1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các quy định về hôn nhân và gia đình trong hoàng việt luật lệ bài học kinh nghiệm bai hoc kinh nghiem

78 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Quy Định Về Hôn Nhân Và Gia Đình Trong Hoàng Việt Luật Lệ. Bài Học Kinh Nghiệm
Tác giả Nguyễn Thị Yến
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Hoàng Việt
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  Về đối tượng nghiên cứu: Pháp luật nhà Nguyễn thế kỷ XIX điều chỉnh khá nhiều mối quan hệ cơ bản trong xã hội như hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -

NGUYỄN THỊ YẾN MSSV: 0855040221

CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2008 – 2012

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ HOÀNG VIỆT

Giảng viên khoa: Luật Hành chính

TP Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -

NGUYỄN THỊ YẾN MSSV: 0855040221

CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG HOÀNG VIỆT LUẬT LỆ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2008 – 2012

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ HOÀNG VIỆT

Giảng viên khoa: Luật Hành chính

TP Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN - -

Gia đình, thầy cô và bạn bè là những người đã luôn quan tâm, giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Tác giả xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc tới:

 Thạc sĩ Hoàng Việt – người thầy đã tận tình hướng dẫn, cung cấp tài liệu để tác giả hoàn thiện khóa luận

 Gia đình và bạn bè đã luôn tạo những điều kiện tốt nhất cho tác giả trong suốt quá trình viết khóa luận

 Thư viện Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Đại học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh – nơi cung cấp các tài liệu tham khảo quan trọng cho tác giả

Đây là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của tác giả Do kiến thức còn hạn chế và kinh nghiệm chưa nhiều nên khóa luận khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tác giả mong được sự góp ý của quý thầy cô

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: HÔN NHÂN 1

1.1 Sự kết lập hôn nhân 1

1.1.1 Điều kiện về nội dung 1

1.1.1.1 Các điều kiện thuộc về gia đình 2

1.1.1.2 Các điều kiện thuộc về người kết hôn 3

1.1.1.3 Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn 8

1.1.2 Điều kiện về hình thức 13

1.1.2.1 Lễ đính hôn 14

1.1.2.2 Lễ thành hôn 16

1.2 Sự chấm dứt hôn nhân 17

1.2.1 Ly hôn 17

1.2.2 Chấm dứt hôn nhân do một người chết trước 26

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIA ĐÌNH 27

2.1 Quan hệ vợ chồng 27

2.1.1 Quan hệ nhân thân 27

2.1.1.1 Quan hệ nhân thân khi hôn nhân chưa chấm dứt 27

2.1.1.2 Quan hệ nhân thân khi hôn nhân chấm dứt 34

2.1.2 Quan hệ tài sản 35

2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con 36

2.2.1 Quan hệ nhân thân 38

2.2.1.1 Cha mẹ đối với con cái 38

2.2.1.2 Con cái đối với cha mẹ 39

2.2.2 Quan hệ tài sản 42

2.2.2.1 Khi cha mẹ còn sống 42

2.2.2.2 Khi cha mẹ đã chết 43

2.3 Các mối quan hệ khác trong gia đình 47

Trang 5

2.3.1 Quan hệ giữa các thành viên và tôn trưởng 47

2.3.2 Quan hệ giữa cha mẹ vợ và con rể 49

2.3.3 Quan hệ giữa vợ cả và vợ lẽ 51

CHƯƠNG 3: BÀI HỌC KINH NGHIỆM 53

3.1 Đánh giá các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ 53

3.1.1 Tính độc lập của các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ 53

3.1.2 Tính nhân văn của các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng việt luật lệ 59

3.1.2.1 Trong hôn nhân, quyền lợi của cá nhân người kết hôn được đặt bên cạnh lợi ích chung của gia đình 59

3.1.2.2 Trong quan hệ gia đình, quyền lợi của mỗi thành viên được tôn trọng và bảo vệ 62

3.2 Kế thừa và phát triển những giá trị tích cực của các quy định hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ vào pháp luật hôn nhân và gia đình ngày nay 66

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình từ ngàn đời xưa đã được xem là nền tảng của xã hội Gia đình có bền vững, nền tảng xã hội mới ổn định và phát triển Ngược lại, gia đình lỏng lẻo, không đảm đương tốt vai trò của mình thì xã hội sẽ có nguy cơ xáo động, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất và tinh thần của mỗi cá nhân Vì thế, gia đình đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong xã hội thời xưa và nhất là trong thời đại hiện nay Muốn xây dựng đất nước tốt không thể không quan tâm đến việc duy trì các mối quan hệ gia đình cũng như bảo tồn các giá trị truyền thống trong đó

Từ khi giành được nền độc lập dân tộc khép lại hơn một ngàn năm Bắc thuộc, các triều đại phong kiến Việt Nam ngày càng quan tâm đến pháp luật nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng Nhà Nguyễn – triều đại cuối cùng của chế độ quân chủ chuyên chế ở nước ta đã tiếp nối và phát triển những thành tựu của các triều đại đi trước; giải quyết những mâu thuẫn nội bộ sau gần ba thế kỷ nội chiến đồng thời đối diện trực tiếp với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây Gia Long là vị vua đầu tiên của triều đại Trải qua 13 đời vua, tồn tại khoảng 143 năm từ năm 1802 đến năm 1945, nhà Nguyễn đã để lại nhiều dấu ấn cho lịch sử nước nhà Về pháp luật có Hoàng Việt luật lệ (còn gọi là Luật Gia Long) được xem là một trong hai Bộ luật điển hình của chế độ phong kiến Việt Nam Hoàng Việt luật lệ bắt đầu được biên soạn vào năm 1811 đến năm 1813 thì chính thức có hiệu lực, gồm 398 điều luật

và được trình bày trong 22 quyển “Có thể nói, đây là bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh của nền cổ luật Việt Nam” [23-tr.7] Bộ luật đã chứa đựng khá nhiều quy định điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có quan

hệ hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực thì pháp luật nhà Nguyễn nói chung và Hoàng Việt luật lệ nói riêng bị phê phán rất nặng

nề, thậm chí một số nhà nghiên cứu đã phủ nhận, đánh đồng tất cả những giá trị hợp lý, những nét riêng của Bộ luật Các quy định về hôn nhân và gia đình là

Trang 7

một trong những vấn đề bị chỉ trích nhiều và nặng nề nhất Như lời nhận định của Giáo sư Vũ Văn Mẫu: “Điều khổ tâm nhất là bộ luật ấy mất hết cá tính đặc thù của nền pháp luật Việt Nam Bao nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê, không còn lưu lại một chút dấu tích nào trong bộ luật nhà Nguyễn như những điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện của giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng” [16-tr.153] Hay lời nhận định của Luật gia Đinh Gia Trinh: “Nền pháp luật của triều đại Nguyễn ở thế kỷ XIX, và đặc biệt là bộ luật Gia Long, có một đặc điểm đáng chú ý, đó là tính chất phản động… thủ tiêu những chế định tương đối tiến bộ của pháp luật thời Hồng Đức trong phạm vi luật gia đình và dân sự” [25-tr.288-289] Việc nhìn nhận về pháp luật hôn nhân gia đình nhà Nguyễn giữa các nhà nghiên cứu đã có một khoảng cách Vì vậy, vấn đề đặt ra là pháp luật nhà Nguyễn nói chung và pháp luật hôn nhân và gia đình nhà Nguyễn nói riêng cần phải được nghiên cứu hơn nữa để đưa ra những sự đánh giá khách quan, đúng đắn Trên cơ sở đó, chắt lọc kế thừa giá trị tích cực, góp phần định hướng trong việc xây dựng pháp luật hôn nhân và gia đình ngày nay với quan niệm: tìm trong vốn cổ những giá trị hợp lý để kế thừa và phát triển

Như bao triều đại phong kiến nước ta trước đây, triều Nguyễn được thành lập, phát triển và lụi tàn theo nhịp hưng phế của dòng chảy lịch sử dân tộc Tuy nhiên, sự đánh giá đối với vương triều này chưa thực sự thống nhất Có quan điểm cho rằng nhờ có nhà Nguyễn nên nước ta mới có được một đất nước rộng lớn và hoàn chỉnh như ngày nay, cũng có ý kiến lên án nhà Nguyễn là một triều đại “bán nước” Vì vậy, qua việc tìm hiểu các quy định hôn nhân gia đình trong Hoàng Việt luật lệ, tuy chỉ là một khía cạnh nhỏ trong lịch sử nhà Nguyễn nhưng tác giả cũng mong muốn được đóng góp vào cách nhìn tích cực về triều đại này Đồng thời hiểu thêm về con người, về cuộc sống của ông cha ta thời xưa Với thế hệ trẻ ngày nay trong thời đại hội nhập với rất nhiều nền văn hóa khác nhau trên Thế giới, việc nhìn lại lịch sử nước nhà để giữ gìn và phát huy

Trang 8

bản sắc dân tộc là điều hết sức cần thiết Điều đó giúp chúng ta hòa nhập chứ không hòa tan và không mất đi cái gốc của dân tộc mình

Xuất phát từ những mục tiêu đó, tác giả chọn đề tài “Các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ Bài học kinh nghiệm” để làm khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật tại trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, niên khóa 2008-2012

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm những mục đích cơ bản sau:

 Thứ nhất, làm sáng tỏ một cách có hệ thống các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ;

 Thứ hai, đánh giá về các quy định về hôn nhân và gia đình trong Bộ luật;

từ đó khẳng định những giá trị tích cực để tiếp tục kế thừa và phát huy trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt nam hiện nay

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

 Về đối tượng nghiên cứu: Pháp luật nhà Nguyễn thế kỷ XIX điều chỉnh khá nhiều mối quan hệ cơ bản trong xã hội như hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, tố tụng… Tuy nhiên, trong giới hạn của đề tài, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định về hôn nhân và gia đình;

từ đó nhận diện những điểm hạn chế cần loại bỏ cũng như khẳng định những giá trị của nền cổ luật này để tiếp tục kế thừa và phát triển hơn nữa trong pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta hiện nay

 Về phạm vi nghiên cứu: Thành tựu của hoạt động xây dựng pháp luật nhà Nguyễn thế kỷ XIX không chỉ là về mặt nội dung mà còn được thể hiện khá đa dạng về hình thức pháp luật với các tên gọi khác nhau như bộ luật, lệnh, lệ, chiếu, sắc, dụ, chỉ, sách Nhưng để hoàn thiện đề tài tác giả chỉ nghiên cứu các quy định trong Hoàng Việt luật lệ được biên soạn dưới

Trang 9

thời vua Gia Long – một thành tựu pháp luật điển hình của nhà Nguyễn thế kỷ XIX

Ngoài ra, để đánh giá một cách khách quan hơn đối với pháp luật nhà Nguyễn, trong khả năng có thể tác giả sẽ chú ý so sánh Hoàng Việt luật lệ với Quốc triều hình luật (hay Bộ luật Hồng Đức) nhà Lê thế kỷ XV và với pháp luật hôn nhân – gia đình nước ta ngày nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :

 Phương pháp duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

5 Cơ cấu của đề tài

 Mục lục

 Lời nói đầu

 Phần nội dung chính gồm 3 chương:

 Chương 1: Hôn nhân

 Chương 2: Quan hệ gia đình

 Chương 3: Bài học kinh nghiệm

Trang 10

 Phần kết luận

 Phần danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

CHƯƠNG 1: HÔN NHÂN

Hôn nhân là một nội dung cơ bản của các quy định về hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ Bộ luật không đưa ra định nghĩa về hôn nhân nhưng để cho quá trình tìm hiểu được dễ dàng hơn, ta có thể hiểu hôn nhân dưới thời Nguyễn là thuật ngữ chỉ mối quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã thỏa mãn đầy

đủ các điều kiện kết hôn Cách hiểu này có phần giống với khái niệm hôn nhân trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 Điều 8 khoản 6 quy định:

“Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [2-tr.12] Nhưng hôn nhân dưới thời Nguyễn, bên cạnh các đặc điểm chung của hôn nhân phong kiến còn có những nét riêng đầy thú vị phản ánh đời sống xã hội của ông cha ta thế kỷ XIX

Những đặc điểm đó trước hết được thể hiện qua việc thiết lập và chấm dứt hôn nhân

1.1 Sự kết lập hôn nhân

Kết hôn là sự mở màng quan trọng của trai gái đồng thời là sự kiện thiết lập quan hệ thông gia giữa hai dòng họ với nhau Thông qua một số quy định về điều kiện kết hôn trong Hoàng Việt luật lệ (các Điều 94, 96, 98, 100, 101, 108,109…) và đặc điểm hôn nhân dưới thời Nguyễn, ta có thể hiểu kết hôn là sự phối hợp giữa người con trai và người con gái, được gia đình hai bên và pháp luật cho phép với mục đích chính là sinh con nối dõi tông đường, thờ phụng tổ tiên

Để quan hệ hôn nhân hợp pháp và bền vững thì ngay từ ban đầu việc kết hôn phải thỏa mãn các điều kiện về nội dung cũng như các điều kiện về hình thức

1.1.1 Điều kiện về nội dung

Bao gồm: Điều kiện thuộc về gia đình hai bên trai gái, điều kiện thuộc về trai gái và không thuộc trường hợp cấm kết hôn

Trang 12

1.1.1.1 Các điều kiện thuộc về gia đình

Giống như các triều đại phong kiến trước đây, thời nhà Nguyễn quan niệm hôn nhân trước hết là sự liên hệ đến nền tảng của hai gia đình: “Theo cổ luật và tục lệ, sự cưới xin là sự thỏa hiệp giữa gia đình hai bên nhiều hơn là các người phối ngẫu vị lai” [11-tr.23] Vì vậy, các điều kiện thuộc về gia đình được đặt ra trước tiên đối với một cuộc hôn nhân hợp pháp

 Sự đồng ý của hai bên gia đình

Trong những quy định về việc kết hôn của trai gái, nhà làm luật luôn nhắc đến các thuật ngữ “nhà trai”, “nhà gái”, hoặc “hai nhà” để thể hiện việc quyết định hôn sự không phải chỉ là chuyện riêng của trai gái mà còn là sự kiện quan trọng của gia đình Ví dụ trong Điều 94 với tựa đề “Nam nữ hôn nhân” có quy định: “Phàm trai gái định chuyện cưới nhau phải không bị tàn tật, bịnh hoạn, già trẻ so le, là con dòng nhánh con nuôi, con cùng tông xin nuôi khác họ, hai nhà cần nói rõ ra để đôi bên thỏa sự mong cầu Nếu người xin cưới mà nhà gái mạo nhận, chủ hôn bị phạt 80 trượng Như nhà gái có đứa tàn tật, khi coi mặt thì mạo trá chị em ra, khi cưới lại đưa con gái tật nguyền ra làm thành vợ chồng, truy thu

lễ vật trả cho nhà trai” [6-tr.315] Phần giải thích của Điều này cũng có nói:

“Trai gái cưới nhau thì hai nhà phải chấp nhận Người bịnh tật [thì chẳng phải người hoàn toàn], già trẻ tuổi không xứng nhau; đó là đều không phải là điều ước mong của mọi người” [6-tr.316]

Như vậy, sự ưng thuận của gia đình hai bên là điều kiện cần thiết của hôn nhân Các bậc bề trên trong gia đình như ông bà, cha mẹ, bác, chú hoặc người tôn trưởng sẽ là người quyết định Vì những người này thường lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống gia đình Họ có thể lựa chọn ra người dâu rể phù hợp với gia đình để đạt được mục đích chính của hôn nhân là sinh con nối dõi, thờ phụng gia tiên

 Phải có chủ hôn

Trang 13

Việc cưới gả của trai gái cần phải có người đứng ra làm chủ hôn Chủ hôn thường là người đã ưng thuận việc kết hôn, là người có uy tín trong gia đình như ông bà, cha mẹ hay người tôn trưởng Điều 94 lệ 1 quy định: “Cưới gả đều do ông bà cha mẹ đứng làm chủ hôn Nếu không có ông bà cha mẹ thì do những người thân thuộc khác làm chủ hôn Con gái đến tuổi lấy chồng mà cha đã chết thì mẹ làm chủ hôn” [6-tr.319] Phần giải thích của Điều 109 cũng khẳng định vai trò của chủ hôn đối với việc cưới gả: “Hôn nhân ắt phải có chủ hôn Nếu ông

bà chủ hôn cho cháu, cha mẹ chủ hôn cho con, anh cho em, chị cho em hay ông

bà ngoại làm cho cháu ngoại, đó là phận tôn trọng hôn nhân bởi sự chuyên chế,

bề dưới không thể không nghe theo” [6-tr.348]

Khác với người mai mối, chủ hôn nhà trai và chủ hôn nhà gái sẽ phải chịu trách nhiệm trước gia đình thông gia và trước pháp luật về các vấn đề như thông tin liên quan đến trai gái, việc hối hôn cũng như vấn đề cưới gả trái luật Đối với việc hối hôn, chủ hôn nhà trai hoặc nhà gái sẽ bị phạt 50 roi nếu đã hứa gả mà nhà trai hoặc nhà gái đổi ý không gả nữa; phạt 70 trượng nếu hứa gả tiếp cho người khác; phạt 80 trượng nếu đã thành hôn với một người khác [6-tr.315] Chủ hôn cũng phải chịu trách nhiệm trong việc cưới gả trái luật Điều 109 quy định: “Phàm cưới gả sái luật, nếu do ông bà cha mẹ, bác, thím, cô, huynh đệ và ông bà ngoại của đôi trai gái, đứng chủ hôn thì tội sái luật chỉ buộc vào chủ hôn, trai gái không tội” [6-tr.347]

1.1.1.2 Các điều kiện thuộc về người kết hôn

 Điều kiện về độ tuổi

Trước nhà Nguyễn, độ tuổi của người kết hôn thường để cho gia đình tự quyết định hoặc dựa vào phong tục tập quán để điều chỉnh Nhưng đến thời Nguyễn điều kiện này đã được quy định minh thị trong luật tại Điều 94 lệ 2 Hoàng Việt luật lệ: “Hôn nhân trai gái đều có định ngày cả, có kẻ chỉ bụng cắt

áo đơn cho là thành thân, cái đó cấm hoàn toàn” [6-tr.319] Theo tinh thần của quy định trên thì việc nam nữ kết hôn khi còn quá nhỏ sẽ bị cấm Vì về phương diện sinh lý hai bên không thể thực hiện được chức năng làm cha làm mẹ, từ đó

Trang 14

không đảm bảo được mục đích của hôn nhân Hoặc việc quyết định cưới gả giữa hai gia đình khi con cái còn đang trong bào thai cũng bị cấm hoàn toàn Mặc dù không xác định cụ thể về độ tuổi nhưng đây là một quy định tiến bộ của pháp luật nhà Nguyễn nhằm hạn chế nạn tảo hôn và vẫn được duy trì, phát triển trong pháp luật ngày nay Là một trong các điều kiện kết hôn theo khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000: “Nam từ hai mươi tuổi trở lên,

nữ từ mười tám tuổi trở lên” [2-tr.14]

Ngoài ra, kết hôn giữa những người có sự chênh lệch lớn về độ tuổi cũng được các nhà lập pháp cân nhắc đến: “… già trẻ tuổi không xứng nhau; đó là đều không phải là điều ước mong của mọi người” [6-tr.316], hai gia đình cần phải nói rõ cho nhau biết Độ tuổi nam nữ cách nhau quá xa không những ảnh hưởng đến việc sinh con cái mà sâu xa còn ảnh hưởng đến hạnh phúc của cá nhân những người kết hôn Nếu có sự giấu giếm, lừa dối sẽ phải gánh chịu chế tài: “Nhà gái phạt 80 trượng, nhà trai tăng thêm 1 bực” [6-tr.318]

Như vậy, bên cạnh quy định về điều kiện độ tuổi kết hôn, Bộ luật cũng đã

có những quy định hạn chế việc “già trẻ so le” lấy nhau Cũng là để mong muốn cho cuộc sống hôn nhân gia đình được tốt đẹp hơn

 Điều kiện về sức khỏe và thân thế

Việc cưới gả con cháu cho một người bệnh tật cũng là điều không mong muốn trong gia đình và dòng họ, nhất là đối với nhà trai Bởi lấy người bị các tật bệnh hiểm nghèo thì trước hết không đảm đương được chức năng sinh con nối dõi, làm tròn chữ hiếu với tổ tông; sau nữa là không thể lao động tốt để đóng góp vào việc duy trì cuộc sống của gia đình Không hoàn toàn cấm tuyệt đối việc kết hôn của những người bệnh tật, Bộ luật chỉ ấn định điều kiện mang tính chất hạn chế Điều 94 quy định: “Phạm ban đầu trai gái định chuyện cưới nhau phải không bị tàn tật, bịnh hoạn… hai nhà cần nói rõ để đôi bên thỏa sự mong cầu Nếu không bằng lòng thì đình lại Nếu bằng lòng thì lập hôn thư ngắn gọn,

y lễ mà cưới gả” [6-tr.315] Ngoài ra, thân thế địa vị của trai gái trong gia đình cũng cần được làm rõ để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi và danh dự của

Trang 15

hai nhà Điều 94 quy định: “… là con dòng nhánh con nuôi, con cùng tông xin nuôi khác họ, hai nhà cần nói rõ để đôi bên thỏa sự mong cầu” [6-tr.315]

