánh giá đúng đắn căn cứ, nội dung, bản chất, ý nghĩa mà chức năng buộc tội đã thực hiện và chức năng bào chữa đã chống lại Chính sự tranh luận, phản bác lẫn nhau giữa các mặt đối lập với sự chứng kiến của TA thì mới tìm ra được chân lý và sự thật khách quan của vụ án
Như vậy, có thể khẳng định rằng nếu thiếu hoặc khiếm khuyết một trong các chức năng tố tụng cơ bản đều ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của TTHS Các
Trang 20chức năng tố tụng vừa tồn tại, hoạt động độc lập, vừa chịu sự tác động, ảnh hưởng, quyết định hoặc chi phối chức năng khác, chúng độc lập nhưng không tuyệt đối
Bốn là, một chức năng có thể do một hoặc nhiều chủ thể thực hiện, nhưng cùng một lúc, một chủ thể không thể thực hiện nhiều chức năng cơ bản của TTHS
Trong mối quan hệ giữa các chức năng TTHS, chức năng bào chữa chỉ thực hiện trong nội dung của chức năng buộc tội Tuy chức năng bào chữa “đối trọng” với chức năng buộc tội, nhưng nó giúp cho việc buộc tội được khách quan, toàn diện, đồng thời giúp việc buộc tội được thực hiện nhanh chóng Nếu không có chức năng bào chữa thì buộc tội một chiều, dễ dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động buộc tội như bức cung, mớm cung, nhục hình Chức năng bào chữa không tự sinh ra
mà bắt đầu cùng sau khi xuất hiện chức năng buộc tội Chức năng bào chữa tồn tại khách quan, song song với quá trình thực hiện chức năng buộc tội Tất cả ba chức năng đều là chức năng cơ bản, chức năng chính yếu của TTHS, chức năng nào cũng quan trọng và không được phép đặt lên trên chức năng khác khi tham gia vào quan
hệ pháp luật TTHS Mỗi một chức năng đều có vai trò nhất định, chính vai trò của từng chức năng sẽ quyết định sự tồn tại tất yếu của chúng, là nhân tố để bảo đảm cho tiến trình TTHS được vận hành đúng mục đích
Việc đánh giá, phân tích khoa học mối quan hệ giữa các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong giải quyết VAHS, đảm bảo cho việc giải quyết VAHS toàn diện, khách quan, TA xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
1.2 Nhận thức về chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự
Đến nay, khoa học luật TTHS Việt Nam cũng như khoa học luật TTHS trên thế giới mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về các chức năng trong TTHS, nhưng lý luận, luật thực định và thực tiễn đã chứng minh rằng, sự vận hành của TTHS không thể thiếu ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử Nếu thiếu một trong ba chức năng đó thì TTHS sẽ không đạt được mục đích chung Theo Thạc sĩ Nguyễn Trương Tín, trong ba chức năng nêu trên, chức năng buộc tội là chức năng xuất hiện sớm nhất, là tiền đề và có tính chất quyết định cho sự vận hành của TTHS Nói cách khác, không có chức năng buộc tội thì không có chức năng bào chữa và cũng không có chức năng xét xử Chức năng buộc tội là chức năng quan trọng trong
Trang 21TTHS, nhưng hiện vẫn chưa có quan điểm nhất quán về nó mà đang còn nhiều quan điểm khác nhau về chủ thể tiến hành, về thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc [12]
Quan điểm thứ haicho rằng“buộc tội là ghép cho ai một việc bị luật hình sự trừng phạt hay buộc tội là luận tội” [13] Những người theo quan điểm này cho rằng hành vi thay mặt Nhà nước ghép cho một người cụ thể đã thực hiện hành vi bị luật hình sự trừng phạt đó là sự buộc tội Buộc tội không phải là ghép tội, vì ghép tội là khi một người không thực hiện hành vi phạm tội mà bị cho là thực hiện hành vi phạm tội Buộc tội không chỉ đơn thuần là hành vi ghép tội lỗi cho một người mà việc buộc tội được thực hiện với tổng hợp các hoạt động tố tụng hướng đến sự chứng minh lỗi của một người đã thực hiện hành vi bị luật hình sự nghiêm cấm Mặt khác, quan điểm này không xác định chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
- Quan điểm thứ ba cho rằng: “Buộc tội là kết luận của KSV trước toà về hành vi phạm tội của bị cáo dựa trên cơ sở phân tích chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, vận dụng các điều khoản pháp luật đã quy định” [14] Như vậy, theo quan điểm này thì chức năng buộc tội là chức năng riêng của VKS Trong hoạt động TTHS chỉ có VKS mới có chức năng buộc tội mà thôi, các cơ quan THTT khác như CQĐT không có chức năng buộc tội Chúng tôi không tán thành quan điểm này Bởi lẽ, chức năng buộc tội không chỉ thuộc về chức năng riêng của VKS, vì viêc thực hiện chức năng buộc tội của Viện kiểm sát phải dựa vào kết quả điều tra thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT trong giai đoạn trước Nhưng do đặc thù và yêu cầu chứng minh buộc tội ở GĐĐT và xét xử khác nhau nên hình thức buộc tội của CQĐT và VKS cũng khác nhau Về bản chất, cả hai cơ quan THTT này đều có chức năng buộc tội Mặt khác, quan điểm này đã đề cập đến nội dung của khái niệm buộc tội: buộc tội trên cơ sở phân tích chứng cứ, vận dụng các điều khoản pháp luật quy định để quy lỗi của bị can và về thời điểm thực hiện chức năng buộc tội Theo
đó chức năng buộc tội chỉ xuất hiện vào thời điểm xét xử, trước khi phiên tòa xét xử bắt đầu không hề có hoạt động tố tụng, mà chỉ có hoạt động chuẩn bị tố tụng của bên cơ quan công tố và bên bào chữa Do đó, phạm vi hoạt động và thời hạn thực hiện chức năng buộc tội đã bị thu hẹp và đồng thời phủ nhận chức năng buộc tội của CQĐT, chủ thể tiến hành chỉ có VKS Các hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh
12 Nguyễn Trương Tín (2009), “Một số vấn đề lý luận về chức năng buộc tội trong TTHS và vấn
đề sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003 liên quan đến chức năng buộc tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (số 8), tr 23
13 Bộ tư pháp (1999), Từ điển luật học, NXB Quốc gia, tr 47
14 Viện nghiên cứu chiến lược và khoa học công an (1999), Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam”, tr 27
Trang 22tội phạm của CQĐT và hoạt động truy tố của VKS không phải là hoạt động buộc tội
Quan điểm này chỉ phù hợp trong mô hình tố tụng tranh tụng của các quốc gia theo hệ thống án lệ Còn trong mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng pha trộn thiêng về thẩm vấn thì hoạt động buộc tội được tổ chức tiến hành sớm hơn, nó xuất hiện từ khi có quyết định KTBC của CQĐT Như vậy, quan điểm về chức năng buộc tội này không phù hợp với mô hình tố tụng của Việt Nam hiện nay
- Quan điểm thứ tư, theo tác giả L.N.Guxayep: “Sự buộc tội hình thành và được thực hiện chỉ trong giai đoạn xét xử Trong GĐĐT không có sự buộc tội, còn hoạt động của ĐTV - đó là thực hiện chức năng điều tra, một chức năng duy nhất trước giai đoạn xét xử” [15] Theo quan điểm này thì chức năng buộc tội bắt đầu từ
thời điểm xét xử tại phiên tòa Quan điểm này khẳng định sự buộc tội chỉ trong giai đoạn xét xử như vậy là quá hẹp Vì sự buộc tội không chỉ diễn ra tại phiên tòa mà
nó được bắt đầu sớm hơn, kể từ khi một người chính thức bị tham gia vào các hoạt động tố tụng do các CQTHTT tiến hành
