Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, hệ thống pháp luật nên có sự điều chỉnh thống nhất phân biệt rõ ràng phương thức, hình thức, chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phươn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGÔ KHẮC THINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ
TẠI CÁC ĐÔ THỊ LOẠI I THUỘC TỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TẠI CÁC ĐÔ THỊ LOẠI I THUỘC TỈNH
Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp Và Luật Hành Chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi: Ngô Khắc Thinh - Học viên cao học lớp CHL.LHC 14 Khóa 21 (CHL.K2
Khánh Hòa), mã số Học viên: 1479020194 được Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh giao thực hiện Luận văn Thạc sỹ Luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp -
Luật Hành chính (Mã số chuyên ngành: 60380102) với đề tài: "Quản lý nhà nước
về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại các đô thi loại I thuộc tỉnh" Tôi xin cam đoan danh
dự Luận văn này là kết quả của quá trình tổng hợp từ lý lý luận, cơ sở pháp lý và thực
tế thực hiện quản lý nhà nước từ các địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh; đồng thời được nghiên cứu nghiêm túc của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp khoa học
của TS PHAN NHẬT THANH Các số liệu nêu trong Luận văn là những số liệu
trung thực, chính xác được thu thập từ các địa phương./
Tác giả Luận văn
Ngô Khắc Thinh
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TẠI ĐÔ THỊ LOẠI I THUỘC TỈNH 8 1.1 Khái niệm hạ tầng kỹ thuật đô thị 8 1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 13 1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 14 1.4 Cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan quản lý chung và cơ quan chuyên môn) về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 17 1.5 Nội dung quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 20
1.5.1 Xây dựng chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 20 1.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại
I thuộc tỉnh 23 1.5.3 Quản lý công tác ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 25 1.5.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh 29
1.6 Vai trò của công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 31 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HẠ TẦNG
KỸ THUẬT ĐÔ THỊ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở ĐÔ THỊ LOẠI
I THUỘC TỈNH 34 2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh 34
2.1.1 Thực trạng việc xây dựng chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị đối với đô thị loại I thuộc tỉnh 34 2.1.2 Thực trạng quản lý công tác ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh
39
Trang 62.1.3 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 47 2.1.4 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 49
2.2 Những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật
đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh 54
2.2.1 Hạn chế, bất cập trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh 55 2.2.2 Hạn chế, bất cập trong bộ máy quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật
đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh 56 2.2.3 Hạn chế, bất cập trong phân cấp quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh 58 2.2.4 Hạn chế, bất cập trong công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 59
2.3 Kiến nghị và giải pháp 61
2.3.1 Xây dựng chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 61 2.3.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 62 2.3.3 Quản lý công tác ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 64 2.3.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật
đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh 68
KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua quá trình đô thị hoá đã và đang diễn ra nhanh chóng trên phạm vi của cả nước Được sự quan tâm và chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, các ngành và lãnh đạo chính quyền các địa phương cùng với sự tài trợ của các tổ chức quốc tế (ADB, WB, ) và các nước trên thế giới nên nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị như hệ thống giao thông, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh, thu gom và xử lý chất thải rắn của các đô thị loại I thuộc tỉnh đã được đầu tư xây dựng, cải tạo và phát triển khá nhanh, bộ mặt của các đô thị loại I thuộc tỉnh đã khởi sắc và đáp ứng với nhiệm vụ, vai trò của nó Sự phát triển của hệ thống các đô thị loại I thuộc tỉnh vừa qua trong đó cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị tại các đô thị loại I thuộc tỉnh được quan tâm đầu tư xây dựng đã góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, từng bước nâng cao chất lượng đô thị, cải thiện đời sống của người dân đô thị, góp phần xoá đói giảm nghèo tạo lập một nền tảng
phát triển đô thị bền vững
Yếu tố quan trọng nhất để thúc đẩy sự phát triển và thành công của nhiều lĩnh vực kinh tế trong các thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh đó chính là hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Sự phát triển và hiện đại hóa các lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh có ảnh hưởng trực tiến đến toàn bộ quá trình phát triển của một thành phố thuộc tỉnh Trong thực tiễn chứng minh tại các nước tiên tiến hiện đại, quy hoạch phát triển không gian đô thị chỉ được thực hiện có hiệu quả đi vào cuộc sống khi hạ tầng kỹ thuật đô thị được xây dựng có quy hoạch, đồng bộ, thống nhất và đi trước một bước Do vậy việc đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo và quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị sẽ góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của một thành phố, tạo lập được các không gian đô thị đáp ứng hài hòa các nhu cầu sử dụng cho con người cả về vật chất và tinh thần
Tuy nhiên, theo định hướng việc phát triển hệ thống đô thị Việt Nam phải đảm bảo phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, hướng tới nền kinh tế xanh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, vùng và cả nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Phát triển
đô thị đảm bảo sử dụng có hiệu quả và được đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị, kiểm soát chất lượng môi trường, hài hòa giữa bảo tồn, cải tạo và xây dựng mới; xây dựng đô thị có điều kiện sống tốt, tăng cường sức cạnh tranh đô
Trang 8thị trong khu vực và quốc tế Phát triển đô thị trên cơ sở phân công trách nhiệm và
cơ chế phối hợp giữa các đô thị trong vùng kinh tế trọng điểm, vùng đô thị lớn nhằm phát huy cơ hội và khắc phục thách thức trong việc sử dụng các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo sức lan tỏa, trên cơ sở cạnh tranh đô thị gắn với nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Quản lý, khai thác đồng bộ hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh
là một công việc có nội dung rộng, bao gồm nhiều công tác khác nhau đòi hỏi phải phối hợp một cách chặt chẽ trong một hệ thống bộ máy quản lý nhà nước tại đô thị, nhằm phát huy hiệu quả cao nhất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho từng vùng, từng lãnh thổ và đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng Quản lý, khai thác hạ tầng
kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh đòi hỏi mức độ thống nhất về pháp luật, sự phân cấp quản lý nhà nước rõ ràng (phân định rõ về phân quyền – phân cấp - ủy quyền giữ các cấp chính quyền địa phương); đồng thời áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện đại theo yêu cầu về chất lượng được xem là một dịch vụ tổng hợp, đáp ứng tối đa mọi nhu cầu dân sinh trong đô thị
Trong thực tế hiện nay đối với hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, không xác định rõ ràng phân cấp quản lý nhà nước trong công tác quản lý, khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật dẫn đến tình trạng không phát huy tác dụng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị và tác động xấu đến phát triển kinh tế - xã hội của từng đô thị loại I thuộc tỉnh Mặt khác, với sự bất cập nêu trên đã tác động đến làm cho hạ tầng
kỹ thuật đô thị khai thác không đúng với chức năng phục vụ của nó (bao gồm chức năng cơ động và chức năng tiếp cận); ở một góc độ khoa học quản lý thì đó là sự không đồng bộ, không thống nhất trong công tác quản lý của từng chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh trong một quốc gia và sự bất cập, không đồng nhất trong hệ thống pháp luật hiện nay
Hiện nay đang tồn tại song song và xen lẫn các mô hình quản lý nhà nước đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại các đô thị loại I thuộc tỉnh đó là:
Mô hình một cấp quản lý:
+ Sở chuyên ngành trực thuộc UBND cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước toàn bộ (không phân cấp hoặc không ủy quyền cho chính quyền địa phương ở đô thị) đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh Mô hình này
đã tác động đến sự thụ động của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh, gây khó khăn và chồng chéo trong công tác quản lý nhà nước (về đầu tư, bảo
Trang 9dưỡng, duy tu, sửa chữa, kiểm tra, thanh tra…); từ đó tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh;
+ Chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh thực hiện công tác quản
lý nhà nước toàn bộ hạ tầng kỹ thuật đô thị (được phân cấp hoặc ủy quyền toàn bộ):
Mô hình này đã đáp ứng phát huy tính chủ động, tự chủ, năng động của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội của thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh đó
Mô hình hỗn hợp:
Có sự đang xen quản lý nhà nước của Sở chuyên ngành, có phân cấp một phần cho chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh, có đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp tham gia thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị Mô hình này không đảm bảo sự đồng nhất, chồng chéo, thiếu tính đồng
