Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đại biểu dân cử là người được cử tri trực tiếp bầu chọn để đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; thay mặt nhân dân thực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
***
LÝ HỒNG HUẤN
MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA ĐẠI BIỂU DÂN CỬ VỚI CỬ TRI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Văn Nhiêm
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2cử tri” là công trình nghiên cứu khoa học do chính tác giả thực hiện dưới sự
hướng dẫn của Tiến sĩ Vũ Văn Nhiêm Những thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc rõ ràng
Lý Hồng Huấn
Tác giả luận văn
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 6
7 Bố cục của luận văn 7
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA ĐẠI BIỂU DÂN CỬ VỚI CỬ TRI 8
1.1 Khái niệm cử tri và đại biểu dân cử 8
1.1.1 Khái niệm cử tri 8
1.1.2 Khái niệm đại biểu dân cử 9
1.2 Địa vị pháp lý của cử tri và đại biểu dân cử 11
1.2.1 Địa vị pháp lý của cử tri 11
1.2.2 Địa vị pháp lý của đại biểu dân cử 16
1.3 Nội dung mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri 22
1.3.1 Bầu cử đại biểu dân cử 22
1.3.2 Bãi nhiệm (bãi miễn) đại biểu dân cử 27
1.3.3 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan dân cử 29
1.3.4 Tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử 31
1.3.5 Tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của đại biểu dân cử 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA ĐẠI BIỂU DÂN CỬ VỚI CỬ TRI VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 38
Trang 42.1 Thực trạng bầu cử đại biểu dân cử và các giải pháp hoàn thiện 38
2.1.2 Thực trạng bầu cử đại biểu dân cử 38
2.1.2 Các giải pháp hoàn thiện chế độ bầu cử đại biểu dân cử 44
2.2 Thực trạng bãi nhiệm đại biểu dân cử và giải pháp hoàn thiện 48
2.2.1 Thực trạng bãi nhiệm đại biểu dân cử 48
2.2.2 Các giải pháp hoàn thiện việc bãi nhiệm đại biểu dân cử 49
2.3 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại các cơ quan dân cử và các giải pháp hoàn thiện 50
2.3.1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại các cơ quan dân cử 50
2.3.2 Các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại các cơ quan dân cử 54
2.4 Thực trạng tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử và các giải pháp hoàn thiện 55
2.4.1 Thực trạng tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử 55
2.4.2 Các giải pháp hoàn thiện việc tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử 62
2.5 Thực trạng tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của đại biểu dân cử và các giải pháp hoàn thiện 66
2.5.1 Thực trạng tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân 66
2.5.2 Các giải pháp hoàn thiện việc tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi giành được độc lập, xóa bỏ ách thống trị của chế độ thực dân phong kiến, lần đầu tiên quyền làm chủ của nhân dân ta đã được thừa nhận
và quy định trong Hiến pháp năm 1946:“Nước Việt Nam là một nước dân chủ
cộng hòa Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.1
Trên cơ sở kế thừa và phát triển tư tưởng tiến bộ đó, các bản Hiến pháp tiếp theo từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp năm 1980 và hiện nay là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ
sung năm 2001) của nước ta đều khẳng định:“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân ”2
Tuy
nhiên, nhân dân không thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mọi lúc mọi nơi mà bầu ra những người đại diện để thay mặt họ thực thi quyền lực
ấy, những người đó chính là các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân
dân các cấp, thường được gọi chung bằng một thuật ngữ là“Đại biểu dân cử”
Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, đại biểu dân cử là người được cử tri trực tiếp bầu chọn để đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại các cơ quan dân cử; đồng thời phải liên hệ chặt chẽ và chịu sự giám sát của cử tri; kịp thời thu thập và phản ánh trung thực ý kiến và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước hữu quan; góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt Hiến pháp, pháp luật; tham gia vào việc quản lý nhà nước và quản lý xã hội Như vậy, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính hữu cơ, biện chứng giữa “cử tri” là người chủ thật sự của quyền lực nhà nước với “đại biểu dân cử” là người được cử tri chọn lựa thông qua bầu cử để thay mặt cho cử tri và nhân dân thực thi quyền lực tại các cơ quan dân cử Đây là mối quan hệ mang tính “máu thịt” rất chặt chẽ, khi quan hệ đó tốt sẽ là cơ sở vững chắc để các cơ quan dân cử quyết định các chủ trương, chính sách phù hợp với
1 Điều 1 Hiến pháp năm 1946
Trang 6lợi ích của cử tri và nhân dân; ngược lại, nếu quan hệ đó thiếu vững chắc sẽ tạo
ra những rào cản trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước của nhân dân; làm giảm lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước
Qua theo dõi hoạt động của các đại biểu dân cử thời gian gần đây có thể nhận thấy mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri từng bước được tăng cường, đại biểu sau khi được cử tri bầu chọn đã tích cực cùng với các cơ quan dân cử thực hiện tốt vai trò và chức năng, nhiệm vụ của mình, đáp ứng được lòng tin, sự kỳ vọng của cử tri và nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập, cụ thể như: Vẫn còn tình trạng áp đặt trong việc bầu chọn ra các đại biểu dân cử; hoạt động của không ít các đại biểu dân cử hiện nay còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao; các hoạt động giữ mối liên hệ với cử tri phổ biến nhất là tiếp xúc cử tri và tiếp công dân còn
“khá nhàm chán và kém hiệu quả”3, tình trạng tiếp xúc với “đại cử tri” hay “cử tri chuyên nghiệp” diễn ra ở nhiều địa phương, thậm chí có trường hợp “thờ ơ” của đại biểu dân cử trước những vấn đề bức xúc mà cử tri và dư luận xã hội đặt
ra.4 Ngoài ra, việc thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri và nhân dân mặc dù được Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quy định trong nhiều năm qua nhưng chưa được thực thi trên thực tế
Trong quá trình đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri không những giải quyết kịp thời những hạn chế, bất cập nêu trên mà còn góp phần hoàn thiện thể chế dân chủ đại diện, phát huy cao nhất quyền làm chủ của nhân dân; nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử trong hệ thống chính trị
Xuất phát từ những yêu cầu đó, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri” làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình
3 Lương Anh Tế-Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hải Dương (2012), “Để hoạt động tiếp
xúc cử tri của đại biểu dân cử không rơi vào hình thức”, Báo điện tử Đại biểu nhân dân, số 133 ngày 12
tháng 5 năm 2012, tr1-3
4 Điển hình như vụ cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng mà tác giả Nguyên Lâm có bài
viết “Vụ Tiên Lãng: Đại biểu dân cử sao ít lên tiếng” đăng trên Báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh điện
tử, số ra ngày 21/02/2012 là một minh chứng điển hình cho tình trạng này
Trang 72 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay, số lượng công trình nghiên cứu và tác giả đề cập đến hình thức dân chủ đại diện nói chung, hoạt động của các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử nói riêng khá nhiều, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu mang tính tiêu biểu sau:
- Phạm Văn Cành (2007), Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với việc
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Luận văn thạc sỹ luật
học, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Tất Thành Cang (2009), Tổ chức Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh: Thực trạng và đổi mới, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học
luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Trần Thị Hạnh Dung (2009), Chức năng đại diện của Quốc hội Nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học
luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Sĩ Dũng (2004), Quyền giám sát của Quốc hội - Nội dung và
thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, NXB Tư pháp, Hà Nội
- Trần Ngọc Đường (2001), Quyền giám sát tối cao và một số suy nghĩ
về việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Kỷ yếu khoa học đề tài cấp bộ năm 2000-2001, Tăng cường hoạt
động giám sát của Quốc hội nước ta hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
- Trần Ngọc Đường (2005) Báo cáo tổng quan Đề tài KX 04.04 Xây
dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước
ta, Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước giai đoạn 2001-2005
- Trương Thị Hồng Hà (2007), Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức
năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận án
tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
- Đinh Thanh Hương (2013), “Những đảm bảo cho đại biểu Quốc hội và
Trang 8các kiến nghị bổ sung”, Nghiên cứu lập pháp, số 12 (244) năm 2013
- Nguyễn Quang Hương (2006), Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng
lực đại diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật
học, Viện Nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam
- Nguyễn Đức Lam (2005), Để tiến tới chuyên nghiệp, Quốc hội Việt
Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Tư pháp
- Nguyễn Thanh Minh (2006), Chức năng giám sát của Hội đồng nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh: Lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học,
Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Vũ Văn Nhiêm (2011), iáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền,
Nhà xuất bản Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Tào Thị Quyên (2008), “Quyền bãi miễn đại biểu dân cử theo pháp luật
Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp, số 3 (129) năm 2008
- Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), Tổ chức và hoạt động của Thường trực
Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh), Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí
Minh
- Nguyễn An Thính (2009), Tổ chức và hoạt động của các Ban Hội đồng
nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường
Đại học luật Thành phố Hồ Chí Minh
- Nguyễn Thị Thủy (2009), Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội ở nước
ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Thành phố Hồ Chí
Minh
- Nguyễn Anh Vũ (2011), Quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam:
Lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học luật Thành phố
Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó, ở cấp độ quốc gia còn có cả Dự án “Tăng cường năng lực
cho các cơ quan dân cử ở Việt Nam” do Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) và một số nước như Thụy Sĩ, Canada, Phần Lan tài trợ nhằm nghiên
Trang 9cứu, khảo sát, đánh giá và đưa ra các giải pháp tăng cường năng lực hoạt động của Quốc hội trong việc thực thi các chức năng theo quy định của Hiến pháp, góp phần tăng cường tính công khai và trách nhiệm giải trình, đồng thời hỗ trợ quá trình phân cấp quản lý, với trọng tâm là Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Ngoài
ra, còn có rất nhiều bài viết, tham luận được trình bày tại các hội nghị, hội thảo khoa học do Viện nghiên cứu lập pháp, Ban Công tác đại biểu trực thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các Ủy ban chuyên trách của Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức tại các khu vực Bắc - Trung - Nam để góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân
cử trong cả nước Gần đây nhất, Quốc hội khóa XIII cũng đã thông qua Nghị quyết số 27/2012/NQ-QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 nhằm cải tiến, đổi mới
để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói chung, hoạt động của đại biểu Quốc hội nói riêng trong nhiệm kỳ mới Đồng thời, Hội đồng nhân dân các cấp trong cả nước cũng đã ban hành nhiều Nghị quyết để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử tại từng địa phương.5
Qua lượt khảo lịch sử nghiên cứu nêu trên, tác giả nhận thấy hầu hết các
đề tài này chủ yếu nghiên cứu về cơ cấu tổ chức; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan dân cử và đại biểu dân cử; việc vận hành chế độ bầu
và bãi nhiệm đại biểu dân cử hiện hành, Trong khi đó vẫn chưa có bất kỳ công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về mối quan hệ
pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri Vì vậy, việc chọn đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri” sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý
luận và pháp lý, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa hai chủ thể này trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề sau:
- Cơ sở lý luận và pháp lý về mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri
5 Chẳng hạn như đầu nhiệm kỳ 2011-2016, Hội đồng nhân dân tỉnh Long An khóa VIII đã thông qua Nghị quyết số 46/2012/NQ-HĐND ngày 12 tháng 7 năm 2012 về việc thực hiện Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao
Trang 10- Thực trạng mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri theo quy định của pháp luật
- Những giải pháp hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ pháp lý
giữa đại biểu dân cử với cử tri
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về mối
quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa hai chủ thể này trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, để làm rõ cơ sở thực tiễn, đề tài đã dẫn chiếu các
số liệu, báo cáo và các bài viết liên quan đến hoạt động của Quốc hội, đại biểu Quốc hội các khóa XII, XIII và Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân
tỉnh Long An các khóa VII, VIII
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài là một công trình nghiên cứu tương đối có hệ
thống cơ sở lý luận và pháp lý về mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với
cử tri; đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa hai chủ thể này trong giai đoạn hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà
lập pháp hướng đến việc hoàn thiện mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử
Trang 11với cử tri, đồng thời giúp cho Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có thêm những giải pháp mang tính khoa học nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử nói chung và đại biểu dân cử nói riêng tại địa phương
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 02 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri và các giải pháp hoàn thiện
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ MỐI QUAN HỆ PHÁP LÝ
GIỮA ĐẠI BIỂU DÂN CỬ VỚI CỬ TRI 1.1 Khái niệm cử tri và đại biểu dân cử
1.1.1 Khái niệm cử tri
Theo Từ điển tiếng Việt, cử tri là người có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước6
Khái niệm này gắn liền với quá trình phát triển của một xã hội dân chủ, trong đó Nhà nước được hình thành thông qua chế độ bầu cử theo các nguyên tắc dân chủ, tiến bộ là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín
Ở nước ta, cơ sở lý luận về cử tri cũng được hình thành từ rất sớm trên
cơ sở các quy định mang tính pháp lý đầu tiên của Nhà nước Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, một trong những công việc quan trọng đầu tiên Bác Hồ đề nghị Chính phủ Cách mạng lâm thời phải tập trung giải quyết là tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc dân Đại hội Người khẳng
định:“Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức
càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu”.7
Trên tinh thần đó, thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời, Bác Hồ lần lượt ký các Sắc lệnh số 14 ngày 08/9/1945 và Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 để tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước Chủ thể thực hiện quyền bầu cử trong cuộc
Tổng tuyển cử đó không ai khác chính là các cử tri, cụ thể: “Mỗi cử tri chỉ được
đi bầu một nơi hoặc ở nguyên quán, hoặc ở một nơi mà cử tri đã trú ngụ ít nhất
là 3 tháng tính đến ngày bầu cử”8
và nội hàm được quy định tại Điều thứ 2 Sắc
lệnh số 51:“Tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt
nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử, trừ những người điên, những người hành khất chuyên môn, hay là những người do một hội thiện nào nuôi dưỡng vĩnh viễn và những người bị can án mà không được hưởng sắc lệnh đại xá của Chính phủ dân chủ cộng hòa” Khái niệm đó đã được kế thừa và quy định trực
6
Vietlex Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẳng, tr 371
7 Văn phòng Quốc hội (2006), Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển, Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, tr 70
8 Điều thứ 17 Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa về ấn định thể lệ Tổng tuyển cử bầu Quốc dân đại hội
Trang 13tiếp trong văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp (từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và hiện nay là Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến các văn bản pháp luật về bầu cử và tổ chức, hoạt động của các cơ quan dân cử Chẳng hạn theo
quy định tại Điều 54 Hiến pháp hiện hành quy định: “Công dân nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử theo quy định của pháp luật” Khi công dân có
quyền bầu cử thì được ghi tên vào danh sách cử tri trong các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Tóm lại, từ những phân tích trên đây cho thấy cử tri là một chủ thể pháp
lý có vị trí và vai trò rất quan trọng, chính họ là những người bầu chọn ra các đại biểu dân cử cấu thành nên các cơ quan quyền lực nhà nước, để từ các cơ quan này thiết lập ra các cơ quan khác của Bộ máy nhà nước
