Nhằm góp phần làm cho nền pháp luật nước ta trong thời kỳ phong kiến được biết đến nhiều hơn cũng như mong muốn góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền pháp luật hiện tại, tác giả đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
VÕ THỊ ÁNH MSSV: 0855040001
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THỜI PHONG KIẾN VIỆT NAM 1
1.1.Khái niệm, đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Đặc điểm 2
1.2 Vai trò của nền kinh tế nông nghiệp và pháp luật đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp 7
1.2.1 Vai trò của nền kinh tế nông nghiệp 7
1.2.2 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triền kinh tế nông nghiệp 9
1.3 Một số nét cơ bản về pháp luật đối với nền kinh tế nông nghiệp của các triều đại phong kiến Việt Nam giai đoạn độc lập tự chủ (939 – 1884) 11
1.3.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê 11
1.3.2 Thời Lý – Trần – Hồ 12
1.3.3 Thời Lê sơ và thời kỳ nội chiến phân liệt 13
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT THỜI LÊ SƠ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP – NHỮNG GIÁ TRỊ CẦN KẾ THỪA 17
2.1 Hoàn cảnh lịch sử tác động đến việc ban hành pháp luật thời Lê sơ về phát triển kinh tế nông nghiệp 17
2.2 Nội dung pháp luật về phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ 18
2.2.1 Nội dung pháp luật đối với tư liệu sản xuất 18
2.2.1.1 Pháp luật về đất đai 19
2.2.1.2 Pháp luật về công tác trị thủy và thủy lợi 37
2.2.1.3 Pháp luật đối với trâu bò – sức kéo 43
2.2.2 Pháp luật đối với lực lượng lao động trong nông nghiệp 44
2.2.3 Pháp luật về cách thức quản lý nền sản xuất nông nghiệp 50
2.3 Những giá trị cần kế thừa trong pháp luật thời Lê sơ về phát triển kinh tế nông nghiệp 52
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đây là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên của tác giả Do kiến thức còn hạn chế
và kinh nghiệm còn chưa nhiều nên luận văn khó tránh khỏi những sai sót Tác giả mong sẽ nhận được sự góp ý của quý thầy cô
Qua đây tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Thạc sĩ Dương Hồng Thị Phi Phi – người cô đã tận tụy hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình viết khóa luận
Các thầy, cô trường Đại học Luật Tp.hcm đã truyền thụ kiến thức cho em trong suốt 4 năm học vừa qua
Thư viện trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh – Nơi cung cấp cho tác giả những tài liệu tham khảo quan trọng để thực hiện khóa luận
Gia đình, bạn bè – những người đã giúp đỡ và ủng hộ tác giả trong quá trình thực hiện khóa luận
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Người xưa đã từng nói: “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”, “Việc xưa đã không hiểu biết lấy gì mà ngẫm xét việc nay” Để xây dựng, củng cố và phát triển nhà nước
và pháp luật hiện đại thì không thể bỏ qua việc nghiên cứu về nhà nước và pháp luật trong lịch sử
Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, trải qua nhiều triều đại khác nhau song đến giai đoạn trị vì của triều đại nhà Lê sơ từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI được xem là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, xã hội… Đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp là cơ sở vật chất cho sự tồn tại của mỗi triều đại trong lịch sử dân tộc Nước ta đang là một nước nông nghiệp, nghiên cứu lịch sử sẽ cho chúng ta thêm nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích Mặt khác tìm hiểu pháp luật đời xưa cũng là tìm hiểu và phát huy tinh thần dân tộc – một việc làm cấp bách hơn lúc nào hết trong giai đoạn hiện đại để tránh bị hòa tan trong quá trình hội nhập, để có thể giữ vững được truyền thống dân tộc Pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527 đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Nhưng số lượng các lĩnh vực mà pháp luật điều chỉnh quá rộng đồng thời cho đến nay việc nghiên cứu lịch sử pháp luật về xây dựng và phát triển kinh
tế nông nghiệp ở nước ta còn ít và hạn chế Nhằm góp phần làm cho nền pháp luật nước ta trong thời kỳ phong kiến được biết đến nhiều hơn cũng như mong muốn góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền pháp luật hiện tại, tác giả đã chọn đề tài:
“Pháp luật nhà Lê thế kỷ XV về phát triển kinh tế nông nghiệp” để làm khóa luận tốt
nghiệp
Trang 52 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
a Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này tác giả nhằm làm rõ nội dung pháp luật về phát triển kinh
tế nông nghiệp của nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527 Để thấy được sự tiến bộ vượt bậc của nhà Lê so với các triều đại trước đó Xác định được nội dung các chính sách đương thời và nội dung của chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp qua các triều đại
mà đặc biệt là triều Lê
b Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu các biện pháp pháp lý và kinh tế, đề tài tập trung làm sáng tỏ vấn đề pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527 về phát triển kinh tế nông nghiệp Dựa vào các văn bản pháp luật của triều Lê mà đặc biệt là bộ luật Quốc triều hình luật từ đó làm rõ nội dung những chính sách pháp luật cụ thể, có sự so sánh với các nhà nước phong kiến trước và sau triều Lê nhằm thấy rõ được sự tiến bộ và phát triển vượt bậc của triều đại này Thông qua đó rút ra được những giá trị tích cực của pháp luật nhà Lê về phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm bổ sung và hoàn thiện nền pháp luật hiện đại
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
a Đối tượng nghiên cứu
Pháp luật thời Lê sơ đạt được khá nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực như chính sách kinh tế, xã hội, chính sách quan chế, chế định hợp đồng, tuyển chọn và sử dụng quan lại…Tuy nhiên trong phạm vi đề tài tác giả chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ Đó là nội dung pháp luật về đất đai, đẩy mạnh nghề nông, lập đồn điền, di dân và khẩn hoang, trị thủy và làm thủy lợi
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Từ khi Lê Lợi lên ngôi vua cho đến khi Lê Chiêu Thống cầu ngoại viện chống lại vua Quang Trung thì triều đại nhà Lê kéo dài 360 năm có thể chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Thời kỳ Lê sơ (1428 – 1527)
Giai đoạn 2: Thời kỳ Lê Mạt (1527 – 1788)
Thời Lê sơ kéo dài 99 năm là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nhà Hậu Lê Các vị vua thời Lê đã ban hành nhiều chính sách để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Trong giới hạn đề tài, với mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra khóa luận nghiên cứu một cách cụ thể nội dung pháp luật về các chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp của
Trang 6nhà Lê giai đoạn 1428-1527 Từ đó cho thấy xu thế phát triển của nó trong triều đại nhà Lê cũng như các triều đại khác và có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp của nhà nước ta hiện nay
c Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lê Nin, phương pháp phân tích, nghiên cứu lịch sử kết hợp đối chiếu và so sánh
4 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI: Đề tài được kết cấu bởi các nội dung cơ bản sau: Mục lục
Lời mở đầu
Nội dung chính gồm 2 chương:
Chương 1: Lý luận chung về việc phát triển kinh tế nông nghiệp
Chương 2: Pháp luật thời Lê sơ về việc phát triển kinh tế nông nghiệp – những giá trị
cần kế thừa
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 71
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI NỀN
KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THỜI PHONG KIẾN VIỆT NAM
1.1.Khái niệm, đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam
1.1.1 Khái niệm
Trước khi đi vào tìm hiểu đặc điểm của nền kinh tế nông nghiệp trước hết xác định được những nội hàm các khái niệm có liên quan như nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “Nông nghiệp là một danh từ chỉ nghành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” 1
Trong nông nghiệp có hai loại chính và việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu chỉ phục vụ cho chính gia đình của người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất
cả các khâu trong sản xuất nông nghiệp Gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt chăn nuôi, trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn
Theo từ điển kinh tế học thì khu vực nông nghiệp được hiểu là: “Khu vực hoặc một bộ phận dân số tham gia vào nghề nông, cung cấp lương thực, nguyên liệu thô như bông, gỗ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu”2 Mặt khác:
Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam thì kinh tế được hiểu là: “Toàn bộ hoạt động nhằm sản xuất ra của cải vật chất và trao đổi, phân phối, sử dụng những của cải đó trong xã hội loài người”3
