So với quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của một số quốc gia như Nga, Pháp, Nhật, các Bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế như Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại q
Trang 1HUỲNH THỊ XUÂN OANH
CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả của quá trình tổng hợp và nghiên cứu của bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Bích Ngọc Các thông tin, bản án, quyết định được trích dẫn trong luận văn là trung thực, chính xác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Huỳnh Thị Xuân Oanh
Trang 3BLDS Bộ luật Dân sự
hóa quốc tế hay còn gọi là Công ước viên 1980
đồng Châu Âu)
hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT)
Trang 4CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG VÀ CHẤP
NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ 10
1.1 Khái niệm về hợp đồng dân sự và giao kết hợp đồng dân sự 10
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự 10
1.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự 15
1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 16
1.2.1 Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 16
1.2.2 Bản chất pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 24
1.3 Khái niệm và điều kiện có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 28
1.3.1 Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 28
1.3.2 Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 29
1.3.3 Nội dung trả chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 32
1.3.4 Hình thức trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự 35
1.4 Hiệu lực của trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 38
1.4.1 Thời điểm có hiệu lực của trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 38
1.4.2 Chấm dứt hiệu lực của trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự 40
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 42
2 1 Các điều kiện pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự 42
2.1.1 Các hình thức chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự 42
2.1.2 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự 56
2.2 Hiệu lực của chấp nhận giao kết hợp đồng 63
Trang 52.3 Rút lại, chấm dứt hiệu lực của chấp nhận giao kết hợp đồng 67
2.3.1 Rút lại hiệu lực của chấp nhận giao kết 67
2.3.2 Chấm dứt hiệu lực chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự 69
Kết luận chương 2 71
KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Hợp đồng là phương tiện pháp lý phổ biến để chủ thể thỏa mãn lợi ích hợp pháp của mình Nhằm đạt được mong muốn khi tham gia hợp đồng, các chủ thể phải tham gia giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng Giao kết hợp đồng là cơ
sở làm phát sinh được quyền và nghĩa vụ của các bên Bộ luật Dân sự (BLDS) Việt Nam năm 2005 quy định trình tự giao kết hợp đồng tại Điều 390 đến Điều 404 Tuy nhiên trình tự giao kết hợp đồng nhất là giai đoạn chấp nhận giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự còn nhiều bất cập, vướng mắt gây khó khăn cho công tác giải quyết án của Tòa án với nhiều cách hiểu không thống nhất, không mang tính khả thi làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự Cụ thể có thể lấy ví dụ như pháp luật chưa quy định hình thức của việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết, thời hạn đề chấp nhận đề nghị giao kết, hậu quả của việc chấp nhận đề nghị giao kết nhưng không thực hiện giao kết đó Hiện nay, các vụ án liên quan đến tranh chấp hợp đồng dân sự chiếm số lượng lớn trong tổng số lượng án dân sự tại các Tòa án địa phương Tại Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa theo thống
kê tính từ ngày 01/10/2013 đên 30/9/2014 đã giải quyết 111 vụ án tranh chấp hợp đồng trên 113 vụ tranh chấp dân sự, trong đó liên quan đến chấp nhận giao kết hợp đồng chiếm số lượng ít nhưng khi giải quyết gặp khó khăn đặc biệt các tranh chấp
hợp đồng đặt cọc mà tác giả đề cập trong chương 2
So với quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của một số quốc gia như Nga, Pháp, Nhật, các Bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế như Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế (gọi tắt là PICC), Bộ nguyên tắc pháp luật hợp đồng Châu Âu (PECL), Công ước viên của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn gọi Công ước viên 1980 (CISG) thì quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam còn nhiều điểm chưa tương đồng Sự khác biệt này không có nghĩa pháp luật Vệt Nam phải có những thay đổi theo hướng khắc phục những điểm khác biệt Tuy nhiên, các mối quan hệ dân sự trong các xã hội khác nhau lại có những nền tảng cơ bản giống nhau Mặt khác, pháp luật dân sự Việt Nam nói chung
và BLDS nói riêng đang trong quá trình rà soát, sửa đổi nên việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước để chắt lọc những kinh nghiệm phù hợp với bối cảnh của Việt
Trang 7Nam là việc làm cần thiết Trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, giữa các nước
mở rộng thương mại lầ rất lớn để chúng ta có thể bắt kịp với những thay đổi trên thế giới thì việc tiếp thu những quy định về giao kết hợp đồng - chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của pháp luật các quốc gia áp dụng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
ở Việt Nam là vấn đề cần thiết đồng thời làm cho pháp luật dân sự Việt Nam hoàn thiện hơn, hạn chế xung đột pháp luật Trên cơ sở nghiên cứu sâu hơn các chế định liên quan đến đề nghị giao kết hợp đồng, tác giả mong muốn với sự đóng góp nhỏ của mình đưa ra những kiến nghị trong việc sửa đổi Bộ luật dân sự trong thời gian tới
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Hiện nay việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng nói chung và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trước hết, đó là các bộ giáo trình dùng cho sinh viên các cơ sở đào tạo luật, sách chuyên khảo, các bài tham luận trong những hội thảo khoa học, đặc biệt là các bài viết được công bố trên các Tạp chí như Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Tạp chí Tòa án nhân dân…cụ thể như sau:
Giáo trình “Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của Trường đại học luật TP.Hồ Chí Minh, Nxb Hồng Đức, 2014 Tại mục 4.2.2 chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã phân tích các Điều từ 396 – 400 từ khái niệm và điều kiện pháp lý của việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng là cá nhân chết hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự trước thời điểm hợp đồng được giao kết và các điều kiện pháp lý của chấp nhận giao kết hợp đồng như chủ thể giao kết hợp đồng phải có năng lực của một chủ thể, trả lời phải chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị, thời hạn chấp nhận trả lời, sự im lặng trong giao kết hợp đồng, các hình thức trả lời Khi bình luận những quy định trên, các tác giả chưa có sự phân tích những hạn chế của pháp luật Việt Nam so với pháp luật các quốc gia khác, Công ước viên 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc thương mại Châu
Âu (PECL), Bộ nguyên tắc của Unidroit (PICC) Tuy nhiên, khi bàn về hình thức của trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, Giáo trình đã đưa ra được cách trả lời bằng hành vi, thói quen, sự im lặng trong thời hạn trả lời mà luật chưa quy định nhưng lại
Trang 8được chấp nhận trong giao dịch trên thực tế Từ cơ sở này, tác giả sẽ phát triển thêm việc phân tích hành vi trong giao dịch là gì, sự im lặng có được xem là đồng ý giao kết không
Giáo trình “Luật dân sự Việt Nam” của Trường đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 2008 Trong đó chế định về chấp nhận giao kết hợp đồng, Giáo trình chỉ nêu nội dung được BLDS quy định từ Điều 396, 397 mà không đi sâu phân tích các điều kiện của chấp nhận giao kết hợp đồng cũng không tìm ra được những
ưu điểm hoặc hạn chế của các Điều luật trên khi áp dụng chúng vào thực tế Tuy nhiên, giáo trình đã sắp xếp trình tự logic về giao kết hợp đồng giúp người đọc hiểu được trình tự giao kết hợp đồng gồm 02 bước là đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, đây là 02 nội dung cơ bản khi phân tích chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự
Giáo trình “Luật dân sự” của Học viện tư pháp, Nxb Công an nhân dân,
2006, trang 361 – 366 Nội dung của giáo trình chỉ đơn giản liệt kê những quy định của Bộ luật dân sự về giao kết hợp đồng mà không có sự phân tích, đánh giá những bất cập, không so sánh với Luật pháp của một số nước trên thế giới Tác giả nhận thấy tính ưu việt của giáo trình đã đưa ra những ví dụ cụ thể mang tính thực tế
để người đọc biết được về đề nghị thế n ào được xem là một đề nghị giao kết hợp đồng
“Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận án” của PGS.TS Đỗ Văn Đại, Nxb Chính trị quốc gia, 2013, 2014 Trên cơ sở tuyển chọn các bản án của các Tòa án địa phương cũng như các quyết định giám đốc thẩm của Tòa án Tối cao (thực tiễn áp dụng pháp luật) sau đó phân tích những điều luật có liên quan và so sánh đối chiếu với pháp luật nước ngoài Tác giả đã dành một phần cho việc nghiên cứu chuyên đề giao kết hợp đồng trong đó nội dung “Giá trị của sự im lặng trong thực tiễn xét xử Việt Nam” có tác dụng tham khảo khi làm đề tài này Tác giả Đỗ Văn Đại đã đưa ra quan điểm: Thứ nhất, trong thực tiễn pháp lý bản thân sự im lặng không có giá trị như một chấp nhận hợp đồng, tuy nhiên sự im lặng được xem như chấp nhận giao kết hợp đồng nếu hội tụ những yếu tố khác Thứ hai, trường hợp đồng sở hữu hay đồng thừa kế đem tài sản đi giao dịch và người còn lại biết và giữ
im lặng thi vẫn được xen là chấp nhận giao kết hợp đồng Đồng ý với quan điểm này, tác giả Đỗ Văn Đại đã minh chứng bằng các Quyết định giám đốc thẩm số 27/2003/HĐTP – DS ngày 26/8/2003, 38/GĐT –DS ngày 29/3/2004 của Tòa án
Trang 9nhân dân tối cao Thứ ba, BLDS cần bổ sung thêm: “Bản thân sự im lặng không được coi là chấp nhận trừ khi hoàn cảnh thực tế cho phép suy luận im lặng là chấp nhận” Có thể khẳng định những quan điểm mà tác giả Đỗ Văn Đại đưa ra có giá trị lớn trong việc đóng góp ý kiến sửa đổi BLDS hiện hành Vì vậy, trong luận văn, tác giả trên cơ sở kế thừa những quan điểm này, tác giả chọn lọc một một số ý kiến của các tác giả khác có cùng quan điểm và bình chọn một số bản án địa phương có liên quan đến nội dung: “Sự im lặng trong giao kết hợp đồng” để xác định thêm đó là một trong những hình thức của chấp nhận giao kết hợp đồng’
“Bình luận Bộ luật dân sự năm 2005” (phần thứ ba; nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự), trang 221 – 400, Nxb Chính trị quốc gia của chủ biên PGS.TS Hoàng Thế Liên Đây là một công trình nghiên cứu khoa học rất có giá trị trong thực tiễn
