1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện các quy định về giáo dục cải tạo đối với phạm nhân trong luật thi hành án hình sự việt nam từ góc độ nhân thân của người phạm tội

126 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện các quy định về giáo dục cải tạo đối với phạm nhân trong luật thi hành án hình sự việt nam từ góc độ nhân thân của người phạm tội
Tác giả Lê Thị Anh Nga
Người hướng dẫn TS. Lê Nguyên Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

là lý do tác giả đã chọn đề tài Luận văn của mình là: “Hoàn thiện các quy định về giáo dục cải tạo đối với phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam từ góc độ nhân thân người phạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ ANH NGA

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH

VỀ GIÁO DỤC CẢI TẠO ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN

TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH

VỀ GIÁO DỤC CẢI TẠO ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM

TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

“Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy Thầy”

Trong quá trình thực hiện đề tài Luận văn này, tác giả đã học hỏi và được sự giúp đỡ nhiệt tình từ Quý Thầy Cô Khoa Luật Hình sự, nhờ những gợi ý và quan điểm khoa học của Quý Thầy Cô mà tác giả đã xây dựng và hoàn thiện công trình

nghiên cứu của mình Với lòng biết ơn sâu sắc, xin gửi lời cám ơn đến TS Võ Thị

Kim Oanh - người đã giúp em mở ra hướng nghiên cứu Đề tài, Cô cũng là người

động viên, tạo điều kiện giúp em vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và công

tác để thực hiện Luận văn Em xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng đối với TS Lê

Nguyên Thanh, người đã lắng nghe, chia sẻ, định hướng và chỉnh sửa tận tình với

toàn bộ công trình nghiên cứu của em Sự giúp đỡ đáng quý của Thầy có giá trị to lớn không chỉ đối với đề tài Luận văn này mà sẽ là hành trang quý báu để em tiếp tục thực hiện những công trình nghiên cứu khoa học về sau Bên cạnh đó, nhờ sự

giúp đỡ tận tình của anh Trần Thanh Vũ, Phó Giám thị trại giam Định Thành, tác

giả có thể liên hệ với nhiều trại giam và cán bộ làm công tác giáo dục tại trại giam các tỉnh miền Tây Nam Bộ để xin số liệu, phỏng vấn và phát phiếu điều tra Anh Vũ cũng đóng góp nhiều ý kiến và cung cấp thông tin giúp tác giả có cái nhìn rõ ràng

và thực tế hơn đối với công tác giáo dục cải tạo phạm nhân ở các cơ sở giam giữ phạm nhân Sau tất cả, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân đã động viên và giúp đỡ về mặt tinh thần để tác giả hoàn thành công trình

nghiên cứu của mình Đặc biệt, con xin cảm ơn PGS, TS Trần Văn Độ, người đã

giúp đỡ con rất nhiều trong quá trình thu thập tài liệu và đưa ra quan điểm gợi mở giúp con hoàn thiện Luận văn này Cuối cùng, lòng biết ơn của tác giả xin gửi đến nhiều Thầy, Cô, Bác, Chú… đã không được nhắc tên ở đây có sự hỗ trợ tác giả thực hiện công trình nghiên cứu này Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về tất

cả những số liệu và kết quả nghiên cứu đó Luận văn này chưa từng được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào khác

Tác giả Luận văn

Lê Thị Anh Nga

Trang 6

3 PHỤ LỤC SỐ 1C: Bảng thống kê số liệu phạm nhân theo một số độ tuổi ở các trại giam khu vực miền TNB - BCA tính đến ngày 31/12/2014 và biểu đồ minh hoạ

4 PHỤ LỤC SỐ 1D: Bảng Thống kê số liệu phạm nhân theo tội danh ở các trại giam khu vực miền TNB thuộc BCA tính đến tháng 31/12/2016 và biểu đồ minh hoạ

5 PHỤ LỤC SỐ 1E: Bảng Thống kê phạm nhân theo mức án ở các trại giam khu vực miền TNB - BCA tính đến 31/12/2016 và biểu đồ minh hoạ

6 PHỤ LỤC SỐ 1G: Bảng thống kê phạm nhân theo tiền án, tiền sự ở các trại giam khu vực miền TNB - BCA (Tính đến ngày 31/12/2016 và biểu đồ minh hoạ

7 PHỤ LỤC SỐ 1H: Thống kê các loại tội phạm do phạm nhân thực hiện trong năm 2014 ở các trại giam khu vực miền TNB – BCA tính đến ngày 31/12/2014

8 PHỤ LỤC SỐ 02: Tổng hợp kết quả khảo sát đối với phạm nhân về nội dụng giáo dục cải tạo phạm nhân ở trại giam các tỉnh miền TNB – BCA

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CẢI TẠO PHẠM NHÂN TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 12 1.1 Khái niệm phạm nhân và hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân 12

1.1.1 Khái niệm phạm nhân 12 1.1.2 Đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân và

hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân 15

1.2 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân nhìn từ góc độ giáo dục cải tạo và sự ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân đối với việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo 24

1.2.1 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân nhìn từ góc độ giáo dục cải tạo 24 1.2.2 Sự ảnh hưởng của các đặc điểm nhân thân của phạm nhân đối với việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo 27

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG CÁC ĐẶC ĐIỂM NHÂN THÂN CỦA PHẠM NHÂN CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CẢI TẠO TRONG LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2010 35 2.1 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân trong các quy định về chế độ giam giữ phạm nhân và chế độ g ặp, liên lạc với thân nhân 35

2.1.1 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân trong các quy định về chế độ giam giữ phạm nhân 35 2.1.2 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân trong các quy định về chế độ gặp, liên lạc với thân nhân 42

2.2 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân trong các quy định về chế độ học tập

44

2.3 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân trong các quy định về chế độ học nghề

và chế độ lao động 48 CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIÁO DỤC CẢI TẠO PHẠM NHÂN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI, MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP .55

Trang 8

3.1 Thực tiễn giáo dục cải tạo phạm nhân ở các Trại giam miền Tây Nam Bộ thuộc Bộ Công an 55

3.1.1 Thực tiễn thi hành chế độ giam giữ phạm nhân và chế độ gặp, liên lạc với thân nhân 55 3.1.2 Thực tiễn thi hành chế độ học tập 57 3.1.3 Thực tiễn thi hành chế độ lao động và học nghề 61

3.2 Quan điểm và biện pháp hoàn thi ện các quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình sự năm 2010 65

3.2.1 Quan điểm chung về hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân 65 3.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện Luật Thi hành án Hình sự năm 2010 nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân 68

KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Đổi mới công tác thi hành án hình sự là một trong những nội dung quan trọng của nhiệm vụ cải cách tư pháp do Đảng và Nhà nước ta khởi xướng và kiên trì thực hiện trong giai đoạn hiện nay Trong đó, thi hành án phạt tù nói chung và giáo dục cải tạo phạm nhân nói riêng là nhiệm vụ trọng tâm của thi hành án hình sự từ lâu đã được xem là điểm nóng của cải cải tư pháp

Nhiều năm qua, với mục tiêu là đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, công tác thi hành án phạt tù đã có nhiều cải cách phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng thi hành án phạt tù chưa đạt được hiệu quả như mong đợi Tỷ lệ người chấp hành án phạt tù trở về tái hoà nhập với cộng đồng tiếp tục phạm tội chiếm một tỷ lệ khá cao, bình quân khoảng 25%1 Trong một khảo sát được tiến hành với các phạm nhân được tha ở Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Cần Thơ, Cà Mau có tới 40% người không có việc làm.2

Thách thức từ thực tiễn của công tác thi hành án phạt tù đặt ra nhu cầu cấp thiết phải xây dựng và đổi mới công tác giáo dục cải tạo phạm nhân với mục tiêu giảm tỷ lệ tái phạm, giúp người phạm tội tái hoà nhập với cộng đồng, trở thành công dân lương thiện Nhiều câu hỏi được đặt ra để giải quyết vấn đề nan giải này, nhiều nhà nghiên cứu đã đặt hướng tiếp cận từ những khía cạnh khác nhau của lĩnh vực thi hành án Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận ở góc độ nâng cao hiệu quả giáo dục phạm nhân thông qua những hiểu biết về nhân thân của

họ Hay nói cách khác, đó là việc xây dựng hoàn thiện các biện pháp giáo dục phạm nhân tiếp cận từ các đặc điểm nhân thân của phạm nhân

Muốn nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cải tạo phạm nhân thông qua việc hoàn thiện các biện pháp giáo dục cải tạo nhất thiết phải dựa trên các quy định có giá trị ngang luật Có như vậy mới có thể tạo ra sự đồng bộ, quyết tâm và bắt buộc phải thực hiện ở các cấp, ngành Trong hoàn cảnh công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, văn bản luật có giá trị áp dụng cao nhất đối với hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân bên cạnh Hiến pháp chính là Luật Thi hành án Hình sự Đây

1

Bộ Công an (2013), Báo cáo tổng k ết công tác điều tra, k hảo sát người chấp hành xong án phạt tù về cư trú

ở địa phương, giai đoạn 2002 – 2012 theo Kế hoạch số 16/KH-BCA ngày 02/12/2012 của BCA, Hà Nội

2

Lưu Vinh (2009), Những nẻo đường hoàn lương, NXB Văn hoá thông tin, tr.29

Trang 10

là lý do tác giả đã chọn đề tài Luận văn của mình là: “Hoàn thiện các quy định về giáo dục cải tạo đối với phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam từ góc độ nhân thân người phạm tội”

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Trên bình diện quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu đã viết về chính sách đối

xử với phạm nhân, chủ yếu tiếp cận ba khía cạnh: quyền con người, đối xử với phạm nhân là phụ nữ và trẻ em và vấn đề lao động trong nhà tù Có thể kể đến một

số công trình nghiên cứu tiêu biêu như sau:

- Sách chuyên khảo “Constitutional Rights of Prisoners” (tạm dịch là “Các Quyền Hiến định của Phạm nhân”) của tác giả TS John W Palmer, tái bản lần thứ

9, nhà xuất bản Routledge, Hoa Kỳ, năm 2015 Cuốn sách đưa ra và bình luận về các quyền hiến định của phạm nhân ở Hoa Kỳ như quyền được thông tin về kháng cáo, điều kiện giam giữ cô lập, tiếp cận với các toà án, quyền được tạm tha, quyền trợ giúp y tế Đặc biêt, tác giả đã đưa ra những lập luận mang tính cấp tiến của mình khi phân tích về một số quyền của phạm nhân như quyền sử dụng mạng Internet của phạm nhân, quyền sử dụng thư điện tử, điện thoại của phạm nhân, vấn đề tôn giáo trong nhà tù Đây là một tác phẩm đáng được quan tâm về khía cạnh đảm bảo các quyền của phạm nhân trong thi hành án phạt tù

- Sách chuyên khảo “The Treatment of Prisoners under International Law”

(tạm dịch là “Đối xử với các Phạm nhân theo Luật Quốc tế”) của tác giả GS TS Nigel Rodley và Matt Pollard, tái bản lần thứ ba, nhà xuất bản Đại học Oxford, Vương quốc Anh năm 2009 Cuốn sách là một công trình nghiên cứu có giá trị về quyền con người của phạm nhân trên bình diện quốc tế Trong đó, tác giả đưa ra hệ thống các văn kiện quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền con người bị phạt tù, chống tra tấn và những hành vi đối xử bất công, vô nhân đạo đối với tù nhân Bên cạnh đó, cuốn sách cũng đề cập đến phản ứng của Liên Hợp Quốc trước các thách thức về tra tấn, những bình luận liên quan đến bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực thi hành