Như vậy có thể hiểu kinh tế nông nghiệp là một nghành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu nhằm sản xuất ra những nông phẩm và trao đổi, phân phối, sử dụng những nông phẩm đó trong xã hội loài người
1 Từ điển tiếng việt phổ thông, trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, 2007,tr.1161
2 Nguyễn Văn Dung, Từ điển kinh tế học, Nxb Lao động, 2011, tr.2
3
Nguyễn Lân, Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tp.HCM, 2006
Trang 8dê, lợn, gà, chó” Nhiều xương, răng gia súc như lợn, trâu, bò được chôn theo người chết làm vật tùy táng4
Vào hậu kỳ thời đại đồ đồng và sơ kỳ thời đại đồ sắt cư dân đã mở rộng địa bàn
cư trú, tràn xuống chinh phục đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Thời kỳ này cây trồng chủ yếu là lúa nước, cùng với nghề trồng lúa nước, nghề trồng rau củ, cây ăn quả tiếp tục phát triển Theo tư liệu khảo cổ học phân tích 4 mẫu thóc cháy và trấu lấy từ các di tích thì đều có niên đại trước Công nguyên Hạt na, hạt hoàng ngô, kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di tích Tràng Kênh cho thấy có những cây thuộc họ đậu , họ bí,
họ dâu tằm 5 Chăn nuôi cũng được đẩy mạnh theo đà của trồng trọt Trâu, bò, gà, chó, lợn …là những gia súc phổ biến mà xương, răng của chúng được tìm thấy ở nhiều di tích khảo cổ học
Những công cụ bằng thau, bằng sắt thay thế dần công cụ bằng đá Từ trồng trọt nương rẫy là phổ biến chuyển sang làm nông nghiệp trồng lúa nước làm chủ đạo, từ nông nghiệp dùng cuốc sang dùng cày với lưỡi cày bằng kim loại và sức kéo của gia súc
Công cuộc chinh phục vùng đồng bằng, phát triển nông nghiệp trồng lúa nước đặt
ra yêu cầu cấp thiết về công tác trị thủy và thủy lợi Một đoạn chép trong sử cũ cho biết bấy giờ cư dân đã “tưới ruộng theo nước triều lên xuống”6 Cùng với quá trình phát triển đó là quá trình con người từ vùng đồi núi trung du tràn xuống khai phá và chiếm lĩnh vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn của sông Hồng, sông Mã, sông Cả, làm thay đổi cảnh quan đất nước, tạo ra một cục diện mới của “văn minh lúa nước sông Hồng”
4 Hùng Vương Dựng Nước, Nxb Khoa hoc xã hội, HN – 1974, tr.175
5 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam Nxb CÔng an nhân dân,
2006, tr 7
6
Lê Tắc – An Nam chí lược – Nxb Viện Đại học Huế – 1961
Trang 93
Trong suốt chiều dài lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, nghề nông được xem là nghề gốc của các nước phong kiến Vì vậy các triều đại phong kiến Việt Nam nào cũng phải thi hành chính sách “trọng nông”
Sách An Nam Chí Nguyên của Cao Hùng Trưng nhà Thanh có những đoạn chép
về đất đai, mùa màng, sản vật của Đại Việt như: “ruộng đất ở đó màu mỡ, cấy lúa trồng dâu và chăn nuôi đều thích nghi cả ruộng cấy lúa mùa thì tháng 5 cấy, tháng 10 được gặt Ruộng lúa chiêm tháng 11 cấy, tháng 4 năm sau gặt Thế gọi là lúa 2 mùa mà nhà nước đánh thuế Tầm tang mỗi năm 8 lứa Thế gọi là tơ trong 8 lứa tằm do làng cống nộp, một năm có 2 vụ lúa và 8 lứa tằm, dâu và gai có đầy đồng nội Lợi nguyên
cá và muối rất nhiều”
Các vương triều Ngô – Đinh – Tiền Lê mới giành được độc lập chưa có điều kiện chăm lo phát triển nhiều về nông nghiệp, chỉ mong khôi phục và duy trì trở lại nền văn minh lúa nước của thời Văn Lang – Au Lạc Đến thời Lý – Trần - Hồ, nền nông nghiệp Việt Nam được phát triển mạnh hơn với nhiều chính sách mới, công việc khẩn hoang và xây dựng các công trình thủy lợi được tiến hành tích cực với quy mô lớn Vào thời Hậu Lê, nền nông nghiệp mới thật sự có nhiều biến đổi và phát triển vững chắc Sau khi chiến thắng quân Minh, công cuộc phục hồi kinh tế rất nhanh và liền sau
đó, sự nghiệp phát triển nông nghiệp được thúc đẩy trên quy mô lớn với nhiều biện pháp, đạt được nhiều thành tựu trong các mặt như: khai hoang lập đồn điền, phát triển thủy lợi, mở rộng ruộng đồng trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa Còn trong thời kỳ nội chiến phân liệt, do chiến tranh liên miên đã phá hoại nghiêm trọng sản xuất nông nghiệp, ruộng đồng bỏ hoang, nông dân trôi dạt đi các nơi, kinh tế nông nghiệp không có bước chuyển biến gì mới so với các giai đoạn trước
Bước sang thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những khởi sắc đáng kể Người nông dân Việt nam đã tiến khá sâu vào việc nhân giống lúa cho phù hợp với đất đai, địa thế và nhu cầu của mình Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi lại hơn 65 giống lúa tẻ và 27 giống lúa nếp Bên cạnh việc trồng lúa, tùy địa phương và thế đất, người nông dân còn trồng các loại cây lương thực khác như sắn, khoai lang, khoai môn, củ từ, củ mài, ngô, cao lương…ngoài ra họ còn trồng đều 17 loại đậu khác nhau Kinh tế vườn phát triển với
Trang 10Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử cho đến nay nền nông nghiệp của nước ta đã có nhiều bước chuyển biến rõ rệt Từ một nền nông nghiệp lạc hậu sản xuất lương thực chủ yếu là lúa nước và một số hoa màu khác nhưng phân tán với những công cụ thô
sơ, năng suất kém nay đã trở thành một nền nông nghiệp chuyên môn hóa cao, đa dạng hóa sản phẩm, sử dụng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp, thiết bị mới
Qua tiến trình phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam, có thể rút ra được một
số đặc điểm của nền kinh tế này như sau:
Thứ nhất: Nước ta có nhiều yếu tố phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế nông
nghiệp nhiệt đới một cách thuận lợi
Sự phát triển của nền sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp (kinh tế nông nghiệp) nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Theo chủ nghĩa Mac thì lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt tất yếu cơ bản của quá trình sản xuất Bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất nào cũng phải có các nhân tố thuộc về người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức…của người lao động) cũng như các tư liệu sản xuất nhất định Toàn bộ các nhân tố đó tạo thành lực lượng sản xuất của quá trình sản xuất Ngoài ra còn có các mối quan hệ trong quan hệ sản xuất như quan hệ về sở hữu đối với
tư liệu sản xuất, quan hệ trong việc tổ chức quản lý
Đối với nền sản xuất nông nghiệp có thể khẳng định những yếu tố sau đây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành này đó là: đất, nước, khí hậu, công cụ lao động, sức kéo – chủ yếu là trâu, bò, người nông dân (lực lượng lao động chính của xã hội phong kiến nói chung, nghành nông nghiệp nói riêng), quan hệ sở hữu đối với đất đai (tư liệu sản xuất quan trọng nhất), cách thức tổ chức và quản lý đối với hoạt động sản xuất
Nhìn từ góc độ này, nước ta hội đủ các điều kiện về lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất để có thể phát triển một nền kinh tế nông nghiệp nhiệt đới
7
Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn – NXb Thuận Hóa, tr.129
Trang 115
Về điều kiện tự nhiên: Sự phát triển của nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều
kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên trong đó các nhân tố quan trọng hàng đầu là đất đai, khí hậu, nước
Một là về đất trồng: Là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông, lâm nghiệp, nó
quyết định đến quy mô, cơ cấu và phân bố nông nghiệp nhất là đối với nghành trồng trọt Nó là nền tảng, không gian cho hoạt động sản xuất Đất đai bị giới hạn về diện tích là không thể tăng thêm nhưng sức sản xuất của nó là chưa có giới hạn Nghĩa là con người có thể khai thác về chiều sâu nhằm thỏa mãn nhu cầu về nông sản phẩm Chính vì vậy cần sử dụng kết hợp cải tạo, bồi dưỡng đất Ở nước ta có những đồng bằng phì nhiêu, đất tơi xốp, ít chua, giàu mùn, được bồi đắp phù sa hàng năm trải dài
từ Bắc vào Nam, thuận lợi cho việc trồng cây lương thực và ăn như đồng bằng Sông Hồng, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long
Đất trồng ở nước ta chủ yếu có 2 nhóm đất chính là đất đồng bằng và đất trung
du, miền núi
Đất đồng bằng gồm đất phù sa không bồi hàng năm, đất phù san bồi hàng năm… Đất trung du, miền núi gồm các loại chính: đất vàng nhạt trên đá cát, đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất, đất vàng đỏ trên đá macma…
Tùy tính chất, đặc điểm của từng loại đất mà có các loại cây trồng và vật nuôi tương ứng, phù hợp
Hai là về khí hậu: Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với lượng mưa là
1500 – 2000mm/năm, độ ẩm trên 80%, tổng lượng bức xạ mặt trời 120-130 kcal/cm2/năm Cung cấp lượng bức xạ lớn, lượng ánh sáng dồi dào, nguồn nhiệt ẩm phong phú cho cây trồng sinh trưởng và phát triển quanh năm, năng suất cao Nhưng bên cạnh đó kiểu khí hậu này gây nhiều trở ngại cho sản xuất nông nghiệp như bão lụt, hạn hán Độ ẩm cao nên sâu bệnh dễ phát triển Ở một số nơi mùa khô thiếu nước, mùa mưa ngập úng, sản xuất nông nghiệp có tính bấp bênh