bộ, không phát huy tính chủ động, hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh không đồng bộ và mất tác dụng lợi ích của hệ thống… khó khăn trong quản lý nhà nước
Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, hệ thống pháp luật nên có sự điều chỉnh thống nhất phân biệt rõ ràng phương thức, hình thức, chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm điều chỉnh các mối quan hệ của các chủ thể liên quan đến quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị (cơ quan quản
lý nhà nước – đơn vị sự nghiệp – doanh nghiệp – các tổ chức khác và cá nhân) đảm bảo phát huy tác dụng của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị trong phát triển kinh tế -
xã hội, phục vụ tốt nhất nhu cầu điều kiện sống tại đô thị, nâng cao hiệu lực – hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh, đảm bảo lợi ích hài hòa của cộng đồng, giảm bớt gánh nặng về ngân sách…
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ
thuật đô thị tại các đô thị loại I thuộc tỉnh” là giải quyết một vấn đề có tính khoa
học, tính pháp luật, tính thực tiễn trong quản lý nhà nước hiện nay tại các đô thị loại
I thuộc tỉnh nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa theo hướng đô thị xanh, hiện đại bền vững
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nội dung nghiên cứu “Quản lý hạ tầng kỹ thuật" đã có từ rất lâu và hầu như
tất cả các nước trên thế giới đều đặt lên hàng đầu và quan tâm đến nội dung này Tuy nhiên qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và thu thập của tác giả có được, thì
Trang 10hiện nay chưa có công trình khoa học nào được công bố có tính nghiên cứu riêng
biệt, đặc thù và chuyên sâu về “Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô
thị loại I thuộc tỉnh” tại các đô thị loại I thuộc tỉnh trong xu thế phát triển, hội nhập
tại Việt Nam Mặc khác, các công trình nghiên cứu hiện nay được xuất bản hoặc giới thiệu dưới nhiều hình thức đa dạng như bài báo khoa học, sách tham khảo, sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp cử nhân, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ; các công trình này là nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài của luận văn này Tác giả xin nêu một số tài liệu có đề cập đến vấn đề liên quan đến đề tài như sau:
Các nghiên cứu nước ngoài: Nghiên cứu của Stephen J Brown, David S.Sibley
đối với lĩnh vực lý thuyết về định giá công trình hạ tầng đô thị (The theory of pulic utility pricing) năm 1986; Nghiên cứu của Alan Lawton về luân lý quản lý dịch vụ
công (Ethical management for the public services) năm 1998; nghiên cứu của Stephen Carr về khu vực công cộng (Public Space) năm 1992; nghiên cứu của David
Butler, John W Davies đối với thoát nước trong đô thị (Urban Drainage) năm 2004; nghiên cứu của Patsy Healey về quản lý đô thị: bối cảnh đô thị mới (Managing cities:
the new urban context) năm1995; nghiên cứu của Fra Tonkiss về thiết kế đô thị: đời sống xã hội trong đô thị (Cities by design: the social life of urban from) năm 2013;
nghiên cứu của David R Green về quản lý khu vực duyên hải (Coastal zone
management) năm 2010; nghiên cứu của Ismail Serageldin về kiến trúc thúc đẩy: dân
cư, nhà ở và thành phố đáng sông (The Architecture of empowerment: people, shelter and livable cities) năm 1997
Nhìn chung, các nghiên cứu này khá đa dạng liên quan đến những vấn đề đô thị và hạ tầng kỹ thuật đô thị Tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ mang tính tham khảo bởi lẽ cách phân định đô thị và quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở các quốc gia khác cần phải được nghiên cứu sâu hơn mới có thể có một sự đánh giá khách quan
và chính xác được
Các nghiên cứu trong nước: Trong các đề tài, nghiên cứu về quản lý nhà nước
đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị tại Việt Nam, phải kể đến một nghiên cứu tương đối
có những nội dung liên quan đề cập đến công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực chuyên ngành ở đô thị: “Quản lý đô thị” do PGS.TS Nguyễn Ngọc Châu chủ biên - Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội in năm 2001 đã đề cập đến nội dung quản lý của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vai trò của lý nhà nước đối với các công trình kỹ thuật Ngoài ra còn có: “Một số vấn đề cơ bản về kinh tế đầu tư
Trang 11quy hoạch và quản lý cơ sở hạ tầng đô thị” của PGS.TS Trần Đức Dục - Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội in năm 2000 đề cập đến công tác quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực đầu tư lập quy hoạch và lĩnh vực quản lý cơ sở hạ tầng đô thị sau đầu
tư đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; “Phương pháp tiếp cận mới về quy hoạch và quản lý đô thị” của tác giả Nguyễn Đăng Sơn, Viện nghiên cứu đô thị
và phát triển hạ tầng (IUSID) - Nhà xuất bản Xây dựng Hà Nội in năm 2005 ; Như vậy có rất nhiều nghiên cứu khoa học nghiên cứu về hạ tầng kỹ thuật nói chung và hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu, tổng quát và toàn diện về công tác quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh Với mong muốn đóng góp một phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh Tác giả nhấn mạnh rằng nhà nước không chỉ đầu tư, quản lý và khai thác hệ thống kỹ thuật đô thị, mà nhà nước còn cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý để từ đó có môi trường, có giải pháp và phân quyền, phân công, phân cấp quản lý đến chính quyền địa phương tại các đô thị loại I thuộc tỉnh; nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền địa phương tại các đô thị loại I thuộc tỉnh, đảm bảo tính năng động - sáng tạo - thống nhất của hệ thống các đô thị loại I thuộc tỉnh tại Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đánh giá đúng thực trạng lĩnh vực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương đối đô thị loại I thuộc tỉnh đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị; từ đó trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng để đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực, chất lượng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện nay; do vậy mục đích nghiên cứu đề tài tập trung:
- Làm rõ và cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị đối với chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh trên địa bàn đô thị; mối quan
hệ giữa UBND các tỉnh với UBND thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh;
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định dưới luật về quản lý xây dựng đô thị nói chung, quản lý xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật nói riêng tại đô thị loại I thuộc tỉnh;
- Hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước trong lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật đô thị tị đô thị loại I thuộc tỉnh bắt đầu từ khâu quy hoạch, xây dựng, sử dụng, khai
Trang 12thác, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, bảo trì, bảo dưỡng và bảo vệ các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị;
- Việc xây dựng, sử dụng, khai thác, duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định hiện hành và quy hoạch xây dựng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước
về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ các ngành, các cấp và chính quyền địa phương có liên quan từ khâu quy hoạch đến khâu triển khai xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng Do vậy nhiệm vụ luận văn tập trung:
- Các vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh;
- Nghiên cứu làm rõ các cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng áp dụng pháp luật của chính quyền địa phương tại các đô thị loại I thuộc tỉnh về quản lý, bảo trì, khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật tại đô thị hiện nay;
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh và đưa ra những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả, đồng bộ trong quản lý nhà nước đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thi loại I thuộc tỉnh
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tác giả giới hạn phạm vi tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý nhà nước của chính quyền địa phương
ở đô thị loại I thuộc tỉnh đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị theo pháp luật Việt Nam (pháp luật đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị; cơ chế quản lý, vận hành, bảo trì
và khai thác; cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền quản lý; công tác kiểm tra, xử
lý vi phạm hành chính), thực trạng và những giải pháp Đề tài không đi sâu nghiên cứu các vấn đề: Quản lý đầu tư hạ tầng kỹ thuật đô thị, cung ứng các dịch vụ công trong đô thị, các nội dung liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật ngành xây dựng dân dụng – giao thông và công nghiệp
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Tác giả thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện Luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp liệt kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp tổng hợp…
Trang 13Trên sơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp ở Chương 1 nhằm khái quát hóa tình hình nghiên cứu của đề tài cũng như tổng hợp, đánh giá cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị để làm nền tảng cho Chương 2 Chương 2 tác giả đã nghiên cứu theo phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, đặc biệt coi trọng phương pháp tổng kết thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, so sánh
và tổng hợp để đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Phần cuối của Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp và đánh giá những hạn chế, bất cập trong quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp cho đề tài
5 Bố cục của luận văn
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ
thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị của
chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ TẠI ĐÔ THỊ LOẠI I THUỘC TỈNH 1.1 Khái niệm hạ tầng kỹ thuật đô thị
Trên thế giới khái niệm hạ tầng kỹ thuật được hiểu và có các khái niệm khác nhau trên cơ sở chế định, thể chế và tùy thuộc vào hình thái kinh tế của mỗi quốc gia:
- Khái niệm hạ tầng kỹ thuật, theo định nghĩa của Rick Geddes- chuyên gia phân tích chính sách và quản lý tại Đại học Cornell-Hoa kỳ bao gồm nhiều ngành công nghiệp khác nhau như hàng không, vô tuyến viễn thông, dầu khô, khí tự nhiên, điện lực, vận tải, cáp truyền thông và đường sắt Những ngành công nghiệp này có những điểm chung về mạng lưới kết cấu với phạm vi bao phủ lớn các hệ thống đường dây, ống dẫn hoặc tuyến đường dựa trên các quy định về quyền sử dụng công cộng và thường có sự kết nối mạnh mẽ về hạ tầng giữa những bộ phận cấu thành Trong một số trường hợp như ngành hàng không, chính phủ sở hữu một phần
cơ sở hạ tầng Hạ tầng kỹ thuật công cộng thường có một phần không thể hoàn vốn
do nhu cầu đầu tư hạ tầng lớn Trong quá khứ, các công trình hạ tầng kỹ thuật tư có
tỷ lệ hoàn vốn bởi chính phủ Trong đa số trường hợp, các công trình hạ tầng được cấp phép độc quyền trong lĩnh vực tương xứng
- Theo Đạo luật về hạ tầng kỹ thuật năm 2000 của Quốc hội Vương quốc liên hiệp Anh và Bắc Ireland (được chỉnh sửa từ Đạo luật khí đốt năm 1986, 1995 và Đạo luật điện năm 1989) thì khái niệm hạ tầng kỹ thuật được hiểu là nhằm quản lý thị trường điện lực và khí đốt Tại đạo luật này quy định các công ty điện lực phải
có các giấy phép con khác nhau cho các lĩnh vực khác nhau như nguồn cung cấp hay phân phối
Đối với Việt Nam khái niệm hạ tầng kỹ thuật được hiểu:
- Theo Luật Xây dựng năm 2014: “Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm
công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác.”1
- Theo Luật Quy hoạch Đô thị năm 2009:“Quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị
được lập cho các đối tượng sau đây:
1 Giao thông đô thị;
2 Cao độ nền và thoát nước mặt đô thị;
1
Khoản 22 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014
Trang 153 Cấp nước đô thị;
4 Thoát nước thải đô thị;
5 Cấp năng lượng và chiếu sáng đô thị;
6 Thông tin liên lạc;
7 Nghĩa trang và xử lý chất thải rắn”2
- Theo quy định tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm:
“1 Công trình cấp nước: Nhà máy nước, công trình xử lý nước sạch; trạm bơm (nước thô, nước sạch hoặc tăng áp); bể chứa nước sạch; tuyến ống cấp nước (nước thô hoặc nước sạch)
2 Công trình thoát nước: Tuyến cống thoát nước mưa, cống chung; tuyến cống thoát nước thải; hồ điều hòa; trạm bơm nước mưa; công trình xử lý nước thải; trạm bơm nước thải; công trình xử lý bùn
3 Công trình xử lý chất thải rắn:
a) Công trình xử lý chất thải rắn thông thường: trạm trung chuyển; bãi chôn lấp rác; khu liên hợp xử lý/khu xử lý; cơ sở xử lý chất thải rắn;
b) Công trình xử lý chất thải nguy hại
4 Công trình chiếu sáng công cộng: mạng lưới điện chiếu sáng, cột đèn
5 Công trình khác:
a) Công trình thông tin, truyền thông: Cột thông tin, công trình thu phát sóng; đường cáp truyền dẫn tín hiệu viễn thông (cáp chôn trực tiếp dưới lòng đất, cáp trong cống bể, cáp dưới đáy biển, cáp dưới đáy sông, cáp treo); công trình xây dựng lắp đặt cột bê tông (loại cột như trên) để treo các loại cáp thông tin;
b) Nghĩa trang, nhà tang lễ, cơ sở hỏa táng;
c) Công viên, cây xanh;
d) Bãi đỗ ô tô, xe máy: bãi đỗ xe ngầm, bãi đỗ xe nổi;
đ) Cống, bể kỹ thuật, hào và tuy nen kỹ thuật.”3
Một hệ thống các cơ sở hạ tầng kỹ thuật để cung cấp các dịch cho cộng đồng dân cư đô thị thì gọi là cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị và đây cũng là tiêu chuẩn quan trọng quyết định phân biệt sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn Có thể nói cơ
2 Điều 36 Luật Quy hoạch Đô thị năm 2009
3 Mục III Phụ lục I Phân loại công trình xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Trang 16sở hạ tầng kỹ thuật - (Infrastucture) là hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị cơ bản, cố định
có tính chất nền tảng của một quốc gia như đường xá, đường sắt, nhà ga, bến cảng kho bãi, sân bay, mạng cấp thoát nước, điện, mạng viễn thông Các khái niệm về hạ tầng
kỹ thuật nêu trên tuy có khác nhau nhưng chúng đều có chung bản chất đó là những công trình thiết yếu để cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội cho từng đô thị
Từ đây chúng ta có thể hiểu và đưa ra một khái niệm về hạ tầng kỹ thuật đô
thị phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế: “Hạ tầng kỹ thuật đô thị là
một hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ cho cộng đồng dân cư đô thị gọi là hạ tầng kỹ thuật đô thị Hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm: Hệ thống giao thông đô thị, hệ thống cấp nước đô thị, hệ thống thoát nước
đô thị, công trình cấp điện đô thị, công trình cấp xăng dầu và khí đốt đô thị, công trình chiếu sáng đô thị, công trình thông tin đô thị, công trình quản lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng, công trình nghĩa trang, công trình hào và tuy nen (tuynel) kỹ thuật”
- Hệ thống giao thông đô thị bao gồm: Đường đô thị, đường ngoài đô thị,
đường thủy nội địa, đường sắt đô thị, quảng trường trước công trình công cộng, quảng trường giao thông và quảng trường trước cầu, hè phố, đường đi bộ và đường
xe đạp, bãi đỗ xe, bến dừng xe buýt, bến xe liên tỉnh, cảng hàng không, nhà ga, bến thủy nội địa Kết cấu công trình giao thông đô thị phải đảm bảo ổn định, bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng; phải bảo đảm cho xe chữa cháy tiếp cận tới công trình xây dựng, tiếp cận tới các họng cấp nước chữa cháy và phải bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng theo quy định tại quy chuẩn Việt Nam
- Hệ thống cấp nước đô thị: Hệ thống cấp nước đô thị là tập hợp các công trình
khai thác, xử lý nước, điều hòa, vận chuyển và phân phối nước tới các đối tượng dùng nước (cấp nước mặt hoặc nước ngầm); được quản lý đảm bảo việc bảo vệ và sử dụng hợp lý các nguồn nước an toàn và bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu Kết cấu
và vật liệu xây dựng công trình cấp nước phải đảm bảo yêu cầu bền vững, ổn định trong suốt thời hạn sử dụng (tuổi thọ) công trình dưới tác động của điều kiện tự nhiên, các tác động của môi trường xung quanh, các tác động trong quá trình vận hành Chất lượng nước cấp cho sinh hoạt phải đảm bảo của tiêu chuẩn vệ sinh nước sinh hoạt; hóa chất, vật liệu, thiết bị trong xử lý, vận chuyển và dự trữ nước sinh hoạt không được ảnh hưởng đến chất lượng nước và sức khỏe của con người
Trang 17- Hệ thống thoát nước đô thị: Hệ thống thoát nước đô thị là một tổ hợp, công
trình kỹ thuật, mạng lưới thu gom nước thải từ nơi phát sinh đến các công trình xử lý
và xả nước thải ra nguồn tiếp nhận (Sông, ao, hồ điều hòa, đê đập, cống, rãnh, kênh, mương, máng thoát nước, trạm bơm cố định hoặc lưu động và công trình xử lý nước thải) Hệ thống thoát nước bên ngoài phải phù hợp với quy hoạch thoát nước trong đồ
án quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, quy hoạch chuyên ngành thoát nước đô thị được phê duyệt và bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu Vật liệu và kết cấu ống, cống, mối nối và các công trình trên mạng lưới thoát nước phải bảo đảm độ bền lâu,
ổn định dưới tác động của tải trọng, điều kiện tự nhiên và tác động ăn mòn của môi trường xung quanh trong suốt thời hạn sử dụng (tuổi thọ) công trình
- Công trình cấp điện đô thị: Công trình cấp điện là công trình xây dựng các
phần tử của hệ thống điện nhằm mục đích cấp điện cho các hộ tiêu thụ điện Với hệ thống điện là tập hợp các nhà máy điện, trạm điện, lưới điện được nối với nhau, có liên hệ mật thiết, liên tục trong quá trình sản xuất, biến đổi và phân phối điện Công trình cấp điện phải được xây dựng phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải đáp ứng được quy định tại quy chuẩn xây dựng Việt Nam Kết cấu xây dựng nhà cửa, trụ của hệ thống cấp điện phải đảm bảo ổn định, bền vững dưới tác động của tải trọng, điều kiện tự nhiên trong suốt thời hạn sử dụng (tuổi thọ) công trình
- Công trình cấp xăng dầu và khí đốt đô thị: Các công trình xăng dầu và khí
đốt đô thị phải được xem xét và xác định ngay từ giai đoạn lập quy hoạch đảm bảo cung cấp xăng dầu, khí đốt ổn định, an toàn, hiệu quả đáp ứng nhu cầu năng lượng của dự án Việc lựa chọn các công nghệ, vật liệu, thiết bị, phụ kiện phải đảm bảo sử dụng công nghệ tiên tiến đáp ứng quy định an toàn phòng cháy, chữa cháy, chống sét, chống tỉnh điện và bảo vệ môi trường Các số liệu lựa chọn làm cơ sở thiết kế các công trình cấp xăng dầu và khí đốt phải được cập nhật, có tính tới số liệu và kịch bản biến đổi khí hậu, dự báo nhu cầu trong thời gian hoạt động của dự án
- Công trình chiếu sáng đô thị: Công trình chiếu sáng đô thị phải phù hợp với
quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị được phê duyệt; đảm bảo an toàn cho quá trình tham gia giao thông, an ninh, an toàn trong đô thị; thuận tiện và
an toàn trong quản lý, vận hành hệ thống công trình chiếu sáng, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Các thiết bị và vật liệu sử dụng trong các công trình chiếu sáng đô thị phaỉ phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật đang áp dụng; phải đảm bảo độ bền, ổn định, an toàn trong suốt quá trình sử dụng của chúng dưới tác động của điều
Trang 18kiện tự nhiên Bao gồm các công trình: Chiếu sáng công trình giao thông cho xe có động cơ; chiếu sáng công trình giao thông cho người đi bộ và xe đạp; chiếu sáng không gian công cộng
- Công trình thông tin đô thị: Là công trình đầu mối và mạng lưới phục vụ