Trang 11

Prison Studies) thuộc Trường Đại học King, Luân Đôn, Vương quốc Anh, năm

2004 Cuốn sách tổng hợp những nguyên tắc định hướng có thể được áp dụng trong các cơ sở giam giữ Cùng với những luận cứ mang tính thực tiễn gợi ý về sự áp dụng những nguyên tắc này trong các nhà tù khác nhau Nội dung của những định hướng này xoay quanh về một số vấn đề như: vấn đề xây dựng tập thể nhân viên nhà tù; nhân đạo hoá việc đối xử với phạm nhân; chăm sóc y tế trong nhà tù; sự tham gia của tổ chức xã hội dân sự vào lĩnh vực thi hành án phạt tù; vấn đề thi hành

án phạt tù đối với phụ nữ và trẻ em Tác giả cuốn sách đã đề xuất một số định hướng cải cách nhà tù theo hướng tăng cường các hình phạt cải tạo không giam giữ như phạt tiền, bồi thường cho nạn nhân, buộc người phạm tội lao động công ích, giám sát người phạm tội tại cộng đồng, giám sát người phạm tội tại gia đình Đây

là cuốn sách có giá trị tham khảo tổng quan, đưa ra những đề xuất mang tính cấp tiến đáng được tham khảo trong lĩnh vực thi hành án phạt tù

- Bài báo khoa học “Prison Labor and Prison Industries” (tạm dịch là “Lao động nhà tù và công nghiệp nhà tù”) của tác giả Gordon Hawkins đăng trên tạp chí

của Trường Đại học Báo Chí Chicago (The University of Chicago Press Journals),

số 5, năm 1983 Bài viết phân tích ở khía cạnh tiêu cực của hệ thống công nghiệp nhà tù Mỹ thông qua phương pháp phân tích so sánh thú vị Trong đó, tác giả chỉ ra danh sách các tập đoàn lớn nhất của Hoa Kỳ và trên thế giới đã đầu tư vào khu phức hợp công nghiệp nhà tù Mỹ như: IBM, Boeing, Motorola, Microsoft, Texas Instrument Tương phản với danh sách này là những phân tích về giá nhân công rẻ mạt từ thị trường lao động nhà tù Nguyên nhân của tình hình này theo tác giả đó là

vì sự hợp pháp hoá nguồn đầu tư của các tập đoàn này thông qua các hợp đồng liên kết lao động được ký kết với nhà tù bang Tuy nhiên, tác giả bài viết khẳng định rằng vấn đề lao động tại nhà tù là vấn đề đáng được quan tâm và triển khai thực hiện nhưng đòi hỏi đúng chính sách và sự quyết tâm để cải thiện chất lượng của hoạt động này

- Bài báo khoa học “Labour market and penal sanction: thoughts on the sociology of punishment”3 (tạm dịch là “Thị trường lao động và các hình phạt: suy nghĩ từ góc độ xã hội học về tư pháp hình sự”) của hai tác giả Georg Rusche và Gerda Dinwiddie đăng trên tạp chí Tội phạm và Công lý xã hội (Crime and Social

3

Xem “Labour market and penal sanction: thoughts on the sociology of punishment”,

http://www.jstor.org/stable/29766043?seq=1#page_scan_tab_contents truy cập ngày 20/06/2016

Trang 12

Justice), số 10, năm 1978 Chỉ gói gọn trong 10 trang nhưng bài viết đã mở ra một bức tranh về hệ thống thi hành án phạt tù của Hoa Kỳ, sự quá tải của hệ thống nhà

tù, sự ra đời của các nhà tù tư nhân, việc khai thác, cho thuê sức lao động của các tù nhân tại Hoa Kỳ Có thể thấy, các nhà giam tư nhân được thành lập như một phương án để cắt giảm lực lượng lao động liên bang Nhà giam tư nhân được nhận một khoản chi phí quản lý phạm nhân và quyền khai thác sức lao động của họ Từ

đó, Bài viết vén mở một nguyên tắc chung trong thi hành án phạt tù của Hoa Kỳ đó

là “số lượng tối thiểu nhân viên cho số lượng tối đa tù nhân” Điểm nhấn của bài

báo thể hiện ở những phân tích các tác giả về cơ sở của hệ thống công nghiệp nhà tù Hoa Kỳ dựa trên nguyên lý “Cải huấn – Tổ hợp công nghiệp” (The Correctional –Industrial Complex) Thấy được ưu điểm của nhà tù Hoa Kỳ thông qua những chương trình được thực hiện dành cho phạm nhân trong các nhà tù Mỹ như chương trình cải huấn, điều trị tâm lý, giáo dục, dạy nghề

Ngoài ra, nhiều bài báo khoa học được viết đề cập đến từng khía cạnh của thi hành án phạt tù như thi hành án phạt tù với người chưa thành niên, với phụ nữ và trẻ

em gái và vấn đề tự do tôn giáo trong nhà tù Có thể điểm qua một số bài nổi bật

như: “Juveniles in Prisons and Jails” (tạm dịch là “Người chưa thành niên trong các Trại giam và Trại tạm giam”) của các tác giả James Austin, Kelly DeDel

Johnson, Maria Gregoriou4; Bài viết “Inmates and freedom of religous” (tạm dịch là

“Phạm nhân và tự do tôn giáo”) của tác giả Jack Ryan5

; Bài viết “Female Initial Psychological Adjustment to Prison as Related to Ethnicity and Other Relevant Characteristics” (tạm dịch là “Sự điều chỉnh tâm lý ban đầu của nữ phạm nhân liên quan đến sắc tộc và những đặc điểm có liên quan khác”) của tác giả Clay, William6

2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Thời gian gần đây, nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án phạt tù

ra đời chủ yếu bàn về vấn đề quyền con người và lĩnh vực thi hành án phạt tù nói chung Trong đó, có một số công trình khoa học có nội dung nghiên cứu gần với Luận văn, tiêu biểu như:

Trang 13

- Luận án tiến sĩ: “Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam” của tác giả Ngô Văn Trù bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh năm 2015 Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên phân tích đầy

đủ và hệ thống về giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam Với hệ thống luận cứ đồ sộ thông qua khảo sát thực tiễn tại các trại giam, công trình nghiên cứu này có giá trị tham khảo về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn Điểm nổi bật của Luận

án là đưa ra một số kiến nghị thiết thực trong hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân như: lấy thành tích đọc sách của phạm nhân làm căn cứ để giảm án;7định kỳ mời giảng viên các Trường Đại học Luật, Học viện An ninh, Học viện Cảnh sát để triển khai những chuyên đề pháp luật gắn liền với thực tiễn xã hội tại các trại

giam, cho phạm nhân “nếm trải mùi vị đại học” ngay trong trại giam, tạo cảm giác

hưng phấn cho người học8

- Sách chuyên khảo “Thi hành án phạt tù từ thực tiễn đến khoa học giáo dục”

của tác giả PGS TS Nguyễn Hữu Duyện, nhà xuất bản Công an nhân dân, năm

2010 Cuốn sách là tuyển tập nhiều bài viết của tác giả đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành và kỷ yếu hội thảo Tại đây, có thể thấy được quan điểm của tác giả trong nhiều nội dung khác nhau thuộc thi hành án phạt tù như công tác tổ chức thi hành án phạt tù, vị trí của công tác thi hành án phạt tù, đặc điểm lao động của người quản giáo, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục cải tạo phạm nhân Điểm nổi bật của cuốn sách là những tư tưởng của tác giả dựa trên kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu trong lĩnh vực thi hành án phạt tù Tác giả Luận văn

đã kế thừa một số thông tin, số liệu từ cuốn sách này làm cơ sở cho các luận cứ được đưa ra trong Luận văn

- Sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam – những vấn đề

lý luận và thực tiễn” của các chủ biên PGS TS Võ Khánh Vinh và PGS TS

Nguyễn Mạnh Kháng, nhà xuất bản Tư Pháp, năm 2006 Cuốn sách gồm ba phần, bao gồm: (i) Phần thứ nhất giới thiệu tổng quan về những vấn đề chung của thi hành

án hình sự, trong đó có nhắc đến địa vị pháp lý của người bị kết án phạt tù; (2) Phần thứ hai là nội dung liên quan đến thi hành hình phạt và các biện pháp tư pháp, trong

đó có thi hành hình phạt tù Tác giả Luận văn có tham khảo một số nội dung ở phần

7

Ngô Văn Trù (2015), Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam, luận án Tiến sỹ

Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr 64

8

Ngô Văn Trù, tlđd s ố 7, tr 66

Trang 14

này làm cơ sở lý luận tại Chương 1 trong đề tài nghiên cứu của mình; (3) Phần thứ

ba là các nghiên cứu liên quan đến hệ thống trại giam và chế độ giam giữ Đây cũng

là nội dung có giá trị tham khảo về mặt lý luận khi xây dựng cơ sở lý luận tại chương 1 của Luận văn

- Sách tham thảo “Những nẻo đường hoàn lương” của tác giả Lưu Vinh (chủ biên) nhà xuất bản Văn hoá thông tin, năm 2009 Đây là một trong nhiều cuốn sách của Nhà báo Lưu Vinh chuyên viết về những câu chuyện tái hoà nhập cộng đồng của người tù Điểm nổi bật của cuốn sách là đã cung cấp rất nhiều tình tiết thực tế, chi tiết về đời sống của tù nhân và hoàn cảnh khó khăn mà họ đã trải qua Thông qua các câu chuyện này, tác giả Luận văn cũng đúc rút nhiều bài học và có sự hiểu biết nhiều hơn về những khó khăn của phạm nhân và con đường tái hoà nhập cộng đồng của họ

Ngoài ra, có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực thi hành

án phạt tù nói chung được kể đến như: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Thi hành án Hình

sự và Hỗ trợ tư pháp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” được tổ chức bởi Học

viện Cảnh sát Nhân dân và Tổng cục Cảnh sát Thi hành án Hình sự và Hỗ trợ tư

pháp năm 2016 Bài viết “THAPT trong văn kiện quốc tế và ở một số quốc gia – Kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Lê Lan Chi đăng trên tạp chí Nội Chính,

số 26, năm 2015 Bài báo khoa học “Một số vấn đề về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với phạm nhân” của các tác giả TS Võ Thị Kim Oanh và NCS

Nguyễn Quang Vũ đăng tại tạp chí Khoa học Pháp lý số 4 năm 2013

2.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

Qua khảo cứu về tình hình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước liên quan đến đề tài Luận văn, có thể đưa ra một số đánh giá như sau:

Thứ nhất, Luận văn có thể kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã đạt được trong các công trình nghiên cứu trước đây Đó là một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về thi hành án phạt tù được trình bày trong các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Duyện, Lưu Vinh, Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng, đã đề cập

ở trên Bên cạnh đó, một số đề xuất được đưa ra trong công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Văn Trù sẽ được tác giả tiếp thu mà không tiếp tục phân tích sâu Bên cạnh

đó, tác giả cũng kế thừa một số ý tưởng của các công trình nghiên cứu khác và sẽ được ghi chú rõ ràng trong Luận văn này