1.1.2 Khái niệm đại biểu dân cử
Trong Từ điển tiếng Việt có các khái niệm:“Đại biểu là người được cử tri
cử để thay mặt cho một tập thể tham gia vào việc gì hoặc làm việc gì” và “dân cử
có nghĩa là do nhân dân bầu ra”9
Trong khoa học chính trị và khoa học pháp lý
còn có khái niệm “quy chế đại biểu” có nghĩa là giao phó, ra lệnh, ủy quyền, là
việc một người cho phép một người khác quyền được thực hiện những quyết định pháp lý nhất định Quy chế đại biểu là sự thể hiện mối quan hệ giữa những người đại biểu với các cử tri đã bầu ra họ trong chế độ dân chủ đại diện.10
Hiện nay, mặc dù khái niệm “đại biểu dân cử” chưa mang tính pháp lý
nhưng khái niệm đó được sử dụng khá phổ biến trong các hội nghị, hội thảo khoa học và các bài viết trên các tạp chí và phương tiện truyền thông đại chúng khi luận bàn về hình thức dân chủ đại diện nói chung, tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử nói riêng, khi đó nội hàm của khái niệm này được hiểu là đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
9
Vietlex Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẳng, tr 371-447
10 Đào Trí Úc (2012), “Trách nhiệm của đại biểu Quốc hội đối với hoạt động có hiệu quả của chế độ dân chủ
đại diện” tại Hội thảo Tổ chức bộ máy Nhà nước, chế định kinh tế, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
trong Hiến pháp năm 1992 – Những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung do Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban
Trang 14Thứ nhất, đại biểu Quốc hội là “những công dân ưu tú trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội được nhân dân cả nước tín nhiệm bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do.”11
Đó là những đại biểu chân chính của nhân dân, được nhân dân bầu ra để thay mặt họ thực hiện quyền lực nhà nước Đại biểu Quốc hội có địa vị pháp lý đặc biệt, vừa là người đại diện của nhân dân vừa là thành viên cấu thành nên Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.12
Theo quy định tại Điều 97 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001): “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân
dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước” Tuy nhiên, để được bầu làm đại biểu Quốc hội phải hội
đủ các điều kiện sau đây: Phải là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 21 tuổi trở lên; trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật; có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm và có điều kiện tham gia vào các hoạt động của Quốc hội.13
Tính đến thời điểm hiện nay, cử tri cả nước đã lần lượt bầu ra đại biểu Quốc hội các khóa: Khóa I (1946-1960) có 403 đại biểu (trong đó chỉ có 333 đại biểu được cử tri trực tiếp bầu chọn, 70 đại biểu không qua bầu cử), khóa II (1960-1964) có 453 đại biểu, khóa III (1964-1971) có 453 đại biểu, khóa IV (1971-1975) có 420 đại biểu, khóa V (1975-1976) có 424 đại biểu, khóa VI (1976-1981) có 492 đại biểu, khóa VII (1981-1987) có 496 đại biểu, khóa VIII
11 Trường đại học luật Hà Nội (2012), iáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Trang 15(1987-1992) có 496 đại biểu, khóa IX (1992-1997) có 395 đại biểu, khóa X (1997-2002) có 450 đại biểu, khóa XI (2002-2007) có 498 đại biểu, khóa XII (2007-2011) có 493 đại biểu và Quốc hội khóa XIII (2011-2016) có 500 đại biểu (hiện còn 499 đại biểu).14
Thứ hai, đại biểu Hội đồng nhân dân là người do cử tri bầu ra để đại diện
cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương15 Đại biểu Hội đồng nhân dân vừa là người đại diện cho nhân dân, vừa là thành viên cấu thành Hội đồng nhân dân - cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Tương tự như đại biểu Quốc hội, để được bầu làm đại biểu Hội đồng nhân dân phải là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 21 tuổi trở lên và có đầy đủ các tiêu chuẩn sau: Trung thành với Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và xây dựng, phát triển địa phương; có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật khác, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Hội đồng nhân dân, có khả năng tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách pháp luật; am hiểu tình hình kinh tế -
xã hội để tham gia quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm;
có điều kiện tham gia vào các hoạt động của Hội đồng nhân dân.16
1.2 Địa vị pháp lý của cử tri và đại biểu dân cử
1.2.1 Địa vị pháp lý của cử tri
1.2.1.1 Vị trí, vai trò của cử tri
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, bởi vì quyền lực gốc là quyền lực của nhân dân Do đó, trong quá trình xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định:
14 http://dbqh.na.gov.vn/thong-tin-bau-cu/XIII.aspx
15 Điều 121 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Trang 16NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.17
Quyền lực đó của nhân dân được đảm bảo thực hiện bằng các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, chẳng hạn
tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã quy định:“Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.” Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua
hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.18
Đặc biệt, thông qua chế độ bầu cử với các nguyên tắc dân chủ là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, nhân dân có đủ điều kiện trở thành các cử tri được sử dụng lá phiếu của mình để chọn ra những đại biểu dân cử và ủy thác cho họ thực thi quyền lực nhà nước của nhân dân Vì vậy, trong mối quan hệ mang tính pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri, cử tri luôn
có vị trí và vai trò tối thượng, là người chủ thật sự của quyền lực nhà nước, trong khi đó đại biểu dân cử chỉ là những người được cử tri ủy quyền để thực thi các quyền lực ấy mà thôi
1.2.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của cử tri
Với vị trí và vai trò đặc biệt, cử tri có các nhiệm vụ và quyền hạn trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Tuy nhiên, trong phạm vi
17 Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (Đồng chủ biên) (2008), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân – Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr 101
18
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011)
Trang 17nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đề cập đến những nhiệm vụ và quyền hạn mang tính cơ bản nằm trong mối quan hệ pháp lý với đại biểu dân cử được Hiến pháp
và pháp luật qui định
Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ bầu cử của cử tri, đó là quy định của pháp
luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu để đại diện cho mình tại các cơ quan quyền lực nhà nước Trong xã hội dân chủ thì quyền bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân, được khẳng định trong Tuyên ngôn quốc tế về Quyền con người của Liên hợp quốc và quy định cụ thể trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà nước ta đã gia nhập
từ rất sớm, cụ thể tại Điều 25 Công ước khẳng định:“Mọi công dân, không có
bất k sự phân biệt nào và không có sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền
và cơ hội để: a) Tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những người đại diện được họ tự do lựa chọn; b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định k chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đ ng và b phiếu kín nhằm bảo đảm cho cử tri tự do bày t ý nguyện của mình.”19
Đồng thời, Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc cũng khẳng định:“Cũng
như quyền ứng cử, quyền b phiếu chỉ có thể bị hạn chế hợp lý và mọi Nhà nước phải có các biện pháp cần thiết, có hiệu quả để mọi công dân thực hiện quyền của họ.”20
Theo pháp luật hiện hành, quyền bầu cử của cử tri bao gồm cả việc đề
cử, giới thiệu ứng cử và bỏ phiếu, tức là quyền chủ động để lựa chọn của công dân Ở nước ta, quyền bầu cử là quyền mang tính hiến định, được quy định lần
đầu tại Điều 18 Hiến pháp năm 1946:“Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở
lên, không phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền", cho đến hiện nay quyền đó tiếp tục được khẳng
định tại Điều 54 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):“Công dân,
không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình
độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử.” Tuy nhiên, quyền bầu cử của cử tri không được tách rời khỏi nghĩa vụ của
Trang 18họ, bởi cử tri là người chủ của quyền lực nhà nước thì chính họ cũng phải có trách nhiệm trong việc bầu chọn ra những người đại diện cho mình để thực hiện quyền lực nhà nước tại các cơ quan dân cử
Thứ hai, quyền được tiếp xúc với các đại biểu dân cử thông qua các hoạt