- Quan điểm thứ năm cho rằng: “chức năng buộc tội còn gọi là chức năng truy cứu TNHS, là một dạng hoạt động tố tụng nhằm phát hiện kẻ phạm tội, chứng minh lỗi của người đó, bảo đảm phán xử và hình phạt đối với người đó” [16] Truy cứu TNHS là việc các cơ quan tiến hành áp dụng các biện pháp TTHS qua các giai đoạn từ KTVA, từ khi chưa xác định được người thực hiện tội phạm đến khi xác định người thực hiện tội phạm, KTBC, điều tra, truy tố và xét xử để buộc người đã
có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi ấy, tức là phải chịu hình phạt Buộc tội, với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất
đó chính là hoạt động truy cứu TNHS đối với người phạm tội Như vậy, quan điểm này cho rằng chức năng buộc tội xuất hiện từ khi KTVA hình sự, tức ngay cả khi chưa xác định được người phạm tội cũng đã có chức năng buộc tội Vậy là chức năng buộc tội được thực hiện trong giai đoạn khởi tố này không xác định được chủ thể bị buộc tội là ai mà vẫn tiến hành buôc tội, điều này không hợp lý Nói cách khác, chưa có người để buộc tội vẫn tồn tại chức năng buộc tội Quan điểm này xác định phạm vi buộc tội quá sớm và chưa nêu được chủ thể thực hiện chức năng buộc tội
15 Lê Tiến Châu (2007), Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam, tr 20,
16 Nguyễn Thái Phúc (2004), Một số vấn đề về quyền công tố của VKS, kỷ yếu đề tài “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của TTHS Việt Nam”, tr 22
Trang 23Như vậy, các quan điểm trên có những điểm tích cực, đồng thời cũng có
những điểm chưa hợp lý Mà theo tác giả, “chức năng buộc tội là một dạng chức năng tố tụng, bao gồm những hoạt động thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục quy định trong BLTTHS do các CQTHTT được sự ủy quyền của Nhà nước (CQĐT, VKS) từ khi có quyết định KTBC, nhằm mục đích chứng minh người thực hiện tội phạm đảm bảo đủ các yếu tố cấu thành theo quy định của BLHS, làm cơ sở để VKS truy tố trước Tòa” Người bị buộc tội chưa phải là người có tội nhưng cũng không
phải là người không phạm tội Người bị buộc tội là người trong tình trạng trung gian giữa không phạm tội và có phạm tội
Khi có đủ căn cứ cho rằng, người nào đó đã thực hiện hành vi phạm tội thì
cơ quan có thẩm quyền ra quyết định KTBC, kể từ thời điểm này, hoạt động buộc tội chính thức được tiến hành nhằm chống lại bị can Bởi lẽ:
- Các hoạt động tố tụng trước khi có quyết định KTBC như khám nghiệm hiện trường, xác minh tin báo, tin tố giác tội phạm, lấy lời khai người bị tạm giữ, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước KTVAHS là những hoạt động của CQĐT nhằm xác định có hay không có sự kiện phạm tội để có căn cứ
ra quyết định KTVA truy cứu TNHS đối với người phạm tội dù tại thời điểm này có thể chưa phát hiện được người phạm tội Trong giai đoạn này người thực hiện tội phạm chưa được xác định, hoặc đã được phát hiện nhưng chưa có quyết định chính thức tuyên bố buộc tội, vì CQĐT cần thu thập những chứng cứ xác định đúng con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm co xã hội gây ra sự kiện phạm tội và đó là con người nào trong xã hội Việc thu thập những tài liệu chứng cứ này làm cơ sở cho các CQTHTT chính thức ra các quyết định thông báo bắt đầu tiến hành các hoạt động nhằm chứng minh người phạm tội đó vi phạm quy định của BLHS đảm bảo đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm
- Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong thời điểm trước khi có quyết định KTBC như bắt khẩn cấp, khám xét khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người bị bắt là những hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS là nhằm mục đích ngăn chặn việc người phạm tội tiếp tục thực hiện những hoạt động gây nguy hiểm hơn cho xã hội, hoặc người đó có căn cứ xác định con người đó có những biểu hiện là dấu hiệu nghi vấn của tội phạm để ngăn chặn người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Những hoạt động tố tụng đó đều không phải nhằm buộc tội đối với họ, mà ngăn chặn họ tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến cùng Người bị bắt, bị tạm giữ chưa phải là người có tội, chưa phải là người bị buộc tội, họ vẫn có quyền công dân, nhưng trong những trường hợp này họ là những
Trang 24công dân bị vướng vào vòng pháp luật TTHS, bị pháp luật TTHS điều chỉnh, do đó
họ bị cưỡng chế Nhà nước bằng các biện pháp ngăn chặn do các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền thực hiện
- Các hoạt động trong giai đoạn đoạn điều tra mới chính thức là các hoạt động nhằm phục vụ cho mục đích buộc tội Các hoạt động buộc tội trong giai đoạn này chủ yếu do CQĐT thực hiện bằng cách điều tra, thu thập tất cả những chứng cứ
để dựa vào đó, VKS ra quyết định truy tố tội phạm và người phạm tội ra trước TA
và đề nghị TA xem xét tính chất mức độ phạm tội cũng như áp dụng loại và mức hình phạt tương xứng Như vậy, trong GĐĐT, ngoài việc làm sáng tỏ nội dung vụ
án, CQĐT đã cùng với VKS thực hiện chức năng buộc tội Điều đó có nghĩa là, vào thời điểm KTBC, chức năng buộc tội bắt đầu được thực hiện mà không chờ đến giai đoạn xét xử sơ thẩm CQĐT khi tiến hành KTBC là đã thực hiện sự buộc tội đối với
bị can, áp dụng những biện pháp tố tụng cần thiết để làm rõ hành vi, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, sau đó kết luận điều tra, kết luận tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở tài liệu chứng cứ thu thập theo trình tự thủ tục trong BLTTHS và đề nghị VKS truy tố
Có thể thấy, chức năng buộc tội là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng của TTHS Sự tồn tại của chức năng buộc tội quyết định sự tồn tại của
chức năng bào chữa và chức năng xét xử “Chức năng buộc tội, nhất là trong hình thức buộc tội nhân danh Nhà nước, có vai trò động lực của TTHS Nó được coi là trục chính thu hút hoạt động của tất cả những người tham gia phiên tòa” [17] Và
“trong hệ thống các chức năng TTHS cơ bản thì chức năng buộc tội được coi là chức năng đóng vai trò chủ đạo, quyết định Không có sự buộc tội thì không thể có TTHS, TTHS sẽ trở thành không có mục đích và đối tượng” [18] Khẳng định trên
không có nghĩa là chức năng bào chữa và chức năng xét xử đóng vai trò thứ yếu, chức năng phụ, mà chức năng nào cũng quan trọng Tuy nhiên, trong ba chức năng
đó thì chức năng buộc tội là động lực đầu tiên làm xuất hiện các chức năng tố tụng khác, là đòn bẩy đưa bộ máy tố tụng vào hoạt động Chức năng buộc tội là chức năng bắt buộc, không có chức năng buộc tội thì không có chức năng bào chữa và tất nhiên cũng không có chức năng xét xử Thực hiện tốt chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là điều kiện quan trọng giúp cho TA kiểm tra một cách đầy đủ nhất các chứng cứ, các tình tiết của vụ án, góp phần đảm bảo cho TA xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
17 Nguyễn Thái Phúc (2004), Tài liệu đã dẫn 16, tr 22
18 Nguyễn Thái Phúc (2004), Tài liệu đã dẫn 16, tr 23