Trang 15

Thứ hai, một số đề xuất, gợi ý của một số công trình nghiên cứu cần được tiếp tục nghiên cứu Đó là những quan điểm về xây dựng nhà giam tư nhân và chính sách lao động trong nhà tù của các tác giả Gordon Hawkins, Georg Rusche và Gerda Dinwiddie; mở rộng quyền con người đối với phạm nhân của các tác giả John W Palmer Những đề xuất về vấn đề sinh hoạt tôn giáo trong thời gian chấp hành án, chế độ liên lạc với thế giới bên ngoài của phạm nhân, chế độ lao động đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu này sẽ được tác giả tiếp tục nghiên cứu về cơ sở lý luận, phân tích và đánh giá dưới góc độ pháp lý và thực tiễn trong Luận văn

Mặc dù, những công trình nghiên cứu trên đã đề cập khá sâu rộng về về các biện pháp giáo dục cải tạo phạm nhân trong các trại giam, tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên hệ có tính quyết định giữa các biện pháp giáo dục phạm nhân với đặc điểm nhân thân phạm nhân Hay nói cách khác, việc xây dựng hoàn thiện các biện pháp giáo dục phạm nhân cũng cần tiếp cận từ các đặc điểm nhân thân của phạm nhân Đây là góc nhìn mới khi bàn về các biện pháp giáo dục phạm nhân và cũng là điểm mới đáng chú ý của luận văn Theo đó, tác giả đưa ra những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ nhân thân người phạm tội, xem xét cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân dưới sự ảnh hưởng của các đặc điểm nhân thân người phạm tội như giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình và một số đặc điểm nhân thân bổ trợ khác như thái độ chấp hành án, lý lịch phạm tội, tình trạng sức khoẻ, trình độ học vấn, tín ngưỡng - tôn giáo Từ đó, tác giả đưa ra những đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi những quy định pháp luật có liên quan đến giáo dục cải tạo phạm nhân Trên cơ sở này, tác giả sẽ đưa ra những giải pháp mang tính tổng thể để hoàn thiện các quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân của Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả đưa ra cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng các quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân từ góc độ nhân thân người phạm tội và thực tiễn thi hành những quy định này nhằm đưa ra một số giải pháp hoàn thiện các quy định giáo dục cải tạo phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đã đề ra, Luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

từ góc độ nhân thân người phạm tội, bao gồm: (i) Làm rõ vấn đề khái niệm phạm nhân, xác định đặc điểm nhân thân người phạm tội tiếp cận từ góc độ giáo dục cải tạo chính là đặc điểm nhân thân của phạm nhân; (ii) Xác định đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc và hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân; (iii) Xác định những đặc điểm nhân thân của phạm nhân có giá trị ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

- Phân tích những quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam nhìn từ góc độ nhân thân người phạm tội Bao gồm: (i) Tìm hiểu

về nhân thân người phạm tội trong các quy định về chế độ giam giữ và chế độ thăm gặp, liên lạc với phạm nhân – đây không phải là biện pháp giáo dục cải tạo trực tiếp nhưng là biện pháp mang tính chất cơ sở ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân; (ii) Tìm hiểu về nhân thân người phạm tội trong các quy định về chế độ học tập của phạm nhân; (iii) Tìm hiểu sự vận dụng hiểu biết về nhân thân người phạm tội trong các quy định về chế độ học nghề và lao động

- Đánh giá thực tiễn giáo dục cải tạo phạm nhân nhìn từ góc độ nhân thân người phạm tội

-Đưa ra một số nghiên cứu định hướng và giải pháp hoàn thiện Luật Thi hành

án Hình sự Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân từ góc

độ nhân thân người phạm tội, quy định về giáo dục cải tạo đối với phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam (năm 2010) nhìn từ góc độ nhân thân người phạm tội và thực tiễn thực thi các quy định này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

Trang 17

- Phạm vi không gian

Thi hành án hình sự là lĩnh vực nhạy cảm và tương đối cách biệt với môi trường xã hội bên ngoài nên khó tiếp cận từ số liệu đến thực tiễn Với quy mô của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ có thể khảo sát được số liệu và thông tin của phạm nhân đang được giam giữ tại các trại giam miền Tây Nam Bộ thuộc Bộ Công an, mà không khảo sát được tất cả các của Bộ công an cũng như trại giam thuộc Bộ Quốc phòng

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn đưa ra những lập luận để chứng minh vấn đề trên cơ sở những nguyên

lý của Triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục cải tạo phạm

Trang 18

nhân, chính sách pháp luật của Nhà nước về giáo dục cải tạo phạm nhân, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và chính sách tái hoà nhập cộng đồng Ngoài ra, những quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu thực tiễn về giáo dục cải tạo phạm nhân của các nhà khoa học, tác giả đi trước cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong Luận văn này

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Trong quá trình nghiên cứu Luận văn, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh – thống kê, phương pháp phỏng vấn kết hợp với phương pháp phiếu điều tra và phương pháp quan sát Các phương pháp này được sử dụng cụ thể trong Luận văn như sau:

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết gồm: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp được sử dụng dụng để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã được nghiên cứu trong nước và nước ngoài nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho Chương 1 Mặt khác, những phương pháp này được sử dụng để tổng hợp đánh giá những đặc điểm nhân thân người phạm tội trong các quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân tại Chương 2

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm: phương pháp phỏng vấn kết hợp với phiếu điều tra được sử dụng chủ yếu trong phần nghiên cứu về thực tiễn thực thi

và giải pháp hoàn thiện luật tại Chương 3 Phương pháp phỏng vấn và phiếu điều tra

có chung nội dung câu hỏi khảo sát Phương pháp phỏng vấn được sử dụng đối với

200 phạm nhân ở trại giam Định Thành; 60 phạm nhân ở trại giam Thạnh Hoà Phương pháp phiếu điều tra được sử dụng để thu thập thông tin bằng phiếu điều tra của 239 phạm nhân ở các trại giam còn lại Phương pháp quan sát được sử dụng kết hợp trong quá trình phỏng vấn 200 phạm nhân ở trại giam Định Thành, kết quả của phương pháp này chỉ được sử dụng để hỗ trợ cho một luận cứ tại Chương 1

Ngoài ra, tác giả cũng thực hiện những buổi nói chuyện với cán bộ giáo dục của một số trại giam các tỉnh miền TNB như trại giam Định Thành, trại giam Thạnh Hoà, trại giam Phước Hoà Thông qua đó, tác giả thu thập thông tin từ các bản báo cáo nội bộ và khảo sát nội dung giáo dục cải tạo phạm nhân ở các trại giam miền TNB làm cơ sở phân tích các vấn đề thực tiễn trong Luận văn này

Trang 19

6 Những đóng góp mới của Đề tài

Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên tiếp cận từ sự ảnh hưởng của nhân thân người phạm tội đến hiệu quả của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân Luận văn này sẽ đưa ra cơ sở lý luận để chứng minh vai trò của các đặc điểm nhân thân trong hoạt động giáo dục cải tạo Từ đó, tác giả đưa ra những gợi ý để hoàn thiện hơn các quy định về giáo dục cải tạo phạm nhân trong Luật Thi hành án Hình

sự Việt Nam xuất phát từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn liên quan đến giáo

dục cải tạo phạm nhân từ góc độ nhân thân người phạm tội

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài

Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần vào kho tàng lý luận của lĩnh vực thi hành án phạt tù (một lĩnh vực khoa học mới được quan tâm trong những năm gần đây ở Việt Nam) Bên cạnh đó, đề tài mở ra một khía cạnh nghiên cứu về nhân thân người phạm tội trong lĩnh vực thi hành án phạt tù

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể có giá trị sử dụng trong hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự và tổ chức thực hiện công tác giáo dục cải tao phạm nhân ở các cơ sở giam giữ

Ngoài ra, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu về lĩnh vực thi hành án phạt tù

8 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của Luận văn được kết cầu thành ba chương:

- Chương 1 Lý luận chung về hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân từ góc độ nhân thân người phạm tội

- Chương 2 Hệ thống các đặc điểm nhân thân của phạm nhân có ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục cải tạo trong Luật Thi hành án Hình sự Việt Nam năm 2010

- Chương 3 Thực tiễn giáo dục cải tạo phạm nhân nhìn từ góc độ nhân thân

người phạm tội, một số định hướng và giải pháp

Trang 20

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CẢI TẠO PHẠM NHÂN

TỪ GÓC ĐỘ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI 1.1 Khái niệm phạm nhân và hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

1.1.1 Khái niệm phạm nhân

Ở góc độ ngôn ngữ học, “phạm nhân” là “người mắc tội” Cách giải thích này trên cơ sở cộng gộp nghĩa của hai chữ “phạm” và “nhân”, trong đó, “phạm” là mắc tội, “nhân” là người, phạm nhân là “người mắc tội”9 hay “người phạm tội” Tuy nhiên không phải người phạm tội nào cũng là phạm nhân Thuật ngữ phạm nhân để chỉ một dạng người phạm tội có đặc điểm về hình phạt và đang chấp hành một loại hình phạt nhất định Vì vậy, nếu tiếp cận khái niệm người phạm tội và nhân thân của người phạm tội đang được áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo thì chỉ có thể là phạm nhân theo luật THAHS

Ở góc độ pháp luật THAHS: “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt

tù có thời hạn, tù chung thân” (Điều 3 Luật THAHS năm 2010) Trên cơ sở khái

niệm pháp lý về phạm nhân và ở góc độ nhận thức thì phạm nhân có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, phạm nhân là người (cá nhân) đã bị kết tội bằng bản án tù có thời hạn hoặc tù chung thân Chỉ những người phạm tội bị kết án phạt tù có thời

hạn hoặc tù chung thân mới có thể là phạm nhân Căn cứ vào hình phạt tù mà tòa án

đã tuyên, có hai loại phạm nhân: (i) phạm nhân là người bị kết án tù có thời hạn và (ii) phạm nhân là người bị kết án tù chung thân

Người bị kết án tù có thời hạn hoặc tù chung thân đều có chung hình thức xử

lý là bị cách ly ra khỏi xã hội, bị tước một số quyền công dân, phải tuân thủ theo nội quy của trại giam, chấp hành các quy định của pháp luật THAHS, chịu sự quản chế

và giáo dục của cán bộ trại giam Trong quá trình chấp hành án, nếu phạm nhân có những biểu hiện tiến bộ, cải tạo tốt sẽ được hưởng chính sách khoan hồng theo quy định của pháp luật dưới một số hình thức như giảm mức hình phạt đã tuyên trong trường hợp phạm nhân đã chấp hành án trong một thời gian nhất định và có nhiều tiến bộ (Khoản 1 Điều 58 BLHS 1999); giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong

9

Bửu Kế (2010), Từ điển Hán Việt Từ Nguyên, NXB Thuận Hóa, tr 1363

Trang 21

trường hợp đặc biệt (Điều 59 BLHS 1999); hoặc tha tù trước thời hạn có điều kiện khi người phạm tội đáp ứng những điều kiện tại Điều 66 BLHS 2015

Nhận thức được đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt phạm nhân với những người bị kết án khác như: người bị kết án với hình phạt cải tạo không giam giữ, người bị kết án phạt tù được hưởng án treo Bên cạnh đó, xác định phạm nhân là người bị kết án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân là cơ sở giúp chủ thể giáo dục phạm nhân xây dựng chế độ giáo dục, cải tạo phù hợp với mục đích của những hình phạt này