động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, gặp gỡ, đối thoại,.v.v Quyền này của cử tri gắn liền với nghĩa vụ của mỗi đại biểu dân cử, bởi nhiệm vụ quan trọng nhất của các đại biểu là đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, sau khi được cử tri bầu chọn, đại biểu phải thường xuyên giữ mối liên hệ, gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri đã bầu ra mình để kịp thời tiếp nhận những thông tin, ý kiến, kiến nghị từ thực tiễn cuộc sống, đồng thời chuyển tải đầy đủ, trung thực những ý kiến, kiến nghị đó đến các cơ quan dân cử và các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật
Thứ ba, quyền yêu cầu, kiến nghị những vấn đề liên quan đến hoạt động
của Bộ máy nhà nước và các lĩnh vực của đời sống xã hội để đại biểu thu thập, phản ánh đến các cơ quan nhà nước xem xét giải quyết thông qua các hình thức giữ mối liên hệ với cử tri của đại biểu dân cử Điều này xuất phát từ hình thức dân chủ đại diện mà thông qua chế độ bầu cử, cử tri bầu ra những đại biểu để đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình Tuy nhiên, quyền yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật, phù hợp với các giá trị tiến
bộ của xã hội, tránh lợi dụng quyền yêu cầu, kiến nghị vì mục đích cá nhân làm phương hại đến các quan hệ pháp luật khác
Thứ tư, quyền bãi nhiệm (hay bãi miễn) đại biểu dân cử nếu đại biểu đó
không còn xứng đáng với sự tín hiệm của cử tri và nhân dân Đây là hình thức thể hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân Theo V.I Lênin, quyền bãi nhiệm
là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chế độ dân chủ, thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc này sẽ làm tăng thêm trách nhiệm của đại biểu đối với cử tri và xã hội, tức là thực hiện sự phục tùng thực sự của những người được bầu đối với nhân dân, là nguyên tắc nhằm thực hiện triệt để chế độ dân chủ, đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân 21
Thông qua quyền bãi nhiệm đại biểu, cử tri thể hiện sự bất tín nhiệm đối với những đại biểu
21 Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (Đồng chủ biên) (2008), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân – Lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, tr 77
Trang 19dân cử không hoàn thành sứ mệnh là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm cho chế độ dân chủ được thực hiện một cách hoàn toàn và triệt để
Quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử ở nước ta được thiết lập dựa trên nguyên tắc mang tính tối thượng đó là tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực của mình hoặc gián tiếp thông qua những người đại diện là các đại biểu dân cử Việc các đại biểu thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau khi được cử tri bầu chọn thực chất là thực hiện quyền lực do nhân dân giao cho, ủy thác cho Theo V.I Lênin, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử trên nguyên tắc ủy quyền mệnh lệnh Theo nguyên tắc này,
cử tri thông qua bầu cử đã trao ủy nhiệm thư cho các đại biểu dân cử Đại biểu dân cử phải đại diện cho cử tri trên cơ sở và trong khuôn khổ ủy nhiệm thư của nhân dân Nếu đại biểu dân cử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng ủy nhiệm thư, tức là đại biểu đó không hoàn thành vai trò là người đại diện của nhân dân, không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân và do đó nhân dân có quyền tước đi tư cách đại biểu của đại biểu đó.22
Ở nước ta, quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử của cử tri luôn được đề cao
và hiến định từ rất sớm, bắt đầu từ Hiến pháp 1946 mà cụ thể là tại Điều thứ 20
quy định:“Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu mình đã bầu ra, theo Điều
thứ 41 và 61”, và cho đến nay quyền đó tiếp tục được khẳng định tại Điều 7
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):“Đại biểu Quốc hội bị cử tri
hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân.” Như vậy, quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử có thể được cử tri thực
hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các cơ quan dân cử là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Tuy nhiên, để cử tri trực tiếp bãi nhiệm đối với các đại biểu dân cử khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của họ là một vấn đề cần được nghiên cứu làm rõ hiện nay
22 Tào Thị Quyên (2008), “Quyền bãi miễn đại biểu dân cử theo pháp luật Việt Nam”, Nghiên cứu lập pháp,
Trang 201.2.2 Địa vị pháp lý của đại biểu dân cử
Như đã phân tích trong phần khái niệm, đại biểu dân cử là khái niệm mang tính khái quát có nội hàm là đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp Do đó, để làm rõ địa vị pháp lý của đại biểu dân cử cần phải làm rõ địa vị pháp lý của hai chủ thể này
1.2.2.1 Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội
Thứ nhất, vị trí, vai trò của đại biểu Quốc hội
Đại biểu Quốc hội có vị trí pháp lý rất đặc biệt, vừa là người đại diện của nhân dân cả nước vừa là đại biểu cấu thành Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta hiện nay Đại biểu Quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với nhân dân, vừa chịu trách nhiệm trước cử tri đã bầu ra mình, vừa chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội Vì vậy, khi làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội không chỉ xuất phát từ lợi ích chung của cả nước
mà còn phải quan tâm thích đáng đến lợi ích của các địa phương đã bầu ra mình
Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội
Hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội ngày 25 tháng 12 năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội ngày 17 tháng 6 năm 2003, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 08/2002-QH111 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc hội, Nghị quyết số 228/NQ-UBTVQH10 ngày 15 tháng 11 năm1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc đại biểu Quốc hội tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân, gốm có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 21- Được sự tín nhiệm của cử tri, đại biểu Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước cử tri đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm
vụ đại biểu của mình, phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri
Để cử tri có thể thực hiện được giám sát đó, đại biểu Quốc hội phải thường xuyên tiếp xúc với cử tri, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri, thu thập và phản ánh trung thực ý kiến của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan, đồng thời báo cáo với cử tri không những về hoạt động của mình mà cả về hoạt động của Quốc hội Mỗi năm ít nhất một lần đại biểu phải báo cáo trước cử tri về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri
- Đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đồng thời có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân và người thân trong gia đình chấp hành pháp luật, tham gia quản lý nhà nước
- Có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của Tổ đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội; tham gia thảo luận
và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội Đại biểu Quốc hội là thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phải có trách nhiệm tham gia các phiên họp, thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội mà mình là thành viên
- Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết Người có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đại biểu Quốc hội về kết quả giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đó trong thời hạn theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người
Trang 22đứng đầu cơ quan hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của
cơ quan đó giải quyết
- Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội theo chương trình và lịch làm việc của Đoàn Đồng thời có nhiệm
vụ thông báo tình hình hoạt động của mình với Chủ tịch Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội nơi mình sinh hoạt và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương
Song song với các nhiệm vụ nêu trên, đại biểu Quốc hội có các quyền hạn của thể sau:
- Quyền quan trọng nhất của đại biểu Quốc hội là tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội tại các kỳ họp của Quốc hội Đại biểu có quyền tham gia thảo luận, tranh luận hoặc tham gia về các vấn đề ghi trong chương trình kỳ họp hoặc những vấn đề được đưa ra thảo luận tại phiên họp toàn thể của Quốc hội, tại các cuộc họp tổ, đoàn hoặc các tổ chức khác của Quốc hội mà các đại biểu Quốc hội
là thành viên Khi phát biểu, đại biểu Quốc hội có thể ủy nhiệm hoặc thay mặt Đoàn đại biểu Quốc hội, thay mặt toàn thể tổ chức của mình hoặc nhân danh cá nhân với tư cách đại biểu của nhân dân Ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội được ghi vào biên bản, tổng hợp và sử dụng Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm
về ý kiến phát biểu của mình Đại biểu Quốc hội không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những lời phát biểu của mình trước Quốc hội
