1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh

99 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàng Văn Tú – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp; Tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay tác giả Ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÝ HẬU HỒNG LÊ

KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÝ HẬU HỒNG LÊ

KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60380102

Người hướng dẫn khoa học:

TS HOÀNG VĂN TÚ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Khiếu nại và

giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi dưới sự hướng

dẫn của Tiến sĩ Hoàng Văn Tú Các tài liệu, số liệu trong luận văn trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng, những nội dung của các tác giả khác đã được trích dẫn, ghi chú theo đúng quy định

Tác giả cam đoan

Lý Hậu Hồng Lê

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT

KHIẾU NẠI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 5 1.1 Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại 5

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành chính 5 1.1.2 Đặc điểm khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính 10

1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại 13

1.2 Vị trí, vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết khiếu nại hành chính 18 1.3 Một số vấn đề về khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 20

1.3.1 Các trường hợp khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 20

1.3.2 Đặc điểm khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 22

Kết luận Chương 1 26

Chương 2 THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI, GIẢI QUYẾT KHIẾU

NẠI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 27

2.1 Quy định của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 27

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của chế định pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong hệ thống pháp luật nước ta 27

2.1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 33

Trang 5

2.1.2.1 Đối tượng, thời hiệu khiếu nại 33

2.1.2.2 Các nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại 34

2.1.2.3 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp tỉnh 37

2.1.2.4 Trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc

thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 40

2.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật khiếu nại và giải

quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp tỉnh 48

2.2.1 Đánh giá chung về tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu

nại ở nước ta hiện nay 48

2.2.2 Thực trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm

quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 56

2.2.2.1 Thực trạng khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 56

2.2.2.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải

quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 61

Kết luận Chương 2 72

Chương 3 GIẢI PHÁP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG

CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI THUỘC

THẨM QUYỀN CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP

TỈNH 73

3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại thuộc

thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 73

3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại

thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 74

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật 74

3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban

Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, nâng nâng cao năng lực quản lý,

điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với hoạt động giải

quyết khiếu nại 74

Trang 6

3.2.3 Kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tham mưu giải quyết khiếu nại tại Thanh tra tỉnh, các Sở ngành và Văn phòng Ủy

ban nhân dân tỉnh 76

3.2.4 Tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của chủ thể khiếu nại 76

3.2.5 Ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin vào quá trình giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 77

3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 78

3.3.1 Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại 78

3.3.2 Về đối tượng khiếu nại 78

3.3.3 Về điều kiện khiếu nại 79

3.3.4 Vấn đề tổ chức đối thoại trong giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 79

3.3.5 Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 80

3.3.6 Một số kiến nghị khác 81

Kết luận Chương 3 83

PHẦN KẾT LUẬN 85 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thời gian qua, tình hình khiếu nại, nhất là khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh diễn ra rất phức tạp, là một trong những lĩnh vực được dư luận xã hội quan tâm Mặc dù kết quả đạt được trong công tác này cũng rất khả quan, nhưng cũng tồn tại không ít bất cập, khuyết điểm: số lượng vụ việc tồn đọng còn nhiều, quá trình giải quyết chưa đảm bảo tính khách quan, công khai, minh bạch, chưa tạo ra được cơ chế tranh luận bình đẳng trong quá trình giải quyết, việc bảo đảm thi hành các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc

Nguyên nhân xuất phát từ sự bất cập, chồng chéo trong các quy định của pháp luật như: giá bồi thường và các chế độ hỗ trợ khi bị thu hồi đất chưa phù hợp với thực tế, các quy định của pháp luật chưa rõ ràng, việc áp dụng pháp luật của các cấp chính quyền chưa thống nhất, chính sách đất đai qua các thời kỳ có nhiều thay đổi nên việc đòi lại đất cũ của một số cá nhân, tổ chức cũng có chiều hướng gia tăng, nhất là đối với cấp tỉnh; năng lực cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc Thực tiễn cho thấy, những địa phương càng phát triển, càng có nhiều dự án được triển khai thì tình hình khiếu nại có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp

Xuất phát từ tình hình khiếu nại nói chung, từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai

và một số địa phương điển hình, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu một cách toàn diện về lý luận và thực tiễn đối với công tác khiếu nại và giải quyết khiếu nại của một cấp chính quyền nhất là cấp tỉnh là rất cần thiết, nhằm đánh giá được những thuận lợi và khó khăn trong công tác giải quyết khiếu nại thời gian qua, thấy được những bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật vào thực tiễn, từ đó có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc

thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” làm luận văn tốt

nghiệp cao học luật

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực khiếu nại ở nhiều góc độ khác nhau như: Báo cáo Khoa học về thẩm quyền của Quốc hội đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân - Thực trạng

và giải pháp (Chủ nhiệm Đề tài TS Hoàng Văn Tú – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp); Tăng cường hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ở Việt Nam hiện nay (tác giả Nguyễn Thế Thuấn – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Người khiếu nại và người bị khiếu nại trong khiếu nại hành chính (tác giả Nguyễn Thị Thủy); Hoàn thiện Luật Khiếu nại, tố cáo trong điều kiện nước ta hội nhập kinh tế quốc tế và Hoàn thiện những quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo

về giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người (của cùng tác giả Trần Văn Sơn); Khiếu nại hành chính và cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính của công dân (tác giả Nguyễn Ngọc Thiên Kim), Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh (tác giả Phạm Thanh Từng); Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (tác giả Võ Phan Lê Nguyễn)…Ngoài ra còn có nhiều công trình khác nhau trong chừng mực nhất định cũng có những bàn luận về công tác giải quyết khiếu nại của các ngành, các cấp nhằm bảo đảm các quyền công dân

Các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận và pháp lý chung về khiếu nại, các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại ở một lĩnh vực nhất định, một số công trình nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ khoa học hành chính, mà chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và đầy đủ về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từ góc độ pháp lý

Từ đó cho thấy, đề tài “Khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm

quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” mà tác giả chọn làm luận văn

Trang 9

giá, nhận xét, chỉ rõ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật Từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hợp lý góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề về lý luận, pháp lý, thực trạng về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật

về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nghiên cứu về thực tiễn khiếu nại hành chính cũng như việc giải quyết khiếu nại hành chính thuộc thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại của cán bộ, công chức đối với quyết định kỷ luật cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước, cũng như không nghiên cứu về tố cáo

