1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

87 37 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành đầu tiên từ năm 1989, từng bước được hoàn thiện qua 3 lần sửa đổi, bổ sung và cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đến năm 2012 Luậ

Trang 1

NGUYỄN CHÍ DŨNG

CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THI HÀNH

QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THI HÀNH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của

PGS-TS Nguyễn Cảnh Hợp Các tư liệu, số liệu được sử dụng trong luận

văn này đều được tác giả sưu tầm, phân tích và có trích dẫn đầy đủ nguồn theo đúng quy định Nội dung của luận văn không sao chép bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về Lời cam đoan nói trên

Tác giả

NGUYỄN CHÍ DŨNG

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CSGT : Cảnh sát giao thông GPLX : Giấy phép lái xe UBND : Ủy ban nhân dân VPHC : Vi phạm hành chính XLVPHC : Xử lý vi phạm hành chính XPVPHC : Xử phạt vi phạm hành chính

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 6 1.1 Khái niệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 6

1.2 Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 10

1.2.1 Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề 11 1.2.2 Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất 20 1.2.3 Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 24

Kết luận chương 1 36 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 37 2.1 Khái quát về xử lý vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 37

2.1.1 Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề và giải pháp hoàn thiện 40 2.1.2 Những kết quả đạt được trong áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề 41 2.1.3 Những hạn chế, bất cập khi áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề khi xử lý vi phạm hành chính 42 2.1.4 Giải pháp hoàn thiện biện pháp Tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề 49

2.2.Thực trạng áp dụng biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và giải pháp hoàn thiện 52

Trang 6

2.2.1 Thực trạng áp dụng biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất 52 2.2.2 Những hạn chế, bất cập và hướng hoàn thiện biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất 56 2.2.3 Giải pháp hoàn thiện biện pháp Quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất 57

2.3 Thực trạng áp dụng biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

vi phạm hành chính và giải pháp hoàn thiện 59

2.3.1 Thực trạng áp dụng biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 59 2.3.2 Kết quả đạt được trong áp dụng biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 59 2.3.3 Những khó khăn, hạn chế khi áp dụng biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 60 2.3.3 Các giải pháp hoàn thiện biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 65

Kết Luận Chương 2 71 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành đầu tiên từ năm 1989, từng bước được hoàn thiện qua 3 lần sửa đổi, bổ sung và cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành, đến năm 2012 Luật XLVPHC ra đời đã quy định 9 biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính tại phần thứ tư, trong đó Luật quy định có hai biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là

Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất Tuy nhiên xét về bản chất, mục đích thực hiện cũng như hậu quả

pháp lý của các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

thì biện pháp Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cũng là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Báo cáo đánh giá tác động dự án Luật xử lý vi phạm hành chính nêu rõ, theo kết quả khảo sát được tiến hành vào năm 2006 tại ba miền Bắc, Trung, Nam cho thấy, thực tế trong các lĩnh vực, phạt tiền là hình thức xử phạt chính được áp dụng phổ biến (62,3%); chiếm tỷ lệ tương ứng trong số các hình thức xử phạt bổ sung là

“tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm” (62,8%); có 90% các quyết định xử phạt đã được thi hành trong thực tế Như vậy thi hành các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm chính thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính ở nước ta, hạn chế tối đa những thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra, bảo đảm trật tự quản lý nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, giữ vững ổn định trật tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh hội nhập

Tuy nhiên, thực tế thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) diễn ra rất phức tạp, lại chưa được theo dõi, quản lý thống nhất đã làm ảnh hưởng

Trang 8

đến hiệu quả thi hành của pháp luật và hiệu lực quản lý của Nhà nước, ảnh hưởng đến kinh tế, trật tự an toàn xã hội Trong đó, việc các tổ chức cá nhân sử dụng các chiêu thức để lẩn tránh không thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính Theo báo cáo tác động dự án Luật xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp tháng 9/2011 thì

có khoản 10% số vụ vi phạm có quyết định xử lý vi phạm hành chính không được thực thi trên toàn quốc (chỉ tính số quyết định xử phạt tiền)

Từ những thực tiễn trên, để đảm bảo mọi quyết định xử phạt vi phạm hình chính đều được thi hành trong thực tế, đòi hỏi phải thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính buộc các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành

Để đạt được yều cầu trên cần có nghiên cứu các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và các quy định pháp luật liên quan về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thực tế thực hiện các biện pháp này, qua đó phát hiện các khó khăn vướng mắc, đề xuất kiến nghị các giải pháp thực

hiện hiệu quả công tác này trong thực tế Đó là lý do tác giả chọn vấn đề "Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính" làm luận văn

tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Liên quan đến việc nghiên cứu các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định

xử phạt vi vi phạm hành chính, theo hiểu biết của cá nhân đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành và tại các hội thảo khoa học về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính nói chung được đề

cập trong một số Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, như: Giáo trình Luật hành

chính Việt Nam của GS-TS Phạm Hồng Thái và PGS-TS Đinh Văn Mậu, Nxb Giao

Thông Vận Tải, năm 2009; Giáo trình Luật hành chính Việt Nam của PGS-TS Nguyễn Cửu Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2010; Giáo trình Luật hành

chính Việt Nam của PGS-TS Nguyễn Cửu Việt, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật Hà

Nội, năm 2013; hoặc bài báo của tác giả Trương Thị Phương Lan (2011), “Hoàn

thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử

lý vi phạm hành chính”, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Bình luận khoa học Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, của Trường Đại học Luật TP HCM, Bài báo: Một số vấn đề về đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay,

Trang 9

của PGS, TS Nguyễn Cửu Việt trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 138, năm 2009,

bài báo: Căn cứ pháp lý của biện pháp tạm giữ phương tiện giao thông, của

Nguyễn Hoài Nam đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 5, năm 2007, bài báo

Hoàn thiện pháp luật về vi pham hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga của

các tác giả PGS-TS Nguyễn Cảnh Hợp và Cao Vũ Minh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 5/2011; Nguyễn Cảnh Hợp: Trách nhiệm hành chính và sự cần

thiết sửa đổi Luật XLVPHC năm 2012 (Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, T/c

Khoa học pháp lý số 7/2016) Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Bích (Trường

Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012): Thi hành quyết định xử phạt vi

phạm hành trong lĩnh vực văn hoá – xã hội ở các quận của thành phố trực thuộc

trung ương (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)”

Tuy nhiên chưa có một công trình chuyên sâu nghiên cứu phạm vi hẹp về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, đặc biệt tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đến nay chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:

- Làm sáng tỏ quan niệm và cơ sở pháp lý về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

- Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của nước ta

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, từ đó tìm ra những hạn chế bất cập, nguyên nhân của các hạn chế bất cập, nghiên cứu đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về vấn đề này cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận trong tiếp cận và nghiên cứu đề tài Trên cơ sở phương pháp luận này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:

Tại Chương 1, tác giả vận dụng phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, chứng minh, so sánh luật để làm sáng tỏ các quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính để rút ra được những ưu, khuyết điểm, từ đó đưa ra kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành quyết định

xử phạt vi phạm hành chính

Chương 2, của luận văn, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp khảo sát, đánh giá thực tiễn, đối chiếu với các vấn đề đã phân tích, tổng hợp tại Chương 1, từ đó tổng hợp để đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện đề tài đang nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp: là phương pháp xuyên suốt các vấn đề vì sau khi phân tích, hay thống kê, so sánh thì cần tổng hợp thành các luận điểm khoa học

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn chuyên về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt

vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay

- Các kiến nghị của tác giả Luận văn nếu được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu sẽ góp phần giải quyết những bất cập, vướng mắc về pháp luật, cũng như thực tiễn áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định

xử phạt vi phạm hành chính

Trang 11

- Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho học viên, sinh viên chuyên ngành luật hành chính và những ai quan tâm đến đề tài này

7 Bố cục của Luận văn:

Luận văn gồm: Lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, phần mở đầu và nội dung gồm 02 chương theo bố cục như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết

định xử phạt vi phạm hành chính

Chương 2: Thực trạng áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định

xử phạt vi phạm hành chính và giải pháp hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH

1.1 Khái niệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

“Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp áp dụng đối với tổ

Như vậy, quyết định xử phạt vi phạm hành chính là văn bản áp dụng quy phạm pháp luật hành chính của người có thẩm quyền ban hành theo thủ tục được pháp luật quy định trong đó chứa đựng quyết định về việc áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đối với cá nhân, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính

Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Thi hành là làm cho thành có hiệu lực điều đã

Như vậy, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là làm cho một văn bản hành chính của người có thẩm quyền về việc áp dụng chế tài hành chính đã được ban hành có hiệu lực trên thực tế

Thực chất thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là tiến hành các hành động mang tính thủ tục được pháp luật quy định, như tên gọi của chương III, phần thứ hai Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC): “thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt” nhằm bảo đảm cho các nội dung của quyết định xử phạt được thực thi

Nếu hiểu theo cách thức mô tả, liệt kê thì thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm thi hành các hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả ghi trong quyết định xử phạt theo những thủ tục được pháp luật quy định Các hình thức xử phạt này có thủ tục thi hành riêng của chúng

Trong Luật XLVPHC có sử dụng hai thuật ngữ “thi hành quyết định xử phạt vi

phạm hành chính” và “chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” Chương

III, phần thứ hai của Luật có tên gọi là “thủ tục xử phạt, thi hành quyết định xử phạt

và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt” (chỉ nói thi hành, không nói chấp hành) nhưng nội dung cụ thể tại các điều thì gồm cả chấp hành quyết định xử phạt Đề mục

Trang 13

các điều của Luật có dùng từ “thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” là

các Điều 66, 70, 71, 73, 74, 75, 76, 85, 86, 88 nhưng nội dung bên trong đều dùng từ

chấp hành quyết định xử phạt Khái niệm chấp hành quyết định xử phạt được quy

định ở điều 73 của Luật XLVPHC Tương tự ở Nghị định 81/2013/NĐ-CP quy định

chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị

định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm

hành chính cũng gồm cả hai từ “thi hành” và “chấp hành”

Như vậy, cần phân biệt “thi hành” và “chấp hành” quyết định xử phạt vi

phạm hành chính Theo từ điển Tiếng Việt: “thi hành là làm cho thành có hiệu lực điều đã chính thức quyết định” Còn “chấp hành là thực hiện những điều quy định

trong chính sách, pháp luật, kế hoạch, mệnh lệnh, phán quyết”3 Cách giải thích này không thật phù hợp với cách hiểu về hình thức thi hành (hay chấp hành) trong khái niệm thực hiện pháp luật mà các giáo trình luật học hiện nay mô tả, theo đó thực hiện pháp luật có các hình thức sau đây: 1) Tuân thủ pháp luật, 2) Thi hành (hay chấp hành) pháp luật, 3) Sử dụng (vận dụng) pháp luật, 4) Áp dụng pháp luật4

Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội5 khi nói đến thực hiện quy phạm pháp luật hành chính thì chỉ xác định hai hình thức là chấp hành và

áp dụng quy phạm pháp luật trong đó “chấp hành quy phạm pháp luật hành chính

là một hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính, trong đó các cơ quan,

tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính đòi hỏi phải thực hiện” Giáo trình này không định nghĩa về thi hành quy phạm pháp luật

Tương tự Giáo trình Luật Hành chính của trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh6 cũng hiểu “chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là việc cơ quan nhà

nước, tổ chức, cán bộ, công chức nhà nước và cá nhân làm theo đúng những yêu cầu đề ra trong quy phạm pháp luật hành chính” Như vậy, trong các giáo trình nói

trên đều không có khái niệm thi hành mà chỉ dùng khái niệm chấp hành Tuy nhiên, với cách giải thích của từ điển tiếng Việt nói trên thì có thể phân biệt giữa thi hành quyết định xử phạt và chấp hành quyết định xử phạt: “thi hành quyết định xử phạt

vi phạm hành chính” là việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền còn

“chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính” là nghĩa vụ của người vi phạm

Trang 14

Điều này được thể hiện rõ nhất tại Điều 73 của Luật XLVPHC về thi hành quyết

định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm

hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt còn Người có thẩm quyền xử phạt

đã ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết

định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt và thông báo kết quả thi hành xong

quyết định cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính của Bộ

Tư pháp, cơ quan tư pháp địa phương, hay khoản 2 Điều 76 Luật XLVPHC: “Cá

nhân phải có đơn đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

gửi cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày

nhận được đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét quyết định hoãn thi hành

quyết định xử phạt đó” Bộ luật hình sự cũng nêu tương tự, Điều 380 Bộ luật hình

sự năm 2015 quy định: “Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc

quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ” hay Điều 379: “Người nào có

thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết

định thi hành bản án, quyết định của Tòa án ”

Như vậy, theo chương III, phần thứ hai của Luật XLVPHC thì “chấp hành” không bao hàm “thi hành” mà ngược lại “thi hành” bao gồm cả chấp hành

Chẳng hạn điều 71, Luật XLVPHC: “Chuyển quyết định xử phạt vi phạm

hành chính để thi hành” Từ “thi hành” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, tức là

Còn theo nghĩa hẹp thì thi hành chỉ gồm hoạt động của người có thẩm quyền

tổ chức thi hành mà không gồm hoạt động chấp hành của người vi phạm, tức không

Trang 15

gồm việc tự nguyện nộp phạt và tự nguyện khắc phục hậu quả Như vậy thì không đúng với các điều khoản cụ thể cũng như tên gọi của chương III của Luật

Vì vậy trong luận văn này khái niệm thi hành quyết định xử phạt được hiểu (và chỉ có thề hiểu) theo nghĩa rộng gồm chấp hành và thi hành như tên gọi của Chương III Luật

Như vậy, thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hiểu theo nghĩa hẹp

là việc chủ thể vi phạm hành chính thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các chế tài đã ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính Các chế tài đó gồm hình thức phạt chính, hình thức phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm

Hiểu theo nghĩa rộng thì thi hành quyết định xử phạt còn gồm cả hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc tổ chức thi hành quyết định xử phạt, trong đó tập trung ở việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm

Thi hành quyết định xử phạt được thực hiện dưới hình thức tự nguyện nhưng cũng có trường hợp phải cưỡng chế thi hành Để việc thi hành quyết định xử phạt được thực hiện đầy đủ, triệt để đúng thời hạn thì pháp luật quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện

Ngay từ Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính (Pháp lệnh XPVPHC) được ban hành đầu tiên năm 1989 đến các Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, năm 2002 (sửa đổi năm 2007 và năm 2008) sau này, cũng như Luật XLVPHC năm 2012 và các Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đều quy định về các biện pháp bảo đảm xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng không có văn bản pháp luật nào có quy định giải thích chính thức về các biện pháp bảo đảm XLVPHC là gì Vì vậy, các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cũng chưa có quy định giải thích chính thức về vấn đề này Ngay như điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 có 17 khoản để giải thích từ ngữ nhưng cũng không có khoản nào giải thích về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mà chỉ giải thích về: “vi phạm hành chính”, “xử phạt vi phạm hành chính”, “biện pháp xử lý hành chính”, “biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính” v.v

Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1997, của Nhà xuất bản Đà Nẵng từ

“biện pháp” nghĩa là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể (trang 62); từ

Trang 16

“bảo đảm” có nghĩa là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có

đầy đủ những gì cần thiết7

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng xuất bản năm 2016, của Nhà xuất bản Đà

Nẵng từ “biện pháp” nghĩa là cách thức xử lý công việc hoặc giải quyết vấn đề (trang 57); từ “bảo đảm” có nghĩa là tạo điều kiện để chắc chắn giữ gìn được, hoặc