áp dụng pháp luật dân sự của các cơ quan tiến hình tố tụng Trong công trình này, tác giả có đề cập đến những quy định liên quan đến chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và so sánh với Bộ luật dân sự năm 1995 Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ phân tích những điều luật mà chưa đánh giá được tính ưu điểm cũng như khiếm khuyết của Điều 396 BLDS để tìm ra được những vướng mắc khi áp dụng Điều luật này trong thực tiễn Tuy nhiên, tài liện này có ý nghĩa trong việc bổ sung phần lý luận tại chương 1, mục 1.2 Khái niệm và bản chất của đề nghị giao kết hợp đồng đặc biệt đưa ra ý kiến về “Các trường hợp không được coi là đề nghị giao kết hợp đồng
Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh với “Chế định hợp đồng trong bộ luật dân sự Việt Nam”, Nxb Tư pháp, 2007 Khi bình luận về chế định chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tác giả đã dùng phương pháp so sánh bộ luật dân sự Việt Nam năm
2005 với các quy định của pháp luật nước ngoài như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Công ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế… Bên cạnh đó cũng nêu lên quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đại “Bàn về sự im lặng của sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng” và các phán quyết của Trọng tài thương mại Điểm thể hiện rõ trong công trình nghiên cứu này là tập trung vào mảng hợp đồng thương mại hơn các dạng hợp đồng dân sự thông thường mà đề tài luận văn cần tham khảo
Bên cạnh đó, còn có tác giả Nguyễn Xuâng Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng với “Luật dân sự Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia TP HCM, 2007 Khi bàn về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, các tác giả chưa chỉ ra các hình thức của việc đề nghị mặc dù có bàn đến “sự im lặng” trong giao kết hợp đồng Các tác
Trang 10giả trên đề cập đến các điều kiện của chấp nhận đề nghị giao kết đặc biệt ví dụ việc trả tiền tại quầy tín tiền trong siêu thị, trả tiền gửi xe khi dắt xe vào bãi coi như là một hành động chấp nhận giao kết hợp đồng Trong luận văn, tác giả cũng đề cập chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng bằng một hành vi và đồng quan điểm với nội dung giáo trình này
Tác giả Lê Minh Hùng trong Báo cáo tổng kết về đề tài khoa học và công nghệ cấp trường năm 2014: “Thời điểm giao kết hợp đồng trong pháp luật của một số nước trên thế giới, các Bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam”, tháng 11/ 2014 Mặc dù vấn đề chính của tác giả Lê Minh Hùng tập trung vào
“Thời điểm giao kết hợp đồng” nhưng vì mối liên hệ giữa ‘chấp nhận giao kết” với
“thời điểm giao kết” nên tác giả của Báo cáo đề tài này cũng đã phân tích thế nào là chấp nhận giao kết hợp đồng, bên cạnh việc so sánh luật pháp của Pháp, Đức, Nga, các Bộ nguyên tắc PICC, PECL, Công ước viên 1980 - CISG nhằm đưa ra những vướng mắc khi áp dụng BLDS năm 2005 Với những đề suất sửa đổi các Điều 396,
397 BLDS 2005, tác giả thiết cần đưa ra ý kiến chấp nhận hay không chấp nhận những đề suất này
Ngoài ra còn có một số bài viết liên quan đến đề tài: Ngày 04/10/2013 tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (TP HCM) tổ chức Hội thảo quốc tế
khoa học với chuyên đề “Sửa đổi Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và kinh
nghiệm nước ngoài” Tại buổi hội thảo đã có nhiều nhà khoa học đề cập đến các
quy định của pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cụ thể như tác giả Lê Minh Hùng với tham luận “Nghiên cứu tổng quát về những bất cập và định hướng hoàn thiện các quy định chung về hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2005” hay bài tham luận của tác giả Trần Lê Đăng Phương về:
“Một số vấn đề về giao kết hợp đồng trong pháp luật của cộng hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam” Những bài tham luận trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc nghiên cứu luận văn thạc sỹ với đề tài “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” Các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến hợp đồng như cấu trúc chung về phần chung của hợp đồng trong Bộ luật dân sự, khái niệm về hợp đồng, phân loại về hợp đồng, giao kết hợp đồng (đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết hợp đồng), thời điểm giao kết hợp đồng và so sánh với các bộ nguyên tắc quốc tế về hợp đồng (PECL, PICC), Bộ luật dân sự Nga và đã đưa ra những bất cập khi áp dụng các điều khoản liên quan trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 và đề xuất
Trang 11định hướng hoàn thiện Tuy nhiên, các tham luận trên nêu trên nghiên cứu trên bình diện chung với nhiều khía cạnh khác nhau của hợp đồng dân sự mà chưa đi sâu phân tích về mặt lý luận của các Điều, khoản liên quan đến “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”
Tác giả Trần Thị Thu Phương với “Đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”, 2012, đăng trên Tạp chí Luật học Đại học luật Hà Nội, số 2 (141), trang 44 – 54 Trong xuyên suốt bài viết tác giả chỉ đề cập đến một giai đoạn của dề nghị giao kết hợp đồng đó là quy trình thay ðổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, hủy bỏ, chấm dứt, sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng và đưa ra những phương hướng giải quyết cho những thiếu xót khi áp dụng những quy định này mà không đề cập đến vấn đề “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” liên quan đến đề tài của luận văn
Tác giả Lê Thị Diễm Phương – “Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng – nhìn từ góc độ so sánh”, được công bố trên Tạp chí khoa học pháp lý Đại học luật TP Hồ Chí Minh, 2013, số đặc san 02 trang 68, 74 Với bài viết này cũng góp phần cho việc nghiên cứu nội dung của luận văn Tuy nhiên, ở đây tác giả tập trung so sánh đối chiếu các Điều luật liên quan đến đề nghị và chấp nhận giao kết hợp đồng từ Điều 396 đến Điều 400 BLDS năm 2005 với Công ước Vienna về hợp đồng mua bán hàng hóa (Viết tắt CISG) hay Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại Unidroit năm 2004 (PICC) Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của BLDS sữa đổi Vì chỉ dừng lại ở bài viết để đưa ra các quan điểm của mình do đó tác giả không đi sâu phân tích chi tiết cụ thể những Điều luật trên cũng như không nêu lên tính ưu việt khi áp dụng các công ước quốc tế trên
Tác giả Đặng An Thanh với “ Những bất cập trong quy định của pháp luật về quy trình, thủ tục giao kết hợp đồng điện tử và một số giải pháp đề xuất ”, đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân tối cao, 2014, số 7, trang 26 – 30 Nội dung bài viết tác giả chỉ đề cập một khía cạnh của hình thức của thủ tục giao kết hợp đồng bằng điện tử
và nêu ra những thiếu xót của Luật giao dịch điện tử năm 2005 mà không đề cập đến các hình thức giao kết hợp đồng khác như bằng văn bản, bằng miệng, fax hay thư đường dài… để các bên đạt được những chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, đây cũng là tài liệu có ý nghĩa tham khảo khi làm luận văn
Trang 12Nhìn chung, các tác giả khi nghiên cứu chế định liên quan đến chấp nhận giao kết hợp đồng mặc dù nhìn nhận ở góc độ lý luận theo quan điểm riêng nhưng
đã phân tích về khái niệm về chấp nhận giao kết hợp đồng, các điều kiện của chấp nhận giao kết hợp đồng như nội dung, thời hạn, chủ thể, hình thức trả lời theo quy định của BLDS 2005 Trong đó, các tác giả đã chú trọng đến việc xác định hình thức chấp nhận giao kết hợp đồng bằng hành vi hay sự im lặng có được pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận hay không khi so sánh, đối chiếu với các BLDS các nước, các bộ nguyên tắc Trên cơ sở những định hướng mà các nhà khoa học trước
đã nghiên cứu, tác giả tổng hợp những quan điểm để tìm ra những đề xuất nhằm đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện BLDS 2005 Đó là lý do mà tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005” để làm luận văn thạc sỹ và không trùng với các nghiên cứu trên
3 Mục đích nghiên cứu
Với những lý do để tác giả chọn đề tài nghiên cứu như nêu trên là do hiện nay những quy định của pháp luật dân sự Việt Nam còn nhiều thiếu xót và chưa hoàn thiện phù hợp với thực tiễn Vì vậy, mục đích mà tác giả hướng đến khi tập trung nghiên cứu đề tài này nhằm rà soát và hoàn thiện những quy định của BLDS năm 2005 về những quy định liên quan đến chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Vì chấp nhận giao kết hợp đồng là một phần trong trình tự giao kết hợp đồng quy định trong phần hợp đồng của BLDS 2005 Vì vậy, phạm vi của luận văn chỉ phân tích những vấn đề về chấp nhận giao kết hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2005 mà không phân tích những quy định về chấp nhận giao kết hợp đồng lao động, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình hay trong các hợp đồng thông dụng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ trong BLDS 2005 cũng như các quy định liên quan đến luật chuyên ngành như Bảo hiểm xã hội, đất đai trừ trường hợp có liên quan đến nội dung mà tác giả đang phân tích
Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu những quy định về chấp nhận giao kết hợp đồng ngoài những quy định của BLDS 2005 kết hợp với pháp luật hợp đồng của một số nước có sự hình thành hệ thống pháp luật lâu đời và tiến bộ như Pháp, Đức, Nhật; Nga bên cạnh các Bộ nguyên tắc về hợp đồng mà được hầu hết các nước thừa
Trang 13nhận trong quá trình giao lưu thương mại hiện nay như Bộ nguyên tắc của Unidroit
về hợp đồng thương mại quốc tế (gọi tắt là PICC), Bộ nguyên tắc pháp luật hợp đồng Châu Âu (PECL), Công ước viên của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn gọi Công ước viên 1980 (CISG)
Lựa chọn những bản án để rà soát lại giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật liên quan đến tài có những bất cập
gì là vấn đề tác giả cần đưa vào luận văn gồm Quyết định số: Quyết định giám đốc thẩm số 503/DS – GĐT ngày 23/10/2012 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, Quyết định giám đốc thẩm số 439/2011/DS – GĐT ngày 16/6/2011 – Vụ án: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và kiện đòi tài sản của Tòa án nhân dân Tối cao; Bản án số 15/2014/DSST ngày 18/12/2014 về: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa; 11/2008/KDTM-ST ngày 29/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; Bản án số 26/2014/DSST ngày 11/7/2014 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa
Vì đề tài tập trung phân tích về: “Chấp nhận giao kết hợp đồng theo quy định của BDS năm 2005” nên tác gỉả chỉ phân tích những quy định của pháp luật từ năm
2005 (khi BLDS 2005 có hiệu lực) đến nay Về số liệu thực tế được nêu trong đề tài