Thứ hai, phạm nhân phải là người đang chấp hành bản án có hiệu lực pháp luật

Phạm nhân là người đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS và đã bị kết án bởi bản án có hiệu lực của pháp luật nhưng không phải bất kỳ người phạm tội nào cũng là phạm nhân Một người được gọi là phạm nhân khi họ phạm tội, bị kết án phạt tù và đã được đưa đến trại giam (hoặc trại tạm giam, cơ quan THAHS Công an cấp huyện) để chấp hành án Nghĩa là, kể từ khi người bị kết

án phạt tù được những đơn vị này tiếp nhận để thi hành án cho đến thời điểm mãn hạn tù họ được gọi là phạm nhân Không coi là phạm nhân đối với các trường hợp

bị kết án phạt tù nhưng chưa được đưa vào trại giam chấp hành án vì một lý do nào

đó được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù Thời điểm sau khi hoàn thành xong thủ tục nhập trại, người bị kết án đã chính thức có một địa vị pháp lý

mới - phạm nhân – và tạm thời bị tước một số quyền tự do, bị cách ly khỏi môi

trường xã hội bình thường, phải chấp hành bản án, bắt đầu quá trình giáo dục cải tạo

để trở thành công dân có ích cho xã hội

Nhận thức được đặc điểm này giúp xác định thời điểm người phạm tội được xem là phạm nhân, phân biệt phạm nhân với người bị kết án phạt tù dưới góc

độ THAHS

Thứ ba, phạm nhân là chủ thể bị hạn chế (hoặc bị tước) một số quyền cơ bản của công dân

Ở nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định đầy đủ quyền

và nghĩa vụ của phạm nhân Địa vị pháp lý của họ được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Dân sự, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội

Trang 22

và Đại biểu Hội đồng nhân dân, và Luật THAHS Ví dụ, theo Khoản 4 Điều 3 Bộ

Luật Hình sự năm 1999, người bị phạt tù phải “chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội”

Phạm nhân bị pháp luật hình sự và một số luật liên quan tước quyền công dân như quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú; quyền tham gia quản lý Nhà nước

và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử Ngoài ra, để đảm bảo an ninh trại giam, một số quyền của phạm nhân bị hạn chế thông qua nghiệp vụ THAHS như: quyền bí mật thư tín, điện tín, quyền được gặp, thông tin liên lạc với cá nhân, tổ chức bên ngoài

cơ sở giam giữ Phạm nhân vẫn được hưởng quyền con người, quyền công dân mà Hiến pháp Việt Nam và Công ước của Liên Hợp Quốc về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 ghi nhận miễn là không thuộc trường hợp những quyền bị tước hoặc bị hạn chế vì lý do an ninh Các quyền cơ bản của công dân như quyền được sống và bình đẳng trước pháp luật; được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền được khiếu nại, tố cáo, được thông tin, học tập, lao động, nghiên cứu khoa học, phát minh sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, quyền được kết hôn, quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo được tôn trọng Bên cạnh đó, phạm nhân phải thực hiện một số nghĩa vụ của người đang chấp hành án phạt tù như: nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án, tuân thủ các nội quy của trại giam, phải lao động và học tập theo quy định của pháp luật, không được đưa vào trại giam những đồ vật thuộc danh mục cấm do Bộ trưởng BCA quy định

Nhận thức đặc điểm này giúp chúng ta hình dung được địa vị pháp lý của phạm nhân, xác định lại một số quyền cơ bản của công dân mà phạm nhân đã bị tước hoặc bị hạn chế Đây là cơ sở để xây dựng các biện pháp giáo dục cải tạo, chế độ giam giữ, quản lý phạm nhân trong Luật THAHS và những văn bản pháp luật có liên quan

Có thể thấy rằng, khái niệm về phạm nhân được nêu ra tại Điều 3 của Luật THAHS năm 2010 chỉ nhấn mạnh đến dấu hiệu chấp hành án và loại hình phạt của người phạm tội mà không chỉ ra địa vị pháp lý của chủ thể này Việc chỉ ra địa vị pháp lý của phạm nhân có giá trị về mặt lý luận vì cho thấy rõ quyền và nghĩa vụ cơ bản của họ Với mục đích làm rõ tình trạng pháp lý cũng như chỉ ra quyền cơ bản của phạm nhân đã bị tước bỏ và nghĩa vụ khái quát nhất mà phạm nhân đang thực hiện,

có thể đưa ra khái niệm về “phạm nhân” như sau: “Phạm nhân là người phạm tội đã

bị hạn chế (hoặc bị tước) một số quyền cơ bản của công dân bằng bản án phạt tù có

Trang 23

thời hạn hoặc tù chung thân; và đang thực hiện những nghĩa vụ nhất định tại trại giam, trại tạm giam, hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện”

1.1.2 Đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân và

hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

1.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Thứ nhất, đối tượng của hoạt động giáo dục này là phạm nhân đang chấp

hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ Phạm nhân trong các cơ sở giam giữ là tập hợp

đa dạng những cá nhân có sự khác biệt về giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, mức độ nguy hiểm cho xã hội Khi chấp hành án, thái độ cải tạo của họ cũng khác nhau Có người thành tâm hối cải, có người không chịu chấp hành nội quy trại giam, nguy hiểm hơn còn có người ngoan

cố chống đối, tìm mọi cách chống phá, trốn trại, kéo bè kéo phái, lập băng nhóm ngay trong cơ sở giam giữ Việc giáo dục cải tạo đối tượng này phải xác định nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục phù hợp và chỉ có thể được tiến hành ở cơ sở giam giữ Vì thế, việc giáo dục cải tạo phạm nhân gắn liền với yêu cầu chấp hành nội quy nơi giam giữ, bị cách ly và cưỡng chế, do đó cũng dễ rủi ro đụng chạm trực tiếp đến quyền của phạm nhân khi tiến hành các hoạt động giáo dục cải tạo họ

Thứ hai, giáo dục cải tạo phạm nhân là hoạt động giáo dục lại. 10 Phạm nhân

phải là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (ít nhất là đủ 14 tuổi theo quy

định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 ) Phạm nhân đã ít nhiều trải qua quá trình giáo dục trước đó nhưng chưa hiệu quả, cho nên giáo dục trong các trại giam là hoạt động giáo dục lại Ở giai đoạn này, phạm nhân đã tiếp thu vốn tri thức nhất định từ cuộc sống trước đây của họ, giáo dục trong trại giam tập trung loại bỏ những phẩm chất lệch lạc bên trong họ, giúp xây dựng nền tảng tri thức mới, góp phần phát huy những phẩm chất tích cực, hình thành thói quen lối sống mới tốt hơn cho phạm nhân Hoạt động giáo dục lại sẽ gặp nhiều khó khăn bởi những sai sót nhân cách có thể đã bền vững của phạm nhân ở môi trường giáo dục trước Để đạt được kết quả tốt, hoạt động giáo dục lại phạm nhân trong các cơ sở giam giữ cần dựa trên những nghiên cứu tỉ mỉ các đặc điểm nhân thân phạm nhân phù hợp với mục tiêu giáo dục cải tạo đặt ra và phù hợp với điều kiện năng lực của các cơ sở giam giữ

10

Nguyễn Hữu Duyện (2010), Thi hành án phạt tù từ thực tiễn đến k hoa học giáo dục, NXB Công an nhân

dân, tr 10

Trang 24

Thứ ba, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân được thực hiện bởi chủ thể

thi hành án Chủ thể của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân là cán bộ cảnh sát

trại giam, cán bộ quản giáo, hoặc giáo viên, người làm công tác chuyên môn được mời đến giảng dạy Thông thường, Cán bộ trại giam làm công tác quản lý kiệm nhiệm công tác giáo dục phạm nhân Trong mối quan hệ sư phạm này, phạm nhân

là những học viên đặc biệt, vừa là người đi học vừa chịu sự giám sát, quản lý bởi người thầy của mình Chính sự ràng buộc về mặt pháp lý này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục phạm nhân trong trường hợp phạm nhân bất hợp tác hoặc

tỏ ra chống đối Tuy nhiên, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân cũng cần sự kết hợp bởi các chủ thể ngoài xã hội để nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục phạm nhân Những chủ thể này có thể là những tổ chức dạy nghề chuyên nghiệp, những thợ lành nghề được mời về dạy lại cho các phạm nhân, hoặc các tình nguyện viên, chuyên gia tâm lý tuyên truyền pháp luật hoặc truyền lửa sống, kỹ năng sống cho phạm nhân Thậm chí, chủ thể giáo dục phạm nhân là những người hoạt động trong các tổ chức tôn giáo như các linh mục, ni sư Nói chung, giáo dục cải tạo phạm nhân là một lĩnh vực khó khăn gấp nhiều lần so với lĩnh vực giáo dục thông thường, phải huy động đội ngũ giáo dục đông đảo, đa dạng từ các lĩnh vực chuyên môn để giáo dục, cảm hóa người phạm tội

Thứ tư, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân bị ràng buộc bởi thời gian

chấp hành án được nêu trong bản án có hiệu lực của Toà án Trại giam tập hợp

nhiều phạm nhân có sự khác nhau về hành vi phạm tội và tính chất nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và hình phạt Phạm nhân phạm tội

ít nghiêm trọng có thời gian chấp hành án phạt tù ngắn, phạm nhân phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng có thời gian chấp hành

án phạt tù dài hơn Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải hoàn thành mục tiêu đặt ra trước khi phạm nhân kết thúc thời gian chấp hành án phạt tù Chính đặc điểm này khiến công tác giáo dục cải tạo phạm nhân có nhiều áp lực vì đặt ra một nhiệm

vụ rất khó khăn cho trại giam trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục phạm nhân trong thời gian có hạn

1.1.2.2 Mục tiêu của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân là một hoạt động trọng tâm của lĩnh vực thi hành án phạt tù đối với phạm nhân Trong đó, giáo dục là hoạt động tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng được

Trang 25

giáo dục, làm cho họ dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu xã hội đặt ra;11

cải tạo là làm cho thay đổi chất lượng theo hướng tốt lên, cải tạo phạm nhân là giáo dục làm họ thay đổi, trở thành người tốt, người lương thiện.12 Giáo dục

cải tạo phạm nhân là hệ thống những hoạt động có mục tiêu nuôi dưỡng những phẩm chất tích cực, rèn luyện thể chất, trí tuệ, đạo đức của phạm nhân Đồng thời, sửa đổi khắc phục những nhược điểm đang tồn tại trong nhân cách, từ đó giúp phạm nhân trở thành con người khỏe mạnh về thể chất, hoàn thiện hơn về trí tuệ, có phẩm hạnh tốt, trở thành công dân có ích để sớm quay về phục vụ cho đất nước

Mục tiêu giáo dục cải tạo phạm nhân này không thể so sánh bằng với mục tiêu giáo dục giáo dục trong hệ thống giáo dục chung của quốc gia và chắc chắn có những hạn chế nhất định, dễ bị phê phán

Hiện nay có nhiều tài liệu sử dụng thuật ngữ “giáo dục và cải tạo” hoặc dùng dấu phẩy ở giữa chúng (“giáo dục, cải tạo”) Cách sử dụng từ ngữ như vậy dẫn đến cách hiểu rằng giáo dục và cải tạo là hai hoạt động tách rời; trong đó, thuật ngữ cải tạo được hiểu nặng nề hơn, gợi đến hình ảnh tù nhân đi lao động cải tạo trong chế