Ba là về tài nguyên nước: phong phú với mạng lưới sông ngòi dày đặc, cung cấp
nguồn nước tưới cho nông nghiệp, nguồn nước phong phú cung cấp lượng phù sa khổng lồ hình thành nên các đồng bằng rộng lớn, với các con sông lớn như: Sông Hồng, sông Mã, sông Lô, sông Đáy… Hầu hết sông suối Việt Nam đều khởi nguồn
từ dãy núi phía Bắc hay phía Tây, với độ nghiêng lớn nên hầu hết các sông suối Việt Nam đều có dòng chảy nhanh, mạnh, xiết, phân bố không đồng đều theo thời gian,
Trang 126
không gian gây khó khăn đối với hoạt động nông nghiệp Dòng sông chảy xiết gây ra nhiều tai họa đồng thời mang lại nhiều mối lợi nếu con người biết chế ngự nó Vào mùa mưa, nước sông dâng cao gây ra nạn lụt khủng khiếp đe dọa đời sống sản xuất của nhân dân Tuy nhiên mối lợi là nó chuyển tải chất hữu cơ và lớp phù sa với những lượng lớn từ các cánh rừng thượng nguồn về bồi đắp cho các chỗ trũng, chỗ đầm lầy vùng hạ lưu Sau mỗi trận lũ lụt các cánh đồng phủ dày phù sa tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng phát triển
Bốn là, đối với nguồn nhân lực phục vụ sản xuất: Đó chinh là con người thì
trong sản xuất nông nghiệp gắn liền với lực lượng sản xuất chính là người nông dân Người nông dân việt nam từ xưa đến nay với đức tính cần cù, chịu khó, sáng tạo, đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong quá trình sản xuất Tỷ trọng dân số trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp luôn chiếm ưu thế cao hơn so với các nghành kinh tế khác Đó là một điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp
Năm là, sự phong phú về đối tƣợng của sản xuất nông nghiệp: Đối tượng của
sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm đã thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Mỗi loại cây trồng, vật nuôi phát triển theo một quy luật sinh học nhất định, phát sinh, phát triển và diệt vong Con người cần nhận thức đúng đắn các quy luật đó để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng Ở nước ta, các loại trồng như: lúa nước, hoa màu (ngô, khoai, đậu ), vật nuôi như: lợn, trâu, bò, các loại gia cầm là những sản phẩm
chính của sản xuất nông nghiệp
Ngoài ra, vị trí địa lý thuận lợi cũng là một yếu tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp
Về vị trí địa lý: Việt nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thuận lợi cho
việc phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới Nằm ở nơi gặp gỡ di cư của nhiều luồng động thực vật nên tài nguyên sinh vật đa dạng, làm phong phú sản phẩm nông nghiệp Giáp với vùng biển rộng lớn, cung cấp độ ẩm cho cây cối phát triển quanh năm Tuy nhiên do vị trí nằm ở nơi giao tranh của các khối khí, trên đường di chuyển của nhiều cơn bão, gây thiên tai, lũ lụt, ảnh hưởng tới năng suất cây trồng, vật nuôi
Thứ hai, nông nghiệp nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu với tính chất
tự cung tự cấp, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên Mỗi cơ sở sản xuất, mỗi địa phương đều
Trang 137
sản xuất nhiều loại sản phẩm và phần lớn sản phẩm là để tiêu dùng tại chỗ Sản xuất với quy mô nhỏ, manh mún, công cụ thủ công, sử dụng nhiều sức người và động vật, năng suất lao động thấp
Thứ ba, sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức
tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Mỗi quốc gia, mỗi vùng có điều kiện đất đai, thời tiết và khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau nên, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau
Thứ tƣ, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình
nhất của sản xuất nông nghiệp Quá trình tái sản xuất nông nghiệp gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên Mặt khác do sự biến đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu, mỗi loại cây trồng có những thích ứng nhất định với điều kiện đó dẫn đến mùa vụ khác nhau Tính thời vụ có ý nghĩa quan trọng đối với nông dân, để khai thác một cách có hiệu quả nhất những sản vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp cần thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu Bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với thời vụ
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản của nghành sản xuất nông nghiệp Nắm bắt được những đặc điểm này nhằm đề ra những biện pháp khai thác, sản xuất nông nghiệp một cách có hiệu quả nhất Đề ra được những chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, khu vực nhất định, phát huy một cách có hiệu quả nhất sức sản xuất nông nghiệp, hạn chế thấp nhất những tác hại có thể xảy ra
Vì vậy việc nghiên cứu pháp luật về phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lê thế kỷ
XV trước hết và chủ yếu phải làm rõ sự quy định của nhà nước về các quy định của pháp luật đối với những yếu tố này – chủ yếu là các yếu tố cơ bản về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông nghiệp để từ đó có cơ sở kết luận về việc pháp luật thời Lê đã tác động như thế nào đến ngành kinh tế quan trọng bậc nhất thời kỳ này
1.2 Vai trò của nền kinh tế nông nghiệp và pháp luật đối với sự phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Vai trò của nền kinh tế nông nghiệp
Đối với Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung, nền kinh tế nông nghiệp đóng một vai trò cực kỳ quan trọng
Trang 148
Nông nghiệp tạo ra sản phẩm thiết yếu nhất cho con người Lương thực thực phẩm chỉ có nghành nông nghiệp mới sản xuất ra Trên thực tế là phần lớn sản phẩm chế tạo có thể thay thế nhưng không có sản phẩm nào có thể thay thế lương thực Do
đó nước nào cũng phải sản xuất hoặc nhập khẩu lương thực để phục vụ cho nhu cầu của mình.Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu dùng, là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực thực phẩm cũng ngày càng tăng về
số lượng, chất lượng và chủng loại
Nông nghiệp là ngành tạo việc làm cho đa số lao động nông thôn ở nước ta thời phong kiến Đến trước Cách mạng Tháng Tám dân số nông thôn ở nước ta vẫn còn chiếm 90% dân số cả nước Đây là ngành tạo ra thu nhập chính cho hầu hết bộ phận dân cư ở nông thôn góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, tỷ lệ thu nhập giữa thành thị và nông thôn được rút ngắn Nếu không phát triển nông nghiệp thì kéo theo đó là sự phá sản hàng loạt của người nông dân, thất nghiệp, đói nghèo, nhiều vấn đề xã hội phát sinh Các nghành kinh tế khác như thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng bị ảnh hưởng lớn theo tình trạng đó Bởi:
Nông nghiệp còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các nghành công nghiệp chế biến nông sản Thông qua công nghiệp chế biến giá trị của sản phẩm nông nghiệp được tăng lên gấp nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hóa, mở rộng thị trường
Quan trọng hơn hết chúng ta xét tới an ninh lương thực Một khi dân số tăng nhanh, sự đe dọa của các thế lực thù địch, thiên tai hay chiến tranh xảy ra thì lương thực dư thừa sẽ cạn Vậy nên vẫn tồn tại hiểm họa từ an ninh lương thực nếu không tự túc được đa phần lương thực bằng việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm dư thừa, tích lũy để phòng khi thiên tai địch họa
Ngoài những vai trò rất quan trọng đã đề cập ở trên, ngành kinh tế nông nghiệp cho đến ngày hôm nay đã có thêm nhiều đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung thể hiện ở chỗ:
Nông nghiệp đóng vai trò không nhỏ trong việc cung cấp vốn cho các ngành kinh
tế khác thông qua những hình thức khác nhau Dạng trực tiếp: nguồn thu từ thuế đất
Trang 15Nông nghiệp và nông thôn là là thị trường rộng lớn và chủ yếu của sản phẩm trong nước Việc tiêu dùng của người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của nghành kinh tế nông nghiệp đối với phát triển kinh tế Sự đóng góp này cũng bao gồm cả việc bán lương thực, thực phẩm, nông sản nguyên liệu cho các nghành kinh tế khác
Xuất phát từ tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống và sự phát triển kinh tế của đất nước mà không gì có thể thay thế nó, nhà nước cần có những chính sách tích cực để phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững Phát huy một cách có hiệu quả nhất những tiềm năng phát triển nông nghiệp vốn có
1.2.2 Vai trò của pháp luật đối với sự phát triền kinh tế nông nghiệp
Pháp luật tạo dựng cơ sở pháp lý và tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển Bản thân các quan hệ kinh tế vốn có những quy luật đặc thù tự nhiên của chúng
và luôn vận động, phát triển theo những quy luật đó Theo trường phái Mác thì pháp luật, nhà nước, chính trị, đạo đức là kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở hạ tầng kinh tế Các quan hệ kinh tế quyết định nội dung, hình thức pháp luật Các Mác viết: “trong thời đại nào cũng thế chính vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh
tế chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Các quan hệ pháp luật về chính trị cũng như về dân sự chỉ là việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế”8 Đây chính là sự lệ thuộc của pháp luật vào kinh tế
Tuy vậy cũng phải nhận thấy rằng, pháp luật không chỉ là sản phẩm khách quan, trực tiếp của các quan hệ kinh tế mà còn là sản phẩm của ý thức chủ quan của con người Nó chịu sự chi phối của các lợi ích khác và nhiều nhân tố khác Chính vì vậy pháp luật có vai trò điều chỉnh, tác động tích cực hay tiêu cực tới các quan hệ kinh tế Thực tiễn đã chỉ ra rằng, khi pháp luật phản ánh đúng quy luật khách quan của đời sống kinh tế xã hội thì nó có khả năng thúc đẩy kinh tế phát triển Ngược lại khi pháp
8
CMac, Sự khốn cùng của triết học, Nxb Sự thật Hà nội, 1971
Trang 16Trải qua mỗi giai đoạn, thời kỳ lịch sử thì điều kiện, hoàn cảnh kinh tế hoàn toàn khác nhau Nếu nhà nước có sự quan tâm đúng cách, phù hợp với nền kinh tế từng thời điểm, ban hành pháp luật một cách khách quan, phù hợp với nhu cầu phát triển tiến bộ của xã hội thì khi đó pháp luật mới thực sự có ích và thúc đẩy kinh tế phát triển Đối với nông nghiệp nói riêng, pháp luật tạo ra hành lang pháp lý góp phần giải quyết, khắc phục tình trạng lãng phí đất đai, tình trạng người dân phiêu tán vì mất đất, giải quyết việc làm cho nông dân, chống sự lạm quyền, tham nhũng của quan lại Phát huy tiềm năng sản xuất, sức lao động của người dân bằng những chính sách, quy định pháp luật tích cực, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội
Ngược lại nếu sự tồn tại của pháp luật không bắt nguồn thực tế từ những đòi hỏi của các quan hệ kinh tế mà dường như là nhu cầu chủ quan, không phù hợp với yêu cầu hoàn cảnh đặt ra thì sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế Hơn nữa nhiều khi vì sự mong muốn của con người, sự duy ý chí của các nhà làm luật mà những quy định của pháp luật được ban hành xét về mặt xã hội thì tốt nhưng không được thực hiện trên thực tế vì không có những điều kiện kinh tế đảm bảo cho nó thực hiện được Ví dụ trong giai đoạn triều Lê thế kỷ XV, nền kinh tế nông nghiệp vốn đã suy yếu từ thời nhà Trần lại thêm 20 năm đô hộ của nhà Minh đến thời kỳ này đã bị tàn phá nghiêm trọng trở nên trì trệ, đình đốn Nếu có những chính sách, quy định pháp luật tích cực, phù hợp với hoàn cảnh thì nền kinh tế nông nghiệp có khả năng sớm được phục hồi và phát triển Còn nếu vẫn giữ nguyên những chính sách, quy định pháp luật của giai đoạn trước mà không có sự sáng tạo, sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới thì có thể
sự trì trệ, đình đốn đó vẫn được duy trì, nền kinh tế sẽ bị kìm hãm sự phát triển bởi vì những chính sách, pháp luật đó đã không còn phù hợp với tình hình kinh tế mới
Trang 1711
Như vậy có thể thấy rằng pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của nền kinh
tế, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó Sự tác động của nó đối với nền kinh tế là tốt hay xấu phụ thuộc vào ý chí của các nhà làm luật có đáp ứng được đòi hỏi thực tế của các quan hệ kinh tế đó hay không
1.3 Một số nét cơ bản về pháp luật đối với nền kinh tế nông nghiệp của các triều đại phong kiến Việt Nam giai đoạn độc lập tự chủ (939 – 1884)
1.3.1 Thời Ngô – Đinh – Tiền Lê
Thời kỳ phong kiến độc lập ở nước ta bắt đầu từ thời nhà Ngô, năm 939, sau chiến thắng Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở
Cổ Loa Nối tiếp nhà Ngô là nhà Đinh do Đinh Bộ Lĩnh (Đinh Tiên Hoàng) sáng lập kéo dài 12 năm (968 – 980) Sau khi Đinh Tiên Hoàng mất, Lê Hoàn được lập lên ngôi, mở ra một triều đại mới trong lịch sử phong kiến Việt Nam – Triều Tiền Lê (981 – 1009)
Trong khoảng thời gian lên nắm quyền, phần thì phải lo nguy cơ xâm lăng ở bên ngoài, phần thì phải lo dẹp giặc cướp trong nội bộ, khắc phục hậu quả chiến tranh cho nên về phương diện xây dựng pháp luật các nhà Ngô – Đinh – Tiền Lê chưa chú trọng Ở thời ấy việc binh đã chiếm hết suy nghĩ của các nhà cầm quyền Theo các thư tịch cổ, pháp luật thời kỳ này chưa được ghi nhận nhiều Trong Lịch triều hiến chương loại chí không có ghi nhận gì về pháp luật thế kỷ X Trong Đại Việt sử ký toàn thư, pháp luật thời kỳ này cũng được phản ánh rất ít
Về hình thức pháp luật thời kỳ này chủ yếu là tập quán pháp và văn bản pháp luật Tập quán pháp được xem là nguồn quan trọng và phổ biển Đây là những tập quán của các làng, xã cổ truyền được lưu giữ lại và được nhà nước thừa nhận Lúc bấy giờ pháp luật thành văn đã xuất hiện Theo Đại việt sử kí toàn thư, năm thứ 9 (1002)…Mùa xuân, t3, vua Lê Đại Hành định luật lệnh….(tr.223) Định ra “luật lệnh” nhưng đó là luật lệnh gì thì không thể biết rõ nội dung
Nhìn chung đây là giai đoạn mới giành được độc lập, còn nhiều bất ổn về tình hình chính trị, xã hội với tình trạng phân tán, cát cứ bên trong và tình hình giặc giã bên ngoài nên pháp luật chưa phát triển còn đơn giản, sơ sài và phiến diện Pháp luật thời
kỳ này chủ yếu chỉ điều chỉnh những vấn đề cấp bách như quân sự, quan chế, nông nghiệp chưa được chú trọng Tuy chưa đạt được nhiều thành tựu nhưng pháp luật thời
kỳ này đã đặt nền tảng vững chắc cho những giai đoạn tiếp theo
Trang 18Pháp luật thời kỳ này đã chú trọng bảo vệ sản xuất nông nghiệp Các vương triều
Lý – Trần thấy rõ được quy luật dân giàu nước mạnh, “thực túc binh cường” nên rất chú trọng đến sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là bảo vệ sức kéo trong nông nông nghiệp Những chiếu sau thể hiện sự quan tâm đó:
Chiếu 7/1042 của vua Lý Thái Tổ về việc kẻ nào ăn trộm trâu của công thì xử phạt 100 trượng
Chiếu 2/1117 của vua Lý Thánh Tông về việc cấm lạm sát trâu bò, kẻ mổ trộm trâu thì chồng bị phạt 80 trượng, đồ làm khao giáp (phục vụ trong quân đội), vợ bị xử
80 trượng, đồ làm tang thất phụ và bồi thường trâu, láng giềng bắt mà không tố cáo phạt 80 trượng
9 Thống kê theo Phan Thanh Đăng, Trương thị Hòa, Lịch sử các định chế chính và pháp quyền Việt Nam, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995
Trang 19Chiếu 1288 của vua Trần Nhân Tông về việc đại xá tô, dịch cho nơi có chiến sự, các nơi khác miễn giảm theo mức độ khác nhau khi chiến thắng quân Nguyên Mông lần 3
Luật nhà nước coi việc xây dựng và sửa chữa đê điều là công việc của toàn dân
và kể cả triều đình Vào tháng 6 tháng 7 hàng năm các quan Hà Đê sứ phải trông coi cẩn thận “…nếu biếng nhác không làm tròn nhiệm vụ để đến nỗi dân cư trôi dạt, lúa
má bị ngập thì sẽ tùy tội nặng nhẹ mà khiếu phạt” Với một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đóng vai trò chủ đạo thì đất đai được xem là tư liệu sản xuất chủ yếu của người dân Do đó pháp luật thời kỳ này chủ yếu điều chỉnh vấn đề sở hữu ruộng đất là chính
Nhận xét về pháp luật thời kỳ này, Phan Huy Chú viết: “Hình pháp các đời Lý – Trần, không thể biết rõ từng điều tỷ mỷ kĩ càng…Nay lục những điều đã thấy trong sử, lần lượt chép ra để có thể biết được đại khái”10 Những gì còn lại được ghi trong sử sách cũng cho thấy sự phong phú về nội dung và đa dạng về hình thức so với thời kỳ trước đó.Tuy nhiên tài liệu pháp luật thời kỳ này phần nhiều đã bị thất truyền, nên rất khó khăn cho việc nghiên cứu
1.3.3 Thời Lê sơ và thời kỳ nội chiến phân liệt
Sau khi đánh đuổi giặc Minh, Lê Lợi lên ngôi vua lập ra Triều Hậu Lê Một triều đại kéo dài 360 năm(1428 – 1788) với những thành tựu rực rỡ Nói đến pháp luật Triều
Lê là nói đến Quốc triều hình luật – một công trình lập pháp vĩ đại nêu cao nét độc đáo của nền cổ luật Việt Nam trong lịch sử pháp luật Á Đông Ngoài Bộ luật Hồng Đức còn tồn tại nhiều văn bản pháp lý có giá trị khác nữa Do tình hình chính trị xã hội ở từng giai đoạn khác nhau nên tình hình phát triển của pháp luật cũng có sự khác nhau
10
Lịch triều hiến chương loại chí, tập III, Sđd, tr.97
Trang 2014
Ngay sau khi lên ngôi vua Lê Thái Tổ đã bắt tay vào xây dựng bộ máy nhà nước
và pháp luật Nhà vua ra hàng loạt các đạo, dụ, sắc, chỉ… điều chỉnh nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội Qua các đời vua Lê nhiều văn bản pháp luật được ban hành Pháp luật phát triển rực rỡ nhất dưới thời vua Lê Thánh Tông Nổi bật
là tập hệ thống hóa pháp luật có tên Thiên Nam dư hạ tập gồm 100 quyển Đặc biệt bộ Quốc triều hình luật được sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh phần lớn dưới thời vua Lê Thánh Tông
Từ sau ngày giải phóng, nhân dân lần lượt trở về quê hương xây dựng lại làng xóm, phục hồi sản xuất nông nghiệp Nhà nước cũng rất quan tâm đến việc bảo vệ và khuyến khích nông nghiệp Chính sách trọng nông được thể hiện rõ trong pháp luật thời kỳ này Năm 1485, Thánh Tông ra sắc chỉ cho các phủ huyện nếu có ruộng bỏ hoang chưa khai khẩn hết thì phải khám xét và đôn đốc nhân dân khai khẩn Điều luật