là từ năm 2013 đến nay theo Báo cáo tổng kết ngành Tòa nhân dân tỉnh Khánh Hòa
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là phương pháp biện chứng, phân tích Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong chương 1, chương 2 khi phân tích các vấn đề liên quan đến chế định đề nghị giao kết hợp đồng dân sự và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nhằm khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn
- Phương pháp so sánh được sử dụng tại chương 1, tập trung nhiều mục 1.2 (Khái niệm và bản chất pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự và mục 1.3 (Khái niệm và điều kiện có hiệu lực chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự) để tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam,
Trang 14cũng như pháp luật một số nước như các Bộ nguyên tắc CISG, PECL, PICC nhằm
hoàn hiện các quy định về việc chấp nhận đề nghị kết hợp đồng dân sự
- Phương pháp bình luận được sử dụng trong chương 2 để làm rõ thực trạng
áp dụng pháp luật, trên cơ sở đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 15CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
VÀ CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
Hợp đồng dân sự là một chế định pháp lý giữ vai trò trung tâm hệ thống pháp luật dân sự Việc chấp nhận giao kết hợp đồng có vai trò như thế nào trong việc tạo lập hợp đồng là điều mà tác giả cần đi sâu nghiên cứu phân tích tại chương này
1.1 Khái niệm về hợp đồng dân sự và giao kết hợp đồng dân sự
1.1.1 Khái niệm hợp đồng dân sự
Có thể nói hợp đồng là một trong những chế định có nguồn gốc lâu đời, giữ vai trò trung tâm trong hệ thống pháp luật dân sự Từ khi nhà nước La Mã ra đời vào khoảng thế kỷ VIII Tr.CN, song hành với sự xuất hiện của nhà nước thì pháp luật cũng hình thành La Mã có nguồn gốc từ Luật 12 Bảng được ban hành vào khoảng 451 đến 449 Tr.CN Sự phát triển của hệ thống pháp luật La Mã bắt đầu từ trường phái luật học của Sabinian và Proculian trong đó có tác phẩm nổi tiếng được
hệ thống hóa một cách khoa học vẫn còn lưu truyền nguyên bản cho đến ngày nay
đó là hệ thống Istitutiones của Gaius Trong Istitutiones, Gaius đã phân chia nguồn gốc nghĩa vụ thành hai loại excontractu và ex delicto (từ hợp đồng hoặc từ trách
về hợp đồng (contractus) đã hình thành từ đó: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập nghĩa vụ”2 và là “những hành vi pháp lý song phương hay đa
pháp luật dân sự hiện đại ngày nay
Pháp luật La Mã không những đem lại những giá trị về nghiên cứu pháp luật
mà còn là nguồn tư liệu phong phú, quý giá để chúng ta nghiên cứu nền văn minh
cổ đại nói chung và nền tảng cho việc xây dựng Bộ luật dân sự hoàn chỉnh đặc biệt các hợp đồng có từ thời La Mã như hợp đồng mượn, giữ đồ vật, cầm cố, mua bán, thuê mướn 4vẫn là những hợp đồng cơ bản trong Bộ luật dân sự hiện hành Hiện nay, chế định hợp đồng chiếm một dung lượng lớn trong Bộ luật dân sự
Trang 16Ở Việt Nam, từ thời kỳ nhà nước phong kiến mặc dù nhu cầu trao đổi giao lưu dân sự dẫn đến sự hình thành các hợp đồng nhưng pháp luật không quy định thế nào là hợp đồng, các hình thức hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng ví dụ như Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình Luật hay còn gọi Luật Hình Triều Lê), Bộ luật Gia Long, Bộ dân luật Bắc 1931, Bộ luật dân Trung 1936 –
1939, Bộ luật dân Sài Gòn 1972 không quy định riêng chế định hợp đồng mặc dù trong các Điều luật của một trong số Bộ luật này có dùng các thuật ngữ “văn tự”,
gia giao dịch thường dùng thuật ngữ đến “giao kèo”, “giao ước” để ngụ ý đến sự giao dịch trao đổi giữa hai bên
Khái niệm hợp đồng và hợp đồng dân sự mới được sử dụng chính thức bắt đầu từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 (Điều 1), Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 (Điều 1) đến BLDS năm 1995 (Điều 394), BLDS năm 2005 tiếp tục sử dụng thuật ngữ này (Điều 388) và khái niệm hợp đồng được quy định trong Bộ luật
dân sự năm 2005 bao hàm cả kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình
Khái niệm hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 1 pháp lệnh hợp đồng
dân sự năm 1991: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mua bán, thuê, vay mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”
Đến khi BLDS 1995 ra đời bằng cách tiếp tục khẳng định một định nghĩa mang tính pháp lý vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống pháp luật dân sự Việt Nam trước những năm 1990 mà vào những năm này “khái niệm hợp đồng dân sự” chỉ bắt nguồn ngự trị về mối liên quan đặc biệt giữa vai trò hợp đồng và kế hoạch trong nền kinh tế tập bao caasp xã hội chủ nghĩa, chúng ta tiến gần đến các quan điểm giống
Điều 394 BLDS năm 1995: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ” Đến BLDS năm 2005 –
Điều 388 thì khái niệm này không có gì thay đổi
Trang 17Mặc dù hợp đồng là sự thỏa thuận nhưng hai thuật ngữ “hợp đồng” và “thỏa thuận” là hai thuật ngữ không đồng nhất Có thể mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận,
sự thỏa thuận không được thừa nhận là hợp đồng mà có thể chỉ mang tính chất bổ sung, thay đổi, chấm dứt quan hệ hợp đồng ví dụ như thỏa thuận thêm về phụ lục trong hợp đồng vay tài sản có thế chấp tài sản bảo đảm thì chúng không tạo lập được quyền, nghĩa vụ dân sự mới
Bản chất của hợp đồng được hình thành bởi hai yếu tố pháp lý: sự thỏa thuận
và sự ràng buộc pháp lý giữa các bên Vì hợp đồng là một giao dịch có hai hoặc nhiều bên tham gia dựa trên sự cam kết, thỏa thuận để tạo lập sự ràng buộc pháp lý với nhau Không có một hợp đồng nào được tạo ra mà không có sự thỏa thuận, sự thỏa thuận là nền tảng cơ bản tạo nên hợp đồng Để hình thành được hợp đồng, các bên tham gia phải cùng thương lượng, trao đổi, bàn bạc để đi đến sự thống nhất ý chí dựa trên đề nghị giao kết của một bên và sự chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị của bên kia Sự thỏa thuận là quá trình đi từ thương lượng, bàn bạc đến sự thống nhất ý chí Xét về nội dung, sự thỏa thuận phải có nội dung cụ thể, mục đích
rõ ràng để xác định được bản chất hợp đồng mà các bên muốn xác lập Tuy nhiên, thỏa thuận chỉ có thể làm phát sinh hiệu lực ràng buộc giữa các bên nó phải thỏa mãn các điều kiện về chủ thể (đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng), nội dung và mục đích của hợp đồng, hình thức hợp đồng
Hợp đồng là thỏa thuận để tạo sự ràng buộc pháp lý giữa các bên Một sự thỏa thuận như một lời hứa danh dự, tình cảm thì không được xem là hợp đồng vì không tạo ra sự quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên iao kết hợp đồng Mộ khi
có sự vi phạm như không thực hiện lời hứa danh dự thì không bị chế tài sân sự như trường hợp phạt vi phạm hợp đồng Ngày nay, trong cuộc sống sinh hoạt cộng đồng, người dân thường ký các cam kết mang tính thỏa thuận để cùng thực hiện một chính sách của địa phương Ví dụ: “không xả nước thải ra đường”, “nói không với học thêm, dạy thêm” Tuy nhiên, những cam kết này không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Vì vậy, mọi hợp đồng là sự thỏa thuận gữa các bên nhưng không phải thỏa thuận nào cũng là hợp đồng trừ khi thỏa thuận đó tạo ra một sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng
Như đã phân tích ở trên, khái niệm hợp đồng không có sự tách biệt khái niệm hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế và điều này dẫn đến sự lúng túng khi vận dụng khái niệm này trong thực tiễn Trên thực tế, khi giải quyết các vụ án liên quan
Trang 18đến hợp đồng, thẩm phán thường có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế Tại Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 (Điều 1) và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1990 (Điều 1) thì cả hai dạng hợp đồng này có cùng chung đặc điểm nhất định của hợp đồng nhưng được phân biệt dựa trên mục đích giao kết như hợp đồng vay, mượn, tặng cho tài sản hoặc làm dịch vụ có mục đích phục vụ sinh hoạt tiêu dùng là hợp đồng dân sự còn nếu mục đích thỏa thuận đó thực hiện công việc sản xuất, nghiên cứu khoa học mục đích kinh doanh là hợp đồng kinh tế và cũng là
cơ sở xác định tranh chấp xảy ra từ hợp đồng thì thụ lý giải quyết vụ án dân sự hay
vụ án kinh doanh thương mại trong cơ quan Tòa án Khi xây dựng BLDS năm 1995
và BLDS năm 2005 việc xác định hai cặp hợp đồng này dựa vào mục đích thỏa thuận và chủ thể tham gia Được xem là hợp đồng kinh doanh khi hợp đồng thực hiện vì mục đích lợi nhuận và các bên tham gia hợp đồng có một trong các bên là tổ chức và một hợp đồng được xác định là hợp đồng dân sự khi các chủ thể tham gia là
án về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” vì một bên chủ thể bắt buộc là ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng và một có thể là cá nhân, tổ chức Do đó, chỉ cần dựa vào mục đích vay để xác định thuộc hợp đồng kinh tế hay hợp đồng dân sự Vấn đề này thường được ghi rõ trong điều khoản hợp đồng tín dụng
Trong quá trình áp dụng BLDS năm 2005 vào thực tiễn, chúng ta đã gặp một
số bất cập Vì vậy, vào tháng 12/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 857/NQ- UBNTVQH ngày 25/12/2014 về việc tổ chức lấy lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi BLDS, cụ thể gần nhất vào tháng 10/2014, trong đó Điều
388 được thay thế bằng Điều 410 (khái niệm hợp đồng và áp dụng pháp luật) như
sau: “1 Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền và nghĩa vụ với nhau 2 Hợp đồng được quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan phải tuân theo nhưng quy định tại Bộ luật này”
Có ý kiến cho rằng: Điều luật này kế thừa Điều 388 BLDS năm 2005 bổ sung thêm khoản 2 để bảo đảm các quy định chung về hợp đồng trong BLDS là điều khoản chung, có tính định hướng cho tất cả các hợp đồng thuộc các quan hệ tư Bên cạnh
đó, dự thảo Bộ luật sử dụng thống nhất thuật ngữ “hợp đồng” thay cho thuật ngữ
“hợp đồng dân sự” Việc BLDS sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” đã dẫn đến
Trang 19cách hiểu cho rằng các quy định về hợp đồng của BLDS chỉ áp dụng đối với hợp đồng dân sự mà không áp dụng đối với hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm…Thực tế, một số luật chuyên ngành như Luật thương mại, Luật đầu tư… có những quy định về hợp đồng nhưng không quy định về khái niệm hợp đồng, giao kết và thực hiện hợp đồng, vì thế, những vấn để này phải được hiểu, thực hiện theo quy định của BLDS Để khẳng định vai trò của các quy định về hợp đồng trong BLDS là quy định chung về các dạng hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau, dự thảo Bộ luật bỏ từ “dân sự” trong khái niệm hợp đồng và khi quy định về các vấn đề của hợp đồng sẽ không có từ “dân sự” đi kèm như trong quy
không mang tính thuyết phục vì tại Điều 1 BLDS năm 2005 quy định nhiệm vụ và