Thực tiễn được minh họa bằng số liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra Chính phủ, Ủy ban nhân dân và Thanh tra các tỉnh như: Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu và một số Sở, ngành

có liên quan

4 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa vào quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân kết hợp với các phương pháp: phân tích, tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Đề tài tập hợp và đưa ra một hệ thống cơ sở lý luận,

các quy định của pháp luật về khiếu nại, thông qua đó soi rọi vào thực tiễn để đánh giá những ưu điểm, bất cập và đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Giá trị ứng dụng: Với việc khảo sát thực tế tại tỉnh Đồng Nai và một

số tỉnh lân cận, đề tài chỉ ra được những bất cập, khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện trong công tác giải quyết khiếu nại thuộc thẩm

Trang 10

quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Đề tài có khả năng áp dụng vào thực tiễn tại tỉnh Đồng Nai, các tỉnh, thành phố khác, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và những người làm công tác giải quyết khiếu nại

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, toàn bộ nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Chương 2 Thực trạng khiếu nại, giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Chương 3 Giải pháp và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

1.1 Khái quát về khiếu nại và giải quyết khiếu nại

1.1.1 Khái niệm khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành chính

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, thực hiện quyền khiếu nại là một hình thức dân chủ trực tiếp, thông qua đó nhân dân tham gia quản lý xã hội, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước, là công cụ để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức

Theo Từ điển tiếng Việt năm 2005 của Viện Ngôn ngữ: “Khiếu nại

được hiểu là đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét một việc làm mà mình không đồng ý, cho là trái phép và không hợp lý” 1 Khái niệm này mang tính khái quát, thể hiện hành động của cá nhân, tổ chức đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét lại một việc làm mà người khiếu nại không đồng ý, việc khiếu nại có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ quản lý hành chính nhà nước, đến lĩnh vực bầu cử, hoạt động tư pháp, đất đai, lao động Định nghĩa này có tính khái quát rất cao, thể hiện được đặc điểm của khiếu nại là hành động chủ động của cá nhân, tổ chức đề nghị cơ quan có thẩm quyền xét lại một việc làm mà người khiếu nại không đồng ý

Khiếu nại còn có thể được hiểu là sự phản ứng của con người trước một quyết định, một hành vi nào đó mà người khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, không phù hợp với các quy tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Nhìn chung, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, khiếu nại đều được hiểu như là sự phản ứng mang tính tự vệ, xuất phát từ ý chí chủ quan của người khiếu nại khi họ cho rằng quyết định hay hành vi của chủ thể bị khiếu

1 Viện Ngôn ngữ (2005), Tự điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.49

Trang 12

nại là không hợp lý, trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vì vậy, họ đề nghị cơ quan có thẩm quyền bảo vệ những quyền và

lợi ích chính đáng ấy

Dưới góc độ pháp lý, “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức

hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình”2

Từ quy định này, có thể thấy: Khiếu nại là đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức chịu tác động trực tiếp của quyết định hành chính hay hành vi hành chính hoặc là đề nghị của cán bộ, công chức chịu tác động trực tiếp của quyết định kỷ luật đối với cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, xuất phát từ nhận thức chủ quan của người khiếu nại khi họ cho rằng quyền và lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm bởi quyết định

hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc Đối tượng

khiếu nại bị giới hạn, chỉ bao gồm các quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức Hình thức khiếu nại có thể

là gửi đơn hoặc trực tiếp đến trình bày với cán bộ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc trực tiếp đến khiếu nại hoặc gửi đơn khiếu nại trong nhiều trường hợp, có nghĩa là người khiếu nại đã tin chắc rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm và đòi hỏi loại trừ vi phạm này hay vi phạm khác theo trình tự pháp luật quy định Mục đích khiếu nại là nhằm bảo vệ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Đồng thời, cũng chỉ

ra được những sai phạm trong quản lý hành chính nhà nước để khắc phục kịp thời, nâng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước

Khiếu nại là một hiện tượng phát sinh trong đời sống xã hội, hết sức

đa dạng, phong phú, phức tạp Để có cái nhìn khách quan, toàn diện về khiếu nại, tác giả nêu lên một số loại khiếu nại chủ yếu thông qua một số tiêu chí khác nhau, như sau:

2 Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011

Trang 13

Thứ nhất, nếu căn cứ vào chủ thể khiếu nại thì khiếu nại có thể gồm khiếu nại của cá nhân, của cơ quan nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội, của tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế

Thứ hai, nếu căn cứ vào hình thức khiếu nại thì có thể phân ra thành khiếu nại bằng văn bản và khiếu nại trực tiếp bằng lời nói

Thứ ba, nếu căn cứ vào các lĩnh vực của đời sống xã hội thì có khiếu nại về quản lý đất đai, chế độ chính sách, tôn giáo, giáo dục, y tế

Ngoài ra, căn cứ vào thủ tục giải quyết khiếu nại, khiếu nại được chia thành khiếu nại hành chính và khiếu nại tư pháp Trong đề tài này, tác giả đi sâu nghiên cứu về khiếu nại hành chính

Hiện nay, trong giới khoa học pháp lý còn có nhiều cách hiểu khác nhau về khiếu nại hành chính để phân biệt với khiếu nại tư pháp và các khiếu

nại khác Theo quan điểm của Tiến sĩ Trần Văn Sơn: “Khiếu nại hành chính

là việc công dân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước mà người khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình” để phân biệt với “Khiếu nại tư pháp là việc công dân yêu cầu cơ quan tư pháp (cơ quan Điều tra, Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan thi hành án…), cán bộ, công chức có thẩm quyền trong cơ quan tư pháp xem xét lại những quyết định, hành vi phát sinh trong hoạt động tư pháp mà người khiếu nại cho rằng quyết định, hành vi đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.”3

Tác giả Hoàng Ngọc Giao và nhóm nghiên cứu thuộc Viện Nghiên

cứu chính sách pháp luật và phát triển cho rằng: “Khiếu nại hành chính được

hiểu là việc tranh chấp giữa một bên là công dân với một bên là cơ quan hành chính nhà nước hoặc công chức hành chính nhà nước về quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính, được đệ trình đến cơ quan hành chính nhà nước xem xét, giải quyết theo thủ tục hành chính” 4