349 ban hành thời Thuận Thiên cũng cấm không được để ruộng đất hoang vu11 Song song với công cuộc khôi phục diện tích đất canh tác cũ, nhà Lê chú ý mở rộng diện tích canh tác mới bằng những công cuộc khẩn hoang của nhà nước và tư nhân Với những chính sách tích cực ấy, nền kinh tế nông nghiệp trong căn bản được phục hồi Thời kỳ Nam- Bắc triều, chiến tranh xảy ra liên miên, việc xây dựng pháp luật ít được chú ý Nhà Mạc dường như không có ý định thay đổi hệ thống pháp luật vốn đã hoàn chỉnh của nhà Lê Triều Lê Trung Hưng cũng vậy, chỉ chú trọng ban hành một số điều quân luật
Ở nhà nước Đàng trong – Đàng ngoài nhìn chung vẫn áp dụng pháp luật của nhà
Lê sơ, có sửa đổi bổ sung cho phù hợp với tình hình mới Chiến tranh khiến dân phân tán, nạn tranh chấp ruộng đất, nạn cường hào ở làng xã, quan lại tham ô làm nảy sinh nhiều vụ khiếu kiện nên những luật lệ mới ban hành chủ yếu về vấn đề tố tụng Các chúa Nguyễn ở Đàng trong cũng vấn áp dụng pháp luật thời Lê sơ, do tình hình xã hội thay đổi nên đã ban hành thêm một số luật lệ mới, các chúa Nguyễn đã ban hành những luật lệ mới về ruộng đất để khuyến khích việc khẩn hoang
Còn đối với triều đại Tây sơn, do chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, hơn nữa còn phải lo tập trung vào việc chiến tranh nên chưa có điều kiện thuận lợi tập trung xây dựng pháp luật và vẫn áp dụng pháp luật của nhà Lê
11
Phan Huy Lê – Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ – Nxb Văn – Sử – Địa, 1959, tr.155
Trang 2115
Nhìn một cách tổng quát, pháp luật nhà Lê rất đa dạng, phong phú, ngoài các văn bản pháp luật đơn hành không những nhiều về số lượng mà còn phong phú về hình thức như: chiếu,chỉ, dụ, lệnh, cáo…Hàng loạt các văn bản quy phạm pháp cũng được
ra đời Pháp luật thời kỳ này hầu như điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các vấn đề về phát triển kinh tế nông nghiệp được pháp luật giai đoạn này chú ý nhiều hơn Còn pháp luật thời kỳ nội chiến phân liệt do đất nước rơi vào nội chiến triền miên, các tập đoàn phong kiến “xâu xé” tranh giành quyền lực nên tổ chức bộ máy nhà nước và pháp luật vì thế cũng đình đốn Các vị vua – chúa không có đủ điều kiện và sự ổn định để hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật, việc quân đã chiếm hết thời gian Nên pháp luật thời kỳ này chưa đạt được thành quả gì nhiều, chủ yếu kế thừa thành quả pháp luật của nhà Lê giai đoạn trước đó
Nhà Nguyễn phải gánh chịu hậu quả nặng nề do kinh tế nông nghiệp bị đình đốn, tàn phá vì nội chiến kéo dài hàng thế kỷ, điều đó đòi hỏi nhà nước phải có chính sách giải quyết phù hợp Nhà Nguyễn vẫn thi hành chính sách trọng nông truyền thống Ngay trong năm 1802, 1803 Gia Long đã ban chỉ, dụ, lệnh cho các các quan lại địa phương khuyến khích dân chúng khai hoang Cho đào kênh để tưới tiêu, lập sổ địa bạ quản lý ruộng đất và cho đắp đê ngăn lũ ở vùng đồng bằng Ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ để đảm bảo đất cày cho mọi nông dân12 Các biện pháp tích cực về khẩn hoang, lập dinh điền, lập làng, làm thủy lợi, đắp đê điều đã góp phần phục hồi sức sản xuất nông nghiệp trong nửa đầu thế
Trang 2216
Các vua đời sau cũng tiếp tục các chính sách phát triển của cha ông mình góp phần vào việc phục hồi và phát triển nền kinh tế nông nghiệp Năm 1839, vua Minh Mạng tìm cách bảo vệ những người cần tiền phải cầm đợ ruộng đất, nhà vua ra lệnh là phàm việc bán đợ ruộng đất sản nghiệp, trong văn khế phải ghi rõ niên hạn chuộc Khi
hết hạn “người chủ ruộng đất sản nghiệp đem tiền đến chuộc, người chủ lấy đợ không
quy định việc mua bán ruộng đất để ngăn chặn các sự lạm dụng
Nhìn chung, pháp luật thời kỳ này đạt được nhiều thành tựu và khá hoàn chỉnh về nội dung điều chỉnh, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp nhưng với một bộ máy quân chủ độc tôn đế quyền – một mô hình quân chủ độc đoán, chuyên quyền nhất trong lịch
sử Việt Nam , đi ngược lại với xu hướng dân chủ lại ở trước ngưỡng cửa của cuộc cách mạng công nghiệp và trong tình hình chủ nghĩa tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam thì không còn phù hợp với xu thế của thời đại, yêu cầu lịch
sử của nước ta lúc bấy giờ Hậu quả tất yếu là nhà nước mất lòng dân, không củng cố được khối đại đoàn kết dân tộc, trở nên bảo thủ, trì trệ, kìm hãm sự phát triển của xã hội, tách rời với thế giới bên ngoài
13
Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, q.208
Trang 23đã làm cho đời sống nhân dân thêm khổ cực Bên cạnh đó, Đại Việt đang đứng trước nguy cơ một cuộc ngoại xâm đang đến gần Bên trong khủng hoảng, ngoài giặc đe dọa
đó là những tiền đề dẫn đến cải cách Hồ Quý Ly (1397) Tuy nhiên cuộc cải cách đó cũng không thể cứu vãn được tình thế Năm 1407, nhà Minh chính thức đem quân sang xâm lược nước ta, với “binh cường, lực mạnh” nhà Minh nhanh chóng đánh bại nhà Hồ Sau khi nhà Hồ sụp đổ, Đại Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong 2 thập
kỷ (1407 – 1427) Ngay sau đó quân Minh thủ tiêu nền độc lập của Đại Việt, đặt Đại Việt thành quận Giao Chỉ thuộc nhà Minh
Trước tình hình đó nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt bùng nổ với nhiều quy mô khác nhau trong đó lớn mạnh nhất là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Sau 10 năm kháng chiến gian khổ (1418 – 1428), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã giành thắng lợi hoàn toàn, giải phóng đất nước, khôi phục nền độc lập
Ngày 14/04/1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế ở Đông Kinh (Thăng Long), định niên hiệu là Thuận Thiên, khôi phục tên nước là Đại Việt, mở đầu triều đại Lê thường được gọi là Hậu Lê để phân biệt với thời Tiền Lê của Lê Đại Hành Đất nước được giải phóng sau 20 năm bị nhà Minh đô hộ, mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam Thời kỳ thịnh trị của chế độ phong kiến tập quyền, thời
kỳ phục hồi và phát triển của sức sản xuất Một nhiệm vụ lịch sử trọng yếu của thời Lê
sơ là phải gấp rút phục hồi lại nền kinh tế mà trước hết là kinh tế nông nghiệp
Trải qua thời kỳ suy vong vào cuối nhà Trần và đặc biệt là 20 năm thống trị tàn bạo của phong kiến nhà Minh, nền kinh tế nông nghiệp bị tàn phá nặng nề Sử sách của ta còn ghi chép lại rất nhiều nạn lụt lội, đê vỡ, tình trạng đói kém, đồng ruộng bỏ hoang Nạn đói và dịch năm 1407 rất nghiêm trọng “nhân dân không trồng trọt, cày cấy được, người chết nằm ngổn ngang” Năm 1409 lại một nạn đói và dịch nghiêm
Trang 2418
trọng xảy ra Năm 1411 đê vỡ, nhà cửa người dân bị trôi dạt Những cuộc khủng bố, đàn áp liên miên của giặc làm cho đất ruộng nhiều nơi bị bỏ hoang Năm 1412, đồng ruộng “từ Diễn Châu trở vào không cày cấy được”14 Chính sách cướp ruộng để lập đồn điền, để cấp chức điền cho bọn ngụy quan của giặc làm cho nhân dân nhiều nơi bị mất ruộng, phá sản Những hoạt động cướp bóc đặc biệt là cướp trâu bò đã phá hoại nghiêm trọng sức sản xuất nông nghiệp, gây rất nhiều khó khăn trong việc cày cấy, trồng trọt Đồng ruộng bỏ hoang, mất mùa đói kém liên tiếp đó là những biểu hiện của tình trạng bị phá hoại nghiêm trọng của sức sản xuất nông nghiệp Một cảnh tượng điêu tàn, đói khổ bao trùm khắp xóm làng Một nhiệm vụ lịch sử tất yếu của thời Lê sơ lúc bấy giờ là phải gấp rút khôi phục lại nền kinh tế – mà trước hết là kinh tế nông nghiệp
Một trong những công cụ hữu hiệu giúp nhà nước thực hiện tốt nhiệm vụ này là ban hành các chính sách, pháp luật Để khoan thư sức dân sau nhiều năm chiến tranh, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, phải dùng pháp luật xóa bỏ các thứ thuế phi lý do chính quyền đô hộ nhà Minh áp đặt, miễn giảm thuế cho nhân dân Để khôi phục lại nền kinh tế nông nghiệp phải dùng pháp luật để tổ chức quản lý sản xuất Để phát huy nội lực trong nhân dân khẩn hoang mở rộng diện tích canh tác, xây dựng, tu bổ các công trình phục vụ sản xuất, đảm bảo người cày có ruộng cũng không thể thiếu pháp luật điều chỉnh
Từ nhu cầu khách quan và cấp thiết đó các quy định pháp luật của nhà Lê về phát triển kinh tế nông nghiệp ra đời và phát huy hiệu lực, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối với việc phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp sau nhiều năm bị tàn phá bởi chiến tranh
2.2 Nội dung pháp luật về phát triển kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ
2.2.1 Nội dung pháp luật đối với tƣ liệu sản xuất
Trong nông nghiệp tư liệu sản xuất bao gồm rất nhiều yếu tố như đất đai, nước (dùng để tưới tiêu), lưỡi cày, lưỡi cuốc, sức kéo…Thông qua các quy định pháp luật có thể thấy nhà làm luật thời Lê quan tâm đặc biệt tới điều chỉnh các yếu tố là đất đai, nước và sức kéo
14
Theo Toàn thư
Trang 2519
2.2.1.1 Pháp luật về đất đai