Trang 25Nội dung chức năng buộc tội bao gồm những hoạt động tố tụng theo quy định của BLTTHS, các CQTHTT, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm phát hiện người đã thực hiện hành vi phạm tội, tội phạm đã thực hiện, những tình tiết thể hiện tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, chứng minh lỗi của những người đã thực hiện tội phạm, lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, hậu quả thiệt hại, những tình tiết tăng nặng TNHS Như vậy, nội dung chức năng buộc tội chính là nội dung các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể buộc tội phải thực hiện khi giải quyết VAHS theo quy định của pháp luật TTHS
Chức năng buộc tội tồn tại từ GĐĐT và sẽ kéo dài cho đến khi có quyết định đình chỉ điều tra bị can của CQĐT hoặc VKS, hoặc khi bản án hoặc quyết định của
TA có hiệu lực pháp luật Tức là nó phải trải qua GĐĐT, truy tố và xét xử Tất nhiên việc buộc tội trong GĐĐT và giai đoạn xét xử có những nội dung, chủ thể, hình thức buộc tội khác nhau
Chức năng buộc tội do nhiều chủ thể thực hiện, mỗi chủ thể ở một vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác nhau có mức độ thực hiện chức năng buộc tội khác nhau Tuy nhiên, chủ thể được toàn quyền sử dụng các biện pháp để nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng buộc tội chỉ có CQĐT, VKS mà người thực hiện trực tiếp là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV; Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS nhân dân, KSV Đối với những người tham gia tố tụng được pháp luật quy định có mục đích tham gia tố tụng đối lập với người bị buộc tội (bị can, bị cáo, người bào chữa) gồm người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ, người có quyền lợi liên quan được quyền đưa ra những lời trình bày, những yêu cầu, tài liệu,
đồ vật làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo, nhưng những lời trình bày, những yêu cầu, đồ vật, tài liệu mà họ đưa ra cũng phải giao cho CQĐT, phải do CQĐT thu thập và đưa vào hồ sơ vụ án để xác minh các thuộc tính của chứng cứ, đối chiếu, so sánh với các chứng cứ khác làm cơ sở chứng minh đúng tội phạm và người phạm tội
Các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 110, 111 BLTTHS và trong Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự như Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, là những cơ quan như luật đã quy định nhiệm vụ được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu đối với những vụ
án xảy ra trong lĩnh vực liên quan đến lĩnh vực quản lý của các cơ quan đó Các cơ quan này thực hiện các hoạt động điều tra như CQĐT trong giai đoạn trước khi ra quyết định KTBC, trong giai đoạn này chưa phải là giai đoạn thực hiện chức năng
Trang 26buộc tội Trong GĐĐT, do yêu cầu điều tra phải phối hợp về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý của cá cơ quan đó, xác định tội phạm trong các lĩnh vực chuyên môn của các cơ quan đó, CQĐT cần sự phối hợp, cung cấp những thông tin, tài liệu liên quan đến tội phạm của các CQTHTT để thu thập chứng cứ chính xác chứng minh tội phạm hiệu quả Các cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra không có cơ sở lực lượng, không có công cụ phương tiện chuyên môn để tiến hành các hoạt động buộc tội như CQĐT hay VKS, đó không phải là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội trong TTHS
Như vậy, chủ thể thực hiện chức năng buộc tội trong TTHS là CQĐT, VKS,
mà cụ thể Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thong qua quy định trong BLTTHS, trao quyền chủ trì hoạt động buộc tội cho Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS nhân dân, KSV, nhưng có kèm theo nghĩa vụ Các giai đoạn tố tụng khác nhau, các chủ thể hiện vai trò thực hiện chức năng buộc tội khác nhau, có các biện pháp và phương tiện buộc tội khác nhau. Và chức năng buộc tội được thực hiện trong ba giai đoạn giai đoạn của quá trình tố tụng giải quyết VAHS, đó là GĐĐT, truy tố và xét xử
1.3 Chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự
Theo Điều 33 BLTTHS, CQĐT cùng với VKS và TA là các CQTHTT, nhưng vị trí, chức năng, nhiệm vụ của CQĐT mang đặc điểm riêng so với CQTHTT khác CQĐT với vai trò thể hiện chức năng buộc tội trong TTHS, thực hiện nhiệm
vụ tổ chức các hoạt động điều tra làm rõ sự thật khách quan các VAHS, xác định chính xác sự kiện phạm tội, người phạm tội bằng các phương tiện BLTTHS trao cho, cụ thể là quyền và nghĩa vụ tố tụng CQĐT có được trong BLTTHS, dùng để tiến hành các hoạt động điều tra nói chung trong giai đoạn khởi tố và GĐĐT và các hoạt động buộc tội nói riêng đối với người bị khởi tố trong GĐĐT
CQĐT chủ yếu được đặt trong cơ quan hành pháp của Chính phủ, thuộc BCA và Bộ Quốc phòng, trừ CQĐT của VKS nhân dân Tối cao Vì vậy, CQĐT vừa hoạt động thực hiện chức năng buộc tội theo TTHS, vừa hoạt động dưới sự quản lý
về mặt hành chính, tuân theo Chỉ thị, mệnh lệnh của lãnh đạo, cơ quan quản lý hành chính cấp trên trực tiếp như pháp luật hành chính quy định, vừa chịu sự quản lý theo ngành ngang, vừa chịu sự quản lý theo ngành dọc
Đồng thời, các CQĐT chủ yếu nằm trong hệ thống cơ quan thuộc lực lượng
vũ trang là Bộ quốc phòng và BCA (trừ CQĐT trong VKS nhân dân), là lực lượng
có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế
Trang 27độ XHCN; ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động gây mất ổn định chính trị, xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thỗ, làm ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; ngăn chặn và trừng trị có hiệu quả mọi loại tội phạm, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội
Dù CQĐT không có quyền quyết định một người có phải là có tội hay không
có tội, nhưng để có chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội và người phạm tội, làm
cơ sở cho việc ra Quyết định đề nghị truy tố hoặc Quyết định truy tố bị can ra trước Tòa, cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cần thiết phải có hoạt động điều tra
và hoạt động thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT, đặc biệt là chức năng buộc tội Không có việc thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT thì không có hoạt động thực hiện chức năng buộc tội của VKS và hoạt động thực hiện chức năng xét xử của
TA Chính vì thế, việc thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT là một khâu đột phá, giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình TTHS Có thể nói những kết quả khả quan cũng như những sai lầm tố tụng nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, thường bắt nguồn từ hoạt động thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT Khi CQĐT thu thập chứng cứ không đầy đủ, không kịp thời, hoặc không đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng thì không đủ cơ sở để ra một quyết định tố tụng đúng đắn Vị trí quan trọng của hoạt động điều tra đối với công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không chỉ giới hạn ở số lượng và chất lượng chứng
cứ buộc tội mà CQĐT cung cấp cho VKS, TA, mà thậm chí trong nhiều trường hợp,