độ cũ Luật THAHS dùng thuật ngữ “giáo dục cải tạo” mà không phải là “giáo dục

và cải tạo” để chỉ những hoạt động hỗ trợ cho quá trình thay đổi và hoàn lương của phạm nhân Cách sử dụng thuật ngữ này vừa khẳng định tính không thể tách rời của hai nội dung giáo dục và cải tạo, vừa thể hiện tính nhân văn trong lĩnh vực giáo dục cải tạo phạm nhân

Việc xác định mục tiêu của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân giúp chủ thể nghiên cứu nhận thức được sự khó khăn và khác biệt của nó so với những hoạt động giáo dục bình thường khác Hoạt động này đòi hỏi sự nỗ lực của chủ thể thi hành án trong việc giúp phạm nhân nhận ra lỗi lầm và hướng thiện Để thực hiện được mục tiêu giáo dục này, việc xây dựng các biện pháp giáo dục phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định

1.1.2.3 Nguyên tắc của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Giáo dục cải tạo phạm nhân là phạm trù thuộc lĩnh vực THAHS, được pháp luật THAHS điều chỉnh để bảo đảm hoạt động thi hành án và ngăn ngừa hiện tượng

Trang 26

vi phạm quyền con người Do đó, hoạt động này phải tuân thủ triệt để các nguyên tắc của THAHS sau:

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân cần đảm bảo nguyên tắc pháp chế

Nếu hoạt động giáo dục thông thường đề cao tính tự nguyện tự giác của cả người dạy lẫn người học, thì giáo dục người phạm tội bên cạnh tính tự nguyện còn có tính cưỡng chế Mọi phạm nhân đều phải thực hiện nghĩa vụ học tập theo quy định của pháp luật Vì là hoạt động bắt buộc và được quy định trong luật nên phải được tổ chức và thực hiện theo khuôn khổ pháp luật chặt chẽ Muốn đảm bảo thi hành tốt cần xây dựng một hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động THAHS tương đối đầy đủ và phù hợp Các văn bản này phải được xây dựng trên cơ

sở nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, thể hiện đặc thù riêng biệt của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng cũng như của từng cá nhân có liên quan, đủ khả năng điều chỉnh có hiệu quả tổ chức và hoạt động THAHS Bên cạnh sự kiện toàn về hệ thống văn bản pháp luật thi hành án cần có sự thống nhất cao trong công tác tổ chức và áp dụng pháp luật THAHS của các cơ quan, cán bộ có trách nhiệm Đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật, hạn chế sự tùy tiện, vô tổ chức, thiếu kỷ luật trong lĩnh vực thi hành án và phải xử lý nghiêm mọi biểu hiện vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thi hành án, bao gồm những vi phạm pháp luật từ phía những người có nghĩa vụ chấp hành án và những người có trách nhiệm tổ chức việc thi hành án13

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ

Nguyên tắc này có thể được thực thi theo hướng bảo đảm cho các tổ chức xã hội, tập thể lao động và mọi công dân tham gia vào hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân Có thể khuyến khích các hình thức tự quản của phạm nhân để hỗ trợ cho hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân nhằm phát huy tính tích cực và tự giác của họ - một trong những mục tiêu của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải đảm bảo nguyên tắc nguyên tắc

nhân đạo, tôn trọng và bảo vệ quyền con người của phạm nhân Bản chất hoạt

động giáo dục cải tạo phạm nhân thể hiện ở sự đối xử nhân đạo của pháp luật, của nhà nước đối với người có lỗi, người phạm tội Tuy nhiên hoạt động giáo dục cải

13

Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng (đồng chủ biên) (2006), Pháp luật Thi hành án Hình sự Việt Nam

những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Tư Pháp, tr 50

Trang 27

tạo phạm nhân lại được thực hiện trong môi trường bị cách ly bằng hệ thống nhà tù, trại giam và các phương tiện cưỡng chế Vì vậy, con người rất dễ bị tổn thương trong môi trường giáo dục cải tạo Đó cũng là cơ sở khách quan của sự tồn tại nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân như một đòi hỏi

có tính quy luật Nguyên tắc nhân đạo yêu cầu việc giáo dục cải tạo phạm nhân phải bảo đảm tôn trọng nhân phẩm và danh dự của các cá nhân, nghiêm cấm các hành vi đày đọa hành hạ về thân thể, các hành vi xâm phạm nhân phẩm, danh dự đối với những người chấp hành án phạt tù.14 Phạm nhân với địa vị pháp lý đã được trình bày như trên, cần phải được tôn trọng những quyền con người, quyền công dân hợp pháp của họ như quyền được thông tin, học tập, tự do tín ngưỡng, quyền được kết hôn, quyền được lao động có trả công theo Luật Lao động, được chăm sóc y tế theo các quy định mà một công dân bình thường được hưởng Tuy nhiên, yêu cầu đảm bảo nguyên tắc nhân đạo không đồng nghĩa với quan điểm nương nhẹ hay quá dễ dãi đối với những hành vi vô kỷ luật, thiếu ý thức rèn luyện của phạm nhân Thực hiện nguyên tắc nhân đạo và tôn trọng nhân quyền trong giáo dục cải tạo phạm nhân phải chú ý đến những đặc điểm đặc thù của phạm nhân, ví dụ như tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của họ trước đó, đặc điểm nhân thân đặc trưng của họ để xây dựng chính sách giáo dục phù hợp với từng phạm nhân

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải đảm bảo nguyên tắc giáo dục

phạm nhân kết hợp với trừng trị Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của hình

phạt tù và nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động THAHS Phạm nhân phần lớn là những chủ thể có sự lệch lạc về nhân cách, có tư tưởng chống đối xã hội, tư duy tiêu cực,15 muốn giáo dục cải tạo họ phải kết hợp sử dụng các biện pháp thuyết phục và cưỡng chế, khuyến khích những tấm gương rèn luyện tích cực, trừng phạt những hành vi tiêu cực, chống đối của các phạm nhân Tùy vào các đối tượng phạm nhân khác nhau mà điều chỉnh liều lượng kết hợp giữa thuyết phục giáo dục với trừng trị, cưỡng chế cho phù hợp

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa

trong THAHS Mỗi một người phạm tội đều có những đặc điểm đặc thù về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội, có nhân cách và cá tính riêng biệt, có những ưu –

Trang 28

nhược điểm cụ thể về thể chất và tinh thần; do đó, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân không thể được áp dụng rập khuôn đối với tất cả phạm nhân mà không tính đến những đặc điểm nhân thân đặc trưng của họ.16

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân phải có sự phân loại phạm nhân để giáo dục Việc phân loại này phải dựa trên

cơ sở khoa học nhằm tạo sự thuận lợi trong công tác giáo dục cũng như khả năng đạt được hiệu quả giáo dục cao

Tóm lại, trong hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân, mỗi một nguyên tắc đều mang giá trị nhất định, vì thế hoạt động giáo dục người phạm tội phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc đó Nguyên tắc pháp chế là nguyên tắc bảo đảm cho hoạt động giáo dục phạm nhân thực hiện trong tinh thần thượng tôn pháp luật Để đảm bảo cho hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân đạt được hiệu quả cần có sự kết hợp tham gia của các chủ thể khác trong tinh thần của nguyên tắc dân chủ Vì đặc thù của hoạt động giáo dục là phạm nhân nên phải có sự hiện diện của nguyên tắc trừng trị kết hợp với giáo dục Với mục tiêu giúp phạm nhân hướng thiện, hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân cũng phải đảm bảo tôn trọng quyền cơ bản của con người, mang tính nhân đạo Tuy nhiên, nguyên tắc cá thể hóa trong THAHS mới là nguyên tắc quyết định tính hiệu quả trong hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân Không thể

có sự thành công trong hoạt động cải tạo phạm nhân nếu không có sự đầu tư và đánh giá đúng về đối tượng được giáo dục cải tạo Sự cá thể hóa trong THAHS có vai trò quan trọng, giúp xác định những vấn đề cơ bản nhất của phạm nhân mà hoạt động giáo dục cần nhắm tới Cá thể hóa phạm nhân khi áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo giống như công tác khám bệnh của bác sĩ, chỉ khi hiểu rõ bệnh và đặc điểm bệnh nhân thì mới có phương pháp trị bệnh hiệu quả Đây chính là cơ sở để xây dựng hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

1.1.2.4 Hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân trong các cơ sở giam giữ được thể hiện qua chế độ đối xử đối với họ nhằm mục đích cải biến về nhân cách, rèn luyện

kỹ năng hòa nhập xã hội của phạm nhân bao gồm ba nhóm hoạt động sau:

Thứ nhất, nhóm hoạt động phân loại, tổ chức giam giữ và quản lý phạm

nhân – đây là cơ sở cho mọi hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân Giáo dục cải

tạo phạm nhân không chỉ gói gọn trong các chương trình dạy học tại trại giam mà

16

Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng, tlđd s ố 13, tr 54

Trang 29

phải được thể hiện trong tổng thể các chương trình tác động đến phạm nhân; trong

đó, công tác giam giữ cho phạm nhân phải là mối quan tâm hàng đầu, là cơ sở cho mọi biện pháp giáo dục Công tác tổ chức giam giữ phạm nhân là quá trình phân loại và xác lập về mức độ giam giữ cho các phạm nhân, đưa họ về các nhóm phạm nhân để dễ dàng trong công tác quản lý, đồng thời hỗ trợ cho hoạt động giáo dục cải tạo Sự khác nhau về mức độ lệch lạc trong nhân cách, thời gian chấp hành án, khả năng tiếp thu sự giáo dục, khả năng tự rèn luyện và cải tạo bản thân, và một số đặc điểm nhân thân đặc thù khác (như giới tính, độ tuổi ) của các phạm nhân đặt ra nhu cầu phân loại phạm nhân để giáo hóa Nếu giam chung các phạm nhân mà không có

sự phân loại dựa trên những đặc điểm cá nhân của họ thì dễ dẫn đến tình trạng các phạm nhân ảnh hưởng tiêu cực lẫn nhau, hoặc phạm nhân cấu kết với phạm nhân để tiếp tục đi vào con đường phạm tội Bên cạnh đó, khi mới vào trại giam phạm nhân thường bị sốc tâm lý dẫn đến tình trạng khó hòa nhập vào môi trường mới, cần phải

có sự phân loại phạm nhân để tập hợp họ thành các nhóm nhỏ có đặc điểm nhân thân tương đồng, tạo nên tập thể phạm nhân cùng hỗ trợ nhau cải tạo Nói chung, công tác tổ chức giam giữ phạm nhân hợp lý sẽ thúc đẩy quá trình tự cải tạo của phạm nhân, ngược lại sẽ là lực cản cho sự rèn luyện tích cực của các đối tượng này