phạm vi điều chỉnh: “Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho
các ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể
về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (sau đây gọi tắt là quan hệ dân sự) Bên cạnh đó còn có một
số quy định các loại hợp đồng khác được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành bên cạnh những quy định của BLDS như Luật tín dụng, Luật thương mại, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật lao động… So với BLDS Nhật Bản không phân biệt cụ thể
về hợp đồng dân sự hay hợp hợp đồng kinh tế mặc dù luật đã xây dựng riêng một chương về hợp đồng, xem hợp đồng không chỉ là căn cứ quan trọng nhất làm phát sinh nghĩa vụ mà còn là một chế định có vai trò số một trong quan hệ pháp luật dân
sự Về mặt pháp lý thì hợp đồng là một loại giao dịch dân sự thể hiện sự thống nhất
ý chí của hai hoặc nhiều bên và mục đích của hợp đồng thông thường là làm phát
dân sự” được quy định tại Điều 388 BLDS năm 2005
Để có thể tạo nên một hợp đồng có hiệu lực, các bên phải tiến hành giao kết hợp đồng Đây là điều kiện để phát sinh hiệu lực ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên
9
Bộ Tư pháp (2014), Bản thuyết minh dự án sửa đổi BLDS
10
Bộ Tư pháp – Viện nghiên cứu khoa học (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, tr 489
Trang 201.1.2 Khái niệm giao kết hợp đồng dân sự
Giao kết hợp đồng là giai đoạn thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các chủ thể của hợp đồng dân sự BLDS 2005 không quy định cụ thể thế nào là giao kết hợp đồng
Theo Từ điển luật học: “Giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể bày tỏ ý
chí với nhau để cùng xác lập hợp đồng thông qua sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng với nhau theo các nguyên tắc và trình tự do luật định nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt, quyền và nghĩa vụ dân sự”11
Mục đích của giao kết hợp đồng là sự thỏa thuận để đi đến thống nhất ý chí của các bên Trong đó một bên có thể đưa ra một tuyên bố ý chí đơn phương (bên
đề nghị giao kết hợp đồng) và mong muốn bên được đề nghị giao kết hợp đồng cùng xác lập hợp đồng Dựa trên một tuyên bố đơn phương của bên đề nghị, có sự gặp gỡ, trao đổi về ý chí với bên được đề nghị và khi có sự đồng thuận từ các bên thì hợp đồng đó đã được giao kết Vì vậy, quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng chú trọng đến ý chí tuyên bố đơn phương của các bên việc xác lập hợp đồng
Nhìn chung BLDS các nước khác như Nhật Bản, Pháp cũng không đưa ra một khái niệm nào về giao kết hợp đồng Nếu dựa vào định nghĩa của từ điển luật học thì
dễ có sự nhầm lẫn giữa hai khái niệm hợp đồng và giao kết hợp đồng về nội hàm của chúng
Giao kết hợp đồng có giá trị xác lập hợp đồng phải theo những nguyên tắc do pháp luật quy định: “Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng” Quy định này nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao kết
Việc giao kết hợp đồng dân sự bên cạnh việc phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên phải thực hiện theo một trình tự cụ thể và có thể được xem là một quá trình
mà các chủ thể bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến đi đến thỏa thuận để xác lập quyền và nghĩa vụ cũng như nội dung hợp đồng Quá trình đó thông qua hai giai đoạn: Đề nghị giao kết hợp đồng dân sự và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự Đây là hai giai đoạn không thể thiếu và luôn gắn liền với nhau trong giao kết hợp đồng Đó cũng là lý do vì sao trước khi đi và phân tích về trả lời chấp
11
Viện nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Khoa học Pháp lý – Nxb Từ điển Bách
khoa, tr 276
Trang 21nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tác giả sẽ phân tích về khái niệm và bản chất pháp
lý của đề nghị giao kết hợp đồng
1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng của hợp đồng Vì vậy, Công ước Viên (CISG), Các Bộ nguyên tắc nguyên tắc PECL, PICC và BLDS năm 2005 đều có những quy định về vấn đề này Để hiểu được đề nghị giao kết hợp đồng, cần phân tích rõ khái niệm và các vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng
1.2.1 Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Khi một người muốn thiết lập hợp đồng dân sự thì ý muốn đó phải được thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định thì đối tác mới nhận biết được ý muốn của họ và từ đó mới có thể giao kết hợp đồng Đây là giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng dân sự12
Về mặt lý luận, đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương của một bên nhằm biểu lộ ý chí của mình về việc muốn cùng bên kia để tạo lập hợp đồng với những nội dung và điều kiện xác định13 Trước khi xác lập hợp đồng, trước tiên chúng ta nhận được lời đề nghị giao kết hợp đồng Đây là hành vi đầu tiên trong giao kết hợp đồng Từ những hoạt động hằng ngày mà ta thường gặp trong các phiên chợ như giới thiệu sản phẩm, hàng hóa cho người mua để họ ưng thuận mà quyết định mua những sản phẩm đó cho nhu cầu thiết yếu hằng ngày dựa vào đó các nhà làm luật khái quát lên thành những điều khoản trong luật cụ thể tại
Điều 390 BLDS năm 2005 như sau: “1 Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện
rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể; 2 Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ
ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên
được đề nghị mà không được đề nghị giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”
Để một đề nghị giao kết hợp đồng đáp ứng yêu cầu thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị, nội dung đề nghị : Người đề nghị có
12
Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, tr 364
13
Lê Minh Hùng (2014), “Thời điểm giao kết hợp đồng trong pháp luật của một số nước trên thế giới, các Bộ
nguyên tắc hợp đồng, quốc tế và kinh ngiệm cho Việt Nam”, Báo cáo tổng kết khoa học và công nghệ cấp
trường, tr 24
Trang 22tư cách giao kết, xác lập hợp đồng; lời đề nghị giao kết phải có nội dung cụ thể, rõ ràng; lời đề nghị giao kết phải gửi đến cho một hoặc nhiều người xác định; thực sự
có ý muốn tạo lập hợp đồng
Để có thể giao kết hợp đồng, chủ thể tham gia giao kết phải có đủ năng lực
hợp đồng là việc đề nghị giao kết thể hiện ý chí của mình bằng lời đề nghị giao kết với một chủ thể nào đó xác định Tính xác định của chủ thể được đề nghị thể hiện ở chỗ bên nhận đề nghị phải là chủ thể được xác định có nghĩa rằng bên đề nghị giao kết hợp đồng mong muốn giao kết với ai, người nào Một lời đề nghị có giá trị khi lời đề nghị nhằm vào đối tượng cụ thể, có nội dung cần giao kết và người đề nghị có mong muốn giao kết, xác lập hợp đồng với mục đích làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ dân sự Vì vậy, lời đề nghị phải gửi đến bên được đề nghị xác định, chứ không phải chung chung Đề nghị thường hướng đến một hoặc một số người xác định, người được đề nghị có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Ví dụ: Vì cần tiền, A cần bán gấp một căn nhà và A gửi lời đề nghị này đến cho B BLDS năm 2005 còn quy định thêm yêu cầu đối với đề nghị giao kết hợp đồng là bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng phải chịu sự ràng buộc đối với bên đã được xác định cụ thể Có nghĩa rằng nếu bên đề nghị không thể hiện rõ ý định tham gia giao kết hợp đồng khi gửi cho bên kia những nội dung chủ yếu của hợp đồng thì hợp đồng không thể giao kết được Chủ thể mà người đề nghị hướng đến có thể là một chủ thể xác định hay nhiều chủ thể Đó có thể lời đề nghị dành cho rộng rãi công chúng hoặc một nhóm chủ thể nhất định Tuy nhiên để tiến đến có thể ký hợp đồng, bên đưa ra lời đề nghị phải xác định được một chủ thể mà họ nhắm đến Lời đề nghị phải được gửi đến chủ thể xác định của hợp đồng được thiết lập trong tương lai15
Một vấn đề đặt ra pháp luật hợp đồng dân sự chấp nhận ngay cả lời đề nghị với công chúng nếu thỏa mãn các điều kiện quy định của một lời đề nghị hợp lệ như hợp đồng hứa thưởng, thi có giải Tuy nhiên, dẫn chiếu theo khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 thì không phù hợp do tính xác định cụ thể đối với bên được đề nghị
cũng có nghĩa là không thừa nhận hiệu lực của đề nghị giao kết với công chúng
14
Trường Đại học Luật TP HCM (2014), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.120
Trang 23Theo ý kiến tác giả, trong hợp đồng hứa thưởng, trả thưởng được quy định tại các Điều 590 – 593 BLDS năm 2005 thì có quyền giao kết hợp đồng với số đông là công chúng nhưng lời để nghị giao kết phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như công việc hứa thưởng phải cụ thể, có thực hiện được, không bị pháp luật cấm,
không trái đạo đức xã hội
Theo khoản 2 Điều 201 PECL: “Đề nghị giao kết hợp đồng có thể gửi đến
một hoặc nhiều người cụ thể hay công khai cho tất cả mọi người” Tại Điều 14
CISG: “2 Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ được coi là một lời
mời làm chào hàng, trừ phi người đề nghị đã phát biểu rõ ràng điều trái lại”
Nếu đề nghị không được gửi tới một hoặc một số người cụ thể, nó chỉ là một phần bảng báo giá hoặc được gửi ra ngoài theo một thông báo rộng rãi, nó không tạo thành một đề nghị như các quảng cáo do người đề nghị là công chúng nên đó chỉ
là lời mời chào hàng
Bên cạnh lời đề nghị giao kết hợp đồng với một hoặc một số người cụ thể thì
theo tại khoản 2 Điều 390 BLDS năm 2005:“Trong trường hợp đề nghị giao kết
hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được đề nghị giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”
Trong đề nghị thì nội dung đề nghị phải rõ ràng và cụ thể không bắt buộc lời
đề nghị phải chứa đựng các nội dung chủ yếu So với quy định tại Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, Điều 396 BLDS năm 1995 thì BLDS năm 2005 không quy định khi một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng không phải nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng16 Để xác định tính rõ ràng cụ thể trong các điều
khoản của lời đề nghị có khi như sự trùng lặp về các điều khoản trong thực hiện hợp đồng Ví dụ: A đề nghị bán cho B một chiếc xe mô tô, sau khi A mô tả về kiểu dáng, mẫu mă xe, đưa ra giá bán cụ thể và B đồng ý Hai bên tiến ký kết hợp đồng mua bán
16
Khoản 1 Điều 390 BLDS năm 2005 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”
Trang 24Bên đưa ra lời đề nghị có ý muốn giao kết hợp đồng thì lời đề nghị có giá trị pháp lý khi đảm bảo nguyên tắc thiện chí, tự nguyện và trung thực và mong muốn bên kia xác lập hợp đồng
Trong thực tiễn còn có những lời đề xuất, chào mời, thương lượng, quảng cáo, lời hứa hẹn đưa ra mang tính đạo lý vì thể hiện tình cảm thì có được xem là đề
nghị giao kết hợp đồng?