sự nhận định, đánh giá, buộc tội của CQĐT và VKS còn quy định cả giới hạn xét
xử Vì vậy, có thể khẳng định: hoạt động buộc tội của CQĐT là không thể thiếu được trong TTHS TA muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước
đó CQĐT phải thu thập được những chứng cứ buộc tội đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Chức năng buộc tội do CQĐT thực hiện trong GĐĐT tồn tại từ khi CQĐT ra quyết định KTBC và kéo dài trong suốt GĐĐT cho đến khi kết thúc điều tra VAHS
và CQĐT ra bản kết luận điều tra, kết luận mức độ phạm tội của bị can, đề nghị VKS truy tố đối với bị can hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra bị can Chức năng buộc tội của CQĐT tồn tại trong GĐĐT Tuy nhiên, nội dung chức năng buộc tội của CQĐT trong GĐĐT có những đặc thù khác với nội dung buộc tội trong giai đoạn truy tố, xét xử Chức năng buộc tội trong GĐĐT được thực hiện chủ yếu bởi CQĐT nhưng luôn được sự kiểm sát chặt chẽ của VKS - chủ thể không thể thiếu trong việc thực hiện chức năng buộc tội trong TTHS - trong từng hoạt động tố tụng, đảm bảo cho hoạt động buộc tội của CQĐT trong suốt GĐĐT chặt chẽ, đảm bảo hoạt động buộc tội đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trang 28Nội dung cơ bản của chức năng buộc tội của CQĐT là những hoạt động thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV trong quá trình giải quyết VAHS Đó là quyền ra các quyết định tố tụng mang tính chất khởi đầu hoạt động buộc tội và xác định hoạt động buộc tội của CQĐT trong phạm
vi GĐĐT Đồng thời nó cũng là nghĩa vụ của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, ĐTV trong việc đảm bảo các quyết định tố tụng của mình đủ căn cứ, cơ sở pháp lý theo quy định của BLTTHS Trong quá trình thực hiện chức năng buộc tội của mình, CQĐT tự mình tìm kiếm, phát hiện chứng cứ thông qua các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng Việc CQĐT ra quyết định KTBC hay ban hành bất cứ quyết định tố tụng nào đối với người bị buộc tội đều có chứng cứ xác định theo yêu cầu của BLTTHS, tuỳ từng quyết định mà chứng cứ dùng làm căn cứ
ra quyết định có tính chất buộc tội khác nhau
Với nội dung chức năng buộc tội trên, CQĐT phải tổ chức thực hiện các các nhiệm vụ điều tra, thu thập, bảo quản chứng cứ, lập luận về giá trị chứng minh của chứng cứ đối với hành vi phạm tội của bị can Trong việc thực hiện chức năng buộc tội của mình, CQĐT được BLTTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự trao quyền bằng các quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ, các quy định trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra Vì nhiệm vụ của chức năng buộc tội trong TTHS
là khi kết thúc hoạt động buộc tội theo tố tụng phải xác định rõ ràng hoặc người bị buộc tội là người có phạm tội hoặc là người bị buộc tội không phạm tội Điều nàykhông đồng nghĩa với khái niệm người bị buộc tội là người phạm tội Và vì người bị buộc tội mới chỉ là người bị tình nghi về việc thực hiện những hành vi có dấu hiệu của tội phạm trong BLHS
Chức năng buộc tội của CQĐT được thực hiện bởi ĐTV, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT trong lực lượng Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân và trong VKS nhân dân (nay chỉ còn trong VKS nhân dân Tối cao) theo quy định tại Điều 110 BLTTHS 2003 Các CQĐT thực hiện chức năng buộc tội của mình thông qua Thủ trưởng, Phó thủ trưởng và các ĐTV Các CQĐT có thẩm quyền điều tra VAHS từ khi phát hiện sự kiện phạm tội cho đến khi kết thúc điều tra vụ án CQĐT thực hiện chức năng buộc tội từ khi có căn cứ xác định người có hành vi phạm tội làm cơ sở ban hành một quyết định TTHS như các quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác nhằm đảm bảo cho hoạt động buộc tội được nhanh chóng, khách quan như bắt bị can để tạm giam, khám xét người, nơi ở, nơi làm việc của bị can khi có căn cứ xác định có tài liệu liên quan đến vụ án và hành vi phạm tội của bị can, các quyết định làm cơ sở cho việc tiếp tục thực hiện chức năng buộc tội, các
Trang 29quyết định tố tụng để thu thập và củng cố chứng cứ đảm bảo theo đúng trình tự, thủ tục luật định
Chức năng buôc tội của CQĐT thực hiện trong GĐĐT bên cạnh các chủ thể tiến hành tố tụng khác và những người tham gia tố tụng Một trong các chủ thể có thẩm quyền thực hiện chức năng buộc tội chính trong suốt quá trình giải quyết VAHS, có quyền yêu cầu điều tra, thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT, đó là VKS Tuy nhiên, việc thực hiện chức năng buộc tội của hai chủ thể trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn luật TTHS quy định, có mức độ tham gia khác nhau trong việc giải quyết VAHS Hay nói cách khác, nội dung chức năng buộc tội của CQĐT và VKS là không đồng nhất BLTTHS, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, luật tổ chức VKS quy định nhiệm vụ, thẩm quyền của CQĐT và VKS là riêng biệt, cụ thể VKS thực hiện chức năng buộc tội trong GĐĐT thông qua hoạt động kiểm sát điều tra theo tố tụng của CQĐT, hỗ trợ CQĐT đánh giá chứng cứ buộc tội, xác định phương hướng điều tra, thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT trong GĐĐT, đảm bảo các hoạt động thu thập, củng cố chứng cứ đúng pháp luật, chứng minh được tội phạm
và người phạm tội, trong đó quan trọng nhất là việc bảo đảm ba thuộc tính của chứng cứ (tính hợp pháp, tính khách quan và tính liên quan) Việc buộc tội được hiểu là buộc tội đúng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội thực hiện và hành vi phạm tội đó đúng với mức độ được quy định trong BLHS
Việc thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT trong TTHS được thực hiện từ trước khi có BLTTHS Việt Nam, từ khi lực lượng Công an nhân dân mới thành lập đến nay Tuy quyền hạn, trách nhiệm, hình thức, mức độ thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT trong các giai đoạn lịch sử không giống nhau hoàn toàn, nhưng các quy định pháp luật TTHS về quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của CQĐT, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong Công an nhân dân trước đây và trong CQĐT sau này được quy định theo hướng ngày càng hoàn thiện Như vậy, chức năng buộc tội của CQĐT là chức năng luật định tuy chưa cụ thể thành một điều luật riêng trong quy định BLTTHS
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG BUỘC TỘI CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 2.1 Những bảo đảm về pháp luật tố tụng hình sự trong việc thực hiện chức năng buộc tội của Cơ quan điều tra
2.1.1 Giai đoạn từ trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam ra đời
Luật TTHS Việt Nam hình thành, phát triển gắn với những giai đoạn của cách mạng Việt Nam Trước Cách mạng tháng Tám, trong thời kỳ thuộc địa, pháp luật nước ta chịu ảnh hưởng của pháp luật Phong kiến và Tư sản của Pháp Luật TTHS được pháp điển hoá bằng Đạo dụ 15/6/1921 tại Trung kỳ, tiếp theo là Bộ luật TTHS 1935 ở Bắc kỳ, nó được áp dụng cho đến năm 1945