nhằm đáp ứng các yêu cầu giao tiếp qua nhiều phương tiện giữa các cá thể trong cộng đồng Tức công trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động như trạm viễn thông, cột ăng ten, các loại tuy nen, hào, cống, bể cáp bố trí hệ thống kỹ thuật viễn thông phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị và quy hoạch chuyên ngành được phê duyệt; kết cấu và vật liệu các công trình xây dựng viễn thông phải đảm bảo độ bề, ổn định trong suốt tuổi thọ công trình dưới tác động của điều kiện tự nhiên và tải trọng trên công trình
- Công trình quản lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng: Công trình quản
lý chất thải rắn bao gồm các trạm trung chuyển và cơ sở xử lý chất thải rắn và bùn thải (tái chế, đốt, chôn lấp hoặc các loại hình công nghệ xử lý khác Cơ sở xử lý chất thải rắn là các cơ sở vật chất bao gồm đất đai, nhà xưởng, dây chuyền công nghệ, trang thiết bị và các hạng mục công trình phụ trợ được sử dụng cho hoạt động
xử lý chất thải rắn Khu liên hợp xử lý chất thải rắn là tổ hợp của một số hoặc nhiều hạng mục công trình xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn và bãi chôn lấp chất thải rắn Công trình quản lý chất thải rắn và nhà vệ sinh công cộng phải phù hợp tuân theo quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đã được cấp thẩm quyền phê duyệt; phải đảm bảo các yêu cầu bền vững, ổn định và các yêu cầu về vệ sinh môi trường trong suốt thời gian sử dụng (tuổi thọ) theo quy định pháp luật hiện hành
- Công trình nghĩa trang: Nghĩa trang (bao gồm cả nghĩa địa) là nơi táng (là
việc thực hiện lưu giữ hài cốt hoặc thi hài của người chết) người chết tập trung theo các hình thức táng khác nhau (mai táng, hung táng, cải táng, cát táng, hỏa táng) Các công trình nghĩa trang xây dựng phải phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch
đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt và bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu, với khoảng cách an toàn về môi trường theo quy định pháp luật hiện hành
- Công trình hào và tuy nen kỹ thuật: Hào kỹ thuật là công trình ngầm theo
tuyến có kích thước nhỏ để lắp đặt các đường dây, cáp và các đường ống kỹ thuật Tuy nen kỹ thuật là công trình ngầm theo tuyến có kích thước đủ để đảm bảo an toàn cho con người có thể thực hiện các nhiệm vụ lắp đặt, sửa chữa và bảo trì các thiết bị, các đường dây, cáp và các đường ống kỹ thuật Công trình hào, tuy nen kỹ thuật phải đảm bảo các yêu cầu về an toàn cháy nổ, chiếu sáng, thông gió, thoát nước và phải có
Trang 19dấu hiệu nhận biết trên mặt đất, trong tuy nen kỹ thuật Công trình hào và tuy nen kỹ thuật phải phù hợp với quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải đảm bảo an toàn trong quá trình khai thác, sử dụng
1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại
I thuộc tỉnh
Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà
nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm
vụ, chức năng của nhà nước; hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý do một loại
cơ quan đặc biệt thực hiện mà Hiến pháp và pháp luật nước ta gọi là các cơ quan hành chính nhà nước; vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước Như vậy quản lý nhà nước là sự tác động mang tính tổ chức, điều chỉnh, tính quyền lực nhà nước, trên cơ sở khoa học và có kế hoạch của các cơ quan nhà nước đối với các quá trình xã hội, được tiến hành một cách liên tục nhằm hướng xã hội phát triển theo mục tiêu định trước của nhà nước.4
Như vậy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
là hoạt động của cơ quan nhà nước (Chính quyền địa phương cấp tỉnh và Chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh) can thiệp bằng quyền lực của nhà nước theo quy định của Hiến pháp và Luật vào quá trình xây dựng chiến lược, lập quy hoạch, đầu tư phát triển, quản lý sử dụng, vận hành, khai thác, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị; đồng thời tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụng các nguồn lực (bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người) nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi nhất cho hình thức định cư ở đô thị, trên cơ sở kết hợp hài giữa lợi ích quốc gia và lợi ích đô thị để hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững Công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh có nhiệm vụ cụ thể hóa chiến lượt ổn định và phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước; chiến lượt phát triển đô thị Quốc gia; phối hợp với công tác quản lý nhà nước chuyên ngành khác đảm bảo cho quá trình đô thị hóa và sự phát triển các đô thị đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trong quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng nhất, là công cụ duy nhất chủ yếu của Chính quyền địa phương cấp tỉnh, Chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh vận dụng và cụ thể hóa áp dụng trong suốt quá trình quản lý và định hướng phát triển hạ tầng kỹ
4 Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nguyễn Cửu Việt
(Chủ biên), Nxb, Hồng Đức
Trang 20thuật đô thị Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là một trong ba nhiệm vụ chính của công tác quản lý nhà nước về đô thị (quản lý phát triển không gian, quản lý hạ tầng đô thị và quản lý trật tự, an toàn, công bằng xã hội
ở đô thị); trong đó:
- Đối tượng của quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là những hoạt động của các chủ thể trên địa bàn đô thị có liên quan đến nội dung, thẩm quyền và chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước ở đô thị loại I thuộc tỉnh;
- Chủ thể của quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là các
cơ quan, cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền trong công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tác động đến quá trình quy hoạch, phát triển, quản
lý, vận hành, khai thác, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị
- Khách thể của quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là những lợi ích công cộng của cư dân đô thị (bao gồm các lợi ích trật tự an toàn xã hội, trật tự xây dựng, trật tự vệ sinh, sức khỏe cộng đồng, chất lượng môi trường sống và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể trên địa bàn đô thị)
Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là nội dung đảm bảo sự phát triển đô thị đó bền vững liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và chính quyền địa phương; trong đó đảm bảo khung thể chế được làm rõ
về chủ sở hữu, đơn vị vận hành sự phối hợp giữa các ngành, chính quyền địa phương trong lĩnh vực quy hoạch, đầu tư, quản lý sử dụng, vận hành, khai thác, bảo trì và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị là nội dung then chốt trong quản lý và quyết định đến sự tồn tại, phát triển của từng đô thị với mục tiêu là xây dựng môi trường vật thể đô thị, cung cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị công cộng thiết yếu phục vụ cho các yêu cầu tăng trưởng kinh tế, đời sống xã hội và cân bằng sinh thái đô thị đó
1.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị là một lĩnh vực quan trọng nhất trong công tác quản lý nhà nước tại các đô thị loại I thuộc tỉnh hiện nay của Việt Nam Thông qua chức năng quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm quản
lý quá trình hình thành và phát triển môi trường vật thể của đô thị đảm bảo cho mỗi
đô thị loại I thuộc tỉnh phát triển hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh căn cứ quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ được giao thường áp dụng các biện pháp: Cung cấp và duy trì hạ tầng kỹ thuật đô thị phục vụ lợi ích
Trang 21công cộng; ngăn cấm và xử phạt các hành vi hoặc nguy cơ làm mất cân bằng giữa khả năng cung – cầu và tăng trưởng đô thị; thông tin nắm vững tình hình phát triển
đô thị để đề ra những quyết định đúng đắn trong hoạch định chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị; khuyến khích các hoạt động bảo vệ, duy trì, phát triển hạ tầng
kỹ thuật đô thị và tạo ra sự tăng trưởng đô thị Ngoài ra các cơ quan quản lý nhà nước còn áp dụng đồng bộ những biện pháp: Xã hội hóa việc cung cấp hạ tầng kỹ thuật phục vụ lợi ích công cộng, phân phối lưu thông; trả tiền khi sử dụng các dịch
vụ hạ tầng kỹ thuật đô thị công cộng và huy động các nguồn vốn thực hiện các dự
án BOT5, BT6 nhằm tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tham gia vào các chương trình phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị Chính vì vậy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh có các đặc điểm sau:
- Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh trước hết phải là quản lý nhà nước ở đô thị, mang tính quyền lực nhà nước: Đó là sự thực thi quyền lực công, nhân danh nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước ở đô thị loại
I thộc tỉnh can thiệp vào quá trình quy hoạch, phát triển, quản lý, vận hành, khai thác, bảo trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Điều này thể hiện ở việc các chủ thể
có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước và đặc biệt quan trọng là được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn hoặc dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý, nhằm
tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của
bộ máy hành chính nhà nước Mặc dù vậy, quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh vẫn thể hiện bản chất và vai trò của nhà nước đối với một khu vực định cư đặc thù tại đô thị
5 BOT được hiểu là hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao tức là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư đầu tư toàn bộ kinh phí để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định, sau đó nhà đầu tư tiến hành kinh doanh dự án công trình mình đã đầu tư xây dựng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn kinh doanh nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho nước sở tại
6 BT được hiểu là hợp đồng xây dựng - chuyển giao tức là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho nước sở tại; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.