Trước hết, cần có sự phân biệt giữa đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị thương lượng Để xác định đực chúng phải căn cứ vào các hình thức khách quan, chủ quan trong từng loại cụ thể
Đề nghị thương lượng là sự tuyên bố của một bên nhằm chào mời các bên tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng nhưng chưa đưa ra những nội dung cụ thể và chưa chịu trách nhiệm về lời mời đó Đề nghị thương lượng được đề cập trong các văn bản pháp luật như Luật thương mại năm 2005 (Điều 117- Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ), Luật cạnh tranh năm 2004 được xem là các quan hệ tiền hợp đồng như các lời mời để đi đến đề nghị giao kết hợp đồng Thương lượng là một sự chào mời, quảng cáo, chưa có nội dung cụ thể, rõ ràng mà kết quả của nó chưa tạo
ra một hợp chính thức để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên Do đó, không
có việc yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên kia không trả lời lời đề nghị Lời đề nghị của thương lượng được đưa ra cho nhiều chủ thể hoặc trước công chúng và không buộc thời hạn trả lời đối với các chủ thể đó Ví dụ: Trên các mục rao vặt ở các trang quảng cáo có nội dung: “Cần bán gấp 01 máy tính xách tay hiệu HP đã qua sử dụng, giá cả phù hợp”
Nếu như lời đề nghị thương lượng không ràng buộc trách nhệm giữa các bên thì giao kết hợp đồng có giá trị ràng buộc trách nhiệm với bên đề nghị như phải giao kết hợp đồng Nếu bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị đó (Điều
396 BLDS 1995), phải bồi thường cho người được đề nghị vì không giao kết được hợp đồng gây thiệt hại nếu trong thời hạn chờ trả lời mà mà bên đề nghị giao kết với người thứ ba
Qua phân tích trên, ta thấy có sự khác biệt giữa lời đề nghị giao kết hợp đồng
và lời đề nghị thương lượng
Trang 25Hiện nay có một số dạng đề nghị giao kết hợp đồng phổ biến nhưng không
+ Quảng cáo hàng hóa trên các phương tiện thông tin đại chúng vì lời quảng cáo có nội dung chung chung và không xác định được chủ thể đề nghị Tuy nhiên, đối với trường hợp quảng cáo thể hiện rõ nội dung quảng cáo là một lời đề nghị nếu nêu rõ tài sản, nội dung giao dịch, thời hạn trả lời, người đề nghị và cách thức trả lời
đề nghị vì nó thỏa mãn các yếu tố cấu thành của một lời đề nghị giao kết hợp đồng
Ví dụ:
+ Bày bán công khai (dù có niêm yết giá ở cửa hàng, ở chợ, siêu thị);
+ Thông báo công khai của doanh nghiệp vận chuyển về tuyến đường, vận chuyển hành khách;
+ Phát hành catalogue sản phẩm
Ngoài ra, còn có hình thức như: hội chợ, triển lãm thương mại nghĩa vụ bảo mật thông tin, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh được xem là các quan hệ tiền hợp đồng18 Pháp luật Việt Nam như Luật thương mại năm 2005, Luật cạnh tranh năm 2004, Luật doanh nghiệp năm 2014 điều chỉnh các quan hệ tiền hợp đồng
Các lời đề nghị đặc biệt hay còn gọi là đề nghị giao kết công cộng mà chủ thể được đề nghị giao kết là một tập hợp người không xác định trả lời chấp thuận
mà bất cứ người nào trong tập hợp này nhất trí với nội dung chủ yếu đã chỉ rõ trong
đề nghị giao kết công cộng và biểu thị sự ưng thuận cảu mình theo cách thức mà đề
Một lời đề nghị có giá trị pháp lý nếu nó thỏa mãn các điều kiện như đã phân tích ở trên Tuy nhiên một lời đề nghị đưa ra cho nhiều người xác định với nội dung rõ ràng, chủ thể xác định và có mong muốn giao kết hợp đồng nhưng có nhiều người trả lời hợp lệ thì người đề nghị giao kết phải tiến hành giao kết Vậy họ phải giao kết với ai trong khi buộc chỉ giao kết với một người, những người
Nguyễn Vũ Hoàng (2007), “Các quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (10), tr 51
19
Nguyễn Ngọc Khánh, tlđd 7, tr 230
Trang 26còn lại không được giao kết có quyền yêu cầu người đề nghị phải bồi thường vi phạm không?
Khoản 2 Điều 390 BLDS năm 2005 đề cập việc thu hồi lại đề nghị giao kết trong trường hợp đề nghị có nêu rõ thời hạn để bên được đề nghị suy nghĩ và trả lời, theo đó bên đưa ra đề nghị sẽ chịu trách nhiệm bồi thường khi có thiệt hại xảy ra đối với bên được đề nghị20
Một điểm mới của BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995 là có quy định
về thời điểm để nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực tại Điều 391 như sau: “1 Do
bên đề nghị ấn định Nếu bên đề nghị không ấn định thời hạn thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó” Quy định
về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm bắt đầu xác định sự ràng buộc của bên đề nghị đối với lời đề nghị vì trên thực tế, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng chỉ đề cập đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng21 Tại khoản 2 Điều 391: “Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được
đề nghị giao kết hợp đồng: a) Đề nghị chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị
là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu được đề nghị là pháp nhân; b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; c) Khi bên được
đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác”
Đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực dẫn đến hậu quả pháp lý là làm phát sinh trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng và quyền của bên được đề nghị giao kết hợp đồng Nếu trong thời hạn có hiệu lực của đề nghị, bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì bên được đề nghị yêu cầu bên được đề nghị thực hiện những thỏa thuận trong đề nghị tức là hợp đồng được giao kết Tuy nhiên, trách nhiệm của bên đề nghị giao kết hợp đồng không kéo dài vĩnh viễn, sẽ bị chấm dứt khi đề nghị giao kết hợp đồng hết hiệu lực Trên thực tế, kể cả đến khi đề nghị
có hiệu lực, bên đề nghị giao kết hợp đồng cũng có quyền thay đổi, rút lại và hủy bỏ
đề nghị giao kết (Điều 392, Điều 393 BLDS năm 2005)
Một số nước không nêu quy định rõ khái khái niệm lời đề nghị giao kết hợp đồng như BLDS năm 2005 hoặc có quy định nhưng không phù hợp với quy trình giao kết, thực hiện hợp đồng Cụ thể như BLDS Pháp không có điều khoản về lời đề
Trang 27nghị giao kết, có lẽ vì các luật gia Pháp quan niệm pháp luật không nên can thiệp
cho nội dung hợp đồng trong trường hợp tồn tại lỗ hỏng, lẽ tất nhiên các cơ quan xét
xử phải tôn trọng ý chí của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng Trong lịch sử hệ thống Tòa án Pháp đã hình thành án lệ có nội dung định nghĩa về lời đề nghị như sau: “Lời đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí của một bên nêu rõ các điều khoản cơ bản trong hợp đồng để bên còn lại chấp nhận và tiến đến thiết lập hợp đồng”23 Mặc dù không đưa vào quy định của pháp luật nhưng nội dung của nó cũng có điểm tương đồng so với khoản 1 Điều 390 BLDS năm 2005 BLDS Nhật Bản cũng không đưa ra định nghĩa về đề nghị giao kết hợp đồng
Tại khoản 1 Điều 435 BLDS Nga quy đinh: “Đề nghị giao kết hợp đồng là
bản đề xuất gửi cho một hoặc một số chủ thể cụ thể, trong đó thể hiện rõ ý định của người làm đề xuất coi mình là người giao kết hợp đồng với của người mà sẽ chấp nhận đề xuất Đề nghị giao kết hợp đồng phải ghi rõ các điều kiện chủ yếu của hợp đồng” Có điểm khác biệt với BLDS năm 2005 là không ràng buộc đề nghị giao kết
hợp đồng phải ghi rõ các điều kiện chủ yếu của hợp đồng Điều này thể hiện sự tiến
bộ của BLDS Việt Nam hiện hành vì đây là điều kiện cần thiết trong giai đoạn thực hiện hợp đồng
Tuy nhiên, chúng ta cần so sánh như Công ước viên 1980 – (CISG), Bộ nguyên tắc PECL, PICC đã đưa ra định nghĩa về đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện nét tiến bộ trong việc xây dựng lập pháp theo quan điểm của tác giả BLDS Việt Nam cần sửa đổi cho phù hợp với xu hướng “toàn cầu hóa” như hiện nay CISG chỉ điều chỉnh các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tại Điều 14 quy định:
“1 Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó”
Đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện bằng hình thức giao kết Các hình thức đề nghị giao kết hợp đồng dân sự trong thực tế: Đề nghị giao kết bằng văn bản,
lời nói, bằng phương tiện điện tử, hành vi cụ thể
22
Trần Lê Đăng Phương, tlđd 15, tr 194
23
Lê Minh Hùng - Trần Lê Đăng Phương (2013), “Một số vấn đề về giao kết hợp đồng trong pháp luật của
Cộng Hòa Pháp và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Pháp lý (02), tr 56
Trang 28Trong các giao dịch dân sự hiện nay, hình thức đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản là hình thức phổ biến nhất Bên đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện ý chí của mình mong muốn bên được đề giao kết thông qua hình thức bằng văn bản
cụ thể Đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản được thể hiện bằng hai cách thức chủ yếu: Đề nghi trực tiếp và đề nghị gián tiếp
+ Đề nghị trực tiếp (hay còn gọi đề nghị với người có mặt) là việc giao kết trực tiếp giữa người đề nghị và người được đề nghị Hai bên đề nghị với nhau qua điện thoại, cầu truyền hình trực tiếp cũng là giao kết trực tiếp Theo quy đinh tại
khoản 2 Điều 397: “Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường
hợp qua điện thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác về thời hạn trả lời” Như vậy, hệ quả của đề nghị trực tiếp là bên đề nghị phải trả lời ngay
+ Đề nghị gián tiếp (hay còn gọi đề nghị giao kết với người vắng mặt) là đề nghị thông qua thư tín, fax, email, gửi văn bản, trao đổi thông qua người môi giới…