Thế kỷ XV nền kinh tế chủ yếu là thuần nông cho nên ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất do nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng, ruộng đất là phương tiện đem lại nguồn lợi vật chất cơ bản và thiết thực nhất để duy trì quyền lực kinh tế, chính trị và tư tưởng của nhà nước Do vậy pháp luật nhà Lê đặc biệt quan tâm đến loại tư liệu sản xuất này Chính quyền chỉ có thể vững mạnh khi nhà Lê kiểm soát được đất đai và thần dân của mình Muốn thực hiện những chính sách kinh tế có hiệu quả, giai cấp cầm quyền không thể sử dụng hệ thống pháp luật cũ thời thuộc Minh làm
cơ sở cho việc phát triển các chính sách kinh tế mới Vì vậy hàng loạt các văn bản pháp luật mới điều chỉnh vấn đề đất đai đã được ban hành
Bên cạnh đó, chính sách ruộng đất của triều Trần trước đó đã dẫn đến sự tập trung ruộng đất vào tay các gia đình có thế lực mà chính sách hạn điền của Hồ Quý Ly mới được thi hành trong một thời gian ngắn chưa thể giảm bớt đáng kể thế lực kinh tế của họ Dưới thời cai trị của nhà Minh, các gia đình có thế lực đã cộng tác với quân Minh để dễ dàng chiếm đoạt những đất đai mà dân chúng bỏ lại do không chịu nổi ách cai trị và bóc lột tàn bạo của nhà Minh nên phải rời bỏ làng quê đi kiếm sống Sau chiến tranh nền kinh tế nông nghiệp bị tàn phá nghiêm trọng, nạn đinh tán điền hoang
là phổ biến Khi dân lưu tán về quê cũ các tranh chấp đất đai phát sinh rất nhiều
Do vậy, như đã nói ở trên vấn đề cấp thiết của nhà Lê khi mới thiết lập là phải kiểm soát được đất đai và dân chúng – đó là nguồn quan trọng để phục hồi và phát triển kinh tế nông nghiệp Công cụ hữu hiệu giúp các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý ruộng đất đó là pháp luật
Sự quan tâm này không những thông qua các chủ trương chính sách hợp lý mà còn là những quy định pháp luật đối với các chính sách đó, cụ thể:
Thứ nhất, pháp luật về chính sách quân điền và lộc điền
Để xây dựng cơ sở kinh tế, đảm bảo những điều kiện vật chất tạo nguồn sức mạnh cho nhà nước, nhà Lê tiến hành nhiều hoạt động nhằm phát triển quan hệ sản xuất phong kiến và nền kinh tế tiểu nông với chế độ sở hữu nhỏ và vừa Nhà nước đã xóa bỏ chế độ ban cấp ruộng đất theo quy mô lớn theo hình thức điền trang, thái ấp thời Lý – Trần, thực hiện 2 chính sách lớn đối với ruộng đất là chế độ quân điền và chế độ lộc điền Xuất phát từ sự cần thiết khách quan của pháp luật trong việc thực hiện chính sách kinh tế, đến thời vua Lê Thánh Tông, nhà nước đã bằng pháp luật cụ
Trang 26Điều 183 Quốc triều hình luật quy định: “Những thuộc lại đi đo ruộng công hay
ruộng tư tự tiện thêm bớt diện tích thì phải tội đồ làm khao đinh…” Điều đó cho thấy
tầm quan trọng của việc đo đạc, đánh giá ruộng đất, nó quyết định tính chính xác của hoạt động phân chia ruộng đất cho chủ sở hữu là cá nhân của chính sách quân điền hoặc chính sách ban thưởng ruộng đất cho đối tượng theo chế độ lộc điền
Đến đầu năm 1429 nhà Lê đã nắm được trong tay một số diện tích khá lớn Bên cạnh đó nhà Lê còn thụ hưởng ruộng đất của nhà Hồ Nhà Lê sung công hàng loạt điền trang của quý tộc họ Trần, Hồ tuyệt sự, hàng loạt ruộng đất của Việt Gian bán nước và quân Minh xâm lược Do đó nhà nước có điều kiện thuận lợi thi hành những chính sách ban cấp lộc điền, phong thưởng cho các công thần khai thác lập đồn điền Một
phần bổ sung vào ruộng đất công làng xã để thực hiện chính sách quân điền
Với số lượng ruộng đất đã có được, nhà Lê đã ban hành một chính sách ban thưởng ruộng đất rộng rãi cho các công thần, quan lại, quý tộc, những người thuộc hoàng tộc của Vua Chính sách này được gọi là chính sách lộc điền – một chính sách ban thưởng ruộng đất mà triều đại Lý – Trần thực hiện không hoàn chỉnh Chế độ lộc điền là chế độ ban thưởng ruộng đất, ao bãi cho tầng lớp quan lại cao cấp và những người thuộc hoàng tộc của nhà Vua Những lộc điền này do nhà nước trực tiếp ban cấp vĩnh viễn hay tạm thời Chế độ lộc điền triều Lê đã có từ thời vua Lê Thái Tổ (1428 – 1433) nhưng đến năm 1477 dưới thời vua Lê Thánh Tông mang niên hiệu Hồng Đức mới được ban hành thành quy chế hoàn chỉnh
Về nguyên tắc, những người được ban cấp lộc điền là những quan lại cao cấp từ thân vương đến tòng tứ phẩm, những người thân thuộc họ hàng nhà vua và những nữ quan thân cận trong triều Những quan lại từ tứ phẩm trở lên, đây là những quan chức đứng đầu trong khu vực hành chính15 Theo thể lệ ấy thì thân vương được cấp tổng cộng là 2090 mẫu ruộng đất ao đầm, trong đó 640 mẫu được cấp vĩnh viễn Do vậy, với số ruộng đất công được cấp cộng với số ruộng tư vốn có tầng lớp quý tộc, quan lại
15
Phan Huy Lê - Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ, Nxb Văn, sử địa, 1959, tr.20
Trang 2721
cao cấp thời Lê trở thành tầng lớp đại địa chủ lớn nhất trong xã hội lúc bấy giờ Theo thiên nam dư hạ tập thì tổng số quan lại 5370 người, trong đó quan lại từ tứ phẩm trở lên chiếm số lượng không nhỏ, ngoài ra còn một số người thân thuộc của nhà vua Căn
cứ vào mức độ ban cấp, số người được cấp thì ta thấy ruộng lộc điền thời Lê sơ chiếm một diện tích lớn
Chế độ lộc điền thời Lê sơ so với chế độ thực phong thời Lý – Trần là một bước tiến Với chế độ thực phong nhà nước cấp ruộng đất và cấp cả người trên ruộng đất ấy Ruộng đất và những người ấy nằm ngoài sổ sách của nhà nước và phụ thuộc hoàn toàn vào người được cấp Vì vậy chế độ thực phong gắn liền với chế độ đại điền trang, tồn tại trong xã hội phong kiến còn mang nhiều tính chất phân tán Còn chế độ lộc điền là sản phẩm của thời kỳ phong kiến tập quyền cao độ Cấp lộc điền chỉ là cấp ruộng đất (không cấp người trên ruộng đất ấy), người được cấp chỉ có quyền hưởng dụng, thu tô (tức là lộc), còn nông dân cày ruộng đất ấy vẫn là thần dân của nhà vua Họ không có nghĩa vụ đối với quan lại có lộc điền ngoài việc phải nộp tô cho họ Nếu hoa lợi trên lộc điền tăng lên thì thu hoạch của người nông dân sẽ tăng lên Đó là một bước tiến có lợi cho sản xuất bởi nó sẽ thúc đẩy người nông dân hăng say sản xuất, sản xuất ra thật nhiều nông phẩm, có như thế thì thu hoạch của họ mới tăng lên Như vậy ta có thể thấy chính sách ban cấp lộc điền cho các quan lại thời Lê sơ một phần nào đó đã đóng góp vào việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp thông qua việc tác động vào chính lợi ích kinh tế của người nông dân
Sau khi hoàn thành công cuộc giải phóng đất nước Lê Lợi ban hành chính sách quân điền Ngày 22 tháng 01 năm 1429 trong lời dụ định thể lệ quân điền vua Lê Thái
Tổ tuyên bố: “Như người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu Người đi chiến
đấu không có một thước, một tấc đất…Thành ra không có ai chiu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi Nay ta lệnh cho các đại thần bàn định số ruộng đất cấp cho các quan lại, quân dân và dân chúng, trong từ đại thần trở xuống, dưới đến thì người già yếu,mồ côi, góa chồng, đàn ông, đàn bà trở lên, loại nào cấp được bao
độ quân điền có thể một phần bắt nguồn từ quyền lợi của quân lính – những người nông dân mặc áo lính - đưa Lê Lợi lên ngôi báu trong lời dụ của ông Khi những người nông dân bỏ làng đi chiến đấu thì bọn cường hào ở lại hoành hành chiếm đoạt
16
Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng đất Việt nam thế kỷ XI – XVIII, Nxb Chính trị Quốc gia, 2004, tr.204
Trang 2822
phần lớn ruộng đất nên khi họ chiến đấu trở về thì không còn tấc đất để sản xuất – Lê Thái Tổ đã không thể làm ngơ trước tình trạng đó Chính sách này về sau được Vua Lê Thánh Tông hoàn chỉnh vào năm 1477 và tiếp tục duy trì, phát triển vào các đời sau
Điều 347, Quốc triều hình luật đã gián tiếp thể hiện chính sách này: “Các quan lộ
huyện, xã đã chia ruộng rồi nếu có người bị tội giáng truất hay chết thì phải lấy lại ruộng, hay có quan ty thì được tăng trật, cùng là dân đinh lớn tuổi xin cấp ruộng thì cho các quan lộ, huyện, xã tự liệu định Nếu chia ruộng còn thừa thì để để vào làm ruộng công, nếu thiếu thì lấy ruộng công của bản xã hay của xã lân cận mà cấp rồi làm sổ tâu trình, cứ 4 năm làm sổ ruộng lại một lần Nếu đo ruộng hay cấp ruộng không hợp thời vụ (nghĩa là ruộng mùa thì mùa xuân đo, mùa thu cấp, ruộng chiêm thì mùa thu đo mùa xuân cấp, nếu dân đinh năm nay 14 tuổi thì ruộng chiêm mùa thu năm nay đo, mùa xuân sang năm cấp, ruộng mùa thì mùa xuân sang năm đo, mùa thu sang năm cấp) hay không đúng lệ cấp ruộng thì các quan phủ, huyện, xã đều phải tội phạt biếm tùy theo tội tình nặng nhẹ”
Xuất phát điểm của chính sách quân điền là đảm bảo ruộng đất cày cấy trong nhận dân Đây là chế độ chia cấp định kỳ ruộng đất công của làng xã cho các hộ nông dân cứ 6 năm một lần Đến kỳ hạn ấy người được cấp quân điền phải trả lại ruộng đất
đã được chia trong kỳ trước để chia lại Diện được cấp quân điền là “tất cả mọi người
trong xã từ quan viên cho đến hạng thấp nhất của bậc thang xã hội phong kiến như cô