Vì thế, trước khi kết thành thông gia hai gia đình cần phải nói rõ cho nhau biết, không được phép giấu giếm tình trạng bệnh tật cũng như thân thế của người kết hôn Nếu không thông báo hoặc có hành vi đánh tráo sẽ bị coi là lừa dối, “mạo nhận” và sẽ phải chịu chế tài Điều 94 quy định: “Nếu người xin cưới

mà nhà gái mạo nhận, chủ hôn bị phạt 80 trượng Như nhà gái có đứa tàn tật, khi

ra mặt thì mạo trá chị em ra, khi cưới lại đưa con gái tật nguyền ra làm thành vợ chồng, truy thu lễ vật trả lại cho nhà trai Nhà trai mạo nhận thì tăng thêm một bực, nghĩa là không phải chính người con trai ấy mà là người con trai có tật nguyền, nhưng khi coi mặt thì mạo trá anh hoặc em ra, như vậy là không ứng đúng nguyện vọng của hôn nhân, không trả lễ vật” [6-tr.315-316] Ở đây, nhà lập pháp chỉ đưa ra một ví dụ về trường hợp “mạo nhận”; ngoài ra, phạm vi của hành vi “mạo nhận” không chỉ bó hẹp ở trường hợp trên mà còn có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nữa: “Mạo nhận là giả mạo, lừa dối người ta; chuyện giả mạo bất nhất, lời chú chỉ nêu 1, 2 điều để làm luật lệ thôi Ngoài những điều ấy phải suy ra, không ắt như lời chú nói” [6-tr.318] Ví dụ quy định tại Điều 107: “Nếu mạo láo nô tỳ là lương nhân, cùng lương nhân làm chồng vợ thì phạt 90 trượng Mạo láo bởi gia trưởng thì bắt tội gia trưởng, bởi nô tỳ thì bắt tội nô tỳ Phải li dị cải chính, nghĩa là người con gái bị nhập tịch làm nô phải sửa lại là lương nhân mới được” [6-tr.342] Đây là trường hợp nói dối nô tỳ là người sang để được kết hôn với dân lành

Nhà gái mà gian dối thì phạt 80 trượng, còn nhà trai thì tăng thêm một bực Chế tài này có phần ưu ái hơn cho nhà gái Bởi: “Nhà gái dù mạo nhận, người con trai vẫn có thể lấy vợ Trái lại, nhà trai mạo nhận thì nhà gái đã thất thân, sự việc càng thêm trầm trọng” [6-tr.318] Nếu chưa thành hôn thì được phép tiến hành hôn nhân với người con trai, con gái không bị ác tật hay có thân thế như lúc ra coi mắt: “Chưa thành hôn thì vẫn y như nguyên định là [chỗ trá ngụy về] không tật bệnh của anh em, chị em con ruột của cha mẹ là người cưới vợ” [6-

Trang 16

tr.316] Còn đã thành hôn rồi thì ly dị, nhưng đối với nhà gái thì luật không bắt buộc phải ly dị mà cho phép nhà gái lựa chọn: “Nếu người con gái không muốn lấy chồng khác thì cũng được khỏi li dị” [6-tr.319] Quy định này đã cân nhắc đến quyền lợi của người con gái, bởi chữ trinh tiết của người con gái thời phong kiến đặc biệt quan trọng

 Điều kiện về ý chí

Bên cạnh điều kiện quan trọng là sự ưng thuận của gia đình thì ý chí của người kết hôn cũng được tôn trọng trong một số trường hợp:

Trường hợp người kết lập hôn nhân không còn ông bà, cha mẹ, bác, thím,

cô, anh chị em, và ông bà ngoại mà chỉ còn bà con xa thì họ có thể tự đứng ra quyết định hôn sự của mình Bà con xa là những người thân thuộc khác như

“những bà con ti ấu, đại công trở xuống, tôn trưởng” [6-tr.347] Ví dụ anh chị họ của người kết hôn, hay ông bà là anh em ruột của ông bà nội của người kết hôn Nếu có “cưới gả sái luật” thì bà con xa chỉ là đồng phạm còn trai gái kết hôn là chủ mưu Điều 109 quy định: “Việc do chủ hôn thì người ấy là thủ, trai gái là tòng, được giảm 1 bực Việc do trai gái thì họ là thủ, chủ hôn là tòng” [6-tr.347] Trường hợp phải đi làm xa nhà thì con cái có thể kết hôn mà không cần sự đồng ý của gia đình Điều kiện lãnh thổ của nước ta thời các vua Nguyễn rất rộng lớn [13-tr.325] nên việc đi lại khó khăn; để thuận tiện hơn, họ thường phải

ở lại chỗ làm tùy vào tính chất của từng công việc Điều 94 quy định: “Nếu ty

ấu, quan, hoặc người đi buôn bán ngoài xa mà ở nhà ông bà, cha mẹ, chú bác,

cô, anh chị (từ sau khi ty ấu ra đi) đã đính hôn mà ty ấu không biết, nên đã tự ý lấy vợ rồi, nhưng phải cưới người vợ này Người nữ kia cho phép lấy chồng khác Còn nếu như chưa cưới vợ thì theo chỗ định của tôn trưởng, người nữ kia

tự định lấy chồng khác” [6-tr.316] Hôn nhân do người ti ấu cử hành trước sẽ được coi trọng hơn sự quyết định của tôn trưởng Quy định này một mặt tôn trọng ý chí của chủ thể kết hôn, mặt khác phần nào hướng đến việc duy trì sự ổn định của hôn nhân

Trang 17

Trường hợp chồng chết, sau khi mãn tang, người vợ không cải giá mà nguyện thủ chí với chồng Điều 98 quy định: “Mãn tang phục chồng mà thê thiếp quả có nguyện thủ chí mà bị ép bởi ông bà cha mẹ và ông bà cha mẹ nhà chồng thì phạt 80 trượng Trong vòng thân thuộc thì tăng 1 bực, đại công trở xuống lại tăng 1 bực Người đàn bà và người cưới đều không có tội Nếu chưa thành hôn thì đưa về nhà chồng cũ, cho phép được thủ chí mình, thu lại tiền cưới Còn như đã thành hôn rồi thì cho về đoàn tụ, tiền cưới cho vào quan” [6-tr.324] Quy định này đã tôn trọng và bảo vệ ý kiến của người quả phụ, không ai được quyền ép buộc họ, ngay cả khi đó là ông bà, cha mẹ đẻ Trước đây, pháp luật nhà Lê sơ cũng có quy định về vấn đề này nhưng không cấm đối với ông bà, cha mẹ của người quả phụ đó Điều 320 Quốc triều hình luật quy định: “Tang chồng đã hết mà người vợ muốn thủ tiết, nếu ai không phải là ông bà cha mẹ mà

ép gả cho người khác, thì xử biếm ba tư và bắt phải li dị; người đàn bà phải trả

về chồng cũ; người đàn ông lấy [người đàn bà ấy] thì không phải tội” [3-tr.130] Như vậy, so với Quốc triều hình luật thì quy định trên của pháp luật nhà Nguyễn mức độ tôn trọng quyền tự do cá nhân của người quả phụ cao hơn

Với điều kiện ý chí của những người kết hôn cho thấy lợi ích của cá nhân

đã được nhà lập pháp thời Nguyễn xem trọng và đặt bên cạnh lợi ích chung của đại gia đình

1.1.1.3 Không thuộc các trường hợp cấm kết hôn

Căn cứ vào tính chất của sự cấm đoán có thể chia các trường hợp cấm kết hôn thành 2 nhóm: cấm tương đối và cấm tuyệt đối Các trường hợp kết hôn thuộc nhóm cấm tương đối thì không bắt buộc phải ly dị nhưng phải chịu chế tài Còn các trường hợp thuộc nhóm cấm tuyệt đối thì bắt buộc phải ly dị đồng thời phải chịu cả chế tài

 Nhóm thứ nhất: cấm tương đối

 Kết hôn khi gia đình đang có tang

Gia đình có tang là một chuyện buồn Còn hôn sự là việc đáng để vui nên thường tổ chức lễ cưới linh đình, ăn uống hát ca Tang cha mẹ và tang chồng

Trang 18

thuộc loại trảm thôi (3 năm) [4-tr.77] được xem là đại tang nên việc cử hành hôn

sự trong lúc đang có tang cha mẹ bị coi là bất hiếu [4-tr.107]; đang có tang chồng bị coi là bất nghĩa [4-tr.108] Bất hiếu và bất nghĩa là 2 trong số 10 tội ác được xem là nguy hiểm nhất trong xã hội Điều 98 quy định: “Phàm trai gái để tang cha mẹ và thê, thiếp để tang chồng mà tự thân chủ hôn cưới gả thì phạt 100 trượng Nếu con trai để tang cha mẹ mà lấy vợ nhỏ, vợ để tang chồng, con gái để tang cha mẹ mà đem gả làm thiếp cho người khác thì được giảm 2 bực tội” [6-tr.324] Ngoài ra, khi chưa mãn tang những người thân khác “mà con gái lấy chồng, con trai cưới vợ là chẳng phải lễ” [6-tr.325] Đó là thuộc vào tang tề thôi (1 năm) [4-tr.78] thì không bắt ly dị nhưng vẫn phải chịu chế tài: “Nếu để tang ông bà, chú bác, cô, anh em (trừ cháu thừa trọng là con dòng lớn, cha mất sớm, nên phải để tang ông bà 3 năm thay cho cha) mà cưới gả thì bị phạt 80 trượng, không phải li dị, thiếp không bị tội” [6-tr.324] So với Quốc triều hình luật thì quy định trên của Hoàng Việt luật lệ rộng hơn về đối tượng được để tang Quốc triều hình luật chỉ cấm cử hành hôn lễ trong thời kỳ cư tang cha mẹ, còn Hoàng Việt luật lệ quy định cả đối với tang của ông bà, chú bác hay anh em ruột Tuy nhiên, về phần chế tài thì Quốc triều hình luật khắt khe hơn khi bắt buộc chấm dứt hôn nhân Điều 317 Quốc triều hình luật quy định: “Người nào đang có tang cha mẹ, hoặc tang chồng mà lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì xử tội đồ, người khác biết mà vẫn cứ kết hôn thì xử tội biếm ba tư và đôi vợ chồng mới cưới phải chia lìa” [3-tr.129]

 Kết hôn trong khi ông bà, cha mẹ đang bị giam

Ông bà, cha mẹ đang phải chịu cảnh tù đày, sống chết không biết lúc nào

mà con cháu đã không tỏ lòng lo lắng lại tổ chức cưới gả, quên đi nỗi khổ của bậc sinh thành là đã quên đi đạo làm con cháu Điều 99 quy định: “Phàm ông bà cha mẹ phạm tội chết, đang bị giam trong tù, mà cháu con tự cưới gả thì phạt 80 trượng Nếu con trai lấy thiếp, con gái gả làm thiếp thì giảm 2 bực tội” [6-tr.328] Xuất phát từ đạo nghĩa của con cháu mà nhà làm luật đã đặt ra quy định trên Nhưng được sự cho phép của ông bà, cha mẹ thì hôn lễ được phép cử hành:

Trang 19

“Ông bà cha mẹ đang trong tù mà ra lịnh cho gả, cưới thì không có tội, nhưng cũng không được tiệc tùng kéo dài (Nếu làm trái là tiệc kéo dài trong khi cha

mẹ đang ở trong tù, thì phạt 80 trượng)” [6-tr.328] Pháp luật thời Lê sơ cũng có quy định tương tự nhưng trong trường hợp không được sự đồng ý của ông bà, cha mẹ thì chế tài mang tính chất tuyệt đối là bắt buộc phải ly dị Điều 318 Quốc triều hình luật quy định: “Trong khi ông bà cha mẹ bị giam cầm tù tội, mà lấy vợ lấy chồng thì đều xử biếm ba tư và đôi vợ chồng phải li dị” [3-tr.129]