3 Trần Văn Sơn (2007), Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo,

NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.13

4 Viện Nghiên cứu chính sách pháp luật và phát triển (2009), Cơ chế giải quyết khiếu nại - Thực trạng và giải

pháp, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.34

Trang 14

Trong khi đó, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Khiếu nại hành

chính là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị cơ quan hành chính nhà nước xem

xét, sửa chữa một quyết định hay hành vi hành chính mà họ cho là quyết định hoặc hành vi đó không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ”5

Như vậy, khiếu nại hành chính về bản chất là khiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, chủ yếu và phổ biến là trong hoạt động chấp hành

và điều hành của cơ quan quản lý nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính không chỉ là các cơ quan hành chính nhà nước, mà còn nhiều người khác vẫn có thẩm quyền giải quyết, chẳng hạn như: Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước; khiếu nại hành chính không chỉ phát sinh trong quá trình cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà còn có thể phát sinh trong các cơ quan Nhà nước khác thực hiện quản lý hành chính trong nội bộ cơ quan hoặc trong hệ thống cơ quan Ví dụ: Giáo viên, bác sĩ khiếu nại quyết định kỷ luật là khiếu nại hành chính mặc dù nó không xảy ra ở cơ quan hành chính nhà nước Do đó, khái niệm trên vẫn chưa được coi là khái niệm đầy đủ, phù hợp

Từ những phân tích, đánh giá trên đây cho thấy tác giả Nguyễn Thị

Thủy hoàn toàn có lý khi cho rằng: “Khiếu nại hành chính là việc cá nhân, cơ

quan, tổ chức theo thủ tục khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính đề nghị chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi họ có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình”6

Bên cạnh khái niệm về khiếu nại, khiếu nại hành chính đã nêu ở trên,

có một số thuật ngữ liên quan đến khiếu nại, giải quyết khiếu nại cần được làm rõ, cụ thể như sau:

Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định

giải quyết khiếu nại

Kết hợp với các nội dung về khiếu nại ở phần trên có thể hiểu: Giải quyết khiếu nại hành chính là việc cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết

Trang 15

khiếu nại căn cứ quy định của pháp luật về khiếu nại và các quy phạm pháp luật khác có liên quan để xác định tính chất đúng, sai của nội dung khiếu nại trong hoạt động quản lý nhà nước và ban hành quyết định để giải quyết khiếu nại, giữ nguyên, sửa đổi hay hủy bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; buộc bồi thường thiệt hại, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại (nếu có); xác định có hay không quyền khiếu nại tiếp theo hoặc quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án của người khiếu nại Giải quyết khiếu nại là một quy trình bao gồm nhiều công đoạn, theo đó người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải đưa vụ việc vào thụ lý giải quyết khiếu nại nếu đủ điều kiện theo đúng quy định, xác minh để làm rõ sự việc, đi đến kết luận việc khiếu nại đúng hay sai, và ra quyết định chính thức

để giải quyết yều cầu của người khiếu nại theo đơn khiếu nại

Giải quyết khiếu nại hành chính có ý nghĩa rất to lớn vì giải quyết khiếu nại đúng pháp luật sẽ đảm bảo được quyền lợi chính đáng của người dân, xử lý nghiêm minh những hành vi sai phạm và củng cố niềm tin cho nhân dân Giải quyết tốt khiếu nại hành chính còn nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước, ổn định tình hình chính trị - xã hội, thúc đẩy kinh

tế phát triển, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chính quyền, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý nhà nước Công tác giải quyết khiếu nại không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước,

mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước

Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức

thực hiện quyền khiếu nại Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân

Cá nhân thực hiện quyền khiếu nại phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người

bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc

Trang 16

khiếu nại Cơ quan thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là Thủ trưởng cơ quan Thủ trưởng cơ quan có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại Tổ chức thực hiện quyền khiếu nại thông qua người đại diện là người đứng đầu tổ chức được quy định trong quyết định thành lập tổ chức hoặc trong Điều lệ của tổ chức Người đứng đầu tổ chức có thể ủy quyền cho người đại diện theo quy định của pháp luật để thực hiện quyền khiếu nại

Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có

thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật các bộ, công chức bị khiếu nại

Người có quyết định hành chính bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật có quyền ban hành quyết định hành chính cá biệt mà khi người khiếu nại cho rằng quyết định đó xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ Người có hành vi hành chính bị khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tiến hành nhiệm vụ, công vụ đã thực hiện những hành vi mà người khiếu nại cho rằng nó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

giải quyết khiếu nại Theo đó, pháp luật quy định rất chi tiết những chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, cụ thể như: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thuộc Sở và cấp tương đương, Giám đốc Sở và cấp tương đương, Chánh Thanh tra các cấp, Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, Bộ trưởng, Tổng Thanh tra Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật bao gồm: Quyết

định giải quyết khiếu nại lần đầu, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai mà trong thời hạn do pháp luật quy định người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án

1.1.2 Đặc điểm khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính

Trên cơ sở khái niệm về khiếu nại, khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành chính có thể rút ra đặc điểm của khiếu nại hành chính và đặc điểm của giải quyết khiếu nại hành chính như sau:

Một là, đặc điểm của khiếu nại hành chính:

Trang 17

- Chủ thể khiếu nại là bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động trực tiếp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Đối tượng khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước; khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán

bộ, công chức

- Nội dung khiếu nại rất đa đạng, phức tạp, bao gồm tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan hành chính nhà nước như quản lý đất đai, hành chính - chính trị, kinh tế - văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội…

Hai là, đặc điểm của giải quyết khiếu nại hành chính:

- Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động mang quyền lực nhà nước, được phát sinh trên cơ sở công dân thực hiện quyền khiếu nại Và khi

