Sau này trong các bản Hiến pháp tiếp theo của Nhà nước ta, vấn đề trưng cầu ý dân tiếp tục được ghi nhận với các tên gọi khác nhau như “trưng cầu ý kiến nhân dân” trong Hiến pháp năm 195
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
Hồ Thị Ngạn MSSV: 0955040228
TRƯNG CẦU DÂN Ý – THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Đầu tiên, em xin gửi đến THS Hoàng Việt lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất Thầy đã nhiệt tình hướng dẫn em từ cách chọn đề tài, cách làm đề cương, thu thập tài liệu cũng như bố cục và ngôn ngữ sử dụng trong khóa luận để giúp em có thể hoàn thành tốt bài viết của mình
Em cũng xin cám ơn các thầy cô trường Đại học Luật TP.HCM đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt bốn năm học để em có thêm kiến thức phục vụ cho công việc và cuộc sống sau này
Em xin chân thành cám ơn
Sinh viên
Hồ Thị Ngạn
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trang
CHƯƠNG I : KHÁI QUÁT CHUNG TRƯNG CẦU DÂN Ý 1
1.1 Khái niệm và bản chất Trưng cầu dân ý 1
1.1.1 Khái niệm trưng cầu dân 1
1.1.2 Bản chất của Trưng cầu dân ý 3
1.1.2.1 Trưng cầu dân ý – một trong những cách thức thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp 3
1.1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của hình thức trưng cầu dân ý 7
1.2 Phân biệt Trưng cầu dân ý với một số hình thức dân chủ trực tiếp khác 11
1.2.1 Phân biệt Trưng cầu dân ý với phúc quyết 11
1.2.2 Phân biệt trưng cầu dân ý với lấy ý kiến nhân dân 12
1.3 Phân loại trưng cầu dân ý 14
1.3.1 Căn cứ vào phạm vi địa lí 14
1.3.2 Căn cứ vào tính chất 14
1.3.3 Căn cứ vào đối tượng 14
1.4 Trình tự, thủ tục tiến hành trưng cầu dân ý 15
1.4.1 Chủ thể bỏ phiếu trưng cầu dân ý 15
1.4.2 Cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý 15
1.4.3 Trình tự, thủ tục bỏ phiếu trưng cầu dân ý 17
1.4.4 Tuyên truyền vận động cho nội dung trưng cầu dân ý 20
1.4.5 Thời hạn bỏ phiếu trưng cầu dân ý và thời gian bỏ phiếu trưng cầu dân ý 20
1.4.6 Kiểm phiếu và xác định kết quả trưng cầu dân ý 22
Trang 4CHƯƠNG II: VẤN ĐỀ TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở VIỆT NAM - THỰC TIỄN
VÀ KIẾN NGHỊ
2.1 Quy định của pháp luật về Trưng cầu dân ý ở Việt Nam 25
2.2 Thực tiễn thực hiện và nguyên nhân 29
2.3 Sự cần thiết, tính khả thi và ý nghĩa khi xây dựng Luật Trưng cầu dân ý tại Việt Nam 32
2.3.1 Sự cần thiết, tính khả thi khi xây dựng Luật Trưng cầu dân ý tạị Việt Nam 32
2.3.2 Ý nghĩa khi xây dựng Luật Trưng cầu dân ý tại Việt Nam 36
2.4 Kiến nghị xây dựng Luật Trưng cầu dân ý ở Việt Nam 38
2.4.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
2.4.2 Xây dựng Luật Trưng cầu dân ý ở Việt Nam 39
2.4.2.1 Phạm vi và đối tượng đưa ra trưng cầu dân ý 40
2.4.2.2 Chủ thể có thẩm quyền quyết định trưng cầu dân ý 45
2.4.2.3 Sáng kiến trưng cầu dân ý 47
2.4.2.4 Điều kiện về cử tri trong cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý 48
2.4.2.5 Giá trị pháp lý của kết quả trưng cầu dân ý 49
2.4.2.6 Quy trình tổ chức trưng cầu dân ý 51
2.4.2.7 Thời gian tổ chức trưng cầu dân ý 52
2.4.2.8 Về hình thức lá phiếu 53
2.4.2.9 Vận động trưng cầu dân ý 53
2.4.5 Nguyên tắc đảm bảo thực hiện bỏ phiếu trưng cầu dân ý 57
KẾT LUẬN
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài
Trong học thuyết Mac_Lênin, vấn đề dân chủ luôn được đề cập và phân tích sâu sắc, là mục tiêu quan trọng hướng đến việc xây dựng một nền dân chủ đầy đủ nhất
Trong một chính thể dân chủ, nhân dân là cội nguồn của quyền lực nhà nước Do đó, nhân dân có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia, dân tộc một cách trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra Trong đó, trưng cầu dân ý là một hình thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, hình thức dân chủ trực tiếp
Trưng cầu dân ý là một hình thức phổ biến, là một chế định hiến định tồn tại trong nhiều hệ thống chính trị khác biệt nhau ở châu Âu, châu Á, Mỹ Latinh và châu Phi Ở những nước thực sự áp dụng trưng cầu ý dân, chế định này chiếm một vị trí ngày càng quan trọng và được sử dụng như một phương thức hiệu quả nhất để người dân thực hiện trực tiếp quyền lực nhà nước thuộc về mình và là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ dân chủ của quốc gia đó
Trong các xã hội chính trị hiện đại, trưng cầu dân ý đang và sẽ tiếp tục là một vấn đề rất đáng quan tâm
Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của hình thức dân chủ này, nên ngay sau khi đất nước mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh với cương vị là Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp đã chỉ đạo đưa vào Hiến pháp
1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập những quy định về trưng cầu ý dân với hình thức nhân dân phúc quyết Sau này trong các bản Hiến pháp tiếp theo của Nhà nước ta, vấn đề trưng cầu ý dân tiếp tục được ghi nhận với các tên gọi khác nhau như “trưng cầu ý kiến nhân dân” trong Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 hay là “trưng cầu ý dân” trong Hiến pháp 1992.Tuy nhiên vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do là quy định trong các bản Hiến pháp về trưng cầu ý dân còn quá chung chung, lại không có văn bản quy phạm pháp luật cụ thể hóa, nên trong thực tế hơn 60 năm xây dựng và phát triển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chúng ta chưa từng tổ chức trưng cầu dân ý Mặt khác, về mặt khoa học pháp lý cũng chưa có những nghiên cứu sâu và trực diện về vấn đề này, cho nên cách hiểu về trưng cầu dân ý hiện nay cũng có những quan điểm chưa thống nhất
Trang 6Trong điều kiện chúng ta đang phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì việc phát huy dân chủ, huy động trí tuệ và tạo điều kiện cho nhân dân được tham gia quyết định các chính sách, quyết sách lớn của nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt lý luận cũng như hiệu quả thực hiện pháp luật, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi vấn đề sửa đổi Hiến pháp rất cần đến sự trưng cầu dân ý của toàn dân để xây dựng một bản Hiến pháp thật sự dân chủ, thật sự văn minh, thật sự là một bản Hiến pháp của toàn dân
Bác Hồ đã từng nói “Trong bầu trời, không gì quý bắng nhân dân Trong thế giới, không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng giải quyết mọi khó khăn”
Với bản chất dân chủ của Nhà nước ta đòi hỏi phải có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Trưng cầu ý dân sẽ là một trong những cơ chế để nhân dân thực hành quyền dân chủ trực tiếp, có ý nghĩa góp phần thực hiện định hướng chung của Đảng và Nhà nước ta là chủ trương, chính sách phải xuất phát từ nhân dân, phát huy trí tuệ của nhân dân và hợp lòng dân Với ý nghĩa đó, việc xây dựng trong Hiến pháp một chế định trưng cầu dân ý rõ ràng, cụ thể, đúng bản chất dân chủ là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra công cụ pháp lý để nhân dân cùng Đảng, Nhà nước quyết định một cách sáng suốt những vấn đề hệ trọng về quốc kế dân sinh, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, đồng thời tạo cơ sở pháp lý quan trọng để mở rộng việc thực hành dân chủ trực tiếp – mà như Bác Hồ đã nói “đó là chìa khóa vạn năng giải quyết mọi khó khăn”
Trên cơ sở đó, vấn đề hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý ở Việt Nam hiện nay là vấn đề rất cấp thiết cả về mắt lý luận và thực tiễn
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật về trưng cầu dân ý ở Việt Nam từ khi hình thành cho đến nay, phân tích những mặt hạn chế trong các quy định của pháp luật hiện hành để từ đó kiến giải những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Trưng cầu dân ý bao gồm rất nhiều vấn đề đặt ra cần phải được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung vào việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý ở Việt Nam hiện nay trên
Trang 7cơ sở phân tích và khái quát hóa pháp luật về trưng cầu dân ý trong lịch sử và hiện nay, tham khảo các quy định của pháp luật về trưng cầu dân ý ở một số nước, phân tích các yêu cầu của thực tế để làm nổi bật lên vấn đề quan tâm chủ yếu là hoàn thiện pháp luật về trưng cầu dân ý