 Nô tỳ lấy dân lành

Dưới thời Nguyễn việc phân biệt các tầng lớp trong xã hội được thể hiện rõ thông qua các quy định của pháp luật Trong pháp luật về hôn nhân và gia đình, việc ngăn cản nô tỳ có quan hệ hôn nhân với dân lành phần nào thể hiện tư tưởng đó Điều 107 quy định: “Phàm gia trưởng cưới vợ cho nô bộc là con gái nhà lành, thì bị phạt 80 trượng, chủ hôn nhà gái giảm 1 bực Không biết không tội… Người nô bộc họ tự cưới gả thì tội cũng thế Gia trưởng biết chuyện thì giảm hai bực, nhân đó mà ghi vào sổ (chỉ gia trưởng) khiến người gái kia là nô bộc thì phạt 100 trượng” [6-tr.341-342]

 Nhóm thứ hai: cấm tuyệt đối

 Cấm kết hôn làm mất trật tự thê thiếp

Để ổn định trật tự trong gia đình, nhà làm luật đặt ra quy định phải tôn trọng thứ bậc giữa vợ cả và vợ lẽ Mặc dù thừa nhận chế độ đa thê nhưng pháp luật cấm tình trạng “song hôn”, với ý nghĩa “là sự kết lập giá thú khi còn một giá thú trước chưa đoạn tiêu” [20-tr.265] Vợ cả còn sống thì chỉ được lấy vợ lẽ mà không được lấy thêm vợ cả nữa Bên cạnh đó, hành vi đưa vợ lẽ lên vị trí vợ cả cũng bị cấm vì đã làm ảnh hưởng đến sự ổn định của gia đình Điều 96 quy định: “Phàm đem thê làm thiếp thì phạt 100 trượng Vợ lớn còn sống mà đem vợ nhỏ làm vợ lớn thì phạt 90 trượng và sửa đổi lại cho đúng Nếu đã có vợ chính (lớn) mà còn cưới vợ lớn nữa thì phạt 90 trượng Vợ cưới sau: phải li dị, trả về cho tông tộc” [6-tr.322]

 Cấm mệnh phụ phu nhân cải giá

Trang 20

Tuy đã hết tang chồng nhưng những người phụ nữ được vua ban giấy khen phong làm “mệnh phụ phu nhân” mà tái giá thì xử tội như người thường (Điều 98) Nhà làm luật nói rõ: “Hạng mệnh phụ từng nhận ân mệnh vua ban, không thể so với đàn bà tầm thường được, nên phải giữ cái nghĩa tùng có một cho đến cuối đời Cho nên chết chồng mà tái giá là luận tội, coi như đàn bà thường đang

cư tang chồng mà lấy chồng khác, tội phạt 100 trượng, làm thiếp thì giảm 2 bực,

và vẫn thu về giấy khen của vua” [6-tr.325] Trường hợp này phải ly dị và truy thu tiền cưới

 Cấm kết hôn với họ hàng thân thích

Để bảo vệ tôn ty thứ bậc trong dòng họ, pháp luật nhà Nguyễn còn quy định cấm kết hôn giữa những người có họ hàng với nhau Được quy định tại Điều 100: Cưới người cùng họ đồng tông, Điều 101: Tôn ti cùng cưới nhau và Điều 102: Cưới người trong thân tộc làm thê thiếp [6-tr.329-333] Nếu kết hôn thuộc 1 trong 3 trường hợp trên thì bắt buộc ly dị và phải chịu chế tài Ví dụ trường hợp lấy người cùng họ đồng tông: “Phàm cưới người cùng dòng họ thì chủ hôn và trai gái, mỗi người bị phạt 60 trượng, li dị, phụ nữ đưa về tông tộc, tiền cưới cho quan” Ngoài mục đích giữ gìn sự ổn định trong gia đình, quy định này cũng xuất phát từ việc nhận thức được hậu quả của hành vi giao cấu giữa những người có quan hệ bà con gần: những đứa trẻ sinh ra thường bị dị tật, đần độn

So với Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 thì quy định cấm người thân thuộc kết hôn của pháp luật nhà Nguyễn có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả những người không có quan hệ ruột thịt như cấm lấy chị em của con rể hoặc lấy chị em của vợ các cháu trong dòng họ [6-tr.330] Tuy có phần khắt khe nhưng nhà làm luật đã căn cứ trên cơ sở luân thường đạo lý, cũng như vì lý do sức khỏe sinh sản, sự phát triển bình thường, khỏe mạnh của giống nòi mà quy định như trên

 Cấm cưới bộ dân làm thê thiếp

Trang 21

Điều 103 quy định: “Phàm các quan dân vào làm việc ở phủ, châu, huyện

mà cưới phụ nữ bộ dân làm thê thiếp thì phạt 80 trượng Nếu quan giám lâm nội ngoại, thượng ty, cưới, bị hỏi mới đem thê thiếp và con gái làm thê thiếp hầu người, thì phạt 100 trượng, người chủ hôn nhân nhà gái cùng tội Thê thiếp vẫn sống lưỡng li, con gái cấp về cho cha mẹ” [6-tr.333] Việc quan và dân địa phương kết hôn sẽ không được phép Hai bên sẽ phải ly dị và chịu hình phạt Quy định này thể hiện sự phân biệt đẳng cấp xã hội trong việc ngăn cấm quan lại có quan hệ với thường dân

Nhằm mục đích ngăn ngừa sự lạm dụng địa vị của các quan chức địa phương để ép buộc dân lành kết hôn, nhà làm luật cũng định ra chế tài đối với hành vi cưỡng ép kết hôn Điều 103 quy định: “Ỷ thế mạnh mà cưới bắt ép thì tăng 2 bực tội, nhà gái không bị tội Đàn bà cho về chồng trước, con gái cho về cha mẹ, không truy thu tiền cưới” [6-tr.334] Tăng 2 bực so với tội kết hôn với dân nghĩa là hình phạt đối với quan thân dân sẽ là 100 trượng, quan giám lâm là

70 trượng và đồ nửa năm

 Kết hôn với phụ nữ phạm tội chạy trốn

Vì sự tôn nghiêm của luật pháp, nhà làm luật đặt ra các chế tài thích đáng đối với những ai biết phụ nữ phạm tội chạy trốn mà vẫn kết hôn và với chính người phụ nữ đã phạm tội Điều 104 quy định: “Phàm phụ nữ phạm tội bị phát ở quan rồi chạy chốn ra ngoài, mà cưới làm vợ lớn, vợ nhỏ Biết chuyện chạy trốn kia thì xử tội y như người phạm tội kia Phụ nữ tăng hai bực tội vì chạy trốn, còn người cưới thì không tăng tội Đến chết thì giảm 1 bực, li dị Nếu không có chồng lại gặp lúc miễn xá tội, không được li dị, chỉ có điều không hợp nhau là li dị” [6-tr.335] Việc cưới phụ nữ phạm tội chạy trốn là trái luật nên phải ly dị và chịu các chế tài Đối với những người phụ nữ phạm vào tội có hình phạt chết mà kết hôn, nhà trai sẽ được giảm 1 bực so với tội chết; còn như người phụ nữ phạm vào các tội có hình phạt khác thì nhà trai sẽ bị xử theo tội của người phụ nữ đã phạm lúc chạy trốn, người phụ nữ sẽ chịu hình phạt nặng hơn Phần giải thích của Điều này có nói rõ thêm: “Biết chuyện mà vẫn cưới thì xử tội giống như

Trang 22

người phạm tội Như người phụ nữ bị tội 100 trượng, nay tăng 2 bực vì tội trốn thời phạt 70 trượng, đồ nửa năm Biết chuyện mà cưới thì phạt 100 trượng Phụ

nữ tội đến chết, biết vậy mà cưới thì giảm 1 bực tội phạt 100 trượng, lưu 3000 dặm, li dị” [6-tr.335-336]

 Cưỡng chiếm vợ con gái nhà lành

Điều 105 quy định: “Phàm người cường hào nhiều thế cưỡng đoạt vợ con gái nhà lành, dối trá chiếm làm thê thiếp thì phạt thắt cổ giam chờ Đàn bà cho

về nhà chồng, con gái cho về nhà cha mẹ Nếu đem gả cho con cháu, em cháu thì người chủ mưu lãnh tội như vừa nói trên Còn người bị gả là trai gái sẽ bị tội vẫn phải li dị, cấp về cho cha mẹ” [6-tr.336] Quy định này một mặt trừng phạt

sự hóng hách, ngang ngược, ỷ thế của những gia đình giàu, có quyền lực; mặt khác bênh vực những người dân lành yếu thế, bị ức hiếp Từ đó thể hiện tư tưởng nhân đạo của pháp luật nhà Nguyễn

 Cấm sư nam, đạo sĩ kết hôn

Điều 106 quy định: “Phàm Tăng, Đạo cưới thê thiếp thì phạt 80 trượng, hồi tục Người chủ hôn nhà gái đồng tội, bắt li dị” [6-tr.340] Người theo đạo lấy vợ thì đã không còn giữ được giới luật, không còn xứng đáng làm tăng đạo nên buộc phải hồi tục Người con gái đã lấy họ sau khi ly dị thì về với cha mẹ, tiền cưới sẽ phải nộp vào quan

Trên đây là 3 điều kiện được đặt ra đối với việc kết lập hôn nhân Nam nữ muốn tiến tới hôn nhân thì phải đáp ứng được các điều kiện trên, bằng không cuộc hôn nhân đó về mặt pháp lý sẽ không được thừa nhận Trong đó, các điều kiện thuộc về gia đình vẫn là điều kiện cơ bản nhất và quan trọng hơn cả, nhưng các điều kiện thuộc về người kết hôn đặc biệt là các điều kiện ý chí cũng được xem trọng Điều đó cho thấy lợi ích của cá nhân được đặt bên cạnh lợi ích chung của gia đình

1.1.2 Điều kiện về hình thức

Hôn nhân trong Hoàng Việt luật lệ, cũng như trong cổ luật Việt Nam nói chung được xem là sự liên hệ đến nền tảng của dòng họ hơn là của người kết

Trang 23

hôn Vì danh dự của hai gia đình, hôn lễ thường được cử hành một cách trọng thể và có hệ thống Thông qua một số quy định trong Bộ luật, ta có thể thấy thủ tục kết hôn trải qua 2 giai đoạn, đó là lễ đính hôn và lễ thành hôn

1.1.2.1 Lễ đính hôn

Lễ đính hôn (hay hứa hôn) là sự giao ước của hai gia đình về một hôn thú trong tương lai Theo tinh thần của Điều 94 thì việc hứa hôn có thể được thể hiện dưới 2 hình thức là hôn thư hoặc trao nhận sính lễ Hôn thư là văn bản thường có ký nhận rõ ràng của người chủ hôn hai gia đình Còn sính lễ phải là một số tiền, tùy thuộc vào gia cảnh mà gia đình nhà trai trao cho nhà gái khi hỏi cưới Thời nhà Lê sơ thì sính lễ ngoài tiền ra có thể bằng lụa, vàng bạc hay lợn, rượu (Điều 315 Quốc triều hình luật)

Sau khi đã có hôn thư hoặc hai nhà đã trao nhận sính lễ cho nhau thì sự hứa hôn đã thành và quan trọng là nó có giá trị pháp lý ràng buộc gia đình hai bên cũng như đối với người thứ ba cho tới trước khi tổ chức lễ thành hôn Điều đó được thể hiện rõ nhất thông qua các chế tài được quy định đối với việc vi phạm giao ước đính hôn:

 Chế tài về sự bãi hôn

Điều 94 quy định, sau khi đã đính hôn mà nhà gái hoặc nhà trai đổi ý không gả nữa thì người chủ hôn bị phạt 50 roi, nếu hứa gả cho người thứ ba thì phạt 70 trượng, nếu đã thành hôn với người này rồi phạt 80 trượng Nhưng việc giải quyết các mối quan hệ sau đó thì không hoàn toàn giống nhau:

Đối với việc bãi hứa của nhà gái, dù chưa hay đã thành hôn với người thứ

ba thì đều phải đưa về nhà trai đã hứa hôn trước; nhà trai này không chịu cưới thì phải đưa gấp đôi tiền sính lễ cho nhà gái, người con gái được phép theo người thứ ba Chủ hôn của gia đình người thứ ba cũng bị phạt giống như chủ hôn nhà gái nếu biết có việc hứa hôn trước đó mà vẫn cưới hỏi, sính lễ bị truy thu và sung vào quan; nếu không biết thì không có tội

Đối với sự bãi hôn của nhà trai thì có phần khác Chưa thành hôn thì phải lấy người con gái trước, người con gái sau được phép gả chỗ khác Còn: “Nếu

Trang 24

đã thành hôn thì khó bắt người ta cắt đứt ra… Đàng trai này lấy người con gái

đã thất thân, không chỗ nương tựa, việc ấy khác nhau Nếu buộc li dị gả nơi khác thì chẳng những trái nhân tình mà cũng không phải ý của luật” [6-tr.318] Như vậy, hôn nhân với người thứ ba có giá trị nên cho phép người con gái hỏi trước được gả chỗ khác và không phải trả lại sính lễ

 Chế tài về ép cưới của nhà trai và trì hoãn cưới của nhà gái

Điều 94 quy định: “Tuy đã nạp lễ cưới [tiền] rồi, chưa đến ngày hẹn mà đằng trai ép gả, hoặc đến hẹn kì mà nhà đàng gái sai hẹn thì chủ hôn hai bên bị phạt 50 roi” [6-tr.316] Hôn nhân là chuyện hệ trọng của hai gia đình Việc nhận lời hứa gả con cháu, kết thành thông gia không giống những lời nói giao tiếp bình thường Khi đã giao ước hôn nhân, hai gia đình luôn phải giữ chữ tín với nhau Nên nhà lập pháp đặt ra chế tài đối với hành vi ép cưới của nhà trai khi chưa đến ngày cưới đã định và hành vi trì hoãn cưới của nhà gái đã đến ngày định mà không cưới Trong Quốc triều hình luật nhà Lê không có quy định này

 Chế tài về trì hoãn cưới của nhà trai

Để bảo vệ quyền lợi – “cái thì” của người con gái, nhà làm luật đã quy định thời hạn tối đa giữa lễ đính hôn và lễ thành hôn là 5 năm Điều 108 lệ 2 quy định: “Trong hạn 5 năm không mắc lỗi lầm nào mà không gả… thì cho phép thưa lên quan cấp chấp chiếu cho ra đi cải giá, cũng không đòi tiền cưới” [6-tr.347] Trong thời hạn 5 năm nhà trai không chịu cưới thì lời hứa hôn không còn giá trị ràng buộc đối với gia đình nhà gái, người con gái sau khi thưa lên quan sẽ được phép đi lấy người khác và không phải trả lại đồ sính lễ

Ngoài ra, Bộ luật còn quy định 2 trường hợp chấm dứt hiệu lực đính hôn Trường hợp thứ nhất, một trong hai người đã hứa hôn mà lại đi gian dâm với người khác thì người còn lại được quyền đổi ý Điều 94 quy định: “Chưa thành

vợ chồng trai gái gian dâm với người khác nếu con trai phạm gian thì con gái lấy chồng khác, con gái phạm gian thì con trai lấy vợ khác” [6-tr.315] Trường hợp thứ 2 là một trong hai người hứa hôn đã chết Điều 94 lệ 2 quy định: “Nếu đã định cưới nhau, nhưng chưa thành thân, mà nam nữ hoặc có người gặp tai nạn

Trang 25

qua đời thì không đòi lại tiền nạp cưới” [6-tr.319] Cả 2 trường hợp trên, sự đổi

ý của người còn lại là được phép

Như vậy, các quy định về sự hứa hôn được Hoàng Việt luật lệ quy định khá chi tiết và chặt chẽ Trong Quốc triều hình luật, các quy định về cưỡng ép và trì hoãn cưới không được quy định; các chế tài về sự bãi hôn có phần nặng hơn so với Hoàng Việt luật lệ Điều 315 Quốc triều hình luật quy định nếu nhà gái đổi ý không cưới nữa thì phạt 80 trượng còn trong Hoàng Việt luật lệ là 50 roi; nếu đã thành hôn với người khác rồi thì xử tội đồ làm khao đinh, trong Hoàng Việt luật

lệ là 80 trượng; nhà trai đổi ý thì phạt 80 trượng và mất sính lễ, trong Hoàng Việt luật lệ là 50 roi Sự khác nhau này không nhằm nhấn mạnh pháp luật thời đại nào coi trọng hiệu lực của sự hứa hôn hơn mà để thấy được sự khác nhau trong tư tưởng, nhận thức của các nhà lập pháp đối với việc quy định chế tài hình sự trong lĩnh vực hôn nhân

1.1.2.2 Lễ thành hôn

Lễ thành hôn (hay lễ cưới) là giai đoạn tiếp theo và là bước cuối cùng của nghi lễ hôn thú Sau lễ thành hôn, quan hệ giữa nam nữ chính thức là quan hệ vợ chồng Từ đó phát sinh những quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng cũng như quyền và nghĩa vụ đối với gia đình hai bên So với lễ đính hôn, lễ thành hôn không được quy định cụ thể bằng Cho nên, hai bên gia đình thường dựa vào phong tục tập quán của địa phương để tiến hành lễ cưới Pháp luật chỉ can thiệp nếu có sự lạm dụng tục lệ địa phương hay những đòi hỏi không phù hợp với gia cảnh của hai gia đình Việc đòi hỏi đồ cưới hoặc việc làng nhà gái hạch sách lễ

“nộp cheo” đối với người đi hỏi vợ sẽ bị cấm Điều 164 quy định: “Phàm giá thú, sính lễ mỗi nhà nhiều ít là tùy nghi, chớ khiến người ta viết tờ cầm ruộng, bắt nộp tiền cheo, như người cùng làng thì nộp tại làng, giàu thì 1 tiền 2 quan, kế đến 6 quan nghèo 3 quan, riêng người trong xã khác giàu thì 2 tiền 4 quan, kế đến 1 tiền 2 quan, nghèo 6 quan Không được đòi hỏi nhiều Lại như chàng rể đi hỏi vợ làng khác, sau khi làm sính lễ rồi, ở làng của người vợ ấy không được lưu niêm đòi hỏi ca hát nộp tiền Nếu ai trái mà cho phép thì ông chủ sự báo cáo cho

Trang 26

xã trưởng, bị phạt 50 roi” [6-tr.453] “Như vậy, pháp luật thừa nhận và tôn trọng tục lệ, nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với gia cảnh của từng hạng người, nhằm đảm bảo trật tự ổn định và sự tiến bộ xã hội” [10-tr.51]

1.2 Sự chấm dứt hôn nhân

Căn cứ vào tình trạng của vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt, ta có thể chia thành 2 trường hợp chấm dứt hôn nhân: Ly hôn và chấm dứt hôn nhân do một người chết trước

1.2.1 Ly hôn

Ly hôn là sự chấm dứt hôn nhân khi vợ chồng còn sống Nguyên nhân dẫn đến ly hôn có thể xuất phát từ phía người vợ hoặc người chồng hoặc cả hai Căn

cứ vào nguyên nhân ly hôn có thể chia làm 4 hình thức: ly hôn do lỗi của người

vợ, ly hôn do lỗi của người chồng, thuận tình ly hôn và ly hôn do vi phạm điều cấm của pháp luật

 Ly hôn do lỗi của người vợ

 Lỗi “thất xuất”

Thất xuất là bảy trường hợp lỗi, khi vợ phạm vào thì chồng có quyền đơn phương chấm dứt hôn nhân, được quy định tại Điều 108 Đó là các lỗi: “… không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, ghen tuông, ác tật” [6-tr.342-343]

 Không sinh đẻ

Một trong những mục đích quan trọng của hôn nhân là sinh con để duy trì nòi giống, thờ phụng tổ tiên Một gia đình đông con thường được xem là hạnh phúc và may mắn Nên khi vợ chồng không thể sinh con thì mục đích của hôn nhân không trọn vẹn, người chồng lúc này có quyền được bỏ người vợ đã ăn ở với mình bấy lâu nay Luật không giới hạn thời gian bao lâu người vợ về nhà chồng mà không có con thì chồng có quyền bỏ, nhưng theo ý kiến của tác giả Ái Lan trong bài viết “Luật Gia Long có bảy điều cho phép đàn ông ly dị vợ” thì:

“Theo thế thường, thì đàn bà lấy chồng năm năm mà không có con cái gì, thì phải cưới vợ bé cho chồng Vợ bé vừa là con hầu vừa là người để sinh đẻ thay

Trang 27

cho người vợ chánh Chồng không thể lấy riêng một tội không mà bỏ vợ được, chỉ khi nào vợ phạm nhiều tội khác nữa, thì chồng có thể viện lẽ đó mà để vợ ra” [15-tr.8]

 Dâm dật

Nguyên cớ này bao gồm các hành vi có tính dâm đãng, lẳng lơ trái với phẩm hạnh của người phụ nữ Nhưng trừ hành vi ngoại tình vì ngoại tình là một trong các trường hợp thuộc vào lỗi nghĩa tuyệt (sẽ đề cập ở mục sau)

 Không thờ cha mẹ chồng

Theo quan niệm của Nho giáo, người phụ nữ khi đã về làm dâu thì phải phục tùng chồng và gia đình chồng Người vợ phải tôn trọng, đối xử hiếu đễ với cha mẹ chồng cũng như các bậc bề trên trong gia đình chồng Ngược lại, sự vô

lễ của người vợ đối với gia đình chồng sẽ là một lý do để người chồng có quyền

Ăn trộm tài sản của người ngoài hay của gia đình chồng mà không bỏ thì sẽ

bị vạ lây, ảnh hưởng đến thanh danh của dòng họ bên chồng Để bảo vệ quyền lợi của gia đình chồng, nhà làm luật đã quy định là một trong bảy nguyên cớ mà người chồng có quyền bỏ vợ

 Ghen tuông

Việc cho phép duy trì chế độ đa thê là một nguyên cớ của quy định này Bởi lẽ khi người chồng có nhiều vợ thì không thể tránh được sự ghen tuông giữa các người vợ Người chồng có thể dựa vào nguyên cớ này để răn đe vợ nhằm duy trì sự ổn định trong gia đình

Trang 28

 Ác tật

Đó là các tật bệnh hiểm nghèo như phong cùi, điên loạn Bị các tật bệnh này, người vợ không thể hoàn thành được tốt đạo làm dâu “khi có việc tế tự không làm được xôi hay cỗ” [26-tr.58] cũng như vai trò làm vợ của mình, nên là một lý do để người chồng có thể bỏ