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, trong bối cảnh Nhà nước công nông vừa mới ra đời và cuộc kháng chiến lâu dài của đất nước, ngày 16/4/1945, Tổng Bộ Việt Minh ban hành quy định lề lối làm việc của Tiểu ban Tư pháp và thẩm quyền xét xử của các tiểu ban này Tiếp đó, Nhà nước ban hành Sắc lệnh ngày 13/9/1945 quy định việc thành lập TA Quân sự và sau này bổ sung bằng Sắc lệnh số
21 ngày 14/2/1946, trong đó quy định “TA Quân sự có thẩm quyền xét xử những tội phạm phương hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà” [19] Hoạt động TTHS trong giai đoạn này chủ yếu do các TA Quân sự, các TA binh thực hiện với sự buộc tội của Uỷ viên Chính phủ trên cơ sở điều tra của Quân pháp Các Chánh án, Uỷ viên Chính phủ thực hiện việc buộc tội thường là kiêm nhiệm Pháp luật TTHS giai đoạn này còn rất sơ sài, có rất ít văn bản pháp luật quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể của người tiến hành tố tụng
Cơ quan Tư pháp Công an là tổ chức điều tra theo TTHS đầu tiên - tiền thân của CQĐT - được thành lập theo Sắc lệnh số 131 ngày 20/7/46 Về mặt pháp lý, CQĐT chỉ có Trưởng ty, Trưởng phòng, Trưởng ban chính trị Tư pháp hoặc Trưởng ban khác được Bộ Nội vụ chỉ định mới được công nhận là Ủy viên Tư pháp Công
an, có quyền điều tra các vụ phạm pháp, thu thập tang chứng, bắt người phạm pháp giao cho TA xét xử Việc chỉ đạo, kiểm soát tổ chức và hoạt động Tư pháp Công an thuộc thẩm quyền của Trưởng lý, Biện lý (sau này là Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS nhân dân, KSV) ở ngành Kiểm sát Thời kỳ này, tổ chức Tư pháp Công an không có sự độc lập mà bị phụ thuộc, chi phối bởi ngành TA Các hoạt động điều
19 , Trường Đại học Luật Hà Nội (2000), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
tr 19
Trang 31tra trinh sát của công an nếu không chuyển qua hoạt động “Tư pháp Công an” đều không có giá trị pháp lý Cán bộ hỏi cung chỉ là thư ký giúp việc cho Ủy viên Tư pháp Công an, mặc dù trong thực tế cán bộ hỏi cung là người điều tra, lập hồ sơ các
vụ phạm pháp Tức là, chỉ có Trưởng ty, Trưởng phòng, Trưởng ban chính trị Tư pháp mới có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng trong CQĐT theo TTHS. Cán
bộ trinh sát vừa làm trinh sát, vừa làm công tác hỏi cung, không xác định vai trò, vị trí tố tụng của cán bộ làm công tác điều tra thực hiện chức năng buộc tội
CQĐT theo TTHS đã có nhiều thay đổi, chấn chỉnh dần để phù hợp với từng thời kỳ cách mạng Thực hiện Nghị quyết hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VI năm 1951, tại Ty Bảo vệ chính trị thuộc Nha Công an trung ương, Phòng Chấp pháp
đã được thành lập Ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 141/SL đổi Nha Công an thành Thứ bộ Công an, Sắc lệnh này quy định tổ chức bộ máy của Thứ bộ Công an gồm có: Văn phòng, Vụ bảo vệ chính trị, Vụ trị an hành chính, Vụ Chấp pháp, Cục Cảnh vệ, Phòng nhân sự, Trường Công an Vụ chấp pháp (CQĐT) có nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố (thực hiện chức năng buộc tội) các vụ phạm tội phản cách mạng và hình sự khác; quản trị trại giam Ở Ty Công
an tỉnh có Ban chấp pháp, ở Công an liên khu có Phòng chấp pháp, ở nhiều địa phương thành lập các Phòng Chấp pháp, Ban Chấp pháp
Việc thành lập Cơ quan Chấp pháp là một sự kiện quan trọng trong tổ chức của ngành Công an kể từ sau Cách mạng tháng Tám và từ khi thành lập Việt Nam Công an vụ Lần đầu tiên trong ngành Công an có cơ quan chuyên trách làm nhiệm
vụ điều tra công khai theo TTHS, tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng buộc tội như hỏi cung, lập hồ sơ đề nghị truy tố, xét xử Còn các cơ quan khác trong Công an nhân dân chỉ chuyên trách làm công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm bằng biện pháp trinh sát và quản lý hành chính
Sau khi thành lập, các đơn vị chấp pháp chủ yếu tiến hành các hoạt động điều tra, thực hiện chức năng buộc tội đối với tội phạm liên quan đến tội phạm xâm phạm ANQG như gián điệp, phản động, phục vụ công tác đấu tranh, đánh địch, làm thất bại các âm mưu, hoạt động do thám của thực dân Pháp, đập tan âm mưu đảo chính của bọn phản động, góp phần bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp Vấn đề thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT, lực lượng chấp pháp đã nghiên cứu tỉ mỷ, cụ thể, tôn trọng sự thật khách quan, đã phát hiện nhiều trường hợp oan sai, góp phần bảo đảm đảm thực hiện đúng đắn chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Trang 32Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VI (8/1953), đánh giá những tồn tại trong hoạt động buộc tội của CQĐT trong giai đoạn 1946- 1953 đã kết luận: Công tác bắt đã phạm những sai lầm “tả khuynh và hữu khuynh” (không đảm bảo căn cứ pháp lý), công tác hỏi cung đã phạm những sai lầm nghiêm trọng như hỏi cung buộc tội để thay điều tra, dùng cực hình, bức cung, dụ dỗ, mớm cung, khuynh hướng trọng cung hơn trọng chứng, hỏi cung cốt để buộc tội chứ không phải để tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện phạm tội, mà để truy kích địch Về công tác tổ chức cán bộ làm công tác điều tra công khai theo TTHS nói chung và việc tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng buộc tội như hỏi cung nói riêng còn thiếu chuyên trách, cán bộ vừa làm công tác hỏi cung, vừa làm công tác trinh sát sẽ khó đạt được mục đích công tác hỏi cung và dễ phạm sai lầm chủ quan, bức cung theo nhận định chủ quan, tài liệu trinh sát đã thu thập bước đầu
Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ VII, một trong những vấn đề được quan tâm thảo luận và kết luận là khẳng định vị trí, tầm quan trọng của công tác Chấp pháp Nội dung chủ yếu của Hội nghị là chấn chỉnh hoạt động thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT, nhất là các biện phápthu thập chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội gồm khám xét, điều tra xét hỏi (hỏi cung bị can), các biện pháp ngăn chặn như bắt, giam giữ người tình nghi phạm tội, cũng như hướng dẫn công tác chấp pháp, chống bắt bừa, bắt ẩu, cấm bức cung, nhục hình trong công tác điều tra Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị, lực lượng chấp pháp đã đề xuất chủ trương chấn chỉnh công tác bắt, giam giữ, điều tra xét hỏi và tổ chức rà soát toàn bộ
hồ sơ các đối tượng bị giam giữ Trên cơ sở đánh giá tài liệu, chứng cứ đã thanh loại trả tự do cho hàng ngàn người, đảm bảo đúng chính sách pháp luật
Năm 1954, do nhu cầu công tác cải tạo các loại tội phạm mở rộng, cải tạo các phần tử phản cách mạng trong số nguỵ quân, nguỵ quyền, các đảng phái phản động và giai cấp địa chủ phong kiến bóc lột Ngày 17/2/1955, Vụ Chấp pháp ở Bộ được tách thành 2 bộ phận: Bộ phận làm công tác điều tra tội phạm của Vụ Chấp pháp trở thành Phòng Chấp pháp trực thuộc Vụ Bảo vệ chính trị, Phòng quản lý trại giam trở thành Vụ lao cải trực thuộc Bộ Công an
