1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố hồ chí minh tình hình, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa

117 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả nhận thấy, việc nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là hết sức cần thiết để phục vụ cho việc đưa ra các biện pháp và giúp nâng cao h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

-*** -

BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT

LÝ MỸ DUYÊN

CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

Người hướng dẫn khoa học: Ts Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh Người thực hiện: Lý Mỹ Duyên

MSSV: 1353801013044 Lớp: CLC38D

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn của Ts Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh – Giảng viên Khoa Luật Hình sự - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu và biểu đồ phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau và trích dẫn nguồn số liệu rõ ràng trong danh mục tài liệu tham khảo

Ngoài ra, trong khóa luận còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá, ý kiến cũng như

số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích rõ nguồn gốc

Nếu phát hiện bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung khóa luận của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2017

Sinh viên Lý Mỹ Duyên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian tìm tòi, nghiên cứu, thực hiện và chỉnh sửa khóa luận, tác giả

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em

trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh – Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa”

Để hoàn thành khóa luận này, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Quý Thầy, Cô trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh - những người đã tận tụy truyền thụ những kiến thức cơ bản làm nền tảng lý luận vững chắc giúp tác giả có

đủ động lực để lựa chọn và thực hiện đề tài; Cảm ơn Hội đồng khoa học và các Thầy

cô trong tổ bộ môn Luật Hình sự, các Thầy cô trong Ban điều hành Khoa Các chương trình đào tạo đặc biệt đã tạo điều kiện để tác giả thực hiện đề tài này

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh – Giảng viên Khoa Luật Hình sự, người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện đề tài này; Cô đã cho tác giả những lời khuyên quý giá, những kinh nghiệm bổ ích, những định hướng, đánh giá và những ý kiến sửa chữa vô cùng thiết thực Chính những điều này đã đóng góp một phần không nhỏ để tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình một cách tốt nhất

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn đến quý cơ quan Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh đã giúp tác giả thu thập các số liệu cần thiết để hoàn thành khóa luận Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tác giả có thể hoàn thành khóa luận này

Trân trọng

Sinh viên Lý Mỹ Duyên

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Trẻ em như búp trên cành, biết ăn ngủ học hành là ngoan”

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị cha già kính yêu của dân tộc, người luôn giành những tình cảm tốt đẹp nhất cho trẻ em, những mầm xanh tương lai của đất nước Trẻ em như những búp non trên cành cần được nâng niu, chăm sóc và bảo vệ Và

đó cũng là lời khuyên nhủ của Bác Hồ đối với trẻ em rằng ở lứa tuổi còn non trẻ này, các em cần “biết ăn ngủ”, “biết học hành” để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước

Trẻ em chính là những chân trời mới, những cánh cửa mới để đưa đất nước ta “có thể sánh vai với các cường quốc năm châu” Việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em

là một trong các công tác hàng đầu luôn được Đảng, Nhà nước cùng toàn thể nhân dân chú trọng và quan tâm thực hiện bằng các chủ trương, chính sách, các chương trình trọng điểm Cụ thể trong thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có hàng loạt các chính sách, kế hoạch, chương trình về trẻ em như: Quyết định 267/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Quốc gia bảo

vệ trẻ em giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định 2361/QĐ-TTg ngày 22 tháng 12 năm

2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020; Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ

em trong tình hình mới; Quyết định 1555/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn

2012 – 2020; và mới đây nhất là Luật trẻ em đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016

TP HCM được xem là một thành phố trẻ, năng động và là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước nên có thể nói công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em càng được chú trọng hơn bất cứ địa phương nào Điều này được thể hiện qua các chương trình, kế hoạch sau: Quyết định số 4759/QĐ-UBND ngày 05 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban

Trang 6

nhân dân thành phố về phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em TP HCM giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định số 3682/QĐ-UBND ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Ủy ban nhân dân thành phố về phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em TP HCM giai đoạn 2016 – 2020; Chỉ thị số 06-CT/TU ngày 03 tháng 8 năm 2012 của Ban Thường vụ Thành ủy

về tăng cường sự lãnh đạo công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xây dựng, phát huy vai trò của Đội Thiếu niên Tiền phong TP HCM; Công văn số 568-CV/TU ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thành ủy TP HCM về triển khai quán triệt Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 05 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cả nước nói chung và trên địa bàn TP HCM nói riêng Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong 05 năm từ 2012 – 2016, cả nước phát hiện trên 8.200 vụ xâm hại trẻ em với gần 10.000 nạn nhân, tăng

258 nạn nhân so với 05 năm trước Số vụ bị xâm hại tình dục chiếm tới 5.300 vụ, chiếm khoảng 65% Tuy nhiên con số này chỉ là những vụ việc được báo cáo, còn rất nhiều vụ nạn nhân bị chính kẻ xâm hại dọa dẫm hoặc vì lý do nào đó đã không được

XPTDTE đang ở mức báo động, gây nên những tổn thương không nhỏ về mặt thể chất, tinh thần và gây nên những hệ lụy nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em và sự phát triển của xã hội

Tác giả nhận thấy, việc nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm là hết sức cần thiết để phục vụ cho việc đưa ra các biện pháp và giúp nâng cao hiệu quả của các biện pháp này trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm XPTDTE trong bối cảnh vấn nạn này trở thành mối nguy hại lớn của không chỉ trẻ em mà còn của toàn xã hội

Vì lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa

bàn Thành phố Hồ Chí Minh – Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp phòng

1 http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=26274

Trang 7

ngừa” để nghiên cứu làm khóa luận tốt nghiệp cuối khóa chương trình đào tạo Cử

nhân Luật – Chuyên ngành Luật Hình sự của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí khoa học, luận văn, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về nhóm tội này Ví dụ như:

- Lê Thị Diễm Hằng (2017), Các tội xâm pham tình dục trẻ em, so sánh Bộ luật

Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân, (6), tr

18-24

- Lê Thị Linh Sương (2015), Khía cạnh nạn nhân trong nguyên nhân và điều kiện

của các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn

Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguyễn Hoàng Anh (2009), Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tình dục

trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại

học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh (2011), Bảo vệ quyền của nạn nhân các tội xâm

phạm tình dục trẻ em dưới góc độ quyền con người, Đề tài nghiên cứu khoa học,

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm Thị Ngân (2016), Phòng ngừa các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa

bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh

- Vũ Thị Thái Hà (2011), Các tội xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh – Thực trạng nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa, Luận văn Cử nhân

Luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Tuy các công trình nghiên cứu về vấn đề này khá đa dạng nhưng tựu chung lại, các công trình nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu ở một góc độ, một khía cạnh nhất định,

có công trình nghiên cứu đã lâu nên chưa cập nhật về tình hình tội phạm trong bối cảnh hiện nay Cùng với những hiểu biết về vấn đề này kết hợp với sự nỗ lực tìm tòi, đúc

Trang 8

kết, chọn lọc và kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, tác giả sẽ tiếp tục

có những nghiên cứu chuyên sâu và bao quát về vấn đề tìm hiểu tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện và công tác phòng ngừa các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành

phố Hồ Chí Minh – Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa”, mục

đích của tác giả là làm rõ tình hình tội phạm các tội XPTDTE thông qua các thông số

về thực trạng, cơ cấu, diễn biến và tính chất nguy hiểm của nhóm tội này trên địa bàn