Để có thể tổ chức quản lý phạm nhân tốt phải xây dựng được quy tắc phân hóa phạm nhân hợp lý Phải phân hóa phạm nhân thành những nhóm nhỏ với hồ sơ

cá nhân của từng phạm nhân được ghi rõ ràng, chi tiết, giúp chủ thể thi hành án đưa

ra chế độ đối xử phù hợp, giúp cán bộ giáo dục có thể hiểu được đối tượng giáo dục của mình Dựa trên những đặc điểm đã được cá thể hóa của phạm nhân để chia họ thành các nhóm, đội, tổ trong các hoạt động học tập, sinh hoạt, và lao động Giữa các đội, nhóm, tổ này phải có sự khác nhau trong mức độ đối xử nghiêm ngặt hay ít nghiêm ngặt hơn, chế độ lao động – dạy nghề, học tập, chế độ thăm gặp và liên lạc với thân nhân cũng khác nhau

Thứ hai, nhóm các hoạt động giáo dục toàn diện cho phạm nhân – đây là

trọng tâm của giáo dục phạm nhân

Phạm nhân là đối tượng có mức độ tiếp thu sư phạm hạn chế Họ thường có thái độ chống đối những khuôn phép truyền thống của xã hội, thường làm ngược lại chuẩn mực chung Giáo dục đối tượng này vốn rất khó khăn, đòi hỏi phải có chương trình giáo dục phù hợp Nội dung của các chương trình giáo dục phạm nhân phải hướng đến phạm nhân, có ý nghĩa thiết thực với đời sống của họ, qua đó uốn

Trang 30

nắn lại tư tưởng lệch lạc và rèn luyện lại nhân cách cho phạm nhân.17 Nội dung của hoạt động giáo dục phạm nhân phải tập trung vào giáo dục thể chất, giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa, pháp luật và kỹ năng sống

Hoạt động giáo dục thể chất nhằm rèn luyện nếp sống khoa học, chuẩn bị tinh thần làm việc tích cực cho ngày mới, có thể được thực hiện thông qua hoạt động thể dục buổi sáng, hoạt động lao động và giao lưu thể thao

Hoạt động giáo dục đạo đức phải là quá trình giáo dục cơ bản của chủ thể thi hành án Thông qua hoạt động giáo dục đạo đức, có thể dần dần loại bỏ suy nghĩ tiêu cực trong người phạm tội, xây dựng những yếu tố tích cực, hướng thiện Có thể tiến hành các hoạt động này thông qua giáo dục bài học đạo đức, bài học ngoại khoá, sử dụng các tình huống thực tế làm gương để giáo dục phạm nhân

Hoạt động giáo dục văn hóa cho phạm nhân là quá trình tác động để hình thành cho phạm nhân những hiểu biết, nhận thức đúng đắn về văn hóa xã hội, từ đó tạo ra cho họ thói quen, lối sống có văn hóa Giáo dục văn hoá cho phạm nhân có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức đa dạng như thông qua các lớp học truyền thống, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống thư viện, báo chí, tuyên truyền qua bản tin, khẩu hiệu, panô, áp phích; hoạt động sinh hoạt văn nghệ, hội thao

Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trước hết là phổ biến những quy định liên quan đến nội quy trại giam, pháp luật THAHS, pháp luật hình sự, trong đó có quy định về xoá án tích và những quy định khác liên quan đến phạm nhân khi tái hoà nhập cộng đồng Hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân chủ yếu là thông qua các buổi nói chuyện về các tình huống pháp luật trong cuộc sống và giới thiệu các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi, ứng xử hằng ngày; phát tài liệu dạng cẩm nang cho phạm nhân nghiên cứu, học tập; bắt buộc phạm nhân phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy trại giam và đấu tranh với các hiện tượng vi phạm nội quy, kỷ luật của trại giam

Giáo dục kỹ năng sống là lĩnh vực cần được quan tâm trong giáo dục phạm

nhân Theo Tổ chức Y tế thế giới (WTO), kỹ năng sống là “khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và

17

Nguyễn Hữu Duyện, tlđd số 10, tr 10

Trang 31

thách thức của cuộc sống”.18 Phạm nhân không chỉ là những người có khiếm khuyết nhân cách mà thực tế có nhiều người phạm tội do thiếu những kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử trong quan hệ xã hội Bằng phương pháp quan sát trong quá trình phỏng vấn 200 phạm nhân (phạm tội cố ý gây thương tích và giết người) tại trại giam Định Thành, tác giả nhận thấy khoảng 60% người phạm tội có xu hướng cực đoan, thiếu kỹ năng hòa nhập với các mối quan hệ xung quanh, tần suất phát sinh mâu thuẫn với các mối quan hệ xung quanh cao nhưng kỹ năng giải quyết mâu thuẫn kém Do đó, giáo dục phạm nhân nên quan tâm đến đào tạo kỹ năng sống cho

họ, xây dựng nhân sinh quan tích cực, dạy họ biết cách hóa giải các mâu thuẫn phát sinh trong cuộc sống Giáo dục kỹ năng sống cho phạm nhân nên quan tâm tới một

số nội dung như kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị,

kỹ năng tự vệ và kỹ năng phòng chống tệ nạn tệ ma túy, tệ nạn xã hội khác

Thứ ba, nhóm các hoạt động tổ chức lao động và dạy nghề – cơ sở để phạm

nhân tái hòa nhập cộng đồng

Hoạt động tổ chức lao động có ý nghĩa giáo dục cải tạo cao Thông qua quá trình lao động, giúp phạm nhân rèn luyện thể chất đồng thời hiểu được giá trị của lao động chân chính Thời gian đầu, phạm nhân thường có thái độ chống đối với lao động tại cơ sở giam giữ, nhưng theo thời gian, khi hiểu được giá trị mà lao động đem lại, hưởng thành quả lao động thì phạm nhân dần có sự yêu thích đối với các công việc chân tay, biết trân trọng thành quả lao động của mình với người khác, hiểu được tính chất sai trái trong hành động phạm tội của bản thân, từ đó biết ăn năn, hối cải và phục thiện

Hoạt động dạy nghề đối với những phạm nhân không có nghề nghiệp ổn định giúp họ có cơ hội tìm được việc làm để xây dựng lại cuộc đời sau khi mãn hạn tù Hoạt động dạy nghề trong trại giam (nếu được) nên dựa trên cơ sở nguyện vọng của phạm nhân, tạo điều kiện cho họ được lựa chọn công việc phù hợp với sở thích sở trường của họ, qua đó phạm nhân xây dựng được lòng yêu nghề, không ngại gian khó

để kiên trì với nghề mà họ đã lựa chọn Nếu không có điều kiện để xây dựng chương trình dạy nghề cho phạm nhân, hoạt động dạy nghề nên tập trung vào những nghề

18

Nguyễn Duy Huy và Trần Kim Tân (2016), Công tác giáo dục Kỹ năng sống cho phạm nhân ở các trại

giam thuộc BCA, Kỷ yếu Hội Thảo Khoa học Thi hành án Hình s ự và hỗ trợ tư pháp – những vấn đề lý luận

và thực tiễn, Hội đồng lý luận BCA, Tiểu ban lý luận về lĩnh vực giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, Học viện CSND, Tổng cục THAHS & HTTP, tr 248

Trang 32

phù hợp ở địa phương nơi phạm nhân sẽ dự định sinh sống sau khi chấp hành xong án phạt tù để họ dễ dàng có được việc làm nuôi sống bản thân bằng nghề đã học

Phạm nhân đã có nghề nghiệp ổn định trước khi phạm tội thì phải tạo điều kiện để họ tham gia lao động bằng nghề của họ Nếu là phạm nhân có tay nghề thì

có thể tham gia hỗ trợ dạy nghề cho các phạm nhân khác

Từ những cơ sở nêu trên, có thể khái quát về hoạt động giáo dục cải tạo

phạm nhân như sau: hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân là quá trình chủ thể thi hành án hình sự áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo đối với phạm nhân nhằm thay đổi tư duy nhận thức của phạm nhân trong thời gian chấp hành án tại cơ sở giam giữ, từ đó giúp họ tự điều chỉnh, và phát triển nhân cách để trở thành công dân có ích cho xã hội Hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân bao gồm các biện pháp phân loại và tổ chức giam giữ phạm nhân; các biện pháp giáo dục phạm nhân; các biện pháp tổ chức lao động và dạy nghề

1.2 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân nhìn từ góc độ giáo dục cải tạo và sự ảnh hưởng của đặc điểm nhân thân đối với việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo

1.2.1 Đặc điểm nhân thân của phạm nhân nhìn từ góc độ giáo dục cải tạo

Tội phạm học xác định nhân thân của người phạm tội chính là những đặc điểm, dấu hiệu đặc trưng nhất phản ánh bản chất của người phạm tội Những đặc điểm dấu hiệu này tác động với những tình huống, hoàn cảnh khách quan khác đã tạo ra xử sự phạm tội.19 Vì mục tiêu của ngành khoa học này là hạn chế tội phạm trong khỏi xã hội, lấy công tác phòng ngừa làm trọng tâm cho nên những đặc điểm nhân thân của người phạm tội mà tội phạm học nghiên cứu là những đặc điểm có vai trò trong cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội Các đặc điểm nhân thân của người phạm tội được Tội phạm học nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như sinh học, xã hội, tâm lý, và nhóm đặc điểm nhân thân có tính pháp lý hình sự Với cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các giáo trình Tội phạm học ở Việt Nam đã chỉ ra một số đặc điểm nhân thân của người phạm tội đặc trưng, điển hình phù hợp với hướng nghiên cứu Tội phạm học ở Việt Nam như: đặc điểm về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, hứng thú, nhu cầu, hoàn cảnh gia

19

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Tội phạm học, Võ Thị Kim Oanh và Lê

Nguyên Thanh (đồng chủ biên), NXB Hồng Đức, tr.232

Trang 33

đình, nghề nghiệp, định hướng giá trị, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật, lý lịch phạm tội, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội

Khoa học Điều tra hình sự nghiên cứu nhân thân người bị tình nghi, bị can hình sự trên cơ sở những tính cách, phẩm chất quan trọng thể hiện bản chất xã hội của họ Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của các thông tin của đối tượng nghiên cứu, đặc điểm nhân thân của nghi can, bị can bao gồm những đặc điểm xã hội – nhân khẩu học, đạo đức tâm lý, pháp lý hình sự của họ Căn cứ vào thái độ mà đối tượng thể hiện trong quá trình điều tra, nhân thân của nghi can, bị can bao gồm các đặc điểm thúc đẩy quyết định phạm tội của họ (như thái độ coi thường các chuẩn mực, giá trị đạo đức, pháp luật, ý thức pháp luật thấp, hời hợt với trách nhiệm của công dân); đặc điểm kìm hãm sự quyết định phạm tội; và những đặc điểm trung tính Trên cơ sở đó, điều tra viên sẽ xem xét liều lượng của các đặc điểm này từ đó xây dựng hình ảnh về nhân thân của đối tượng một cách chi tiết, xác định bản chất tốt xấu hoặc trung tính của họ, làm rõ những đặc điểm chi phối việc phạm tội của đối tượng theo cả hai hướng thúc đẩy hoặc kìm hãm quyết định phạm tội.20

Khoa học luật Tố tụng Hình sự nghiên cứu nhân thân bị can, bị cáo làm cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể, xem xét việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, việc xác định thẩm quyền giải quyết

vụ án hình sự để từ đó giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Khoa học Luật Hình sự nghiên cứu về nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ.21

Giá trị thực tiễn của sự phân hóa trách nhiệm hình sự một phần phụ thuộc vào mức độ mà các đặc điểm nhân thân người phạm tội được cân nhắc trong chế tài đối với chính người đó Tuy nhiên, trong căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 45 của Bộ Luật Hình sự năm