Theo cách giải thích từ ngữ trên thì biện pháp bảo đảm nghĩa là cách thức xử lý

công việc hoặc giải quyết vấn đề làm sao để chắc chắn thực hiện được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết để thực hiện công việc hoặc vấn đề đó, với cách hiểu như trên để đảm bảo quyết định xử phạt vi phạm hành chính được thi hành trên thực tế thì người

có thẩm quyền xử phạt phải có những biện pháp áp dụng để “ràng buộc” thi hành

thi hành quyết định xử phạt” người có thẩm được áp dụng các biện pháp sau: 1) Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính, 2) Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất, 3) Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Từ phân tích trên có thể hiểu: Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử

phạt vi phạm hành chính là các biện pháp pháp lý được áp dụng nhằm bảo đảm để các chủ thể vi phạm hành chính thực hiện nghĩa vụ theo đúng hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính

1.2 Các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành

chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

Luật XLVPHC không có một chương hay mục riêng quy định về các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phat vi phạm hành chính Tuy nhiên căn cứ vào nội dung các biện pháp khác nhau được quy định trong Luật XLVPHC có nội dung liên quan đến thi hành quyết định XPVPHC thì cần thừa nhận các biện pháp sau đây:

- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Trang 17

- Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

- Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Với nội dung phân tích cụ thể dưới đây sẽ cho thấy việc thừa nhận 3 biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt VPHC nêu trên là hoàn toàn có căn cứ

1.2.1 Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

1.2.1.1 Bản chất pháp lý của biện pháp tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là một trong những biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính được quy định tại Điều 125 (Chương 1 phần thứ tư, Luật XLVPHC năm 2012)

Tuy Luật XLVPHC quy định “Biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý

vi phạm hành chính9” nhưng tại Điều 125, khi quy định riêng về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì Luật quy định:

“Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo

thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:

a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn

cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật này;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì

sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều

này”

Như vậy, 2 trường hợp đầu (a và b) là trường hợp có tính chất ngăn chặn còn trường hợp thứ ba (c) là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vì theo khoản

9

Điều 125 Luật XLVPHC năm 2012

Trang 18

6 Điều 125 thì: Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ

chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này

Điều kiện áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề như là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt chỉ khi áp dụng hình thức phạt tiền Nói cách khác việc tạm giữ giấy phép lái xe, giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện hoặc tang vật, phương tiện là để bảo đảm người bị xử phạt nộp tiền phạt, sau khi nộp tiền phạt xong mới được nhận lại giấy phép lái xe hoặc tang vật, phương tiện Ở đây, nếu nhìn từ góc độ biện pháp thi hành quyết định xử phạt thì thực chất

đây là biện pháp tạm giữ giấy phép lái xe hoặc các giấy tờ liên quan đến tang vật, phương tiện hoặc tang vật, phương tiện để bảo đảm thi hành hình thức phạt tiền

Cần lưu ý : trong các hình thức xử phạt được quy định đối với các vi phạm trên các lĩnh vực thì phạt tiền là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất

Tuy nhiên biện pháp này cũng có loại trừ trường hợp: “Đối với phương tiện

giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới sự quản lý của cơ quan nhà

Đồng thời tại khoản 7 Điều 125 Luật cũng quy định: Cá nhân, tổ chức vi

phạm hành chính thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì có thể bị tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt Việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian chờ ra quyết định không làm ảnh hưởng quyền sử

Trang 19

Như vậy, việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề cũng được quy định

là một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp vi phạm đủ điều kiện áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Nói cách khác, điều kiện để xem việc tạm giữ giấy phép chứng chỉ hành nghề là một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt khi vi phạm đó có khả năng bị xử phạt với hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên, quy định này mang tính chất tuy nghi, người có

thẩm quyền có thể hoặc không áp dụng biện pháp tạm giữ giấy phép, chứng chỉ

hành nghề như là một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Với tính chất là một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được luật quy định nhưng qua nghiên cứu các nghị định xử phạt trên các lĩnh vực thì không thấy có quy định cụ thể áp dụng biện pháp này làm biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ là quy định chung trong Luật XLVPHC Theo nghiên cứu của tác giả, vì việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề vi phạm đã được áp dụng là một biện pháp ngăn chặn được áp dụng ngay khi phát hiện vi phạm nên các Nghị định không cần thiết phải quy định

nó là một biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt tước quyền xử dụng giấy phép chứng chỉ hành nghề

Từ quy định trên cho thấy, Luật hạn chế việc tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm, giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thậm chí tang vật phương tiện vi phạm có

đủ điều kiện tạm giữ nhưng nếu chủ sở hữu “có địa chỉ rõ ràng, có điều kiện bến

bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” nhằm đảo bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người vi phạm và giảm áp lực

cho người có thẩm quyền trong việc quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện

1.2.1.2 Đặc trưng của biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Biện pháp tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề là một trong các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm XLVPHC nên có những đặc điểm chung của các biện pháp ngăn chặn đó là những biện pháp cưỡng chế hành chính được áp dụng trước khi có quyết định xử phạt, được pháp luật về XLVPHC quy định, do người có thẩm quyền theo quy định pháp luật áp dụng, phải

có căn cứ khẳng định có hành vi VPHC đang xảy ra, đối tượng bị áp dụng những biện

Trang 20

pháp này phải hứng chịu hậu quả bất lợi, và khi áp dụng phải tuân theo thủ tục hành chính nghiêm ngặt do pháp luật hành chính quy định

Đồng thời nó có những dấu hiệu đặc trưng của biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt đó là thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bị giới hạn cho đến khi người vi phạm thi hành xong quyết định xử phạt Sở dĩ Luật XLVPHC quy định tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề như biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt là vì trong thực tế có rất nhiều trường hợp người vi phạm không chịu nộp tiền phạt Theo thống kê của Trạm CSGT Hải Dương, từ năm 2012 đến tháng

10 năm 2013, có tới 1.339 trường hợp vi phạm chưa đến chấp hành xử phạt theo quy định Tại Đội Xử lý vi phạm, Phòng CSGT đường bộ - đường sắt (Công an tỉnh), từ tháng 11-2012 đến 11/2013, có 155 hồ sơ vi phạm quá thời hiệu thực hiện quyết định xử phạt nhưng người vi phạm không đến xử lý Ngoài ra, còn có 147 trường hợp vi phạm đã đến nhận quyết định xử phạt nhưng không đến Kho bạc Nhà nước để nộp tiền, chấp nhận bỏ bằng lái Tại Đội CSGT thành phố Hải Dương, từ đầu năm 2013 đến tháng 11/2013 cũng tồn đọng khoảng 1.800 hồ sơ vi phạm chưa đến nhận quyết định xử lý hành chính và nộp phạt12

Mỗi năm lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) hai thành phố lớn là Hà Nội

và thành phố Hồ Chí Minh phải bất đắc dĩ lưu giữ hàng chục ngàn giấy phép lái xe (GPLX) do người vi phạm không đóng phạt để nhận lại Riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, trong năm 2016 có đến 34.130 GPLX bị tạm giữ Thông tin từ CSGT An Lạc thuộc Phòng CSGT (PC67) Công an thành phố Hồ Chí Minh cho biết, đội này đang lưu giữ 21.000 GPLX bị tạm giữ từ đầu năm 2017 đến nay CSGT Bình Triệu tạm giữ 10.000 GPLX, trong đó có nhiều trường hợp vi phạm các lỗi có mức phạt tiền cao, nhiều nhất là các lỗi: đi vào đường cấm, đường ngược chiều, lái xe khi có nồng

độ cồn vượt mức cho phép Tương tự, tại các đơn vị CSGT thuộc PC67 Công an

TP Hà Nội cũng đang “ôm” mỗi nơi hàng ngàn GPLX do người vi phạm bỏ lại13

Biện pháp này được các Nghị định sau đây quy định là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 05 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng

12

Hoàng Biên (2013), http://khoahocphothong.com.vn/bo-bang-lai-xe-de-tron-nop-phat-29527.html, Bỏ

bằng lái xe để trốn nộp phạt, truy cập ngày 27/5/2017

13

Thành Nguyên (2017),

http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20170515/hang-ngan-nguoi-vi-pham-tron-dong-phat-bo-luon-bang-lai/1314456.html, Hàng ngàn người vi phạm trốn đóng phạt, bỏ luôn bằng lái, truy cập ngày 7/6/2017

Trang 21

10 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan, Nghị định số: 46/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

và đường sắt, Nghị định số 132/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2015 quy định

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, Nghị định

số 103/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 09 năm 2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản So với số lượng các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trên các lĩnh vực hiện nay, thì số Nghị định có quy định cụ thể việc tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính như trên rất hạn chế Tuy nhiên theo nghiên cứu của tác giả, Luật XLVPHC quy định việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề là một biện pháp áp dụng chung, có thể áp dụng cho tất cả hành vi vi phạm trên các lĩnh vực nhằm ngăn chặn và đảm bảo cho việc xử lý vi phạm hành chính Đối với bốn Nghị định nêu trên có quy định áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề như là biện pháp đảm bảo thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo tác giả xuất phát từ tình hình thực tế đó là những vi phạm phổ biến, tang vật, phương tiện vi phạm rõ ràng dễ quản lý, bảo quản thuận tiện cho việc áp dụng biện pháp tạm giữ và hầu hết là các phương tiện giao thông là lĩnh vực mà Luật XLVPHC có đề cập cụ thể áp dụng biện pháp này

1.2.1.3 Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là khái niệm có nội hàm rộng, tang vật là những vật chứng tỏ có hành động phạm pháp, phương tiện là cái được sử dụng để làm một việc gì đó tức là có công năng cụ thể gồm hàng hóa, công cụ, dụng

cụ, phương tiện giao thông, tiền Việt Nam, ngoại tệ, giấy tờ, tài liệu, chứng từ liên quan đến tài sản, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý…

Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là các loại giấy tờ do cơ quan nhà nước người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật để cá nhân

tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng công cụ phương tiện

Giấy phép gồm: giấy phép lái xe, giấy phép xây dựng, giấy phép lao động và hoạt động dạy nghề, giấy phép quảng cáo, giấy phép phòng cháy, chữa cháy, giấy

Trang 22

phép môi trường, giấy phép đầu tư, giấy phép cung cấp thông tin trên thiết lập trang tin điện tử trên internet, giấy phép xả thải, giấy phép khai thác thủy sản

Các loại chứng chỉ hành nghề gồm: chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán, chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh, chứng chỉ hành nghề dược phẩm, chứng chỉ hành nghề kế toán, kiểm toán, chứng chỉ hành nghề luật sư, chứng chỉ hành nghề kinh doanh bất động sản, thẻ thẩm định viên về giá, chứng chỉ thuyền viên, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, chứng chỉ hành nghề thủy sản…

Giấy phép chứng chỉ hành nghề không thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ gồm giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục đích hành nghề

Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được quy định chung trong một biện pháp đã tạo điều kiện thuận lợi cho người có thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính, vì vi phạm hành chính diễn ra rất nhiều trên các lĩnh vực, có vi phạm hành chính có tang vật vi phạm như lĩnh vực lâm sản, thủy sản, buôn lậu hàng giả, hàng nhái, có những vi phạm có phương tiện

vi phạm như lĩnh vực giao thông, an ninh trật tự, có vi phạm có giấy phép chứng chỉ hành nghề như lĩnh vực giao thông, y tế, lao động… và có những hành vi vi phạm bao gồm tang vật, phương tiện và giấy phép chứng chỉ hành nghề như hành vi sử dụng ôtô vận chuyển gổ trái phép, xe vượt tải trọng cho phép và người điều khiển phương tiện không có bằng lái xe Như vậy, không có sự phân biệt rạch ròi khi nào thì tạm giữ tang vật phương tiện, khi nào tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề

mà tùy ở hành vi vi phạm cụ thể có liên quan tang vật, phương tiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề và tính chất mức độ vi phạm để thực hiện việc tạm giữ theo quy định Tuy nhiên, nếu vi phạm chỉ áp dụng hình thức phạt tiền thì luật quy định

ưu tiên tạm giữ giấy phép chứng chỉ hay những giấy tờ liên quan đến phương tiện như quy định tại khoản 6 điều 125 của Luật XLVPHC

1.2.1.4 Chủ thể áp dụng tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề

Chủ thể áp dụng biện pháp này là những người được giao quyền trực tiếp quản

lý và xử lý VPHC Thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được quy định tại

Khoản 3, điều 125, Luật XLVPHC: Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử

Trang 23

phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính Như vậy, thẩm quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi

phạm hành chính đã được quy định rõ trong luật, còn thẩm quyền tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề không được điều khoản nào trong Luật XLVPHC năm

2012 quy định Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị khống chế bởi giá trị tang vật phương tiện quy ra tiền tương ứng với thẩm quyền phạt tiền Tức là người có thẩm quyền chỉ được tịch thu những tang vật phương tiện

mà giá trị của nó quy đổi thành tiền phải bằng hoặc thấp hơn mức tiền phạt thuộc thẩm quyền xử phạt của mình

Chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được nêu trong luật gồm: Chủ tịch UBND các cấp, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, cơ quan Thuế, Quản lý thị trường, Thanh tra, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ hàng không, Cảng vụ đường thuỷ nội địa, Cơ quan thi hành án dân sự, Toà án nhân dân, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép lái xe hoặc các loại giấy tờ khác liên quan đến tang vật phương tiện, chỉ trừ một số chức danh như cán bộ, công chức, chiến sỹ Công an nhân dân, chiến sỹ

bộ đội biên phòng, kiểm soát viên thị trường, kiểm lâm viên, công chức hải quan đang thi hành nhiệm vụ, công vụ và những chức danh cao hơn một bậc như tổ trưởng, đội trưởng, trạm trưởng không có quyền áp dụng biện pháp này

1.2.1.5 Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt tiền thì không bị hạn chế về thời hạn tạm giữ mà kéo dài cho đến khi người vi phạm thi hành xong quyết định xử phạt sẽ được nhận lại Trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật XLVPHC, sau khi nộp tiền phạt lần đầu thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế

Trang 24

Trường hợp tạm giữ với mục đích ngăn chặn hoặc để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt đối với các hình thức xử phạt tước giấy phép chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật phương tiện thì phải tuân theo thời hạn quy định tại khoản 8 Điều

125 Luật Xử lý vi phạm hành chính Tức là có thời hạn cụ thể

Người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật (Khoản 5 Điều 125 Luật XLVPHC)

1.2.1.6 Trình tự, thủ tục thực hiện biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện

vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề

Khi người có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm hành chính đủ điều kiện

áp dụng biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép chứng chỉ hành nghề phải lập biên bản vi phạm hành chính, ban hành quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép chứng chỉ hành nghề, đồng thời lập biên bản tạm giữ ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ và phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, người vi phạm, trường hợp không xác định được người vi phạm, người vi phạm vắng mặt hoặc không ký thì phải có chữ ký của 02 người làm chứng Biên bản phải được lập thành 02 bản, người có thẩm quyền tạm giữ 01 bản, người vi phạm giữ 01 bản

Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị tạm giữ phải được niêm phong thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm, nếu người vi phạm vắng mặt thì phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình, đại diện tổ chức, đại diện chính quyền và người chứng kiến Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo biên bản tạm giữ và phải giao cho người

vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản

Người ra quyết định tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo biện pháp ghi trong quyết định xử phạt hoặc trả lại cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức phạt tịch thu đối với tang vật, phương tiện bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu,

Trang 25

người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước để thay thế cho việc thực hiện hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, nếu không nộp thì bị cưỡng chế thực hiện theo quy định tại Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính14

Tuy nhiên, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp có lỗi cố ý trong việc để người vi phạm sử dụng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì tang vật, phương tiện đó bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước (điều 126 Luật XLVPHC)