TP HCM giai đoạn 2012 – 2016 Ngoài ra, tác giả còn tập trung nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm trên thực tế, từ đó có cơ sở để đưa

ra các biện pháp nhằm giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống nhóm các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM trong thời gian tới

và đảm bảo khoản thời gian đủ dài để thể hiện các thông số của tình hình tội phạm rõ ràng nhất

- Về tội phạm: tác giả nghiên cứu tội phạm XPTDTE trong khóa luận này với CTTP được quy định trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) vì trong giai đoạn năm 2012 – 2016 nhóm tội phạm này chịu sự điều chỉnh của BLHS năm 1999

Trang 9

- Về lĩnh vực nghiên cứu: lĩnh vực nghiên cứu của tác giả lựa chọn là Tội phạm học, qua đó nghiên cứu về tình hình tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phát sinh tình hình tội phạm và các biện pháp phòng ngừa

4 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác đấu

tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội XPTDTE nói riêng

- Ngoài ra, để thuận tiện cho việc nghiên cứu một cách sâu rộng, vừa đảm bảo tính khái quát vừa đảm bảo tính cụ thể chi tiết trong đề tài, tác giả sử dụng thêm các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thu thập; phương pháp tổng hợp, xử lý và

đánh giá số liệu; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, v.v

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài này góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về nguyên nhân và điều kiện hình thành các tội XPTDTE cũng như đánh giá được tình hình tội phạm XPTDTE trên địa bàn TP HCM trong thời gian qua Qua đó giúp đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa nhóm tội phạm này trên địa bàn TP HCM trong thời gian tới

- Kết quả nghiên cứu của đề tài được dùng làm tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tham khảo trong giảng dạy, học tập môn Tội phạm học

6 Bố cục của đề tài

Ngoài lời cảm ơn, lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 02 chương:

Chương I: Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo Bộ luật Hình sự Việt Nam và

tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 – 2016

Chương II: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội xâm phạm tình dục

trẻ em – Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới

Trang 10

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I – CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ

EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2012 – 2016 1

phạm tình dục trẻ em theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) 1 1.2 Tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí

Minh giai đoạn 2012 – 2016 13

TIỂU KẾT CHƯƠNG I 45 CHƯƠNG II – NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM – GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN TỚI 46

2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình

dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 74

KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang 11

CHƯƠNG 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ

EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2012 – 2016 1.1 Khái niệm tội xâm phạm tình dục trẻ em và dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1.1.1 Khái niệm tội xâm phạm tình dục trẻ em

Khái niệm hành vi xâm phạm tình dục

Luật Trẻ em 2016 quy định khái niệm xâm hại tình dục trẻ em như sau: “Xâm hại

tình dục trẻ em việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” Như vậy, hành vi xâm hại tình dục trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em

2016 bao gồm hai hành vi là “việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo,

dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em” và hành vi “sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này cũng

như việc nghiên cứu ở mức độ cử nhân, tác giả sẽ chỉ tập trung nghiên cứu các hành vi

XPTDTE bao gồm “việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ

em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em” vì trên thực tế, đây là những hành vi này trực tiếp xâm

phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em và gây nguy hiểm cao cho

xã hội

Một số tác giả khác đề cập đến khái niệm này ở nhiều khía cạnh khác nhau, cụ

thể: khái niệm “xâm phạm tình dục là động chạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình

2

Phạm Thị Ngân (2016), Phòng ngừa các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn TP HCM, Khóa luận tốt

Trang 12

Hoặc “Xâm phạm tình dục là hành vi cưỡng bức để xâm phạm về danh dự, nhân

phẩm, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tình dục cũng như về các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nạn nhân” 3

Khái niệm trẻ em:

Việc xác định khái niệm trẻ em sẽ thông qua hai đặc trưng quan trọng là độ tuổi

và sự phát triển về thể chất, nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý:

Thứ nhất, về độ tuổi

Độ tuổi là yếu tố quan trọng trong việc xác định trẻ em vì độ tuổi là sự phản ánh sinh học về sự phát triển nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý của con người Theo quy định của pháp luật quốc tế thì tuổi của trẻ em được quy định như sau: theo Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (United Nations Convention on the rights of

the child - CRC) thì “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người

dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên

cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 quy định thuật ngữ “trẻ

em” sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi 5 Hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất các quy định về độ tuổi của trẻ em cũng như khái niệm trẻ

em và người chưa thành niên, vấn đề này được quy định rải rác trong các đạo luật khác nhau, cụ thể:

Theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016 thì : “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Theo quy định của Luật Thanh niên năm 2005 thì: “Thanh niên quy định trong

Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, có thể ngầm

hiểu độ tuổi của trẻ em là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi

Theo quy định của BLDS năm 2015 thì: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là

người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” Như vậy,

3

Võ Thị Kim Ánh (2009), Đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình

Phước, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP HCM, tr 7

4 Điều 1 Công ước của Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (United Nations Convention on the rights of the child - CRC).

5 Điều 2 trong Công ước số 182 - Công ước Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999.

Trang 13

BLDS không quy định độ tuổi của trẻ em nhưng có đề cập đến độ tuổi của người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi

BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở

lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác” Ngoài ra, một trong những điểm mới của BLHS 2015 là quy định lại tên các

điều luật của nhóm các tội XPTDTE, cụ thể: Điều 142 Tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Điều 144 Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 145 Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; Điều 146 Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi Từ đó có thể hiểu trẻ em trong

đạo luật này là người dưới 16 tuổi

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về độ tuổi đủ điều kiện kết

hôn: “Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: Nam từ đủ 20

tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”

Theo Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về người lao động như sau: “Người

lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”

Như vậy có thể thấy, pháp luật Việt Nam chưa có sự nhất quán về việc xác định

độ tuổi pháp lý của trẻ em - yếu tố quan trọng để nhận thức chính xác về khái niệm trẻ

em Nhìn chung quy định của pháp luật Việt Nam phù hợp với quy định của Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) và Công ước số 182 - Công ước Nghiêm cấm

và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 khi các quy định về độ tuổi trẻ em đều dưới 18 tuổi Tuy nhiên, đến nay Việt Nam lại là nước còn lại duy nhất trong khối ASEAN, thứ 4 ở châu Á và thứ 11 trên thế giới chưa

Quy định về cách tính tuổi của người bị hại chưa thành niên:

Trang 14

Nếu xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày mồng một của tháng đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo

Nếu xác định được quý cụ thể của năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày mồng một của tháng đầu của quý đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo

Nếu xác định được cụ thể nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào của nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày mồng một tháng giêng hoặc ngày mồng một tháng 7 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét TNHS đối với bị can, bị cáo

Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm, thì lấy ngày mồng một tháng giêng của năm đó làm ngày sinh của người bị hại để xem xét

Thứ hai, về các đặc điểm về thể chất, nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý

Trẻ em là một trong những đối tượng dễ bị xâm hại, dễ bị tổn thương nhất bởi các hành vi bạo lực do sự yếu ớt về thể chất, sự non nớt về nhận thức, kinh nghiệm và kỹ

thiện về thể chất như chiều cao, cân nặng nên khả năng vận dụng sức mạnh của trẻ em còn hạn chế Các em thường chỉ làm được những việc nhỏ, khuân vác, cầm nắm các vật dụng nhẹ, vừa sức

Bên cạnh đó, có thể thấy, trẻ em là đối tượng đang trong giai đoạn hoàn thiện về mặt nhận thức, ở một lứa tuổi nhất định, thường là bước qua tuổi dậy thì hoặc độ tuổi thành niên thì khả năng nhận thức, xử lý các thông tin bên ngoài mới dần dần ổn định, hiệu quả và có chọn lọc Quá trình nhận thức, tiếp thu và xử lý thông tin này theo thời gian sẽ trở thành vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng của mỗi con người Tuy nhiên, ở độ tuổi còn quá nhỏ, thế giới bên ngoài của trẻ em chỉ là không gian chật hẹp, gò bó quanh

Trang 15

gia đình, trường học cùng các mối quan hệ với bố mẹ, thầy cô, bạn bè mà không phải

là xã hội rộng lớn và phức tạp Do đó, khả năng phân biệt điều xấu, lẽ phải và tránh xa những mối nguy hiểm của các em vẫn còn hạn chế Với đặc tính hiếu động, tinh nghịch, luôn ham thích tìm hiểu thế giới bên ngoài, thích lời khen tặng, lời đường mật của mọi người xung quanh thì các em dễ bị dụ dỗ, lôi kéo trở thành nạn nhân của các hành vi xâm phạm tình dục

Ngoài ra, đối với trẻ em ở độ tuổi dậy thì luôn có sự bất ổn về tâm sinh lý, gây tâm lý lo lắng, hoang mang và thường có những suy nghĩ, hành động thể hiện bản thân như việc yêu sớm, sống thử, gây rối, nổi loạn, v.v

Qua các phân tích về độ tuổi và sự phát triển về thể chất, nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý trên, tác giả xin đưa ra khái niệm trẻ em: trẻ em là đối tượng có độ tuổi dưới 16 tuổi chưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất, nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý Qua việc tìm hiểu và phân tích về khái niệm xâm phạm tình dục, khái niệm trẻ em (về độ tuổi và đặc điểm về thể chất, nhận thức, sức khỏe tâm sinh lý) như trên, tác giả

xin đưa ra khái niệm các tội XPTDTE như sau: Các tội xâm phạm tình dục trẻ em là

những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có đủ năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục, sự phát triển bình thường về sinh lý, thể chất, sức khỏe và nhân phẩm của trẻ

em 9

 Trẻ em - Đối tượng bảo vệ của pháp luật

Trẻ em là đối tượng có sự phát triển chưa hoàn thiện tâm sinh lý, chưa có đầy đủ nhận thức và năng lực để tự bảo vệ bản thân khỏi những tổn thương, xâm hại từ bên ngoài Trong khi các hành vi xâm hại tình dục trẻ em là hành vi bạo lực nghiêm trọng nhất, gây ra những ảnh hưởng vô cùng xấu trong thời gian dài đến sự phát triển về thể

của đa số các quốc gia Hiện nay có nhiều Điều ước quốc tế ra đời nhằm bảo vệ trẻ em

9 Nguyễn Hoàng Anh (2009), Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm tình dục trẻ em tại Thành phố Hồ Chí

Minh, Luận văn Thạc sĩ luật, Trường Đại học Luật TP HCM, tr 8

10

Nguyễn Phương Lan (2013), Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em, Tạp chí Luật học,

Trang 16

khỏi các hành vi xâm phạm tình dục Trên thực tế, Việt Nam đã phê chuẩn/gia nhập 05 văn kiện quốc tế quy định các nghĩa vụ cơ bản đối với các quốc gia để thực hiện các ứng phó về tư pháp hình sự để đấu tranh với tình dục trẻ em: Công ước về quyền trẻ

em 1989; Nghị định thư không bắt buộc về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn

còn có Tuyên bố thế giới về quyền con người 1948; Tuyên bố về quyền trẻ em 1959; Chương trình hành động của Liên Hợp Quốc về phòng chống buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em 1992; Tuyên bố về chương trình hành động của Hội nghị Quốc tế chống bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại 1996 Theo hệ thống pháp luật trong nước thì có không ít các đạo luật ra đời hoặc liên quan đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như: Luật Hiến Pháp năm 2013, Luật Giáo dục năm 2005, Luật Trẻ em năm 2016 ra đời thay thế cho Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 là một bước tiến mới trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngoài ra, Đảng và Nhà nước còn quan tâm thành lập Quỹ bảo trợ trẻ em 1992, Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam 2008; thực hiện các Chương trình hành động vì trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, giai đoạn 2016 - 2020, v.v

Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và có các chủ trương chính sách nhằm hướng đến việc nâng cao công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong xã hội hiện nay Từ đó, góp phần phòng, chống và đẩy lùi nạn XPTDTE đang trở nên ngày càng nhức nhối và thu hút sự quan tâm rất lớn từ phía cộng đồng

1.1.2 Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Dấu hiệu pháp lý chung của các tội xâm phạm tình dục trẻ em:

11

Nguyễn Xuân Hưởng (2014), Hoàn thiện một số quy định của BLHS nhằm bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi xâm

hại tình dục, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, (2), tr 48-52.

Trang 17

Mặt khách thể

Các tội XPTDTE xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em Đối tượng tác động là trẻ em (người dưới 16 tuổi)

Mặt chủ thể

Chủ thể của các tội XPTDTE là người có đầy đủ năng lực TNHS, đạt độ tuổi theo

, bao gồm chủ thể thường (đối với tội cưỡng dâm trẻ em) và chủ thể đặc biệt (đối với tội hiếp dâm trẻ em chủ thể chỉ có thể làm nam giới; đối với tội giao cấu với trẻ em và tội dâm ô với trẻ em chủ thể là người thành niên)

Mặt chủ quan

Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là người phạm tội nhận thức được hành vi phạm tội là gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nhưng vẫn mong muốn và bỏ mặc hậu quả xảy ra

Dấu hiệu pháp lý riêng của các tội xâm phạm tình dục trẻ em: Các tội

XPTDTE được quy định cụ thể trong BLHS năm 1999 tại các Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em), Điều 114 (Tội cưỡng dâm trẻ em), Điều 115 (Tội giao cấu với trẻ em), Điều

116 (Tội dâm ô với trẻ em)

12

Giáo trình Luật Hình sự phần Các tội phạm quyển 1, Đại học Luật TP HCM, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia

Trang 18

Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS)

Khái niệm: Hiếp dâm trẻ em là hành vi một người dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ

lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn với nạn nhân là người dưới 16 tuổi

Mặt khách thể: tội phạm Hiếp dâm trẻ em xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển

bình thường về thể chất, sức khỏe tâm sinh lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em chưa đủ 13 tuổi và trẻ em đủ 13 tuổi đến dưới 16

tuổi

Mặt chủ thể: chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt (nam giới) Nữ giới chỉ có

thể tham gia với tư cách đồng phạm hiếp dâm trẻ em với vai trò người xúi giục, người giúp sức, người tổ chức