đất chia cho mỗi người ít hay nhiều phụ thuộc vào địa vị xã hội của họ và phụ thuộc vào số ruộng đất công của mỗi xã Người được cấp quân điền phải nộp tô cho nhà nước với mức nhẹ hơn các loại ruộng khác
Chính sách quân điền một mặt bảo vệ lợi ích của nhà nước, mặt khác chính sách này phần nào đáp ứng lợi ích của đại bộ phận nông dân nghèo Vì trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, bằng phép quân điền nhà Lê đảm bảo cho người nông dân chiếm hữu, sử dụng số ruộng tối thiểu để cày cấy, đảm bảo cuộc sống
Nó thu hút, quy tụ nhân dân bị ly tán đi các nơi trong chiến tranh nay lũ lượt kéo nhau trở về quê cha đất tổ sinh sống Đối với từng người nông dân thì việc có ruộng để cày cấy là ước mơ, nguyện vọng lớn nhất của họ Trở về quê quán ai cũng được cấp ruộng
17 Phan Huy Lê, Chế độ sở hữu ruộng đất và nền kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ thế kỷ XV, Nxb Văn sử địa,
1959, Hà nội, tr.37
Trang 2923
phần Bằng chính sách quân điền, nhà Lê đã cấp ruộng đất đến tận tay người lao động Phép quân điền góp phần củng cố nền kinh tế tiểu nông, với một diện tích ruộng đất rộng lớn phép quân điền đảm bảo cho người nông dân có một tối thiểu ruộng đất để cày cấy, tạo điều kiện cho nhân dân sinh sống, làm ăn, yên tâm sản xuất sau nhiều năm khủng hoảng, loạn lạc
Với chính sách ruộng đất đúng đắn đó Nhà nước đã khéo léo gắn liền lợi ích của dòng họ quan lại của cá nhân với vận mệnh của triều đình, chẳng những khôi phục được sản xuất sau nhiều năm bị tàn phá bởi chiến tranh mà còn đưa nền kinh tế nông nghiệp đất nước phát triển vượt bậc
Thứ hai, pháp luật về chính sách khai khẩn đất hoang, lập đồn điền
Trước hết về vấn đề khai khẩn đất hoang:
Nước ta là một đất nước của những dòng sông lớn, có trữ lượng phù sa lớn nên hàng năm chúng đã bồi đắp cho những đồng bằng và sông lấn ra biển tạo nên những vùng đất mới toàn phù sa Những vùng đất màu mỡ này tuy là đất phù sa nhưng lại là đất mới lấn ra biển nên lượng muối nhiều tạo ra độ chua phèn mà chưa thể canh tác, sản xuất được Chính vì vậy công cuộc khai hoang chinh phục những vùng đất mới này là việc làm không thể thiếu được của mỗi triều đại hay mỗi một thời kỳ lịch sử Bởi vì kết quả của công việc này mang lại rất nhiều ý nghĩa Khai hoang sẽ làm mở rộng diện tích canh tác, diện tích cư trú, đáp ứng được tình trạng dân số gia tăng
Có thể thấy rằng nước Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX là một quốc gia phong kiến hùng mạnh, xây dựng trên cơ sở kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp một mặt đòi hỏi phải cải tiến kỹ thuật, cải thiện đất
để thâm canh tăng năng suất, một mặt cũng không kém phần quan trọng là phải đẩy mạnh công cuộc khai khẩn đất hoang, không ngừng mở rộng diện tích đất canh tác mới Tiến hành khai hoang là một quy luật phát triển của sản xuất nông nghiệp Đây là một nhiệm vụ tất yếu, khách quan của quốc gia phong kiến Đại Việt nói chung và ở thời Lê sơ nói riêng
Từ bao đời nay, tổ tiên chúng ta đã thực hiện công cuộc khẩn hoang dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng như khai hoang lập làng của nông dân, điền trang của quý tộc, địa chủ, đồn điền của nhà nước Trải qua hàng ngàn năm sự nghiệp lao động
đó đã góp phần mở mang ruộng đất, xóm làng và nâng cao đời sống con người Có thể nói khai hoang là một chính sách nông nghiệp tích cực Từ thời kỳ dựng nước, đây là
Trang 3024
một hoạt động được tiến hành thường xuyên, liên tục Sang đến thời kỳ phong kiến những chính sách khai hoang phục hóa thừa hưởng ở các triều đại trước bằng nhiều chính sách khác nhau để mở rộng diện tích Trong lịch sử các cuộc khai hoang chủ yếu tập trung lấn ra biển ở những địa phương Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình… Như ở thời Trần các vương hầu, quý tộc được nhà nước cho phép tổ chức khai hoang lập ra các điền trang, thái ấp, ở Nam Định có Trần Liễu, Trần Nhật Duật…Thời Lý, năm
1044 Lý Thái Tông đem hơn 5000 tù binh Chiêm Thành về khai hoang ở Nghệ An và Hưng hóa
Đầu thế kỷ XV tiềm năng đất đai của nước ta còn khá phong phú ở vùng duyên hải và Nam Bộ Tuy nhiên tiềm năng đó có được khai thác hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của nhà nước Các vua Lê đã áp dụng nhiều biện pháp
và kinh nghiệm của ông cha ta trong lịch sử, tiếp tục thực hiện các biện pháp khai hoang thông qua nhiều hình thức khác nhau Nhà nước tập trung khai hoang ở địa bàn Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định, dần dần với quá trình mở đất diện tích quốc gia Đại Việt tiến dần về phía phương Nam
Hai mươi năm dưới sự cai trị của quân xâm lược nhà Minh và 10 năm kháng chiến giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, ruộng đồng, đất đai bị bỏ hoang rất nhiều Trai tráng thì sung vào nghĩa quân đánh giặc, dân chúng thì phiêu bạt khắp nơi Diện tích đất canh tác chưa được khôi phục Trước tình hình đó, vua Lê Thánh Tông rất chú trọng đến khai hoang, phục hóa Chính sách đã được thể chế hóa thành luật định
Ngày 18/01/1486, Hồng Đức năm thứ 17, nhà vua ra lệnh cho các phủ, huyện, xã rằng: “Nơi nào có ruộng bỏ hoang ở bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn, để nộp thuế thì huyện, phủ xét thực cấp cho dân”18
Trong Quốc triều hình luật có những điều luật cụ thể nhằm khắc phục tình trạng
bỏ hoang hóa ruộng đồng như: “…Nếu không phải là ruộng hoang mà bỏ lâu ngày
không chia thành bỏ hoang thì các quan viên phải bồi thường tiền hoa màu ruộng, nếu lấy tiền hoa màu làm của mình thì phải bồi thường gấp đôi nộp vào kho nhà nước”
(Điều 347) hoặc “con trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên mà ruộng đất của mình
để người trong họ hay người ngoài cày hay ở đã quá niên hạn mới miễn cưỡng đòi lại thì bị xử phạt 80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn người trong họ 30 năm, người
18
Đại việt sử ký toàn thư, Bản kỷ thực lục, quyển XIII, Kỷ nhà Lê, Nxb, KHXH, HN 1993, tr.500
Trang 3125
ngoài họ 20 năm) Nếu vì chiến tranh hay đi phiêu bạt mới về thì không theo luật này”
theo (Điều 387) Hay “Những ruộng đất công có chỗ bỏ hoang mà quan trông coi
không tâu lên để xin chia cho người cày ruộng khai khẩn, thì xử tội biếm hay phạt”
(Nơi nào dân ít ruộng nhiều thì không luận tội) Bằng những hình phạt tác động vào
chính lợi ích kinh tế như phạt tiền, tịch thu ruộng đất và các chế tài hình sự nghiêm khắc đã hạn chế được việc bỏ hoang ruộng đất sản xuất
Chính sách khẩn hoang đã làm gia tăng diện tích đất sản xuất để có thể cung cấp nguồn lương thực dồi dào Theo An Nam Chí của Cao Trùng Trưng, thời Minh đô hộ, diện tích ruộng đất nộp thuế của riêng tỉnh Thanh Hóa là 83.055 mẫu, nhưng đến đầu thế kỷ XIX đã tăng lên là 200.000 mẫu Chỉ riêng một tỉnh, với chính sách khai hoang, phục hóa đã làm tăng diện tích canh tác lên 16.945 mẫu để đem lại cơm no, áo ấm cho hàng ngàn gia đình nông dân
Bên cạnh đó những công cuộc khẩn hoang lẻ tẻ của tư nhân cũng được nhà nước khuyến khích Từ thời nhà Trần, các vương hầu đã chiêu mô dân lưu vong làm nô tì ra đắp đê ngăn nước mặn, lập thành các biệt trang Trong thời Lê sơ công cuộc khẩn hoang miền ven biển vẫn được tiếp tục
Ngày 18/06/1486, năm Hồng Đức thứ 27, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các phủ,
huyện nào có đất bồi ven biển phải “cho người ít ruộng tình nguyện bồi đắp, khai khẩn
“Lịch sử thành lập một làng Việt Nam ở Bắc Kỳ” của ông Nguyễn văn
Huyên cho ta biết làng Cống Thủy thuộc tổng Yên Ninh, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình ngày nay thành lập từ thời Hồng Đức, do công cuộc khẩn hoang miền ven biển
ấy Miền đất bồi ven biển và đất hoang vùng trung du là đối tượng của cuộc khẩn hoang này Với chủ trương để cho làng, xã tự tổ chức việc khai hoang, diện tích trồng trọt của làng xã không ngừng được mở rộng, giải quyết vấn đề an cư lập nghiệp cho người dân
Năm 1471, Lê Thánh Tông cho phép dân được khẩn hoang thành lập làng mới Theo các tài liệu lịch sử, thời vua Lê Thánh Tông đã có hàng vạn làng mới ra đời trên
cơ sở các trại ấp Nếu so với đời vua Lê Thái Tổ, cứ 10 hộ dân lập thành một xã nhỏ thì thời này phải có 100 hộ dân mới lập thành một xã
Để mở rộng hơn nữa diện tích trồng trọt và thanh toán triệt để tình trạng bỏ hoang ruộng đất, nhà nước đã ban hành phép chiếm xạ và phép thông cáo Theo Đại việt sử
19
Theo Toàn thư, q.13, tr.53
Trang 3226
ký toàn thư: “Năm Cảnh Thống thứ 4 (1501)…xuống chiếu cho các quan phủ huyện
rằng: Nơi nào có ruộng đất còn bỏ hoang, trước đã cấp thông tư cho người cày cấy, nộp thuế theo lệ quy định Nếu là người nghèo túng, trước kia đem gia đình đi khai khẩn ruộng hoang ở các phủ khác theo lối chiếm xạ thì theo lệ được truyền cho con
nghĩa vụ đối với nhà nước Nhà nước bảo vệ loại ruộng này như bảo vệ ruộng đất công làng xã, chủ yếu nhằm giữ vững mức thu nhập Quy định này đã có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích dân nghèo khai khẩn đất hoang, làm tăng thêm nguồn thu nhập cho nhà nước