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Luận văn nghiên cứu sự hình thành cũng như quá trình phát triển và xu hướng của chế định trưng cầu dân ý của các nước trên thế giới từ đó áp dụng vào thực tiễn Việt Nam Xây dựng nhà nước pháp quyền phải đi đôi với thực hành dân chủ, và trưng cầu dân ý là một trong những cách thức thực hiện dân chủ trực tiếp hiệu quả nhất, vì vậy để xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn thiện về trưng cầu dân ý thì nhất thiết đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, rà soát kỹ lưỡng từ vấn đề pháp lý đến vấn đề lý luận để có thể cho một kết quả tốt nhất, hiệu quả nhất Đảm bảo tính hợp lý,
cụ thể và khả thi
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, đặc biệt là các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát huy quyền làm chủ của nhân dân nói chung và về vấn đề trưng cầu ý dân nói riêng được thể hiện trong các văn kiện như Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng v.v
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin và các phương pháp nghiên cứu, như phương pháp lịch sử
cụ thể, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp luật học so sánh, khảo sát thực tế và có tham khảo kinh nghiệm của một số nước
5 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có đóng góp về lý luận cho việc phát huy dân chủ trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện hệ thống pháp luật; về mặt thực tiễn, góp phần hiện thực hóa các quy định của pháp luật về trưng cầu dân ý
Trang 86 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 2 chương:
Chương I Khái quát chung về chế định trưng cầu dân ý
Chương II Vấn đề trưng cầu dân ý ở Việt Nam Thực tiễn và kiến nghị
Trang 9CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH TRƯNG CẦU DÂN Ý
1.1 Khái niệm và bản chất Trưng cầu dân ý
1.1.1 Khái niệm trưng cầu dân ý
Thuật ngữ trưng cầu dân ý (referendum) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, được hiểu là sự
bỏ phiếu của cử tri nhằm mục đích thông qua các quyết định có tính chất quốc gia hay địa phương
Trong tiếng Anh, thuật ngữ trưng cầu dân ý tương đương với referendum, được hiểu
là một văn bản của cơ quan lập pháp, một đề nghị sửa đổi Hiến pháp hay một vấn đề quan trọng của một quốc gia để toàn dân quyết định dưới hình thức bỏ phiếu
Trong tiếng Pháp, thuật ngữ trưng cầu dân ý tương đương với référendum, được hiểu
là một thủ tục cho phép công dân của một quốc gia bày tỏ sự tán thành, hay bác bỏ một biện pháp do cơ quan Nhà nước đưa ra thông qua hình thức bỏ phiếu
Theo từ điển Pháp – Việt, Pháp luật - Hành chính do Nhà xuất bản Thế giới xuất bản năm 1992 thì trưng cầu dân ý (référendum) được hiểu là: Một hình thức tổ chức và hoạt động của nền dân chủ nửa trực tiếp, qua đó nhân dân cộng tác và tham gia vào quyền lập pháp Lấy ý kiến nhân dân bằng cách tổ chức bỏ phiếu để nhân dân trực tiếp quyết định về một vấn đề quan trọng của đất nước, như thông qua Hiến pháp, một đạo luật, quyết định một chính sách, hoặc yêu cầu Quốc hội biểu quyết một dự án luật do nhân dân có sáng kiến đề nghị
Ở các quốc gia dân chủ, trưng cầu dân ý (referendum) là định chế dân chủ trực tiếp phổ biến nhất Bản chất của định chế này là việc đưa ra quyết định bởi những người
có thẩm quyền - tập thể quyền lực tối cao (tức nhân dân) - thông qua bỏ phiếu
Trưng cầu dân ý bắt đầu được định chế hóa vào thế kỷ XVI ở Thụy Sỹ, nhưng mãi sau năm 1830, khi các bang trao quyền phán quyết hiến pháp của mình cho nhân dân, định chế này mới được sử dụng rộng rãi và thường xuyên ở đây Trong giai đoạn đầu tiên này, trưng cầu dân ý cũng được sử dụng tại Mỹ (nhưng trong số 13 bang, chỉ có 2 bang để nhân dân bỏ phiếu cho hiến pháp là Massachusett 1778-1780 và New Hampshire 1779-1784) Vào thế kỷ XIX, ngoài Thụy Sỹ, chỉ có rất ít hiến pháp cho phúc quyết bằng trưng cầu dân ý: Pháp, Áo và một số bang ở Mỹ Trong các năm từ
Trang 101918 đến 1939, trưng cầu dân ý được đưa vào hiến pháp của 17 nước, cuối thế kỷ XX, hơn 60 nước đã đưa trưng cầu dân ý vào hiến pháp của mình1
Từ nửa sau thế kỷ XX, trưng cầu dân ý được sử dụng ngày một nhiều hơn và không chỉ liên quan đến việc sửa đổi hiến pháp (ví dụ như ở Chi-lê, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Ba Lan, Thụy Sỹ, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, 49 bang Mỹ) mà còn về vấn đề độc lập dân tộc (ví dụ ở Armenia, Bosnia, Croatia, Estonia, Guine, Gruzia, Litva, Latvia, Marcedonia, Moldavia, Ucraina), cải cách nhà nước (ví dụ ở Pháp, Hy Lạp, Ba Lan, Anh, Ý) hay những vấn đề quan trọng khác đối với xã hội như phê chuẩn công ước quốc tế và chấp nhận gia nhập tổ chức quốc tế (ví dụ ở Đan Mạch, Na
Uy, Pháp, Anh khi gia nhập Cộng đồng Kinh tế Châu Âu, Ba Lan, Malta, Séc, Estonia, Síp, Latvia, Litvia, Slovakia, Slovenija, Hung khi gia nhập Cộng đồng Châu Âu), vấn đề ân xá (ví dụ ở Uruguay), cho phép li dị ( Ý), cho phép nạo phá thai (Ireland), các vấn đề môi trường (ví dụ xây nhà máy điện hạt nhân, đường cao tốc v.v Như vậy, trong xã hội hiện đại, hình thức trưng cầu dân ý được nhiều nước áp dụng và coi sự tồn tại của nó như là một trong những biểu hiện sinh động của một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Từ trên ta có thể rút ra khái niệm về trưng cầu dân ý như sau:
Trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện mối quan hệ Nhà nước-công dân trong quản lý, điều hành đất nước, trong đó cơ quan Nhà nước theo trình tự, thủ tục luật định đưa một vấn đề ra để nhân dân trực tiếp quyết định thông qua việc bỏ phiếu.
1.1.2 Bản chất của Trƣng cầu dân ý
1.1.2.1 Trưng cầu dân ý – một trong những cách thức thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp
Trưng cầu dân ý là một trong những phương thức thực hiện hình thức dân chủ trực
tiếp, là hình thức cao nhất thể hiện trực tiếp nguyên lý quyền lực nhân dân, một quyền thể hiện rõ nhất bản chất dân chủ
Ở Pháp người ta coi trưng cầu dân ý là hình thức dân chủ trực tiếp duy nhất, ở Thụy
Sĩ nó cũng được xem là hình thức dân chủ phổ biến nhất
1 E.Zielinski, Referendum wpanstwie demokratycznym ( Trưng cầu dân ý ở các quốc gia dân chủ), Wraszawa
1995
Trang 11Trưng cầu dân ý cho phép nhân dân trực tiếp tham gia vào việc thực hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào những quyết sách quan trọng của quốc gia Về mặt nguyên tắc, trưng cầu dân ý chiếm ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nó cho phép nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình thông qua việc biểu quyết Còn trong dân chủ đại diện thì người dân chỉ bầu ra cơ quan đại diện, sau đó cơ quan đại diện sẽ thay mặt toàn dân quyết định các chính sách Như vậy thì một điều rõ ràng là không phải khi nào cơ quan đại diện đó cũng thể hiện theo đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, mà có khi còn bị chi phối bởi các tham vọng khác mà bỏ qua lợi ích chính đáng của nhân dân Bởi vì bản thân nhà nước cũng không dễ dàng gì kiềm chế những tham vọng của mình khi có quyền lực trong tay
Xu thế phát triển của các nền chính trị dân chủ là thực hiện và mở rộng dân chủ trực tiếp vì thế hình thức trưng cầu dân ý ngày càng được áp dụng phổ biến tại các quốc gia trên thế giới Trong tuyên ngôn thế gới về quyền con người của Liên Hợp Quốc
1948 tại khoản 2 Điều 21 có quy định “Ý chí của nhân dân là cơ sở của quyền lực Chính Phủ” Và nhiều nhà khoa học xã hội cũng ca tụng tính hiệu quả của dân chủ trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý việc trưng cầu dân ý Đó là một thưc tế đã được chứng minh
Viện nghiên cứu về sáng kiến nhân dân và trưng cầu dân ý châu Âu (The Initiative & Referendum Institute Euorpe) cũng cho rằng, hơn bao giờ hết, sáng kiến nhân dân và trưng cầu dân ý đang giữ vai trò quan trọng trong khắp các nước châu Âu và trên toàn thế giới
Thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện đầu tiên tại Hy Lạp với cụm từ “demokratia”2 được ghép từ “dèmos” là “nhân dân” và “kratos” là “quyền lực” Như vậy một nhà nước dân chủ là một nhà nước mà ở đó quyền lực thuộc về nhân dân
Montesquieu trong “Tinh thần pháp lật” đã nói rằng: “trong một chính thể dân chủ, theo một cách nhìn nào đó có thể coi dân chúng như vua, mà cũng có thể coi là thần dân Dân là “vua” bởi họ thể hiện được ý chí của mình bắng các cuộc đầu phiếu Ý chí của vua chính là ông vua chứ sao”
2 Từ điển Tiếng nước ngoài, Nxb Tiếng Nga, Mát-xcơ-va, 1987, tr.153
Trang 12C.Mac từng nhận định “thực chất dân chủ là ở chỗ quyền lực thực tế thuộc về nhân dân, là nhân dân tự quản lý xã hội của mình, xã hội được quản lý bởi nhân dân và vì nhân dân”
Theo Lênin: “muốn thực hiện một nền dân chủ thực sự, một mặt phải tăng cường chuyên chính vô sản, mặt khác phải làm thế nào cho quần chúng nhân dân lao động tham gia một cách đông đảo vào quản lý Nhà nước”
“Chủ nghĩa xã hội không phải là kết quả của những sắc lệnh từ trên ban xuống…chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thân quần chúng” 3
Tư tưởng của Hồ Chí Minh “Nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững, cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” 4
Và Bác cũng đã đúc kết vai trò của nhân dân bằng một câu hết sức ngắn gọn và dễ hiểu “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”
Chính vì vậy mà ngay sau cách mạng tháng tám thành công dù vận nước đang ở “thế ngàn cân treo sợi tóc” nhưng Người vẫn kiên quyết tổ chức cuộc Tổng tuyển cử dân
chủ bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa(ngày 06/01/1946)
để chọn ra ngững đại biểu ưu tú thay nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước, với ý nghĩa đó cuộc tổng tuyển cử đã thu hút đông đảo cử tri cả nước tham gia, và đó cũng
là sinh hoạt chính trị dân chủ đàu tiên của nước ta sau khi giành được độc lập
Có hai hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân là dân chủ gián tiếp hay còn gọi là dân chủ đại diện (representative democracy) và dân chủ trực tiếp (direct democracy)
Dân chủ đại diện: là phương thức chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân Chủ
quyền nhân dân được thực hiện chủ yếu thông qua những đại biểu dân bầu Như vậy thì bản thân Nhà nước là do nhân dân lập ra và được nhân dân ủy quyền thực hiện quyền lực
Trong tiến trình phát triển của lịch sử thì dân chủ đại diện được xem là một phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước có hiệu quả nhất Nó đã trở thành một cơ chế thành công nhất trong việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng của quảng đại quần chúng
kể từ chế độ quân chủ chuyên chế và nó là sản phẩm của cách mang tư sản trong cuộc
3
V.I.Lênin(1976), Toàn tập, tập 35, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.64
4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Sự Thật Hà Nội, 1985, tr.77-79
Trang 13đấu tranh chống lại sự đốc đoán chuyên quyền trong chế độ phong kiến hà khắc Tuy nhiên cũng có một mặt trái mà nền dân chủ đại diện mắc phải đó chính là sự lạm quyền Bởi khi nắm trong tay quyền lực thì khó ai có thể tự trói chân, trói tay mình lại
để kìm nén những tham vọng đang diễn ra xung quanh Điều đó đồng nghĩa với việc nhân dân đang bầu cho mình những ông chủ mới, và những ông chủ mới này lại quay lại bóc lột nhân dân thông qua quyền lực chính thức do nhân dân trao cho Đây không phải là điều mà nhân dân mong muốn nhưng thực tế thì tình trạng lạm quyền trong các nền dân chủ đại diện đang diễn ra rất phổ biến Do vậy, như một quy luật tiến hóa của lịch sử, dân chủ trực tiếp dần phát triển, từng bước thay thế dân chủ đại diện trong một chế độ xã hội phát triển đến trình độ cao, ở đó không còn sự đối kháng giai cấp và nhà nước, nhân dân sẽ là người chủ đích thực của xã hội
Dân chủ trực tiếp: Hình thức dân chủ trực tiếp được hiểu là bản thân người dân trực
tiếp tham gia vào hoạt động quyền lực của Nhà nước để thực hiện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đây là một hình thức dân chủ mà ở đó tiếng nói của nhân dân đóng vai trò quyết định, đồng thời nó còn là một phương thức kiểm soát ngăn cản
sự lạm quyền của các cơ quan công quyền
Hiến pháp các nước từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ 1776, Tuyên ngôn Dân quyền và công dân quyền năm 1789 cùng với Hiến pháp Đại cách mạng Pháp 1793, các Hiến pháp hiện đại đều ghi nhận ngay ở những điều đầu tiên của nguyên tắc chủ quyền nhân dân và quyền nhân dân gián tiếp hoặc trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước
thông qua cơ quan đại diện do dân bầu, kể cả những nước mới “chuyển hướng” như
Hiến pháp các nước mới tách ra từ Liên Xô cũ và các nước Đông Âu
Trong lý thuyết hiến pháp và các thảo luận của những nhà “khai quốc công thần” Hoa
Kỳ thì “dân chủ” cũng được hiểu chỉ là “dân chủ trực tiếp”, đối ngược với “dân chủ đại diện” được gọi là “cộng hòa” 5
Theo cách giải thích giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “dân chủ trực tiếp” là “có việc gì thì ai cũng được bàn, phải bàn Khi bàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được Ấy là dân chủ” 6
Trang 14Bản HP 1946 của nước ta tuy không có quy định mang tính lý luận này nhưng hình thức dân chủ trực tiếp lại được thể hiện mạnh mẽ tại các Điều 21, 32, 70 về quyền phúc quyết, các vấn đề đưa ra dân phúc quyết
Cụ thể: Điều 21 quy định quyền phúc quyết và loại vấn đề phải đưa ra nhân dân phúc quyết “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70”
Điều 32 khẳng định Nghị viện sẽ ban hành luật về phúc quyết cảu nhân dân “Cách thức phúc quyết sẽ do luật định”
Và cuối cùng, Điều 70 quy định trình tự sửa đổi Hiến pháp với việc thực hiện quyền phúc quyết về việc sửa đổi Hiến pháp của nhân dân
Như vậy, quyền dân chủ trực tiếp là một quyền đặc biệt quan trọng, là ý chí, là nguyện vọng của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nó không được thực hiện phổ biến như dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện) nhưng theo bước tiến của lịch sử thì nó ngày càng chiếm ưu thế trong nền dân chủ hiện đại
Trong các phương thức thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp thì trưng cầu dân ý được xem là biểu hiện cao nhất của dân chủ trực tiếp
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì cũng có không ít ý kiến phản đối về vấn đề trưng cầu dân
ý Cái gì cũng có cái lý của nó, vì bên cạnh những mặt tích cực mà trưng cầu dân ý mang lại thì cũng có không ít những bất cập
1.1.2.2 Ưu điểm và hạn chế của hình thức trưng cầu dân ý
Ưu điểm của hình thức trưng cầu dân ý
Như đã đề cập ở trên thì trưng cầu dân ý chính là biểu hiện cao nhất của hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức hiệu quả để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc tham gia vào công việc của đất nước Vừa huy động được sức dân, vừa đảm bảo tính dân chủ thực sự Đó chính là mục tiêu lớn nhất của công cuộc xây dựng một nhà nước pháp quyền dân chủ, văn minh
Hạn chế của hình thức trưng cầu dân ý
Mặc dù về mặt nguyên lý, trưng cầu dân ý có nhiều ưu thế hơn so với các hình thức dân chủ đại diện, nhưng về mặt thực tiễn, việc thực hiện nó có thể gặp rất nhiều phức tạp Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu và nhiều chính khách còn lo
ngại về việc thực hiện biện pháp này Vì:
Trang 15Thứ nhất, những vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý thường mang tính vĩ mô và đòi hỏi
phải có sự hiểu biết sâu, rõ ràng Trong khi đó thì không phải người dân ai cũng quan tâm và ai cũng có tầm kiến thức hiểu biết rộng để có thể hiểu và đánh giá khách quan nhất vấn đề đang được đưa ra trưng cầu dân ý Hậu quả là kết quả của trưng cầu dân ý không phản ánh chính xác được tâm tư, nguyện vọng của người dân, và nó lại đi ngược lại với hình thức dân chủ thực sự đó là dân chủ hình thức