Để đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới, nặng nề hơn, tháng 4/1957, Phòng Chấp pháp tách khỏi Vụ Bảo vệ chính trị, trở thành Vụ Chấp pháp trực thuộc BCA, với nhiệm vụ chuyên trách điều tra công khai theo TTHS, tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng buộc tội theo TTHS Từ đây, thẩm quyền điều tra của Vụ Chấp pháp không còn thu hẹp ở điều tra tội phạm xâm phạm ANQG nữa, mà mở rộng thêm hai loại đối tượng: tội phạm về kinh tế và tội phạm về trị an xã hội Việc ban hành các
Trang 33văn bản tố tụng trong giải quyết VAHS như Quyết định KTVA, KTBC, quyết định
áp dụng các biện pháp ngăn chặn đảm bảo cho việc thực hiện chức năng buộc tội và hoạt đấu tranh với tội phạm phải có chứng cứ làm căn cứ, việc tiến hành các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ buộc tội phải có hồ sơ làm căn cứ để kết thúc điều tra, đề nghị xét xử, làm bản báo cáo quá trình điều tra vụ án (Bản báo cáo kết thúc), gửi hồ sơ, tang vật sang Toà Đến ngày 29/9/1961, Vụ Chấp pháp đổi tên thành Cục Chấp pháp Các địa phương thành lập trở lại các Phòng Chấp pháp
Công tác nghiên cứu, tổng kết, lực lượng Chấp pháp đã đề xuất với Bộ ra nhiều văn bản chấn chỉnh công tác điều tra thực hiện chức năng buộc tội gồm bắt, khám xét, giam giữ, thu giữ tang vật, điều tra xử lý tội phạm như: Chỉ thị 148/CT ngày 21/8/1986, Chỉ thị 439 ngày 6/6/1969, Chỉ thị 544 ngày 2/6/1970, Chỉ thị 475 ngày 13/7/1970, Chỉ thị 366 ngày 20/3/1971, Chỉ thị 120 ngày 6/4/1972, Chỉ thị 50 ngày 8/2/1974 Do đó, công tác bắt giữ, khám xét, điều tra, xử lý tội phạm, thu giữ, quản lý tang vật của lực lượng điều tra từng bước đi vào nề nếp, hạn chế những sai phạm BCA đã ban hành các văn bản quy định hệ thống nguyên tắc, cách thức tiến hành một số hoạt động quan trọng trong công tác điều tra, đó là các văn bản: Chế độ công tác bắt, giam giữ, khám xét (1969), Chế độ công tác xét hỏi bị can (1971), Chế
độ thu giữ, bảo quản và xử lý tang vật (1971) [20]
Chức năng buộc tội của các CQTHTT nói chung, của CQĐT chịu sự giám sát tư pháp của VKS dựa trên cơ chế vừa phối hợp, vừa chế ước lẫn nhau Trong thời gian này, sự phân công điều tra giữa VKS nhân dân và Công an nhân dân theo Thông tư liên ngành số 427/TTLN ngày 28/6/1963 của VKS nhân dân Tối cao và BCA quy định phân công điều tra giữa VKS nhân dân và Cơ quan Công an Mặc dầu có sự phân công cụ thể, nhưng thực tế qua sơ kết việc thực hiện Thông tư 427 trong những năm 60, 70 cho thấy việc điều tra các loại tội phạm phức tạp, nghiêm trọng hoặc tương đối rõ, đơn giản vẫn do cơ quan Công an thực hiện, còn nói chung VKS chỉ làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra Về tổ chức, cuối những năm 80, VKS nhân dân tối cao mới thành lập Vụ điều tra thẩm cứu, thực hiện cả nhiệm vụ kiểm sát và nhiệm vụ điều tra Về phía CQĐT trong Công an nhân dân, trong thời gian thực hiện Luật số 19 và Thông tư liên ngành số 427 thấy có những vấn đề đáng chú
ý sau:
- Các Ban trinh sát ở Ty, Cục trinh sát ở Bộ đều có quyền KTVA, bắt khẩn cấp, trừ các vụ án phản cách mạng do Cơ quan Chấp pháp các cấp thụ lý, điều tra Nhiều đơn vị trinh sát hình sự, trinh sát bảo vệ kinh tế đều tiến hành khởi tố, điều
20 Bộ Công an (1976), Sổ tay công tác Chấp pháp, NXB CAND, tr 5
Trang 34tra vụ án từ đầu đến khi kết thúc mới chuyển sang Cơ quan Chấp pháp làm cáo trạng đề nghị truy tố hoặc để Cơ quan Chấp pháp tiếp tục điều tra vụ án khi thiếu chứng cứ chứng minh tội phạm
Ngày 22/2/1973, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 32/CP sửa đổi tổ chức
bộ máy tổ chức BCA Từ đó, BCA quyết định giao công tác hỏi cung, lập hồ sơ truy
tố các loại tội phạm hình sự (về trị an xã hội), cho Cục cảnh sát hình sự phân cấp thụ lý điều tra hỏi cung, lập hồ sơ truy tố các vụ án kinh tế như sau:
- Án kinh tế nghiêm trọng, phức tạp do cơ quan chấp pháp khởi tố, điều tra, hỏi cung, lập hồ sơ đề nghị truy tố;
- Án kinh tế đơn giản, ít nghiêm trọng do các Cơ quan trinh sát kinh tế thụ lý điều tra
Như vậy, Cơ quan Chấp pháp chỉ có nhiệm vụ thụ lý điều tra theo TTHS các
vụ án tội phạm phản cách mạng và tội xâm phạm tài sản XHCN, án kinh tế nghiêm trọng, phức tạp
Hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm CQĐT, VKS, TA đã hoạt động thường xuyên, có nề nếp theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, giai đoạn này nước ta chưa có BLTTHS, hoạt động tố tụng được thực hiện trên cơ sở các luật tổ chức và văn bản hướng dẫn đơn lẻ của cơ quan có thẩm quyền như BCA, VKS nhân dân tối cao, TAND tối cao Trong giai đoạn những năm 1960 đến 1970, việc thực hiện chức năng buộc tội, nhiệm vụ điều tra VAHS trong TTHS chưa xác định chủ thể thực hiện là cơ quan nào, cá nhân nào Mặc dù Cơ quan Chấp pháp thuộc BCA
đã được thành lập và tiến hành hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo TTHS
Vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của CQĐT, đặc biệt là của người quản lý CQĐT, pháp luật tố tụng giai đoạn này có đặc điểm:
Thứ nhất, chưa có các văn bản cụ thể quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, chưa có ĐTV
Thứ hai, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý hành chính và
chức năng tố tụng Đặc điểm này thể hiện tương đối rõ nét đối với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT vốn là bộ phận cơ quan hành pháp
Thứ ba, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT chịu trách nhiệm tổ chức hoạt
động điều tra, có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng quan trọng Những người tiến hành tố tụng khác, nhất là cán bộ trực tiếp tiến hành các hoạt động điều
Trang 35tra (ĐTV) chỉ thực hiện các hoạt động tố tụng theo sự phân công của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT, không phải chịu trách nhiệm tố tụng về các hành vi tố tụng của mình
Trong những năm đầu sau tổng tiến công và nổi dậy Mùa xuân 1975, kết
thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hết sức phức tạp, số nguỵ quân, nguỵ quyền trốn trình diện, tiếp tục hoạt động chống đối, bọn phản động tiếp tục hoạt động chống phá quyết liệt Lực lượng Chấp pháp trong Công an và trong Quân đội đã tập trung khai thác trên 1.000 tên nguỵ quân, nguỵ quyền, nhân viên tình báo, cảnh sát đặc biệt, làm thất bại nhiều kế hoạch của CIA tấn công vào nội bộ
ta Từ ngày giai phóng đến tháng 9/1976, lực lượng chấp pháp phối hợp với các lực lượng khác đã bắt tập trung, cải tạo giáo dục 94.000 tên phản cách mạng, truy quét 67.000 tên phản cách mạng còn lẫn trốn Tuy nhiên, việc bắt giữ do nhiều đơn vị tiến hành, số đối tượng bị bắt giữ quá lớn, nhiều đối tượng bị giam giữ kéo dài, việc thu thập chứng cứ, lập hồ sơ xử lý chậm trễ Trước tình hình đó, Bộ Nội vụ ra Chỉ thị số 02/BNV ngày 13/7/1976 nhằm chấn chỉnh công tác bắt giữ đối với lực lượng
điều tra các tỉnh phía Nam [21]
Công tác xây dựng lực lượng trong thời kỳ này có bước phát triển mới Thực hiện Nghị quyết 31/NQ ngày 15/12/1980 của Đảng, Ngành Công an đã từng bước kiện toàn bộ máy tổ chức, hoàn thiện các biện pháp điều tra, nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ an ninh tổ quốc