Cho đến cuối thế kỷ XV, chính sách khai hoang của nhà Lê vẫn tiếp tục được thực hiện, nhất là đối với các vùng biên giới Nó đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng diện tích đất canh tác nông nghiệp, tạo sự ổn định cho đời sống sản xuất của người nông dân
Về vấn đề lập đồn điền:
Đồn điền có thể hiểu là từ ghép của hai từ: Đồn là trại lính, là doanh trại quân đội
và điền là đất, ruộng Đồn điền là vùng ruộng đất do binh lính nhà nước đóng đồn để khai phá và canh tác
Lập đồn điền là một chính sách nông nghiệp quan trọng của nhà nước phong kiến thời Lê sơ Nhà Lê kế tục các triều đại trước cho các tù binh người Minh và người Chiêm Thành đi khai phá những vùng đất mới, lập thôn xóm Các công thần Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thu, Trần Lạn… được cấp tù binh đi khai hoang Những vùng đất mới được thành lập mang tên vệ, sở được hình thành ở ven sông thuộc huyện Hưng Nguyên, Thiên Bảo, Diễn Châu
Sang thời vua Lê Thánh Tông, chính sách đồn điền được thực hiện rộng rãi Chiếu lập đồn điền năm 1481 của Lê Thánh Tông xác định mục đích lập đồn điền là để
“khai thác hết sức nông nghiệp mở rông nguồn súc tích cho nhà nước” 21 Nhằm để mở rộng diện tích đất canh tác, tận dụng sức lao động của lưu vong, tội đồ, cùng đảm bảo
tô thuế của Nhà nước
Đồn điền đươc lập ở những vùng đất biên cương, hiểm yếu, ở những nơi chưa khai phá, dân thường chưa đến ở được Khi ruộng đồng đã được khai phá thành thục
Trang 3327
thì chiêu mộ dân sinh đến sinh cơ lập nghiệp Các đồn điền về sau trở thành những làng xã trù phú và là những phên dậu vững chắc của quốc gia Đồn điền không những thu hút được sức lao động sản xuất nông nghiệp của binh lính trở về nhà sau chiến tranh mà có tác dụng góp phần phân bổ dân cư, giúp họ ổn định cuộc sống, an tâm sản xuất, diện tích đất sản xuất nông nghiệp không ngừng được mở rộng thêm
Đồn điền các sứ và chia các sở đồn điền trong nước làm 3 loại: trượng, trung, hạ Theo Thiên Nam dư hạ tập thì đến thời Hồng Đức có tất cả 43 sở đồn điền ở rải rác khắp nơi nhất là ở miền Thuận Quảng hầu như phủ nào cũng có Sở đồn điền
Ở Bắc Bộ ngày nay có 30 sở: Vĩnh Hưng, Thịnh Quang.Dịch Vọng, Bồng Hải, Quán La, Minh Tảo, Thượng Liệt, Lạc trưởng, Phượng vĩ, Liên Thúy, Đông Hải, Kim Quan, Hoa Lâm, Đan Nhiễm, Qui Mông, Lục Đàm, Đại tảo, Phấn Trì, Tư – Mãi, Nam Giản, Kham Lãng, An Trú, Phiên Dương, Tây Hạ, Thiên Kiện, La Sơn, Vọng Doanh, Chi Ngại, Hoa Diệp, Cống Khê
Thanh Hóa có 5 sở: Lương Giang, Lôi Dương, Vĩnh Ninh, An Định, Tĩnh Ninh
Nghệ An có 4 sở: Đức Quang, Anh – Đô, Diễn Châu, Hà Hoa
Thuận Hóa có 2 sở: Triệu Phong, Tân Bình
Quảng Nam có 2 sở: Thăng Hoa, Tư Nghĩa
Những sở đồn điền ở đồng bằng Bắc Bộ thường lấy tên xã, chứng tỏ phạm vi đồn điền ở đây tương đối nhỏ hẹp (chỉ nằm trong phạm vi xã) Còn những đồn điền từ Thanh Hóa, nhất là từ Thuận Hóa trở vào đều mang tên huyện chứng tỏ phạm vi của
nó rộng lớn hơn và những đồn điền này phần lớn là kết quả của những công trình mới khai khẩn
Về mặt tổ chức quản lý : Vua Lê Thánh Tông cho lập ra Sở đồn điền, các sở đồn điền đều có chánh phó đồn điền sứ trông coi, tùy điều kiện thuận lợi mà mộ dân hay sử dụng lực lượng tù binh, người bị tội đồ để khai phá đất hoang thành ruộng đồng và thành lập làng xóm Bên cạnh đó, Sở đồn điền có nhiệm vụ khai hoang đất còn lại của các làng lân cận Theo Quan chế tổng mục trong Dư hạ tập thì chính quyền trung ương thời Hồng Đức, ngoài các trọng chức đại thần ra, có 3 cơ quan là lục bộ, lục khoa và lục tự Lục tự vốn trước kia là lục viện thành lập năm 1465, đến năm 1466 mới đổi làm lục tự Trong lục tự có Thái bộc tự do chức Tự khanh (Chánh ngũ phẩm) đứng đầu Trong Thái bộc tự có các sở nha môn, trong các sở có sở đồn điền, sở nuôi tằm và sở chăn nuôi Theo quan chế thời Hồng Đức thì chánh sứ đồn điền phải là Tòng bát phẩm
Trang 3428
và phó sứ đồn điền là Chánh cửu phẩm Như vậy thì công cuộc kinh dinh và quản lý các sở đồn điền là trực thuộc vào Thái bộc tự22 Các viên chánh phó đồn điền sứ trực thuộc vào các cơ quan thái bộc tự ấy
Về lực lượng khai khẩn và sản xuất trong các sở đồn điền này là những tù binh, những tù nhân bị tội đồ, tội lưu khai khẩn gọi là đồn điền binh hay thực điền binh Mấy chữ đồn điền binh, thực điền binh cho ta biết rằng những chiến tù, tội nhân ấy được tổ chức thành đội ngũ Nhiệm vụ của đồn điền sứ là trông nom công việc khai khẩn, phân phối ruộng đất và thu tô cho nhà nước Sách toàn thư còn chép một câu chuyện về bắt người Trung Quốc xung vào các Sở đồn điền Tháng 3 năm Đinh Hợi (1967) có 29 người Trung Quốc do Lý Mậu An đứng đầu chở 2 thuyền gạo gồm 205 hộc đến ty Bố chính Quảng đông, nhưng bị dạt tới bờ biển An Bang, Tuần ty của ta bắt
29 người ấy giải về kinh Đô ngự sử Nguyễn Cư Đạo đề nghị “nên tha cho họ về nước”, nhưng nhà vua không nghe sai tịch thu gạo phân phối cho quân lính thiếu thốn trong kỳ hội quân ở các xứ Tuyên Quang, Quy Hóa, Đà Giang, còn người Trung Quốc
bị bắt thì cấp cho mỗi người một hộc gạo rồi sung vào các ty đồn điền23 Như vậy dễ hiểu rằng việc các chiến tù Chiêm Thành bị bắt đi khai khẩn đồn điền là điều đương nhiên
Những tội nhân, tội đồ, tội lưu cũng là một nguồn cung cấp lực lượng kinh dinh đồn điền Tội đồ có các loại tội đồ làm chủng điền binh, thực điền binh, đồn điền binh đều phải sung vào các sở đồn điền để cày cấy và khẩn hoang Tội lưu có các loại: lưu cận châu phải vào Nghệ An, Hà hoa, lưu ngoại châu phải vào Bố chính, lưu viễn châu phải vào Tân binh lao dịch mà chủ yếu là khẩn hoang Điều đó cho thấy rằng vì sao trong xã hội phong kiến Lê sơ lấy việc “sung vào quân bản phủ” làm một hình phạt trong nhiều điều luật khác nhau Điều lệ năm Hồng Đức thứ 20 (1489) quy định người nào vào ban đêm mà tự ý giết trâu bò bị phạt 100 quan và “ đồ làm đồn điền binh, sung vào vệ quân Thăng hoa” (Dư hạ tập)
Ta thấy ruộng đất đồn điền của nhà nước phong kiến thời Lê sơ chiếm một diện tích quan trọng Những sở đồn điền này một phần bao gồm ruộng công có sẵn của nhà nước và một phần ruộng đất do nhà nước mới tổ chức khai phá thêm Lập đồn điền thời kỳ đầu nhà Lê là một chính sách quan trọng có nhiều điểm tích cực, nó là một
Trang 3529
trong những cơ sở tạo điều kiện cho việc khôi phục và phát triển kinh tế nông nghiệp, thúc đẩy sức sản xuất, mở rộng diện tích đất canh tác Việc hình thành đồn điền nhằm chiêu mộ dân nghèo lưu tán, tận dụng sức lao động của quân lính đồn trú, tù binh, tù nhân nhằm ổn định sản xuất, tạo công ăn việc làm cho họ Những đồn điền sau khi đã khai khẩn thành ruộng đất trồng trọt thì phân phối cho những người khai khẩn cày cấy theo thân phận nông nô hay tá điền lĩnh canh Nhà nước không đặt nặng chính sách thuế khóa như các loại ruộng công điền khác Đây cũng là chính sách củng cố phát triển quan hệ sản xuất, đảm bảo nguồn lợi tức của nhà nước Chỉ tiếc rằng sử liệu không cho chúng ta biết được diện mạo, quy mô và vị trí địa lý của các đồn điền dưới thời vua Lê Thánh Tông Không thấy sử liệu ghi lại việc lập đồn điền trong thời trị vì của các vua kế nghiệp của Lê Thánh Tông Mô hình đồn điền được thực hiện tiếp tục dưới thời chúa Nguyễn Anh vào năm 1790, sau này trở thành vua Gia Long – vua đầu triều Nguyễn
Sáng kiến lập đồn điền có tác dụng to lớn về nhiều mặt, đặc biệt có tác dụng lớn trong việc mở rộng đất đai trồng trọt của nông nghiệp, tăng thu nhập lương thực và giải quyết vấn đề dân nghèo không ruộng đất phiêu tán Ý nghĩa về mặt dân sinh và quốc phòng cho đến ngày nay chưa hẳn là đã không còn nữa
Thứ ba, pháp luật về chế độ sở hữu đối với đất đai
Về nguyên tắc chung trong nhà nước phong kiến, toàn bộ đất đai thuộc sở hữu nhà vua Vua là chủ sở hữu tối cao đối với tài sản quan trọng nhất này Tuy nhiên trên thực tế pháp luật thừa nhận 2 hình thức sở hữu chính về đất đai là: Sở hữu nhà nước và
sở hữu tư nhân Đối với mỗi hình thức sở hữu, nhà nước có những cách thức quản lý
và sử dụng riêng
Một là, đối với ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước:
Cũng giống ở nhiều nước phương Đông khác, thời phong kiến Lê sơ việc bảo lưu lâu bền chế độ ruộng đất công ở nước ta trước hết là do những nguyên nhân khách quan của sự phát triển kinh tế chung đưa lại Kinh tế hàng hóa phát triển chậm chạp khiến việc mua bán ruộng đất, phân hóa tài sản ở nông thôn không xảy ra mạnh Sự kết hợp chặt chẽ giữa lao động nông nghiệp và lao động thủ công trong mỗi gia đình nông dân khiến mỗi làng xã trở thành một đơn vị kinh tế tự cung tự cấp, khiến cho người nông dân và tư liệu sản xuất chủ yếu cuả họ là ruộng đất đời này như thế nào đời sau cũng vẫn gần như thế ấy, rất ít biến động Nhu cầu về quản lý chung của tập thể làng