Và tất nhiên nó lại kéo theo hệ lụy tiếp theo là Chính phủ chẳng đạt được gì ngoài việc đầu tư rất nhiều thời gian, tiền bạc và nhân lực vào cuộc trưng cầu dân ý Vì muốn tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý không phải đơn giản là chỉ diễn ra ngày một, ngày hai mà có khi nó kéo dài đến cả mấy năm trời, riêng công tác chuẩn bị đã
là một quá trình khó khăn rồi huống chi đến công tác tổ chức và đánh giá kết quả
Thứ hai, việc tổ chức trưng cầu dân ý cũng là một cơ hội để cho các phần tử phản
động có thể lợi dụng vào đó để chống lại chính quyền Vì như đã phân tích ở trên thì không phải người dân nào cũng có đủ trình độ để hiểu biết hết tầm quan trọng của những vấn đề cần đưa ra trưng cầu dân ý nên những phần tử phản động có thể lợi dụng cơ hội đó để tuyên truyền phản động, dụ dỗ quần chúng phản lại chính quyền Trong khi đó vì kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, dù là trưng cầu mang tính bắt buộc hay tưng cầu mang tính tùy nghi thì đều có tính chất bắt buộc đối với quyết sách của chính quyền, vì đó là ý chí của nhân dân, và chính quyền một khi đã đưa vấn đề ra trưng cầu ý dân thì không thể phản lại ý dân được Đây cũng là một nguy cơ rất đáng
lo ngại, nhất là ở tại các quốc gia có nền chính trị không ổn định và các quốc gia có nền dân trí còn thấp
Thứ ba, để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý thì nhân lực, vật lực và thời gian luôn là
một con số khổng lồ Những quốc gia mạnh về tài chính thì vấn đề này có thể được giải quyết một cách dễ dàng, nhưng còn những quốc gia đang phát tiển và kém phát triển thì đây thực sự là một vấn đề hết sức nan giải Vậy thì cơ hội để trưng cầu dân ý được tiến hành ở các quốc gia này là rất ít và có khi còn là không thể Bởi một quốc gia còn đang khố khăn về kinh tế, đang phải đối mặt với vấn đề tài chính thì họ phải lo tập trung vào để đảm bảo cái nhu cầu thiết yếu trước mắt nên không thể bỏ ra một con
số tài chính quá nhiều để đầu tư cho một cuộc trưng cầu dân ý mà người dân không mấy quan tâm và Chính phủ thì không thể cáng đáng hết Đây cũng là nguyên nhân lý
Trang 16giải vì sao mà trưng cầu dân ý chỉ được tiến hành ở hầu hết các quốc gia phát triển, còn ở các nước đang và kém phát triển thị hầu như là rất hiếm hoi
Một vấn đề đáng lo ngại nữa đó là: ở các nước phi dân chủ, độc tài và toàn trị thì chế định này cũng được sử dụng nhưng với vai trò hoàn toàn khác, không phải để thực thi dân chủ mà ngược lại, để vi phạm các nguyên tắc dân chủ trong việc đưa ra các quyết định cảu nhà nước và hợp thức hóa các hành động của chính quyền, ví dụ các cuộc trưng cầu dân ý của Đức Quốc Xã, trưng cầu dân ý về chính thể cộng hòa ở Iran năm
1979, trưng cầu dân ý phúc quyết ở Bạch Nga năm 1996, trưng cầu dân ý phúc quyết Hiến pháp ở Morocco 2001, trưng cầu dân ý phúc quyết Hiến pháp 2012…Trưng cầu dân ý cũng được sử dụng để cũng cố vị thế của Tổng thống và chế độ độc tài Ví dụ cuộc trưng cầu dân ý ở Bạch Nga 1995, 1996, 2004; Pakistan 2002; Irak 1995, 2002… Các cuộc trưng cầu dân ý này thường có đặc điểm chung là tỉ lệ người bỏ phiếu cao đến mức khó tin (thường xấp xĩ 90%), được diễn ra trong không khí áp lực, thậm chí
là khủng bố chính trị, và ở tình trạng hoàn toàn độc quyền của chế đọ về các phương tiện thông tin
Hoặc như tại cuộc trưng cầu dân ý tại Miền Nam Việt Nam được tổ chức vào ngày 6 tháng 10 năm 1955 do Thủ tướng Diệm tuyên bố quyết định Các cơ quan truyền thông do Thủ tướng điều khiển cũng bắt đầu vận động dân chúng sửa soạn đi bầu với những bài chỉ trích hành vi của Quốc trưởng và phổ biến những câu nhắc nhở cử tri như:
Phiếu đỏ ta bỏ vô bì
Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi
Mỗi cử tri được phát hai lá phiếu: một lá màu xanh, một lá màu đỏ:
Lá màu đỏ in hình Ngô Đình Diệm với câu: Tôi bằng lòng truất phế Bảo Đại và nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ
Lá xanh in hình Bảo Đại thì có câu: Tôi không bằng lòng truất phế Bảo Đại và không nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ
Cử tri phải chọn lấy một và bỏ phiếu vào thùng phiếu Lá phiếu kia thì vứt đi
Trang 17Ngày 23 tháng 10 năm 1955, cuộc lựa chọn vị nguyên thủ của Quốc gia Việt Nam và thể chế chính quyền diễn ra ở phía nam vĩ tuyến 17 Việc bỏ phiếu tuy nhiên không được công bằng vì ban tổ chức đã sắp xếp để Ngô Đình Diệm tuyệt đối thắng Kết quả: Ngô Đình Diệm đắc cử với 98,2% số phiếu Đại tá CIA Edward Lansdale, cố vấn
cho Ngô Đình Diệm nói rằng: "Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99% Vì nếu như thế thì biết đó là âm mưu sắp đặt trước" Vì thế cho nên Diệm đắc cử với 98,2%7
nó thì sẽ trở thành một phương cách hiệu quả thực sự trong thực hành dân chủ, nếu nó được lợi dụng để làm điều ngược lại thì hậu quả cũng khôn lường Vì vậy, việc xây dựng luật trưng cầu dân ý phải được cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng trong các quy định
về điều kiện, cách thức tổ chức, trình tự thực hiện…để không bị lợi dụng để tổ chức những cuộc trưng cầu mang tính chất phản dân chủ, đi ngược lại với mục đích ban đầu của phương thức dân chủ này
Nhưng hầu hết các cuộc trưng cầu dân ý đều phát huy ý nghĩa của nó, đó là phản ánh
ý chí của nhân dân, cũng như nó đang và sẽ xảy ra trong đời sống chính trị của nhiều nước và nhiều khu vực, và xu thế đó, có lẽ sẽ ngày càng rõ nét hơn
7 Tử ngục Chín Hầm và những điều ít biết về Ngô Đình Cẩn, Dương Phước Thu, NXB Thuận Hóa tr 29
Trang 181.2 Phân biệt trƣng cầu dân ý với một số hình thức dân chủ trực tiếp khác
Trưng cầu dân ý, phúc quyết và lấy ý kiến dân, cả ba đều là biểu hiện của hình thức dân chủ trực tiếp và gần tương đồng nhau về mặt ý nghĩa Nhưng nội hàm của ba khái niệm này là khác nhau
1.2.1 Phân biệt trƣng cầu dân ý với phúc quyết toàn dân
Theo từ điển Hán-Việt thì thuật ngữ phúc quyết được ghép bởi hai chữ phúc và quyết Phúc có nghĩa là “lật lại, xét kỹ”, quyết có nghĩa là “quyết định” Như vậy có thể hiểu phúc quyết là đưa một vấn đề ra để quyết định lại
Thuật ngữ này đã được sử dụng trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta là bản Hiến pháp 1946 Theo tinh thần và lời văn của bản Hiến pháp 1946 thì nhân dân có quyền phúc quết về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, nhưng những việc sửa đổi Hiến pháp cũng như liên quan đến vận mệnh quốc gia trước khi được đưa ra trưng cầu dân ý khi phải được Quốc hội thảo luân, xem xét và được 2/3 tổng số đại biểu tán thành Như vậy, trưng cầu dân ý theo Hiến pháp 1946 là việc nhân dân phúc quyết một vấn đề đã được Quốc hội quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành, do đó quyết định của nhân dân là quyết định cuối cùng, có hiệu lực ngay Khái niệm trưng cầu dân ý thì nó rộng hơn Nó bao gồm cả việc toàn dân phúc quyết lại vấn đề đã được Quốc hội thông qua, và cả những vấn đề mà Quốc hội chưa thông qua
Ở Thụy sĩ, việc sửa đổi Hiến pháp mặc dù đã được Quốc hội thông qua nhưng để có hiệu lực thì bản Hiến pháp sửa dổi đó phải được đa số người dân tán thành thông qua trưng cầu dân ý
Ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì vấn đề mà Quốc hội đưa ra trưng cầu dân ý là những vấn đề mà Quốc hội chưa quyết định được theo hướng nào, còn nếu Quốc hội đã quyết định một vấn đề nào đó thì theo quy định của Hiến pháp, quyết định này có hiệu lực ngay mà không cần có sự phê chuẩn của bất cứ ai và có giá trị pháp lý cao nhất
Quốc hội chỉ quyết định vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý và căn cứ vào kết quả trưng cầu để đưa ra quyết định cuối cùng
Trang 191.2.2 Phân biệt trƣng cầu dân ý với lấy ý kiến nhân dân
Lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu dân ý là những hình thức khác nhau của thực hành dân chủ trực tiếp Tuy nhiên nội hàm của trưng cầu dân ý hẹp hơn so với lấy ý kiến nhân dân Cụ thể:
Lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề được đưa ra lấy ý kiến
Về đối tượng: Đối tượng đưa ra lấy ý kiến nhân dân rất rộng, là tất cả những vấn đề cần tham khảo ý kiến nhân dân trước khi quyết định một vấn đề quan trọng trong quản