Trang 22- Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là hoạt động tiến hành bởi những chủ thể thực hiện quyền hành pháp, mang tính xã hội cao
và là hoạt động mang tính chấp hành, điều hành: Trong ba quyền lập pháp - hành
pháp - tư pháp thì quyền hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan quản
lý nhà nước; chính vì vậy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước, đó là hoạt động vừa thể hiện quyền hành pháp, vừa mang tính xã hội cao và có tính phục vụ đa dạng, được thực hiện bởi Chính quyền địa phương cấp tỉnh, Chính quyền địa phương ở đô thị loại
I thuộc tỉnh với mục tiêu phục vụ nhằm đảm bảo và thỏa mãn nhu cầu của cộng đồng
cư dân đô thị Do đặc điểm công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị là một loại hình cung cấp dịch vụ công ích nhưng nhu cầu dịch vụ này có xu hướng mâu thuẫn với khả năng cung cấp dịch vụ; nên hoạt động quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh thể hiện trong tính chấp hành - điều hành được tiến hành trên cơ sở pháp luật nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn… trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật
- Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh thể hiện tính thống nhất, đồng bộ và tổng hợp: Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau; bên cạnh đó hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là một hệ thống thống nhất nhưng phải thực hiện đồng bộ với nhiều đối tượng và nhiều ngành tham gia, hệ thống ít phụ thuộc vào sự phân chia địa giới hành chính, nó mang đặc tính của vùng lãnh thổ Vì vậy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và tổng hợp
- Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh có tính kinh tế: Bởi lẽ khi tiến hành đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị thường phải đầu tư một nguồn kinh phí rất lớn và kinh phí đầu tư đối với lĩnh vực hạ tầng
kỹ thuật thường chiếm tỷ lệ từ 35% đến 55% ngân sách hàng năm của Chính quyền địa phương Do kinh phí đầu tư bỏ ra ban đầu là rất lớn; trong khi đó quá trình thu
Trang 23hồi vốn thường kéo dài và chậm dẫn đến tính hấp dẫn về đầu tư thấp, nên không thu hút được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư; vì vậy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh có tính kinh tế và do chính quyền địa phương thực hiện là chủ yếu
- Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị mang tính thời gian dài và không gian rộng, tính phức tạp và đảm bảo an ninh - quốc phòng: Với đặc điểm hạ tầng kỹ thuật đô thị có tuổi thọ sử dụng dài, chịu tác động của nhiều yếu tố kinh tế -
xã hội và thường có tiềm lực dôi dư không những đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn đảm bảo sử dụng trong tương lai Tuy nhiên hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị có tính phức tạp trong công nghệ sử dụng, kỹ thuật và quản lý hệ thống; đồng thời trong đầu tư và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị phải gắn kết giữa xây dựng, phát triển và bảo vệ thành quả của phát triển
1.4 Cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan quản lý chung và cơ quan chuyên môn) về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Theo Hiến pháp năm 2013 thì các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị được phân định thuộc hệ thống cơ quan quản lý hay còn gọi hệ thống cơ quan hành chính Các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh (hay còn gọi là cơ quan hành chính) được tổ chức và hoạt động trên
cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật; được thành lập theo quy định Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh hoặc theo quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Trong quá trình hoạt động, các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh có thẩm quyền ban hành các quyết định của mình thể hiện dưới hình thức là các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản cá biệt; được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và báo cáo hoạt động trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp Xét về khoa học pháp lý thì các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là cơ quan nhà nước hoạt động có tính chuyên nghiệp, có chức năng điều hành xã hội trên cơ sở chấp hành và thi hành Hiến pháp, Luật và các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, có tính độc lập và sáng tạo trong tác nghiệp điều hành nhưng đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ và đảm bảo nguyên tắc quyền lực phục tùng
Theo quy định Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật
Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 và các quy định tại các nghị định của Chính phủ thì cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện nay được tổ
chức bao gồm: Chính phủ, các Bộ và Chính quyền địa phương các cấp tỉnh
Trang 24- Chính phủ:“Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”7 Chính phủ lãnh đạo công tác của các Bộ, UBND các cấp; xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất các cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị từ trung ương đến cơ sở; quyết định và thực hiện phân công, phân cấp quản lý ngành và lĩnh vực trong hệ thống hành chính nhà nước; ban hành các nghị định, quyết định thi hành Hiến pháp, Luật quản lý thống nhất và toàn diện về hạ tầng kỹ thuật đô thị trên phạm vi toàn quốc; thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về
hạ tầng kỹ thuật đô thị và đó chính là sản phẩm thể hiện kết quả của hình thức quản
lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị của Chính phủ
- Các Bộ: “Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về một hoặc một số ngành, lĩnh vực và dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc”8:
+ Bộ Xây dựng: Là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước đối với một số ngành; nhiệm vụ và quyền hạn “Về hạ tầng kỹ thuật, bao
gồm: Cấp nước đô thị và khu công nghiệp, thoát nước và xử lý nước thải đô thị và khu dân cư nông thôn tập trung; quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị và khu dân
cư nông thôn tập trung; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; nghĩa trang (trừ nghĩa trang liệt sĩ) và cơ sở hỏa táng; kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị”9
;
+ Bộ Giao thông Vận tải là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng
quản lý nhà nước đối với một số ngành; nhiệm vụ và quyền hạn "Về kết cấu hạ tầng
giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không: Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; ban hành quy chuẩn xây dựng (trừ quy chuẩn xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đô thị) và quy định việc quản lý kết cấu hạ tầng giao thông theo thẩm quyền; quy định việc bảo trì, quản lý sử dụng, khai thác kết cấu hạ tầng giao thông trong phạm vi cả nước; chỉ đạo, kiểm tra việc
7
Điều 94 Hiến pháp năm 2013
8 Khoản 1 Điều 39 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Điều 2 Nghị định 123/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ
9 Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 81/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng
Trang 25tổ chức bảo trì, đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mạng lưới công trình giao thông đang khai thác do bộ quản lý…"10;
+ Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành thông tin đô thị, nhiệm vụ và quyền hạn
“Hướng dẫn việc xây dựng, triển khai quy hoạch hạ tầng viễn thông thụ động; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc chia sẻ và sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông; hướng dẫn, chỉ đạo công tác bảo đảm an toàn cơ sở hạ tầng, an ninh thông tin trong hoạt động viễn thông theo quy định của pháp luật”11;
+ Bộ Công thương: Bộ Công thương là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành năng lượng đô thị, nhiệm vụ và quyền
hạn“Về năng lượng bao gồm: Điện, than, dầu khí, năng lượng mới, năng lượng tái
tạo và các năng lượng khác; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: phê duyệt
và quản lý việc thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, quy hoạch năng lượng mới
và năng lượng tái tạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phê duyệt quy hoạch bậc thang thủy điện; quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả theo quy định của pháp luật”12
Đối với Chính quyền địa phương các cấp thì nhiệm vụ và quyền hạn được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương
và địa phương; việc phân định thẩm quyền được thực hiện trên cơ sở bảo đảm quản
lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với ngành, lĩnh vực; bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia; phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương ở các đơn
vị hành chính trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước giữa chính quyền địa phương các cấp đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ:
- Chính quyền địa phương cấp tỉnh trực thuộc trung ương:
+ HĐND tỉnh: “Quyết định kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa
bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền Quyết định quy hoạch xây dựng, quy
10 Khoản 5 Điều 2 Nghị định số 12/2017/NĐ-CP ngày 10/02/2017 của Chính phủ quy đinh chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giao thông Vận tải
11 Điểm h, điểm i khoản 12 Điều 2 Nghị định số 17/2017/NĐ-CP ngày 17/02/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Thông tin và Truyền thông
12 Điểm g, điểm c khoản 6 Điều 2 Nghị định số 98/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương
Trang 26hoạch đô thị trong phạm vi được phân quyền theo quy định của pháp luật, ; quyết định quy hoạch phát triển hệ thống tổ chức mạng lưới thương mại, dịch vụ, du lịch, mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; ”13
;
+ UBND tỉnh:“ Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định các nội
dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1, các điểm d, đ và e khoản 2, các khoản
3, 4, 5, 6 và 7 Điều 19 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi; ”14 Bên cạnh đó Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng xác định nhiệm vụ UBND tỉnh xây dựng và trình HĐND tỉnh quyết định: kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của tỉnh; quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền; Quyết định quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị trong phạm vi được phân quyền theo quy định của pháp luật
- Chính quyền địa phương thành phố thuộc tỉnh:
+ HĐND thành phố thuộc tỉnh: “…; quyết định các cơ chế, chính sách thu hút
đầu tư phát triển đô thị, chương trình, kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, giao thông theo quy định của pháp luật; quyết định biện pháp quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư, bảo đảm trật tự công cộng, cảnh quan đô thị trên địa bàn.”15;
+ UBND thành phố thuộc tỉnh: “…;quyết định cơ chế khuyến khích phát
triển công trình hạ tầng đô thị trên địa bàn theo quy định của pháp luật; quyết định
kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, quy hoạch phát triển đô thị theo quy định của pháp luật”16
13 Điểm a, điểm e, điểm g Khoản 3 Điều 19 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015
14 Khoản 1, khoản 3 Điều 21 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015
15 Điều 54 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015
16
Điều 56 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015
Trang 27xuất với sản xuất, giữa sản xuất với tiêu dùng; hạ tầng kỹ thuật đô thị còn tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông, mở rộng thị trường, mở rộng mối quan hệ giao lưu giữa các vùng lãnh thổ trong nước và quốc tế Một Chiến lược phát triển tầm quốc gia, vùng và đô thị phải được thiết lập, trong đó việc xây dựng mục tiêu, hệ thống chính sách phát triển, xây dựng bộ máy thực hiện phải được đặt