Đối với tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt phải được trả ngay cho người bị xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt Đối với giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng thì người có thẩm quyền thu giữ, bảo quản giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thông báo ngay cho cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết

Người có tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ chỉ phải trả chi phí lưu kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật, phương tiện và các khoản chi phí khác trong thời gian tang vật, phương tiện bị tạm giữ Không thu phí lưu kho, phí bến bãi và phí bảo quản trong thời gian tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ nếu chủ tang vật, phương tiện không có lỗi trong việc vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp tịch thu đối với tang vật, phương tiện

Biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề khi áp dụng đối với những hành vi VPHC, nhằm mục đích bảo đảm chấp hành quyết định xử phạt tiền của các đối tượng vi phạm hành chính, đồng thời đảm bảo quyền chủ động của người có thẩm quyền trong thi hành quyết định

xử phạt Trong nhiều trường hợp, nếu không tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm, giấy phép, chứng chỉ hành nghề sẽ không bảo đảm cho việc thực hiện hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề

14

Khoản 21 Điều 1 Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày ngày 19 tháng 07 năm 2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Trang 26

Với tính chất là một biện pháp ngăn chặn và bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính Luật XLVPHC và Nghị định 115/2013/NĐ-CP ngày 03/10/2013 của Chính phủ đã quy định trình tự thủ tục thực hiện, việc quản lý bảo quản tang vật phương tiện hết sức nghiêm ngặt đảm bảo trách nhiệm của người có thẩm quyền và quyền và lợi ích hợp pháp của người vi phạm

1.2.2 Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

1.2.2.1 Khái niệm biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật

Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Trục xuất là hình thức xử phạt hành chính đối với người nước ngoài Sau khi

có quyết định trục xuất thì cần có thời gian làm thủ tục trục xuất, do đó phải quản lý người nước ngoài để bảo đảm người nước ngoài không bỏ trốn, cản trở thi hành quyết định trục xuất hoặc tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật15

Vì vậy, quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất vừa là biện pháp ngăn chặn vừa là biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt

Điều kiện áp dụng là cá nhân người nước ngoài đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, đang trong thời gian làm thủ tục trục xuất, được khoản 1 Điều 130 Luật XLVPHC quy định chỉ được áp dụng trong trường hợp sau:

a) Khi có căn cứ cho rằng, nếu không áp dụng biện pháp cần thiết để quản lý thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất b) Để ngăn chặn người đó tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Trong hai trường hợp trên, trường hợp a) là nhằm mục đích bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính còn trường hợp b) là nhằm mục đích ngăn chặn

Các biện pháp quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục xuất gồm: 1 Hạn chế việc đi lại của người bị quản lý, 2 Chỉ định chỗ ở của người bị quản lý, 3 Tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tuỳ thân khác

15

Khoản 1 Điều 130 Luật xử lý VPHC

Trang 27

thay hộ chiếu16, 4 Bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người bị trục xuất không có hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế hộ chiếu, chưa có

đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện việc trục xuất (vé máy bay, thị thực )

- Không có nơi thường trú, tạm trú

- Vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều 130 Luật XLVPHC 2012 hoặc không chấp hành các biện pháp quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền

- Có hành vi vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh

- Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất

- Mắc bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm theo quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm17

Hiện nay các Nghị định quy định xử phạt hành vi vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp này tương đối nhiều gồm các nghị định sau: Nghị định số 64/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 06 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ; Nghị định số: 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm

2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số: 88/2015/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số: 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Nghị định số: 97/2013/NĐ-CP ngày

27 tháng 08 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng; Nghị định số: 103/2013/NĐ-CP ngày

12 tháng 09 năm 2013 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; Nghị định số 138/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục; Nghị định số 159/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí xuất bản; Nghị định số 176/2013/NĐ-CP Quy

Trang 28

định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục y tế; Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật

tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia định Trong đó, Nghị định số 167/2013/NĐ-CP có quy định rất nhiều hành vi bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Tuy nhiên tại các nghị định này cũng quy định hạn chế một số hành vi bị xử phạt với hình thức trục xuất, không phải các hành vi vi phạm thuộc đối tượng điều chỉnh của các nghị định trên đều áp dụng hình thức xử phạt trục xuất

1.2.2.2 Đối tượng áp dụng biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Đối tượng áp dụng là người nước ngoài vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam và theo quyết định của Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục quản

lý xuất nhập cảnh trong một thời hạn nhất định người đó bắt buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam Theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, thì khái niệm “người nước ngoài” được hiểu là “người không có quốc tịch Việt Nam” Từ khái niệm này có thể hiểu người nước ngoài là người mang quốc tịch của một nước khác và người không mang quốc tịch của bất kỳ một nước nào (người không có quốc tịch) Tuy nhiên, ở đây cũng có một trường hợp biệt lệ cần lưu ý là, trục xuất sẽ không được áp dụng đối với người không có quốc tịch thường trú tại Việt Nam Cụ thể với đối tượng này, cơ quan có thẩm quyền có thể áp dụng một trong các hình phạt chính khác căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà họ đã thực hiện Tuy nhiên, ngay trong lớp chủ thể là người nước ngoài cũng có sự phân biệt, không phải bất cứ một cá nhân người nước ngoài nào cũng đều bình đẳng như nhau khi bị xử lý bằng biện pháp trục xuất Vì người nước ngoài vi phạm hành chính ở Việt Nam thì việc xử phạt còn

bị chi phối bởi các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 29

chính thì chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp này đặc biệt nhất, giới hạn ở hai chức danh xuất phát từ tính chất đặc biệt của đối tượng bị áp dụng và tính chất nhạy cảm trong quan hệ quốc tế khi áp dụng biện pháp này

1.2.2.4 Trình tự thủ tục thực hiện biện pháp Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Đây không là biện pháp được áp dụng độc lập mà là biện pháp áp dụng tiếp theo đối với người vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, nên trình tự thủ tục thực hiện được tính từ lúc ban hành quyết định xử phạt trục xuất

Khi người vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Trưởng phòng Quản lý xuất, nhập cảnh Công an cấp tỉnh (nơi lập hồ sơ đề nghị trục xuất) đề xuất với Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng các biện pháp quản lý đối với người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh xem xét quyết định áp dụng biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất

Luật không quy định cụ thể nhưng với cách thức quy định thì cho thấy việc

đề xuất quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất phải thực hiện đồng thời với quyết định áp dụng biện pháp quản lý người nước ngoài mới đảm bảo tính chất ngăn chặn và đảm bảo cho việc thi hành quyết định trục xuất

Quyết định xử phạt trục xuất phải được gửi cho người bị trục xuất và Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú cuối cùng trước khi đến Việt Nam trước khi thi hành Quyết định xử phạt trục xuất phải được thể hiện bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, để Bộ Ngoại giao giải quyết các thủ tục đối ngoại liên quan đến việc thi hành quyết định trục xuất và các thủ tục có liên quan khác đối với trường hợp người nước ngoài bị tạm giữ, áp giải theo thủ tục hành chính Mục đích của việc gửi quyết định cho Bộ Ngoại giao Việt Nam và cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú cuối cùng để các cơ quan này thực hiện các thủ tục bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như trợ giúp với công dân nước họ

Trang 30

Trong thời gian bị áp dụng biện pháp lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an, người bị áp dụng được đảm bảo các chế độ cơ bản của cuộc sống về ăn, mặc, ở, sinh hoạt thể dục thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ thông tin liên lạc, quản lý tài sản của mình, được gặp người thân, được quyền khám chữa bệnh theo quy định theo khoản 1 điều 31 Nghị định 112/2013/NĐ-CP Các khoản chi cho ăn, ở, khám, chữa bệnh tại cơ sở lưu trú, phương tiện xuất cảnh do người bị trục xuất chi trả Trong trường hợp người bị trục xuất không có khả năng chi trả thì Cục Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh (nơi lập hồ sơ quản lý đối tượng) yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó là công dân hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân mời người nước ngoài vào Việt Nam chi trả Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức nêu trên không có điều kiện, khả năng chi trả thì Cục Quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an hoặc Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ quản lý đối tượng chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước

Người bị áp dụng các biện pháp quản lý trong thời gian làm thủ tục trục xuất phải chấp hành các biện pháp bị áp dụng, trường hợp chống đối, bỏ trốn, không chấp hành quyết định xử phạt trục xuất thì cán bộ thi hành giải thích quy định của pháp luật, yêu cầu họ chấp hành quyết định; trường hợp cần thiết có quyền sử dụng

vũ lực, trói, khóa tay, chân, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật để khống chế vô hiệu hóa hành vi chống đối của người bị vi phạm

1.2.3 Biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.2.3.1 Khái niệm cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt khi đã hết thời hạn thi hành theo quy định tại Điều 73 của Luật XLVPHC năm 2012 Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản

Trang 31

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều

Đây là hình thức thi hành quyết định xử phạt hành chính thực hiện thông qua việc áp dụng những biện pháp mang tính bắt buộc để bảo đảm thi hành quyết định

xử phạt trên thực tế mà không tùy thuộc vào ý chí của người vi phạm Cưỡng chế thi hành chỉ áp dụng khi người vi phạm không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt và chỉ do người có thẩm quyền tiến hành và theo thủ tục được pháp luật quy định Trong Luật XLVPHC năm 2012, lý do và thủ tục cưỡng chế thi hành được quy định tại Điều 86 (Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính)

và Điều 87 (Thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế)

Đối tượng bị áp dụng là các cá nhân, tổ chức không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt của người có thẩm quyền khi đã hết thời hạn thi hành Thời hạn thi hành được xác định theo luật là 10 ngày hoặc hơn theo thời hạn ghi trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính19

Ngoài ra, các chủ thể khác như cơ quan đơn vị đang quản lý, trả lương, các tổ chức tín dụng mà người vi phạm có mở tài khoản, ngoài thứ ba đang giữ tiền tài sản của người bị cưỡng chế tuy không phải là đối tượng bị cưỡng chế nhưng cũng có trách nhiệm thực hiện quyết định cưỡng chế

Việc thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là rất cần thiết đảm bảo nguyên tắc mọi quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được thực hiện triệt để trên thực tế, thể hiện quyền lực của cơ quan nhà nước trừng trị đối với đối tượng vi phạm nên có tác dụng răn đe giáo dục rất cao, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong thực tế Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt là biện pháp quan trọng nhất trong

số các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vì nó được áp dụng đối với mọi chủ thể vi phạm

1.2.3.2 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

vi phạm hành chính

Biện pháp này chỉ áp dụng khi đã hết thời hạn thi hành mà cá nhân tổ chức bị

xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt Thời hạn này là 10 ngày hoặc hết thời hạn được ghi trong quyết định kể từ ngày nhận

Trang 32

được quyết định xử phạt mà người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành Như vậy,

để áp dụng biện pháp này cần hai điều kiện:

Thứ nhất, người bị xử phạt đã nhận được quyết định xử phạt

Thứ hai, người bị xử phạt không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt khi

đã hết thời quy định ghi trong quyết định xử phạt

1.2.3.3 Thẩm quyền và trách nhiệm áp dụng cưỡng chế thi hành quyết định

xử phạt vi phạm hành chính

Khoản 1 Điều 87 Luật XLVPHC đã xác định rõ những người có thẩm quyền

ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC Theo đó, thẩm quyền cưỡng chế vừa liên quan đến thẩm quyền xử phạt vừa nổi bật với các đặc điểm sau:

Một là, Chủ thể áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi

phạm là những chức danh bắt buộc phải có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Nhưng không phải mọi chức danh có thẩm quyền xử phạt đều có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt Những người là chiến sỹ, công chức, kiểm soát viên, kiểm lâm viên đang thi hành công vụ hoặc những chức danh cao hơn những người này một bậc như tổ trưởng, đội trưởng, trạm trưởng có thẩm quyền xử phạt mà không có thẩm quyền cưỡng chế

Hai là, Những chức danh có thẩm quyền cưỡng chế phải là những người có

chức vụ, tức làm công tác quản lý, ít nhất phải là cấp bậc quản lý thứ hai theo bậc tăng dần thẩm quyền xử phạt như Trưởng đồn Công an, Trưởng Công an cấp huyện (trong khi Trưởng công an cấp xã - Chức vụ quản lý bậc 1 không có quyền cưỡng chế)

Ba là, mỗi cơ quan chỉ có vài chức danh quản lý có thẩm quyền cưỡng chế

mà không phụ thuộc vào cấp bậc nào như các chức danh Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Đội trưởng Đội thủ tục Hải quan, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền xử phạt tương đương Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nhưng lại không có thẩm quyền cưỡng chế như Chi cục trưởng Chi cục Hải quan

Như vậy, thẩm quyền cưỡng chế có điểm đặc thù so với thẩm quyền xử phạt

vì việc ban hành quyết định cưỡng chế có ảnh hưởng rõ ràng, trực tiếp đến quyền

Trang 33

lợi ích hợp pháp của người bị cưỡng chế nhiều hơn so với việc ban hành một quyết định xử phạt, dó đó đòi hỏi người ban hành quyết định cưỡng chế phải có thẩm quyền nhất định đảm bảo quyết định ban hành có tính hợp pháp hợp lý cao, đủ hiệu lực để tìm được sự công tác của các cơ quan liên quan trong tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế20

Người có thẩm quyền cưỡng chế nêu trên có thể giao quyền cho cấp phó Việc giao quyền chỉ được thực hiện khi cấp trưởng vắng mặt và phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được giao quyền Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền không được giao quyền, ủy quyền tiếp cho bất kì cá nhân nào khác21

1.2.3.5 Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định

xử phạt vi phạm hành chính

- Về trình tự, thủ tục áp dụng chung

Sau khi hết thời hạn thi hành mà người vi phạm không tự nguyện chấp hành một phần hoặc toàn bộ quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải ra quyết định cưỡng chế và phải gửi ngay quyết định cưỡng chế cho các cá nhân,

tổ chức liên quan, quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết Trường

20

Trường Đại học luật TP HCM (2014), Bình luận khoa học Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nhà

Xuất bản đại học quốc gia Tp HCM, tập 2, tr 505-506

Trang 34

hợp cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá, thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản, buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì quyết định cưỡng chế phải được gửi đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế trước khi thi hành để phối hợp thực hiện Việc gởi quyết định cho UBND cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác phối hợp tổ chức thực hiện, đảm bảo nguyên tắc quản lý nhà nước của chính quyền địa phương đối với các hoạt động diễn ra trên địa bàn

Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận thì người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định có xác nhận của chính quyền địa phương và được coi là quyết định

đã được giao Ðối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba mà bị trả lại do cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận, quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của

tổ chức bị cưỡng chế hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được giao

Thời hạn thi hành quyết định cưỡng chế là 15 ngày, kể từ ngày nhận quyết định cưỡng chế; trường hợp quyết định cưỡng chế có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 15 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó23

Người có thẩm quyền cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế của mình và của cấp dưới, đối với quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân ra quyết định cưỡng chế căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân để phân công cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế Việc phân công

cơ quan chủ trì phải trên nguyên tắc vụ việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của cơ quan nào thì giao cơ quan đó chủ trì; trường hợp vụ việc liên quan đến nhiều cơ quan thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để quyết định giao cho một cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế

23 Điều 2 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 nãm 2013 cuả Chính phủ

Trang 35

Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước khác khi được yêu cầu

Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo thứ tự từng biện pháp: 1) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm, 2) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá, 3) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản, 4) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả Chỉ áp dụng các biện pháp tiếp theo khi không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế đó hoặc đã

áp dụng nhưng chưa thu đủ số tiền bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế

- Đối với biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần

thu nhập

Đây là biện pháp cưỡng chế nhẹ nhàng nhất, được ưu tiên sử dụng hơn so với các biện pháp khác bởi việc áp dụng biện pháp này ít tốn kém vừa không gây ra xung đột trực tiếp giữa nhà nước và người vi phạm Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức xác minh thông tin về tiền lương, thu nhập, mức bảo hiểm xã hội được hưởng của cá nhân bị cưỡng chế để làm căn cứ ra quyết định cưỡng chế Cá nhân bị cưỡng chế, tổ chức, cá nhân đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập và các tổ chức, cá nhân liên quan phải cung cấp thông tin về tiền lương, thu nhập, mức bảo hiểm xã hội của cá nhân bị cưỡng chế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin đã cung cấp Sau khi có thông tin người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với tổ chức,

cá nhân vi phạm

Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập đối với cá nhân bao gồm những nội dung sau: Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ra quyết dịnh; họ tên, địa chỉ của cá nhân bị cưỡng chế khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập; tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế; số tiền bị khấu trừ; lý do khấu trừ; tên, địa chỉ của Kho bạc Nhà

Trang 36

nước nhận tiền; phương thức chuyển số tiền bị khấu trừ đến Kho bạc; thời gian thi hành; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định

Cơ quan, đơn vị, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị áp dụng biện pháp khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh quyết định cưỡng chế của cơ quan có thẩm quyền Hàng tháng đến kỳ lĩnh tiền lương hoặc thu nhập gần nhất phải tiến hành khấu trừ một phần lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế và chuyển số tiền đã khấu trừ đến tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế biết Tỷ lệ khấu trừ không quá 30% mỗi lần trên tổng số tiền lương, bảo hiểm xã hội được hưởng và không quá 50% mỗi lần trên tổng số thu nhập đối với những khoản thu nhập khác

- Đối với biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản

Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế tiến hành xác minh thông tin tài khoản của người bị cưỡng chế bằng cách yêu cầu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế hoặc tổ chức tín dụng cung cấp thông tin về tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế Sau khi có thông tin tài khoản, người có thẩm quyền ban hành Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản Thông thường, người có thẩm quyền sẽ chủ động thực hiện xác minh thông tin tài khoản của cá nhân và tổ chức vi phạm vì đối tượng vi phạm đã không tự nguyện thi hành quyết định xử phạt thì họ tìm cách che giấu thông tin nơi đăng ký tài khoản không chủ động cung cấp cho người có thẩm quyền cưỡng chế

Quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản bao gồm những nội dung sau: Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ra quyết định; số tiền bị khấu trừ, lý do khấu trừ;

họ tên, số tài khoản của cá nhân, tổ chức bị khấu trừ; tên, địa chỉ tổ chức tín dụng nơi đối tượng bị áp dụng khấu trừ mở tài khoản; tên, địa chỉ, số tài khoản của Kho bạc Nhà nước, phương thức chuyển số tiền bị khấu trừ từ tổ chức tín dụng đến Kho bạc Nhà nước; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu cơ quan ra quyết định

Khi nhận được quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản, cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có trách nhiệm yêu cầu tổ chức tín dụng nơi mình mở tài khoản chuyển tiền từ tài khoản của mình sang tài khoản của Kho bạc Nhà nước ghi trong

Trang 37

quyết định cưỡng chế khấu trừ tiền từ tài khoản Nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không thực hiện thì tổ chức tín dụng nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế mở tài khoản thực hiện giữ lại trong tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế số tiền tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức đó phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế Thực hiện trích chuyển từ tài khoản tiền gửi của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế vào ngân sách nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển

Việc khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản tại tổ chức tín dụng của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế được thực hiện trên cơ

sở các chứng từ thu theo quy định hiện hành Chứng từ thu sử dụng để khấu trừ tiền lương hoặc thu nhập được gửi cho các bên có liên quan

- Đối với biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền

phạt để bán đấu giá

Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thực hiện xác minh thông tin

về tài sản của đối tượng bị cưỡng chế, điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt Sau khi có thông tin thì ban hành quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản bao gồm những nội dung sau: số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị người ra quyết định; họ tên, nơi cư trú, trụ sở của cá nhân, tổ chức bị kê biên tài sản; số tiền bị xử phạt; địa điểm kê biên; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định Việc kê biên tài sản phải được thông báo cho cá nhân, tổ chức bị kê biên, Ủy ban nhân dân cấp

xã nơi người đó cư trú hoặc tổ chức có trụ sở đóng trên địa bàn hoặc cơ quan nơi người đó công tác trước khi tiến hành cưỡng chế kê biên 05 ngày làm việc, trừ trường hợp việc thông báo sẽ gây trở ngại cho việc tiến hành kê biên

Người ra quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế chủ trì thực hiện việc kê biên Việc kê biên tài sản phải được lập biên bản Trong biên bản ghi rõ: Thời gian, địa điểm tiến hành kê biên tài sản; họ tên, chức vụ người chủ trì thực hiện việc kê biên; người đại diện cho tổ chức bị kê biên tài sản, cá nhân có tài sản bị kê biên hoặc người đại diện hợp pháp cho họ; người chứng kiến; đại diện chính quyền địa phương (hoặc cơ quan của cá nhân bị

Trang 38

cưỡng chế); mô tả tên gọi, tình trạng, đặc điểm từng tài sản bị kê biên Sau khi kê biên người chủ trì thực hiện kê biên phải bảo quản tài sản kê biên thực hiện việc định giá tài sản đã kê biên và chuyển giao tài sản đã kê biên để bán đấu giá thu tiền phạt theo quyết định xử phạt

- Đối với biện pháp cưỡng chế thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng

chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản

Điều kiện để áp dụng biện pháp này là khi người có thẩm quyền đã ra quyết định cưỡng chế thực hiện các biện pháp khấu trừ một phần lương, một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc kê biên tài sản

có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá nhưng không áp dụng được hoặc

đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trên nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền phạt, chưa thanh toán hoặc thanh toán chưa đủ chi phí cưỡng chế Và người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có căn cứ xác định bên thứ ba đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế

Người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm xác minh thông tin về tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế; điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế thu tiền, tài sản do bên thứ ba đang giữ và chứng minh được hành vi cố

tình tẩu tán tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế sau khi vi phạm Sau khi có

thông tin thì ban hành quyết định cưỡng chế thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do bên thứ ba đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản

Bên thứ ba đang giữ tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thông tin về số tiền, tài sản đang giữ của đối tượng cưỡng chế khi có yêu cầu, không được chuyển trả tiền, tài sản cho đối tượng bị cưỡng chế cho đến khi thực hiện nộp tiền vào ngân sách nhà nước hoặc chuyển giao tài sản cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế để làm thủ tục bán đấu giá

Quyết định cưỡng chế thu tiền, tài sản của đối tượng bị cưỡng chế do bên thứ

ba đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản bao gồm những nội dung sau: Số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị người ra quyết định; họ tên, địa chỉ

Trang 39

của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế; họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đang giữ tiền, tài sản; số tiền, tài sản bị thu; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của

cơ quan ra quyết định

Việc cưỡng chế phải có sự tham dự của chính quyền địa phương và được lập thành biên bản Trong biên bản ghi rõ: Thời gian, địa điểm tổ chức cưỡng chế; cơ quan chủ trì tiến hành cưỡng chế; họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế;

họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đang giữ tiền, tài sản; đại diện chính quyền địa phương nơi tiến hành cưỡng chế, người chứng kiến; số tiền, tài sản và tình trạng tài sản bị thu Cá nhân hoặc đại diện tổ chức bị cưỡng chế; cá nhân, đại diện tổ chức đang giữ tiền, tài sản; đại diện cơ quan ra quyết định cưỡng chế, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến ký vào biên bản Biên bản có nhiều tờ thì phải ký vào từng tờ biên bản Trong trường hợp có người vắng mặt hoặc có mặt mà

từ chối ký biên bản thì việc đó phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do Trường hợp cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế, cá nhân, đại diện tổ chức đang giữ tiền, tài sản cố tình vắng mặt thì vẫn tiến hành cưỡng chế nhưng phải có đại diện của chính quyền địa phương và người chứng kiến Tài sản thu được sẽ tổ chức bán đấu giá để thu tiền phạt nộp ngân sách nhà nước