lý nhà nước, quản lý xã hội Hoạt động này diễn ra dưới những hình thức phong phú (trong đó có hình thức trưng cầu dân ý) với các cấp độ tham gia và mức độ khác nhau
Về cách thức tiến hành thì không cần phải tiến hành bỏ phiếu mà chỉ là người dân đưa
ra ý kiến, quan điểm và lí giải cho ý kiến quan điểm của mình bằng văn bản và gửi cho cơ quan có thẩm quyền Trong khi đó thì trưng cầu dân ý bắt buộc phải thực hiện
bằng hình thức bỏ phiếu với câu trả lời là “đồng ý” hay” phản đối” đề nghị được đưa
ra trưng cầu
Về kết quả: Có những trường hợp ý kiến nhân dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, tham khảo, tiếp thu để có thể ban hành quyết định tối ưu, đảm bảo lợi ích nhà nước, bảo vệ quyền và đáp ứng lợi ích hợp pháp của nhân dân Thực tiễn hoạt động lập pháp ở nước ta hiện nay cho thấy, việc thảo luận và lấy ý kiến toàn dân
về các dự thảo quan trọng đã trở thành một hiện tượng hợp quy luật, là một truyền thống phản ánh trình độ phát triển dân chủ ngày càng cao trong xã hội ta Trong thời gian đổi mới vừa qua không có một văn bản luật nào có ý nghĩa quan trọng đề cập đến nhiều lợi ích khác nhau mà không được đưa ra thảo luận và lấy ý kiến toàn dân trước khi trình Quốc hội cả Tuy nhiên, quy định việc lấy ý kiến của nhân dân không được quy định phổ biến trong các văn bản luật, chỉ có một số văn bản quy định và việc lấy
ý kiến đó chỉ có tính chất tham khảo Ví dụ như: Ở nước ta, một trong những hình thức lấy ý kiến nhân dân có tính chất tham khảo là lấy ý kiến nhân dân trong quá trình xây dựng vă bản pháp luật như luậ Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008
Trang 20Có trường hợp lấy ý kiến nhân dân là ý kiến có tính chất quyết định, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở cấp tương ứng có trách nhiệm tổ chức, thẩm định và phê duyệt
Ví dụ như tại Điều 7 NĐ 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 về quy chế thực hiện dân
chủ ở xã quy định như sau “ Nhân dân ở xã, thôn bàn và quyết định trực tiếp những công việc sau: Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng ( điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa thể thao); xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật trự, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; các công việc trong cộng đồng dân cư nông thôn, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành…”
Còn trường hợp trưng cầu dân ý thì trong mọi trường hợp kết quả của cuộc trưng cầu
là có giá trị bắt buộc cao nhất mà không một cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền sửa đổi
Với những đặc điểm tương đồng và khác biệt như vậy thì có những vấn đề sử dụng hình thức trưng cầu dân ý tỏ ra ưu việt hơn nhưng cũng có những trường hợp lấy ý kiến nhân dân lại là hình thức thích hợp hơn Do đó khi tiến hành xây dựng luật trưng cầu dân ý thì cần phải cân nhắc những vấn đề nào nên là đối tượng của trưng cầu dân
ý, những đối tượng nào nên để lấy ý kiến dân
Nước ta đang trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1992 để ban hành một bản Hiến pháp mới vào cuối năm 2013 Đây được xem là một cuộc sinh hoạt chính trị lớn của cả nước Do đó, ngày 23/11/2012, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 38/2012/QH13 về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
Trong lần sửa đổi Hiến pháp lần này, do chưa có luật Trưng cầu dân ý nên không tổ chức trưng cầu dân ý mà chỉ lấy ý kiến dân, tuy nhiên trong những lần sửa đổi Hiến pháp tiếp theo sẽ phải được đưa ra trưng cầu dân ý Đó chính là lời khẳng định của Bộ Trưởng Bộ Tư pháp
1.3 Phân loại trƣng cầu dân ý
1.3.1 Căn cứ vào phạm vi địa lý
Trưng cầu dân ý trên phạm vi cả nước: là cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành trên
pham vi lãnh thổ toàn quốc gia với sự tham gia của tất cả các cử tri trong nước Những vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý trên phạm vi cả nước thường là những vấn đề liên quan đến lợi ích của quốc gia, của toàn thể nhân dân và phần lớn những vấn đề đó
Trang 21được quy định trong Hiến pháp như sửa dổi, bổ sung Hiến pháp; những chính sách lớn của Chính phủ…
Trưng cầu dân ý ở địa phương: là cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành trong phạm vi
lãnh thổ của một đơn vị hành chính hoặc một số đơn vị hành chính quốc gia với sự tham gia của cử tri địa phương
Trưng cầu dân ý trong phạm vi địa phương thông thường liên quan đến những vấn đề trong nội bộ địa phương như: dự án xây dựng cấp tỉnh, xây dựng các công trình công công…
1.3.2 Căn cứ vào tính chất
Trưng cầu dân ý bắt buộc: những vấn đề mà theo quy định của pháp luật phải trương
cầu dân ý thí bắt buộc cơ quan nhà nước phải tổ chức khi vấn đề đó được đưa ra giải quyết
Trưng cầu dân ý tùy ý: những vấn đề mà khi thấy cần thiết phải đưa ra trưng cầu dân ý
thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tiến hành trưng cầu dân ý để lấy ý kiến của nhân dân và để nhân dân trực tiếp quyết định
1.3.3 Căn cứ vào đối tƣợng
Trưng cầu dân ý về Hiến pháp: là cuộc trưng cầu dân ý về nội dung cơ bản của Hiến
pháp đã được Quốc hội thông qua, có nên hay không nên sửa đổi Hiến pháp hiện hành hoặc về nội dung của Hiến pháp đã được sửa đổi, bổ sung
Trưng cầu dân ý về đạo luật: là cuộc trưng cầu dân ý về đạo luật đã được Quốc hội
thong qua hoặc về sang kiến của nhân dân đề nghị ban hành một đạo luật
Trưng cầu dân ý về địa giới hành chính: trưng cầu dân ý để nhân dân trực tiếp quyết
định về việc chia, tách, sáp nhập, điều chỉnh hoặc những thay đổi khác về địa giới hành chính-lãnh thổ nơi mình sinh sống
Trưng cầu dân ý về Điều ước quốc tế: là cuộc trưng cầu dân ý để nhân dân trực tiếp
quyết định việc quốc gia mình có hay không tham gia vào một điều ước quốc tế
Trưng cầu dân ý về quy hoạch hoặc một dự án công trình đầu tư xây dựng: là cuộc
trưng cầu dân ý để nhân dân trực tiếp quyết định về một dự án quy hoạch, đầu tư xây dựng công trình liên quan trực tiếp đến lợi ích của công đồng dân cư
Trang 221.4 Trình tự, thủ tục tiến hành trƣng cầu dân ý
1.4.1.Chủ thể tiến hành trƣng cầu dân ý
Xuất phát từ tầm quan trọng của những vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý nên chủ thể quyết định trưng cầu dân ý chỉ được quy định giao cho một số ít người, mà cụ thể
là nguyên thủ quốc gia, nghị viện, một số lượng nhất định trong nghị viện, hoặc chính phủ Chẳng hạn:
Ở Tây Ban Nha tại Điều 92 của Hiến pháp 1978 quy định “Trưng cầu dân ý sẽ do nhà vua quyết định trên cơ sở đề xuất của Thủ tướng sau khi được ủy quyền của Hạ viện” Điều 44 Hiến pháp Hy lạp 1975 quy định “Sau khi 2/3 nghị sĩ Quốc hội đã ra quyết định, theo đề nghị của Chính phủ, Tổng thống sẽ tuyên bố trưng cầu ý dân về những vấn đề quan trọng của đất nước
Điều 96 Hiến pháp Nhật bản quy định “Việc sửa đổi Hiến pháp phảo do Quốc hội đề xướng khi có ít nhất 2/3 tổng số đại biểu của mỗi Viện thông qua
Ở nước ta theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quết định trưng cầu ý dân (khoản 14 Điều 84 Hiến pháp 1992, sửa đổi 2001)
1.4.2 Cơ quan tổ chức trƣng cầu dân ý
Trong bất kì cuộc trưng cầu ý dân nào, nhà nước cũng đóng vai trò là chủ thể tổ chức cuộc trưng cầu dân ý Nói cách khác, bất kì cuộc trưng cầu ý dân nào cũng đều do nhà nước tổ chức và thực hiện nhân danh nhà nước mà đại diện là cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cho dù đó là cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc hay cuộc trưng cầu dân ý ở địa phương (pháp luật của một số nước như Thụy Sĩ, Italia quy định nhân dân có quyền sáng kiến trưng cầu dân ý nhưng cơ quan nhà nước vẫn phải ra quyết định và đứng ra tổ chức cuộc trưng cầu dân ý)8 Để cuộc trưng cầu dân ý được tiến hành thì phải có cơ quan quyết định việc trưng cầu dân ý, tức cơ quan có thẩm quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý Do vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý là vấn đề quan trọng của quốc gia hoặc của địa phương; hơn nữa, việc tổ chức trưng cầu dân ý rất tốn kém nên pháp luật các nước chỉ trao thẩm quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý cho một số chủ thể nhất định