- Có quyền sáng kiến lập pháp, tức quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh ra trước Ủy ban thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định
- Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà
án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn
- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân hoặc của công dân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cá
Trang 23nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi trái pháp luật đó Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thông báo cho đại biểu Quốc hội biết việc giải quyết Quá thời hạn nói trên mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị không trả lời thì đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với người đứng đầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên, đồng thời báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
- Khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu, đại biểu Quốc hội có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, có trách nhiệm tiếp và đáp ứng những yêu cầu của đại biểu Quốc hội Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị này không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó giải quyết Nếu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó không giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng thì đại biểu có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định
- Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị với Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
- Đại biểu Quốc hội có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp nơi mình được bầu để nắm tình hình và tìm hiểu ý kiến, nguyện vọng của nhân dân; tham gia ý kiến vào các vấn đề quản lý nhà nước, những vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân địa phương và những vấn đề khác mà đại biểu quan tâm; kiến nghị những biện pháp nhằm đảm bảo thi hành nghiêm chỉnh pháp luật
và quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên; giới thiệu, phổ biến pháp luật của Nhà nước và những nghị quyết của Quốc hội Ngoài ra, đại biểu Quốc hội có quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu cư trú hoặc nơi làm việc khi Hội đồng nhân dân bàn những vấn đề mà đại biểu quan tâm
Bên cạnh các nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản nêu trên, đại biểu Quốc hội còn có các quyền về bầu cử, ứng cử vào các chức danh trong Quốc hội và các cơ
Trang 24quan khác của Nhà nước; các quyền được đảm bảo về mặt tư pháp; quyền xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu và các nhiệm vụ cụ thể khác được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Nội quy kỳ họp Quốc hội
1.2.2.2 Địa vị pháp lý của đại biểu Hội đồng nhân dân
Thứ nhất, vị trí, vai trò của đại biểu Hội đồng nhân dân
Tương tự như đại biểu Quốc hội, biểu Hội đồng nhân dân có vị trí và vai trò rất đặt biệt trong hệ thống chính trị, bởi vì chỉ có đại biểu Hội đồng nhân dân mới được cử tri bầu chọn để thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước trong các cơ quan dân cử ở địa phương Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân và là thành viên cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Do đó, khi làm nhiệm vụ, đại biểu Hội đồng nhân dân vừa chịu trách nhiệm trước cử tri đã bầu ra mình, vừa chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân mà đại biểu là thành viên
Thứ hai, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Hội đồng nhân dân hiện nay được quy định khá cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, gồm có các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau:
- Đại biểu Hội đồng nhân dân được nhân dân địa phương tín nhiệm bầu
ra là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương Vì vậy, phải gương mẫu chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội
- Có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân để tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân
Trang 25- Có trách nhiệm liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị bầu ra mình, chịu sự
giám sát của cử tri ; có trách nhiệm thu thập và phản ánh trung thực ý kiến,
nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của
cử tri Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm tiếp công dân để hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, đồng thời tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố cáo biết Ngoài ra, khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của cử tri phải
có trách nhiệm trả lời cho cử tri biết
Song song với các nhiệm vụ nêu trên, đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện các quyền hạn cụ thể sau:
- Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân trong các kỳ họp, phiên họp của Hội đồng nhân dân
- Có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn
- Có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân kịp thời chấm dứt những việc làm trái pháp luật, chính sách của Nhà nước trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc của cán bộ, công chức, nhân viên cơ quan, tổ chức, đơn vị đó Khi đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu gặp người phụ trách của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn
vị vũ trang nhân dân thì người đó có trách nhiệm tiếp
Trang 26- Có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước về việc thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước và về những vấn đề thuộc lợi ích chung Cơ quan hữu quan có trách nhiệm trả lời kiến nghị của đại biểu
- Có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu
Bên cạnh đó, đại biểu Hội đồng nhân dân còn có các quyền về bầu cử, ứng cử vào các chức danh trong Hội đồng nhân dân và các cơ quan Nhà nước khác ở địa phương; các quyền được đảm bảo về mặt tư pháp; quyền xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu, được quy định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân, Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân và Nội quy kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp
1.3 Nội dung mối quan hệ pháp lý giữa đại biểu dân cử với cử tri
1.3.1 Bầu cử đại biểu dân cử
1.3.1.1 Các nguyên tắc bầu cử đại biểu dân cử
Bầu cử là một hoạt động mang tính xã hội của con người Muốn cho hoạt động này đạt được kết quả thắng lợi, đảm bảo dân chủ thì cần phải tiến hành theo những nguyên tắc nhất định Có những nguyên tắc mang tính chất của mọi hoạt động xã hội của con người nhưng cũng có không ít những nguyên tắc mang tính đặc thù của hoạt động bầu cử Đó là những nguyên tắc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiến và bỏ phiếu kín Các nguyên tắc này thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử được diễn ra một cách khách quan, dân chủ, tiến bộ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu.23
Thứ nhất, nguyên tắc bầu cử phổ thông
Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng, là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá mức độ dân chủ của cuộc bầu cử Nội dung của nguyên tắc này đảm bảo sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, không hạn chế đối với bất kỳ một đối tượng công dân nào, nếu công dân đó đạt được mức độ trưởng thành hoàn chỉnh về mặt nhận thức, cụ thể như theo quy định tại Điều 54 Hiến pháp
23 Trường Đại học luật Hà Nội (2012), iáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 335
Trang 27năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) của nước ta quy định:“Công dân, không
phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử
và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng
quy định một số trường hợp đặc biệt không được tham gia bầu cử chẳng hạn như: Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang phải chấp hành hình phạt tù, người đang bị tạm giam và người mất năng lực hành vi dân sự.24
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc bầu cử phổ thông, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hiện hành đã quy định hàng loạt các biện pháp cụ thể như: Việc thành lập các tổ chức bầu cử phải có sự tham gia rộng rãi của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu phải được ấn định và công
bố trước để nhân dân biết; việc niêm yết và thông báo danh sách cử tri phải được tiến hành một cách công khai nơi công cộng để nhân dân theo dõi; công dân có quyền kiểm tra, khiếu nại về cử tri và danh sách cử tri; việc kiểm phiếu phải được tiến hành công khai,.v.v đảm bảo sự công khai, minh bạch các thông tin về bầu cử cho cử tri và các tầng lớp nhân dân
Thứ hai, nguyên tắc bầu cử bình đ ng
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật là nguyên lý trung tâm của