1999, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao giờ cũng được xem là căn

cứ chủ đạo quy định sự khác biệt về trách nhiệm hình sự, còn nhân thân người phạm tội được sử dụng mang tính bổ sung cho căn cứ quyết định hình phạt trong một số trường hợp nhất định như phạm tội do độ tuổi khác nhau thực hiện; phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm; phạm tội do lạc hậu; người phạm tội là phụ nữ có

Trang 34

thai; người phạm tội là người già, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.22

Nghiên cứu đặc điểm nhân thân người phạm tội trong Khoa học Cải tạo phạm nhân chính là nghiên cứu đặc điểm nhân thân của phạm nhân, nhằm mục tiêu tìm ra phương pháp giáo dục cải tạo phù hợp với từng phạm nhân Khoa học Cải tạo phạm nhân không nghiên cứu toàn bộ nhân thân con người nói chung mà chỉ nghiên cứu những đặc điểm nhân thân của phạm nhân có vai trò nhất định trong hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân Những đặc điểm nhân thân này cho thấy lát cắt về các mặt sinh học, tâm lý, xã hội, pháp lý hình sự của những người chấp hành án phạt tù, làm tư liệu phục vụ cho hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân

Đặc điểm nhân thân phạm nhân được nghiên cứu trong Khoa học Cải tạo phạm nhân khác với đặc điểm nhân thân người phạm tội trong Tội phạm học và Khoa học Luật Hình sự; khác với nhân thân bị can, bị cáo trong Khoa học Luật Tố tụng hình sự; và khác với nhân thân nghi can, bị can trong Khoa học Điều tra Hình

sự cả về phạm vi, mức độ, và mục đích nghiên cứu Trong các mối quan hệ này, Khoa học Cải tạo phạm nhân kế thừa những nghiên cứu của Tội phạm học về nhân thân người phạm tội, trong đó có những đặc điểm nhân thân là nguyên nhân của tội phạm như ý thức pháp luật, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, độ tuổi, giới tính trên cơ sở đó tìm kiếm biện pháp giáo dục cải tạo và giúp phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng tốt hơn.23

Nhân thân người phạm tội dưới góc nhìn của Khoa học Cải tạo phạm nhân

(nhân thân phạm nhân) có thể hiểu là những đặc điểm dấu hiệu đặc trưng thuộc về

phạm nhân, có vai trò làm căn cứ xây dựng các biện pháp giáo dục cải tạo phạm nhân

Căn cứ vào vai trò của đặc điểm nhân thân phạm nhân đối với hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân có thể phân chia thành ba nhóm đặc điểm nhân thân phạm nhân: (i) Những đặc điểm nhân thân phục vụ cho hoạt động phân loại để giam giữ phạm nhân như giới tính, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, mức án phạt tù, kết quả chấp hành án; (ii) Những đặc điểm nhân thân phục vụ cho hoạt động giáo dục phạm nhân như: trình độ học vấn, độ tuổi, hoàn cảnh gia đình; (iii) Những đặc điểm nhân thân phục vụ cho hoạt động tổ chức lao động và dạy nghề cho phạm nhân: định hướng nghề nghiệp, nơi cư trú, tình trạng sức khỏe, độ tuổi, giới tính, mức án phạt tù

Trang 35

1.2.2 Sự ảnh hưởng của các đặc điểm nhân thân của phạm nhân đối với việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo

Phạm nhân là những người có đặc điểm đặc thù về nhân thân Trước khi phạm tội và bị kết án, những người này có một số khiếm khuyết trong hệ thống các đặc điểm thuộc về nhân thân của họ như đặc điểm hoàn cảnh gia đình, đặc điểm về tâm lý tính cách, thói quen lối sống, trình độ học vấn, ý thức đạo đức, ý thức pháp luật Những đặc điểm nhân thân của người phạm tội trong giai đoạn này hình thành nên tâm lý tiêu cực khi tương tác với tình huống, hoàn cảnh khách quan phạm tội tạo nên xử sự phạm tội Sau khi bị kết án phạt tù, những khiếm khuyết trong các đặc điểm thuộc về nhân thân của phạm nhân vẫn còn tồn tại, lúc này đặc điểm nhân thân của họ gắn với loại tội phạm mà họ đã thực hiện, mức án phạt tù của họ Giáo dục cải tạo đối tượng này chính là quá trình tác động và làm thay đổi những đặc điểm nhân thân bị khiếm khuyết đó nhằm giúp phạm nhân có cơ hội được rèn luyện, sửa đổi bản thân sau khi chấp hành xong hình phạt tù, ngăn ngừa khả năng tái phạm và phạm tội mới của họ

Nghiên cứu những đặc điểm nhân thân người phạm tội cho thấy có rất nhiều yếu tố thuộc về nhân thân của họ ảnh hưởng tới hành vi phạm tội, trong đó các đặc điểm thuộc về nhận thức - tâm lý – xã hội đóng vai trò quyết định đến xử sự phạm tội Quá trình giáo dục cải tạo người phạm tội nên bám sát những đặc điểm này của người phạm tội để tìm cách giúp họ sửa đổi, khắc phục Việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo phạm nhân cần phải dựa trên những đặc điểm nhân thân phạm nhân ở các góc độ ảnh hưởng sau:

Thứ nhất, đặc điểm nhân thân phạm nhân ảnh hưởng đến việc xây dựng

chính sách phân loại giam giữ cũng như chế độ đối xử với phạm nhân Hoạt động tổ chức giam giữ phạm nhân không đóng vai trò trực tiếp tác động giáo dục phạm nhân, nhưng hiệu quả của hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân chịu ảnh hưởng gián tiếp từ khâu giam giữ phạm nhân Kết quả công tác phân loại phạm nhân là cơ

sở để chúng ta xây dựng kế hoạch, nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với từng nhóm, từng loại, từng phạm nhân cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phạm nhân Bên cạnh đó, thông qua công tác phân loại phạm nhân, chủ thể thi hành án nắm được tính chất, mức độ nguy hiểm của từng loại, thái độ cải tạo và những đặc điểm cơ bản về con người phạm nhân như lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính, sức khỏe, thái độ cải tạo, địa bàn cư trú, năng lực sở trường… của phạm nhân

Trang 36

để bố trí công việc lao động sản xuất, địa bàn lao động dạy nghề phù hợp với phạm nhân, phát huy tay nghề, phù hợp giới tính, tuổi tác, sức khỏe, năng lực sở trường của phạm nhân Từ đó, hạn chế sự bất mãn, vi phạm nội quy hoặc trốn trại của phạm nhân Mặt khác, cách phân loại, giam giữ phạm nhân, chế độ đối xử trong sinh hoạt và lao động sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục đối tượng này

Một số đặc điểm nhân thân điển hình ảnh hưởng đến việc xây dựng chính sách giam giữ và chế độ đối xử với phạm nhân như: giới tính, lứa tuổi, tình trạng sức khỏe, các đặc điểm nhân thân mang tính pháp lý hình sự như tiền án, tiền sự, mức án Khi phân loại phạm nhân để giam giữ, nên giam riêng những phạm nhân có tiền án tiền sự, lưu manh chuyên nghiệp, hoặc tái phạm, tái phạm nguy hiểm với chế

độ đối xử nghiêm khắc Phạm nhân có tình trạng sức khỏe kém như già yếu, bệnh tật nên được giam chung buồng, phạm nhân có bệnh truyền nhiễm phải được cách

ly, phạm nhân chưa thành niên phải được giam riêng, phụ nữ, người đồng tính phải

có khu giam giữ riêng, đối với phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi phải có chế độ giam giữ phù hợp

Thứ hai, đặc điểm nhân thân phạm nhân ảnh hưởng đến việc xây dựng chế

độ học tập và chương trình giáo dục cho phạm nhân Phạm nhân khi vào trại giam

có sự khác nhau về lý lịch phạm tội, khả năng nhận thức, trình độ học vấn Chính những khác nhau này tạo ra nhu cầu học tập đa dạng cho mỗi phạm nhân Dựa trên

sự tương đồng về những đặc điểm này mà tập hợp phạm nhân thành các nhóm học tập với chế độ, chương trình và phương thức tác động khác nhau Nhóm phạm nhân tái phạm, tái phạm nguy hiểm, lưu manh chuyên nghiệp phải có chế độ học tập nghiêm túc hơn, chú trọng phương tác động vào từng cá nhân để tìm hiểu nguyên nhân phạm tội và thái độ chống đối của họ

Thứ ba, đặc điểm nhân thân phạm nhân ảnh hưởng đến việc xây dựng chế

độ lao động và dạy nghề Lao động là biện pháp vừa mang tính trừng trị vừa mang tính giáo dục cải tạo người phạm tội Thông qua lao động phạm nhân tự cải biến nhận thức của họ, tạo ra sự gắn kết với các cá nhân khác, phạm nhân có được cảm giác là một thành phần trong tập thể, xây dựng lại niềm tin và tinh thần hăng say làm việc, có ý thức trách nhiệm hơn Khi xây dựng chế độ lao động, dạynghề cho phạm nhân phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp trước khi phạm tội, thậm chí là nhu cầu, sở thích, tiền án tiền sự, mức án, thái độ chấp hành án của phạm nhân Chẳng hạn, căn cứ vào đặc điểm nhân thân của phạm

Trang 37

nhân, ta biết được phạm nhân nào là đối tượng có tiền án, tiền sự, thường xuyên vi phạm nội trại giam, có thái độ chống đối chế độ quản lý, giam giữ thì bố trí phạm nhân lao động trong rào vây gần trại Nếu có lao động ngoài khu vực rào vây thì phải đặc biệt chú ý phạm nhân này, bố trí khu vực lao động gần, dễ dàng quản lý Còn đối với những phạm nhân phạm tội lần đầu, có mức án thấp, tính chất nguy hiểm của tội phạm không cao, có tuổi già, sức khỏe yếu thì bố trí lao động ở khu vực rộng hơn, giao việc ít hơn, nhẹ hơn Riêng những phạm nhân chưa thành niên thì vừa bố trí lao động vừa dạy nghề cho họ Đối với những phạm nhân đã có nghề nghiệp trước khi vào trại thì bố trí công việc lao động phù hợp với nghề nghiệp của

họ, có như vậy thì họ mới có tinh thần, thái độ tích cực trong lao động và lao động

có năng suất, hiệu quả

Nhưng cách phân loại nhân của phạm nhân dựa trên sự ảnh hưởng của nó đến hoạt động giáo dục cải tạo phạm nhân như trên chỉ mang tính chất tương đối Phần lớn các đặc điểm nhân thân này đều có ảnh hưởng lẫn nhau và đều có vai trò nhất định đối với các biện pháp giáo dục cải tạo Vẫn có những đặc điểm nhân thân vừa là căn cứ để xây dựng chế độ giam giữ với phạm nhân vừa là căn cứ để xây dựng chế độ lao động cho họ như giới tính, độ tuổi, tình trạng sức khỏe, sở trường

sở thích Khi cân nhắc chương trình học tập cho phạm nhân nên xem xét định hướng nghề nghiệp và trình độ học vấn của phạm nhân và thời gian chấp hành án của họ để xây dựng chương trình học tập cho phù hợp