đã là hoạt động của quyền lực nhà nước thì tất yếu nó phải được tổ chức và thực hiện trên cơ sở pháp luật được Nhà nước ban hành Theo đó, những chủ thể nhất định, người có thẩm quyền căn cứ quy định của pháp luật để xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại trong một phạm vi cụ thể và với thẩm quyền cụ thể phù hợp với cách thức tổ chức và vận hành quyền lực của Nhà nước đó Trong quá trình giải quyết, mọi khía cạnh, mọi tình tiết đều phải được xem xét cẩn trọng và dựa trên cơ sở các quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật đã được xác định để ra quyết định cụ thể

Hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính không xuất phát từ ý chí đơn phương của Nhà nước như những trường hợp xử lý vi phạm hành chính hay những trường hợp khác mà chỉ được áp dụng khi có sự yêu cầu của người khiếu nại, tức khi họ cho rằng quyết định hoặc hành vi hành chính đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Việc giải quyết khiếu nại không chỉ thể hiện quyền hạn mà còn là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước đối với người khiếu nại trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quản lý hành chính Nhà nước

Quyết định giải quyết khiếu nại là quyết định hành chính (bằng văn bản) buộc các chủ thể phải nghiêm chỉnh thực hiện khi quyết định đó có hiệu

Trang 18

lực pháp luật Trong những trường hợp cần thiết, nó được đảm bảo thực hiện thông qua việc cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước Nếu vi phạm tùy theo mức độ có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

- Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động phải tuân theo những

quy trình và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động mang tính chất đặc thù

do người có thẩm quyền thực hiện, tuân theo những quy trình, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, đảm bảo công khai, dân chủ (từ khâu thụ lý, tiến hành kiểm tra xác minh, ban hành quyết định giải quyết và tổ chức thực hiện quyết định giải quyết) Việc quy định và công khai hóa những vấn đề trên trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, góp phần tạo sự minh bạch trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đây cũng là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình trong quản lý nhà nước; đồng thời, nó cũng là căn cứ để xã hội thực hiện sự giám sát quá trình thực hiện pháp luật đối với các cơ quan nhà nước

- Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động mang tính cá biệt, cụ

thể

Tính cụ thể và cá biệt thể hiện ở chỗ việc áp dụng này được thực hiện

và có hiệu lực với từng chủ thể, từng tình huống cụ thể và chỉ có giá trị pháp

lý đối với chủ thể xác định được nêu trong văn bản áp dụng, với các chủ thể khác nó không làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý Trong giải quyết khiếu nại hành chính có đối tượng là những quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh trong lĩnh vực khiếu nại cần đến sự điều chỉnh cá biệt, cụ thể của các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khiếu nại Trên cơ sở các quy định chung về khiếu nại, chủ thể giải quyết khiếu nại sẽ phân tích, đánh giá và lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp áp dụng đối với những tình huống cụ thể để ban hành văn bản giải quyết và tổ chức thực hiện

- Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động mang tính khoa học,

sáng tạo

Trong quá trình vận dụng các quy phạm pháp luật để giải quyết khiếu nại đòi hỏi người có thẩm quyền khi giải quyết khiếu nại phải vận dụng cái chung phù hợp với cái riêng rất phong phú, đa dạng và phức tạp Tuy nhiên,

xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển nên không phải lúc nào pháp luật

Trang 19

cũng dự liệu hết được mọi tình huống trong thực tế nảy sinh Trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định còn chồng chéo, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng thì yêu cầu chủ thể giải quyết khiếu nại hành chính trong khuôn khổ của pháp luật cho phép phải biết vận dụng pháp luật một cách khoa học, sáng tạo linh hoạt, không rập khuôn máy móc Để đạt tới điều đó đòi hỏi người có thẩm quyền, trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại hành chính phải

có ý thức pháp luật cao, có tri thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức trong sáng và có trình độ chuyên môn cao Song, việc vận dụng pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, của xã hội; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, cá nhân nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Kết quả giải quyết khiếu nại hành chính được thực hiện bằng quyết định giải quyết khiếu nại với những đặc điểm sau: quyết định giải quyết khiếu nại hành chính do người có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước; quyết định giải quyết khiếu nại hành chính phải nêu cụ thể tên cơ quan có thẩm quyền giải quyết, cá nhân, tổ chức

là người khiếu nại, văn bản này chỉ áp dụng một lần; quyết định giải quyết hành chính phải nêu rõ căn cứ văn bản quy phạm pháp luật để ban hành về thẩm quyền cũng như nội dung văn bản giải quyết; kết quả giải quyết cụ thể; quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan v.v

Tóm lại, giải quyết khiếu nại hành chính là quá trình xác minh, thẩm định tính chính xác, tính hợp pháp các tài liệu, chứng cứ, số liệu và các bước tiến hành ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại, qua đó đánh giá việc đúng, sai, hợp pháp, hợp lý đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính Vì vậy, đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính phải am hiểu sâu, rộng về các chủ trương, quan điểm, những chính sách, quy định của pháp luật qua các giai đoạn, thời kỳ của Đảng

và Nhà nước ta Chủ thể trong quá trình giải quyết phải có óc phán đoán, khả năng tư duy để phân tích, đánh giá, tìm đúng bản chất và hiện tượng vụ việc, lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp làm căn cứ để giải quyết vụ việc

1.1.3 Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại

Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011 (sau đây gọi là

Trang 20

Luật Khiếu nại) đã được bổ sung trên tinh thần kế thừa Luật Khiếu nại, tố cáo, đảm bảo các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quá trình khiếu nại, giải quyết khiếu nại, mở rộng quyền dân chủ của người dân, bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời Các quyền và nghĩa vụ này được xây dựng phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đảm bảo quyền khiếu nại, việc giải quyết khiếu nại phù hợp, tương xứng với các quyền, nghĩa vụ khác của cơ quan, tổ chức và cá nhân cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay Ví dụ, Luật Khiếu nại

đã bổ sung quyền được tiếp cận thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, quyền được nhờ trợ giúp viên pháp lý

Theo quy định của Luật Khiếu nại thì người khiếu nại, người bị khiếu nại, người giải quyết khiếu nại có các quyền, nghĩa vụ sau đây:

Thứ nhất, quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại:

Về quyền của người khiếu nại: Quyền khiếu nại là quyền hiến định

của công dân, được quy định trong Hiến pháp và cụ thể hóa tại Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011:

Người khiếu nại có quyền tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật, cũng có thể ủy quyền cho luật sư, trợ giúp viên pháp lý khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; được tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; được biết, đọc, sao chụp, sao chép tài liệu, chứng cứ do người giải quyết khiếu nại thu thập để giải quyết khiếu nại; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho người khiếu nại; được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra do việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại; đưa

ra chứng cứ về việc khiếu nại và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó; nhận văn bản trả lời về việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và rút khiếu nại

Bên cạnh những quyền được nêu ở trên, người khiếu nại phải có các nghĩa vụ sau đây: khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; trình

bày trung thực sự việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn, hợp lý của việc

Trang 21

khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó; chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính

mà mình khiếu nại trong thời gian khiếu nại và chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Ngoài ra, người khiếu nại còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật nhằm đảo bảo sự thống nhất trong việc ghi nhận các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại trong Luật Khiếu nại với việc quy định các quyền, nghĩa vụ này trong các văn bản pháp luật khác

Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại không chỉ phụ thuộc vào bản thân người khiếu nại, trong nhiều trường hợp cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện của các cơ quan và người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì

họ mới có thể thực sự hưởng đầy đủ quyền cũng như thực hiện nghĩa vụ của mình

So với Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây thì quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại ở Luật Khiếu nại đã được mở rộng, rõ ràng, cụ thể và bình đẳng hơn Ví dụ như, Luật Khiếu nại, tố cáo quy định quá trình giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại phải gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại nhưng trên thực tế người khiếu nại không được gặp gỡ, không có cơ hội tiếp cận với các thông tin, tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại, không được yêu cầu các cơ quan cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan phục

vụ việc khiếu nại Vai trò của Luật sư tham gia vào quá trình khiếu nại cũng hạn chế Theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo thì Luật sư mới chỉ có vai trò giúp đỡ về pháp lý đối với người khiếu nại thông qua việc viết đơn khiếu nại, cùng với người khiếu nại liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thu thập tài liệu, tham gia gặp gỡ, đối thoại Tuy nhiên, Luật Khiếu nại, tố cáo chưa quy định rõ Luật sư được quyền xác minh, thu thập, chứng cứ

và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại, được nghiên cứu hồ sơ

vụ việc, được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ việc để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại

Thứ hai, quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại được thể hiện tại

Điều 13 Luật Khiếu nại như sau:

Người bị khiếu nại có các quyền: đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp

của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; được biết, đọc,

Trang 22

sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức

có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình; nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần hai

Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau: tham gia đối thoại hoặc ủy

quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; chấp hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền giải quyết khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã

có hiệu lực pháp luật; sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các quyền và nghĩa

vụ khác theo quy định của pháp luật

Cũng như người khiếu nại, quyền của người bị khiếu nại ở Luật Khiếu nại đã được mở rộng, rõ ràng, cụ thể và bình đẳng hơn so với Luật Khiếu nại,

tố cáo, điển hình như việc được biết, sao chụp, sao chép các chứng cứ, được yêu cầu các cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin cung cấp cho mình tài liệu đó trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người giải quyết khiếu nại Trong Luật Khiếu nại, tố cáo quy định về quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại có sự lẫn lộn về một số quyền, nghĩa

vụ của người bị khiếu nại với tư cách là “bị đơn” với quyền, nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại với tư cách là “người phân xử”, đến Luật Khiếu nại

đã quy định rõ quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại và người giải quyết khiếu nại

Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại, bao

gồm quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần đầu; quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần hai được quy định tại Điều 14 Luật Khiếu nại:

Người giải quyết khiếu nại lần đầu có các quyền sau: yêu cầu người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ; quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều 35 của Luật Khiếu nại

Trang 23

Đồng thời, phải có các nghĩa vụ: tiếp nhận khiếu nại và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp về việc thụ lý giải quyết khiếu nại; giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành

vi hành chính khi người khiếu nại yêu cầu; tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; gửi quyết định giải quyết khiếu nại cho người khiếu nại và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết khiếu nại của mình; cung cấp thông tin, tài liệu, chứng

cứ liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại yêu cầu; cung cấp hồ

sơ giải quyết khiếu nại khi người giải quyết khiếu nại lần hai hoặc Tòa án yêu cầu

Người giải quyết khiếu nại lần đầu còn phải giải quyết bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (nếu có) và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

Quyền và nghĩa vụ của người giải quyết khiếu nại lần hai được quy định tại Điều 15 Luật Khiếu nại:

Người giải quyết khiếu nại lần hai có các quyền sau đây: yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để làm cơ sở giải quyết khiếu nại; quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định tại Điều 35 của Luật Khiếu nại; triệu tập cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia đối thoại; trưng cầu giám định; tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn khi xét thấy cần thiết

Người giải quyết khiếu nại lần hai có các nghĩa vụ sau đây: tiếp nhận, thụ lý, lập hồ sơ vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết; kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại; tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; ra quyết định giải quyết khiếu nại và công bố quyết định giải quyết khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc Tòa án yêu cầu và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

So với Luật Khiếu nại, tố cáo quy định việc người giải quyết khiếu nại

“có thể” thực hiện đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai, không phải là thủ tục bắt buộc thì Luật Khiếu nại đã tiến bộ hơn khi quy định việc tổ

Trang 24

chức đối thoại trong giải quyết khiếu nại là bắt buộc, giúp người giải quyết khiếu nại nắm bắt được các thông tin, tình tiết của vụ việc và có thêm thông tin để đưa ra quyết định giải quyết chính xác, hợp tình, hợp lý, đảm bảo sự công bằng, công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết khiếu nại

1.2 Vị trí, vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong giải quyết khiếu nại hành chính

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại là vấn đề phức tạp xét dưới góc độ pháp lý và xã hội, vì nó liên quan trực tiếp đến các quyền, lợi ích của công dân, cơ quan, tổ chức Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xác định giải quyết khiếu nại là nhiệm vụ quan trọng, góp phần đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước, ổn định tình hình chính trị - xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chính quyền, bảo đảm pháp chế

xã hội chủ nghĩa và kỷ luật trong quản lý nhà nước, là trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, chủ yếu là thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước và đặc biệt là vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Trong lĩnh vực thi hành pháp luật, Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện

những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: “Tổ chức, chỉ đạo công tác thanh tra

nhà nước, tổ chức tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân theo quy định của pháp luật” 7