mọi nền dân chủ Đối với chế độ bầu cử dân chủ, bình đẳng là nguyên tắc mang tính cốt lõi, đảm bảo để mọi công dân có khả năng như nhau tham gia bầu cử, đồng thời nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào và bảo đảm sự khách quan, không thiên vị trong quá trình bầu cử Nếu các nguyên tắc bầu cử phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín diễn ra trong một số giai đoạn nhất định của tiến trình bầu cử thì nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi phải tuân thủ trong suốt quá trình bầu cử từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi kết thúc, tuyên bố kết quả bầu cử Mức độ dân chủ của cuộc bầu cử phụ thuộc chủ yếu vào tiến trình thực hiện nguyên tắc này Trong một chừng mực nào đó, việc thực hiện các nguyên tắc bỏ phiếu kín, phổ thông cũng như nguyên tắc bầu cử trực tiếp cũng là để thực
hiện nguyên tắc bình đẳng và ngược lại
24 Theo qui định tại Điều 23 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2010)
Trang 28Nội dung chủ yếu của nguyên tắc bầu cử bình đẳng đảm bảo cho các cử tri được tham gia vào việc bầu cử đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, các ứng
cử viên được giới thiệu ra ứng cử theo tỷ lệ như nhau, kết quả bầu cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ phiếu cho mỗi ứng cử viên, là cơ sở xác định kết quả trúng cử.25
Ở nước ta, nguyên tắc bầu cử bình đẳng được đảm bảo thực hiện bằng các quy định của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, chẳng hạn như: Mỗi cử tri chỉ được phát một phiếu bầu và giá trị của mỗi phiếu bầu là như nhau, địa vị xã hội, giá trị tài sản của cử tri không ảnh hưởng đến giá trị của phiếu bầu; mỗi cử tri chỉ được ghi tên một lần trong danh sách cử tri ở một đơn vị bầu cử; mỗi người chỉ được lập danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu cử trong một cuộc bầu cử; mỗi ứng cử viên chỉ được ứng cử ở một đơn vị bầu cử nhất định; việc phân chia đơn vị bầu cử phải căn cứ vào dân số các địa phương
Thứ ba, nguyên tắc bầu cử trực tiếp
Nguyên tắc này bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình mà không qua khâu trung gian Cùng với các nguyên tắc khác, nguyên tắc bầu cử trực tiếp là điều kiện cần thiết đảm bảo tính khách quan trong bầu cử
Trên thế giới, không phải nước nào cũng bầu cử theo nguyên tắc trực tiếp, một số nước cử tri bầu ra đại cử tri, đại cử tri mới bầu ra người đại diện, thậm chí có một số nước cho phép cử tri bầu qua đường bưu điện hoặc mạng điện tử Tuy nhiên, trên cơ sở nguyên tắc bầu cử trực tiếp, pháp luật nước ta đã thể chế hóa bằng các quy định nhằm đảm bảo để cử tri trực tiếp thể hiện nguyện vọng của mình, từ khâu đề cử, ứng cử đến khâu bỏ phiếu, cử tri tự mình đi bỏ phiếu bầu, tự tay mình bỏ phiếu vào thùng phiếu, không thông qua bất kỳ một khâu trung gian nào, ngoài những trường hợp ngoại lệ
Thứ tư, nguyên tắc b phiếu kín
Bỏ phiếu kín là nguyên tắc bầu cử phổ biến trên thế giới, nhằm đảm bảo
25 Trường đại học luật Hà Nội (2012), iáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 339
Trang 29cho cử tri được tự do biểu lộ ý chí khi lựa chọn đại biểu, không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện và yếu tố bên ngoài Tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và hiện nay là Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đều ghi nhận nguyên tắc này Để đảm bảo thực hiện, pháp luật bầu cử hiện hành quy định rất rõ: Cử tri phải tự mình viết phiếu, tự mình gạch tên người ứng cử nào mà mình không tín nhiệm ở phiếu bầu được in sẵn, tự mình bỏ phiếu bầu vào hòm phiếu; nơi viết phiếu bầu phải kín, không ai được đến gần cử tri khi đang viết phiếu bầu và tại các khu vực bầu
cử đều có các phòng “gạch” phiếu, phòng bỏ phiếu để cử tri được tự do lựa chọn
1.3.1.2 Trình tự bầu cử đại biểu dân cử
Theo pháp luật về bầu cử hiện hành thì trình tự bầu cử đại biểu dân cử (bao gồm bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân) được thực hiện qua sáu bước cơ bản Tuy nhiên, trong phần phân tích của luận văn, tác giả chỉ dẫn chiếu các bước liên quan đến tiến trình bầu cử đại biểu Quốc hội để làm rõ vấn đề nghiên cứu, bởi theo quy định của Luật số 63/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội số 31/2001/QH10 và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tổ chức trong cùng một ngày và tiến hành theo những bước cơ bản giống nhau
Thứ nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ấn định, công bố ngày bầu cử và
thành lập Hội đồng bầu cử ở trung ương.26
Thứ hai, dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng đại biểu Quốc hội được
bầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương và ở địa phương Căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, để đảm bảo tỷ lệ hợp lý các tầng lớp nhân dân trong Quốc hội, sau khi trao đổi ý kiến với Ban Thường trực Ủy ban Trung tương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, chậm
26 Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Luật số 63/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì chậm nhất là một trăm lẻ năm ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử ở trung
Trang 30nhất là 90 ngày trước ngày bầu cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội được bầu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân,
cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương
Thứ ba, ứng cử và hiệp thương, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc
hội Theo đó, ứng cử đại biểu Quốc hội bao gồm việc đề cử và tự ứng cử, là công đoạn rất quan trọng trong tiến trình bầu cử dân chủ, bởi lẽ đây là giai đoạn “sơ tuyển” trước khi nhân dân trực tiếp lựa chọn Nếu các ứng cử viên không qua được giai đoạn này, đương nhiên không có cơ hội trúng cử, vì trong ngày bầu cử,
cử tri chỉ chọn những người đã được tuyển chọn qua các vòng hiệp thương.27
Theo quy định hiện hành, ứng cử viên đại biểu Quốc hội phải nộp hồ sơ ứng cử chậm nhất là 65 ngày trước ngày bầu cử
Về quy trình hiệp thương, theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2001 và 2010) và Nghị quyết liên tịch số 01/2011/NQLT/UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 08 tháng 02 năm
2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, về việc ban hành Quy trình hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội và ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp quy định: Mặt trận tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và quy trình này được tổ
chức qua “ba vòng”cơ bản: Vòng một: Tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần, số lượng người ra ứng cử; Vòng hai:
Tổ chức Hội nghị hiệp lương lần thứ hai để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ người
ra ứng cử; Vòng ba: Tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ ba để lập danh sách
chính thức những người ứng cử đại biểu
Thứ tư, niêm yết công khai danh sách cử tri và danh sách những người
ứng cử đại biểu Quốc hội, đồng thời thông báo về ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu ở từng địa phương để cử tri và người ứng cử biết
Thứ năm, vận động bầu cử, để thông qua đó người ứng cử được gặp gỡ,
27 Vũ Văn Nhiêm (2011), iáo trình bầu cử trong nhà nước pháp quyền, Nhà xuất bản Đại học quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.177
Trang 31tiếp xúc hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng báo cáo với cử tri
về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; đồng thời tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử, trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, quyết định bầu chọn những người đủ tiêu chuẩn làm đại diện cho mình
Theo pháp luật về bầu cử của nước ta, việc vận động bầu cử phải đảm bảo công khai, dân chủ và bình đẳng, tạo không khí trao đổi thẳng thắn, cởi mở giữa người ứng cử và cử tri; không được lợi dụng vận động bầu cử để tuyên truyền trái với Hiến pháp và pháp luật hoặc làm tổn hạn đến danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác; không biến vận động bầu
cử để khiếu nại, tố cáo hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo; không được lạm dụng
uy tín, chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý phương tiện thông tin đại chúng trong vận động bầu cử; không được lợi dụng vận động bầu cử để vận động tài trợ, quyên góp ở trong nước và nước ngoài cho tổ chức, cá nhân mình Kinh phí vận động bầu cử do ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện nhưng không được
sử dụng tiền, tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân để lôi kéo, mua chuộc cử tri
Bên cạnh đó, xuất phát từ hệ thống chính trị nhất nguyên, do đó việc vận động bầu cử ở nước ta thường chỉ là sự trình bày kế hoạch hành động đơn lẽ của
cá nhân người ứng cử, không phải là sự cạnh tranh “khốc liệt” giữa các Đảng phái chính trị trong hệ thống chính trị đa đảng Chính vì vậy, pháp luật bầu cử hiện hành không sử dụng thuật ngữ “vận động tranh cử” mà là “vận động bầu cử” và không gọi là các ứng cử viên mà gọi là “người ứng cử”
Thứ sáu, tiến hành bầu cử là bước cuối cùng và đặc biệt quan trọng trong