Triển khai Nghị định 250/CP ngày 20/6/1982, dựa vào sự thay đổi cơ cấu tổ chức hoạt động của Bộ Nội vụ, Cục Chấp pháp chia thành hai cục: Cục ANĐT xét hỏi thuộc Tổng cục An ninh, thụ lý điều tra xét hỏi các vụ án xâm phạm An ninh quốc gia và Cục CSĐT xét hỏi thuộc Tổng cục Cảnh sát, thụ lý điều tra xét hỏi các loại tội phạm hình sự về trật tự an toàn xã hội khác Phòng Chấp pháp ở địa phương cũng được tách ra thành Phòng ANĐT xét hỏi và Phòng CSĐT xét hỏi Các đơn vị trinh sát hình sự, kinh tế không làm công tác xét hỏi mà chỉ chuyên trách công tác
phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Đánh giá giai đoạn này thấy công tác điều tra xét hỏi tập trung thống nhất vào hai hệ thống CQĐT trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân theo đúng tinh thần trong các Nghị quyết của Bộ chính trị Việc thực hiện công tác điều tra, xét hỏi, bắt, giam giữ (thực hiện chức năng buộc tội) nhìn chung có hiệu quả, chất
21 Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an (2011), Tài liệu tổng kết 60 năm thực hiện công tác điều tra của lực lượng An ninh điều tra, tr 18
Trang 36lượng Tuy nhiên vẫn còn có một số tồn tại như: Vẫn còn nhiều án sai phạm nghiêm trọng, một số không ít đơn vị trinh sát hình sự, Cảnh sát kinh tế ở địa phương vẫn khởi tố, điều tra hỏi cung cho đến khi kết thúc, bị can nhận tội mới chuyển cho CSĐT xét hỏi, hoặc khi vụ án thiếu chứng cứ, việc điều tra khó khăn mới chuyển
cho CSĐT xét hỏi, dẫn đến nhiều vụ án bế tắc, phải đình chỉ điều tra
2.1.2 Giai đoạn từ 1988 đến 2003
Ngày 28/6/1988, BLTTHS đầu tiên của Nhà nước ta đã được thông qua tại
kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa VIII BLTTHS năm 1988 là Bộ luật đầu tiên pháp điển hoá các quy định của pháp luật tố tụng trước đó về trình tự, thủ tục tố tụng đối với việc giải quyết VAHS; về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của các CQTHTT; về quyền, nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng Tiếp sau
đó, ngày 17/4/89, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh tổ chức điều tra hình
sự trong Công an nhân dân để hướng dẫn các CQDDT thực hiện BLTTHS
BLTTHS 1988 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 1989 là cơ sở, điều kiện pháp lý quan trọng để các CQTHTT thực hiện các chức năng TTHS của mình BLTTHS 1988 luật hoá các văn bản dưới luật, quy định các trình tự, thủ tục tố tụng thành Luật, được phổ biến có hiệu lực áp dụng đối với hoạt động tố tụng do CQĐT, VKS, TA của nước CHXHCN Việt Nam tiến hành, và đối với những người tham gia tố tụng, quy định toàn bộ hoạt động của các CQTHTT (CQĐT, VKS và TA), người tiến hành tố tụng (ĐTV, KSV, Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bào chữa), làm cơ sở cho các chủ thể
tố tụng thực hiện chức năng tố tụng của mình
Quy định của hoản 1 Điều 1 BLTTHS 1988 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 1989 đã xác định:
- Các CQĐT theo BLTTHS gồm có CQĐT của lực lượng Cảnh sát nhân dân; CQĐT của lực lượng An ninh nhân dân, CQĐT trong Quân đội nhân dân và của VKS nhân dân
- CQĐT thực hiện chức năng buộc tội đối với người phạm tội trên cơ sở xác định hành vi phạm tội của người đó vi phạm pháp luật BLHS Để đảm bảo việc CQĐT thực hiện tốt chức năng buộc tội với nhiệm vụ và quyền hạn của CQĐT là tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm, kẻ phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khác phục, ngăn ngừa
Trang 37BLTTHS 1988 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự cũng quy định về cơ cấu tổ chức của CQĐT, thẩm quyền của các CQĐT và những người có thẩm quyền điều tra, cụ thể:
- CQĐT trong lực lượng Cảnh sát nhân dân có Cục CSĐT (cấp Bộ), Phòng CSĐT (cấp tỉnh), Đội điều tra (cấp huyện), một số cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như các Cục, các Phòng Cảnh sát đấu tranh tội phạm kinh tế và các tội phạm xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, Ban giám thị Trại tạm giam cấp tỉnh và Trại giam) Có thẩm quyền điều tra tất cả các tội phạm quy định từ Chương II đến Chương X và các tội quy định tại các Điều 94, 95, 96, 97 (nếu không
có tính chất liên quan đến ANQG) phần các tội phạm của BLHS 1985
- CQĐT trong lực lượng An ninh nhân dân gồm Cục ANĐT (cấp Bộ), Phòng ANĐT (cấp tỉnh) trực tiếp đấu tranh chống các tội phạm xâm phạm ANQG Ngoài
ra, còn có một số cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và ở cấp huyện cóĐội an ninh có thẩm quyền tiến hành điều tra các tội phạm quy định từ Chương I đến Chương XII và các Điều 94, 95, 96, 97 (có yếu tố xâm phạm ANQG) phần các tội phạm của BLHS 1985 (trừ những trường hợp thuộc thẩm quyền của CQĐT trong Quân đội nhân dân)
+ CQĐT trong Quân đội nhân dân: gồm Cục điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Phòng điều tra hình sự ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương; Ban điều tra hình sự ở Bộ chỉ huy quân sự tỉnh và cấp tương đương; Cục An ninh quân đội ở Bộ Quốc phòng; Phòng An ninh quân đội ở Tổng cục, Quân khu, Quân chủng, Binh chủng và cấp tương đương Thẩm quyền điều tra căn cứ vào thẩm quyền xét xử của TA Quân sự các cấp, tiến hành điều tra các tội phạm quy định từ Chương I đến Chương XII và các Điều 256, 257, 263, 268, 269 BLHS mà người phạm tội là quân nhân trong phần các tội phạm trong BLHS 1985, trừ các trường hợp do CQĐT của VKS quân sự và CQĐT của lực lượng An ninh nhân dân
+ CQĐT trong VKS nhân dân gồm Cục điều tra của VKS nhân dân Tối cao, Phòng điều tra của VKS nhân dân cấp tỉnh Với thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 92 BLTTHS, CQĐT của VKS nhân dân điều tra trong khi VKS xét thấy cần thiết trong những trường hợp khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, khi tiến hành việc kiểm sát tuân theo pháp luật phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho CQĐT khác; khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp
Trang 38BLTTHS 1988 đã đưa ra những quy định làm công cụ, phương tiện để CQĐT thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền điều tra như sau:
Thứ nhất, BLTTHS 1988 đã đề ra hệ thống các nguyên tắc (từ Điều 1 đến
Điều 26) làm nền tảng xuyên suốt việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của các CQTHTT Trong đó có CQĐT là cơ quan phát động tố tụng, thực hiện chức năng buộc tội chủ yếu trong GĐĐT Với sự quyết tâm giữ gìn An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, Đảng và nhà nước ta xây dựng BLTTHS trên tinh thần đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo BLTTHS là công cụ pháp lý vững chắc cho các Nhà nước trấn
áp tội phạm BLTTHS đã quy định cho CQĐT các quyền quan trọng để tổ chức công tác đấu tranh chống tội phạm và buộc những người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, phải chịu những hậu quả pháp lý do hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của họ, phải bị cải tạo, giáo dục theo quy định của BLHS 1985 và BLTTHS 1988
