- Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương 2016, Bình luận những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, thông qua tài liệu trên tác giả đ
Trang 1
LƯƠNG THỊ THU HÀ
CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 2LƯƠNG THỊ THU HÀ
CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số 60380103
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN TIẾN
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Lương Thị Thu Hà, mã số học viên: 1320030203 Hiện là
học viên lớp Cao học Luật khóa 20, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng
dân sự, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan luận văn
này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện với sự hướng dẫn
của Ts Nguyễn Văn Tiến Những thông tin tôi đưa ra trong luận văn là trung
thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy đủ Những phân tích, kiến nghị được
tôi đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của cá nhân và chưa từng
được công bố trong các công trình trước đó
Tác giả luận văn
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 BLTTDS 2004 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011
2 BLTTDS 2015 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi năm 2015
3 BLDS 2015 Bộ luật dân sự năm 2015
4 CNSTT Công nhận sự thoả thuận
6 PLTTGQCVADS Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989
7 TANDTC Toà án nhân dân tối cao
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Nam trong những năm gần đây (Giai đoạn 2010 - 2015)
Đắk Lắk (Giai đoạn 2010 - 2015)
Đắk Nông (Giai đoạn 2010 - 2015)
Gia Lai (Giai đoạn 2010 - 2015)
Kon Tum (Giai đoạn 2010 - 2015)
Lâm Đồng (Giai đoạn 2010 - 2015)
TAND các tỉnh trong những năm gần đây (Giai đoạn 2010 - 2015)
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 5
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 6
7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn 7
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 8
1.1.1 Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 8
1.1.2 Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 11
1.2 Ý nghĩa của việc quy định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 13
1.3 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 14
1.3.1 Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự 15
1.3.2 Nội dung sự thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội 16
Trang 71.3.3 Sự thỏa thuận của các đương sự không được ảnh hưởng đến quyền
lợi hợp pháp của người khác 17
1.4 Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay 18
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 18
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004 22
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 24
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 27
2.1 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự 27
2.1.1 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 27
2.1.2 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự 32
2.2 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự 34
2.2.1 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 34
2.2.2 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự 36
2.3 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 39
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 42
Trang 83.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 42
3.1.1 Tình hình áp dụng pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự trong những năm gần đây 42 3.1.2 Những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 47
3.2 Những bất cập và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự 53
3.2.1 Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong trường hợp đương sự thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận sau khi Toà án đã lập biên bản hoà giải thành ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 53 3.2.2 Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong thời gian từ sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước khi mở phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự 54 3.2.3 Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại thủ tục tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 58 3.2.4 Về hậu quả pháp lý của việc các đương sự tự thoả thuận tại phiên toà
sơ thẩm vụ án dân sự 61 3.2.5 Về công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại thủ tục phúc thẩm
vụ án dân sự 65 3.2.6 Về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên toà giám đốc thẩm 68
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo Nghị quyết số 48/NQ - TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu: “Xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”
Để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt ra là phải từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự nói riêng, nhằm điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực đời sống
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005, được sửa đổi, bổ sung bằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2012 Sau khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực, đã đặt ra yêu cầu cần phải sửa đổi, bổ sung toàn diện
Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 (BLTTDS 2004) nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp nhằm đảm bảo sự đồng bộ trong
hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, khắc phục các hạn chế, tăng cường tranh tụng, bảo đảm tính công khai, dân chủ,
Trang 10công bằng, tạo thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong quá trình tham gia tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của mình Ngày 25/11/2015 Quốc Hội khoá XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi 2015 (BLTTDS 2015), Bộ luật chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2016
Một trong những quyền quan trọng của công dân được pháp luật tố tụng dân sự quy định là quyền tự định đoạt Khi có quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm, có tranh chấp xảy ra, các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng nhiều phương thức khác nhau, trong đó có yêu cầu Toà án công nhận sự thỏa thuận
Việc đương sự thỏa thuận, thương lượng giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng luôn được Nhà nước khuyến khích Bởi, khi các đương
sự đã thỏa thuận được với nhau, việc giải quyết tranh chấp sẽ tiết kiệm thời gian, tài chính, góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân và tạo thuận lợi cho việc giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự
Nhìn ở góc độ tổng quát, vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại Tòa án theo quy định của luật và thực tiễn áp dụng vẫn còn có sự khác nhau, cần được hoàn thiện, thống nhất Nhằm hoàn thiện pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, tác giả chọn đề tài:
“Công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”
để làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự đã được cơ quan, nhà nghiên cứu đề cập ở nhiều cấp độ khác nhau, như:
- Một số tài liệu là Giáo trình được sử dụng để giảng dạy đối với chuyên ngành luật tại các cơ sở đào tạo trên cả nước, cụ thể phải kể đến:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng
dân sự, NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật Hà