Trong số 7 nguyên có nói trên thì có 5 nguyên cớ thuộc về lỗi chủ quan của người vợ, đó là: dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen tuông Hai duyên cớ còn lại (không có con, ác tật) không hoàn toàn do lỗi của người vợ mà xuất phát từ yếu tố khách quan đem đến nhưng nhà lập pháp vẫn xem đó là duyên cớ để chồng có thể bỏ vợ Điều này cũng dễ hiểu khi mà mục đích chính của hôn nhân là sinh con nối dõi thì quyền lợi của gia đình được đặt trên quan hệ hôn nhân

Một điều đặc biệt trong Bộ luật là nếu người vợ phạm phải thất xuất thì người chồng không bắt buộc phải bỏ vợ: “Phàm dù vợ ở trong 7 điều nên bỏ, cũng không nên bỏ” [6-tr.342] Nhà lập pháp dự liệu 7 trường hợp người chồng

có quyền bỏ vợ nhưng đã không xem nhẹ lợi ích cá nhân, không xem nhẹ tình nghĩa vợ chồng nên để việc quyết định bỏ hay không là quyền của người chồng, nếu người chồng không bỏ thì cũng không phải chịu chế tài Thời Lê sơ thì “khi người vợ phạm vào một trong bảy điều thất xuất thì người chồng bắt buộc phải

bỏ vợ Nếu người chồng không bỏ vợ thì pháp luật cũng buộc họ phải bỏ” tr.395] và sẽ bị chế tài Điều 310 Quốc triều hình luật quy định: “Vợ cả, vợ lẽ phạm phải điều nghĩa tuyệt (như thất xuất) mà người chồng chịu giấu không bỏ thì xử tội biếm, tùy theo việc nặng nhẹ” [3-tr.127] Với sự khác biệt này thì so với nhà Lê, pháp luật nhà Nguyễn đã bảo vệ người phụ nữ hơn đồng thời đã chú

[21-ý đặt lợi ích cá nhân bên cạnh lợi ích chung của gia đình

Mặc khác, người chồng không có quyền bỏ vợ nếu người vợ ở trong 3 trường hợp gọi là tam bất khứ, dù vợ có phạm vào thất xuất Điều 108 quy định:

“Dù phạm 7 điều là không có con, dâm dật, không thờ cha mẹ chồng, nói nhiều, trộm cắp, ghen tuông, ác tật Nhưng có 3 điều không bỏ để tang 3 năm, trước

Trang 29

nghèo sau giàu, có người cưới cũng không ưng” [6-tr.343] Nếu người chồng bỏ

vợ trong trường hợp này thì sẽ bị chế tài: “Tuy phạm 7 điều bỏ, mà trong tam bất khứ, có 1 rồi thì cũng không có lý để bỏ được; nhưng cứ thẳng tình bỏ thì giảm hai bực, phạt 60 trượng, cho về đoàn tụ” [6-tr.344] Các quy định này

“Chủ yếu nhằm hạn chế quyền “rẫy vợ” của người chồng và bảo vệ ân nghĩa vợ chồng” [13-tr.449]

 Vợ đã để tang nhà chồng 3 năm

Quy định này bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ khi chuyên tâm thờ cúng cha mẹ chồng đã khuất Trong 3 năm người vợ đã chăm lo việc thờ cúng, tế tự, không vui chơi ca hát, không đeo nữ trang… để tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ chồng Người chồng không được quên sự ăn ở hiếu thảo đó mà bỏ

vợ, dẫu người vợ có phạm phải lỗi thất xuất

 Khi lấy nhau nghèo về sau giàu có

Quy định này đã thừa nhận công lao, sự đóng góp của người vợ trong việc làm nên sự nghiệp công danh cũng như kinh tế trong gia đình chồng Lúc cơ cực, nghèo khổ luôn có vợ sẻ chia đỡ đần bên cạnh, đến lúc giàu sang phú quý người chồng không được quên ân tình mà bỏ vợ

 Khi lấy nhau, vợ còn người thân nhưng giờ không còn ai để trở về Người vợ không còn bà con thân thuộc thì không còn ai để mà nương tựa ngoài chồng, nên người chồng không được bỏ vợ trong hoàn cảnh này Quy định điều này nhà làm luật đã suy xét đến phong tục, đạo đức mà cảm thương đến thân phận của người phụ nữ phải chịu cảnh cô đơn nếu chồng bỏ

Ba trường hợp trên xuất phát từ đời sống trọng tình nghĩa của người Việt Nam, đồng thời thể hiện tính nhân văn của cổ luật triều Nguyễn thông qua việc quan tâm đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội

 Lỗi “nghĩa tuyệt”:

Bộ luật không liệt kê các trường hợp nghĩa tuyệt như đối với thất xuất, nhưng đã giải thích: “Nghĩa tuyệt là ân tình vợ chồng đi trái ngược nhau làm cho mất đứt nghĩa Trong luật chưa nói rõ điều này, chỉ thấy nằm rải rác trong đôi

Trang 30

điều” [6-tr.344] Các lỗi nghĩa tuyệt có thể xuất phát từ vợ hoặc chồng nhưng trong phạm vi của tiểu mục này chỉ xin đề cập đến lỗi xuất phát từ phía người

vợ Khi người vợ phạm vào nghĩa tuyệt, người chồng có quyền bỏ hoặc không:

“Có người cho rằng đối với luật thì nên li dị không cho hợp lại, như nói li dị về tông, đó là loại lưỡng li tức điều này là nên li dị mà không li dị cũng được Có người cho rằng việc có thể li dị mà còn làm dáng hòa hợp, như bảo đó là ý muốn

ở lại, cho phép theo ý, còn li dị, cũng cho phép, thì điều luật này bảo phải theo

sự gả bán của chồng cũng vậy” [6-tr.344] Tuy nhiên, so với thất xuất thì nghĩa tuyệt mang tính chất nặng hơn vì nếu rơi vào trường hợp đáng bỏ vợ mà người chồng không bỏ thì sẽ chịu chế tài Điều 108 quy định: “Nếu phạm nghĩa tuyệt nên li dị mà không li dị thì phạt 80 trượng” [6-tr.343] Một số trường hợp nghĩa tuyệt:

 Người vợ tự ý bỏ đi

Theo quan niệm Nho giáo người vợ có nghĩa vụ theo chồng nên việc tự ý

bỏ đi khỏi nhà chồng là không được phép Phần giải thích của Điều 108 có nói

rõ thêm: “Người đàn bà đáng nghĩa là phải theo chồng Chồng có thể bỏ vợ, vợ không được tự mình tuyệt giao với chồng Nếu bỏ chồng mà trốn đi, thì phạt 100 trượng Nếu theo chồng gả bán, nhân đó trốn đi và tự cải giá thì xử thắt cổ” [6-tr.345] Hoặc khi người chồng bỏ đi không có tin tức gì chưa đến 3 năm hoặc đã quá 3 năm mà người vợ không báo cho quan địa phương lại tự ý bỏ đi và cải giá cũng không được phép (Điều 108) Giải thích cho điều này, nhà làm luật đã nói như sau: “Việc chồng đi không về và việc phản bội chồng hoàn toàn khác nhau Nhưng nếu còn trốn thì còn có thể trở về, chứ còn cải giá thì chấm dứt rồi” [6-tr.345] Cả 2 trường hợp tự tiện trốn đi trên được coi là đã làm cho tình nghĩa vợ chồng đoạn tuyệt, người chồng có quyền bỏ vợ và thậm chí gả bán cho người khác

 Vợ đánh chồng

Trong xã hội phong kiến, chuyện vợ đánh chồng dù không gây thương tích cũng không được phép vì: “vợ coi chồng là thiêng liêng, nên vợ đánh chồng là

Trang 31

tự cắt mất cái thiêng liêng kia” [7-tr.777] Điều 284 quy định: “Phàm vợ đánh chồng (chỉ đánh là bị tội) phạt 100 trượng Chồng muốn li dị thì được phép (chồng thưa lên là xử) đánh đến bị thương tích trở lên (xét nghiệm vết thương nặng nhẹ) tăng 3 bực tội, người thường đánh bị thương cho đến mức tàn tật nặng thì xử treo cổ ngay Đánh đến chết thì bị xử chém ngay, cố sát thì bị xử chết lăng trì (gồm cả bằng độc dược ma mị trong đó)” [6-tr.775-776] Trường hợp này người vợ đã phạm vào nghĩa tuyệt, tình nghĩa vợ chồng đã đoạn tuyệt nên bắt buộc phải ly dị nhưng nhà làm luật đã xét đến cái tình mà để cho người chồng có quyền quyết định bỏ hay không bỏ Phần giải thích nhà làm luật đã nói: “… đáng lẽ phải li dị, nhưng pháp luật không cho li dị, tình kia được xác lập từ pháp luật, nhưng chấp theo pháp luật thì trái với tình nên li dị hay không cũng cho phép đối với người chồng không bị ràng buộc bởi pháp định” [6-tr.777]

 Người vợ phạm tội thông gian

Quan niệm của Nho giáo đề cao sự tiết hạnh của người phụ nữ Đặc biệt đối với phụ nữ đã có chồng thì sự tiết hạnh trở thành nghĩa vụ thủy chung Cho nên vợ không một lòng chung thủy với chồng thì sẽ bị trừng phạt Điều 332 với tựa đề “Phạm gian dâm” có quy định về trường hợp người vợ thông gian thì chồng có quyền bỏ vợ, thậm chí gả bán cho người khác (trừ người đã thông gian với vợ mình): “Hòa gian, điêu gian thì trai gái bị rầy trách, giao cho gian phu nuôi dưỡng, gian phụ xử theo chồng gả bán, nhưng người chồng muốn giữ lại thì cho phép để thuận nhân tình Như gả cùng gian phu thì trái luật, túng dâm Chồng và gian phu không có tội, nhưng đều bị phạt 80 trượng” [8-tr.904]

 Ly hôn do lỗi của người chồng

Bên cạnh các quy định cho phép người chồng có quyền ly hôn, Hoàng Việt luật lệ cũng đã thừa nhận quyền yêu cầu ly hôn của người vợ khi chồng phạm vào các lỗi nghĩa tuyệt hoặc vi phạm các nghĩa vụ căn bản đối với người vợ Điều này phần nào thể hiện sự trân trọng quyền lợi của người vợ trong gia đình

 Người chồng cầm cố vợ cho người khác

Trang 32

Điều 95 quy định: “Phàm người chồng nhận tiền làm tờ giao kèo cầm cố (cầm đợ) thê thiếp cho người khác làm thê thiếp thì phạt 80 trượng” [6-tr.320] Quy định này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của người phụ nữ với

tư cách là người vợ đồng thời là một cá nhân trong xã hội Người chồng đã không còn biết trân trọng tình nghĩa vợ chồng bấy lâu mà tuyệt tình đi cầm cố

vợ mình cho người khác làm thê thiếp Phần giải thích của Điều 95 có nói:

“Người chồng đem thê thiếp mình điển cố cho người khác làm thê thiếp, đã không xấu hổ, lại khiến thất tiết, thật là bại hoại luân lý, văn hóa quá lắm” [6-tr.321] Người vợ có quyền thưa lên quan để yêu cầu ly dị vì chồng đã nghĩa tuyệt với mình