Thứ hai, BLTTHS 1988 xác định cơ sở pháp lý để chứng minh tội phạm, đó
là việc quy định chứng cứ thu thập từ đâu, nhừng tài liệu đồ vật nào có thể là chứng
cứ cứ để chứng minh tội phạm, cụ thể:
- BLTTHS 1988 quy định nguồn của chứng cứ, các phương tiện và biện pháp thu thập chứng cứ: Khoản 2 Điều 48 quy định “chứng cứ được xác định bằng vật chứng; lời khai của người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị can, bị cáo; Kết luận giám định; Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu khác”; “Hoạt động Thu thập chứng cứ là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi nhận bằng biên bản, thu giữ và bảo quản chứng cứ Để ghi nhận thật tỷ mỷ, đầy đủ, chính xác và trung thực những sự kiện liên quan đến tội phạm và người phạm tội, đảm bảo chứng cứ có giá trị chứng minh và hiệu lực sử dụng chứng minh tội phạm, không bị thất lạc, chứng cứ được thu thập và ghi nhận bằng biên bản” (biên bản quy định từ Điều 51 đến Điều 60) Các biên bản ghi nhận những thông tin về quá trình và kết quả hoạt động thu thập chứng cứ, nó được tập hợp trong hồ sơ vụ án làm cơ sở để CQĐT kết luận một người có phạm tội theo quy định BLHS 1985 hay không, đề nghị VKS truy tố và TA xét xử Những chứng cứ buộc tội là những chứng cứ cho phép kết luận lỗi của bị can, bị cáo trong việc thực hiện tội phạm, những tình tiết tăng nặng TNHS
- Nhằm đảm bảo việc buộc tội của CQĐT, đảm bảo chứng cứ có giá trị chứng minh, BLTTHS 1988 quy định các biện pháp thu thập chứng cứ gồm: Khám xét (Điều 63, 64, 65, 115, 116, 117, 118, 120, 122, 123, 124), khám nghiệm hiện trường (Điều 125), khám nghiệm tử thi (Điều 126, 127), thu giữ thư tín, điện tín,
Trang 39bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện (Điều 119), lấy lời khai người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự (Điều 51, 52, 109, 110,
111, 112), hỏi cung bị can (Điều 106, 107, 108), đối chất (Điều 113), nhận dạng (Điều 114), thực nghiệm điều tra (Điều 128), giám định (Điều 130, 131, 132, 133, 134), các hoạt động thu thập chứng cứ được ghi nhận đảm bảo bằng biên bản theo quy định tại Điều 59 Trong các biện pháp thu thập chứng cứ trên hỏi cung bị can là biện pháp thể hiện kết quả sự buộc tội một cách trực diện của CQĐT đối với bị can Hai biện pháp này được sự hỗ trợ đắc lực từ kết quả của việc thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ khác như lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi xác định các dấu vết làm căn cứ xác định tội phạm và hành vi phạm tội của bị can, được kiểm chứng bằng các biện pháp đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra
Thứ ba, BLTTHS 1988 quy định cho CQĐT các quyền ban hành các quyết
định, các văn bản thể hiện tính chất buộc tội trong TTHS gồm: Quyết định KTBC (Điều 103, 104, 105); Quyết định phục hồi điều tra bị can ( Điều 140), Bản kết luận giám định, khi kết thúc điều tra quyết định đề nghị truy tố bằng Bản kết luận điều tra bị can (Điều 138) Trong đó, Quyết định KTBC là hình thức pháp lý để CQĐT xác lập thẩm quyền buộc tội với người đã thực hiện hành vi phạm tội Việc KTBC phải dựa trên các căn cứ theo luật định, có dấu hiệu thực hiện tội phạm vi phạm các quy định BLHS Và Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can là kết thúc quá trình buộc tội của CQĐT với đầy đủ các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án chuyển VKS để VKS làm cơ sở tiếp tục thực hiện chức năng buộc tội bị can trong giai đoạn truy tố và xét xử
Thứ tư, BLTTHS 1988 quy định việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm việc thực hiện chức năng buộc tội của CQĐT Nó được quy định cụ thể về căn cứ, trường hợp áp dụng, trình tự, thủ tục áp dụng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng Vì các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS nhằm hạn chế một phần quyền tự do của công dân là người thực hiện tội phạm, đây là các quyền được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước tôn trọng và bảo hộ cho công dân Do đó, việc quy định áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định khá chặt chẽ, tránh sự lạm dụng Việc quy định chỉ để đảm bảo đủ ngăn chặn tội phạm tiếp tục thực hiện đến cùng, và ngăn không cho tội phạm bỏ trốn hoặc có những hành động cản trở công tác điều tra
Trang 40Các biện pháp ngăn chặn thể hiện tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất là biện pháp bắt người (Điều 62, 63, 64), tạm giữ, tạm giam (Điều 68, 69, 70, 71, 72) Và tùy vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và người phạm tội, CQĐT có thể
áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác như cấm đi khỏi nơi cư trú (Điều 74), bảo lĩnh (Điều 75), đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm (Điều 76) thay thế biện pháp bắt giữ, tạm giữ, tạm giam mà vẫn đảm bảo hiệu quả công tác điều tra
Sau khi bắt người phải hoàn tất các thủ tục giao nhận người bị bắt và thông báo cho gia đình, địa phương người bị bắt.theo quy định tại Điều 65, 66, 67 BLTTHS
Thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong các trường hợp tạm giữ (bắt khẩn cấp, bắt quả tang), tạm giam (bị can phạm tội nghiêm trọng trở lên), quy định thẩm quyền ra lệnh tạm giữ, tạm giam cho CQĐT từ cấp huyện trở lên Trường hợp bắt quả tang thì Uỷ ban nhân dân xã, phường lập biên bản và giải ngay người phạm tội đến cơ quan có thẩm quyền, và phải đảm bảo quy định thủ tục, thời hạn tạm giữ, tạm giam
Theo quy định tại Điều 23 BLTTHS 1988, “VKS có nhiệm vụ kiểm sát tuân theo pháp luật trong TTHS, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” Trong các giai đoạn TTHS và của bất kỳ
cá nhân, tổ chức nào, KSV là người thực hiện trực tiếp nhiệm vụ kiểm sát các hoạt động thực thi pháp luật TTHS và “chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Viện trưởng VKS cùng cấp và sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng VKS nhân dân tối cao” Điều
đó có nghĩa là mọi hoạt động thực hiện chức năng buộc tội theo TTHS của CQĐT, ĐTV đều được sự kiểm sát chặt chẽ của VKS, KSV Chính vì lẽ đó, BLTTHS 1988
là hành lang pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện các chức năng tố tụng đi vào khuôn khổ chuẩn mực hơn, đảm bảo được quyền của người và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng
Thứ tư, lần đầu tiên, pháp luật tố tụng nước ta chính thức công nhận quyền bào chữa của bị can, bị cáo
BLTTHS năm 1988 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự 1989 đã kế thừa pháp luật TTHS trước đó, khẳng định CQĐT là CQTHTT về việc thực hiện các quyền buộc tội của CQĐT Đồng thời, quy định các chức danh tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của CQTHTT, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong CQĐT (Thủ trưởng CQĐT) Bên cạnh đó là những quy định dân chủ hơn về quyền
và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng Lần đầu tiên Nhà nước xác định