Đề nghị giao kết hợp đồng bằng lời nói thể hiện ý chí của bên đề nghị giao kết hợp đồng mong muốn giao kết hợp đồng bằng lời nói Đây là hình thức giao kết truyền thống thông thường đối với các giao dịch đơn giản, nhanh chóng hoặc thường xuyên lặp đi lặp lại
Ngày nay nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật chúng ta có thể giao kết hay đề
nghị giao kết thông qua phương tiện điện tử tuy nhiên các bên vẫn phải tôn trọng
hiện đại ngày nay cùng với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng thì việc giao kết bằng phương tiện điện tử rất phổ biến BLDS năm 2005 không quy định trực tiếp về đề nghị giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử nhưng được điều chỉnh bởi Luật giao dịch điện tử năm 2005, Luật công nghệ thông tin năm
2006 Điều 36 Luật giao dịch điện tử quy định như sau: “1 Giao kết hợp đồng điện
tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng 2 Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị và chấp nhận đề nghị có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu” Tại khoản 2 Điều 30 Luật công nghệ thông tin năm 2006
24
Trần Văn Biên (2010), “Pháp luật và hợp đồng điện tử”, Tạp chí Tòa án nhân dân (20), tr 17
Trang 29quy định khi thực hiện kinh doanh trên mạng, trang thông tin trên mạng phải đáp
ứng các yêu cầu sau: “a) Cung cấp đầy đủ chính xác về thông tin hàng hóa, dịch vụ,
điều kiện giao dịch, thủ tục giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại b) Cung cấp cho người tiêu dùng thông tin về phương thức thanh toán an toàn và tiện lợi trên môi trường mạng c) Công bố trường hợp người tiêu dùng có quyền hủy bỏ, sửa đổi thỏa thuận trên môi trường mạng” và khỏa 1 Điều 31: “Trừ trường hợp các bên liên quan có thỏa thuận khác, tổ chức cá nhân bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải cung cấp thông sau đây cho việc giao kết: a) Trình tự thực hiện để tiến tới giao kết hợp đồng trên môi trường mạng ; b) Biện pháp kỹ thuật xác định và sửa đổi thông tin nhập sai; c) Việc lưu trữ hồ sơ hợp đồng và cho phép truy nhập hồ sơ”
Thực tiễn, việc đề nghị giao kết hợp đồng thông qua phương tiện điện tử cũng phát sinh những hệ lụy dẫn đến các bên có sự tranh chấp yêu cầu bồi thường hiệt hại do việc không trả lời lời đề nghị trong thời hạn thỏa thuận vì lý do khách quan Ví dụ: thư nhận trễ, máy fax bị sự cố hư hỏng, bị mất điện…Việc các cơ quan xét xử tiến hành đánh giá lỗi trong những trường hợp này cũng rất khó khăn
Đề nghị giao kết hợp đồng còn được thể hiện bằng hành vi cụ thể Hành vi
cụ thể không phải diễn đạt bằng lời nói hay chữ viết mà được thể hiện bằng một hành động thuần túy, tức chỉ bao gồm những cử chỉ, hành động có ý thức của con người mà không lời nói, văn bản kèm theo Ví dụ: Người bán vé số chìa sấp vé số
xác lập với các giao dịch thông dụng, thực hiện ngay và thường trong các hoạt động dịch vụ dành cho số đông đại chúng mà bên đề nghị giao kết có quy chế hoạt động
rõ ràng đã được công bố
1.2.2 Bản chất pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Đề nghị giao kết hợp đồng về bản chất là một hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể khác theo các điều kiện xác định
1.2.2.1 Tính ràng buộc của người đề nghị với đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Đề nghị phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và mong muốn được ràng buộc của bên đưa ra đề nghị đối với bên được đề nghị về những nội dung của đề nghị Điều này thể hiện ở chỗ khi đề nghị được gửi đến cho bên được đề nghị làm
25
Lê Minh Hùng, tlđd 13, tr 44
Trang 30cho bên được đề nghị tin tưởng rằng chỉ cần trả lời chấp nhận là hợp đồng được ký kết, sự chắc chắn đó tạo ra những ràng buộc pháp lý đối với bên đưa ra đề nghị
Để xác định ý chí mong muốn bị ràng buộc, người ta dựa vào các tiêu chí: cách thức bên đề nghị trình bày một đề nghị (ví dụ: cách quy định rõ đó là bản “đề nghị giao kết” hoặc đơn giản chỉ là “lời mời thảo luận”), nội dung của đề nghị và bên nhận đề nghị4
Nói chung, đề nghị càng chi tiết, cụ thể thì càng có nhiều cơ hội được xem
như một đề nghị giao kết hợp đồng Điều 14 của CISG quy định: “Một đề nghị ký
kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu
có đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó…”
Điều 2.1.2 PICC quy định: “Một đề nghị được gọi là đề nghị giao kết hợp
đồng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi
đề nghị giao kết được chấp nhận” Tại khoản 1 Điều 390 BLDS 2005: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc
về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể” và “Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”
Đề nghị chỉ là hành vi pháp lý đơn phương, không phải là hợp đồng nhưng có
giá trị ràng buộc với người đưa ra lời đề nghị Nếu trong điều khoản có nội dung từ
chối giao kết hợp đồng vì những lý do cụ thể như người được đề nghị không trả lời đề nghị đúng thời gian như hai bên thỏa thuận, hoặc những tình huống bất khả kháng xảy ra mà các bên không dự liệu được thì cũng được coi là thực sự muốn giao kết hợp đồng và không được xem là lỗi của bên đề nghị giao kết
Viện dẫn bản án sau: Bản án số 15/2014/DSST ngày 18/12/2014 của Tòa án
giữa nguyên đơn là bà Francois Trần Văn Phi Jeans và bị đơn bà Ngô Thị Nguyệt
có ký một hợp đồng đặt cọc để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và tài sản ở TP Nha Trang do bà Nguyệt đứng tên Hợp đồng đặt cọc thể hiện hai bên
26
Phụ lục 01
Trang 31thỏa thuận chuyển nhượng mua bán nhà đất với giá 2.600.000đồng Thanh toán chia làm 03 đợt: Nguyên đơn cho rằng mình đã giao tiền đợt 1 và sau đó tìn hiểu thì phát hiện ra mình không đủ điều kiện để đứng tên sở hữu nhà đất nên không tiếp tục thực hiện giao kết Sau đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại số tiền giao đợt 1
Lập luận của Tòa án: Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhà đất Nhưng nguyên đơn không có căn cứ gì để chứng minh là bị đơn đã nhận số tiền 260.000.000đồng Nên hợp đồng đặt cọc trên chỉ được ký kết về hình thức không phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bị đơn nên bị vô hiệu ngay từ đầu Do đó, Tòa
án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tuyên hợp đồng đặt cọc trên vô hiệu
Quan điểm của tác giả: Mục đích của đặt cọc nhằm đảm bảo giao kết hợp
ký kết hợp đồng đặt cọc một số tiền nhằm đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ý chí của nguyên đơn cũng mong muốn thực hiện hợp đồng này thông qua đề nghị thỏa thuận đặt cọc Tuy nhiên, việc nguyên đơn không thực hiện được ý chí trên là do quy định của luật đất đai, luật sở hữu nhà
ở không cho người nước ngoài quyền sử dụng đất gắn liền với quyền sở hữu nhà nên hợp đồng đặt cọc trên vô hiệu là có cơ sở vì xét về yếu tố lỗi cả bị đơn và nguyên đơn đều không vi phạm nhưng Tòa án lại nhìn nhận ở một khía cạnh khác
về hợp đồng đặt cọc chỉ mang tính hình thức nên tuyên hợp đồng này vô hiệu Tuy nhiên, pháp luật không quy định cách thức và phương thức chịu trách nhiệm khi người đưa ra lời đề nghị không mong muốn ràng buộc giao kết hợp đồng nữa
Tóm lại, một hợp đồng có thể xác lập được hay không trước hết bên đề nghị phải đưa ra lời đề nghị hợp lệ, sau đó phải có sự trả lời phù hợp hoàn toàn với lời đề nghị Giai đoạn này gọi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với những điều kiện
cụ thể mà luật đã quy định
1.2.2.2 Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Một đề nghị phải xác định rõ ràng, nếu không nó không được coi là một đề nghị giao kết hợp đồng mà chỉ là một đề nghị thương lượng hợp đồng Nếu như
27
Điều 358 BLDS 2005: “Đặt cọc là một việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đẩm bảo giao kết hợp đồng hoặc thực hiện hợp đồng”
Trang 32theo BLDS năm 1995, tính xác định của một đề nghị thể hiện chứa đứng nội dung
thiết vì nếu các bên chấp nhận giao kết hợp đồng thì tiến đến ký kết hợp đồng bằng các hình thức nhau như bằng miệng, văn bản có công chứng hoặc không có công chứng, khi đó các bên thỏa thuận với nhau các điều khoản cụ thể Do đó, BLDS
2005 đã sửa đổi: đề người đề nghị giao hợp đồng phải thể hiện rõ ý định giao kết Nhưng đề nghị đó phải bảo đảm những thông tin tối thiểu thể hiện ý định của bên đưa ra đề nghị mong muốn giao kết hợp đồng Ví dụ: Cần bán gấp 01 xe ô tô hiệu Camry 2.0 màu đen đã qua sử dụng, giá bán 1.2 tỷ Liên hệ chị T, số điện thoại
090.9xxx.xxx Đây là một thông báo rõ ràng về ý định muốn bán xe, loại xe, gái cả
Khác với quy định của luật pháp một số nước và các Bộ nguyên tắc thương
mại Cụ thể khoản 1 Điều 14 của CISG quy định rất chi tiết: “Một đề nghị ký kết
hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu có
đủ chính xác và nếu nó chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó Một đề nghị là đủ chính xác khi
nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng về giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định thể thức xác định những yếu tố này” Riêng khoản 1 Điều 390 BLDS
2005 quy định “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng…” Theo đó, tính xác định của đề nghị giao kết hợp đồng phụ thuộc vào mức
độ rõ ràng trong việc diễn đạt ý định của bên đưa ra đề nghị thường trong hợp đồng mua bán hàng hóa, thì bên đề nghị thường thể hiện rõ ý định của mình về số lượng, chất lượng và giá cả hàng hóa mà mình muốn mua hoặc muốn bán nhưng BLDS năm 2005 không có quy định nào tạo cơ sở pháp lý cho việc giải thích ý chí của bên đưa ra đề nghị như cách giải thích nêu trên Còn Điều 2.1.2 của PICC quy định