tiến trình bầu cử, thông qua đó cử tri thực hiện quyền chính trị của mình được thể hiện qua từng phiếu bầu để lựa chọn ra người ứng cử nào xứng đáng làm đại diện cho mình tại các cơ quan quyền lực nhà nước
1.3.2 Bãi nhiệm (bãi miễn) đại biểu dân cử
Theo V.I Lênin, bãi nhiệm đại biểu dân cử là quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chế độ dân chủ, thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc này sẽ làm tăng thêm trách nhiệm của đại biểu đối với cử tri và xã hội, tức
Trang 32thực hiện sự phục tùng thực sự của những người được bầu đối với nhân dân, là nguyên tắc nhằm thực hiện triệt để chế độ dân chủ, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân28 Thông qua hình thức bãi nhiệm đại biểu dân cử, nhân dân thể hiện sự bất tín nhiệm của mình đối với những đại biểu dân cử không hoàn thành sứ mệnh là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của họ
Ở nước ta, quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử là quyền mang tính hiến định, được xuất phát từ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực của nhân dân là tối thượng Nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền lực của mình hoặc gián tiếp thông qua những đại biểu dân cử Do đó, song song với quyền bầu cử thì quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử được ghi nhận từ rất
sớm, tại Điều thứ 20 Hiến pháp năm 1946:“Nhân dân có quyền bãi miễn các đại
biểu mình đã bầu ra” Các bản Hiến pháp tiếp theo cũng giữ nguyên quy định
đó, cụ thể tại Điều 7 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy
định:“Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu Hội đồng
nhân dân bị cử tri hoặc Hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử tiếp tục được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về bầu cử và các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử Chẳng hạn như theo quy định tại Điều 56 Luật Tổ chức Quốc hội ngày 25/12/2001 (sửa đổi, bổ sung
năm 2007):“Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi
nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc của cử tri nơi bầu ra đại biểu Quốc hội đó Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định”
Trong khi đó, thủ tục cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định rõ ràng hơn và gần tương tự như thủ tục bầu cử đại biểu Hội đồng nhân
28 Trường đại học luật Hà Nội (2012), iáo trình Luật hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 77
Trang 33dân, cụ thể tại 46 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003 và các Điều 87, Điều 88 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 0 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: Việc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành ở đơn vị bầu cử nơi đại biểu
đó được bầu hoặc nơi đại biểu đó đang sinh hoạt Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.Khi có quá nữa tổng số cử tri ở đơn vị bầu cử bỏ phiếu bãi nhiệm thì đại biểu Hội đồng nhân dân đó mới bị bãi nhiệm Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm thì Thường trực Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp Khi đó, việc bãi nhiệm đại biểu phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành
1.3.3 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại cơ quan dân cử
Sau khi được cử tri bầu chọn, một trong những nhiệm vụ quan trọng của đại biểu dân cử là phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của mình tại các
cơ quan dân cử Bởi vì, chỉ có các đại biểu dân cử mới được cử tri bầu chọn và tin tưởng giao cho trọng trách thay mặt cử tri và nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước tại các cơ quan dân cử Do đó, từ những ý kiến, kiến nghị của cử tri và các yêu cầu phát sinh từ thực tiễn cuộc sống, đại biểu dân cử phải nghiên cứu và
“biến” những điều ấy thành các đề xuất, kiến nghị, đồng thời là cơ sở để đại biểu xem xét thông qua những chủ trương, quyết sách quan trọng tại các diễn đàn của
cơ quan dân cử
Về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu dân cử đã được đề cập khá cụ thể tại các mục 1.2.2.1 và 1.2.2.2 của luận văn Vấn đề đặt ra ở đây là mỗi đại biểu dân cử phải thể hiện các quyền và nhiệm vụ đó như thế nào để đáp ứng được sự
kỳ vọng của cử tri và nhân dân
Thứ nhất, đối với đại biểu Quốc hội - đại biểu dân cử đại diện cho cử tri
và nhân dân cả nước, hoạt động trong Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội ngày 25 tháng 12 năm2001
Trang 34(sửa đổi, bổ sung năm 2007), thông qua việc tham dự các kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội thảo luận, xem xét, quyết định thông qua những vấn đề quan trọng của quốc gia trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách, an ninh quốc phòng, tổ chức Bộ máy nhà nước và xây dựng chính quyền; tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội bằng cách nghiên cứu đề xuất, đóng góp ý kiến
và biểu quyết thông qua Hiến pháp, các nghị quyết và dự án luật để điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội; đồng thời tham gia thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội để theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong việc thi hành Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đặc biệt là thông qua hình thức chất vấn những người có thẩm quyền để góp phần giải quyết hoặc làm
rõ những vấn bức xúc trong xã hội vì quyền lợi của cử tri và sự phát triển chung của đất nước
Ngoài ra, mỗi đại biểu còn được thể hiện phải thể hiện đầy đủ trách nhiệm củ mình thông qua hoạt động chất vấn đối với những người có trách nhiệm trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc được cử tri và đại biểu quan tâm
và thông qua hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.29
Thứ hai, đối với đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp cũng tương tự như
đại biểu Quốc hội nhưng thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn ở phạm vi hẹp hơn Đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình khi tham gia vào các hoạt động của Hội đồng nhân dân để cùng tập thể xem xét, quyết định các chủ trương, biện pháp quan trọng nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tại địa phương, đồng thời làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
Trong quá trình thực thi các nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên, đại biểu dân
cử không chỉ căn cứ vào các quy định của luật pháp mà còn phải dựa trên cơ sở
29
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIII vừa qua, lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc hội đã tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo Nghị quyết số 35/2011/QH13 ngày 21 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn Đây là việc làm chưa có tiền lệ trong hoạt động của các cơ quan dân cử ở nước ta
Trang 35chức năng đại diện cho cử tri và nhân dân Theo đó, đại biểu dân cử phải nghe và nói lên được tiếng nói, nguyện vọng của cử tri tại các diễn đàn cơ quan dân cử để
từ đó thực hiện có hiệu quả các hoạt động lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng và các hoạt động giám sát, chất vấn tại kỳ họp, Có thể nói, kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu tại diễn đàn các cơ quan dân cử sẽ là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ hoàn thành chức năng đại diện của đại biểu trước cử tri và nhân dân
1.3.4 Tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử
Tiếp xúc cử tri là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu dân cử không thể thoái thác cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác, qua đó giúp cho đại biểu hiểu được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm và tiếp nhận các ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhất là nắm bắt kịp thời tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của người dân ngay tại cơ sở Đây cũng là một biện pháp thiết thực nhằm tăng cường mối quan hệ, củng cố lòng tin của nhân dân vào các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
Tiếp xúc cử tri là nghĩa vụ mang tính hiến định, được quy định tại Điều
97 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và cụ thể hóa tại Điều 51 Luật Tổ chức Quốc hội ngày 25 tháng 12 năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Điều 12, 13 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 08/2002-QH11 ngày 16/12/2002 của
Quốc hội và Điều 1 Nghị quyết liên tịch số 525/2012/NQLT/UBTVQH13-
ĐCTUBTW MTTQVN ngày 27 tháng 9 năm 2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam hướng dẫn
về việc đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri: Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thường xuyên tiếp xúc với cử tri để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý kiến, kiến nghị của cử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan Mỗi năm ít nhất một lần, đại biểu Quốc hội phải báo cáo trước cử tri ở đơn vị bầu cử ra mình về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu và chương trình hành động của mình đã hứa trước cử tri Ngoài những đơt tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và sau các kỳ họp Quốc hội, đại biểu Quốc hội cần tiếp xúc cử tri ở nơi cư trú và nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo các chuyên đề, lĩnh vực mà đại biểu Quốc hội quan tâm hoặc trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri
Trang 36Tương tự như đối với đại biểu Quốc hội, hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được quy định tại Điều 121 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và cụ thể hóa tại Điều 39 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003 và Điều 38 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri ở đơn vị
bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri; có trách nhiệm thu thập và phản ánh
trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với
cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri Sau mỗi kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với cử tri về kết quả của kỳ họp, phổ biến và giải thích các nghị quyết của Hội đồng nhân dân, vận động và cùng với nhân dân thực hiện các nghị quyết đó
Về hình thức tiếp xúc cử tri, pháp luật hiện hành đã quy định nhiều hình thức cụ thể như: Tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri định kỳ trước và sau các kỳ họp
cơ quan dân cử nơi đại biểu ứng cử; tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc và tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực đại biểu quan tâm (đối với đại biểu Quốc hội có thêm dạng tiếp xúc cử tri ngoài địa bàn tỉnh, thành phố, nơi đại biểu ứng cử); gặp gỡ, tiếp xúc với cá nhân hoặc nhóm cử tri Tuy nhiên, hình thức tiếp xúc phổ biến nhất hiện nay thường được các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện là tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội và kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp Trong đó, việc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp nhằm hướng đến các mục đích chủ yếu sau:
- Một là, tạo điều kiện cho đại biểu dân cử nắm bắt kịp thời
tâm tư, nguyện vọng và các ý kiến, kiến nghị của cử tri
- Hai là, nắm bắt kịp thời các vấn đề đang đặt ra cho đất nước
và các địa phương Nhờ vậy, các cuộc thảo luận về tình hình phát triển kinh tế- xã hội, thực thi pháp luật, xây dựng chính quyền,.v.v tại các
Trang 37diễn đàn các cơ quan dân cử thường có chất lượng và phản ánh đúng nhu cầu mà cử tri và nhân dân đặt ra
- Ba là, nắm bắt được các thông tin cần thiết phục vụ cho đại
biểu trong các hoạt động giám sát, chất vấn tại kỳ họp, bởi đa số vấn
đề chất vấn của đại biểu tại các diễn đàn cơ quan dân cử thường được thu thập thông qua sự phản ánh của cử tri. 30
Trong khi đó, các cuộc tiếp xúc cử tri sau kỳ họp nhằm hướng đến các mục đích chủ yếu sau:
Một là, để đại biểu báo cáo với cử tri về kết quả kỳ họp, báo cáo về các
chủ trương, chính sách pháp luật vừa được các cơ quan dân cử biểu quyết thông qua Bởi vì, việc ủy quyền của cử tri cho đại biểu bao giờ cũng đi liền với trách nhiệm báo cáo của đại biểu dân cử trước cử tri
Hai là, thông qua hình thức tiếp xúc cử tri sau kỳ họp, đại biểu có điều
kiện phổ biến, giải thích, vận động cử tri và nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước
Ba là, giúp cho đại biểu tìm hiểu thêm tâm tư, nguyện vọng và thu thập
những ý kiến, kiến nghị của cử tri để chuyển đến các cơ quan hữu quan xem xét, giải quyết
Bên cạnh những hoạt động tiếp xúc cử tri chủ yếu nêu trên, trong quá trình hoạt động thì tùy theo điều kiện công tác của mình, mỗi đại biểu dân cử cũng có thể chủ động tạo ra những kênh tiếp xúc khác với cử tri thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hiệp hội, công việc hàng ngày của đại biểu Song song đó, cùng với sự bùng nỗ công nghệ thông tin như hiện nay thì Internet cũng là một công cụ hữu dụng hỗ trợ đắc lực cho các đại biểu dân cử trong việc giữ mối liên hệ với cử tri.31
Trang 38Tóm lại, đại biểu dân cử muốn hoạt động tốt thì phải gần dân, có mối quan hệ mật thiết với nhân dân, mọi hoạt động dân cử phải vì quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri và nhân dân Thực tế cuộc sống thay đổi và nảy sinh nhiều vấn đề mới cần được giải quyết thông qua việc hoàn thiện các công cụ quản lý
và các chính sách pháp luật nhằm định hướng và thúc đẩy sự phát triển Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu đó đòi hỏi phải có sự đổi mới mạnh mẽ nội dung
và hình thức tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử hiện hành, tránh tình trạng rập
khuôn, máy móc hay chỉ tiếp xúc với một bộ phận nhỏ là những “cử tri chuyên
nghiệp” Vấn đề này sẽ được nghiên cứu trong các phần tiếp theo của luận văn
1.3.5 Tiếp công dân; tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân của đại biểu dân cử
Theo quy định của pháp luật, đại biểu dân cử phải có trách nhiệm tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, kiến nghị, phản ánh của công dân; đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận các đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền xem xét, giải quyết và có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc giải quyết đó Ngoài ra, thông qua việc tiếp công dân của đại biểu còn góp phần tuyên truyền, giải thích, vận động nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình quản lý nhà nước và quản lý xã hội
Việc tổ chức tiếp công dân của đại biểu dân cử hiện nay được tổ chức định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của cử tri và công dân, có thể tiếp công dân tại nơi ứng cử hoặc tại trụ sở tiếp công dân chung với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Cụ thể theo quy định tại Điều 52 Luật Tổ chức Quốc hội ngày 25 tháng 12 năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2007), Điều 14 Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết số 08/2002-QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002 của Quốc hội và Nghị quyết số 228/NQ/UBTVQH ngày 27 tháng 10 năm 1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định việc đại biểu Quốc hội tiếp công dân, tiếp nhận, chuyển đơn, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân:
Trang 391 Đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tiếp công dân Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến người
có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người có thẩm quyền thông báo cho mình kết quả giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo đó theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo không thoả đáng, đại biểu Quốc hội có quyền gặp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan để tìm hiểu, yêu cầu xem xét lại Khi cần thiết, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan hữu quan cấp trên của cơ quan,
tổ chức, đơn vị đó giải quyết
2 Đại biểu Quốc hội tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí và theo sự phân công của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội
Trong khi đó, việc tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được thực hiện theo quy định tại Điều 40 Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003, Điều 5 và Mục 2 Chương 5 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân ban hành kèm theo Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể: Thường trực Hội đồng nhân dân phải dành ít nhất hai ngày trong một tháng để tiếp công dân Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
Trang 40Về hình thức tiếp công dân hiện nay, tùy theo tình hình thực tế ở mỗi địa phương thì việc tiếp dân của đại biểu dân cử cũng có sự khác nhau, chẳng hạn như theo Quy chế phối hợp công tác tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội
và Hội đồng nhân dân tỉnh Long An thì việc tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Thường trực Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh hoạt động chuyên trách được tổ chức định kỳ vào ngày
10 và 25 hàng tháng tại trụ sở Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh; đối với đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh hoạt động kiêm nhiệm thì
tổ chức tiếp công dân tại Tổ đại biểu nơi ứng cử ít nhất một ngày trong tháng (hiện nay các Tổ đại biểu tiếp dân tại Phòng tiếp công dân của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh) Ngoài ra, khi
có yêu cầu đột xuất của công dân thì đại biểu phải tổ chức tiếp dân theo quy định.32
Trong khi đó, việc tiếp công dân của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp ở nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước được tổ chức chung với việc tiếp công dân của các cơ quan Đảng và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
32 Theo Quy chế phối hợp công tác tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XIII đơn vị tỉnh Long An và Thường trực Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Long An khóa VIII, nhiệm kỳ 2011-2016, ngày 17 tháng 9 năm 2012