trong một hệ thống thống nhất cho các cấp quản lý Nếu coi chiến lược công tác
quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là công cụ để quản lý phát triển thì hệ thống khung chính sách quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh lại là nội dung chủ đạo bên trong phải được thiết lập tốt Khung chính sách được hiểu là những chính sách cơ bản để thực hiện chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
- Khung chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh cần phủ kín được các khu vực phát triển và các vấn đề phát triển để hỗ trợ công tác quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị Đồng thời công tác quản lý quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh không chỉ hướng tới hoàn thiện chính sách quản lý quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị theo từng cấp độ tại các quy hoạch xây dựng đô thị (quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết) mà còn phải thiết lập sự gắn kết hơn nữa với loại hình, tính chất của các khu vực phát triển trong
đô thị loại I thuộc tỉnh Tức là phải bao hàm được đầy đủ hơn các nội dung quản lý phát triển, từ quản lý quá trình lập quy hoạch (thiết lập công cụ) đến quản lý phương thức phát triển (huy động nguồn lực, cân bằng lợi ích, chính sách xã hội, quản lý vận hành các mô hình mới) và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh Trong đó quan trọng nhất
là các chính sách hỗ trợ cho việc tạo ra các nguồn lực để phát triển đồng thời đảm bảo sự công bằng lợi ích giữa các bên liên quan trong quá trình phát triển đô thị gắn liền với đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị Khung chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh phải dự báo, nắm bắt và tháo gỡ được các xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển tại từng khu vực trong đô thị;
đó là sự đòi hỏi phải kết hợp giữa quy hoạch bảo tồn (sự chi phối của Luật Di sản), quy hoạch xây dựng (sự chi phối của Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và quy định về Quy hoạch nông thôn mới, Luật Điện lực, Luật Viễn thông), quy hoạch du lịch (nhu cầu khai thác, đầu tư phát triển), các chính sách về đền bù, tái định cư của các hộ có công trình giải tỏa ; các luật, chính sách này xung đột trong nội tại bản
Trang 28thân mục tiêu quản lý của mỗi luật, trong cùng một khu vực Khó khăn lớn nhất trong thực hiện quản lý và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
là không có một chính sách quản lý phát triển chính thức để chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh thực hiện điều phối, giải quyết các xung đột này trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước;
- Các chính sách trong chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh cần có tính địa phương và phù hợp với điều kiện tự nhiên của thành phố đó, tránh tình trạng đánh đồng giữa các khu vực kinh
tế, địa lý mà áp dụng theo khuôn mẫu dấn đến xảy ra những bất cập trong quá trình quản lý tại địa phương Chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh tất yếu phải là chính sách liên ngành, đây sẽ là một khó khăn, thách thức lớn trong hiện trạng hệ thống quản lý ở nước ta Trong đó cần sự tích hợp giữa chính sách quản lý phát triển không gian, vật thể, với quản lý đất đai, quản lý tài chính, đầu tư và các vấn đề xã hội, có chính sách phát triển liên ngành mới có thể tạo nền tảng cho các quy hoạch được tích hợp một cách hoàn thiện và đồng bộ, đó chính là nền tản và cơ sở pháp lý trong suốt quá trình quản lý nhà nước của chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh
Xây dựng chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh theo hướng tăng trưởng xanh, ứng phó biến đổi khí hậu, giảm thiểu thảm họa, hạn chế thấp nhất các tác động xấu đến môi trường đô thị và cộng đồng cư dân đô thị cũng là một nội dung quan trọng mà cần được chuyển tải trong tất
cả các chính sách quản lý của chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh, đây là định hướng phát triển trong chính sách phát triển đô thị của quốc gia Trong quản lý cần chú trọng các chính sách quản lý phát triển hạ tầng ngầm, thiết lập các chính sách quản lý kết nối hạ tầng kỹ thuật vùng, hạ tầng kỹ thuật đô thị với đường cao tốc, đường tránh, đường trục kinh tế, xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật với cấp độ thích hợp hoặc hiện đại, theo yêu cầu khai thác, sử dụng và chiến lược phát triển của mỗi đô thị Các quy định quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị của chnihs quyền địa phương đô thị loại I cần cụ thể hơn, tránh những việc đánh giá hình thức, đảm bảo xây dựng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách quản lý phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, tăng cường tính tương thích trong đầu
tư, vận hành, khai thác và nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm:
- Từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo
mô hình mạng lưới đô thị có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng
Trang 29bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc17
;
- Góp phần thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo; trực tiếp hỗ trợ việc thực hiện định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam; nâng cao điều kiện sống của người dân đô thị thông qua việc đầu tư cải thiện các dịch vụ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và môi trường đô thị; xây dựng
hệ thống tiêu chí để đánh giá, phân loại cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của khu dân cư thu nhập thấp trong đô thị, tiêu chí phát triển và cải thiện mức sống cho từng đô thị18
;
- Phát triển đô thị phải đảm bảo sử dụng hiệu quả quỹ đất xây dựng, đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội, kiểm soát chất lượng môi trường, hài hòa giữa bảo tồn, cải tạo và xây dựng mới; xây dựng đô thị có điều kiện sống tốt, tăng cường sức cạnh tranh đô thị trong khu vực và quốc tế19
1.5.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Bộ máy nhà nước xét dưới góc độ nhà nước là một hiện tượng của thượng tầng kiến trúc pháp lý, là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có phạm vi tác động rộng lớn, dựa trên cơ sở của quyền lực nhà nước và với tính cách như là một yếu tố biểu hiện bên ngoài của hiện tượng nhà nước thì bộ máy nhà nước được hiểu là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương được tổ chức theo những nguyên tắc chung thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thống trị Như vậy bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan nhà nước được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục do Hiến pháp, pháp luật quy định, có vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ
và tác động qua lại lẫn nhau, hợp thành một hệ thống thống nhất nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chung của nhà nước
Trang 30Cơ quan nhà nước là một bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước mang tính độc lập tương đối, là một tổ chức chính trị mang tính quyền lực nhà nước, được thành lập trên cơ sở pháp luật và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong phạm vi luật định Đó có thể là một tập thể người (Quốc hội, Chính phủ, HĐND, UBND…), hoặc một người (Chủ tịch nước, Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện) Điều này chứng tỏ rằng bộ máy nhà nước không phải là một tập hợp ngẫu nhiên của các cơ quan nhà nước, mà là một hệ thống các cơ quan nhà nước và các cơ quan này luôn có mối liên
hệ ràng buộc lẫn nhau vận hành một cách nhịp nhàng Nghĩa là chức năng, nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước và để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thì nhà nước phải thành lập nên các cơ quan nhà nước, tức hình thành nên bộ máy nhà nước và bộ máy nhà nước trở thành phương tiện, công
cụ để thực hiện các chức năng,nhiệm vụ của nhà nước
Theo phân tích nêu trên, để nhà nước thực hiện được chức năng, nhiệm vụ quản lý về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh thì nhà nước phải tổ chức
ra các cơ quan nhà nước, nghĩa là nhà nước phải tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
về hạ tầng kỹ thuật đô thị Vậy bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị
là một bộ phận cấu thành (nhánh quản lý nhà nước theo ngành) của bộ máy nhà nước mang tính độc lập tương đối, bao gồm hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị từ trung ương đến địa phương được tổ chức theo nguyên tắc nhất định, tạo thành một chỉnh thể đồng bộ, là phương tiện công cụ để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước Trong đó hệ thống các cơ quan nhà nước quản lý về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh được tổ chức và hoạt động theo phân cấp quản lý nhà nước; được thành lập và hoạt động theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; có tính độc lập về cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất - tài chính; có thẩm quyền (nhiệm
vụ, quyền hạn) mang tính quyền lực nhà nước được nhà nước giao; kinh phí tổ chức
và hoạt động của các cơ quan nhà nước từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức của các cơ quan nhà nước phải là công dân Việt Nam Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị loại I thuộc tỉnh hiện nay:
- UBND thành phố thuộc tỉnh (đô thị loại I thuộc tỉnh) là cơ quan quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị UBND thành phố thuộc tỉnh (đô thị loại I thuộc tỉnh) quyết định và quản lý toàn bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tại địa phương theo luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước cấp trên;
Trang 31nhiệm vụ và quyền hạn được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương;
- Các phòng: Quản lý Đô thị, Kinh tế, Văn hóa và Thông tin là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố thuộc tỉnh (đô thị loại I thuộc tỉnh) thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND thành phố thuộc tỉnh quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND thành phố thuộc tỉnh và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở địa phương; chịu sự chỉ đạo, quản lý
về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND thành phố thuộc tỉnh; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Xây dựng, sở Giao thông Vận tải, sở Công thương, sở Thông tin và Truyền thông;
Nhìn chung bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị theo pháp luật Việt Nam đã được tổ chức từ cấp trung ương đến chính quyền địa phương cấp tỉnh, chính quyền địa phương cấp thành phố thuộc tỉnh đã tăng cường công tác tham mưu quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị và đáp ứng được nhu cầu phát triển đô thị hóa hiện nay Tuy nhiên, trong thực tế nhiệm vụ giữa cấp trung ương - chính quyền địa phương cấp tỉnh - chính quyền địa phương cấp thành phố thuộc tỉnh có sự đang xen chồng lấn lẫn nhau, hoặc giữa các cơ quan tham mưu, giúp cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước cấp trung ương - cấp tỉnh - cấp thành phố thuộc tỉnh chưa rõ ràng; sự phân cấp quản lý nhà nước trên một
số lĩnh vực chưa thống nhất, dẫn đến trong thực tế còn nhiều bất cập xuất hiện trong công tác quản lý dẫn đến chưa phát huy tác dụng lợi ích và hiệu quả hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh đối với xã hội và cộng đồng cư dân đô thị
1.5.3 Quản lý công tác ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
a Quản lý công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản
lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh:
Hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và hoạt động xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng không phải là nội dung mới trong công tác quản lý nhà nước
về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh, mà là một hoạt động có tính đặc thù với tính chất chuyên môn cao, do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoặc phối hợp thực hiện bằng việc xác lập những hình thức văn bản khác
Trang 32nhau Văn bản quy phạm pháp luật về hạ tầng kỹ thuật đô thị do những chủ thể đặc biệt (Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chính quyền địa phương cấp tỉnh, Chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh) ban hành theo một trình tự, thủ tục đặc biệt theo quy định pháp luật Do đó quá trình này có vai trò rất đặc biệt, sản phẩm của quá trình này không chỉ là những văn bản có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất mà còn là cơ sở pháp lý để nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác ra đời và được nhà nước bảo đảm thực hiện Nội dung này được xác định là cơ
sở để thực hiện các nội dung khác trong công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh nên nó được xếp lên vị trí đầu tiên; vì vậy công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị phải đảm bảo các yếu tố pháp luật sau:
- Thẩm quyền ban hành: Theo quy định của pháp luật hiện nay, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước được xem xét dưới hai góc độ về hình thức và nội dung Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của các chủ thể trong việc ban hành những hình thức văn bản do pháp luật quy định; theo
đó mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ được ban hành một số loại văn bản nhất định, mỗi loại văn bản được pháp luật quy định theo hình thức nhất định Thẩm quyền về nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình do pháp luật quy định; về thực chất đó là giới hạn của việc sử dụng quyền lực nhà nước mà pháp luật thực định đã đặt ra đối với từng cơ quan trong bộ máy nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao20
- Hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật ban hành: Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là khả năng tác động của văn bản quy phạm pháp luật ban hành vào các quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở pháp luật hiện hành Để mỗi văn bản quy phạm pháp luật phát huy được vai trò của mình và điều chỉnh các quan hệ
xã hội một cách hiệu quả thì việc quy định hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là điều không thể thiếu Mỗi văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực khác nhau tùy thuộc vào vị trí, tính chất, mục đích điều chỉnh của văn bản đó và thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản Cũng như hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương, địa phương đều được xem xét trên ba yếu tố hiệu lực thời gian, hiệu lực không gian và hiệu lực đối tượng thực hiện
20 Điều 15, Điều 19, Điều 20, Điều 24, Điều 27, Điều 28, Điều 30 Chương II Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Trang 33Như vậy quản lý công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh phải tuân thủ và đảm bảo đầy đủ năm đặc điểm cơ bản sau:
- Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh phải do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo quy định Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015;
- Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh ban hành phải được các cơ quan quản lý nhà nước bảo đảm thực hiện;
- Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh được ban hành phải đảm bảo dúng thẩm quyền, hình thức do pháp luật quy định;
- Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh ban hành phải tuân theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định;
- Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở
đô thị loại I thuộc tỉnh ban hành có nội dung là các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng, có hiệu lực trong phạm vi đô thị đó
b Thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh:
Việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh tại Việt Nam hiện nay là công việc thường xuyên của chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa phương ở đô thị loại
I thuộc tỉnh Hoạt động của các chủ thể đặc biệt này (bao gồm các cơ quan trong bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh) là một hoạt động bao gồm tập hợp các quy trình đặc biệt do các chủ thể thực hiện theo quy định pháp luật; đó là: Quy trình đăng công báo hoặc niêm yết và phải bảo đảm nguyên tắc văn bản quy phạm pháp luật chỉ có hiệu lực khi được đăng công báo hoặc niêm yết; quy trình trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan trong bộ máy quản nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh trong việc phổ biến, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật và hình thức, đối tượng phổ biến, tập huấn văn bản quy phạm pháp luật; quy trình ban hành các quy định liên quan đến việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định này phải hướng tới giải quyết tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết; quy trình
Trang 34thiết lập, quy định liên quan đến kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp biên chế, phân
bổ kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảm cho việc thi hành pháp luật; quy trình thanh tra, kiểm tra, xử lý; quy trình quy định về theo dõi, đánh giá tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, phục vụ cho mục tiêu quản lý nhà nước, quản lý đô thị Một văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị sai trái dẫn đến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng không đi vào cuộc sống, mục tiêu quản lý nhà nước, quản lý
đô thị không đạt được, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, làm cho hệ thống pháp luật thiếu tính thống nhất gây nên những rủi
ro pháp lý cho cả đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản cũng như bản thân cán
bộ, công chức là người áp dụng các văn bản đó Quản lý thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
là nhằm đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, trình độ kỹ thuật pháp
lý được đặt ra đối với từng văn bản quy phạm pháp luật, các thành tố cấu tạo nên nó không được có sự mâu thuẫn, chồng chéo với nhau; bất cứ một sự mâu thuẫn, chồng chéo nào xảy ra trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị đều phải được phát hiện và loại khỏi hệ thống Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại
I thuộc tỉnh bao gồm nhiều loại văn bản khác nhau theo thứ bậc hiệu lực pháp lý khác nhau; tính thống nhất của hệ thống pháp luật đặt ra yêu cầu văn bản có hiệu lực pháp lý thấp phải phù hợp với văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; quy phạm pháp luật do cơ quan cấp dưới ban hành phải phù hợp với quy phạm pháp luật do cơ quan cấp trên ban hành và đều phải phù hợp với quy định của Hiến pháp
Từ đây chúng ta thấy thực chất việc quản lý thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là một hoạt động kết hợp trong các lĩnh vực lập pháp - hành pháp - tư pháp; là công cụ chủ yếu của các cơ quan quản lý nhà nước, của các cơ quan trong bộ máy quản lý về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa phương
đô thị loại I thuộc tỉnh hướng vào mục đích quản lý, vận hành, duy trì hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị đối với mọi mặt hoạt động diễn ra hàng ngày tại các đô thị Khi
tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật
đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh của các cấp trên; cơ quản quản lý hành chính nhà
Trang 35nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị (UBND tỉnh và UBND thành phố - đô thị loại I thuộc tỉnh) cũng phải căn cứ theo thẩm quyền của mình mà tổ chức hướng dẫn cho các cấp quản lý bên dưới và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật về hạ tầng
kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh hiểu, thực hiện các văn bản đó đạt hiệu quả cao trong thực tiễn
1.5.4 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý
hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh, là một phương thức bảo đảm cho quyền lực nhà nước trong hành pháp được thực hiện đúng chức năng, phạm vi, quyền hạn mà pháp luật quy định Đây cũng là một hoạt động mang tính tất yếu khách quan của quản lý nhà nước tại đô thị loại I thuộc tỉnh; đồng thời do bản chất của từng loại hình hoạt động (thanh tra, kiểm tra hay xử lý vi phạm hành chính) mà tương ứng với mỗi loại hình có những quy định, hình thức, quy trình thực hiện khác nhau theo quy định pháp luật hiện hành Cơ sở lý luận và cơ sở pháp
lý để xác định quyền, chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh chủ yếu xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của từng cơ quan nhà nước thuộc bộ máy quản lý nhà nước trong Chính quyền địa phương (cấp tỉnh và thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh) trên cơ sở phân cấp quản lý nhà nước được pháp luật quy định
Lĩnh vực quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh với tư cách
là một trong những lĩnh vực thuộc chức năng của quản lý nhà nước nên phạm vi, nội dung hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là một hoạt động quản lý nhà nước của Chính quyền địa phương các cấp trong lĩnh vực hành pháp Hoạt động này được thực hiện chủ yếu từ nội bộ của bộ máy quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I hướng vào việc xem xét, đánh giá thực hiện công vụ của công chức, viên chức và các chủ thể xâm phạm khách thể quản lý Đồng thời cũng chính hoạt động này không chỉ giúp cho Chính quyền địa phương cấp tỉnh và chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh không những kiểm tra sự đúng đắn trong các quyết định, hoạt động của mình; mà còn kiểm tra việc chấp hành pháp luật, thực hiện công vụ của các đối tượng thuộc quyền quản lý và xử lý các hành vi vi phạm đối với các chủ thể xâm phạm khách thể quản lý về hạ tầng kỹ thuật đô thị
Trang 36Do vậy hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý
hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh giúp cho Chính quyền địa phương cấp tỉnh và Chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh tìm ra biện pháp quản
lý hạ tầng kỹ thuật đô thị tốt nhất, hiệu quả nhất; bên cạnh đó giúp cho Chính quyền địa phương cấp tỉnh và Chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh kiểm soát được hoạt động của các đối tượng do mình quản lý, thu thập những thông tin khách quan từ hoạt động quản lý nhà nước về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, kịp thời chấn chỉnh hoạt động quản lý nhà nước của mình trên lĩnh vực quản lý hạ tầng
kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh
Nội dung thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản
lý hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh là phát hiện các vi phạm về quản
lý hạ tầng kỹ thuật đô thị mà trong thực tế thường nảy sinh: Phát hiện các trường hợp cấp giấy phép thi công công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị không đúng thẩm quyền; phát hiện các đơn vị thi công không có đủ tư cách pháp nhân; phát hiện các trường hợp thi ccoong công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị không có giấy phép hoặc làm không đúng với giấy phép; các vi phạm về việc sử dụng - bảo vệ - khai thác công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị Như vậy trên cơ cở các Luật chuyên ngành có liên quan, Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật
đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh được phân công thực hiện như sau:
- UBND tỉnh trực thuộc trung ương ban hành các quy định và chỉ đạo UBND thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh thực hiện việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị trên địa bàn thành phố;