“Chủ tịch Ủy ban nhân dân là người lãnh đạo, điều hành công việc của Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cùng với tập thể Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước

cơ quan nhà nước cấp trên” 8

Trong lãnh đạo công tác của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân tỉnh có nhiệm vụ và quyền hạn: “Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải

quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật” 9

7 Điều 94, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003

8 Điều 126, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003

9 Điểm d, khoản 1, Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003

Trang 25

Theo quy định này, với vị trí là Thủ trưởng của cơ quan, người đứng đầu Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là người có trách nhiệm trực tiếp xem xét và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của mình, đây là thẩm quyền riêng, là trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Như vậy, với vị trí, vai trò là người đứng đầu, thay mặt Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại của nhân dân và thay mặt Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo

và chịu trách nhiệm về công tác giải quyết khiếu nại trước Hội đồng nhân dân tỉnh và Chính phủ

Trên thực tế, việc giải quyết khiếu nại được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phân công Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đảm nhiệm Điển hình như

ở Đồng Nai, ngày 14/7/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ký Quyết định số 1770/QĐ-UBND về việc phân công công việc của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, trong đó

có một Phó Chủ tịch được phân công trực tiếp phụ trách lĩnh vực giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Trong công tác giải quyết khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là người đứng đầu cơ quan hành pháp ở địa phương đóng vai trò rất quan trọng trong công tác giải quyết khiếu nại, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại của mình Điều 21 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định về thẩm

quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, bao gồm: 1

Giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành

chính của mình 2 Giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính,

hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại

lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết 3 Giải quyết tranh chấp

về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình

Trong đó thì việc giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thể hiện càng rõ vai trò như một người soát xét lại hành vi hành chính, quyết định hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương bị khiếu nại; qua đó kết luận đúng, sai để từ đó có

Trang 26

quyết định giải quyết chính xác, khách quan, hợp tình, hợp lý Kết luận, quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giúp người khiếu nại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm tốt công tác giải quyết khiếu nại đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các quyết định giải quyết khiếu nại

có hiệu lực thi hành Khi các quyết định giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đúng pháp luật, thấu lý đạt tình thì người khiếu nại sẽ tự giác chấp hành, không cần áp dụng biện pháp cưỡng chế, củng cố được lòng tin của nhân dân, tránh khiếu nại vượt cấp, giúp ổn định tình hình ở địa phương, góp phần phát huy quyền dân chủ của nhân dân và thực hiện cải cách hành chính

Đối tượng khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là quyết định hành chính và hành vi hành chính

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước

hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Như vậy, quyết định hành chính được hiểu không chỉ bao gồm các văn bản được ban hành dưới hình thức một quyết định mà bao gồm cả các văn bản

10 Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011

Trang 27

dù không dưới hình thức quyết định nhưng chứa đựng những quy định xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và doanh nghiệp như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành

có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khiếu nại cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó)

Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của

người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc

Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh bao gồm:

1) Quyết định hành chính, hành vi hành chính do Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành

Ví dụ: Ngày 14/9/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 2631/QĐ-UBND xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng đối với Công ty TNHH Nam Yang Sông Mây, thuộc Khu công nghiệp Sông Mây, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Không đồng ý, Công ty khiếu nại Quyết định số 2631/QĐ-UBND thì Chủ tịch

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai là người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong trường hợp này

2) Quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Ví dụ: Ngày 15/7/2012, ông Nguyễn Văn Tuấn nộp đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng tàu Cán bộ nhận hồ sơ từ chối nhận hồ sơ mà không rõ lý do, ông Tuấn khiếu nại

11 Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại năm 2011

Trang 28

hành vi hành chính của cán bộ này và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tân Thành ban hành Quyết định số 1507/QĐ – UBND ngày 05/8/2012 bác đơn khiếu nại của ông Tuấn và khẳng định hành vi hành chính của cán bộ tiếp dân là đúng

Không đồng ý, ông Tuấn có đơn khiếu nại Quyết định số 1507 gửi Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Lúc này, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu

3) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các

cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình

Khi thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh có tranh chấp, không phân định rõ ràng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ xem xét, giải quyết

1.3.2 Đặc điểm khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Ngoài những đặc điểm chung của khiếu nại hành chính, có thể nhận dạng khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có một số đặc điểm sau:

Về chủ thể khiếu nại

Là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình

Về đối tượng khiếu nại

Là quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương

- Trước hết là đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành văn bản để quyết định

về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hoặc thực hiện hay không thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà người khiếu nại có căn cứ

Trang 29

cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trừ những quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định hành chính, hành vi hành chính trong chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp trên với cơ quan hành chính cấp dưới; quyết định hành chính có chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật; quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định

Từ đó, cho thấy quyết định hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đối tượng khiếu nại bao gồm những yếu

Một là, hành vi hành chính bao gồm những hoạt động chấp hành pháp luật, điều hành hoạt động của nhà nước và tổ chức thực hiện pháp luật của Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,

Hai là, hành vi thực hiện hoặc không thực hiện công vụ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,

Ba là, được thực hiện trên cơ sở pháp luật hành chính

Quyết định kỷ luật cũng là đối tượng của khiếu nại, đó là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong những hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền của mình theo qui định của pháp luật về cán bộ, công chức (khoản 10 Điều 2 Luật

Trang 30

Khiếu nại năm 2011) Trong luận văn này, không nghiên cứu về việc giải

quyết đối với quyết định kỷ luật

- Thứ hai, giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết

Cũng giống như Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Giám đốc Sở và cấp tương đương trong hoạt động quản

lý của mình cũng cần phải ban hành các quyết định hành chính, hành vi hành chính và chỉ những những quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại của các chủ thể trên đã được giải quyết lần đầu hoặc quá thời hạn theo luật định mà không được giải quyết thì mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Đối tượng thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rất đa dạng, phức tạp trên tất cả các lĩnh vực, trong đó lĩnh vực phát sinh khiếu nại nhiều nhất là lĩnh vực đất đai, Điều 162 Nghị định 181/NĐ –

CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể hơn các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai là đối tượng bị khiếu nại, bao gồm: Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định tại các quyết định trên

Một đối tượng nữa thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình Ở địa phương, khi phát sinh tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là người có trách nhiệm giải quyết

Về nội dung khiếu nại:

Nội dung khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh rất đa dạng, phong phú trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền

Trang 31

quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như đất đai, văn hóa, kinh tế, giáo dục, y tế… không như nội dung khiếu nại thuộc thẩm quyền Cục trưởng Cục Thi hành án tỉnh chỉ là những vấn đề liên quan đến chậm ra quyết định thi hành án, chậm tổ chức thi hành án, kê biên tài sản sai đối tượng, thanh toán tiền thi hành án không đúng trình tự, thủ tục

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, thông qua việc thực hiện quyền khiếu nại, công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có thể nói quyền khiếu nại là quyền bảo vệ quyền Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo đảm cho công dân, cơ quan, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại và hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại Thời gian qua, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến công tác này, điển hình là rất nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng

và pháp luật của Nhà nước được ban hành để điều chỉnh công tác này

Trong Chương 1 này tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thông qua đó, chúng ta hiểu được một số khái niệm cơ bản về khiếu nại, giải quyết khiếu nại, vị trí, vai trò của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc giải quyết khiếu nại, những đặc điểm mang tính chất đặc thù của khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh so với các khiếu nại khác

Ở Chương 2 của Luận văn, tác giả tiếp tục làm rõ pháp luật về khiếu nại, giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

và thực trạng thực hiện những quy định này ở một số địa phương

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH

2.1 Quy định của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

2.1.1 Sự hình thành và phát triển của chế định pháp luật về khiếu nại

và giải quyết khiếu nại trong hệ thống pháp luật nước ta

Hiến pháp là văn bản pháp luật quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật của quốc gia, nó quy định những vấn đề cơ bản nhất như hình thức chính thể, chế độ kinh tế, chế độ chính trị, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… Vì vậy, luận văn chọn thời điểm ra đời của các bản Hiến pháp để phân chia quá trình hình thành và phát triển của chế định pháp luật về khiếu nại, gồm bốn giai đoạn như sau:

2.1.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1958

Văn bản đầu tiên quy định về quyền khiếu nại của công dân là Sắc lệnh số 64-SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Theo Sắc

lệnh này, một trong những nhiệm vụ của Ban Thanh tra đặc biệt là “nhận các

đơn khiếu nại, tố cáo của công dân” 12 Tuy không trực tiếp quy định nhưng

Sắc lệnh số 64-SL đã xác định quyền khiếu nại của công dân và trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại

Ngày 09/11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội xem xét, thông qua Mặc dù Hiến pháp 1946 chưa

có một điều khoản cụ thể nào quy định quyền khiếu nại của công dân, song thể chế dân chủ mà Hiến pháp này tạo dựng lên đã là nền tảng cơ bản hình thành quyền khiếu nại của công dân trên thực tế

Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 138B/SL ngày 18/12/1949 thành lập Ban Thanh tra Chính phủ với nhiệm vụ thanh tra các khiếu nại của nhân dân Tiếp đến, ngày 28/3/1956 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 261/SL thành lập Ủy ban Thanh tra Trung ương của Chính phủ,

12 Nguyễn Thế Thuần, Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề khiếu nại, tố cáo của công dân,

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 5/1999, tr.2

Trang 34

một trong những nhiệm vụ của Ủy ban Thanh tra là giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân

Để cụ thể hóa Sắc lệnh số 261/SL, ngày 13/9/1958 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 436/TTg quy định trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền các cấp trong việc giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố giác của nhân dân

Nhìn chung, giai đoạn này, việc quy định quyền khiếu nại của công dân còn rời rạc, chưa rõ ràng, cụ thể Nét nổi bật của thời kỳ này là việc giải quyết khiếu nại gắn liền với nhiệm vụ của thanh tra Trong thời kỳ đầu của việc xây dựng đất nước, những quy định trên đây là thành tựu đáng ghi nhận trong quá trình hình thành và phát triển chế định pháp luật về quyền khiếu nại của công dân

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bước sang một giai đoạn mới, miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chống quân xâm lược, đấu tranh thống nhất nước nhà Trước những thay đổi lớn lao

ấy, hệ thống pháp luật cần phải được nhanh chóng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới và Hiến pháp năm 1959 ra đời

2.1.1.2 Giai đoạn từ 1959 đến 1979

Kế thừa và phát triển tư tưởng dân chủ của Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 được thông qua ngày 31/12/1959 đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của pháp luật về quyền khiếu nại của công dân Điều 29 Hiến pháp

năm 1959 quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền

khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được bồi thường”

Trên cơ sở Hiến pháp 1959, hàng loạt văn bản dưới luật được ban hành nhằm đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại hành chính, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết các đơn thư khiếu nại hành chính của công dân Ví dụ: Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ số 164/CP ngày 31/8/1970 về việc tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống thanh tra; Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

Trang 35

bộ máy của Ủy ban Thanh tra của Chính phủ trong đó có việc giải quyết và thanh tra việc xét và giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Trong các văn bản nói trên, Chính phủ đã giao việc giải quyết và thanh tra việc xét và giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo của nhân dân cho Ủy ban Thanh tra của Chính phủ, đồng thời quy định cụ thể một số nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết đơn thư khiếu tố

Tuy thời kỳ này chưa có văn bản pháp luật riêng biệt quy định về khiếu nại nhưng với nội dung được đề cập trong Hiến pháp 1959, các văn bản của Hội đồng Chính phủ, chế định pháp luật về khiếu nại đã có nhiều tiến bộ

so với trước đây, đặc biệt là trong việc tổ chức thực hiện Hệ thống cơ quan thanh tra được tổ chức từ Trung ương đến địa phương để thanh tra việc giải quyết khiếu nại của thủ trưởng các cấp, các ngành và cơ quan thanh tra cũng chủ động giải quyết đơn khiếu nại

Việc ghi nhận trong Hiến pháp về quyền khiếu nại hành chính của công dân và việc ban hành các văn bản bảo đảm cho việc thực hiện các quyền,

là những bảo đảm không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý, mà có ý nghĩa về mặt chính trị xã hội rất lớn, thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của nhà nước đối với nhân dân