Tùy theo đặc điểm tình hình, cách thức tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước khác nhau nên quy định cơ quan có thẩm quyền quyết định tổ chức trưng cầu dân ý ở các
8
Xem Hội luật gia Việt Nam, tlđd
Trang 23nước này cũng khác nhau Có những nước quy định cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý thuộc về một cơ quan của Quốc hội; có nước duy trì một hội đồng bầu cử chuyên trách chuyên tổ chức việc bầu cử và tổ chức trưng cầu dân ý; có nước khi một sáng kiến trưng cầu dân ý được tuyên bố là hợp pháp thì sẽ thành lập một ủy ban lâm thời
để phụ tách việc trưng cầu dân ý Chẳng hạn:
Ở Hungary, Hội đồng bầu cử trung ương là cơ quan chuyên trách được thành lập và duy trì nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động bầu cử và trưng cầu dân ý Sau khi có một sáng kiến trưng cầu dân ý được Quốc hội xem xét là hợp pháp và được Tổng thống tuyên bố đưa ra trưng cầu dân ý thì Hội đồng bầu cử trung ương là cơ quan có nhiệm vụ tổ chức trưng cầu
Ở Nga, cơ quan phụ trách trưng cầu dân ý là Uỷ ban trưng cầu dân ý ở trung ương Để tiến hành bỏ phiếu và kiểm phiếu, các cấp địa phương thành lập các khu vực bỏ phiếu trưng cầu dân ý và công việc này hoàn tất trước ngày bỏ phiếu 35 ngày
Ở Slovak quy định cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý gồm có: Uỷ ban bầu cử trung ương, Uỷ ban trưng cầu ý dân cấp huyện, Uỷ ban trưng cầu ý dân khu vực Thành viên của các ủy ban này phải là những người có đủ tư cách công dân và khi đảm nhận chức vụ của mình thì phải đưa ra lời tuyên thệ bảo đảm thực hiện đúng chức năng, không thiên vị, tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và các quy định khác (điều
11 luật trưng cầu dân ý của nước cộng hòa Slovak(sửa đổi 1994)
Theo quy định của Hiến pháp Việt Nam thì thẩm quyền này được giao cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (Điều 84 Hiến pháp 1992 sửa đổi 2001)
1.4.3 Trình tự, thủ tục bỏ phiếu trƣng cầu dân ý
Điều kiện về cử tri: Trong một cuộc trưng cầu dân ý thì nhân dân luôn đóng vai trò là
chủ thể trung tâm Nhân dân ở đây được đặt trong mối quan hệ với Nhà nước nên mang tính phổ thông, chứ không bó hẹp trong nội bộ của cơ quan, tổ chức, giới hay tầng lớp dân cư trong xã hội Thực tiễn trưng cầu dân ý ở các nước đều cho thấy những người được tham gia bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý là những người theo quy định của pháp luật có đủ điều kiện tham gia bỏ phiếu trong cuộc bầu cử phổ thông Điều này giải thích lý do tại sao người ta lại gọi những người tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý là cử tri Vậy cử tri trong cuộc trưng cầu là những người theo quy định của pháp luật có đủ điều kiện tham gia biểu quyết trong cuộc trưng cầu ý
Trang 24dân Thông thường, pháp luật các quốc gia đều quy định người tử đủ 18 tuổi trở lên,
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân Cá biệt Cộng hòa Liên bang Đức quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên cũng có quyền tham gia
bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý
Tuy nhiên quyền bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu dân ý không nhất thiết phải giống quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử phổ thông Ví dụ như ở nước Cộng hòa Ailen thì chỉ có công dân của nước này mới có quyền bỏ phiếu trong các cuộc trưng cầu ý dân Trong khi đó đối với những cuộc bầu cử thì công dân Anh cư trú tại đất nước này cũng có quyền đi bỏ phiếu9
bỏ phiếu trưng cầu dân ý thì cuộc trưng cầu đó mới có hiệu lực; ngược lại, ở Thụy Sĩ lại không quy định tỉ lệ tối thiểu cử tri tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý mà bất kể với tỉ lệ như thế nào thì cuộc trưng cầu dân ý đó cũng đều được coi là hợp lệ Ở những nước quy định tỉ lệ tối thiểu cử tri tham gia trong cuộc trưng cầu dân ý xuất phát từ quan điểm cho rằng có quy định tỉ lệ này thì mới bảo đảm để kết quả trưng cầu sát thực với ý kiến của đa số người dân đồng thời tạo cho người dân có ý thức và có trách nhiệm hơn đối với công việc củ đất nước, của địa phương Tuy nhiên, ở những nước không quy định tỉ lệ tối thiểu cử tri tham gia trong cuộc trưng cầu dân ý mà điển hình là Thụy Sĩ lại xuất phát từ quan điểm cho rằng: “Trong bất cứ tình huống nào cũng phải tôn trọng tiếng nói của bộ phận tích cực chính trị trong số cử tri, những người không có tính tích cực không thể "thắng" được những người có tính tích cực chính trị Ai không tham gia bỏ phiếu là tự mình từ bỏ quyền chính trị của mình Quyết định của trên 50% số cử tri tham gia bỏ phiếu, dù là thiểu số so với tổng số cử
9 Xem http://en.wikipedia.org/wiki/Referendum
Trang 25tri vẫn có hiệu lực thi hành.”10
Đối với nước ta, tham khảo kinh nghiệm trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp đều quy định đối với khu vực bầu cử mà không có đủ 50% tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri đi bỏ phiếu thì sẽ tiến hành bầu cử lại tại khu vực đó Vì vậy, nên quy định rõ số lượng cử tri tối thiểu tham gia bỏ phiếu trưng cầu để cuộc trưng cầu dân ý có hiệu lực Cụ thể, nên quy định đối với mỗi khu vực bỏ phiếu phải có trên 50% tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri tham gia bỏ phiếu; trường hợp chưa có đủ 50% tổng số cử tri có tên trong danh sách cử tri tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý thì phải tổ chức trưng cầu dân ý lại tại khu vực trưng cầu đó
Về hình thức lá phiếu và nội dung câu hỏi trưng cầu dân ý: trong một cuộc trưng cầu
dân ý thì lá phiếu và nội dung câu hỏi được thể hiện trên lá phiếu là một yếu tố rất quan trọng, góp phần rất lớn vào sự thành công của một cuộc trưng cầu dân ý Cơ quan nào có quyền quy định về hình thức của lá phiếu, màu sắc, kích thước ra sao? Nội dung câu hỏi phải được thể hiện như thế nào? Phong cách ngôn ngữ nào được sử dụng để mang lại hiệu quả cao nhất? Để giải quyết những vấn đề đó thì thực tiễn pháp luật mỗi nước khác nhau lại có những quy định khác nhau Ngôn ngữ được sử dụng cho câu hỏi trưng cầu dân ý thường là ngôn ngữ thông dụng của người bản xứ Ví dụ, Luật trưng cầu dân ý của Canada quy định, ngôn ngữ sẽ do Chủ tịch Hội đồng trưng cầu dân ý quyết định sau khi đã thống nhất với các đại diện của người bản xứ
Về hình thức lá phiếu thì theo luật trưng cầu dân ý của nước cộng hoà Montenegro quy định rằng mỗi lá phiếu phải được in theo mẫu phiếu đã được in sẵn, mỗi lá phiếu
có một số seri duy nhất và được soi lỗ răng cưa để có thể tách ra sau khi cử tri đã đánh dấu vào lá phiếu (Điều 32 Luật trưng cầu dân ý của Cộng hòa Mongtengero 2001) Một cuộc trưng cầu dân ý thông thường trong một là phiếu sẽ đưa ra cho cử tri hai sự
lựa chọn là đồng ý hoặc không đồng ý với phương án đã đưa ra Tuy nhiên cũng có
nhiều nước tổ chức trưng cầu ý dân mà lá phiếu dược lựa chọn nhiều phương án lựa chọn khác nhau
10
Xem: Hội luật gia Việt Nam, Báo cáo số 303/HLGVN ngày 09/6 về một số kết quả nghiên cứu khảo sát về trưng cầu
ý dân ở Thụy Sĩ, Hà Nội, 2006, tr 3
Trang 26Ở Thụy sĩ thì việc sử dụng hai sự lựa chọn là phổ biến, nhưng riêng cuộc trưng cầu dân ý năm 1980 lại có đến ba sự lựa chọn
Ở Úc, trưng cầu ý dân năm 1977 về việc lựa chọn Quốc ca mới thì cử tri được đưa ra bốn phưpng án để lưạ chọn
Điều bất lợi của việc đưa ra nhiều phương án lựa chọn trong một cuộc trưng cầu ý dân
là tình trạng không biết xác định kết quả như thế nào khi mà không có phương án nào được ủng hộ với đa số phiếu của cử tri
Trình bày nội dung câu hỏi trong lá phiếu cũng là một vấn đề hết sức quan trọng Câu hỏi càng được thể hiện rõ ràng, chính xác, tỉ mỉ thì mang lại kết quả càng cao Nhưng
ai là người có quyền quyết định trong việc đưa ra câu hỏi trưng cầu và thủ tục thông qua câu hỏi trưng cầu cũng là một vấn đề quan trọng Mỗi nước quy định khác nhau nhưng phần lớn đều giao cho Quốc hội
1.4.4 Tuyên truyền vận động cho nội dung trƣng cầu dân ý