Mặt khách quan: mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi dùng vũ

lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân

Hành vi dùng vũ lực: dùng sức mạnh vật chất đè bẹp sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như bóp cổ nạn nhân, đè nạn nhân bằng sức mạnh vật chất, v.v 13

Đe dọa dùng vũ lực: là thủ đoạn uy hiếp tinh thần cao độ đối với nạn nhân khiến

họ bị tê liệt ý chí, không dám kháng cự lại hành vi giao cấu như uy hiếp nạn nhân bằng dao, đe dọa giết nạn nhân, v.v

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân: là thủ đoạn lợi dụng một tình trạng nào đó của nạn nhân mà không thể kháng cự lại việc giao cấu như sức khỏe quá yếu, đang trong tình trạng bị say rượu hoặc không có sự tự chủ do sử dụng chất kích thích khác

Dùng thủ đoạn khác là người phạm tội có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm uy hiếp tinh thần hoặc dồn ép hay lợi dụng tình thế không thể kháng cự của nạn nhân (như

bị bệnh, uống rượu say, v.v )

Về đối tượng tác động:

13 Giáo trình Luật Hình sự phần Các tội phạm quyển 1, Đại học Luật TP HCM, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr 112

Trang 19

- Đối với trẻ em chưa đủ 13 tuổi: Mọi hành vi giao cấu với trẻ em dưới 13 tuổi (không đề cập đến việc giao cấu trái ý muốn hoặc không trái ý muốn nạn nhân) đều cấu thành tội hiếp dâm trẻ em

- Đối với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: Người phạm tội Hiếp dâm trẻ em nếu có hành vi giao cấu trái ý muốn với nạn nhân; nếu giao cấu không trái ý muốn thì cấu thành tội phạm khác (tội Giao cấu với trẻ em theo Điều 114)

Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Lưu ý:

Vì nạn nhân là trẻ em nên cần lưu ý một số vấn đề, nếu nạn nhân từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì cần xác định việc giao cấu trái với ý muốn nạn nhân thì mới cấu thành tội phạm này

Theo Khoản 4 Điều 112 BLHS quy định: “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em

chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em và người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” Quy định như vậy chứng tỏ dù

nạn nhân có đồng ý hoặc không đồng ý với hành vi giao cấu của người phạm tội thì người phạm tội vẫn bị truy cứu TNHS tội hiếp dâm trẻ em trong trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi Sở dĩ có quy định như vậy vì nhà làm luật coi việc lợi dụng

độ tuổi để có được sự đồng ý của nạn nhân là một dạng cụ thể của thủ đoạn khác – thủ

khác lôi kéo, rủ rê, mua chuộc, khó có thể tự vệ được, nên cần được bảo vệ một cách đặc biệt nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường, lành mạnh của các em mà cần phải

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì “giao cấu” là giao tiếp bộ

Hiện nay chưa có văn bản nào quy định thế nào là giao cấu ngoài quy định tại Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội phạm khác về mặt tình

Trang 20

dục số 329 – HS2 ngày 11 tháng 5 năm 1967 của TANDTC: “Giao cấu là sự cọ xát

trực tiếp dương vật vào bộ phận sinh dục của phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với

ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh hay không” Khái niệm này chỉ đúng với trường hợp giao cấu giữa hai người

khác giới theo tự nhiên Tuy nhiên hiện nay còn nhiều trường hợp khác như quan hệ tình dục đồng giới, quan hệ tình dục của người chuyển giới, v.v thì với khái niệm giao cấu trên chưa bao quát được các trường hợp này

Hình phạt: Điều 112 BLHS quy định 04 khung hình phạt và hình phạt bổ sung

Khoản 1 quy định mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc CTTP cơ bản

Khoản 2 quy định mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Khoản 3 quy định mức phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với các trường hợp phạm tội có mức định khung tăng nặng

Khoản 4 quy định mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi

Ngoài hình phạt chính, Khoản 5 còn quy định hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS):

Khái niệm: Cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến người dưới 16

tuổi là người lệ thuộc người phạm tội hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu

Mặt khách thể: Tội phạm Cưỡng dâm trẻ em xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển

bình thường về thể chất, sức khỏe tâm sinh lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là người dưới 16 tuổi

Mặt chủ thể: Chủ thể của tội phạm có thể là nam hoặc nữ, có đầy đủ năng lực

TNHS

Trang 21

Mặt khách quan: cưỡng dâm trẻ em là hành vi ép buộc người lệ thuộc mình hoặc

người đang trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu

Thủ đoạn ép buộc: Là hành vi đe dọa hoặc hứa hẹn nạn nhân như: đe dọa sa thải, hứa hẹn cho vay tiền giải quyết những khó khăn cấp bách, v.v

Người bị lệ thuộc vào người phạm tội: bao gồm lệ thuộc về tinh thần hoặc vật chất bắt nguồn từ nhiều quan hệ khác nhau như: cha với con, thầy với trò, sếp và nhân viên, v.v

Người trong tình trạng quẫn bách: là trường hợp người đó đang trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, tự mình không thể hoặc khó có thể khắc phục, bản thân họ khó có thể đưa ra cách xử sự sáng suốt để giải quyết vấn đề mà cần sự giúp đỡ từ người khác

Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Hình phạt: Điều 114 quy định 03 khung hình phạt và hình phạt bổ sung

Khoản 1 quy định mức phạt tù từ năm năm đến mười năm đối với các trường hợp phạm tội CTTP cơ bản

Khoản 2 quy định mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Khoản 3 quy định mức phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Ngoài hình phạt chính, khoản 4 còn quy định các hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS):

Khái niệm: Giao cấu với trẻ em là hành vi giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến

dưới 16 tuổi

Khách thể: Tội phạm giao cấu với trẻ em xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển

bình thường về thể chất, sức khỏe tâm sinh lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Trang 22

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt về độ tuổi, phải là người đã

thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực TNHS, có thể là nam hoặc nữ

Khách quan: Hành vi giao cấu có sự đồng tình của trẻ em, không có sự cưỡng ép

hoặc ép buộc từ bất cứ bên nào

Chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Hình phạt: Điều 115 quy định 3 khung hình phạt

Khoản 1 quy định mức phạt tù từ một năm đến năm năm đối với các trường hợp phạm tội CTTP cơ bản

Khoản 3 quy định mức phạt tù từ ba năm đến mười năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Khoản 3 quy định mức phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

- Tội dâm ô với trẻ em (Điều 116 BLHS):

Khái niệm: Dâm ô với trẻ em là hành vi người đã thành niên khiêu gợi, kích thích

nhu cầu tình dục của trẻ dưới 16 tuổi

Mặt khách thể: Tội phạm dâm ô với trẻ em xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển

bình thường về thể chất, sức khỏe tâm sinh lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Đối tượng tác động của tội phạm là người dưới 16 tuổi không phân biệt giới tính