 Người chồng đem vợ gả, dung túng hoặc ép buộc vợ thông gian với người khác

Việc người chồng tự gả bán vợ, dung túng hoặc cưỡng ép vợ mình thông gian với người khác thì tình nghĩa vợ chồng thực sự đã đoạn tuyệt Cho nên, những trường hợp này pháp luật quy định phải ly dị Phần giải thích của Điều

103 “Cưới đàn bà trong bộ dân làm thê thiếp” đề cập về trường hợp người chồng đem vợ mình gả cho người khác vì có việc kiện tụng: “Chồng trước đã đem thê thiếp gả cho người thì đã làm cho đứt nghĩa rồi Cho nên đều không cho đoàn viên khiến họ phải trở về tông tổ” [6-tr.334] Việc dung túng hay ép buộc thê thiếp thông gian cũng phải ly dị Điều 333 quy định: “Phàm dung túng thê thiếp thông gian cùng người thì người chồng, gian phu, gian phụ đều bị phạt 90 trượng Còn ép buộc thê thiếp và con gái thông gian cùng người thì người chồng, cha nuôi ấy bị phạt trăm trượng, gian phu bị phạt 80 trượng, phụ nữ không bị tội Li dị cho về cha mẹ” [8-tr.907]

 Người chồng đi biệt xứ không rõ tin tức

Pháp luật nhà Nguyễn cho phép người vợ được phép trình quan xin cải giá nếu người chồng đi biệt 3 năm không tin tức Điều 108 lệ 2 quy định: “chồng đi

3 năm không về thì cho phép thưa lên quan cấp chấp chiếu cho đi cải giá, cũng không đòi tiền cưới” [6-tr.347] Là người chủ trong gia đình, người chồng phải

Trang 33

có trách nhiệm chu toàn gia đình, cưu mang vợ con, không được bỏ bê, trễ nải

Vì vậy, trong khoảng thời gian 3 năm chồng đi biệt thì người vợ không có nơi nương tựa, không biết bao giờ người chồng mới về Đặt ra quy định trên, người đàn ông mới ý thức được trách nhiệm với người phụ nữ hơn, quan tâm đến gia đình mình hơn Nếu bắt phải chờ đợi thêm nữa thì quá thiệt thòi cho người vợ, nên pháp luật cho phép người vợ có quyền ly hôn

 Chồng đánh vợ có thương tích

Xã hội phong kiến luôn đề cao vai trò của người chồng Vì vậy, chồng có quyền dạy bảo vợ Nhưng không được phép đánh đập vợ đến nỗi thương tích Pháp luật sẽ trừng trị hành vi này của người chồng Điều 284 quy định: “Chồng đánh vợ không đến nỗi thương tích thì không nói Còn như có thương tích trở lên thì giảm người thường hai bậc (hễ vợ thưa lên là bị tội) Trước phải xét hỏi coi vợ chồng có muốn li dị hay không xử tội, còn như không muốn li dị thì coi vết thương nặng nhẹ mà xử tội (nhận giá nộp chuộc tội) vẫn cho đoàn tụ” [7-tr.776] Trường hợp này được xem là một trạng thái nghĩa tuyệt giữa vợ và chồng Nhà làm luật đã xét tới tình nghĩa vợ chồng nên vẫn để cho hai bên tự quyết định, mà không xét tới lỗi nghĩa tuyệt để bắt buộc ly dị

 Thuận tình ly hôn

Bên cạnh một số quy định cho phép trai gái có quyền được thể hiện ý chí của mình trong việc kết lập hôn nhân, pháp luật nhà Nguyễn còn thừa nhận quyền quyết định việc chấm dứt hôn nhân của họ Điều 108 quy định: “Nếu vợ chồng không cùng ăn ý vui vẻ mà cả hai muốn li dị thì không có tội (tình thế đã đến li dị, khó kéo lại hòa hợp)” [6-tr.343] Phần giải thích của Điều này có nói

rõ thêm: “Nếu chồng vợ trẹo ý không vui nhau, cả hai đều muốn li dị, tình thì không hợp, ân đã lìa thì không thể nào hòa lại được, thì chiếu theo điều không nên bỏ, tình trạng nghĩa tuyệt, cho phép họ li dị, không bị tội” [6-tr.345] Quốc triều hình luật thời nhà Lê không quy định việc chấm dứt hôn nhân do sự thuận tình của vợ chồng, mà chỉ được thể hiện trong đoạn 167 của Hồng Đức thiện

Trang 34

chính thư [24-tr.15] Đến thời nhà Nguyễn, nó đã được quy định chính thức trong Bộ luật, thể hiện sự tiến bộ của pháp luật nhà Nguyễn

 Ly hôn do vi phạm điều cấm của pháp luật

Các trường hợp kết hôn thuộc vào điều cấm tuyệt đối của pháp luật sẽ phải

ly dị, đó là:

 Kết hôn mất trật tự thê thiếp (Điều 96)

 Mệnh phụ phu nhân cải giá (Điều 98)

 Kết hôn với họ hàng thân thích (các Điều 100, 101, 102)

 Cưới bộ dân làm thê thiếp (Điều 103)

 Chiếm con gái nhà lành (Điều 105)

 Sư nam, đạo sĩ kết hôn (Điều 106)

Hôn nhân sẽ chấm dứt kể từ thời điểm có án văn xử ly hôn, nên hiệu lực của hôn nhân trong quá khứ vẫn được thừa nhận Điều này khác với pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay Theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm

2000 thì kết hôn vi phạm các điều cấm được gọi là kết hôn trái pháp luật, sẽ bị hủy và không được thừa nhận ngày từ khi xác lập (Điều 17)

1.2.2 Chấm dứt hôn nhân do một người chết trước

Bộ luật không quy định một cách trực tiếp việc chấm dứt hôn nhân khi một người chết trước Nhưng thông qua một số quy định ta có thể khẳng định quan

hệ hôn nhân cũng sẽ chấm dứt nếu vợ hoặc chồng chết trước Theo chế độ tang chế thì vợ chồng có nghĩa vụ để tang nhau Vợ để tang chồng 3 năm [4-tr.77], còn chồng đối với vợ cả là 1 năm [4-tr.78] Hết thời gian này quan hệ vợ chồng

sẽ chấm dứt Theo Điều 94 thì hết thời gian để tang chồng, người vợ có thể đi cải giá hoặc ở vậy nguyện thủ chí với chồng Đối với người chồng, tuy pháp luật không quy định phải hết tang vợ mới được đi lấy vợ khác nhưng hết thời gian này thì quan hệ vợ chồng cũng sẽ chấm dứt Quốc triều hình luật thời Lê sơ không quy định người chồng phải để tang vợ nên quan hệ nhân thân của vợ chồng chấm dứt ngay và hoàn toàn từ khi người vợ chết

Trang 35

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ GIA ĐÌNH

Gia đình thời Nguyễn thường gồm nhiều thế hệ con cháu chung sống với nhau tại một cư sở (nhà) Vì vậy mà mối quan hệ giữa các thành viên trở nên ràng buộc và gắn bó hơn Các quy định trong Hoàng Việt luật lệ thừa nhận và củng cố chế độ đại gia đình này Phần đầu của Bộ luật quy định rất chi tiết và cụ thể về biểu đồ tông tộc và chế độ tang chế giữa các thành viên Qua đó, quan hệ gia đình có thể được định vị như sau: tính từ bản thân, bậc trên có ông bà, cha

mẹ, cụ, kỵ; bậc dưới có con, cháu, chắt, chít Theo hệ thống dọc và ngang còn có quan hệ giữa các thân thuộc như: bên nội, bên ngoại; bên vợ, bên chồng; dòng đích, dòng nhánh; huyết thống và nghĩa dưỡng Mỗi mối quan hệ thường gồm có quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản Trong các mối quan hệ đó thì quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ và con được xem là những quan hệ cơ bản nhất Các mối quan hệ khác trong gia đình thường được thể hiện đan xen vào hai mối quan hệ trên

2.1 Quan hệ vợ chồng

2.1.1 Quan hệ nhân thân

2.1.1.1 Quan hệ nhân thân khi hôn nhân chưa chấm dứt

Trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là mối quan

hệ tương tác 2 chiều và không mang tính bình đẳng Sự phân định ranh giới giữa các nghĩa vụ chỉ mang tính chất tương đối Dưới chế độ gia đình phụ hệ, quyền của người chồng luôn được đề cao và tôn trọng Tuy nhiên, người vợ không hoàn toàn lệ thuộc vào chồng và mất hết quyền lợi

 Nghĩa vụ tòng phu

Nghĩa vụ này được đặt ra đối với người vợ Chữ “tòng phu” trong câu

“xuất giá tòng phu” hiểu một cách đơn giản nhất là theo chồng Theo quan niệm của Nho giáo, người phụ nữ một khi đã có chồng thì mọi sự phải theo chồng, kính phục chồng và gia đình chồng Trong Hoàng Việt luật lệ, nghĩa vụ này có thể được biểu hiện ở 4 phương diện sau:

 Thứ nhất, người chồng có quyền dạy bảo, răn đe vợ

Trang 36

Quan niệm Nho giáo đề cao vai trò của người chồng Người chồng thường

là người trụ cột, đứng ra điều khiển dẫn dắt các thành viên trong gia đình Người chồng có quyền và nghĩa vụ dạy bảo vợ về các nghi lễ thờ cúng gia tiên hay các nguyên tắc thờ cúng tại đền miếu (Điều 149, Điều 164) Hơn nữa, dưới chế độ gia đình phụ hệ, người chồng phải có quyền uy mới bảo đảm sự ổn định, trật tự trên dưới trong gia đình Pháp luật cho phép chồng có quyền dạy bảo vợ để răn

đe thói ghen tuông, trộm cắp, không nghe lời và thậm chí là được phép đánh hoặc bỏ vợ nếu không dạy được (Điều 284, Điều 108)

Tuy nhiên, nhà làm luật đặt ra giới hạn cho phép của quyền này Người chồng không được phép đánh vợ đến nỗi gây thương tích, bằng không sẽ phải chịu các chế tài Nhưng vẫn xét đến quyền được dạy bảo vợ của người chồng, nên chế tài nhẹ hơn hai bực so với người thường đánh nhau (Điều 284)

 Thứ hai, người vợ không được phép mắng, đánh chồng hoặc đánh, mắng họ hàng nhà chồng