Trưng cầu dân ý là một trong những hình thức dân chủ trực tiếp, ở đó nhân dân thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề trọng đại liên quan đến vận mệnh quốc gia Do đó, việc cung cấp thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất và những kiến thức cần thiết cho người dân hiểu rõ bản chất của vấn đề đưa ra trưng cầu dân ý
là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức xã hội có liên quan Và một khi người dân đã hiểu được ngọn nguồn sự việc thì quyết định cuối cùng mà họ đưa ra mới phản ánh chính xác ý chí, nguyện vọng của họ, theo đó kết quả của cuộc trưng cầu dân ý mới thực sự có ý nghĩa theo đúng bản chất của nó Công tác tuyên truyền, vận động trưng cầu dân ý cũng cần phải tuân thủ đúng quy định về thời lượng, cách thức tuyên truyền, vận động tương xứng cho các phương án đưa ra trưng cầu Nếu không đảm bảo được vấn đề thời lượng, cách thức và tính cân xứng của những nội dung dược đưa ra trưng cầu sẽ dẫn đến cử tri bị tác động, bỏ phiếu cho phương án được tuyên truyền, vận động nhiều hơn; hoặc trong việc cử tri
bỏ phiếu trưng cầu dân ý, nếu không tuân tuyên truyền về cách thức bỏ phiếu, cách thức viết phiếu… có thể dẫn đến cử tri viết sai, viết hỏng vào phiếu làm phiếu không được coi là hợp lệ Tất cả những vấn đề trên sẽ dẫn đến kết quả trưng cầu dân ý không thật sự chính xác, nếu những vi phạm này xảy ra nhiều còn có thể dẫn đến hậu quả xấu nhất là làm sai lệch hoàn toàn kết quả trưng cầu dân ý và như vậy cũng đồng
Trang 27nghĩa phản ánh sai lệch ý chí của nhân dân Vì vậy, ở các nước có chế định trưng cầu dân ý đều đặc biệt quan tâm quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ về trưng cầu dân ý nhằm thu nhận chính xác nhất ý nguyện của dân chúng
1.4.5 Thời hạn bỏ phiếu trƣng cầu dân ý và thời gian bỏ phiếu trƣng cầu dân ý
Thời hạn tổ chức trưng cầu dân ý: trưng cầu dân ý là một sự kiện trọng đại, thông qua
đó người dân trực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng mang tầm cỡ quốc gia, do
đó việc dành thời gian cho công tác chuẩn bị là hết sức cần thiết Cũng tương tự như một cuộc bầu cử, nên mọi khâu, mọi công đoạn cần phải được chuẩn bị một cách tỉ
mỉ, chu đáo từ lúc ra quyết định triệu tập cho đến việc thành lập các cơ quan phụ trách
tổ chức trưng cầu dân ý, phân chia khu vực bỏ phiếu, lập danh sách cử tri, in phiếu biểu quyết…là cả một quá trình mà đòi hỏi phải có một khoảng thời gian nhất định để thực hiện Các nước có quy định khác nhau nhưng thông thường là không quá 90 ngày
kể từ ngày ra quyết định triệu tập cho đến ngày tổ chức trưng cầu ý dân (kể cả trường
hợp ngoại lệ)
Thời gian tiến hành bỏ phiếu trưng cầu dân ý: thời gian diễn ra việc trưng cầu dân ý
phải đảm bảo thu hút được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, không trùng vào những ngày lễ, ngày diễn ra các hoạt động khác và thông thường là được tổ chức vào những ngày lễ cuối tuần
Nước Úc là một trong những nước có hệ thống trưng cầu dân ý chặt chẽ trong các nước phát triển Vấn đề thời gian cho cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý, pháp luật của nước này quy định chọn thời gian theo nguyên tắc của luật bầu cử nhưng không được trùng vào các ngày sau đây: Không được tổ chức trong vòng 36 ngày trước và sau ngày bầu cử; không được tổ chức trưng cầu dân ý vào ngày bầu cử Thượng viện hoặc ngày tổ chức cuộc tổng tuyển cử đại biểu Hạ viện (Điều 7 Luật trưng cầu dân ý Australia)
Bỏ phiếu: bỏ phiếu kín là một trong những nguyên tắc quan trọng để cử tri tự do trong
việc thể hiện quan điểm của mình Thủ tục bỏ phiếu trưng cầu được pháp luật trưng cầu dân ý của các nước quy định khá chặt chẽ, cụ thể mặc dù thể thức tiến hành ở mỗi nước là khác nhau Tuy nhiên có một điểm tương đồng trong quy định của pháp luật
về trưng cầu dân ý của các nước là nguyên tắc bỏ phiếu kín và chỉ có những cá nhân
có tên trong danh sách cử tri mới được có quyền bỏ phiếu Khi đến phòng bỏ phiếu,
Trang 28cử tri phải xuất giấy tờ tùy thân hoặc thẻ cử tri cho nhân viên phụ trách kiểm tra trước, đồng thời nhận phiếu trưng cầu, đóng dấu đồng ý hay không đồng ý trên lá phiếu trong phòng kín sau đó gấp lại và đi ra ngoài tự tay bỏ vào thùng phiếu
1.4.6 Kiểm phiếu và xác định kết quả trƣng cầu dân ý
Kết quả trưng cầu dân ý là vấn đề cốt lõi của cuộc trưng cầu dân ý, có thể nói rằng mọi hoạt động xung quanh vấn đề tổ chức trưng cầu dân ý đều hướng tới việc đưa đến kết quả trưng cầu dân ý trung thực, chính xác, phản ánh được đúng ý chí và nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, để có được kết quả trưng cầu dân ý trung thực, chính xác thì trước hết cần phải có cuộc trưng cầu dân ý hợp pháp
Kết quả trưng cầu dân ý trước hết được xác định ở từng đơn vị tổ chức trưng cầu dân
ý Sau đó các đơn vị này sẽ chuyển kết quả trưng cầu dân ý lên cho Uỷ ban trưng cầu dân ý trung ương Trên cơ sở kết quả trưng cầu và những văn bản liên quan do các đơn vị trưng cầu dân ý gửi lên, Uỷ ban bầu cử sẽ xác nhận tính hợp pháp của từng đơn
vị trưng cầu dân ý, rồi công bố kết quả trưng cầu dân ý Trong trường hợp cần thiết,
Ủy ban trưng cầu dân ý sẽ tuyên bố tổ chức trưng cầu dân ý lại nếu những đơn vị đó kết quả trưng cầu dân ý không hợp lệ
Cách xác định kết quả trưng cầu dân ý: Đa số các nước đều quy định cách xác định
kết quả trưng cầu dân ý là phương án đưa ra trưng cầu được quá nửa số phiếu tán thành Quy định này nhằm bảo đảm cho kết quả trưng cầu dân ý phản ánh được ý kiến của đa số người dân Tuy nhiên, trong một số trường hợp lại quy định cần có đa số tuyệt đối thì kết quả trưng cầu dân ý mới có hiệu lực (tức cần phải có ít nhất hai phần
ba phiếu thuận) Những trường hợp này chủ yếu đối với trưng cầu dân ý về thay đổi hiến pháp bởi lẽ, cần phải có đa số tuyệt đối như vậy mới bảo đảm rằng sự thay đổi đó
sẽ nhận được sự ủng hộ của cử tri Cũng có trường hợp khác cần có điều kiện kép, tức ngoài việc phải đạt được đa số phiếu tuyệt đối còn cần phải có thêm điều kiện khác Chẳng hạn, Iraq khi tiến hành trưng cầu dân ý (năm 2005) các nhà lập pháp đã tuyên
bố rằng hiến pháp mới được thông qua khi có trên 50% số cử tri ủng hộ và không có quá 2/3 số cử tri của 3 tỉnh trên tổng số 18 tỉnh phản đối; tương tự, cuộc tổ chức trưng cầu dân ý tại tỉnh British Columbia của Canada (tháng 5 năm 2005) về việc thay đổi
hệ thống bầu cử, ngoài yêu cầu phải có quá bán số phiếu thuận còn phải kèm thêm điều kiện là không được có bất kì điểm bỏ phiếu nào phản đối Chính vì vậy mặc dù
Trang 29có gần 58% số cử tri đã bỏ phiếu ủng hộ cho việc thiết lập hệ thống bầu cử mới nhưng trong tổng số 79 điểm bỏ phiếu lại có 2 điểm đa số ý kiến không tán thành nên theo quy định pháp luật của bang này thì kết quả cuộc trưng cầu dân ý đó không dẫn tới việc thiết lập lại hệ thống bầu cử của bang Việc quy định cách xác định kết quả trưng cầu dân ý ở các nước có sự khác nhau như vậy là hoàn toàn phụ thuộc vào truyền thống và hệ thống chính trị của mỗi nước Cách xác định kết quả trưng cầu của nước này cho phép phản ánh được ý kiến của đại đa số nhân dân nhưng cũng với cách đó nếu áp dụng ở nước khác thì lại không được cử tri ở đó chấp thuận vì không bảo đảm phản ánh đúng được ý kiến của của cử tri Vì vậy, nếu không xây dựng được cách xác định kết quả trưng cầu dân ý phù hợp hoặc nếu trong quá trình thực hiện không thực hiện đúng quy định về cách xác định kết quả trưng cầu dân ý sẽ dẫn đến việc phản ánh sai ý chí của nhân dân và có thể gây nên những hậu quả tiêu cực Điển hình như trong cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp mới của Iraq năm 2005, mặc dù trước khi tổ chức trưng cầu dân ý, các nhà lập pháp đã tuyên bố hiến pháp mới được thông qua khi có trên 50% số cử tri ủng hộ và không có quá 2/3 số cử tri của 3 tỉnh trên tổng số 18 tỉnh phản đối Kết quả cuộc trưng cầu dân ý này tuy phần lớn cử tri đã bỏ phiếu thuận nhưng tại 3 tỉnh có người Sunnis chiếm đa số lại bỏ phiếu chống, cuối cùng hiến pháp mới vẫn được thông qua nhưng quá trình trưng cầu dân ý gần như thất bại vì một nhóm dân số đã thể hiện rõ ý chí phản đối, chính vì vậy Iraq vẫn chìm trong vòng xoáy bạo lực