Mặt chủ thể: Chủ thể của tội phạm có thể là nam hoặc nữ, là người đã thành niên

từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực TNHS

Mặt khách quan: Có hành vi khiêu gợi, kích thích nhu cầu tình dục của trẻ em

dưới 16 tuổi như: (1) sờ mó, hôn hít, dùng bộ phận sinh dục của mình cọ xát vào bộ phận sinh dục của nạn nhân; (2) bắt nạn nhân sờ mó, hôn hít, cọ xát bộ phận sinh dục của mình nhằm thỏa mãn ham muốn tình dục của bản thân Cả hai hành vi trên đều không có ý định giao cấu với nạn nhân Nạn nhân có thể đồng tình hoặc bị cưỡng ép thực hiện hành vi dâm ô với người phạm tội

Mặt chủ quan: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp

Hình phạt: Điều 116 quy định 03 khung hình phạt và hình phạt bổ sung

Trang 23

Khoản 1 quy định mức phạt tù từ sáu tháng đến ba năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc CTTP cơ bản

Khoản 2 quy định mức phạt tù từ ba năm đến bảy năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Khoản 3 quy định mức phạt tù từ bảy năm đến mười hai năm đối với các trường hợp phạm tội có tình tiết định khung tăng nặng TNHS

Ngoài hình phạt chính, Khoản 4 quy định hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

1.2 Tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh giai đoạn năm 2012 – 2016

1.2.1 Thực trạng của tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Thực trạng của tình hình tội phạm là thông số phản ánh tổng số tội phạm, tổng số người phạm tội trong một không gian, thời gian xác định Thực trạng của tình hình tội phạm bao gồm hai bộ phận: số người phạm tội, số tội phạm đã xảy ra và bị phát hiện,

xử lý (tội phạm rõ) và số người phạm tội, số tội phạm đã xảy ra nhưng chưa bị phát

Tội phạm rõ

Tội phạm rõ là tội phạm đã xảy ra trên thực tế và bị cơ quan chức năng phát hiện

và xử lý theo thủ tục tố tụng Trên thực tế, số tội phạm rõ này được xác định qua thống

kê của cơ quan chức năng Thời điểm để xác định tội phạm rõ là khi tội phạm bị đưa ra xét xử về hình sự và có trong thống kê hình sự hay nói cách khác, con số về tội phạm được thống kê chính thức bởi cơ quan tòa án là tội phạm rõ Số liệu này được cơ quan tòa án thống kê hàng năm Sở dĩ có quan điểm về thời điểm xác định tội phạm rõ như

Trang 24

vậy là vì các số liệu này điều cho rằng thống kê xét xử hình sự tòa án có tính chính xác

Với cách hiểu hày, thực trạng của tình hình tội phạm, cụ thể là phần tội phạm rõ của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM được thể hiện ở bảng sau về số vụ phạm tội và số bị cáo mà Tòa án phải giải quyết và thực tế Tòa án đã giải quyết trong giai đoạn 2012 – 2016

Bảng 1: Tổng số vụ phạm tội, số bị cáo của các tội xâm phạm tình dục trẻ em mà Tòa án phải giải quyết và thực tế Tòa án đã giải quyết trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

Năm Số vụ án phải giải quyết Số vụ án đã giải quyết

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Quan sát Bảng 1 ta thấy, trong 05 năm kể từ năm 2012 đến năm 2016, TAND cấp

huyện và TAND TP HCM đã phải giải quyết 760 vụ phạm tội với 810 bị cáo về các tội XPTDTE và thực tế ngành Tòa án đã giải quyết 567 vụ phạm tội với 587 bị cáo trong nhóm tội này Năm 2014 là năm có số vụ án và số bị cáo mà Tòa án phải giải quyết cao nhất với 178 vụ và 183 bị cáo Năm 2016 là năm có số vụ án lẫn số bị cáo mà Tòa án

18

Dương Tuyết Miên (2010), Bàn về tội phạm rõ, tội phạm ẩn trong tội phạm học, Tạp chí Luật học, (3), tr

27-32

Trang 25

phải giải quyết thấp nhất với 115 vụ và 137 bị cáo Trung bình mỗi năm xảy ra 152 vụ phạm tội với 162 bị cáo

Tiếp theo, tác giả đưa ra các số liệu về tỷ lệ bị cáo/số vụ phạm tội của nhóm các tội XPTDTE và cụ thể từng tội phạm trong nhóm nhằm nghiên cứu về hình thức phạm tội của nhóm tội này

Bảng 2: Tỷ lệ số bị cáo/vụ phạm tội của nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em mà Tòa án phải giải quyết trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Bảng 3: Số vụ phạm tội, số bị cáo của các tội phạm cụ thể trong nhóm các tội xâm phạm tình dục trẻ em mà Tòa án phải giải quyết trên địa bàn TP HCM từ năm

2012 – 2016

Năm

Hiếp dâm trẻ em

Cƣỡng dâm trẻ em

Giao cấu với trẻ em Dâm ô với trẻ em

Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo Vụ Bị cáo

Trang 26

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Biểu đồ 1: Số vụ phạm tội của các tội phạm cụ thể trong nhóm các tội XPTDTE

mà Tòa án phải giải quyết trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Căn cứ Bảng 2 và Bảng 3, trong giai đoạn 2012 – 2016, tỷ lệ giữa bị cáo/số vụ

phạm tội dao động từ 1 đến 1,2 Tỷ lệ này cụ thể ở tội hiếp dâm trẻ em là 1,1, tội giao cấu với trẻ em là 1 và tội dâm ô với trẻ em là 1,2 Tỷ lệ trung bình là 1,06 cho thấy đa

số vụ án đều do một người phạm tội thực hiện, mang tính cá nhân riêng lẻ, không mang tính đồng phạm Các đối tượng phạm tội thường lựa chọn nạn nhân và thực hiện hành

vi phạm tội Thông thường bản thân người phạm tội đã đủ khả năng khống chế, cưỡng

ép hoặc yêu cầu giao cấu với nạn nhân vì nạn nhân của nhóm tội này là trẻ em (người dưới 16 tuổi) nên chưa có khả năng biểu lộ ý chí đúng đắn cũng như sức mạnh để

Trang 27

kháng cự hành vi phạm tội và vì vậy, chỉ cần một người phạm tội đã đủ để hoàn thành tội phạm Bên cạnh đó xuất phát từ bản chất của các hành vi XPTDTE là hành vi nhằm thỏa mãn nhu cầu mang tính bản năng được thực hiện giữa hai cá thể là chính nên khi

có sự ham muốn, kích thích tình dục của người phạm tội (nghĩa là có ý muốn thực hiện tội phạm) thì người phạm tội sẽ chủ động chuẩn bị các điều kiện và thực hiện hành vi phạm tội mà không cần sự giúp sức của đồng phạm Vẫn có trường hợp tội phạm này

có đồng phạm nhưng tỉ lệ này không nhiều và không đặc trưng (cao nhất là ở tội dâm ô với trẻ em với tỷ lệ 1,2)

Qua Bảng 3 và Biểu đồ 1 có thể thấy trong giai đoạn 2012 - 2016, trên địa bàn

TP HCM, Tòa án phải giải quyết 242 vụ phạm tội hiếp dâm trẻ em (chiếm 31,8% tổng

số vụ phạm tội các tội XPTDTE Tòa án phải giải quyết) với 263 bị cáo; 389 vụ phạm tội giao cấu với trẻ em (chiếm 51,2% tổng số vụ phạm tội các tội XPTDTE Tòa án phải giải quyết) với 398 bị cáo; 129 vụ phạm tội dâm ô với trẻ em (chiếm 17% tổng số vụ phạm tội các tội XPTDTE Tòa án phải giải quyết) với 149 bị cáo; đồng thời Tòa án không giải quyết vụ án nào liên quan đến tội cưỡng dâm trẻ em trong thời gian qua

Tội phạm ẩn

Như đã đề cập tội phạm ẩn là tội phạm đã xảy ra trên thực tế nhưng chưa bị cơ quan chức năng phát hiện, xử lý và do đó tội phạm này không có trong kết quả thống

kê của cơ quan chức năng

Có 03 loại tội phạm ẩn đó là: Tội phạm ẩn tự nhiên, tội phạm ẩn nhân tạo và tội phạm ẩn thống kê Theo tác giả, tội phạm của nhóm các tội XPTDTE tập trung chủ yếu

là tội phạm ẩn tự nhiên

Các tội XPTDTE là nhóm tội có độ ẩn cao vì một số lý do:

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm ẩn tự nhiên chủ yếu từ phía người phạm tội, người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc những người khác biết sự việc xảy ra ,

biệt là phía người bị hại thuộc nhóm không tố giác và muốn giữ kín sự kiện phạm tội vì

19

Giáo trình Tội phạm học, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường ĐH KHXH & NV, NXB Đại học Quốc gia Hà

Trang 28

người bị hại biết rõ tội phạm nhưng họ không những không tố giác tội phạm mà còn

chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu tội phạm ẩn cũng như các tội phạm không thể xử

lý hình sự do người bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình

có độ tuổi còn nhỏ (dưới 16 tuổi) và chưa có sự phát triển đầy đủ về mặt nhận thức nên các em khó hoặc thậm chí không nhận thức được hành vi xâm phạm của người phạm tội Bởi lẽ tội phạm của nhóm các tội XPTDTE tuy không nhiều nhưng rất đa dạng với

có thể phát giác, phòng tránh tội phạm cũng như nhận thức rõ quyền bất khả xâm phạm tình dục của chính mình đang bị xâm phạm Trẻ em chưa đủ khả năng để hiểu rõ những hành vi xâm phạm tình dục và do đó các em không tố giác, thậm chí không nói với người thân trong gia đình biết về tội phạm

Tâm lí nạn nhân lo sợ, xấu hổ: Các tội XPTDTE là nhóm tội xâm phạm đến sự

phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, danh dự, nhân phẩm của trẻ em Bản thân người bị hại không muốn tiết lộ bí mật về danh dự, nhân phẩm của họ khi bị tội phạm

tránh khỏi sự xấu hổ, mặc cảm, tự ti về bản thân Thậm chí, đó là những cảm giác cảm thấy bản thân tội lỗi, nhơ nháp và dơ bẩn Bên cạnh đó, đôi khi họ lại nhận được sự thương hại hoặc tò mò, soi moi, dè bỉu của cộng đồng, thậm chí khi cộng đồng không

có các thái độ tiêu cực như vậy thì người bị hại và gia đình họ cũng “tự kỷ ám thị” rằng

dẫn đến việc nạn nhân không muốn nhắc đến, nghĩ đến, tiết lộ và tố giác tội phạm

20 Phạm Văn Tỉnh (2000), Tội phạm ẩn tự nhiên có lý do ẩn từ phía bị hại, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (144),

tr 39-45

21 Lê Lan Chi (2015), Xử lý hình sự đối với các hành vi xâm hại tình dục và các vấn đề đặt ra đối với việc hoàn

thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (11), tr 15-19

22 Xem thêm tại mục 1.1.2

23 Giáo trình Tội phạm học, Đại học Quốc gia Hà Nội – Trường ĐH KHXH & NV, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 80

24

Lê Lan Chi (2015), Xử lý hình sự đối với các hành vi xâm hại tình dục và các vấn đền đặt ra đối với việc hoàn

thành pháp luật ở Việt Nam hiện nay, tạp chí Dân chủ và pháp luật, (11), tr 15-19

Trang 29

Tâm lý của gia đình nạn nhân: Xuất phát từ tâm lý lo ngại, xấu hổ, sợ ảnh hưởng

đến danh dự và cuộc sống gia đình cũng như nhằm bảo vệ nạn nhân, tránh để nạn nhân

bị ảnh hưởng tâm lý bởi cộng đồng nên trên thực tế, gia đình nạn nhân không lên tiếng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thân bị xâm phạm Xã hội hiện nay tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như tục tảo hôn, ép hôn khiến các em gái tuổi còn rất nhỏ đã phải kết hôn trong khi gia đình cho rằng đây là một điều bình thường Hoặc trong nhiều trường hợp các thành viên trong gia đình không biết đến việc trẻ em bị xâm phạm hoặc đối tượng phạm tội chính là người thân trong gia đình Khi đó, các gia đình lựa chọn không tố giác tội phạm mà cố gắng che giấu, bỏ qua hành vi phạm tội, tự thỏa thuận với người phạm tội và bỏ mặc hậu quả xảy ra

Thủ đoạn phạm tội và mối quan hệ của người người phạm tội và nạn nhân, gia đình nạn nhân: Trong rất nhiều trường hợp người phạm tội là người có quan hệ gần

gũi, thân thích với nạn nhân nên họ dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội thông qua lợi dụng những sơ hở, sự tin tưởng của nạn nhân và dễ dàng che giấu sự việc đã xảy ra Vì

lẽ đó, tội phạm khó bị phát giác và thậm chí khó bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự Do đó số liệu về vụ án không có trong kết quả thống kê tội phạm của cơ quan chức năng

Sai lầm của các chủ thể tiến hành tố tụng: Đây là nguyên nhân của tội phạm ẩn

nhân tạo (hay còn gọi là tội phạm ẩn chủ quan) Tuy tội phạm của nhóm các tội XPTDTE có tội phạm ẩn nhân tạo không nhiều nhưng đây cũng là một khía cạnh trong nghiên cứu tội phạm ẩn của nhóm tội này Tội phạm ẩn nhân tạo xuất phát từ những sai lầm, khiếm khuyết, hạn chế trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng khiến cho các số liệu thống kê chưa được thể hiện đầy đủ trong báo cáo kết quả thống kê tội phạm

Sự sai sót, chưa hoàn thiện trong quá trình thống kê tội phạm: Do kỹ năng nghiệp

vụ yếu kém dẫn đến các số liệu thống kê về các tội XPTDTE chưa được cập nhật, chưa được xử lý hoặc được xử lý nhưng chưa chính xác Điều này khiến các số liệu thống kê không xuất hiện hoặc xuất hiện không đầy đủ trong kết quả báo cáo của các cơ quan

Trang 30

chức năng Ngoài ra có thể vì lý do thành tích nên các cơ quan chức năng không chủ động thống kê số vụ phạm tội, số người phạm tội khiến các tội phạm này không có

trong báo cáo kết quả thống kê hình sự

Nhìn chung, nhóm các tội XPTDTE có độ ẩn cao trong xã hội vì một số lý do trên Đây là nhóm tội gây nguy hiểm cao cho xã hội do có độ ẩn cao khiến công tác phát hiện tội phạm để kịp thời xử lý còn nhiều khó khăn cũng như phần tội phạm rõ chưa khái quát hết tình hình tội phạm trên thực tế khiến công tác phòng ngừa tội phạm diễn ra chưa thật sự triệt để và hiệu quả Do đó, chúng ta cần có những giải pháp nhằm hạn chế và loại bỏ các nguyên nhân gây nên tội phạm ẩn của nhóm các tội XPTDTE,

có như vậy mới đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm này trong xã hội hiện nay

1.2.2 Cơ cấu của tình hình các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Cơ cấu của tình hình tội phạm là thành phần, tỷ trọng, sự tương quan giữa các tội phạm, loại tội phạm trong một chỉnh thể tình hình tội phạm

Về cơ cấu cơ bản

Cơ cấu số vụ án XPTDTE mới thụ lý với tổng số vụ phạm tội:

Khi nghiên cứu về cơ cấu của tình hình tội phạm, không thể không nhắc đến cơ cấu số vụ án của nhóm các tội XPTDTE trong tổng số vụ án xảy ra tại TP HCM nhằm giúp nhận thức chung về tỷ lệ nhóm tội này trong tổng thể tình hình tội phạm của thành phố

Bảng 4: Số vụ án mới thụ lý của các tội XPTDTE trong tổng số các vụ phạm tội tại TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

Năm

Số vụ án mới thụ lý của các tội XPTDTE tại TP HCM (1)

Tổng số vụ phạm tội tại TP HCM (2)

Tỉ lệ (1) so với (2)

(%)

Trang 31

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM

Biểu đồ 2: Cơ cấu số vụ án mới thụ lý của các tội XPTDTE trong tổng số các vụ phạm tội trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Qua Bảng 4 và Biểu đồ 2 cho thấy số vụ án mới thụ lý của nhóm các tội

XPTDTE chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số các vụ phạm tội xảy ra trên địa bàn TP HCM Tỷ lệ trung bình vụ án về các tội XPTDTE trong 05 năm (2012 – 2016) là 1,9%, nghĩa là trong 36114 số vụ phạm tội thì có 672 vụ phạm tội về các tội XPTDTE Năm

2013 và năm 2014 có tỷ lệ cao nhất 2,1% với số vụ XPTDTE lần lượt là 148 và 151

vụ Riêng năm 2016 có tỷ lệ thấp nhất 1,4% với 102 vụ phạm tội

672

36114

Cơ cấu số vụ án mới mới thụ lý của các tội XPTDTE trong tổng

số các vụ phạm tội trên địa bàn TP HCM

Trang 32

Cơ cấu các tội phạm cụ thể trong nhóm các tội XPTDTE:

Do một phần đối tượng nghiên cứu của đề tài là về tình hình tội phạm của nhóm các tội XPTDTE nên bên cạnh việc đưa ra số liệu về cơ cấu tổng số vụ án thì tác giả còn phân tích số liệu cụ thể về cơ cấu các tội phạm cụ thể và số bị cáo trong các tội phạm cụ thể của nhóm tội này để giúp làm rõ hơn cơ cấu cơ bản của tình hình tội phạm

Biểu đồ 3: Cơ cấu các tội phạm cụ thể trong nhóm các tội XPTDTE trên địa bàn

Trang 33

Biểu đồ 4: Cơ cấu số bị cáo trong các tội phạm cụ thể của nhóm các tội XPTDTE giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Từ Bảng 3, Biểu đồ 3 và Biểu đồ 4 trong giai đoạn 2012 – 2016, ngành Tòa án

trên địa bàn TP HCM không giải quyết bất cứ vụ án cưỡng dâm trẻ em nào do đó tỷ lệ

vụ án và bị cáo tội phạm này là 0% Tội giao cấu với trẻ em chiếm tỷ trọng lớn trong

cơ cấu nhóm các tội XPTDTE với 389 vụ (chiếm 51,2% tổng số vụ phạm tội) và 398 bị cáo (chiếm 49,8% tổng số bị cáo) Kế đến là tội hiếp dâm trẻ em với 242 vụ (chiếm 31,8 tổng số vụ phạm tội) và 263 bị cáo (chiếm 32,5 tổng số bị cáo) Tội phạm có số vụ

án lẫn số bị cáo thấp nhất là tội dâm ô với trẻ em với 129 vụ (chiếm 17% tổng số vụ

phạm tội) và 149 bị cáo (chiếm 18,4% tổng số bị cáo)

Cơ cấu chuyên biệt

Cơ cấu theo hình phạt:

Hình phạt là chế tài trong pháp luật Hình sự và đây cũng là đặc trưng quan trọng nhằm thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm Do đó, nghiên cứu về cơ cấu hình phạt đối với 04 tội phạm trong nhóm các tội XPTDTE là điều tất yếu nhằm có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình tội phạm của nhóm tội này

263

0

398

149

Cơ cấu số bị cáo phạm trong các tội phạm cụ thể của nhóm các

tội XPTDTE giai đoạn 2012 - 2016

Hiếp dâm trẻ em Cưỡng dâm trẻ em Giao cấu với trẻ em Dâm ô với trẻ em

Trang 34

Bảng 5: Cơ cấu hình phạt của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn

Tù từ trên

3 năm đến 7 năm

Tù từ trên 7 năm đến

15 năm

Tù từ trên 15 năm đến

20 năm

Tù chung thân

Tỉ

lệ

Bị cáo

Trang 35

Biểu đồ 5: Cơ cấu hình phạt của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Qua số liệu ở Bảng 5 và Biểu đồ 5 thì số bị cáo bị tuyên tù có thời hạn từ 03 năm

trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất (47,8%) với 274 bị cáo, tiếp đến là hình phạt tù có thời hạn từ trên 03 năm đến dưới 07 năm với 169 bị cáo (chiếm 26,8%), số bị cáo với hình phạt tù chung thân chiếm tỷ lệ thấp nhất với 04 bị cáo (chiếm 0,9%)

Cơ cấu theo phương thức, thủ đoạn phạm tội: nhóm các tội XPTDTE được thực

hiện theo các hình thức, thủ đoạn đa dạng Đối tượng thường lợi dụng khả năng kháng

cự yếu đuối, khả năng nhận thức hạn chế, dễ bị hấp dẫn, dụ dỗ bằng vật chất hoặc lời nói ngon ngọt của trẻ em để thực hiện hành vi phạm tội Như trường hợp của cháu T.T.H.G (SN 2006, cư trú tại huyện Hóc Môn, TP HCM) bị C.V.C (SN 1929, cư trú tại huyện Hóc Môn, TP HCM) là chủ cho thuê nhà trọ giao cấu 10 lần vào cuối năm

bị cáo H.T.T (SN 1995, cư trú tại Quận 9 TP HCM) và bị cáo N.V.T (SN 1994, cư trú tại Quận 9) sau khi rủ rê cháu P.N.Q.N (SN 1998) uống rượu say và để cháu vào phòng nằm ngủ H.T.T nghe thấy cháu N nằm trên giường, nói mê sảng nên vào ngồi cạnh

Tù từ trên 3 năm đến 7 năm

Tù từ trên 7 năm đến 15 năm

Tù từ trên 15 đến 20 năm

Tù chung thân

Trang 36

cháu N cởi hết quần áo cháu N và tự cởi quần áo của mình ra rồi nằm đè lên cháu N và thực hiện hành vi giao cấu Sau đó H.T.T ra hiệu cho N.V.T vào giao cấu với cháu

Trường hợp khác, bị cáo lợi dụng mối quan hệ gần gũi như người yêu, hàng xóm hoặc lợi dụng sự tin tưởng của cha mẹ nạn nhân để tạo điều kiện thuận lợi thực hiện hành vi phạm tội Như trường hợp của cháu N.A.T (sinh năm 2001, sống chung với vợ chồng dì ruột là chị L.T.H.T và N.H.N tại quận Bình Tân, TP HCM) bị dượng là

(SN 1952, cư trú tại Quận 8 TP HCM) có mối quan hệ quen biết với mẹ cháu S – chị

T, khi chị T bị tai nạn giao thông và bị cáo S đã gợi ý chở cháu T đi học và chị T đã đồng ý Lợi dụng việc này, bị cáo S đã chở cháu T về phòng trọ nơi S ở và thực hiện hành vi dâm ô với cháu T sau đó mới chở cháu T đi học Sau đó đó bị cáo S đã nhiều

Cơ cấu nhân thân người phạm tội:

Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội không những giúp nhận thức rõ về đối tượng phạm tội của nhóm các tội XPTDTE mà còn là cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm này trên thực tế Khi nghiên cứu

về nhân thân người phạm tội, tác giả tập trung ở các khía cạnh: về giới tính, độ tuổi cùng một số đặc điểm nhân thân khác thể hiện cụ thể ở các bảng và biểu đồ sau:

- Về giới tính bị cáo:

26 Bản án 360/2014/HSST ngày 28/8/2014 của TAND TP HCM về vụ án Hiếp dâm trẻ em

27

Bản án số 443/2015/HSST ngày 24/12/2015 của TAND TP HCM về vụ án Hiếp dâm trẻ em

28 Bản án số 185/2015//HSST ngày 8/6/2015 của TAND TP HCM về vụ án Hiếp dâm trẻ em

Trang 37

Bảng 6: Cơ cấu giới tính bị cáo của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

Năm Tổng số bị cáo

Bị cáo là nữ Bị cáo là nam

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Biểu đồ 6: Cơ cấu giới tính bị cáo của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Qua Bảng 6 và Biểu đồ 6 nhận thấy tỷ lệ bị cáo có giới tính nam chiếm tỷ lệ áp

đảo 99,8% với 586 bị cáo so với tỷ lệ bị cáo có giới tính nữ 0,2% với 01 bị cáo Đây là đặc điểm đặc trưng đối với nhóm tội XPTDTE Sở dĩ tỷ lệ nam giới chiếm tỷ lệ gần

Cơ cấu giới tính bị cáo của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 - 2016

Nam

Nữ

Trang 38

muốn tình dục của bị cáo, mà sung năng của nam giới thường cao hơn nữ giới rất nhiều Đồng khái niệm giao cấu được hiểu từ trước đến nay đều là hành vi của chủ thể

là nam giới đưa dương vật vào bộ phận sinh dục nữ giới cho đến khi xuất tinh, nam giới đóng vai trò là đối tượng thực hiện hành vi giao cấu theo chính ý chí và bản năng

để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình và của đối tượng khác Nữ giới thường không được xem là chủ thể hay người thực hành của các tội XPTDTE nói riêng và Xâm phạm tình dục nói chung (như vậy, nếu nữ giới là chủ thể có hành vi “giao cấu” với đối tượng khác thì thường sẽ bị truy cứu theo các tội hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm khác hoặc truy cứu theo tội Hiếp dâm trẻ em với vai trò người giúp sức, người xúi giục hoặc người tổ chức)

Từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi

Từ đủ 18 tuổi đến 30 tuổi

Từ đủ 30 tuổi trở lên

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

Bị cáo (người)

Tỉ lệ (%)

Trang 39

Biểu đồ 7: Cơ cấu độ tuổi bị cáo của các tội XPTDTE trên địa bàn TP HCM giai đoạn 2012 – 2016

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Từ Bảng 7 và Biểu đồ 7 có thể thấy số bị cáo phạm tội có độ tuổi từ đủ 30 tuổi

trở lên chiếm tỷ lệ rất lớn (71% trên tổng số bị cáo của nhóm tội XPTDTE) với 413 bị cáo, tiếp đến là bị cáo từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi (chiếm 25,8% trên tổng số bị cáo của nhóm tội XPTDTE) với 155 bị cáo Nhóm tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 0,5% với 3 bị cáo Trong độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, đặc biệt là từ đủ 30 tuổi trở lên, bị cáo là người đã hoàn thiện đầy đủ về mặt nhận thức, có nghề nghiệp hoặc phải tự đảm bảo về cuộc sống của mình Với nhóm bị cáo từ đủ 30 tuổi trở lên, đây là giai đoạn có sự ham muốn về tình dục cũng như sung năng trong lúc này diễn ra mạnh mẽ nhất Đây chính là nguyên nhân cho lý do nhóm bị cáo từ đủ 30 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu độ tuổi của bị cáo các tội XPTDTE

Trang 40

- Về các đặc điểm nhân thân khác của bị cáo:

Bảng 8: Tỷ lệ bị cáo là cán bộ công chức, Đảng viên, tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, người dân tộc thiểu số, người nước ngoài của các tội xâm phạm tình dục trẻ

em trên địa bàn TP HCM từ năm 2012 – 2016

Năm

Cán bộ, công chức

Đảng viên

Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Nghiện

ma túy

Dân tộc thiểu số

Người nước ngoài

(Nguồn: Số liệu thống kê của TAND TP HCM)

Qua Bảng 8 có thể thấy trong 05 năm vừa qua, trên địa bàn TP HCM Tòa án

không giải quyết bất cứ vụ án nào có bị cáo là cán bộ, công chức, Đảng viên hoặc là đối tượng nghiện ma túy Như vậy, ta thấy bị cáo trong nhóm tội phạm XPTDTE hầu như không phải là những người có kiến thức, có trình độ học vấn cao cũng như không phải là đối tượng nguy hiểm phạm tội tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Bên cạnh đó, nghề nghiệp của bị cáo cũng không tập trung ở bất cứ khối ngành nào mà được phân tán ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trong xã hội Như vậy, khó có thể xác định đối tượng nào sẽ có hành vi vi phạm nhóm tội này Thực chất trong xã hội hiện nay, bất

cứ ai (chủ yếu là nam giới) cũng đều có thể trở thành đối tượng phạm tội của các tội xâm phạm tình dục nói chung và XPTDTE nói riêng vì bản chất nhu cầu tình dục là

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w