- Các sở chuyên ngành thuộc UBND tỉnh có trách nhiệm trước UBND tỉnh công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị, hướng dẫn UBND thành phố
đô thị loại I thuộc tỉnh về nghiệp vụ chuyên ngành; thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy định pháp luật; chịu trách nhiệm về hiệu quả quản lý của ngành mình trên địa bàn thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh;
- UBND thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật
đô thị ở đô thị trên phạm vi toàn địa bàn thành phố và chỉ đạo cho UBND phường
xã, các phòng, đơn vị, cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm hành chính về công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy
Trang 37định pháp luật; đồng thời phối hợp với các sở chuyên ngành và các cơ quan liên quan trên địa bàn thành phố được phân cấp quản lý có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện kịp thời các vi phạm trong quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị và có biện pháp xử
lý vi phạm hành chính kịp thời;
- UBND các phường, xã thuộc thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn về việc thực hiện các quy định về quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, thực thi việc cưỡng chế thi hành các quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.6 Vai trò của công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại
đô thị loại I thuộc tỉnh
Quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh là nhằm thực hiện chức năng quản lý của nhà nước các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương trong quá trình xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị Hay nói cách khác đó là đó sự can thiệp bằng quyền lực đặc biệt của các cơ quan nhà nước nhằm thiết lập và thực thi những khuôn khổ thể chế, cùng với những quy định có tính chất pháp quy để duy trì, bảo tồn và phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật
đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh trong một môi trường và cảnh quan cảnh quan tốt đẹp của một thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh Với yêu cầu chung là coi trọng và đề cao vai trò quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh, thể hiện quyền lực và sự kiểm soát, giám sát, điều chỉnh của nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị; nhằm đảm bảo các hoạt động liên quan đến công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị đúng pháp luật, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của mọi công dân, các tổ chức trong đô thị Thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh càng phát triển thì công tác quản lý nhà nước về hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị ở thành phố đó càng có
ý nghĩa quan trọng, không những có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nền sản xuất mà còn tạo nên mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và lưu thông, mở rộng thị trường, mở rộng mối quan hệ giao lưu giữa các đô thị trong vùng, giữa các vùng trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh không chỉ có giá trị về mặt kinh tế, kỹ thuật và thúc đẩy phát triển thành phố thuộc tỉnh theo đúng định hướng trong thời bình mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc gia trong thời chiến Sự hình thành, quy mô và định hướng phát triển của một thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh phụ thuộc vào sự phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, vì vậy việc xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị trong thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh phải được các cơ quan
Trang 38quản lý nhà nước quản lý chặt chẽ từ khâu quy hoạch, đầu tư xây dựng đồng bộ và đi trước một bước Chính vì hạ tầng kỹ thuật đô thị ở đô thị loại I thuộc tỉnh có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội tại nên vai trò của công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh giữ vai trò then chốt và thường do nhà nước nắm giữ từ khâu hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cho đến đầu tư, chỉ đạo xây dựng và quản lý vận hành, sử dụng, khai thác, bảo trì nhằm đảm bảo những điều kiện vật chất cơ bản cho quá trình tái sản xuất, đảm bảo nền kinh
tế quốc dân tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững
Công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh giữ vai trò đặc biệt trong phát triển, định hướng và vị trí của từng đô thành phố; bởi lẽ tất cả các thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh hình thành và phát triển nhờ điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật đô thị Thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh khó tăng trưởng về kinh tế - xã hội và thậm chí tụt hậu nếu tại thành phố đó không có điều kiện phát triển hoàn thiện về hạ tầng kỹ thuật đô thị, hoặc sẽ không cạnh tranh được với các thành phố lân cận Trong thực tiễn nhu cầu đòi hỏi về đầu tư xây dựng, duy trì, vận hành, bảo dưỡng các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh là những hoạt động hướng đến phục vụ công cho cư dân trong thành phố là điều cấp thiết hiện nay, nên toàn bộ hạ tầng kỹ thuật đô thị thường được chính địa phương quy hoạch, đầu tư kết hợp chung tiết kiệm được đất đai và tạo thuận lợi cho quá trình khai thác sử dụng và đảm bảo việc bố trí các công trình khác như: Vỉa hè, cây xanh, chiếu sáng, quảng cáo hình thành bộ mặt và nhịp sống hàng ngày của một thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh sôi động nên công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị có vai trò chủ chốt quyết định trong phát triển đô thị văn minh, hiện đại Với mục tiêu phấn đấu của chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh nên công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị không chỉ có vai trò phục
vụ trực tiếp nhu cầu đi lại, đời sống, sinh hoạt, nhu cầu cảnh quan - môi trường và cùng nhiều hoạt động khác hàng ngày diễn ra hàng ngày trong đô thị mà còn có vai trò phục vụ nhu cầu an toàn và an ninh quốc gia Nếu bài toán công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh không được giải quyết tốt, không những sẽ phương hại đến sự phát triển kinh tế, phát triển thành phố
đó mà còn tác hại trực tiếp đến đời sống, sự an toàn và sức khỏe của cộng đồng cư dân trong thành phố Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh là lực lượng vật chất nền tảng của thành phố; tất cả các công trình, các hoạt động kinh tế, văn hóa và đời sống ở thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh đều tồn
Trang 39tại và phát triển trên nền tảng này Hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh với đặc điểm là cố định và kinh phí đầu tư lớn còn được coi là bộ xương cứng của thành phố Công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật
đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh là một trong ba chức năng cơ bản và cũng là một trong bốn giải pháp hàng đầu của chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh, tầm quan trọng của các chính sách đưa ra trong quá trình quản lý nhà nước về tầng
kỹ thuật đô thị có vai trò đặc biệt:
- Thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh được ví như là một cơ thể sống mà hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị là xương thịt và các cơ quan nội tạng của cơ thể đó; vì vậy hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh quyết định đến sự tồn vong của một thành phố;
- Với áp lực tăng trưởng và xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường thường xuyên đe dọa đến sự mất cân bằng, ổn định của thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh; xu thế phát triển này như dòng nước chảy và việc khơi dòng ấy chính là công tác quy hoạch và cung ứng hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị của chính quyền địa phương đô thị loại I thuộc tỉnh
Với ba đặc điểm: Đô thị hiện đại là nơi tập trung một số lượng người rất đông,
từ hàng triệu đến hàng chục triêu người, tạo ra mật độ cư trú dày đặc; cư dân đô thị hoạt động chủ yếu bằng ngành nghề phi nông nghiệp với nhiều phương thức kiếm sống khác nhau, tập trung trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp; cư dân
đô thị thuộc đủ thành phần, tầng lớp xã hội và đa dạng về trình độ văn hóa, kiến thức…là các yếu tố cơ bản nói lên sự phức tạp của đời sống xã hội đô thị và kéo theo
là tính phức tạp của công tác quản lý Do vậy công tác quản lý nhà nước về hạ tầng
kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh đóng vai trò quyết định trong phát triển thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh và trách nhiệm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đô thị tạo ra một mạng hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, bền vững nhằm tác động phát triển kinh tế thông qua các chính sách, chương trình với mục tiêu cung cấp dịch vụ hạ tầng
kỹ thuật đô thị cho phát triển kinh tế và nâng cao tính cạnh tranh của từng thành phố
đô thị loại I thuộc tỉnh Có thể nói công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị tại đô thị loại I thuộc tỉnh chính là động lực để thành phố đô thị loại I thuộc tỉnh phát triển theo hướng bền vững - văn minh - hiện đại và đóng một vai trò trọng yếu trong đời sống kinh tế, xã hội của thành phố đó, thiếu nó xem như các hoạt động đô thị rơi vào tình trạng tê liệt
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HẠ TẦNG KỸ THUẬT ĐÔ THỊ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG Ở ĐÔ THỊ LOẠI I THUỘC TỈNH
Hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một đạo luật chuyên ngành
về hạ tầng kỹ thuật nói chung và hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản liên công tác đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác, duy tu, bảo dưỡng Trong thực tiễn phạm vi điều chỉnh của pháp luật về hạ tầng kỹ thuật
đô thị là rất rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau nhằm hướng đến đảm bảo các quyền của cộng đồng cư dân đô thị và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước đối với việc phát triển kinh tế - xã hội từng địa phương Thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị nhằm nâng cao chức năng quản lý, điều hành và thực hiện vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước, nhất
là của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương Đây chính là cơ sở pháp lý thể chế hoá chính sách của Đảng, Nhà nước ta về công tác quản lý nhà nước hạ tầng
kỹ thuật đô thị tại các đô thị loại I thuộc tỉnh
2.1 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước đối với hạ tầng kỹ thuật
đô thị của chính quyền địa phương ở đô thị loại I thuộc tỉnh
2.1.1 Thực trạng việc xây dựng chiến lược công tác quản lý nhà nước về hạ tầng kỹ thuật đô thị đối với đô thị loại I thuộc tỉnh
Tính đến hết tháng 6 năm 2017, cả nước có 805 đô thị, gồm: 02 đô thị đặc
biệt, 17 đô thị loại I (03 đô thị loại I trực thuộc trung ương, 14 đô thị loại I thuộc tỉnh), 25 đô thị loại II, 43 đô thị loại III, 85 đô thị loại IV và 633 đô thị loại V, với
tỷ lệ đô thị hoá đạt 37%, tăng 0,4% so với cuối năm 2016; việc đầu tư nâng cao chất lượng, đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tiếp tục được quan tâm, tổng công suất thiết kế các nhà máy nước đô thị toàn quốc đạt khoảng 8,5 triệu m3/ngđ, tỷ lệ dân cư đô thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung ước đạt khoảng 84,5%, tỷ lệ thất thoát thất thu khoảng 23%, tỷ lệ thu gom và
xử lý rác thải đô thị đạt khoảng 85%; các chương trình dự án cấp quốc gia và cấp vùng về phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật tiếp tục được tập trung thực hiện, góp phần nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nâng cao chất lượng đời sống của người