Căn cứ xác định kết quả trưng cầu dân ý: thực tế cho thấy trong tất cả các cuộc trưng
cầu dân ý không bao giờ số cử tri tham gia đạt được 100%, thậm chí có trường hợp tỉ
lệ số cử tri tham gia chưa được 50% tổng số cử tri Vì vậy, nếu căn cứ vào tổng số cử tri để xác định kết quả trưng cầu dân ý là điều khó thực hiện Vì vậy, để bảo đảm có thể phản ánh được tương đối sát thực ý kiến của đại đa số người dân, các nước thường quy định xác định kết quả trưng cầu dân ý căn cứ trên tổng số cử tri tham gia cuộc trưng cầu ý dân Căn cứ này cho phép phản ánh đúng được ý chí của bộ phận cử tri tham gia bỏ phiếu nhưng có nhược điểm là không phản ánh được ý chí bộ phận cử tri không tham gia bỏ phiếu Tuy nhiên, vì những người này có quyền bỏ phiếu nhưng họ lại không tham gia bỏ phiếu thì nhà nước không thể có cách nào khác lấy được ý kiến của họ và khi đó, buộc họ phải chấp nhận ý kiến của đại đa số cử tri đã tham gia bỏ
Trang 30phiếu Trong lịch sử chúng ta đã từng chứng kiến việc tồn tại những căn cứ xác định kết quả trưng cầu cầu dân ý phản khoa học, phản dân chủ như trường hợp Napoleon
áp đặt trong cuộc tổ chức trưng cầu dân ý ở Thụy Sĩ về việc đặt Thụy Sĩ trong liên minh với Pháp, cụ thể là số người không tham gia bỏ phiếu được tính là đồng ý; ngược lại, ở Cộng hòa Pháp trước đây, số người không tham gia bỏ phiếu lại được tính vào số người phản đối, chính vì vậy, trong hai cuộc trưng cầu dân ý do Cộng hòa Pháp tổ chức thì tỉ lệ phiếu thuận chỉ đạt 39% và 15% Chúng tôi cho rằng Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam nên ghi nhận căn cứ xác định kết quả dựa trên tổng số cử tri tham gia cuộc trưng cầu dân ý để có tính hợp lý và phù hợp với xu hướng của thế giới
Trang 31CHƯƠNG II VẤN ĐỀ TRƯNG CẦU DÂN Ý Ở VIỆT NAM - THỰC TIỄN
VÀ KIẾN NGHỊ
2.1 Quy định của pháp luật trưng cầu dân ý ở Việt Nam
Xét về lịch sử lâp hiến, chế định trưng cầu dân ý đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của chúng ta Cụ thể:
Hiến pháp 1946 đã giành ba điều để quy định về chế định này
Quy định về quyền phúc quyết của nhân dân quy định tại Điều 21 “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia, theo điều thứ 32 và 70 ”
Điều 32 quy định “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tổng số nghị viên đồng ý.”
Điều 70 về sửa đổi Hiến pháp cũng quy định rõ “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Hiến pháp ghi nhận cho nhân dân có quyền tối cao trong việc trực tiếp tham gia những vấn đề trọng đại của quốc gia mặc dù trong giai đoạn mới giành độc lập này đất nước đang còn gặp nhiều khó khăn
Với quy định trên thì Hiến pháp 1946 đã xác định rõ loại việc cần được đưa ra phúc quyết, thẩm quyền, trình tự Và cũng xác định rõ những vấn đề nào là phải trưng cầu bắt buộc (thay đổi Hiến pháp), và một loại là trưng cầu không bắt buộc, chỉ tiến hành trưng cầu dân ý khi có 2/3 tổng số nghị viên đồng ý
So với quy định của Hiến pháp nước ngoài thì Hiến pháp 1946 tuy quy định những vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý là chưa đầy đủ nhưng đã thể hiện một bước tiến
bộ trong việc thực hiện xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập Hiến của Việt Nam
Hiến pháp 1959 quy định Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân tại Điều 53
Hiến pháp 1980, quy định Hội đồng Nhà nước có thẩm quyền quyết
định việc trưng cầu ý kiến nhân dân tại điều 100
Trang 32Hai bản Hiến pháp này đã không kế thừa được bản Hiến pháp 1946 trong việc quy định cho nhân dân có quyền được trực tiếp quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thông qua trưng cầu dân ý Mà chỉ mới dừng lại ở việc quy định cơ quan có quyền ra quyết định trưng cầu dân ý mà không có quy định về đối tượng, phạm vi cũng như cơ chế thực hiện trưng cầu dân ý
Điều này cũng có thể lý giải được nguyên nhân vì sao? Bởi đây là giai đoạn đất nước hết sức khó khăn, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, đất nước chia cắt thành hai miền với dưới hai chế độ chính trị khác nhau, miền Bắc là Xã hội chủ nghĩa, miền Nam là chế độ cộng hòa Với tình hình chính trị như vậy đòi hỏi mọi quyết định phải nhanh chóng, kịp thời nên chỉ có thể giao cho một nhóm ít người chứ không thể giao cho một tập thể người Mặt khác, nền kinh tế thì tập trung theo cơ chế bao cấp…Với những khó khăn như vậy thì việc để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý thực sự khó có thể diễn ra
Hiến pháp năm 1992 là hiến pháp của thời kì đổi mới, trong đó nhiều chế định có sự thay đổi lớn so với Hiến pháp năm 1980 Cùng với các chế định khác, chế định trưng cầu ý dân trong Hiến pháp năm 1992 cũng đã được sửa đổi theo chiều hướng tích cực Hiến pháp đã dành 3 điều quy định vấn đề trưng cầu ý dân, đổi cách dùng thuật ngữ
“trưng cầu ý kiến nhân dân” trong các bản hiến pháp năm 1980 và 1959 thành “trưng cầu ý dân”; xác lập quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân là quyền
cơ bản của công dân; tái ghi nhận Quốc hội có thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân như Hiến pháp năm 1946 đã quy định; đồng thời cũng quy định rõ trách nhiệm của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội Như vậy, quy định về trưng cầu ý dân trong Hiến pháp năm 1992 đã có những thay đổi tích cực so với hai bản hiến pháp trước đó là Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1959:
Về khía cạnh quyền công dân, thì Hiến pháp đã xác lập quyền biểu quyết của công dân khi nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý như là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định tại Điều 53 “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và Xã hội, tham gia các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị
với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân”
Trang 33Về khía cạnh trách nhiệm của nhà nước, bên cạnh việc quy định rõ Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định việc trưng cầu dân ý (Điều 84) thì Hiến pháp còn quy định cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có trách nhiệm triển khai thực hiện việc trưng cầu dân ý theo quyết định của Quốc hôi (Điều 91)
Với quy định này, hiến pháp đã ghi nhận cho công dân có quyền trực tiếp trong việc quyết định những vấn đề quan trọng khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân Tuy nhiên mới chỉ khắc phục được hạn chế so với 2 bản Hiến pháp trước đó, còn so với bản Hiến Pháp 1946 thì Hiến pháp 1992 vẫn còn thua xa cả về mặt lý luận lẫn nội dung quy định về vấn đề này
Hiến pháp 1992 vẫn chưa đánh giá và coi trọng một cách đầy đủ quyền lực tối cao của nhân dân trong việc trực tiếp quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, một quyền thể hiện rõ nhất bản chất dân chủ của một nhà nước pháp quyền Mặt khác, Hiến pháp 1992 cũng không quy định rõ đối tượng của việc trưng cầu ý dân, trình tự tiến hành và cơ chế thực hiện Trong khi đó, những vấn đề này Hiến pháp 1946 đã dề cập tuy ngắn gọn nhưng rõ ràng và đầy đủ
Trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này thì vấn đề trưng cầu dân ý đã được đạt ở vị trí quan trọng hơn so với Hiến pháp 1992 hiện hành Nếu như trước đây quy định công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý nằm trong nội dung cuối cùng của Điều 53 HP 1992 cùng với việc quy định về quyền được tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước thì nay Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tách quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý thành một điều luật riêng
và chỉ quy định duy nhất điều này trong một điều luật (Điều 30)
Điều 53 HP 1992 “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà
nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”
Điều 30 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”
Đồng thời dự thảo cũng quy định việc trưng cầu dân ý về Hiến pháp do Quốc hội quy định (khoản 4 Điều 124) như vậy Dự thảo đã nêu rõ một vấn đề có thể phải trưng cầu