Phục tùng chồng người vợ phải tôn trọng chồng và đối xử hiếu thuận, không được có hành vi xúc phạm đến những bậc bề trên cũng như anh em, họ hàng nhà chồng Vì thế, chỉ cần đánh chồng dù chưa thương tích vẫn bị phạt 100 trượng, có thương tích đến chết không cần biết lý do đều xử nặng hơn người thường đánh nhau (Điều 284) Hành vi đánh ông bà, cha mẹ chồng cũng bị xử tội rất nặng Điều 288 quy định: “Phàm con cháu đánh ông bà, cha mẹ và thê thiếp đánh ông bà cha mẹ chồng thì bị xử chém, giết chết thì bị xử lăng trì (thủ, tùng và phụ thuộc khác nhau, theo các điều chế độ tang phục mà xử) Lỡ tay giết chết thì phạt trăm trượng, lưu ba ngàn dặm, làm bị thương phạt trăm trượng, đồ

ba năm (không cho nhận giá chuộc)” [7-tr.789] Hành vi đánh các thành viên khác thì tội nhẹ hơn đánh chồng và ông bà, cha mẹ chồng nhưng các chế tài thì vẫn nghiêm khắc Như vợ đánh thân thích thuộc hàng kì thân trở xuống hoặc hàng ti ma trở lên của chồng Phần giải thích Điều 289 có nói: “Phàm thê thiếp đánh bổn tông bên ngoại của chồng, như hàng thân thuộc có chế độ tang phục từ

kì trở xuống, tôn trưởng từ ti ma trở lên, thì tội như chồng đánh Nếu đánh hàng

Trang 37

kì phục anh chị của chồng thì phạt 90 trượng, đồ hai năm rưỡi, làm bị thương thì phạt trăm trượng, đồ ba năm, làm thương tích thì phạt trăm trượng, lưu ba ngàn dặm” [7-tr.797] Người vợ còn không được phép mắng chồng (chỉ đặt ra đối với người vợ lẽ), ông bà, cha mẹ hay thân thuộc khác của chồng Các hành vi này đều bị xử rất nghiêm khắc Điều 298 quy định: “Phàm mắng ông bà, cha mẹ và thê thiếp mắng ông bà cha mẹ chồng thì đều bị treo cổ, phải chính người nghe thưa lên mới bị tội” [8-tr.814] Điều 299 quy định: “Phàm thê thiếp mắng hàng

kỳ thân trở xuống, hàng ti ma trở lên (nội ngoại), tôn trưởng của chồng thì tội như mắng chồng Thiếp mắng chồng, phạt 80 trượng” [8-tr.816]

Ngược lại, pháp luật không cho phép gia đình chồng có quyền xâm phạm đến thân thể của người vợ Ông bà, cha mẹ là những bậc bề trên có quyền dạy bảo khi dâu con trong nhà không phải phép, nhưng lạm dụng quá mức quyền này thì sẽ bị trừng trị Điều 288 quy định: “Như ông bà cha mẹ đích, kế, tự, dưỡng mẫu phi lí đánh vợ của con cháu (cùng là con nuôi) và con cháu xin nuôi khác họ (bị thương trở xuống thì không kể) đến nỗi khiến chúng tàn phế thì phạt

80 trượng Tàn tật nặng thì tăng 1 bực tội… đến chết thì phạt trăm trượng, đồ ba năm” [7-tr.789-790] Đối với các thân thuộc khác của chồng cũng vậy Ví dụ em trai, em gái của chồng đánh chị dâu thì tăng 1 bực so với người thường, đánh gây thương tích nặng thì phạt 100 trượng và lưu 3000 dặm (Điều 289)

 Thứ ba, người vợ không được tố cáo chồng và gia đình chồng

Nghĩa vụ tòng phu đặt ra cho người vợ bổn phận hết lòng vì chồng và gia đình chồng Hành vi tố cáo chồng và gia đình chồng đã làm mất đi ơn nghĩa sâu nặng trong gia đình Nhất là khi Nho giáo trở thành hệ tư tưởng thống trị trong

xã hội thì điều đó là trái với luân lý, không thể chấp nhận Điều 306 quy định:

“Phàm con cháu thưa ông bà, cha mẹ; thê thiếp thưa chồng và thưa ông bà, cha

mẹ chồng [dù có đúng sự thật cũng] bị phạt trăm trượng, đồ 3 năm (ông bà và các người ấy tự thú thì miễn tội) Chỉ vu cáo thôi cũng (không kể toàn bộ vu cáo, chỉ 1 việc thôi) bị treo cổ” [8-tr.841] Đối với các thành viên khác người vợ

Trang 38

cũng không được tố cáo tuy tội có nhẹ hơn nhưng điều đó cũng đã làm mất đi tình nghĩa tôn quý của gia đình

Pháp luật cũng không cho phép chồng và các thành viên khác trong gia đình chồng (ngoại trừ ông bà, cha mẹ của chồng) có hành vi tố cáo người vợ cả Người chồng cũng không được tố cáo cha mẹ vợ Tuy nhiên, tội nhẹ hơn so với việc người vợ tố cáo chồng và gia đình chồng

 Thứ tư, người vợ có nghĩa vụ để tang chồng và thành viên trong gia đình chồng

Nghĩa vụ tòng phu phát sinh từ khi người con gái bước chân vào nhà chồng làm dâu cho đến khi chồng chết đi nghĩa vụ này vẫn chưa chấm dứt hẳn Chồng chết, người vợ để tang trong 3 năm Trong thời gian này người vợ cải giá hoặc

ăn chơi đàn hát thì sẽ bị khép vào tội bất nghĩa (Điều 2) và chế tài được đặt ra (Điều 98) Quy định này đã thể hiện triệt để quan điểm của Nho giáo trong việc

đề cao sự trinh tiết của người vợ, không chỉ lúc chồng còn sống mà cả khi đã chết Người vợ còn phải để tang các thành viên khác trong gia đình chồng Theo chế độ tang chế thì tang cha mẹ chồng thuộc loại trảm thôi là tang 3 năm nếu đó

là vợ cả và 1 năm nếu là vợ lẽ [4-tr.77,tr.79]; tang ông bà nội, chú bác của chồng thuộc loại đại công 9 tháng [4-tr.80]; tang cô chồng, anh chị em chồng thuộc loại tiểu công 5 tháng [4-tr.82]; và một số thành viên khác thuộc tang ti ma 3 tháng [4-tr.85-86]

Bộ luật cũng quy định người chồng phải để tang vợ trong thời gian 1 năm

và để tang cha mẹ vợ 3 tháng [4-tr.84] Tuy không đặt ra những quy định nghiêm ngặt như đối với người vợ trong quãng thời gian này, nhưng đã thể hiện được mối quan hệ qua lại giữa vợ và chồng Ngoài ra, các thân thuộc khác của chồng cũng có nghĩa vụ để tang người vợ Khi chồng là con trai trưởng trong gia đình thì cha mẹ chồng có nghĩa vụ để tang con dâu 1 năm [4-tr.78], khi chồng là cháu dòng chính thì ông của chồng để tang cháu dâu thuộc loại tiểu công 5 tháng [4-tr.81] và ông bà của chồng đối với các cháu dâu khác thì thuộc tang ti ma 3

Trang 39

tháng [4-tr.83], anh em của chồng để tang em dâu, chị dâu thuộc tang tiểu công

5 tháng [4-tr.81]

Như vậy, khi đã có chồng người phụ nữ phải hết lòng vì chồng và gia đình chồng Nhưng không phải vì vậy mà người vợ (nhất là đối với vợ cả) lệ thuộc hoàn toàn vào người chồng và mất đi năng lực pháp lý Họ vẫn được pháp luật bảo vệ với tư cách là dâu con trong gia đình chồng, một cá nhân trong xã hội

 Nghĩa vụ đồng cƣ

Khác với nghĩa vụ tòng phu, nghĩa vụ đồng cư đặt ra cho cả vợ và chồng

Vợ chồng “đồng cư” là cùng chung sống với nhau tại một nơi, thường là tại gia đình chồng

Đối với người chồng, nghĩa vụ này được đặt ra theo hạn định Điều 108 lệ

2 quy định: “… chồng đi 3 năm không về thì cho phép thưa lên quan cấp chấp chiếu cho ra đi cải giá, cũng không đòi tiền cưới” [6-tr.347] Với quy định này, nhà làm luật muốn khẳng định trách nhiệm của chồng đối với vợ Là người chủ gia đình người chồng có trách nhiệm lo lắng, không được bỏ bê, trễ nải vợ con

So với người chồng nghĩa vụ này của người vợ mang tính tuyệt đối hơn bởi người vợ còn có nghĩa vụ tòng phu Người vợ cả tự tiện trốn đi thì phạt 100 trượng, nhân đó cải giá thì bị xử thắt cổ Đối với người vợ lẽ thì nhẹ hơn 2 bực tội, bỏ chồng trốn đi thì phạt 80 trượng, nhân đó cải giá thì phạt 100 trượng, đồ 3 năm (Điều 108) Các trường hợp này, pháp luật còn cho phép người chồng gả bán vợ cho người khác

Nhận xét về quy định nghĩa vụ đồng cư đối với cả người chồng, Tiến sĩ Trương Quang Vinh đã viết: “Bộ luật cũng đặt ra một số điều luật tương ứng với người chồng trong gia đình, song không phải với ý nghĩa công bằng nam nữ mà thực chất để bảo vệ trật tự gia đình theo lễ nghi Nho giáo” [27-tr.219-220] Có thể nói các quy định hôn nhân và gia đình trong Hoàng Việt luật lệ ít nhiều đều hướng đến việc bảo vệ trật tự gia đình phong kiến Nhưng đó là cái nhìn rộng, ở tầm bao quát, còn trong phạm vi mối quan hệ nhân thân của vợ chồng thì quy định nghĩa vụ đồng cư đối với cả người chồng là đã xem xét đến lợi ích của

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Bùi Xuân Đính – Tình hình pháp luật và việc áp dụng hình phạt dưới triều đại nhà Nguyễn (giai đoạn từ 1802-1858). Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8(148)/2000 Khác
13. Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Trường Đại học Luật Hà Nội. Nxb Công An. Hà Nội 2002 Khác
14. Đặng Thanh Hiền – Chế định thừa kế trong pháp luật thời Lê sơ (Thế kỷ XV). Luận văn tốt nghiệp 2010 Khác
15. Ái Lan – Luật Gia Long có 7 điều cho phép đàn ông ly dị vợ. Tạp chí Mới, tuần lễ từ 28/9/1966 đến 4/10/1966. Nhà in Tấn Phát Khác
16. Vũ Văn Mẫu – Dân luật lược giảng, quyển I. Sài Gòn 1967 Khác
17. Vũ Văn Mẫu – Cổ luật Việt Nam lược khảo, quyển I. Sài Gòn 1968 Khác
18. Nỗi đau của người mẹ gần đất xa trời bị con trai bất hiếu kiện đòi tiền công nuôi dưỡng – Báo Tuổi trẻ và đời sống số 94 ngày 25/6/2012 Khác
19. Vũ Thị Phụng – Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam (Từ nguồn gốc đến trước Cách mạng tháng Tám 1945). Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 1990 Khác
20. Nguyễn Quang Quýnh – Dân luật, Quyển I. Nxb Viện Đại học Cần Thơ, 1967 Khác
21. Lê Thị Sơn – Quốc triều hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị. Nxb Khoa học xã hội, 2004 Khác
22. Tập bài giảng Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam – Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2009 – 2010 Khác
23. Nguyễn Quang Thắng – Lược khảo Hoàng Việt luật lệ. Nxb Văn hóa thông tin Khác
24. Nguyễn Thị Thoan – Những điểm đặc sắc trong pháp luật hôn nhân và gia đình thời Lê thế kỷ XV. Luận văn tốt nghiệp 2007 Khác
25. Đinh Gia Trinh – Sơ lược lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX). Nxb Khoa học. Hà Nội 1968 Khác
26. Nguyễn Thị Thu Vân – Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8(205)/2005 Khác
27. Trương Quang Vinh – Tội phạm và hình phạt trong Hoàng Việt luật lệ. Nxb Tư pháp. Hà Nội 2008.Website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w