Nội (2012), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân;
Trang 11Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Công an nhân dân; Nguyễn Công Bình (2011), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam,
NXB Giáo dục Từ nguồn tài liệu này, người đọc được cung cấp những kiến thức lý luận cơ bản về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, giúp người đọc có cái nhìn tổng quan, làm nền tảng nghiên cứu sâu hơn về quy định
- Các sách tham khảo cũng là một nguồn tài liệu có giá trị lý giải vấn đề,
như: Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, NXB Chính trị quốc gia; Viện Nhà nước và
pháp luật (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự, NXB Tư pháp,
trong nguồn tài liệu này, các tác giả phân tích, luận giải từng điều luật cụ thể quy định về vấn đề công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, giúp người đọc có cái nhìn pháp lý và toàn diện
- Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương (2016), Bình luận những
điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, NXB Hồng Đức - Hội Luật
gia Việt Nam, thông qua tài liệu trên tác giả đã giúp người đọc nắm bắt được
sự khác nhau giữa BLTTDS 2004 và BLTTDS 2015 về quy định công nhận
sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, từ đó người đọc sẽ có những so sánh, đánh giá về sự kế thừa của BLTTDS 2015, cũng như chắt lọc được những vướng mắc về công nhận sự thoả thuận của các đương sự mà BLTTDS 2015 chưa giải quyết được
- Bên cạnh đó, có các bài viết liên quan đến vấn đề công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự, cụ thể: Đỗ Đức Anh Dũng (2006), “Về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự theo quy định tại Điều 220 BLTTDS”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 16;
Trần Anh Dũng (2006), “Khi các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận bồi
thường trong giao dịch vô hiệu”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 01; Nguyễn
Thị Hạnh (2013), “Thụ lý, giải quyết yêu cầu xác định con cho cha, mẹ khi bản án ly hôn, quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của
các đương sự đã có hiệu lực pháp luật”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 23; Bùi
Trang 12Thị Huyền (2007), “Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm
dân sự”, Tạp chí Luật học số 08 Đây là các tài liệu hữu ích trong quá trình
nghiên cứu đề tài luận văn, các bài viết đề cập đến các vướng mắc về sự thoả thuận của đương sự trong BLTTDS 2004, giúp tác giả có cái nhìn tổng thể hơn đối với từng khía cạnh
- Một số bài viết khác: Yến Nga (2001), “Thủ tục hòa giải và ra quyết
định công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự”, Tạp chí Kiểm sát số 09;
Trần Thị Mai Phước (2002), “Về thời hạn Tòa án ra quyết định công nhận sự
thỏa thuận của các đương sự”, Tạp chí Kiểm sát số 10; Từ Văn Thiết (2003),
“Thêm quyền hạn cho Tòa án cấp phúc thẩm dân sự là cần thiết”, Tạp chí Tòa
án nhân dân số 05; Ngô Anh Dũng (2003), “Cần quy định thêm quyền hạn
cho Tòa án cấp phúc thẩm dân sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 01 Mặc dù
những bài viết dựa trên các văn bản pháp luật không còn hiệu lực, đã được thay thế bằng các văn bản pháp luật khác, nhưng thông qua các bài viết này, người đọc có cái nhìn từ nhiều khía cạnh về sự phát triển của vấn đề công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo thời gian
Nhìn chung, các nguồn tài liệu có giá trị nghiên cứu nhất định đối với việc thực hiện đề tài luận văn Đây là những tài liệu có sự liên quan, đã nêu lên và luận bàn về vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, các công trình chỉ nghiên cứu các quy định về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự ở tầm khái quát, dừng lại ở việc tìm hiểu lý luận mang tính chất kiến thức cơ bản Đồng thời, một số công trình chỉ nghiên cứu ở khía cạnh hẹp, các tác giả chỉ đi vào phân tích từng vấn đề cụ thể, tản mạn, chưa có sự tổng hợp mang tính khái quát cao
Qua khảo sát của tác giả, hiện chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chuyên sâu, đầy đủ và toàn diện về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam Từ đó, tác giả mong muốn mang đến cho người đọc một nguồn tài liệu giá trị về vấn đề này dưới dạng luận văn thạc sĩ
Trang 13Đề tài luận văn thạc sĩ “Công nhận sự thoả thuận của đương sự trong tố tụng dân sự” được tác giả phân tích không chỉ dưới góc độ lý luận mà còn dưới góc độ thực tiễn xét xử Thông qua tổng hợp số liệu và phân tích các bản
án, quyết định của Toà án, tác giả sẽ mang đến một cái nhìn đa chiều từ lý luận đến thực tiễn Qua đó, tìm ra hạn chế, vướng mắc, đưa ra giải pháp hoàn hiện pháp luật tố tụng dân sự về công nhận sự thoả thuận của các đương sự
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ tính cấp thiết của đề tài cũng như tình hình nghiên cứu chung, luận văn sẽ làm rõ các vấn đề lý luận về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Sau đó, luận văn sẽ phân tích và chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như áp dụng trên thực tế về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong
tố tụng dân sự Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là hoạt động tố tụng được Tòa án tiến hành trong cả quá trình giải quyết vụ án dân sự và giải quyết việc dân sự Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật có liên quan đến công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự; trên cơ
sở phân tích những vấn đề mang tính lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng của quy định này để từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật với những nội dung chính như sau:
Một là, nghiên cứu các vấn đề lý luận về công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự trong tố tụng dân sự
Hai là, nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
Trang 14Ba là, tìm hiểu những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các
quy định của pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
Bốn là, đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự qua các thời kỳ tại mục 1.4 của Chương 1;
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp được sử dụng hầu hết ở Chương 1, Chương 2, Chương 3 của luận văn, khi nghiên cứu về những vấn
đề lý luận cơ bản liên quan đến công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự; khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn; phân tích các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự về công nhận sự thoả thuận của các đương sự;
- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của quy định về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; phương pháp được sử dụng chủ yếu ở các mục 2.1, 2.2 và 2.3 của Chương 2
- Phương pháp đánh giá, khảo sát thực tiễn, liệt kê được sử dụng chủ yếu ở Chương 3 của luận văn Các phương pháp này được thực hiện trong quá trình thu thập các bản án, số liệu cụ thể từ thực tiễn hoạt động xét xử của ngành Tòa án
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần cung cấp cho khoa học pháp lý những nền tảng lý luận và thực tiễn về công nhận sự
Trang 15thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Đề tài sẽ là một tài liệu khoa học hữu ích cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật tố tụng dân sự của các tác giả khác Đặc biệt, kết quả của đề tài này có thể sử dụng để tham khảo trong quá trình xây dựng, ban hành và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự
về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề chung về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự Việt nam
Chương 2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 3 Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
Về mặt lý luận, hệ thống pháp luật Việt Nam được chia ra thành các ngành luật và các chế định pháp luật Các ngành luật và các chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật, là những quy tắc, chuẩn mực chung mang tính bắt buộc phải thi hành đối với tất cả cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, và được ban hành bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Trong khoa học pháp lý, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được gọi là tố tụng dân sự Là một ngành luật tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng khác trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác, “Luật Tố tụng dân sự Việt Nam được thừa nhận là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Luật Tố tụng dân sự bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ tố tụng phát sinh trong quá trình Toà án giải quyết các vụ việc dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân
sự, quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật thương mại, quan hệ pháp luật lao động cho nhà nước, cá nhân, cơ quan, tổ chức”1
Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ án dân sự đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bằng thủ
1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Hồng Đức -
Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr 3
Trang 17tục đặc biệt giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ án dân sự và xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự làm phát sinh các quan hệ khác nhau giữa Tòa án với các đương sự và những người tham gia tố tụng khác
Pháp luật tố tụng dân sự quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng ở mỗi giai đoạn tố tụng Đối với Toà án, với chức năng “là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”2 Toà án
có trách nhiệm chủ động trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời bảo đảm cho các đương sự trong vụ án dân sự có đầy đủ quyền tố tụng để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, trong đó tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự được xác định là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật
tố tụng dân sự Để đảm bảo nguyên tắc này, Toà án nhân dân phải tiến hành nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động công nhận sự thoả thuận của các đương sự
Theo Từ điển Hán Việt, công có nghĩa là chung, nhận mang nghĩa là bằng lòng “Những sự gì do mọi người cùng đồng ý”3, “mọi người thừa nhận, đều cho là đúng”4
thì được gọi là công nhận Còn theo Từ điển Tiếng Việt thì công nhận được hiểu với nghĩa “cho là phải, là đúng, là hợp lí, tuyên bố là chính đáng”5
hoặc công nhận là “thừa nhận đúng với sự thật, với lẽ phải hoặc
Thiều Chửu (1942), Hán Việt tự điển, Hà Nội http://hvdic.thivien.net/, truy cập 06h25’ ngày 06/5/2016
4 http://www.hanviet.org/, truy cập 6h20’ ngày 06/5/2016
5 http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/, truy cập 6h30’ ngày 06/5/2016
6 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/C%C3%B4ng_nh%E1%BA%ADn, truy cập 06h35’ ngày 06/5/2016
7
http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/, truy cập lúc 22h01 ngày 21/5/2016
Trang 18hiện thông qua sự thống nhất quan điểm về việc giải quyết tranh chấp Là sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể trên cơ sở tự nguyện và tự định đoạt
Sự thỏa thuận của các đương sự trong vụ án dân sự là sự thoả thuận của
các “cơ quan, tổ chức, cá nhân”8 Đương sự là nhóm chủ thể quan trọng trong
tố tụng dân sự Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trong đó, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự
để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn Bị đơn trong vụ án dân sự là người
bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
họ nên được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan9 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tham gia
tố tụng vào vụ án dân sự đã phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi tham gia tố tụng dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng với yêu cầu độc lập hoặc đứng về phía nguyên đơn hoặc bị đơn
Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau: Công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự là hoạt động do Tòa án
tiến hành nhằm thừa nhận việc thống nhất ý chí của các đương sự về việc giải quyết vụ án dân sự Việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải được thể hiện bằng một văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc, theo thủ tục do luật định, được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
Trang 191.1.2 Đặc điểm của công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong
Việc Tòa án nhân dân tiến hành hòa giải hoặc các đương
sự tự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án có thể được thực hiện ở bất cứ giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự Và cho dù là Tòa án nhân dân tiến hành hòa giải thành hay các đương sự tự thỏa thuận được với nhau thì sự thỏa thuận này cũng được công nhận
Tòa án nhân dân là chủ thể không thể thiếu trong hoạt động công nhận
sự thỏa thuận của các đương sự Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được pháp luật tố tụng dân sự quy định thuộc trách nhiệm của Tòa án, thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Sự thỏa thuận của các đương sự được Tòa án công nhận dưới hình thức là một văn bản pháp lý (quyết định, bản án) theo trình tự do luật định
Thứ hai, dựa trên sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự
Mặc dù công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là hoạt động do Tòa
án nhân dân tiến hành nhưng bản chất của vấn đề là vụ án dân sự đã được giải quyết bằng chính sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự chứ không phải bằng một phán quyết của Tòa án thông qua hoạt động xét xử Đương sự được
tự do đưa ra quyết định về những vấn đề, sự việc theo ý chí, nhận thức của mình mà không bị ai ngăn cản, hạn chế hoặc ràng buộc nào từ bên ngoài Và
ý chí thoả thuận đó hoàn toàn tự nguyện Đương sự được quyền tự định đoạt
về việc thoả thuận nhưng chỉ có thể định đoạt đối với những gì thuộc quyền hạn tuyệt đối của mình, chứ không được quyền định đoạt thay người khác
10
Điều 10 BLTTDS 2004 và Điều 10 BLTTDS 2015
Trang 20Không ai có quyền lừa dối, đe dọa, uy hiếp sự tự nguyện thoả thuận của người khác, bởi lẽ đấy cũng là một hình thức xâm hại đến tự do Chính vì vậy, Tòa
án nhân dân phải tôn trọng và ghi nhận những quan điểm của các đương sự đã thống nhất ý chí bằng một văn bản pháp lý, trên cơ sở những thỏa thuận hoàn toàn tự nguyện của các đương sự về việc giải quyết tất cả các tranh chấp, mâu thuẫn mà hai bên đang gặp phải
Tòa án nhân dân không can thiệp vào nội dung sự thỏa thuận của các đương sự, mà Tòa án nhân dân chỉ can thiệp về mặt hình thức của sự thỏa thuận, đó là sự ghi nhận thỏa thuận của các đương sự bằng một văn bản có giá trị pháp lý Để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân
sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử chỉ được ra Quyết định, Bản án công nhận
sự thỏa thuận trên cơ sở những nội dung, những vấn đề mà các đương sự đã
tự nguyện đồng ý sau khi thương lượng, cân nhắc và thảo luận
Thứ ba, là phương thức giải quyết tranh chấp không thông qua thủ tục
xét xử
Trong xã hội, khi mà các mối quan hệ kinh tế - xã hội vận động không ngừng không thể tránh khỏi những va chạm, mâu thuẫn, xung đột về các giá trị, lợi ích giữa các chủ thể tham gia quan hệ Sự va chạm, mâu thuẫn này có thể dẫn đến những tranh chấp giữa các chủ thể Để tránh những hậu quả tiêu cực mà các tranh chấp có thể gây ra cho đời sống xã hội, việc hình thành những cơ chế giải quyết tranh chấp này là nhu cầu khách quan Lịch sử đã cho thấy các phương thức được sử dụng để giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực đời sống xã hội rất phong phú và đa dạng, như trung gian, hoà giải, thương lượng, trọng tài hoặc thông qua hoạt động xét xử của Toà án nhân dân Các đương sự được lựa chọn và quyết định sử dụng phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ mà họ tham gia Công nhận sự thoả thuận của các đương sự là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp không thông qua thủ tục xét xử Đó là việc Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng để công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc trong phiên toà xét xử Và kết quả đạt được đó là tranh chấp giữa các đương sự đã được giải quyết, hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự do ý chí và
Trang 21quyền tự định đoạt của các đương sự mà không cần Toà án phải tiến hành các thủ tục xét xử
1.2 Ý nghĩa của việc quy định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
được thể hiện theo quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015: “Đương sự có quyền
quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”
Khi có tranh chấp xảy ra, việc giải quyết tranh chấp xuất phát từ ý chí định đoạt của đương sự Các đương sự tự thỏa thuận với nhau hay yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết là phụ thuộc vào quyết định của họ Đây là cơ chế nhằm tăng cường hơn nữa quyền lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp cho các đương sự Và việc quy định công nhận sự thoả thuận của các đương sự sẽ là một phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu nhất để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Từ quy định này, khi sự thỏa thuận của các đương sự được Tòa án công nhận và được thể hiện bằng một Quyết định hay Bản án thì sự thỏa thuận đó
có ý nghĩa về mặt pháp lý, có giá trị bắt buộc thi hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Điều này đã tạo ra sự an tâm cho đương sự, khuyến khích các đương sự thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của mình, vì cuối cùng quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng được Nhà nước bảo vệ theo đúng ý chí, nguyện vọng của họ
Thứ hai, giúp cho việc thi hành án được thuận lợi hơn so với hình thức
xét xử vụ án dân sự Việc giải quyết tranh chấp được xuất phát từ sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
Trang 22làm hài lòng đôi bên nên các đương sự sẽ dễ dàng tự nguyện thi hành các thoả thuận mà Toà án đã công nhận Vì vậy, công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự cũng góp phần giảm thiểu số lượng án dân sự phải thi hành
Thứ tư, tăng cường tình đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau giữa các đương sự
Thông qua hoạt động công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Tòa
án thể hiện đúng vai trò trung gian trọng tài, giải quyết các tranh chấp dân sự trên nền tảng sự chủ động thoả thuận của các đương sự, từ đó đem lại sự hài lòng và lợi ích cho các bên, sự thoả thuận này có giá trị pháp lý và được đảm bảo thực hiện, người dân tin tưởng vào hoạt động tố tụng này của Toà án như
là một hoạt động hữu hiệu nhất để giải quyết tranh chấp của mình
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự giải quyết được mâu thuẫn giữa các bên tranh chấp, khơi dậy và phát huy truyền thống đoàn kết, ngăn chặn các vi phạm và tội phạm phát sinh từ những tranh chấp trong quần chúng nhân dân, góp phần vào việc giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng xã hội, làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội Mặt khác, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự góp phần nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân, giúp các đương sự hiểu biết lẫn nhau, tránh các tranh chấp, mâu thuẫn xuất phát từ việc các bên không hiểu biết pháp luật hoặc hiểu biết không đúng
Trang 231.3 Nguyên tắc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự
1.3.1 Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì việc công nhận sự thoả
thuận của các đương sự phải bảo đảm “tôn trọng sự tự nguyện của các đương
sự, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải
Đây là nguyên tắc cơ bản để Toà án nhân dân công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Nguyên tắc này xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, được quy định cụ thể tại Điều 5 BLTTDS 2015 Theo đó
“Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự, Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương
sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức
Xuất phát từ bản chất các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được xác lập trên cơ sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận nên các bên luôn tự nguyện và bình đẳng Khi các
11
Điểm a, Khoản 1, Điều 180 BLTTDS 2004 và Điểm a, Khoản 2, Điều 205 BLTTDS 2015
Trang 24đương sự tự nguyện thỏa thuận tức là họ đã tự lựa chọn, quyết định về việc giải quyết các vấn đề của họ trong vụ án Tòa án và các chủ thể khác có nghĩa
vụ tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự
Pháp luật nghiêm cấm các hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của họ, làm cho họ không thể hiện được ý chí của mình trong giải quyết tranh chấp tại tòa án nhân dân
1.3.2 Nội dung sự thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì việc công nhận sự thoả
thuận của các đương sự còn phải đảm bảo “nội dung thoả thuận giữa các
Đồng thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015: “Cá nhân,
pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên
cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối
với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”
Quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự xuất phát và gắn liền với với quyền tự định đoạt của các chủ thể trong pháp luật nội dung Quyền tự thoả thuận của đương sự là quyền tự định đoạt về phương diện tố tụng trước Toà
án, trong việc giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc có tranh chấp Tuy nhiên, việc định đoạt của đương sự không được tuỳ tiện mà chỉ được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, sự thoả thuận của đương sự phải gắn với các quyền và lợi ích được pháp luật nội dung ghi nhận và bảo hộ Nhà nước chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi sự định đoạt của đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Các nội dung thỏa thuận giữa các đương
sự mà vi phạm những nội dung trên thì không được Toà án công nhận
12
Điểm b, Khoản 2, Điều 205 BLTTDS 2015
Trang 251.3.3 Sự thỏa thuận của các đương sự không được ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người khác
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là: “Mọi cá
nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài
Pháp luật tố tụng dân sự quy định: “Trong tố tụng dân sự mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền
Khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 quy định:
“Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm
phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”
Từ quy định trên, cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng và được pháp luật bảo hộ như nhau trong việc thực hiện các quyền của mình, trong có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm Nhưng đồng thời việc thực hiền quyền của mình không được làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
Việc tự thoả thuận giải quyết tranh chấp là quyền tự định đoạt của đương sự Tuy nhiên, quyền tự định đoạt phải nằm trong giới hạn Định đoạt không có nghĩa là được phép có quyền làm tất cả những gì mình muốn mà bất chấp đến những người khác trong xã hội Tự do ý chí thật sự nghĩa là tự do ý chí đối với bản thân mình và đối với những gì thuộc về mình và không được làm ảnh hưởng, xâm hại đến người khác trong xã hội Việc hành động, xử sự, thoả thuận một cách tùy ý và chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của chính mình là
sự bất công, không được chấp nhận Vì vậy, Toà án chỉ công nhận sự thoả thuận của các đương sự khi sự thoả thuận này nhằm mục đích giải quyết tranh chấp giữa họ và sự thoả thuận này phải được đảm bảo tuân thủ các quy định
13 Điều 3 BLDS 2015
14
Điều 8 BLTTDS 2015
Trang 26của pháp luật, trong đó có điều kiện sự thoả thuận không ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bất kỳ một chủ thể nào khác
1.4 Quy định của pháp luật Việt Nam về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong tố tụng dân sự từ năm 1945 đến nay
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Nhà nước ta đã khẩn trương xây dựng bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, trong đó hệ thống các cơ quan tư pháp đã nhanh chóng được thiết lập Nền tư pháp của chế độ dân chủ nhân dân được hình thành và từng bước kiện toàn Tuy nhiên, không thể một sớm một chiều hệ thống pháp luật có thể hình thành ngay Do đó, Sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945 quy định:
“Cho đến khi ban hành được các bộ luật cho toàn cõi Việt Nam, các luật lệ
tiến hành ở Bắc, Trung, Nam vẫn được giữ nguyên như cũ với điều kiện là những quy phạm pháp luật chỉ được thi hành nếu không trái với những
tinh thần đó, các quy định pháp luật về tố tụng dân sự, trong đó có các quy định về công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu không trái với những nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa thì tiếp tục được áp dụng
Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự là Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về tổ chức Tòa án, trong đó Điều
3 quy định: “Ban tư pháp xã có quyền hòa giải tất cả các việc dân sự và
thương sự Nếu hòa giải thành sẽ lập biên bản hoà giải, có các ủy viên và
Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Toà án và
sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án có quy định: “Khi nhận được
đơn kiện về dân sự hay thương sự, ông Thẩm phán sơ cấp phải đòi hỏi hai
15 Trần Văn Quảng (2004), Chế định hoà giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam - Cơ sở lý luận và
thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, tr 62
16 Nguyễn Phương Hạnh (2012), Tìm hiểu về Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr 32
Trang 27bên đến để thử làm hoà giải Biên bản hòa giải có hiệu lực công chứng thư 17
Tại Điều 12 Sắc lệnh số 51/SL quy định “những việc kiện dân sự và thương
mại thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông
Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố
tụng quy định tại Điều 9 “Tòa án nhân dân huyện họp thành hội đồng hòa
giải để thử hoà giải tất cả các vụ kiện về dân sự và thương sự, kể cả việc xin
ly dị, trừ những vụ kiện mà theo luật pháp đương sự không có quyền điều
Theo Điều 10 của Sắc lệnh này thì “Biên bản hòa giải là một công chứng thư, có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong, nếu Biện lý xét thấy biên bản ấy xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc bác bỏ điều hai bên đã thỏa thuận Hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày phòng Biện lý nhận được biên bản hòa giải thành”
Như vậy, trong giai đoạn này là Tòa án không ra quyết định công nhận
sự thỏa thuận mà chỉ lập biên bản hòa giải thành, đồng thời chỉ có phòng Biện
lý và người có liên quan có quyền kháng cáo còn nguyên đơn và bị đơn không
có quyền này
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có Sắc lệnh số 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Tại Điều 4 Sắc lệnh này quy định về
thẩm quyền và thủ tục ly hôn như sau: “…trong trường hợp hai vợ chồng
thuận tình ly hôn, nếu Toà án nhân dân huyện hay thị xã hoà giải không thành và nếu sau đó một tháng, hai vợ chồng vẫn giữ ý kiến xin ly hôn thì Toà
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 ra đời đã quy định cụ thể về hòa giải trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm
17 Điều 9 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 ấn định thẩm quyền của Toà án và sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án
18
Nguyễn Phương Hạnh (2012), Tìm hiểu về Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.32
19 Điều 9 Sắc lệnh Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950
20 Nguyễn Phương Hạnh (2012), Tìm hiểu về Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.33
Trang 28quyền sẽ điều tra và hòa giải Tòa án có thể trực tiếp thực hiện việc hòa giải hoặc giao lại cho tổ hòa giải tiến hành với sự theo dõi hướng dẫn của Tòa án
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Thông tư số 1080 ngày 25/9/1961 đã quy định Tòa án nhân dân huyện ngoài nhiệm vụ hòa giải thì còn có nhiệm vụ xây dựng và hướng dẫn các tư pháp xã thực hiện hòa giải, dàn xếp các đương sự và nhân dân
Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này thành tựu đạt được là hòa giải đã được coi là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Nhưng do đất nước trong tình trạng chiến tranh, chế định hòa giải chưa có điều kiện hoàn thiện nên vẫn còn bộc lộ rất nhiều hạn chế, bất cập lớn nhất là Tòa án chỉ lập biên bản hòa giải thành mà không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nên kết quả hòa giải không có hiệu lực buộc các bên phải thi hành, dẫn đến nhiều trường hợp Tòa án vẫn phải mở phiên tòa xét
xử sau khi đã lập biên bản hòa giải thành do các bên không tự nguyện thi hành thỏa thuận hoặc các bên tự ý thay đổi thỏa thuận
Để khắc phục những bất cập trên, ngày 30/11/1974, TANDTC đã ra Thông tư số 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự Thông tư
nêu rõ “Việc hoà giải của Toà án nhân dân nhằm giúp đỡ các đương sự tự
thoả thuận với nhau giải quyết việc kiện trên tinh thần đoàn kết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách, do đó, phải bảo đảm những yêu cầu sau đây: phải có sự tự nguyện của các đương sự, nội dung thoả thuận của các
Thông tư 25 đã quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương pháp hòa giải các vụ án dân sự; về hiệu lực của các quyết định công nhận việc hòa giải thành: các quyết định công nhận việc hòa giải thành đều có hiệu lực như bản án Đương sự, Viện kiểm sát có quyền kháng cáo, kháng nghị Người đệ tam (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) có quyền chống quyết định công nhận của Tòa án cấp sơ thẩm Nếu quyết định công nhận việc hòa giải
21 Nguyễn Phương Hạnh (2012), Tìm hiểu về Quyền tự định đoạt của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.35
Trang 29thành đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có sai lầm thì vụ kiện sẽ được xét xử theo trình tự giám đốc thẩm
Đối với quyết định chưa có hiệu lực pháp luật: Nếu chỉ một mình người
đệ tam chống quyết định thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định
sơ thẩm, Tòa án sẽ thụ lý đơn và giải quyết về khoản mà người đệ tam chống quyết định
Như vậy, Thông tư số 25-TATC của TANDTC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải Thông tư đã quy định rõ ràng chi tiết về thẩm quyền hòa giải, phạm
vi hòa giải, thủ tục và phương pháp hòa giải, đáp ứng được yêu cầu cấp thiết cho Tòa án tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao
Năm 1975, miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất Các văn bản pháp luật trong giai đoạn này đã được nâng cao không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức, hiệu lực pháp lý Về lĩnh vực hòa giải các vụ án dân sự cũng đã được hướng dẫn cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật như:
- Thông tư số 81-TAND ngày 24/7/1981 của TANDTC hướng dẫn các Tòa án địa phương giải quyết các tranh chấp về thừa kế Thông tư quy định: Cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triển tình đoàn kết thương yêu trong nội bộ gia đình
- Thông tư số 02-TTLT ngày 2/10/1985 hướng dẫn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân về một số việc trong lao động quy định:
“trước khi xét xử Tòa án phải hòa giải những tranh chấp giữa chủ tư nhân và những người làm công và trong khi xét xử nếu có khả năng hòa giải thì Tòa
án vẫn tiến hành hòa giải”
- Thông tư số 06-TTLN ngày 30/12/1986 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp hướng dẫn về thẩm quyền và thủ tục giải quyết
ly hôn giữa công dân Việt Nam và một bên công dân nước ngoài chưa có hiệp định tương trợ tư pháp về vấn đề hôn nhân và gia đình với Việt Nam Theo
Trang 30hướng dẫn của Thông tư này thì đối với những việc ly hôn, Tòa án không hòa giải
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Có thể nói rằng, đây là giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và điểm mới có tính căn bản trong thời kỳ này là PLTTGQCVADS ngày 29/11/1989 được ban hành, có hiệu lực pháp luật từ ngày 01/01/1990 Đây là văn bản pháp luật đầu tiên pháp điển hóa những nội dung căn bản của thủ tục giải quyết vụ án dân sự Việc lần đầu tiên tập hợp được thủ tục giải quyết vụ án dân sự trong văn bản với hình thức pháp lệnh không chỉ thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của xã hội đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như của các chủ thể khác mà còn thể hiện sự phát triển của luật tố tụng dân sự đã sang một giai đoạn mới
PLTTGQCVADS quy định thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự, thủ tục chuẩn bị xét xử và thủ tục hòa giải vụ án dân sự, thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm PLTTGQCVADS không chỉ tập trung quy định
về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự mà nhiều quy định được làm rõ hơn, cụ thể hơn đã thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện quyền bảo
vệ quyền lợi của mình Điểm được coi là sự khác biệt lớn nhất về thủ tục là những quy định về hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của đương sự
Theo quy định của pháp luật thì những người tham gia hòa giải gồm nguyên đơn, bị đơn và người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan Khi các đương
sự thỏa thuận với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Sau 15 ngày mà không có sự thay đổi thỏa thuận thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Nếu các bên thay đổi thỏa thuận trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành hoặc các bên không thỏa thuận được với nhau về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án thì Tòa án sẽ quyết định đưa vụ án ra xét xử22
Hiệu lực của biên bản hòa giải thành được quy định tại Điều 44 PLTTGQCVADS có một bước phát triển đáng kể so với quy định của Thông
22
Điều 44 PLTTGQCVADS
Trang 31tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 của TANDTC và các văn bản trước đó hướng dẫn về hòa giải, đó là quy định một thời hạn cho các đương sự, Viện kiểm sát, tổ chức xã hội khởi kiện về lợi ích chung đề nghị xét lại việc hòa giải thành Hết thời hạn này thì Tòa án mới ra quyết định công nhận hòa giải thành thay vì ra ngay quyết định hòa giải thành như các văn bản pháp luật trước đó
Trước thời điểm ban hành PLTTGQCVADS, hòa giải được xác định là một giai đoạn tố tụng, quyết định công nhận hòa giải thành có hiệu lực như một bản án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm PLTTGQCVADS không coi hòa giải là một giai đoạn mà là một thủ tục tố tụng, được thực hiện mang tính chất bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay Các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự bị phát hiện thấy sai lầm thì sẽ kháng nghị và xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, TANDTC và các cơ quan có liên quan đã đã ban hành nhiều văn bản để hướng dẫn việc thực hiện các quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong pháp lệnh:
Nghị quyết 03/HĐBT ngày 19/10/1990 của TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS, hướng dẫn về thủ tục, phạm vi
hòa giải, trong đó có nêu: “Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về
vấn đề phải giải quyết trong vụ án, thì Thẩm phán lập biên bản hoà giải thành, trong đó phải nêu rõ nội dung việc tranh chấp và những điều mà các đương sự đã thoả thuận Bản sao biên bản này được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, cho tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung Nếu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà có đương sự thay đổi
ý kiến hoặc Viện kiểm sát, tổ chức xã hội đã khởi kiện vì lợi ích chung phản đối sự thoả thuận đó thì Toà án đưa ra xét xử, nếu trong thời hạn đó không có
Trang 32sự thay đổi ý kiến hoặc phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các dương sự…”
Ngoài ra, còn có các công văn số 130/NCPL ngày 18/4/1991 của TANDTC về giải thích hiệu lực thi hành của Pháp lệnh; Công văn số 124/KHXX ngày 31/10/1997 của TANDTC trả lời về thủ tục hòa giải; Công văn số 43/KHXX ngày 21/4/1988 của TANDTC trả lời về tố tụng dân sự…
Như vậy, trong giai đoạn này, thủ tục hòa giải và hoạt động công nhận
sự thỏa thuận của đương sự được quy định cụ thể và chi tiết hơn về thành phần tham gia hòa giải, về hiệu lực của biên bản hòa giải, quy định về thời hạn cho đương sự, Viện kiểm sát đề nghị xét lại việc hòa giải thành PLTTGQCVADS
và các văn bản trong giai đoạn này góp phần đánh dấu thêm một bước phát triển đáng kể tiếp theo của chế định hòa giải và công nhận sự thỏa thuận của đương sự, nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay
Ở các giai đoạn trước, các quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự được ghi nhận và quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng dân
sự Tuy nhiên, các quy định này chưa có tính hệ thống, nằm rải rác ở nhiều văn bản, nhiều điều khoản ở các văn bản khác nhau Do vậy, trước yêu cầu phát triển của đời sống kinh tế xã hội, việc hoàn thiện và hệ thống hoá các quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự nói riêng và của pháp luật
tố tụng dân sự nói chung là một nhu cầu cần thiết
Sự phát triển có tính bước ngoặt của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được đánh dấu bằng việc ra đời của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 Bộ luật được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/2004, các quy định của pháp luật
về công nhận sự thỏa thuận của đương sự cũng đã được pháp điển hóa khá cụ thể trong luật và bắt đầu đi vào cuộc sống kể từ ngày 01/01/2005 Bộ luật này được sửa đổi, bổ sung bằng Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 01/01/2012 BLTTDS có nhiều quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự như nguyên tắc, thủ tục, thời điểm công nhận, hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận
Trang 33của đương sự Những quy định này tạo cơ sở pháp lý mới cho Tòa án trong việc công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong BLTTDS vẫn không khỏi bộc lộ khá nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp trong tình hình xã hội hiện nay Thực tiễn áp dụng BLTTDS trong những năm qua cũng cho thấy nhiều quy định chưa phát huy được hiệu quả trong thực tiễn xét xử
Ngày 25/11/2015 Quốc Hội khoá XIII tại kỳ họp thứ 10 đã thông qua
Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Bộ luật sẽ chính thức có hiệu lực vào ngày 01/7/2016 BLTTDS mới được thông qua có nhiều thay đổi lớn, tiếp tục thể chế hoá các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp; cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp 2013; đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; đảm bảo trình tự và thủ tục tố tụng dân sự có tính khả thi, dân chủ, công khai, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng dân sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tố tụng dân sự
Về tổng thể, các quy định của BLTTDS 2015 được xây dựng dựa trên nguyên tắc kế thừa BLTTDS 2004, trong đó, BLTTDS 2015 tiếp tục kế thừa các quy định về công nhận sự thoả thuận của các đương sự, đã có những chỉnh sửa, bổ sung và khắc phục được một số hạn chế Tuy nhiên, về cơ bản vẫn chưa có nhiều sự thay đổi và chưa khắc phục được những vướng mắc của BLTTDS hiện hành khi áp dụng vào thực tiễn xét xử
Trang 34Kết luận chương 1
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm thừa nhận việc thống nhất ý chí của các đương sự về việc giải quyết vụ
án dân sự Việc công nhận sự thỏa thuận của các đương sự phải được thể hiện bằng một văn bản pháp lý có giá trị bắt buộc, được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Bản chất công nhận sự thoả thuận của các đương sự là thể hiện nội dung quyền tự định đoạt của đương sự Khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, các chủ thể tự do ý chí và tự do bày tỏ ý chí,
tự do quyết định, tự do thoả thuận về việc giải quyết vụ án Thông qua công nhận sự thoả thuận của các đương sự, vụ án dân sự đã được giải quyết nhanh chóng, thời gian tố tụng được rút ngắn, góp phần nâng cao ý thức pháp luật, tăng cường sự đoàn kết, nhất trí trong nội bộ nhân dân
Bên cạnh đó, công nhận sự thoả thuận của các đương sự là một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với xu hướng chung của thời đại Nhiều nước trên thế giới chú trọng sử dụng phương thức này trong việc giải quyết tranh chấp Chúng ta cần nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về công nhận sự thoả thuận của các đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Toà án nhân dân ở Việt Nam
Trang 35CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ CÔNG NHẬN SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Trong giai đoạn này, người tiến hành tố tụng dân sự và người tham gia
tố tụng dân sự thực hiện những công việc nhất định nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự, chuẩn bị những điều kiện cần thiết, để trong trường hợp các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau thì Tòa án có
cơ sở ra phán quyết về vụ án dân sự Công nhận sự thỏa thuận của các đương
sự là một trong các hoạt động đó Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được tiến hành trong hai trường hợp:
Thứ nhất, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp
đương sự tự hòa giải với nhau
Theo Điều 5 BLTTDS 2015 ghi nhận đương sự có quyền“thỏa thuận với
nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội” Quyền tự thỏa thuận là một quyền quan trọng của đương sự
Trang 36Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nếu các đương sự tự hoà giải được với nhau
về việc giải quyết vụ án dân sự và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS25 Trong trường hợp các đương sự tự hoà giải được với nhau
về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự và yêu cầu Toà án công nhận sự thoả thuận của các đương sự thì Toà án phải tiến hành các thủ tục để ra quyết định công nhận sự thoả thuận cho các đương sự26 Việc tự hòa giải này không có sự tham gia của Tòa án nhân dân, các đương sự tự thương lượng với nhau về các vấn đề của vụ án, tự gặp nhau để giải quyết tranh chấp, không phụ thuộc vào thời gian, địa điểm nhất định Kết quả tự hòa giải của đương sự là do các đương
sự chủ động thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của mình
Thứ hai, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp
hòa giải thành
Hiện nay, theo quy định của BLTTDS27, trong thời hạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự, Tòa án phải tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải, những vụ án không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Theo đó, hòa giải là một thủ tục tố tụng bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tính chất bắt buộc được thể hiện
là Tòa án phải chủ động tiến hành hòa giải dù việc hòa giải thành có khả quan hay không Nếu Tòa án không tiến hành hòa giải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự và là căn cứ kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm
Việc hòa giải phải được tiến hành theo các nguyên tắc tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm
25 Điểm đ khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 và Khoản 3 Điều 217 BLTTDS 2015
26 Khoản 1 Điều 11 Nghị Quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Những quy định chung” của Bộ luật Tố
tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung quy định: “Trường hợp có tranh chấp và có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án
giải quyết, nếu sau khi Toà án thụ lý vụ án và trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm các đương sự tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, thì Toà án phải lập biên bản về sự thoả thuận đó và ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 187 của BLTTDS”
27
Điều 180 BLTTDS 2004 và Điều 205 BLTTDS 2015
Trang 37của luật, không trái đạo đức xã hội28
Tại phiên họp hoà giải, sau khi nghe đương sự trình bày ý kiến đối với từng vấn đề hoặc tất cả những vấn đề, Thẩm phán nêu tóm tắt lại nội dung từng vấn đề mà đương sự đã thống nhất hoặc không thống nhất được với nhau Sau đó Thẩm phán sẽ đưa ra kết luận chung là vụ án đã hòa giải thành hoặc hòa giải không thành và những vấn đề chưa thống nhất
BLTTDS quy định, khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn
đề phải giải quyết trong vụ án dân sự, thì Thẩm phán lập biên bản hoà giải thành (đối với vụ án ly hôn thì lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành) Biên bản hoà giải thành phải ghi cụ thể nội dung thoả thuận của các đương sự theo mẫu ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết
vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải ký tên và đóng dấu của Toà án vào biên bản Các đương sự tham gia phiên hoà giải phải ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản hoà giải thành Biên bản hoà giải thành phải được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải
Đối với các đương sự vắng mặt mà việc hoà giải thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 184 của BLTTDS29
, thì Toà án phải gửi ngay biên bản
Điều 17 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung quy định: “Trường hợp các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được Thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt Trường hợp thoả thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt, thì thoả thuận này chỉ có giá trị nếu đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải đồng ý bằng văn bản Trường hợp trước khi tiến hành hòa giải đương sự vắng mặt đã có ý kiến bằng văn bản nhưng sau khi kết thúc phiên hòa giải, nội dung hòa giải của các đương sự có mặt khác với nội dung văn bản thể hiện ý chí của đương sự vắng mặt, thì Tòa án phải lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải về thỏa thuận của các đương sự tại phiên hòa giải Thủ tục và thời hạn lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự được thực hiện theo quy định
Trang 38hoà giải thành cho các đương sự vắng mặt Trong biên bản hoà giải thành cần ghi: “Trong thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải, nếu đương sự nào có thay đổi ý kiến về sự thoả thuận, thì phải làm thành văn bản gửi cho Toà án” Trong trường hợp đương sự trực tiếp đến Toà án xin thay đổi thoả thuận, thì Thẩm phán phải lập biên bản ghi ý kiến thay đổi thoả thuận của họ Biên bản phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự và lưu vào hồ sơ
vụ án Việc thay đổi ý kiến về sự thoả thuận này phải được Toà án thông báo cho các đương sự khác có liên quan đến thoả thuận đó30
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP31thì Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (các quan hệ pháp luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án) và cả về án phí
Phạm vi thỏa thuận của đương sự là toàn bộ nội dung vụ án, bao gồm tất cả các quan hệ pháp luật, các yêu cầu của các đương sự trong vụ án và cả
về án phí Và những thoả thuận này phải nằm trong phạm vi đơn khởi kiện Không đơn thuần là các đương sự có quyền thỏa thuận về việc giải quyết toàn
bộ nội dung vụ án và án phí, mà đây còn là yêu cầu bắt buộc để Tòa án tiến hành việc ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không thoả thuận được với nhau về trách nhiệm phải chịu án phí hoặc mức án phí, thì Toà án không công nhận sự thoả thuận của các đương sự mà tiến hành mở phiên toà để xét xử vụ án dân sự đó
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được pháp luật tố tụng dân sự quy định: Hết thời hạn bảy (07) ngày, kể từ ngày lập biên
của pháp luật tố tụng dân sự Trường hợp đương sự đồng ý với kết quả hoà giải thì ngày nhận được ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải được xác định là ngày các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án”
30 Điều 20 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung
31 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung
Trang 39bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà án phân công phải ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự32
Thẩm quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thuộc về Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được phân công
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự được thể hiện dưới hình thức văn bản, là một Quyết định Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được ban hành bởi Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành, đương sự không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định này33 Như vậy, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự đã khép lại quá trình tố tụng đối với việc giải quyết vụ án Tuy nhiên, để đề phòng các sai lầm hay vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình tiến hành hòa giải, BLTTDS34 quy định quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn
cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Trong trường hợp các đương sự chỉ thoả thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án, còn phần khác không thoả thuận được, thì Toà án ghi nhận những vấn đề mà các đương sự thoả thuận được và những vấn đề không thoả thuận được vào biên bản hoà giải theo quy định của BLTTDS và tiến hành ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, trừ trường hợp có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án35
Việc Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự trong biên bản hòa giải là xác nhận sự thỏa thuận và biên
32 Khoản 1 Điều 187 BLTTDS 2004 và Khoản 1 Điều 212 BLTTDS 2015
33
Khoản 1 Điều 188 BLTTDS 2004 và Khoản 1 Điều 213 BLTTDS 2015
34 Khoản 2 Điều 188 BLTTDS 2004 và Khoản 2 Điều 213 BLTTDS 2015
35 Khoản 3 Điều 21 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung
Trang 40bản hòa giải này chưa có hiệu lực thi hành
2.1.2 Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm
, Toà án chỉ có trách nhiệm hoà giải các vụ án dân sự ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, còn đối với các giai đoạn tiếp theo thì chỉ tạo điều kiện để các bên tự thoả thuận với nhau
BLTTDS38 quy định tại phiên toà sơ thẩm “chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không Trong trường hợp các đương sự thỏa thận được với nhau về việc giải quyết vụ
án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết vụ án”
Việc Toà án hỏi các đương sự có thoả thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án là Toà án tiếp tục tạo điều kiện để các đương sự thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của họ Nếu các đương sự tự thoả thuận được với nhau
và việc thoả thuận đó là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người khác thì Toà
36 Điều 5, Điều 43 PLTTGQCVADS 1989
37 Đỗ Đức Anh Dũng (2006), “Về hiệu lực của quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự theo quy
định tại Điều 220 BLTTDS”, Tạp chí Tòa án nhân dân số, (16), tr.8-10
38
Khoản 1 Điều 220 BLTTDS 2004 và Khoản 1 Điều 246 BLTTDS 2015