Sau khi tổ chức kê biên tài sản và thu tài sản của người thứ ba đang giữ của đối tượng bị cưỡng chế người có thẩm quyền cưỡng chế tiến hành định giá và bán đấu giá tài sản theo quy định

* Định giá tài sản

Việc định giá tài sản đã kê biên được tiến hành tại nhà của cá nhân hoặc trụ

sở của tổ chức bị kê biên hoặc nơi lưu giữ tài sản bị kê biên, trừ trường hợp phải thành lập Hội đồng định giá tài sản Tài sản đã kê biên được định giá theo sự thỏa thuận giữa người chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế với đại diện tổ chức hoặc

cá nhân bị cưỡng chế và chủ sở hữu chung trong trường hợp kê biên tài sản chung Trường hợp các bên không thỏa thuận được về giá thì thành lập Hội đồng định giá tài sản Hội đồng định giá tài sản gồm có người đã ra quyết định cưỡng chế là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn

có liên quan Việc định giá tài sản dựa trên giá thị trường tại thời điểm định giá Đối với tài sản mà Nhà nước thống nhất quản lý giá thì việc định giá dựa trên cơ sở giá tài sản do Nhà nước quy định Hội đồng định giá tài sản làm việc theo nguyên tắc

Trang 40

tập thể, trường hợp biểu quyết ngang nhau thì quyết định theo bên có biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng hoặc người được ủy quyền điều hành cuộc họp định giá tài sản

Cá nhân bị kê biên hoặc đại diện tổ chức có tài sản bị kê biên được tham gia ý kiến vào việc định giá, nhưng quyền quyết định giá thuộc Hội đồng định giá tài sản

Việc định giá tài sản phải được lập thành biên bản, trong đó ghi rõ thời gian, địa điểm tiến hành định giá, thành phần những người tham gia định giá, tên và trị giá tài sản đã được định giá, chữ ký của các thành viên tham gia định giá và của chủ tài sản

Tài sản đã được định giá sẽ chuyển giao cho tổ chức bán đấu giá chuyên

nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có tài sản bị kê biên

để bán đấu giá theo hình thức ký kết hợp đồng bán đấu giá tài sản hoặc thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp không ký được hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp Việc bán đấu giá tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản

Số tiền thu được sau khi bán đấu giá sau khi nộp vào ngân sách số tiền ghi trong quyết định xử phạt và chi phí cho việc cưỡng chế nếu còn dư thì trong thời hạn

10 ngày làm việc kể từ ngày bán đấu giá, cơ quan thi hành biện pháp cưỡng chế tài sản bán đấu giá làm thủ tục trả lại phần chênh lệch cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế

- Đối với biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả

Đây là biện pháp cưỡng chế thể hiện rõ nhất quyền lực nhà nước, việc áp dụng biện pháp này sẽ gây ra xung đột trực tiếp giữa nhà nước và người vi phạm Người có thẩm quyền cưỡng chế phải ban hành quyết định cưỡng chế thi hành biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và phải giao cho tổ chức cá nhân bị cưỡng chế, giao nhiệm vụ cho cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện

Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm những nội dung sau: số quyết định; ngày, tháng, năm ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức

bị cưỡng chế, biện pháp khắc phục hậu quả phải thực hiện; thời gian hoàn thành cưỡng chế; cá nhân, cơ quan có trách nhiệm chủ trì tổ chức các hoạt động cưỡng chế; cơ quan có trách nhiệm tham gia; chữ ký của người ra quyết định và đóng dấu của cơ quan ra quyết định

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
32. Nguyễn Thị Ngọc Bích (2012), Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực văn hoá – xã hội ở các quận của thành phố trực thuộc trung ương (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành trong lĩnh vực văn hoá – xã hội ở các quận của thành phố trực thuộc trung ương (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Bích
Năm: 2012
33. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Bách khoa – Tư pháp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Bách khoa – Tư pháp Hà Nội
Năm: 2006
36. Công an tỉnh Khánh Hòa (2017), Báo cáo số 702/BC-CAT-PV11 (PC) ngày 27/6/2017 về tổng kết 5 năm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 702/BC-CAT-PV11 (PC) ngày 27/6/2017 về tổng kết 5 năm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Công an tỉnh Khánh Hòa
Năm: 2017
37. Nguyễn Cảnh Hợp và Cao Vũ Minh: Hoàn thiện pháp luật về vi pham hành chính từ kinh nghiệm của Liên bang Nga, Văn phòng Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
38. Nguyễn Cảnh Hợp: Trách nhiệm hành chính và sự cần thiết sửa đổi Luật XLVPHC năm 2012, Tạp chí Khoa học pháp lý số 7/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học pháp lý
39. Chu Việt Hùng (2014), Các biện pháp ngăn chặn và bảm đảm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, Luận văn Thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn và bảm đảm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng
Tác giả: Chu Việt Hùng
Năm: 2014
40. Trương Thị Phương Lan (2011), “Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20, tr. 25 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Trương Thị Phương Lan
Năm: 2011
41. Cao Vũ Minh (2013), “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - Những bất cập và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - Những bất cập và hướng hoàn thiện”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2013
42. Nguyễn Hoài Nam (2007) “Căn cứ pháp lý của biện pháp tạm giữ phương tiện giao thông”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Căn cứ pháp lý của biện pháp tạm giữ phương tiện giao thông”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
44. Trường Đại học Luật TP HCM, năm 2014, Bình luận khoa học Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Luật TP HCM, năm 2014
45. Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nguyễn Cửu Việt, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.155-156 46. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam,Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.315 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam", Nguyễn Cửu Việt, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.155-156 46. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), "Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Trường ĐH Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nguyễn Cửu Việt, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr.155-156 46. Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
Năm: 2008
47. Trường Đại học Luật Hà Nội (1997), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, tr.450 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 1997
48. Phạm Hồng Thái và Đinh Văn Mậu (năm 2009), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Giao Thông Vận Tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giao Thông Vận Tải
54. UBND thành phố Đà Nẵng (2015), Báo cáo số 250/BC-UBND ngày 27/11/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015,tr.6, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 250/BC-UBND ngày 27/11/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Đà Nẵng
Năm: 2015
55. UBND thành phố Đà Nẵng (2016), Báo cáo số 212/BC-UBND ngày 31/10/2016 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016, tr.5, tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 212/BC-UBND ngày 31/10/2016 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2016
Tác giả: UBND thành phố Đà Nẵng
Năm: 2016
56. UBND thành phố Hải Phòng (2015), Báo cáo số 258/BC-UBND ngày 25/11/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015, tr.4, tr 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 258/BC-UBND ngày 25/11/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Hải Phòng
Năm: 2015
57. UBND thành phố Hồ Chí Minh (2014), Báo cáo số 07/BC-UBND ngày 15/01/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 07/BC-UBND ngày 15/01/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính năm 2014
Tác giả: UBND thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
58. UBND thành phố Hồ Chí Minh (2015), Báo cáo số 191/BC-UBND ngày 30/7/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 6 tháng năm 2015, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 191/BC-UBND ngày 30/7/2015 về công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 6 tháng năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2015
71. Lê Lâm, Cháy kho tạm giữ xe của Công an TP. Biên Hòa, hơn 100 xe máy bị thiêu rụi, http://thanhnien.vn/thoi-su/chay-kho-tam-giu-xe-cua-cong-an-tpbien-hoa-hon-100-xe-may-bi-thieu-rui-823725.html, truy cập ngày 10/4/2017 Link
80. Nguyễn Thị Vinh, Công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Lào Cai năm 2016, http://stp.laocai.gov.vn/stp/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm