Theo Điều 118 Hiến pháp năm 1992 và Điều 4 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành, chính quyền phường ở địa bàn đô thị, trong đó có các quận của thành phố trực thuộc trung ương đượ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LÊ THỊ MINH LONG
PHÁP LUẬT VỀ SỰ HÌNH THÀNH, THAY ĐỔI VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG TẠI THÀNH PHỐ SÀI GÒN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành : Luật Hành chính, Mã số 60.38.20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRƯƠNG ĐẮC LINH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu chưa được công bố trong công trình nghiên cứu khoa học nào
Tác giả
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3CHƯƠNG 1: 8PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN (ĐÔ THÀNH SÀI GÒN) TRƯỚC NGÀY GIẢI PHÓNG 30/4/1975 81.1 Khái quát về quá trình ra đời đơn vị hành chính phường và tổ chức chính quyền phường tại Tp Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975 81.2 Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn và pháp luật về tổ chức chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975 12
1.2.1 Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975 12 1.2.2 Pháp luật vều tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30/4/1975 17
1.3 So sánh với tổ chức chính quyền xã 331.4 Nhận xét về pháp luật tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975 36CHƯƠNG 2: 39HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG CỦA THÀNH PHỐ SÀI GÒN- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ SAU NGÀY GIẢI PHÓNG 30/4/1975 ĐẾN NAY 39
2 1 Pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền Quân quản phường 39
2.1.1 Một số quy định pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền Quân quản phường của thành phố Sài Gòn sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 40 2.1.2 Nhận xét 41
2 2 Pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân cách mạng phường (1976 - 1977) 41
2.2.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân cách mạng phường của thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh 42
Trang 42 4 Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 sửa đổi năm 1989 và các văn bản của Ủy ban nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh quy định về tổ chức chính quyền phường 50
2.4.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức chính quyền phường của Thành phố
Hồ Chí Minh 50 2.4.2 Nhận xét 56
2 5 Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 các văn bản của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quy định về tổ chức chính quyền nhân dân phường 58
2.5.1 Một số quy định pháp luật về chính quyền phường 58 2.5.2 Nhận xét 64
2 6 Pháp luật về tổ chức chính quyền nhân dân phường khi thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường 65
2.6.1 Một số quy định pháp luật về tổ chức Ủy ban nhân dân phường 65 2.6.2 Nhận xét 69
2 7 Kinh nghiệm pháp luật tổ chức chính quyền phường và nghiên cứu tham khảo trong việc đổi mới tổ chức chính quyền phường trong giai đoạn hiện nay.70KẾT LUẬN 77TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 15/11/2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khoá XII đã thông qua Nghị
quyết số 26/2008/QH12 về "Thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân
dân (HĐND) huyện, quận, phường" Ngày 16/01/2009, Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội đã ban hành Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 về "Danh sách huyện,
quận, phường của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường" Theo danh sách này, cả nước thí
điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường tại 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Sau gần 3 năm thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, cho đến nay chúng ta cũng chưa khẳng định dứt khoát về vấn đề này Vì vậy, Báo cáo chính trị tại Đại hội
Đảng lần thứ XI chỉ đạo: "Tiếp tục thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND
huyện, quận, phường"
Khác với chính quyền xã ở địa bàn nông thôn là cấp chính quyền cơ bản,
có lịch sử lâu dài ở nước ta, đơn vị hành chính - lãnh thổ phường và chính quyền phường chỉ chính thức được xác định là cấp chính quyền hoàn chỉnh (có cả HĐND và UBND) bắt đầu từ Hiến pháp năm 1980 Theo Điều 118 Hiến pháp năm 1992 và Điều 4 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành, chính quyền phường ở địa bàn đô thị, trong đó có các quận của thành phố trực thuộc trung ương được coi là "tương đương với xã" và "gọi chung là cấp xã", mặc dù giữa xã và phường là rất khác nhau về điều kiện địa lý tự nhiên, về đặc điểm dân
cư, về kinh tế - xã hội v.v Đây là bất hợp lý lớn về phương diện pháp lý cần phải được khắc phục khi sửa đổi Hiến pháp 1992, sửa đổi Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 hiện hành liên quan đến chính quyền phường Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh cùng với 9 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đang tiếp tục thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND quận, phường, nhưng để đổi mới cơ bản hơn, thành phố đang nghiên cứu xây dựng đề án tổ chức chính quyền đô thị
Trang 6Để góp phần đổi mới tổ chức chính quyền phường nói chung, chính quyền phường của thành phố trực thuộc trung ương nói riêng, trong đó có Thành phố
Hồ Chí Minh - nơi khởi thủy của sự hình thành chính quyền phường, rất cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ bản pháp luật về quá trình hình thành
và thay đổi của cấp chính quyền này để kế thừa kinh nghiệm, những giá trị lịch
sử đồng thời hạn chế gặp lại sai lầm của quá khứ liên quan đến cấp cơ quan này
Xuất phát từ những điều đã trình bày trên, với kinh nghiệm thực tiễn hơn
10 năm công tác ở cấp chính quyền này tại Thành phố Hồ Chí Minh, nên tôi chọn
đề tài: “Pháp luật về sự hình thành, thay đổi và phát triển tổ chức chính
quyền phường tại thành phố Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Những năm qua, ở nước ta có khá nhiều công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương, trong đó có các đề tài nghiên cứu khoa học, các bài báo khoa học,
các hội thảo khoa học về “chính quyền đô thị” Như: “Đổi mới mô hình tổ chức
chính quyền địa phương ở đô thị hiện nay” của PGS-TS Bùi Xuân Đức; “Đô thị
và tổ chức chính quyền đô thị” của PGS-TS Phạm Hồng Thái; “Xây dựng chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh - một yêu cầu cấp thiết của cuộc sống” -
Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Viện Nghiên cứu xã hội, Viện Kinh tế, Sở Nội vụ, Ban Tư tưởng - Văn hoá Thành uỷ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2006; Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Tổ chức chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: lịch sử,
hiện tại và phương hướng đổi mới trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam - Chủ nhiệm đề tài: PGS-TS Trương Đắc Linh; “Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý đô thị Thành phố Hồ Chí Minh” - PGS.TS Phan Xuân Biên, TS Hồ Bá
Thâm, PGS.TS Phan Minh Tân, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2004; các Luận văn thạc sĩ luật học đã bảo vệ tại Trường ĐH Luật Tp HCM, như:
Chính quyền Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh: quá trình hình thành, phát triển và vấn đề đổi mới của tác giả Đinh Thị Cẩm Hà; “Đổi mới tổ chức chính quyền phường trong mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh” của tác
Trang 7giả Lê Thị Mận; v.v.Ở miền Nam, trước ngày giải phóng 30/4/1975, cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về chính quyền địa phương thời chính quyền Sài Gòn (Việt Nam Cộng hòa), trong đó có liên quan đến tổ chức chính quyền Tp Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) nói chung, chính quyền phường nói riêng, như: Luận văn tiến
sĩ “Tổ chức hành chánh địa phương Việt Nam ” của Trần Văn Nhã (1971), Luận
văn cao học "Nền Hành chánh đô thành Sài Gòn" của tác giả Vũ Văn An (1973),
Luận văn đốc sự hành chính "Diễn trình thành lập nền hành chánh Đô thành"
của tác giả Lê Thị Ngọc Sương (1973) v.v
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống, chuyên về pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền phường tại
Tp Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh từ khi hình thành, thay đổi và phát triển từ trước
cho đến nay Vì vậy, đề tài “Pháp luật về sự hình thành, thay đổi và phát triển tổ
chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” mà
tác giả thực hiện là công trình nghiên cứu đầu tiên, có tính hệ thống và chuyên về pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh và không trùng với các công trình của các tác giả đã công bố từ trước đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn:
3.1 Mục đích:
Trên cơ sở phân tích điều kiện hoàn cảnh lịch sử và các quy định của pháp luật được ban hành qua các thời kỳ liên quan đến quá trình hình thành, thay đổi tổ chức chính quyền phường của thành phố Sài Gòn - thành phố Hồ Chí minh trước
và sau ngày giải phóng (30/4/1975), Luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá
và rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo, kế thừa khi nghiên cứu đổi sửa đổi Hiến pháp, pháp luật nhằm mới tổ chức chính quyền cấp này ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ:Để đạt được mục đích nói trên, Luận văn có nhiệm vụ:
Trang 8 Phân tích điều kiện hoàn cảnh lịch sử và các quy định của pháp luật được ban hành liên quan đến tổ chức chính quyền phường tại Tp Sài Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30/4/1975;
Phân tích điều kiện hoàn cảnh lịch sử và các quy định của Hiến pháp và pháp luật được ban hành liên quan đến tổ chức chính quyền phường tại Tp Sài Gòn - Tp Hồ Chí Minh từ sau ngày giải phóng 30/4/1975;
Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm đổi mới các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành về tổ chức chính quyền phường ở nước ta nói chung, Tp Hồ Chí Minh nói riêng trong giai đoạn hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp… dưới giác độ lịch sử - pháp lý khách quan, khoa học, không mang tính định kiến để thực hiện đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài:
- Luận văn là công trình nghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận, pháp lý về tổ chức chính quyền phường ở nước ta nói chung, tại Tp Sài Gòn -
Tp Hồ Chí Minh nói riêng
- Các kiến nghị của tác giả Luận văn nếu được các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu sẽ góp phần giải quyết những bất cập, vướng mắc về nhận thức, về các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành liên quan đến tổ chức chính quyền phường ở các đô thị nói chung, ở Tp Hồ Chí Minh nói riêng
- Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên và những người quan tâm đến tổ chức chính quyền phường
Trang 96 Cơ cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Pháp luật về tổ chức chính quyền phường của thành phố Sài
Gòn (Đô thành Sài Gòn) trước ngày giải phóng 30/4/1975 Chương 2: Hiến pháp và pháp luật liên quan đến tổ chức chính quyền
phường của thành phố Sài Gòn- Thành phố Hồ Chí Minh từ sau ngày giải phóng 30/4/1975 đến nay
Trang 10CHƯƠNG 1:
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN PHƯỜNG CỦA
THÀNH PHỐ SÀI GÒN (ĐÔ THÀNH SÀI GÒN) TRƯỚC NGÀY GIẢI PHÓNG 30/4/1975
1.1 Khái quát về quá trình ra đời đơn vị hành chính phường và tổ chức chính quyền phường tại Tp Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975
Nếu tính từ năm 1698, khi chúa Nguyễn Phúc Chu cử Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất vào Nam kinh lược, lập phủ Gia Định, trong
đó có địa phận thành phố Hồ Chí Minh ngày nay, thì thành phố Hồ Chí Minh đã
có lịch sử hơn 300 năm Nhưng trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, dưới triều vua Gia Long, các quận- huyện của thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, xét về mặt hành chính là các huyện Bình Dương (quận 1, quận 3, quận 10, quận Tân Bình, quận Phú Nhuận, quận Bình Thạnh, quận 4, quận 12, huyện Hóc Môn, huyện Củ Chi, huyện Cần Giờ, huyện Nhà Bè) và huyện Tân Long (quận 5, quận
11, quận 6, quận 8, huyện Bình Chánh, một phần Nhà Bè, Bình An, quận 9, quận
2, Thủ Đức) thuộc Gia Định Thành kéo dài từ Bình Thuận đến Hà Tiên
Từ năm 1861 đến năm 1867, thực dân Pháp lần lượt đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam bộ, rồi 3 tỉnh miền Tây Nam bộ, buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký Hòa ước năm Nhâm Tuất (1962) và Hòa ước năm Đinh Mão (1867) giao 6 tỉnh Nam kỳ cho Pháp
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, để tổ chức quản lý thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn, thực dân Pháp ban hành các văn bản pháp lý khác nhau, với các cách thức tổ chức ở các thời kỳ khác nhau Giai đọan từ 1877 đến 1931, Sài Gòn
và Chợ Lớn là 2 thành phố riêng biệt, tổ chức và họat động theo những văn bản pháp lý riêng
Ngày 27 tháng 4 năm 1931, Tổng thống Pháp ban hành Sắc lệnh hợp nhất 2 thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn để thiết lập một đơn vị hành chính mới gọi là "địa
phương Sài Gòn-Chợ Lớn" Ngày 12 tháng 5 năm 1942, Toàn quyền Đông
Trang 11Dương ban hành Nghị định quy định chia "địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn" thành
- Cơ quan quyết nghị là Hội đồng quản trị địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn;
- Cơ quan chấp hành là Quận trưởng địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn
Dưới thành phố là cấp Hộ Theo Nghị định ngày 12 tháng 5 năm 1942 của Toàn quyền Đông Dương, địa phương Sài Gòn-Chợ Lớn được chia thành 18 Hộ, mỗi Hộ do một Hộ trưởng điều khiển
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng ở Sài Chợ Lớn-Gia Định và cả Nam bộ nói chung thành lập chưa được bao lâu thì đêm
Gòn-22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp đã mở đầu cho cuộc tái xâm
lược Sài Gòn và Nam bộ, biến nơi đây thành "Nam kỳ Tự trị" Chúng đưa
Nguyễn Văn Thinh lên làm Thủ tướng của cái gọi là Chính phủ "Cộng hòa Nam kỳ" Đến giữa năm 1948, Pháp đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng của Chính phủ lâm thời Nam kỳ
Giai đọan này có một số văn bản quy định về tổ chức quản lý thành phố này như: Nghị định ngày 31 tháng 7 năm 1947, Nghị định ngày 22 tháng 9 năm1947, Nghị định ngày 26 tháng 9 năm 1947, Nghị định ngày 30 tháng 6 năm 1951 v.v của Thủ tướng Chính phủ Nam kỳ để quy định thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn là
Thủ đô của Nam kỳ tự trị, quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ
quan chấp hành của đô thành, phân chia và tổ chức các phân hạt lãnh thổ của đô thành Quốc trưởng Bảo Đại ban hành: Dụ số 2 ngày 01 ngày 7 tháng 1949, Sắc lệnh số 104-NV ngày 27 tháng 12 năm 1952, 18 Hộ của Thành phố Sài Gòn-Chợ
Trang 12Lớn trước đây được nhập lại thành 7 và đổi tên thành Quận, Sắc lệnh số 105-NV ngày 27 tháng 12 năm 1952, Sắc lệnh số 1361-Cab/TS ngày 26 tháng 9 năm 1953 quy định về tổ chức các cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành của Thủ đô Sài Gòn-Chợ Lớn v.v
Theo các văn bản nói trên, thành phố Sài Gòn-Chợ Lớn vẫn tổ chức 2 cấp
chính quyền là: cấp đô thành và cấp quận (đổi tên Hộ thành quận)1
Năm 1954, Bảo Đại đã bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn ("Quốc gia Việt Nam") 2
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết Theo Hiệp định Giơnevơ năm 1954, sau 2 năm (tháng 7 năm 1956 ) sẽ tổ chức cuộc Tổng tuyển cử ở cả 2 miền Nam Bắc Việt Nam để bầu ra cơ quan đại diện cho cả nước, cơ quan này quyết định chế độ chính trị ở Việt Nam (Điều 7 Tuyên
bố cuối cùng của Hiệp định Giơnevơ) Ngày 6 tháng 6 năm 1955 và ngày 19 tháng 7 năm 1955 Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra tuyên bố và gửi công hàm cho chính quyền miền Nam Việt Nam (chính quyền Sài Gòn) đề nghị hiệp thương bàn về tổng tuyển cử để thống nhất nước nhà về mặt nhà nước Nhưng ngày 16 tháng 7 và 9 tháng 8 năm 1955, Chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức tuyên bố từ chối tổng tuyển cử Ngày 23 tháng 1 năm 1955, chính
quyền Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu ý dân, phế truất quốc trưởng Bảo Đại Ngày 26 tháng 11 năm 1955, Ngô Đình Diệm công bố Hiến ước tạm thời Theo
đó, Quốc trưởng cũng đồng thời là Thủ tướng Chính phủ lấy danh hiệu là Tổng
thống Việt Nam Cộng hòa (Điều 2) và Ngô Đình Diệm là Tổng thống
Ngoài ra, về địa giới hành chính, “Địa phận Nam Việt” cũng đã được điều
chỉnh nhất định Cụ thể, căn cứ Sắc lệnh 143-NV về việc thay đổi địa giới và tên
Trang 13Đô thành Sài Gòn – Chợ lớn được ban hành ngày 22 tháng 10 năm 1956, địa
phận Nam Việt gồm, Đô thành Sài Gòn và 20 tỉnh3
Trong giai đoạn từ 1954 đến 1959, ở Sài Gòn chỉ có 2 cấp chính quyền là cấp Quận và cấp Đô thành Tuy nhiên, trong giai đoạn này, trước sự di dân ồ ạt từ các nơi về Sài Gòn làm cho dân số Sài Gòn tăng lên nhanh chóng4 nên hai cấp chính quyền Quận và Đô thành không thể giải quyết hết những nhu cầu của người dân như: giấy tờ về nhà đất, hộ tịch, nhất là quản lý dân cư, theo dõi để đàn
áp các phần tử đối lập, lực lượng cách mạng, quần chúng yêu nước Do vậy, theo chính quyền Sài Gòn khi đó, việc thành lập thêm một cấp chính quyền cơ sở dưới Quận ở thành phố Sài Gòn là yêu cầu khách quan, rất cấp thiết.5
Ban đầu, chính quyền Sài Gòn dự định thiết lập dưới quận là các “Khu Đô thành” và người đứng đầu Khu là Khu trưởng Theo tờ trình số 1432-BNV/HC/12/M ngày 23 tháng 2 năm 1959 trình Tổng thống Việt Nam Cộng hòa
về dự thảo Nghị định, 8 quận Đô thành sẽ chia thành 41 khu : Quận I : 4 khu; Quận II : 4 khu; Quận III : 5 khu; Quận IV : 4 khu; Quận V : 6 khu; Quận VI : 7 khu; Quận VII : 6 khu; Quận VIII : 5 khu
Khu trưởng do Đô thành bổ nhiệm theo đề nghị của Quận trưởng
Khu trưởng có các điều kiện sau đây: trên 30 tuổi và không quá 60 tuổi; Có
đủ sức khỏe; Có bằng Tiểu học; Không can án tiết, hạnh kiểm tốt; Cư ngụ tại khu liên hệ ít nhất 2 năm; Có đứng tên trong một bộ thuế v.v Khu trưởng chỉ có những nhiệm vụ về liên lạc và báo cáo6
3 Công báo Việt Nam Cộng hòa, năm thứ hai, số 47, ngày thứ tư 24.10.1956, J 373, Trung tâm lưu trữ quốc gia
II, tr 2649; việc sáp nhập nói trên theo quy định tại Điều 3 Sắc lệnh được tiến hành từ 01/01/1957
4 Theo thống kê, thời gian này tại Sài Gòn có hơn 2 triệu dân sinh sống, trong khi ở những tỉnh khác dân số mỗi tỉnh chưa đến 120.000 người
5 Văn bản số 90.TTP/TTK ngày 07 tháng 2 năm 1958 của Tổng thơ ký Phủ tổng thống – (Phông Tổng thống đệ nhất cộng hòa - Hồ sơ số 21334, Hồ sơ về tổ chức và cải tổ Đô thành Sài Gòn năm 1954-1962- Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
6 Tờ trình số 1432-BNV/HC/12/M ngày 23 tháng 2 năm 1959 của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa – Hồ sơ số 2696, Hồ sơ về việc chia các quận tại Đô thành Sài Gòn ra nhiều phường năm 1959-1961 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
Trang 14Tuy nhiên, Sắc lệnh số 74-TTP ngày 23 tháng 3 năm 1959 về tổ chức quản
trị Đô thành Sài Gòn chính thức sử dụng tên gọi “Phường” để chỉ địa hạt hành
chính và chính quyền địa phương dưới cấp Quận mà không sử dụng danh xưng
“Khu” như trong tờ trình trước đó Điều thứ 24 Sắc lệnh số 74-TTP quy định:
“Mỗi quận gồm có nhiều phường: số phường, ranh giới và tổ chức các phường
do Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ấn định”
Bắt đầu từ đây, đơn vị hành chính phường và chính quyền phường chính thức được thiết lập ở thành phố Sài Gòn theo Sắc lệnh số 74-TTP ngày 23 tháng
3 năm 1959
Từ năm 1971, theo Nghị định số 810-BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 09 tháng
11 năm 1971 quy định tại Đô thành Sài Gòn, dưới chính quyền phường là Khóm,
có Khóm trưởng và Phụ tá Khóm trưởng là cơ quan hành chính hay "cánh tay nối
dài" của chính quyền phường, chính quyền quận và Đô thành Sài Gòn
Từ năm 1959 đến 1975, số lượng phường và quận của Sài Gòn có sự thay đổi thông qua việc sáp nhập, chia tách, thành lập mới Tính đến ngày 8 tháng 7 năm
1974, tổng dân số của Đô thành Sài Gòn là 1.685.742 người và có 58 phường.7
1.2 Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn và pháp luật về
tổ chức chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975
1.2.1 Khái quát pháp luật về tổ chức Đô thành Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975
Tổ chức chính quyền địa phương ở Miền Nam nói chung, Đô thành Sài Gòn nói riêng, trong đó có chính quyền phường trước ngày giải phóng 30/4/1975 có nhiều thay đổi, được quy định bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau8, như:
7 Xem Nghị định 303-BNV/HCĐP/PTĐT/NĐ ngày 8 tháng 7 năm 1974 của Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa (Phông Phủ Thủ tướng - Hồ sơ số 9591, Hồ sơ về việc thành lập, cải danh các quận, phường thuộc Đô thành Sài Gòn năm 1966-1974 - Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II)
8 Hiến pháp năm 1956 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm); Hiến pháp năm 1967 (thời Nguyễn Văn Thiệu) đều không quy định về đơn vị hành chính và chính quyền phường
Trang 15- Dụ 57-a ngày 24 tháng 10 năm 1956 về tổ chức nền hành chính quốc gia;
- Sắc lệnh 74-TTP ngày 23 tháng 3 năm1959 về tổ chức nền hành chính Đô thành; Sắc lệnh 67, 68 và 69-NV ngày 9 tháng 4 năm 1965 về tổ chức các Hội đồng Đô thành, tỉnh và thị xã; Sắc lệnh số 203-/NV ngày 31 tháng 5 năm1964 ấn định tổ chức xã, ấp; và các Sắc lệnh số 198-SL/ĐUHC ngày 24 tháng 12 năm1966 cải tổ nền hành chính xã, ấp; Sắc lệnh số 061/SL/NV ngày 22 tháng 6 năm1971; Sắc lệnh số 120-SL/NV ngày 22 tháng 8 năm1972 v.v
- Các Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 ấn định ranh giới các quận Đô thành Sài Gòn; Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm
1959 quy định về tổ chức các phường trong Đô thành; Nghị định số BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 09 tháng 11 năm 1971 về tổ chức hành chính phường và khóm tại Đô thành Sài Gòn; Nghị định số 220-NĐ/NV ngày 23 tháng
810-5 năm 1972 về thay thế Quận trưởng công chức bằng sĩ quan quân đội; Nghị định
số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14 tháng 10 năm1972 về tổ chức Tòa hành chính quận; v.v
Như vậy, về tổ chức tổ chức chính quyền Đô thành Sài Gòn có 4 cấp là cấp thành phố - cấp quận - cấp phường - và cấp khóm
a Cấp thành phố (Đô thành Sài Gòn)
Cấp thành phố có 2 lọai cơ quan: cơ quan quyết nghị là Hội đồng Đô thành
và cơ quan chấp hành là Đô trưởng, đứng đầu Tòa Hành chính Đô thành và cũng
là người đứng đầu toàn bộ hệ thống hành chính Đô thành
+ Hội đồng đô thành: Theo Sắc lệnh số 67-LV ngày 9 tháng 4 năm 1965,
Luật số 02/70 ngày 5 tháng 3 năm 1970 và các Sắc lệnh số 031/SL/NV, Sắc lệnh
số 032/SL/NV ngày 18 tháng 3 năm 1970, Hội đồng đô thành gồm 36 nghị viên,
có nhiệm kỳ 4 năm
Trang 16Về cơ cấu tổ chức:
Văn phòng Hội đồng đô thành gồm: 1 chủ tịch, 1 phó chủ tịch, 1 tổng thư ký
và 2 ủy viên Đây là bộ phận thường trực của Hội đồng, có nhiệm vụ giải quyết một số việc của hội đồng giữa các khóa họp, tổ chức họat động của hội đồng và điều hành các phiên họp hội đồng
Hội đồng có 6 ủy ban, các nghị viên được phân chia vào các ủy ban sau: 1
Ủy ban hành chính pháp chế; 2 Ủy ban tài chính ngân sách; 3 Ủy ban xã hội y tế; 4 Ủy ban văn hóa thanh niên; 5 Ủy ban giao thông công chánh; 6 Ủy ban kiểm soát khiếu nại
Quyền hạn của Hôi đồng có 4 lọai quyền: quyền quyết nghị; quyền tư vấn, quyền giám sát; và quyền đề đạt các thỉnh nguyện lên Thủ tướng, cũng như Bộ trưởng về những vấn đề liên quan lợi ích của Đô thành
+ Tòa Hành chính Đô thành: gồm Đô trưởng, các phụ tá Đô trưởng và Tòa
Đô chánh Nếu theo Khoản 1 Điều 71 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (thông qua ngày 1 tháng 4 năm 1967) thì Đô trưởng là người chỉ huy cơ quan chấp hành Đô
thành "sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín", nhưng
quy định này không được áp dụng, thực tế là do Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa
đề nghị, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bổ nhiệm
Phụ tá cho Đô trưởng có: Phó Đô trưởng giúp đô trưởng điều khiển các sở thuộc Tòa đô chánh, thay thế Đô trưởng khi vắng; Tổng thư ký; Phụ tá hành chính; Phụ tá kinh tế-tài chính; Phụ tá chuyên môn; Thanh tra trưởng
Tòa đô chánh gồm: 1.Văn phòng Đô trưởng; 2 Tổng thư ký; 3 Khối chuyên môn gồm có 7 Sở và 1 Phòng (Sở công chánh, Sở thiết kế, Sở vệ sinh, Sở y tế, Sở cứu hỏa, Sở mục súc, Công xưởng đô thành, Phòng trồng tỉa); 4.Khối kinh tế-Tài chính gồm 3 Sở (Sở kinh tế, Sở ngân sách kế toán, Sở thuế thổ trạch và tạp thâu);
5 Khối hành chính gồm 3 sở (Sở nội an, Sở hành chính nhân viên, Sở tiểu học)
Trang 17b Cấp Quận
Chính quyền cấp Quận của Đô thành Sài Gòn: Trước ngày 30/4/1975, Đô
thành Sài Gòn được phân chia thành 11 Quận Tất cả các Quận đều được đặt tên
theo số thứ tự tự Quận 1 đến Quận 11 Quận chỉ là địa hạt hành chính không là cấp chính quyền cơ bản, không có cơ quan dân cử, chỉ có cơ quan hành chính Chính quyền Quận là Toà hành chính quận Đứng đầu Toà hành chính quận
là Quận trưởng Theo quy định tại Thông tư số 1-a ngày 01 tháng 3 năm 1968,
Quận trưởng do Tổng trưởng Nội vụ bổ nhiệm theo đề nghị của Đô trưởng Quận trưởng chỉ là người đại diện cho Đô trưởng, có nhiệm vụ áp dụng và thi hành luật
lệ của Đô trưởng, cấp một số giấy phép và thị thực chữ ký v.v Theo Nghị định
số 220-NĐ/NV ngày 23 tháng 5 năm 1972, Quận trưởng phải là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Giúp việc cho Quận trưởng có 1 Phó Quận trưởng và 1 Phụ tá hành chính nguyên là Quận trưởng dân sự trước khi có Nghị định số 220-NĐ/NV năm
1972
Theo Nghị định số 675-BNV/HCĐP/NĐ ngày 14 tháng 10 năm 1972, Tòa hành chính Quận gồm 2 phòng:
1 Phòng hành chính và quân vụ (có 3 Ban: Ban hành chính, Ban hộ tịch,
Ban quân vụ và nhân dân tự vệ);
2 Phòng kinh tế tài chính (có 3 Ban: Ban kinh tế vệ sinh, Ban tài chính, Ban
tạp thâu)
Ngoài các phòng - ban nói trên, Quận trưởng còn được giao trách nhiệm phối hợp với các sở chuyên môn thuộc Tòa đô chánh để chỉ huy trực tiếp 4 chi: Chi thông tin, Chi chiêu hồi, Chi xã hội và Chi thanh niên
Trang 18c Cấp phường
Phường và chính quyền phường được thành lập bắt đầu theo Sắc lệnh số TTP ngày 23 tháng 3 năm 1959 và được sửa đổi, bổ sung theo các văn bản pháp khác của chính quyền Sài Gòn và sẽ được trình bày cụ thể ở mục sau của chương này
74-d Cấp Khóm:
Dưới phường là Khóm Bắt đầu từ năm 1971, chính quyền Sài Gòn còn chia phường thành nhiều khóm và ở mỗi khóm có Khóm trưởng và 2 Phụ tá khóm trưởng (1 phụ trách về hành chính, 1 phụ trách về an ninh) do Quận trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Phường trưởng
Nhưng khác với tỉnh và xã, theo quy định của Hiến pháp năm 1967 (Điều 70-75) và các văn bản pháp lý của chính quyền Sài Gòn, chỉ có cấp thành phố Sài Gòn được xác định là "tập thể địa phương phân quyền", "có tư cách pháp nhân",
tổ chức chính quyền đầy đủ, có cả "cơ quan quyết nghị" và "cơ quan chấp hành"
Còn quận, phường và khóm chỉ là địa hạt hành chính, nên chỉ có cơ quan hành
chính nằm trong hệ thống hành chính Đô thành
Khái quát về tổ chức các cấp chính quyền của Đô thành Sài Gòn, trong đó
có chính quyền phường, trước ngày giải phóng 30/4/1975 theo sơ đồ sau:
Trang 19TỔ CHỨC CQ ĐÔ THÀNH SÀI GÒN TRƯỚC NGÀY GIẢI PHÓNG 30/4/1975
KHÓM TRƯỞNG
QUẬN TRƯỞNG (TÒA HC QUẬN)
ĐÔ TRƯỞNG
(TOÀ HC ĐÔ THÀNH)
THỦ TƯỚNG
ĐÔ THÀNH
- Nghị định số 110-NV ngày 27 tháng 3 năm 1959 ấn định ranh giới các quận Đô thành Sài Gòn; Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm
1959 quy định về tổ chức các phường trong Đô thành; Nghị định BNV/HC/NĐ ngày 19 tháng 6 năm 1961 sửa đổi điều 4 và điều 9 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ; Nghị định số 810-BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 09 tháng 11 năm 1971 về tổ chức hành chính phường và khóm tại Đô thành Sài Gòn, Nghị định 281-BNV/HCĐP/NĐ ngày 24 tháng 5 năm 1973 v.v
Trang 20371 Thông tư số 064371 TT/ThT/PC1 ngày 23 tháng 6 năm 1973 ấn định mối tương quan giữa Phường trưởng và Trưởng cuộc cảnh sát quốc gia
- Sự vụ văn thư số 841-HC/HC ngày 15 tháng 4 năm 1969 của Đô trưởng Sài Gòn quy định các Ban của chính quyền phường;
Nội dung quy định của pháp luật về chính quyền phường và khóm:
+ Ví trí, vai trò của phường, khóm
Phường là một đơn vị hành chính đặc biệt do Sắc lệnh số 74-TTP quy định
“Địa phận của Đô thành chia ra nhiều quận và ranh giới của mỗi quận sẽ do Nghị định của Tổng thống ấn định Mỗi quận gồm có nhiều phường, số phường, ranh giới và tổ chức các phường do Nghị định của Bộ trưởng Nội vụ ấn định”
+ Cơ cấu tổ chức của Phường, Khóm
Cơ cấu tổ chức của chính quyền phường được quy định trong nhiều văn bản pháp luật Mỗi giai đoạn, pháp luật về tổ chức chính quyền phường được điều chỉnh cho phù hợp với giai đọan ấy
Người đứng đầu tổ chức hành chính phường tại Đô thành Sài Gòn là Phường trưởng và chịu trách nhiệm cho mọi hoạt động của phường
Trang 21*Phường trưởng:
Theo Điều 3 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 của
Bộ trưởng Nội vụ, phường đặt dưới quyền quản trị của một Phường trưởng do Đô trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Quận trưởng
Điều 4 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ quy định Phường trưởng phải có đủ các điều kiện sau:
- Không dưới 30 tuổi và không quá 60 tuổi;
- Có đủ sức khỏe;
- Có bằng cấp tiểu học;
- Không can án tiết, hạnh kiểm tốt;
- Hiện cư ngụ tại phường liên hệ và đã ở tại phường ít nhất 2 năm;
- Có đứng tên trong một bộ thuế, phần thuế chính thức là tối thiểu là 100 đồng (tiền chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ) Trong trường hợp ứng cử viên chức
vụ Phường trưởng là một cựu công chức thì điều kiện đứng tên trong bộ thuế được miễn nhưng phải phục vụ Chính phủ ít nhất 6 năm và không bị thải hồi vì
9 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 quy định việc tổ chức các phường trong Đô thành (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa – Hồ sơ số 2696, Hồ sơ về việc chia các quận tại Đô thành Sài Gòn ra nhiều phường năm 1959-1961 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
Trang 22ngụ ở phường này và đặt Văn phòng tại phường ở đó: “Trong trường hợp trong
phường liên hệ không có ứng cử viên xứng đáng, có thể nhận ứng cử viên ở các phường kế cận cùng trong Quận với điều kiện là sau khi được bổ nhiệm, Phường trưởng phải đến cư ngụ ở phường liên hệ và đặt văn phòng trong phường này”
(Điều 1 Nghị định số 371-BNV/HC/NĐ)
Phường trưởng không được hưởng quy chế công chức ngoại trừ công chức được bổ nhiệm chức vụ Phường trưởng Phường trưởng hưởng lương là nguyệt bổng khoán do Đô trưởng ấn định chứ không được hưởng lương từ Ngân sách Đô
thành như Quận trưởng Ngoài ra, Phường trưởng còn được nhận thêm một
khoản phụ cấp văn phòng phẩm do Đô trưởng ấn định10
Gần hai năm sau, để thực hiện cái gọi là “Dân chủ hóa nền hành chính cơ
sở” Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ban hành Nghị định số 359-BNV/HC/NĐ
ngày 12 tháng 7 năm 1963, quy định việc chỉ định các Phường trưởng được thay thế bằng chế độ bầu cử.11
Tại Điều 2 Nghị định 359-BNV/HC/NĐ quy định : “Phường trưởng được
bầu bởi một cử tri đoàn gồm toàn thể nhân viên ban trị sự khóm tại chức hoặc khóm trưởng nếu khóm chưa được chiến lược hóa; tất cả các Chủ tịch đoàn thể nhân dân được ấn định trong các bản khóm ước; Hội viên Thanh niên phường; phường đoàn trưởng, phường đoàn phó, khóm đoàn phó, liên toán trưởng, liên toán phó và toán trưởng thanh niên Cộng hòa phường”
Tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng được vỏn vẹn 5 tháng vì Chính phủ đương nhiệm cho rằng cách tuyển chọn Phường trưởng này sẽ tạo điều kiện để Đoàn Thanh niên Cộng hòa chi phối việc quản trị phường, khóm, nên đến ngày
26 tháng 12 năm 1963, Nghị định số 359-BNV/HC/NĐ ngày 12 tháng 7 năm
1963 đã bị bãi bỏ bởi Nghị định số 331-TTP/ĐUHC
10 Trần Văn Nhã (1968-1971) Luận văn tiến sĩ “Tổ chức hành chánh địa phương Việt Nam ”, Học viện Quốc gia
hành chánh, tr.56
11 Lê Thị Mận (2006), luận văn Thạc sĩ Luật học, Đổi mới tổ chức chính quyền phường trong mô hình chính
quyền đô thị tại thành phố Hồ Chí Minh, ĐH Luật TP Hồ Chí Minh, tr.39,40
Trang 23Cũng tại Nghị định số 331-TTP/ĐUHC ngày 26 tháng 12 năm 1963, tại các phường ven đô nơi có sự xâm nhập và hoạt động của lực lượng cách mạng, Phường trưởng phải là quân nhân
Đến năm 1971, Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 9 tháng 11 năm
1971 quy định các điều kiện của Phường trưởng và phụ tá Phường trưởng như sau: Phường trưởng có một phụ tá Phường trưởng trợ giúp và lâm thời thay thế Phường trưởng trong lúc Phường trưởng vắng mặt Phụ tá Phường trưởng có thể được giao đặc trách một số vấn đề
Tại Điều 3 Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ quy định, Phường trưởng
và Phụ tá Phường trưởng phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:
- Ít nhất là 25 tuổi;
- Đầy đủ sức khỏe;
- Có trình độ văn hóa từ Tiểu học trở lên;
- Không có án tiết, hạnh kiểm tốt, hợp lệ tình trạng quân dịch;
- Cư ngụ tại Phường ít nhất là 2 năm
Ngoài ra, trong suốt thời gian tại chức, Phường trưởng phải cư ngụ tại phường Như vậy, so với quy định trước đây tại Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày
22 tháng 4 năm 1959 và 371-BNV/HC/NĐ ngày 19 tháng 6 năm 1961, độ tuổi để trở thành Phường trưởng đã giảm tuổi tối thiểu so với trước là 5 tuổi, bỏ quy định
độ tuổi tối đa Đặc biệt trong thời gian tại chức, Phường trưởng phải cư ngụ tại địa phương
Đến năm 1972, theo Nghị định 220-NĐ/NV ngày 23 tháng 5 năm 1972, Phường trưởng phải là Hạ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa vì thời điểm này phong trào cách mạng ở miền Nam nói chung, tại thành phố Sài Gòn nói riêng phát
Trang 24triển mạnh mẽ sau chiến dịch Xuân - Hè năm 1972 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, bắt đầu từ chiến dịch giải phóng Quảng trị (ngày 01 tháng 5 năm 1972) Các Phường trưởng dân sự giải nhiệm sẽ là Phụ tá hành chính cho các Phường trưởng quân sự này
*Văn phòng phường
Văn phòng phường được Phường trưởng trực tiếp điều khiển
- Địa điểm đặt trụ sở Văn phòng phường:
Trong những năm đầu thành lập các phường, Văn phòng Phường trưởng, được đặt tại nhà riêng của Phường trưởng (Điều 9, Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959)12
Đến năm 1961 đã có sự thay đổi quy định về Văn phòng phường trưởng Theo đó Văn phòng Phường trưởng không nhất thiết đặt tại nhà riêng của Phường trưởng mà có thể do Phường trưởng tổ chức, được đặt tại phường liên hệ và được
Đô trưởng chấp thuận (Điều 9, Nghị định số 371-BNV/HC/NĐ ngày 19 tháng 6 năm 1961 của Bộ Nội vụ)13
Đến năm 1971, theo quy định, mỗi phường có một Văn phòng phường, nếu phường chưa có trụ sở, Phường trưởng có thể tạm đặt Văn phòng tại nhà riêng của Phường trưởng Trong trường hợp này, Phường trưởng được hỗ trợ một khoản kinh phí theo quy định của Đô trưởng (Điều 5, Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ)
12 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 quy định việc tổ chức các phường trong Đô thành (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa – Hồ sơ số 2696, Hồ sơ về việc chia các quận tại Đô thành Sài Gòn ra nhiều phường năm 1959-1961 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II
13 Nghị định 371-BNV/HC/NĐ ngày 19 tháng 6 năm 1961của Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa sửa đổi điều
4 và điều 9 Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 quy định việc tổ chức các phường trong
Đô thành (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa – Hồ sơ số 2696, Hồ sơ về việc chia các quận tại Đô thành Sài Gòn ra nhiều phường năm 1959-1961 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
Trang 25- Tổ chức của Văn phòng phường:
Trong văn phòng của Phường trưởng có một tùy phái dưới quyền của Phường trưởng để chuyển công văn và phụ tá Phường trưởng trong Văn phòng (Điều 9, Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 của Bộ Nội vụ)
Từ năm 1965, mỗi phường có một “cảnh sát viên” được biệt phái về để làm
nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự tại Văn phòng phường, điều tra gia cảnh, tài sản, giữ sổ khai gia đình, tổng lệnh đốc thúc về thuế vụ (văn bản số 1760/HCNV ngày
1 tháng 4 năm 1965 của Tòa Đô chánh) và tiếp tục được duy trì cho đến ngày giải phóng 30/4/1975
Đến năm 1968, Phường được tăng thêm một Thư ký biệt phái để giúp việc cho Phường trưởng
Đến năm 1969, tổ chức Văn phòng phường được hình thành 5 ban: 1 Ban An
ninh, 2 Ban Tuyên vận, 3 Ban Kiến thiết, 4 Ban Thanh niên, 5 Ban Thuế vụ
Theo văn bản (Sự vụ văn thư) số 841-HC/HC ngày 15 tháng 4 năm 1969 của Đô trưởng Sài Gòn, mỗi Ban có Trưởng ban Trưởng ban cũng có thể do Phường trưởng kiêm nhiệm (như Trưởng ban Thuế vụ), hoặc do Phường trưởng tuyển chọn và chỉ định (như Trưởng ban An ninh), hoặc do cơ quan hữu quan phối hợp đề cử (như Trưởng ban Kiến thiết)
Năm 1971, Văn phòng mỗi phường có thêm từ 2 đến 3 thư ký tùy theo phường
có dưới hay trên 25.000 dân Thư ký là nhân viên hành chính được bổ nhiệm (Điều 5, Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ)
Cơ cấu tổ chức của Phường vẫn gồm 5 Ban nhưng với tên gọi khác là: 1
Ban An ninh, 2 Ban Tuyên vận, 3 Ban Kiến thiết, 4 Ban Thuế vụ, 5 Ban Thanh niên để thực hiện các chức năng quản lý tại địa phương
Trang 26Tại phường còn có "cán bộ thanh niên – thể thao" giúp việc cho Phường trưởng bắt đầu từ năm 1964, "Cán bộ thanh niên và thể thao" được bổ nhiệm để
phụ trách công tác thanh niên và thể thao dưới sự hướng dẫn của Ty Thanh niên
Đô thành để phát triển phong trào thể dục, thể thao tại địa phương (Điều 1, Nghị định số 164-HCNV/2 ngày 20 tháng 3 năm 1964 của Đô trưởng Sài Gòn)14
"Cán bộ thanh niên và thể thao" phường được Đô trưởng quyết định tuyển
dụng căn cứ theo đề nghị của Trưởng ty thanh niên Đô thành với sự thỏa thuận
của Quận trưởng "Cán bộ thanh niên và thể thao” phường trực thuộc hệ thống
kiểm soát của Ty Thanh niên Đô thành Sài Gòn về phương diện chuyên môn và Tòa Đô chánh về phương diện hành chính (Điều 4 Nghị định số 164-HCNV/2 ngày 20 tháng 3 năm 1964 của Đô trưởng Sài Gòn)
"Cán bộ thanh niên và thể thao” không được hưởng quy chế công chức mà
được hưởng "nguyệt bổng khoán" là 2.000 đồng/tháng (tiền chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ) do Ngân sách Đô thành đài thọ, ngoài ra không được hưởng phụ cấp nào khác (Điều 4, điều 5 Nghị định số 164-HCNV/2 ngày 20 tháng 3 năm 1964 của Đô trưởng Sài Gòn)
Nếu "Cán bộ thanh niên và thể thao” phường không đủ sức khỏe hoặc
phạm lỗi nặng thì sẽ bị Đô trưởng ra quyết định sa thải theo đề nghị của Trưởng
ty Thanh niên sau khi thỏa thuận với Quận trưởng
Theo Điều 3 Nghị định số 164-HCNV/2 ngày 20 tháng 3 năm 1964 của Đô
trưởng Sài Gòn, điều kiện để tuyển dụng "Cán bộ thanh niên và thể thao”
14 Xem Nghị định số 164-HCNV/2 ngày 20 tháng 3 năm 1964 của Đô trưởng Sài Gòn (Phông Phủ Thủ tướng –
Hồ sơ số 10596 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
Trang 27- Học lực bậc Trung học;
- Có khả năng về ngành thanh niên, thể dục và thể thao;
- Hiện cư ngụ tại Đô thành
Như vậy, có thể thấy tổ chức hành chính phường không tổ chức Hội đồng đại diện Phường không có ngân sách Bộ máy hành chính phường được tổ chức gọn nhẹ với cơ cấu chỉ gồm Phường trưởng và trên dưới 10 nhân viên Mặc dù, Văn phòng phường có 5 ban nhưng Trưởng ban đa phần do Phường trưởng kiêm nhiệm
*Khóm:
Theo Điều 6 Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 9 tháng 11 năm
1971 của Bộ Nội vụ chính quyền Sài Gòn, Phường có thể được chia ra làm nhiều khóm 15 Việc thành lập khóm do Đô trưởng ấn định sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng Đô thành điều 6, Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ)
Khóm do Khóm trưởng đứng đầu và có một hoặc hai phụ tá Khóm trưởng Trong trường hợp Khóm có hai Phụ tá Khóm trưởng thì một phụ trách về an ninh và một phụ trách về hành chính (Điều 7, Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ) Khóm trưởng và các Phụ tá Khóm trưởng do Quận trưởng bổ nhiệm và bãi nhiệm theo đề nghị của Phường trưởng Các Khóm sẽ được tăng cường nhân viên Cảnh sát hoạt động tại Khóm với tư cách Phụ tá an ninh Khóm
Khóm trưởng là công dân cư ngụ trong Khóm, có độ tuổi từ 25 trở lên, có hạnh kiểm tốt và hợp lệ tình trạng quân dịch (Điều 8, Nghị định 810- BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ)
Mỗi Khóm có khoảng 30 liên gia - một tổ chức mang tính chất tự quản Tổ
chức này xuất phát từ tính chất tự thân kết hợp của các gia đình ở cùng đường phố
15 Tính đến năm 1973, toàn Đô thành Sài Gòn có 710 Khóm
Trang 28hoặc cùng xóm Mỗi Liên gia đặt dưới sự điều khiển của Trưởng Liên gia do dân chúng bầu và không có thù lao
Khóm và liên gia là những cấp tổ chức thấp nhất nhưng đây là cấp chính quyền, chỉ là tổ chức tự quản, giúp Phường trưởng, Khóm trưởng một số nhiệm
vụ để quản lý chặt chẽ dân cư ở địa bàn
+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Phường và Khóm:
*Nhiệm vụ, quyền hạn của phường:
Nhiệm vụ, quyền hạn Phường trưởng được quy định tại điều 5, Nghị định
504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 như sau:
- Liên lạc giữa nhân dân và Tòa Đô chánh;
- Thông báo các Chỉ thị nhận được;
- Kiểm tra dân số theo chỉ thị của Quận trưởng;
- Báo cáo những sự bất thường xảy ra trong phường làm phương hại đến trật tự và an ninh công cộng;
- Công tác trong mọi công cuộc xã hội, cải tiến dân sinh và tổ chức thanh niên
Đến giữa năm 1968, Đô trưởng Sài Gòn có thỏa thuận cho các Quận trưởng được ủy quyền cho các Phường duyệt ký một số giấy tờ để giảm tải cho Tòa hành chánh Quận và các giấy tờ này có tính chất hành chính như chứng chỉ chỗ ở, hạnh kiểm, sống chung16
16 Văn bản số 1185-HC/HC ngày 5 tháng 7 năm 1968 của Đô trưởng Sài gòn (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa – Hồ sơ số 2696, Hồ sơ về việc chia các quận tại Đô thành Sài Gòn ra nhiều phường năm 1959-1961 – Trung tâm lưu trữ Quốc gia II)
Trang 29Khi Phường trưởng tạm thời không đảm nhiệm chức vụ của mình thì Đô trưởng ra Nghị định giao cho một Phường trưởng ở gần đó hay một viên chức để
xử lý các công việc hành chính thường ngày
Đến năm 1971, nhiệm vụ quyền hạn của Phường trưởng được thể hiện một cách cụ thể tại Điều 4 của Nghị định 810- BNV/HCĐP/26/ĐT/NĐ ngày 9 tháng 11 năm 1971 Phường trưởng là người đại diện chính quyền phường và có trách nhiệm:
- Thi hành luật lệ, chủ trương, đường lối của Chính phủ tại phường theo chỉ thị và dưới sự kiểm soát của Quận trưởng;
- Giữ gìn an ninh trật tự trong phường;
- Điều khiển và kiểm soát công việc của Văn phòng phường;
- Phối hợp hoạt động của công chức, cán bộ các ngành đặt dưới quyền sử dụng của Phường hay công tác tại phường;
- Báo cáo Quận trưởng các công việc xảy ra trong phường;
- Cấp phát Giấy hạnh kiểm, giấy cư ngụ và các giấy tờ khác do luật lệ riêng quy định;
- Cấp phát, kiểm nhận và lưu trữ tờ khai gia đình;
- Kiểm tra dân số;
- Hành thu một số thuế, tạp thuế và lệ phí do Đô thành ủy nhiệm;
- Tổ chức và kiểm soát đoàn ngũ nhân dân tự vệ;
- Phụ trách các vấn đề liên quan đến phát triển cộng đồng;
Trang 30Năm 1972, Phường trưởng được bổ sung thêm quyền: Thị thực các bản sao và chữ ký của cá nhân (Điều 1, Sắc lệnh 057-SL/NV ngày 17 tháng 4 năm 1972 của Thủ tướng Chính phủ) 17
Ngoài ra, một số nội dung về nhiệm vụ quyền hạn của Phường trưởng được quy định tại Nghị định số 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959 vẫn tiếp tục được áp dụng
Tuy nhiên, so với nhiệm vụ, quyền hạn được quy định cho các Phường trưởng tại thị xã thì nhiệm vụ, quyền hạn của Phường trưởng tại thành phố Sài gòn có một
1 năm 1973 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa hủy bỏ Điều 28, Sắc lệnh số 74-TTP ngày 23 tháng 3 năm 1959)19
Như vậy, Phường trưởng là đại diện cho chính quyền phường, có trách nhiệm thi hành các chủ trương, chính sách, luật lệ, điều khiển và kiểm soát công việc Văn
17 Sắc lệnh 057-SL/NV ngày 17 tháng 4 năm 1972 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Phông Phủ Thủ tướng - Hồ sơ số 10539 , Hồ sơ nguyên tắc về tổ chức nhân sự xã, ấp, phường, khóm 1967-1975- Trung tâm lưu trữ Quốc gia II )
18 Nghị định 553-BNV/HCĐP/NĐ ngày 22 tháng 8 năm 1972 của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa về tổ chức hành chánh phường và khóm tại Thị xã (Phông Phủ Thủ tướng – Hồ sơ số 8310 – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)
19 Xem Sắc lệnh số 005-SL/NV ngày 8 tháng 1 năm 1973 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Phông Phủ Thủ tướng – Hồ sơ số 8632, Hồ sơ về việc bãi bỏ chức vụ hộ lại của Quận trưởng Đô thành, thị xã giao cho Phường trưởng tại Đô thành, Trưởng ty hành chánh các Tòa thị chính năm 1972-1973 – Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)
Trang 31phòng phường Ngược lại, phụ tá Phường trưởng không có quyền hạn độc lập mà chỉ
có trách nhiệm thực thi các nhiệm vụ do Phường trưởng giao
Việc phân công nhiệm vụ giữa Phường trưởng tại Đô thành và Phụ tá Phường trưởng được thực hiện theo Điều 2, Nghị định 281-BNV/HCĐP/NĐ ngày 24 tháng 5 năm 1973 Theo đó Phường trưởng tại Đô thành Sài Gòn có thể ủy quyền cho Phụ tá Phường trưởng duyệt ký hoặc giải quyết các công việc sau đây:
- Thị thực các chứng thư, ngoại trừ những chứng thư về chuyển nhượng động sản và bất động sản;
- Đôn đốc việc thu thuế, tạp thuế, lệ phí;
- Cấp giấy phép hội họp quan, hôn, tang, tế;
- Duyệt khán tờ khai gia đình;
Trang 32- Cấp giấy thay đổi nơi cư trú;
- Duyệt ký trên hồ sơ xin cấp thẻ căn cước bọc nhựa;
- Lập tờ khai lược giải cá nhân;
- Hòa giải các vụ tranh chấp không quan trọng
Với vai trò ngày càng quan trọng của phường trong việc giải quyết nhu cầu của dân cư tại phường, nhiệm vụ của Phường trưởng ngày càng nhiều thêm và Phường
trong giai đoạn này thực sự trở thành "cánh tay nối dài" của chính quyền thành phố
về mặt hành chính
*Nhiệm vụ, quyền hạn của Khóm:
Khóm do Khóm trưởng đứng đầu và có một hoặc hai phụ tá Khóm trưởng Khóm trưởng có nhiệm vụ được quy định tại Điều 9 Nghị định 810 - BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ):
- Thi hành luật lệ, chủ trương, đường lối của Chính phủ và chỉ thị của các cấp hành chính địa phương;
- Báo cáo tình hình hoạt động tổng quát của Khóm lên Phường;
- Tổ chức về chỉ huy nhân dân tự vệ Khóm;
- Trợ giúp phường trong việc thu các sắc thuế, lệ phí … và trong việc thi hành các công cụ hành chính thông thường;
Mỗi khóm có khoảng 30 liên gia, do Liên gia trưởng đứng đầu
Liên gia trưởng đảm nhiệm một số công việc:
- Thi hành chỉ thị của phường, khóm;
- Xem xét tạm trú tối đa 15 ngày;
Trang 33- Đề đạt kiến nghị của dân chúng lên phường, khóm;
- Giúp Khóm trưởng các công việc có liên quan tại địa phương Như vậy, có thể thấy Khóm không phải là một cấp hành chính mà chỉ là
“cánh tay nối dài” của phường, giúp cho chính quyền phường hiểu dân hơn và
cũng góp phần tạo điều kiện để người dân trình bày ý kiến Khóm trưởng và Liên gia trưởng là những thành phần giúp cho Phường trưởng quản lý về hành chính, giữ gìn an ninh, trật tự chặt chẽ dân cư trên địa bàn
+ Các mối quan hệ của chính quyền Phường, Khóm
* Mối quan hệ giữa phường và quận
Tại Điều 3, Nghị định 504-BNV/HC/NĐ ngày 22 tháng 4 năm 1959, quy định Phường trưởng do Đô trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Quận trưởng Đến Nghị định 810-BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ, thì quy định rõ hơn, về Phường trưởng và Phụ tá Phường trưởng do Đô trưởng bổ nhiệm và bãi nhiệm trên cơ sở đề nghị của Quận trưởng
Phường trưởng trực thuộc Quận trưởng và chịu sự kiểm soát của Quận trưởng Phường trưởng chỉ có thể liên lạc với các cơ quan khác thông qua hệ thống cơ quan của Quận trưởng 20
Phường phối hợp chặt chẽ với Quận để giải quyết các vấn đề liên quan đến địa bàn như thuế vụ, kinh tế, vệ sinh môi trường, các vấn đề tái thiết và phát triển
*Mối quan hệ giữa Phường trưởng và Cảnh sát
Phường trưởng và Cảnh sát (Trưởng Cuộc cảnh sát quốc gia) đều có nhiệm vụ giữ gìn an ninh trât tự tại phường21 Ngày 23 tháng 6 năm 1973 Thủ tướng Chính
20 Nghị định 504-BNV/HC/NĐ và Nghị định 810-BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ đều quy định vấn đề này
21 Sắc lệnh số 355-TT/SL ngày 1 tháng 6 năm 1971 ấn định nhiệm vụ và tổ chức lực lượng cảnh sát quốc gia là duy trì an ninh trật tự công cộng Nghị định 810-BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ quy định nhiệm vụ của Phường trưởng là
Trang 34phủ Việt Nam Cộng hòa có văn bản số 064-TT/ThT/PC1 ấn định mối tương quan giữa Phường trưởng và Trưởng Cuộc Cảnh sát Quốc gia Cụ thể:
- Phường trưởng có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo tình hình an ninh, trật tự chung phường theo hệ thống hành chính đô, thị;
- Trưởng Cuộc cảnh sát quốc gia có nhiệm vụ thi hành luật pháp; duy trì an ninh trật tự công cộng; ngăn ngừa, khám phá, điều tra tội phạm, câu lưu kẻ phạm pháp; thu thập mọi tin tức xét có phương hại đến an ninh quốc gia
- Phường trưởng thông báo cho Trưởng Cuộc cảnh sát thi hành nhiệm vụ của cảnh sát Trưởng Cuộc cảnh sát cũng phải thông báo cho Phường trưởng những tin tức quan trọng liên quan đến an ninh trật tự trong phường Trong trường hợp cần phối hợp, Phường trưởng và Trưởng Cuộc cảnh sát sẽ cùng hội ý, đặt kế hoạch, phân chia công tác và giám sát việc thi hành
Đồng thời cử một Phụ tá Trưởng Cuộc Cảnh sát quốc gia đến làm việc tại Văn phòng phường với tư cách là Phụ tá an ninh phường Phụ tá an ninh phường có nhiệm vụ:
- Tạo sự liên lạc thường trực giữa Phường trưởng và Trưởng Cuộc cảnh sát quốc gia, kết hợp chặt chẽ các hoạt động về an ninh trật tự tại phường
- Phụ giúp ý kiến cho Phường trưởng, Phó Phường trưởng về các vấn đề thuộc nhân dân tự vệ, phối hợp hoạt động của nhân dân tự vệ qua trưởng khóm hoặc ủy viên an ninh khóm
- Xây dựng và kiện toàn mạng lưới tình báo tại phường
* Mối quan hệ giữa phường và khóm
giữ gìn an ninh trật tự tại phường Tuy nhiên do chưa có sự phân định rõ ràng trách nhiệm của Phường trưởng và Trưởng cuộc cảnh sát
Trang 35Khóm là “cánh tay nối dài” của Phường, thực hiện các nhiệm vụ do Phường
giao như giúp phường thu các loại thuế, lệ phí, báo cáo tình hình của Khóm lên
Phường như việc nhập cư của dân, việc xây dựng nhà cửa, …
Khóm trưởng và các phụ tá khóm trưởng do Quận trưởng bổ nhiệm và bãi
chức trên cơ sở đề nghị của Phường trưởng22 Do vậy, Khóm trưởng và phụ tá
Khóm trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Phường trưởng
Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa của nền Đệ nhị cộng hòa được thông qua
ngày 18 tháng 3 năm 1967 Theo đó, Đô thành, tỉnh và thị xã và xã đều là những
tập thể địa phương phân quyền, có tư cách pháp nhân, ngân sách riêng và tài sản
riêng Tổ chức nền hành chính địa phương được đặt trên nguyên tắc “địa phương
phân quyền” Tuy nhiên, nguyên tắc “địa phương phân quyền” rộng rãi chỉ được
áp dụng ở xã, thôn còn ở Đô thành, tỉnh và thị xã thì nguyên tắc “địa phương
phân quyền” được áp dụng có điều chế
1.3 So sánh với tổ chức chính quyền xã
Xã vốn là đơn vị hành chính truyền thống trong nền hành chính địa phương Xã
có tư cách pháp nhân, ngân sách và công sản riêng
Tổ chức chính quyền xã ở Miền Nam nói chung trước ngày giải phóng
30/4/1975 có nhiều thay đổi, được quy định bởi nhiều văn bản pháp lý khác nhau,
như:
- Dụ 57-a ngày 24 tháng 10 năm 1956 về tổ chức nền hành chính quốc gia;
- Sắc lệnh số 198 và 199-SL/ĐUNC ngày 24 tháng 12 năm 1966 cải tổ nền
hành chính xã, ấp; Sắc lệnh số 045-SL/NV ngày 01 tháng 4 năm 1969; Sắc lệnh số
120-SL/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972; Sắc lệnh số 010-SL/NV ngày 20 tháng 01
năm 1973; Sắc lệnh số 094-SL/Th.T/PC1 ngày 30 tháng 4 năm 1974; Sắc lệnh số
158-SL/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 v.v…
22 Điều 8, Nghị định 810-BNV/HCĐP /26/ĐT/NĐ
Trang 36- Sự vụ văn thư số 063-TT/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 về cải tổ cơ cấu chính quyền xã
Phường trưởng do bổ nhiệm nhưng Xã trưởng lại do Hội đồng xã bầu lên và không kiêm nhiệm với các chức vụ khác trong Hội đồng xã; Giúp việc cho Xã trưởng có 2 Phó Xã trưởng ( Phó Xã trưởng hành chính và Phó Xã trưởng an ninh)
do Tỉnh trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Xã trưởng Ngoài ra xã còn có 6 ủy viên
ủy ban hành chính xã gồm: 1 Ủy viên quân sự; 2 Ủy viên canh nông; 3 Ủy viên Hộ
tịch; 4 Ủy viên Kinh – Tài (những xã có dưới 5.000 dân thì Phó Xả trưởng hành chính kiêm nhiệm);5 Ủy viên thuế vụ; 6 Ủy viên xã hội và văn hóa
- Văn phòng phường chỉ gồm từ 1 đến 2 thư ký, tùy phái "Cán bộ thanh niên
và thể thao” và “Cảnh sát viên” bảo vệ Văn phòng thì nhân sự tại Văn phòng xã
gồm: 1 chánh thư ký; 1 thư ký (nếu xã có dưới 5.000 dân thì không có chức danh này); 1 cán bộ thông tin, chiêu hồi; 2 cán bộ kỹ thuật có tính chất đa nhiệm (nếu xã
có dưới 5.000 dân thì chỉ có 1 cán bộ kỹ thuật)23
Trang 37
Như vậy, nếu như bộ máy hành chính phường được tổ chức gọn nhẹ, với cơ cấu chỉ gồm Phường trưởng và trên dưới 10 nhân viên thì bộ máy hành chính ở xã được
tổ chức một cách quy mô để quản lý toàn bộ đời sống xã hội trong xã, bao quát toàn
bộ các lĩnh vực sinh hoạt tại địa phương
Cơ cấu tổ chức hành chính của xã đã dần đi đến nguyên tắc nông thôn tự trị,
tự tức, tự quản, tự phòng mà điều này thì không có ở chính quyền phường 24
+ Nhiệm vụ, quyền hạn
Nếu như Phường chỉ được giao các nhiệm vụ chủ yếu trong các lĩnh vực hành chính, hộ tịch, trật tự trị an, thu thuế tạp thu thì ở xã, quyền hạn và nhiệm vụ của xã rộng hơn rất nhiều, bao quát mọi lĩnh vực, đời sống xã hội dân cư tại xã
Xã trưởng được quyền điều động tất cả các cán bộ và lực lượng vũ trang địa phương, trong khi đó, tại thành phố Sài Gòn, Phường trưởng chỉ có nhiệm vụ theo dõi tình hình an ninh, trật tự chung theo hệ thống hành chính đô thị mặc dù tại địa phương có lực lượng cảnh sát nhưng thuộc quyền quản lý, điều động của Tổng nha cảnh sát Quốc gia
Xã được giao cho quyền tự trị và dân chủ khá cao (Có quyền chi Ngân sách
xã dưới 50.000 đồng (tiền chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ) với sự chấp thuận của Hội đồng xã; chứng thực các chứng thư liên quan đến bất động sản25; ký kết các khế ước; đại diện xã trước pháp luật 26 v.v…)
- Phó Xã trưởng hành chính phụ trách công tác hành chính của xã theo chỉ thị của Xã trưởng, tạm thời thay thế xã trưởng vắng mặt và có thể được thường trực ủy quyền một số vấn đề ngoại trừ việc chi Ngân sách xã;
26 Sắc lệnh số 158-SL/Th.T/TUCV ngày 10 tháng 7 năm 1974 của Thủ tướng Việt Nam cộng hòa quy định về cơ quan chính quyền xã (Phông Phủ Thủ Tướng - Hồ sơ số 10524 - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)
Trang 38- Phó xã trưởng an ninh phụ trách về cảnh sát, quân dịch và quân sự thay mặt
xã trưởng khi vắng mặt để giải quyết vấn đề quân sự, có tư cách nhân viên tư pháp cảnh lại;
1.4 Nhận xét về pháp luật tổ chức chính quyền phường tại thành phố Sài Gòn trước ngày giải phóng 30/4/1975
Nghiên cứu pháp luật về tổ chức chính quyền Phường ở Đô thành Sài Gòn từ
1955 đến 1975, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Một là, theo quy định của pháp luật chính quyền Sài Gòn (Việt Nam Cộng hòa)
trước ngày giải phóng 30/4/1975, ở Đô thành Sài Gòn, chính quyền địa phương được
tổ chức theo 4 cấp là thành phố, quận, phường, khóm Nhưng chỉ có cấp thành phố là
được xác định là “tập thể địa phương phân quyền”, có cơ quan dân cử là Hội đồng
Đô thành và cơ quan chấp hành là Tòa hành chính đô thành do Đô trưởng đứng đầu Quận, phường, khóm chỉ là địa hạt hành chính nên chỉ có cơ quan hành chính nằm trong hệ thống hành chính Đô thành, không có tổ chức cơ quan dân cử, trong khi ở tỉnh, xã là một cấp chính quyền được tổ chức theo nguyên tắc "địa phương phân quyền", có cơ quan dân cử là "Hội đồng xã" do cử tri trong xã bầu và cơ quan chấp hành là "Ủy ban hành chính xã" do Xã trưởng đứng đầu Xã trưởng do Hội đồng xã bầu, chứ không phải do cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm như Phường trưởng Phường chỉ là địa hạt hành chính trong chỉnh thể thống nhất của thành phố, không có tính độc lập và ở định về dân cư như xã Phường không có cơ quan dân cử
mà chỉ là cơ quan hành chính gọn nhẹ, phường trưởng do Đô trưởng bổ nhiệm theo
đề nghị của Quận trưởng để thực thi nhiệm vụ của chính quyền thành phố, chính quyền quận
Hai là, các vấn đề đều tập trung giải quyết ở cấp Đô thành, cấp phường chỉ là
“cánh tay nối dài” của Đô trưởng, Quận trưởng
Nhiệm vụ của Phường trưởng chỉ ở những phạm vi nhỏ, hẹp, không mang tính chất quan trọng Những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của phường là hành chính, hộ tịch, trị an, thu thuế tạp thu Thậm chí các Phường trưởng ở Thị xã được cấp các loại
Trang 39giấy tờ hộ tịch nhưng các Phường trưởng ở Đô thành vẫn không được giao nhiệm vụ này mà thuộc quyền của Quận trưởng Chỉ đến đầu năm 1973, nhiệm vụ hộ tịch mới được giao cho Phường trưởng
Cách thức tổ chức này phù hợp trong điều kiện khi quyết định những vấn đề tại
Đô thành không qua nhiều cấp trung gian Vấn đề này cũng cần được nghiên cứu về đổi mới chính quyền đia phương ở nước ta hiện nay Bởi lẽ cơ quan dân cử ở cấp Đô thành xét về bản chất là cơ quan có quyền bàn và quyết định các vấn đề quan trọng tại Đô thành
Ba là, Bộ máy hành chính phường nhỏ, gọn Trong những năm đầu mới thành
lập chỉ khoảng 2-3 người và đến năm 1967 có tăng lên nhưng cũng chỉ khoảng 10 nhân viên
Bốn là, Phường không có ngân sách riêng Kinh phí hoạt động do Ngân sách
Đô thành chi nhưng rất hạn chế Năm 1969, kinh phí cho 11 quận và các phường chỉ tổng cộng là 73.680.000 đồng (gồm tất cả các chi phí lương, vật liệu, dịch vụ điều hành và đầu tư trực tiếp…), trong khi kinh phí năm 1969 dành cho Đô thành là 1.460.000.000 đồng27
Năm là, Nếu như Quận trưởng là công chức, được hưởng lương và phụ cấp từ
Ngân sách của Đô thành thì Phường trưởng, Phụ tá Phường trưởng, Khóm trưởng, Phụ tá Khóm trưởng không phải là công chức và cũng không được hưởng quy chế công chức mà chỉ được hưởng thù lao khoán hàng tháng cùng các phí Văn phòng là 10.000 đồng
Phụ tá Phường trưởng không có quyền hạn độc lập mà chỉ có trách nhiệm thực thi các nhiệm vụ do Phường trưởng giao
Sáu là, dưới nền đệ nhị Cộng hòa, đứng đầu các cơ quan hành chính đều là giới
quân nhân Do vậy, có thể khẳng định những chính sách được áp dụng mang tính
27 Trần Văn Nhã (1968-1971) Luận văn tiến sĩ “Tổ chức hành chánh địa phương Việt Nam ”, Học viện Quốc gia
hành chánh, tr.102
Trang 40quân sự Theo các tài liệu tham khảo cho thấy, trong giai đoạn này, tất cả những người đứng đầu chính quyền địa phương đều là quân nhân Đứng đầu Đô thành Sài Gòn là Đại tá Đỗ Kiến Nhiễu nhậm chức Đô trưởng ngày 8 tháng 6 năm 1968 sau này được phong Chuẩn tướng, các Quận trưởng đều là Trung tá - sĩ quan Đặc khu trưởng tại Đô thành Sài Gòn 28 Như vậy, tổ chức chính quyền mang tính chất hành
chính – quân sự Chính quyền đã dựa vào hệ thống chỉ huy của quân đội để thực
hiện mục tiêu giải quyết chiến tranh chứ chưa tập trung vào mục tiêu quản lý, phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Bên cạnh đó, nếu người đứng đầu phường là một quân nhân thì sẽ có tác phong một cách máy móc và độc đoán, trong khi nhiệm vụ của Phường trưởng cần sự tế nhị, mềm dẻo
Ngoài ra, từ năm 1972, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa đã ban hành Sắc luật số 004-SL ngày 15 tháng 7 năm 1972, Đô thành Sài Gòn và các vùng tạm chiếm khác còn bị áp dụng chế độ thiết quân luật
Bảy là, tùy theo tình hình từng thời điểm mà có sự sáp nhập hay chia tách,
thành lập mới các phường cho phù hợp trong công tác quản lý tại địa phương
Tám là, Cán bộ phường như “cán bộ thanh niên và thể thao” phường mặc dù ở
phường nhưng lại không trực thuộc Phường trưởng quản lý mà lại trực thuộc Tòa Đô chánh nên Phường trưởng không thể điều động hay phân công nhiệm vụ được mà chỉ phối hợp, do vậy hoạt động không hiệu quả Bên cạnh đó, lực lượng cảnh sát tại địa phương nhưng thuộc quyền quản lý, điều động của Tổng nha cảnh sát Quốc gia Phường trưởng muốn sử dụng lực lượng này cần phải có sự cho phép của cấp trên Như vậy, có thể nói, cách tổ chức và quản lý nhân viên của Phường mang tính chất nửa vời
Trong khi ở Xã, Xã trưởng có quyền điều động các lực lượng quân sự, điều động tất cả các cán bộ các ngành trong phạm vi hoạt động xã Phạm vi quyền hạn của Xã trưởng không chỉ bó hẹp trong các hoạt động hành chính mà toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội trong xã
28 Xem thêm Nghị định 220/NĐ/NV ngày 23 tháng 5 năm 1972 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Phông Phủ Thủ Tướng - Hồ sơ số 10596 - Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II)