“Một đề nghị được gọi là đề nghị giao kết hợp đồng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi đề nghị giao kết được chấp nhận” theo
đó tính xác định của đề nghị phụ thuộc và tiêu chí “đủ rõ ràng” và theo khoản 2
Điều 4.1 của PICC, thì tiêu chí đủ rõ ràng có thể “được giải thích theo cách hiểu
của một người bình thường có cùng phẩm chất và ở cùng hoàn cảnh với người tuyên bố và thực hiện hành vi” Như vậy, nếu áp dụng Điều 14 của CISG và Điều
28
Điều 396 BLDS 2005: “Khi một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời thì không được mời người thứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình”
Trang 332.1.2 của PICC thì sẽ có cách giải thích thỏa đáng dựa vào hoàn cảnh trong mối quan hệ cụ thể
Sau khi bên đề nghị đưa ra lời đề nghị, bên được đề nghị phải trả lời chấp nhận lời đề nghị đó Đây là giai đoạn quan trọng có tính quyết định cho hợp đồng
có được giao kết hay không
1.3 Khái niệm và điều kiện có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Trong mối quan hệ hình thành giữa người với người luôn phát sinh những lời
đề nghị như làm thành viên của nhóm, là bạn bè, giao lưu… và một khi được đề nghị thì có người đồng ý ngay, có người im lặng không trả lời Liên quan đến hợp đồng dân sự cũng vậy, việc chấp nhận hay không chấp nhận giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng cho việc xác lập, thực hiện hợp đồng Do đó, BLDS Việt Nam năm 2005 đã đưa ra một khái niệm cụ thể về: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự”
1.3.1 Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự chỉ mới được hình thành khi BLDS năm 2005 ra đời Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 cũng như BLDS năm 1995 đã không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mặc dù có đề cập đến nội dung này Theo quy định tại Điều 396
BLDS năm 2005 thì: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên
được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”
Xét về bản chất, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện sự phản hồi chấp nhận từ phía bên được đề nghị giao kết đối với bên đưa ra đề nghị Có thể nói chấp nhận giao kết hợp đồng là bước quyết định sự hình thành của hợp đồng, đây là bước tiếp nối cho việc ký kết hợp đồng và do vậy đóng vai trò quan trọng trong giao kết hợp đồng
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự thể hiện ý chí, theo đó bên nhận
đề nghị đồng ý với tất cả các điều kiện được nêu trong đề nghị Sự chấp thuận phải phù hợp với nội dung của đề nghị nếu có những điều khoản bổ sung, sửa đổi đề nghị thì coi như đưa ra đề nghị mới Như vậy, chấp nhận giao kết hợp đồng thể hiện
ý chí chủ quan của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của lời đề nghị giao kết hợp đồng Quy định này phù với luật pháp của một số nước trên thế
Trang 34giới Bộ luật dân sự Nhật Bản xem chấp nhận (chấp thuận) được hiểu là sự thể hiện
ý chí diễn ra trong tổng thể với đề nghị giao kết hợp đồng với ba đặc điểm đặc trưng của chấp thuận: Hợp đồng được giao kết sau khi được chấp thuận, chấp thuận được
CISG và các Bộ nguyên tắc thương mại quy định khác về khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Khoản 1 Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc Unidroit về thương mại
hợp đồng quốc tế quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể là một
tuyên bố hoặc một cách xử sự khác của bên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” và Điều 18 CISG quy đinh: “1 Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất tác vi không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận” Như theo quy định tại Điều 396 BLDS năm 2005 được hiểu không
phải mọi sự trả lời chấp nhận đều có giá trị pháp lý mà nó ràng buộc điều kiện pháp
1.3.2 Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là khoản thời gian được xác định do bên đề nghị ấn định cho bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Thời điểm bắt đầu tính thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết: Thời hạn thể hiện trong lời đề nghị có thể là một ngày hết hạn cụ thể hoặc một thời gian vô hạn định BLDS năm 2005 không quy định thời điểm bắt đầu tính thời hạn là ngày
đề nghị được gửi đi hay là ngày bên nhận được đề nghị Ví dụ: Ông A gửi cho ông
B một lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hải sản vào ngày 15/6/2015, trong đó quy định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị là 05 ngày Theo quy định tại Điều 149
BLDS năm 2005: “1 Thời hạn là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này
đến thời điểm khác 2 Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra” Tại khoản 1 Điều 397 BLDS năm
29
Bộ Tư pháp - Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, tlđd 10, tr 505
Trang 352005 quy định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng như sau: “Khi
bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên của bên chậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị” Như vậy, hai Điều luật không đưa ra một giải đáp nào cho ví dụ trên để xác
định thời điểm bắt đầu tính thời hạn là thời điểm nào Trong khi đó, CISG và PICC
đã quy định rất cụ thể về thời điểm bắt đầu tính thời hạn cũng cách tính thời hạn, cụ
thể: Điều 20 CISG: “Thời hạn trả lời chấp nhận chào hàng quy định trong điện tín
hay thư bắt đầu tính từ lúc bưu điện được giao để gửi đi hoặc vào ngày ghi trên thư hoặc nếu ngày đó không có thì tính từ ngày bưu điện đóng dấu trên bì thư Thời hạn
để chấp nhận chào hàng do người chào hàng quy định bằng điện thoại, bằng telex hoặc bằng phương tiện thông tin liên lạc khác bắt đầu tính thời điểm người được chào hàng nhận được hàng” Điều 2.1.8 của PICC quy định: “Thời hạn chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng do bên đề nghị ấn định bắt đầu tính từ lúc đề nghị được gửi đi Ngày ghi trong đề nghị là ngày gửi đi, trừ khi hoàn cảnh cho thấy điều ngược lại” Theo đó, thời hạn 05 ngày được tính trong ví dụ nêu trên được tính từ
Cách tính thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết: BLDS năm 2005 từ Điều 149 – 153 có quy định về thời hạn Tại khoản 5 Điều 153 BLDS năm 2005
quy định: “Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ
lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó”
Tuy nhiên, Điều luật không quy định ngày nghỉ, lễ có được tính thời hạn không Đây là điểm khác biệt với Điều 1.12 của PICC30 và khoản 2 Điều 20 CISG31 nếu
30
Điều 1.12 của PICC: “Các ngày nghỉ lễ rơi vào thời hạn do các bên ấn định để thực hiện một công việc được tính và thời hạn đó… Tuy nhiên, nếu ngày kết thúc thời hạn rơi vào ngày nghỉ lễ hay nghỉ việc tại trụ sở của bên phải thực hiện công việc thì thời hạn này được kéo dài đến ngày làm việc đầu tiên, trừ khi các hoàn cảnh cho thấy điều ngược lại”
31
Khoản 2 Điều 20 CISG: “Các ngày nghỉ lễ chính thức hay nghỉ việc rơi vào khoảng thời hạn được quy định để chấp nhận chao hàng không được trừ khi tính thời hạn đó Tuy nhiên, nếu không báo về việc chấp nhận chào hàng không thể giao tại điạ chỉ của người chào hàng vào ngày cuối cùng của thời hạn quy định bởi
vì ngày cuối cùng đó là ngày lễ hay ngày nghỉ việc tại nơi có trụ sở thương mại của người chào hàng thì thời hạn chấp nhận chào hàng sẽ được kéo dài tới ngày làm việc đầu tiên kế tiếp các ngày đó”
Trang 36thời hạn do hai bên ấn định rơi vào ngày nghỉ lễ thì thời hạn được tính đế ngày làm việc tiếp theo
Đối với trường hợp bên đề nghị giao kết có ấn định cụ thể thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị thì bên đề nghị phải trả lời chấp nhận đề nghị trong khoảng thời gian trả lời như 1, 2, 3… ngày mà được hai bên thỏa thuận trong lời đề nghị Nếu hết thời gian trên mà không có câu trả lời từ bên được đề nghị thì coi như chấm dứt
đề nghị Mặc dù thời hạn đã hết nhưng lời đề nghị vẫn còn hiệu lực được áp dụng cho việc trả lời đến chậm so với thời hạn đã ấn định vì lý do khách quan Các yếu tố khách quan thường gặp như do lỗi của người thứ ba ví dụ do bên đưa thư đến trễ, thư gửi không đúng địa chỉ hoặc vì sự kiện bất khả kháng như bão lụt, do sự cố máy fax, lỗi mạng… BLDS năm 1995 cũng đã quy định về nội dung này nhưng chỉ nêu một yếu tố về: “Trong trường hợp việc trả lời được chuyển qua bưu điện, thời điểm trả lời là ngày gửi đi theo dấu của bưu điện” Nếu thư bưu điện đến muộn hơn so với thời gian ấn định mà bên đề nghị đã chuyển giao kết sang người thứ ba thì bên được đề nghị giao kết có quyền yêu cầu bồi thường hay không Quy định này không phù hợp với thực tiễn hiện nay Do đó, BLDS năm 2005 đã đưa ra nhiều tình huống cho việc trả lời muộn và giải quyết hệ quả của nó như sau:
Nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng không biết hoặc không buộc phải biết về
lý do khách quan đã xảy ra thì thông báo chấp nhận không có giá trị
Nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng biết hoặc phải biết về lý do khách quan