Có rất nhiều đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến việc xây dựng và áp dụng các biện pháp giáo dục cải tạo phạm nhân Dưới đây, tác giả chỉ đề cập một số đặc điểm nhân thân có giúp chủ thể thi hành án dễ nhận diện và vận dụng để phân hoá phạm nhân trong hoạt động giáo dục cải tạo như sau:

 Giới tính

Phạm nhân trên thực tế có nhiều loại giới tính khác nhau, có thể tạm chia thành các nhóm giới tính có thể dễ nhận diện như: nam, nữ, người đồng tính và người chuyển giới Thông thường việc bố trí phòng giam sẽ để những người cùng chung giới tính giam chung một khu để tránh trường hợp phát sinh quan hệ tình dục nam nữ, mang thai trong tù, và một số loại tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe như tội phạm hiếp dâm, cưỡng dâm, quấy rối tình dục trong trại giam Việc bố trí giam giữ như vậy là tạo tâm lý ổn định cho phạm nhân tập trung học tập và rèn luyện Trại giam cần phải có khu giam giữ tách biệt cho các đối

Trang 38

tượng tùy thuộc vào giới tính của họ Nam giam chung với nam, nữ giam chung với

nữ Nếu là người đã chuyển giới thì phải được giam chung buồng với những người

có cùng giới tính đã chuyển của họ Những người đồng tính nếu có điều kiện nên tách giam riêng

là tiện cho việc xây dựng chế độ đối xử phù hợp, chú trọng đến giáo dục văn hóa và đạo đức hơn là những hoạt động lao động loại nặng Phạm nhân chưa thành niên nên được giam tập trung để thuận lợi cho các hoạt động giáo dục phổ cập Phạm nhân dưới độ tuổi 26 nên được giam chung để thuận lợi cho các hoạt động hướng nghiệp và dạy nghề

 Tình trạng sức khỏe

Tình trạng sức khỏe về thể chất và tình trạng sức khỏe về tâm thần đều là những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu giáo dục cũng như khả năng hòa nhập vào môi trường sinh hoạt chung tại nhà giam Do đó cần phải có sự phân loại

để có chính sách đối xử riêng đối với những phạm nhân có tình trạng sức khỏe không tốt Những người bị bệnh về tâm thần, người bị bệnh truyền nhiễm phải được cách ly với những phạm nhân bình thường vì lý do an ninh và nhu cầu chữa bệnh

 Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của phạm nhân là một trong những tiêu chí để đưa ra chương trình giáo dục cho phạm nhân Phạm nhân nên được phân loại chi tiết về trình độ học vấn trước khi nhập trại Cán bộ giáo dục tại trại giam sẽ phổ cập tiếp những nội dung giáo dục phổ thông mà phạm nhân còn thiếu Trình độ học vấn của

24

Võ Văn Tuyển (1999), “Những thí dụ về tính hiệu quả và việc học tập kinh nghiệm pháp luật nước ngoài,”

Thông tin Khoa học pháp lý chuyên đề về Tư pháp Hình sự so sánh, Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý – Bộ

Tư pháp, tr 335

Trang 39

phạm nhân nên được phân hóa càng chi tiết càng tốt Căn cứ vào trình độ hiểu biết của phạm nhân có thể phân trình độ học vấn của phạm nhân thành các nhóm: nhóm phạm nhân mù chữ; nhóm phạm nhân biết chữ; nhóm phạm nhân đã hoàn thành chương trình giáo dục bậc tiểu học, nhóm phạm nhân đã hoàn thành chương trình giáo dục bậc trung học cơ sở, tốt nghiệp trung học phổ thông Trên cơ sở đó, tập hợp những người có chung trình độ vào một lớp để có phương án giáo dục riêng cho họ Việc phân loại trình độ học vấn để giáo dục phạm nhân có ý nghĩa thiết thực, nâng cao hiệu quả giáo dục đối với một lớp học Phân lớp học theo từng nhóm trình độ giúp những phạm nhân có trình độ khác nhau với nhu cầu học tập khác nhau được học những chương trình phù hợp, từ đó tạo ra sự hứng thú trong giờ học, tránh trường hợp phạm nhân có trình độ cao phải học lại chương trình thấp hơn gây nhàm chán, hoặc phạm nhân có trình độ thấp phải học chương trình cao hơn gây khó hiểu, mất hứng thú học tập

 Nơi cư trú

Nơi cư trú của phạm nhân thường là nơi tiếp nhận phạm nhân sau khi chấp hành xong hình phạt tù Phạm nhân khi chấp hành án tại trại giam luôn có tâm lý lo

Trang 40

sợ, e ngại khi đối diện với cộng đồng và môi trường nơi họ đã từng sinh sống Nơi

cư trú này có sự tồn tại của những người đã từng là nạn nhân của người phạm tội, cũng là nơi ẩn náu những nguy cơ tái phạm cao nhất Bởi vì, khi trở về đây, phạm nhân lại có dịp tiếp xúc với những người, môi trường và tình huống dễ phạm tội ví

dụ như bạn nhậu chung, bạn đánh bạc, đánh đề, sử dụng ma túy Bên cạnh đó, người dân ở địa phương nơi phạm nhân từng sống cũng có tâm lý cảnh giác, khinh miệt đối với phạm nhân Đây là những tình huống dễ phát sinh mâu thuẫn, tạo tâm

lý tiêu cực khiến phạm nhân dễ tái phạm tội Do đó, ngay trong thời gian cải tạo trong trại giam, cần phải khuyến khích sự hợp tác của địa phương, làm công tác tư tưởng trước khi đưa phạm nhân tái hoà nhập cộng đồng

Nơi cư trú của phạm nhân cũng là cơ sở giúp định hướng nghề nghiệp cho phạm nhân Khi xây dựng chính sách dạy nghề cho phạm nhân cần nghiên cứu những nhu cầu việc làm tại địa phương nơi phạm nhân sẽ trở về để có sự định hướng và giáo dục cho phù hợp

 Nghề nghiệp

Phạm nhân dù trước đó đã có việc làm hay không có việc làm ổn định sau khi cải tạo ở trại giam thường sẽ rơi vào tình huống khó khăn trong việc tìm kiếm công việc nuôi sống bản thân Do đó, phạm nhân cần phải được định hướng nghề nghiệp ngay trong thời gian chấp hành án Việc định hướng nghề nghiệp cho phạm nhân (nếu được) thì nên dựa trên nhu cầu của họ Nếu phạm nhân đã có nghề nghiệp ổn định trước khi chấp hành án thì nên tạo điều kiện để họ được lao động với công việc phù hợp với chuyên môn Nếu phạm nhân chưa có nghề nghiệp ổn định trước đó thì phải có phương pháp định hướng nghề nghiệp cho phạm nhân, khuyến khích họ lựa chọn công việc phù hợp với năng lực, sở thích và điều kiện việc làm sau này của họ

 Tín ngưỡng – tôn giáo

Nếu một phạm nhân tin theo một tín ngưỡng hoặc một tôn giáo nào đó thì hành vi của họ có xu hướng chịu sự chi phối của tín ngưỡng đó Nắm bắt được tín ngưỡng của phạm nhân giúp công tác giáo dục phạm nhân dễ dàng hơn thông qua

sự tự nguyện cải tạo và học tập từ chính phạm nhân

 Những đặc điểm nhân thân thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội

của phạm nhân và khả năng cải tạo

Đây không phải là những đặc điểm nhân thân bẩm sinh của phạm nhân, những đặc điểm này gắn với phạm nhân sau khi họ bị kết án, thể hiện tính chất nguy

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân, 1990 (Basic Principles for the Treatment of Prisoners) đƣợc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết 45/111 ngày 14/12/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân, 1990
21. Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 (Body of Principles for the Protection of All Persons under Any Form of Detention or Imprisonment) đƣợc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988
22. Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do, 1990 (United Nations Rules for the Protection of Juveniles Deprived of their Liberty) đƣợc Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 45/113 ngày 14/12/1990) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do, 1990
24. Công ước Chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác (United Nations Convenetion against Torture and other Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước Chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo làm mất phẩm giá khác
25. Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên) (2012), Bình luận khoa học Luật Thi hành án Hình sự, NXB. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Thi hành án Hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh (chủ biên)
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2012
26. Huỳnh Thị Kim Ánh (2010), Thi hành án phạt tù có thời hạn – giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù có thời hạn ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hành án phạt tù có thời hạn – giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án phạt tù có thời hạn ở Việt Nam
Tác giả: Huỳnh Thị Kim Ánh
Năm: 2010
27. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa IX) (2003), Chỉ thị số 32/CT/TW ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phố biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 32/CT/TW ngày 09/12/2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phố biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa IX)
Năm: 2003
28. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa XI) (2011), Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 Về kết quả thực hiện chỉ thị số 32/CT/TW ngày 09/12/200 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) (2003) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phố biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 Về kết quả thực hiện chỉ thị số 32/CT/TW ngày 09/12/200 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) (2003) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phố biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa XI)
Năm: 2011
29. Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khóa VII (1992), Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII về “Vấn đề QCN và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 12/CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa VII về “Vấn đề QCN và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”
Tác giả: Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khóa VII
Năm: 1992
30. Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI (2016), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa XI
Năm: 2016
32. Bộ Công an - Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp (2012), Tài liệu tập huấn chuyên sâu luật thi hành án hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn chuyên sâu luật thi hành án hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan
Tác giả: Bộ Công an - Tổng cục cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2012
34. Bộ Công an – Cục V26 (2007), Hội nghị các cán bộ lãnh đạo quản lí trại giam khu vực châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 27 (APCCA 27), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị các cán bộ lãnh đạo quản lí trại giam khu vực châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 27 (APCCA 27)
Tác giả: Bộ Công an – Cục V26
Năm: 2007
35. Bộ Công an (2009), Quyết định số 4051/QĐ-BCA ngày 11/12/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4051/QĐ-BCA ngày 11/12/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2009
36. Bộ Công an (2010), Quyết định số 35/QĐ-BCA ngày 05/11/2010 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tố chức bộ máy của Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 35/QĐ-BCA ngày 05/11/2010 Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tố chức bộ máy của Cục Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2010
37. Bộ Công an (2011), Thông tư số 40/2011/TT-BCA ngày 27/6/2011 Quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 40/2011/TT-BCA ngày 27/6/2011 Quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2011
38. Bộ Công an (2013), Báo cáo tổng kết công tác điều tra, khảo sát người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, giai đoạn 2002 -2012 theo Kế hoạch số 16/KH-BCA ngày 02/12/2012 của Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác điều tra, khảo sát người chấp hành xong án phạt tù về cư trú tại địa phương, giai đoạn 2002 -2012 theo Kế hoạch số 16/KH-BCA ngày 02/12/2012 của Bộ Công an
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2013
39. Bộ Công an (2013), Công văn số 148/C81-C86 ngày 30/01/2013 Hướng dẫn việc dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 148/C81-C86 ngày 30/01/2013 Hướng dẫn việc dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2013
40. Bộ Công an (2013), Thông tư số 39/2013/TT-BCA ngày 25/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an Quy định về việc giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành án phạt tù, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 39/2013/TT-BCA ngày 25/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an Quy định về việc giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành án phạt tù
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2013
41. Bộ Công an- Bộ Quốc phòng- Bộ Tƣ pháp- Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012), Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDVĐT ngày 06/02/2012 Hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDVĐT ngày 06/02/2012 Hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân
Tác giả: Bộ Công an- Bộ Quốc phòng- Bộ Tƣ pháp- Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2012
42. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w