đã xảy ra, thông báo chấp nhận vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không chấp nhận đề nghị đó BLDS Pháp quy định về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị như sau: Bên đưa ra lời đề nghị có thể lựa chọn thời hạn cho phép bên nhận lời đề nghị suy nghĩ và trả lời chấp nhận hoặc từ chối giao kết hợp đồng Việc đặt ra thời hạn trong lời đề nghị giao kết hợp đồng ràng buộc trách nhiệm của chính bên đưa ra đề nghị, bên đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng không có quyền rút lại lời hứa trong thời hạn có hiệu lực Bên đưa ra lời đề nghị giao kết có quyền rút lại lời đề nghị trong trường hợp lời đề nghị gửi chưa gửi đến bên nhận đề nghị giao
trong BLDS Việt Nam năm 2005 cũng mang “bản sắc” của BLDS Pháp nhưng chủ
32
Trần Lê Đăng Phương, tlđd 15, tr.197
Trang 37thể đưa ra thời hạn trong BLDS Việt Nam năm 2005 lại là chính người đưa ra lời đề nghị giao kết
1.3.3 Nội dung trả chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự
Để nội dung trả lời chấp giao kết hợp đồng có hiệu lực, người chấp nhận giao kết hợp đồng phải đảm bảo các điều kiện của một chủ thể được quy định trong phần chung BLDS năm 2005 như năng lực hành vi dân sự, độ tuổi… Người chấp nhận đề nghị (người được đề nghị) có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân: cá nhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên gọi, trụ sở và quốc tịch Nếu việc giao kết với một chủ thể xác định thì chủ thể đó có thể trực triếp trả lời hoặc thông qua người khác có sự ủy quyền Các cá nhân chủ thể không có tư cách pháp lý khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng hoặc không được pháp luật cho phép thì cũng không thể trả lời chấp nhận
vì hợp đồng có thể bị vô hiệu hoặc không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên33 Ví dụ: Người nước ngoài không được phép thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất Đây là điều kiện bắt buộc của chấp nhận giao kết hợp
Mặc dù vậy, các trường hợp được quy định tại Điều 398 BLDS năm 2005 thì
lời đề nghị giao kết hợp đồng vẫn còn hiệu lực: “Trong trường hợp bên đề nghị
giao kết chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng đó vẫn
có giá trị” Đây là quy định mới đưa vào BLDS năm 2005 so với BLDS năm 1995
và Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 Qua Điều luật có thể suy luận nếu bên đề nghị giao kết là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự trước thời điểm bên được đề nghị chưa trả lời chấp nhận thì hiệu lực của lời đề nghị coi như chấm dứt
Do đó không phát sinh việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ này cho người thừa kế hay đại diện hợp pháp của họ được Nếu bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành
vi dân sự sau khi thời đểm thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng được gửi đi hợp
lệ thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp trong đề nghị giao kết hợp đồng có ra điều kiện đó và điều kiện đó được thông báo cho bên được đề
Trang 38nghị theo nguyên tắc chung35 Điều này có thể xảy ra trong lời đề nghị giao kết hợp đồng mà các bên thỏa thuận rằng nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong mọi trường hợp Đây là điều kiện mà chúng ta hiếm khi gặp ở Việt Nam vì thói quen phong tục tập quán và quan điểm duy tâm Quy chiếu theo nguyên tắc chung về tự do, tự nguyện thảo thuận cam kết trong dân sự nếu một chủ thể còn lại trong giao kết hợp đồng mà không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc chết, bên còn lại chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị giao kết thì có thể thỏa thuận với những hàng thừa kế quyền và nghĩa vụ hoặc người đại diện hợp pháp để hợp đồng được thực hiện Tuy nhiên, các Điều 398 và Điều 399 BLDS năm 2005 theo quan điểm của tác giả không mang tính thực thi trong tiễn mặc dù giao kết hợp đồng là sự “khởi đầu” và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là cầu nối trung gian giữa việc giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng nhưng một khi một trong các chủ thể đã “vi phạm” những quy định định chung về chủ thể như bị chết hoặc mất năng lực hành vi dân
sự thì lời đề nghị đó vẫn có giá trị thì hợp đồng được thực hiện với ai? Ai sẽ là người trực tiếp ký kết hợp đồng? Vì vậy, nên giải quyết như trường hợp hợp đồng không thể giao kết được do trở ngại khách quan như trường hợp hợp đồng không thể giao kết được do trở ngại khách quan
Bên cạnh việc người đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật cũng dự trù thêm cho trường hợp người được đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn còn giá trị (Điều 399 BLDS năm 2005) Cũng giống như quy định tại Điều 398 BLDS năm 2005 được nêu bên trên nên tác giả không phân tích sâu hơn nữa Trong trường hợp chủ thể đó tự mình xác lập giao kết thì không thực hiện tiếp bước thực hiện hợp đồng thì hợp đồng sẽ chấm dứt sự ràng buộc đối với bên đề nghị giao kết hợp đồng
Sự trả lời thể hiện đồng ý toàn bộ nội dung của lời đề nghị giao kết hợp đồng dân sự là mang tính bắt buộc vì bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể trong hợp đồng mà sự chấp nhận đề nghị giao kết là mặt còn lại của sự thống nhất ý chí Không phải bất cứ câu trả lời nào đều được coi là
35
Trường Đại học luật TP HCM, tlđd 14, tr.233
Trang 39chấp nhận giao kết hợp đồng và sự chấp thuận của người được đề nghị chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện các nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng Một khi bên được đề nghị có sửa đổi hay bổ sung đề nghị thì không được coi là sự trả lời hợp lệ
và xem như người này đưa đưa ra đề nghị mới (Điều 395 BLDS năm 2005 – Sửa đổi đề nghị do bên đề nghị đề xuất) Chấp nhận giao kết hợp đồng không là hình ảnh của đề nghị giao kết hợp đồng thì không được xem là chấp nhận giao kết hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận và chấp nhận này trở thành lời đề nghị giao kết
nhận giao kết hợp đồng đúng yêu cầu thì hợp đồng sẽ được coi là đã giao kết
Quy định này cũng phù hợp với Điều 528 BLDS Nhật Bản là sự chấp thuận kèm theo sự thay đổi trong nội dung hợp đồng Bời vì sự chấp thuận phải phù hợp với nội dung của đề nghị, cho nên việc đưa vào đề nghị các điều kiện bổ sung hoặc hay đổi không dẫn đến việc giao kết hợp đồng Đối với các trường hợp đó, BLDS
đây là điểm khác biệt giữa BLDS năm 2005 và CISG, PICC bởi vì quy định của các nước này mang tính mềm dẻo và linh hoạt hơn nhằm tạo điều kiện cho hợp đồng được thực hiện nhanh hơn và có hiệu quả hơn Cụ thể tại khoản 2 Điều 2.1.11 của
PICC: “Nếu câu trả lời với mong muốn chấp nhận kèm theo những chi tiết bổ sung
hoặc khác biệt mà không làm thay đổi cơ bản các điều khoản của đề nghị được coi
là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ khi bên đề nghị ngay lập tức bác
bỏ những chi tiết bổ sung hay sửa đổi này Nếu bên đề nghị không phản đối, các điều khoản của hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng
và những sửa đổi, bổ sung đưa ra trong chấp nhận” Theo quy định tại Điều 19 của
CISG: “1 Một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa
đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá 2 Tuy nhiên một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì coi như là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Nếu người chào hàng
Trang 40không làm như vậy thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng”
Nguyên tắc này có điểm tương đồng với Luật thương mại năm 1997 – Điều
52 nhưng khi BLDS năm 2005 áp dụng phạm vi điều chỉnh cho cả quan hệ thương mại thì quy định BLDS năm 2005 được thống nhất áp dụng và Luật thương mại năm 2005 đã bãi bỏ Điều này, không đưa ra quy định chung về hợp đồng nữa Như vậy, việc trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng
1.3.4 Hình thức trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự
Để có một chấp nhận đề nghị giao kết, bên được đề nghị bằng cách nào đó phải thể hiện sự chấp nhận Hình thức của chấp nhận giao kết hợp đồng có sự độc lập tương đối với hình thức của hợp đồng Trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng phải được thể hiện một hình thức xác định (Điều 401 và khoản 2 Điều 404 BLDS năm 2005) Hình thức trả lời có thể bằng lời nói, văn bản, bằng hành vi cụ thể
Việc trả chấp nhận giao kết bằng lời nói thường là bên trả lời chấp nhận gặp
gỡ với bên đề nghị giao kết trao đổi trực tiếp bằng lời nói để đi đến sự đồng ý toàn
bộ nội dung mà bên đề nghị đưa ra Các bên tham gia giao kết hợp đồng có thể trực tiếp thực hiện giao kết thông qua lời nói với điều kiện, lời nói đó bao hàm đầy đủ nội dung của hợp đồng dân sự được giao kết, các bên đã thỏa thuận và nhất trí về nội dung hợp đồng này Khi đó bên được đề nghị giao kết phải trả lời ngay lời đề nghị trừ trường hợp các bên có thỏa thuận thời hạn trả lời chấp nhận hay không chấp nhận giao kết Các bên trao đổi với nhau bằng lời nói một cách trực tiếp thì được coi là giao kết trực tiếp hay là giao kết với người có mặt
Trả lời chấp nhận giao kết bằng văn bản có 02 loại: Văn bản thông thường và văn bản có công chứng, chứng thực Trả lời chấp nhận đề nghị giao kết bằng văn bản thông thường là việc trả lời nội dung của việc trả lời chấp nhận toàn bộ nội dung lời đề nghị được ghi trên một bản viết giấy hoặc đánh máy, cuối văn bản có chữ ký của bên được đề nghị, nếu không biết chữ thì có thể điểm chỉ vào văn bản Trả lời chấp nhận giao kết bằng văn bản phải tuân theo hình thức có công chứng, chứng thực cụ thể như trong các giao dịch có ủy quyền (khoản 2 Điều 142 BLDS năm 2005), bảo lãnh (Điều 362 BLDS năm 2005), thế chấp tài sản (Điều 343 BLDS năm 2005)… Cũng như đề nghị giao kết hợp đồng, trả lời chấp nhận giao kết hợp