2.1.1.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1991

Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Lúc này, Hiến pháp 1959 có nhiều điểm không còn phù hợp và Hiến pháp 1980 ra đời để đáp ứng những yêu cầu mới

Quyền khiếu nại của công dân đã tiếp tục được củng cố và phát triển

thêm một bước trong Hiến pháp 1980, cụ thể: “Công dân có quyền khiếu nại

với bất cứ cơ quan nào của nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được giải quyết nhanh chóng… Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo”

Trong Điều 29 Hiến pháp 1959 chỉ mới giới hạn đối tượng bị khiếu

nại là “những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước” thì Điều

73 Hiến pháp 1980 đã mở rộng ra, bao trùm cả “những việc làm trái pháp luật

của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất

Trang 36

cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó” Sau nữa, cũng

trong Điều 73 Hiến pháp 1980, ý nghĩa của việc thực hiện quyền khiếu nại như một hình thức trực tiếp và chủ yếu để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội được khẳng định một cách đầy đủ hơn

Trên cơ sở Hiến pháp 1980, do tình hình đất nước có những thay đổi,

để đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, nhiều văn bản pháp luật được ban hành, trong đó quan trọng là Pháp lệnh ngày 27/11/1981 của Hội đồng nhà nước quy định về việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 1981)

Ngày 29/3/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 58/HĐBT về việc thi hành Pháp lệnh 1981; ngày 04/5/1982, Ủy ban Thanh tra của Chính phủ ban hành Thông tư số 02/TT hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo Ngoài ra, còn có Nghị quyết số 26/HĐBT ngày 15/12/1984 của Hội đồng Bộ trưởng về việc tăng cường tổ chức Thanh tra với nhiệm vụ

là thanh tra việc chấp hành quy định của Pháp lệnh về việc xem xét và giải quyết khiếu nại của công dân, giúp thủ trưởng và Ủy ban nhân dân cùng cấp trong lĩnh vực này

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tình hình chính trị, kinh tế - xã hội nước ta cũng như tình hình khiếu nại hành chính của công dân có nhiều diễn biến mới phức tạp Pháp lệnh 1981 trở nên không còn phù hợp Ngày 02/5/1991 Pháp lệnh Khiếu nại, tố cáo của công dân được Hội đồng Nhà nước ban hành để thay thế Pháp lệnh năm 1981 là bước tiến mới trong việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại hành chính (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 1991)

Pháp lệnh 1991 không chỉ quy định thẩm quyền và trách nhiệm việc xét, giải quyết của cơ quan nhà nước như Pháp lệnh năm 1981, mà còn quy định nhiều vấn đề mới Pháp lệnh đã khẳng định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại của công dân, quy định các cơ quan

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, lần tiếp theo và lần cuối cùng với mục đích tạo điểm dừng của quyết định khiếu nại; thời hiệu giải quyết khiếu nại, những đảm bảo cho công dân thực hiện quyền khiếu nại như xử lý các hành vi trù dập, trả thù người khiếu nại…

Tóm lại, giai đoạn này, chế định pháp luật về khiếu nại, tố cáo có những phát triển vượt bậc, đã nâng cao tính thực tiễn của việc thực hiện quyền khiếu nại của công dân sau Hiến pháp 1980, thể hiện bước tiến mới

Trang 37

trong việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại hành chính nói chung, quyền khiếu nại hành chính nói riêng ở nước ta

2.1.1.4 Giai đoạn từ 1992 đến trước thời điểm ban hành Luật Khiếu nại

Với quan điểm xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong môi trường dân chủ mới, Hiến pháp 1992 đã hoàn thiện nội dung quyền khiếu nại của công

dân

Công dân có quyền khiếu nại với cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứ không phải khiếu nại đến bất cứ cơ quan nhà nước nào như quy định trước đây Hiến pháp 1992, đòi hỏi trong hệ thống các cơ quan nhà nước phải

có sự phân định rõ thẩm quyền thụ lý và giải quyết khiếu nại của công dân theo từng ngành, từng cấp Mỗi cơ quan nhà nước đều có xác định trách nhiệm cụ thể của mình trong việc giải quyết khiếu nại của công dân Mặt khác, khi thực hiện quyền khiếu nại của mình, công dân cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết của các cơ quan nhà nước, việc khiếu nại phải được cơ quan nhà nước xem xét giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định, nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại hoặc lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống làm hại người khác

Trên cơ sở đó, Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 1992, Pháp lệnh 1991, điển hình như: Nghị định số 38/HĐBT ngày 28/01/1992 về việc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh 1991 của công dân, Chỉ thị số 64/TTg ngày 25/01/1995 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Thông tư số 842/TTNN ngày 17/7/1995 của Thanh tra nhà nước về hướng dẫn một số điểm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân v.v

Tuy nhiên, do Pháp lệnh 1991 được ban hành dựa trên cơ sở Hiến pháp 1980 nên những sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp 1992 về quyền khiếu nại, tố cáo chưa được ghi nhận trong Pháp lệnh 1991 Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm khiếu nại, thực tiễn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại của công dân, ngày 02/12/1998 Quốc hội đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo gồm 103 điều chia thành 9 chương, là văn bản quy phạm pháp luật

có tính pháp điển cao nhất từ trước tới nay về khiếu nại, thể hiện bước tiến

Trang 38

mới về chất của pháp luật về khiếu nại, khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với quyền khiếu nại cũng như công tác giải quyết khiếu nại

Qua đó, có thể nhận thấy một sự phát triển liên tục của những quy định pháp luật về khiếu nại Những quy định pháp luật này xét về mặt nội dung ngày càng đầy đủ, cụ thể, chặt chẽ, được quy định một cách hệ thống và ngày một hoàn thiện; quyền khiếu nại của công dân ngày càng được đảm bảo vững chắc hơn cùng với sự đổi mới về kinh tế, chính trị-xã hội của đất nước

Cùng với việc ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo, Chính phủ đã ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật như: Nghị định số 67/1999/NĐ-

CP ngày 07/8/1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo; Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14/6/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP Ngoài ra, ngày 06/3/2002 Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Sau năm năm thực hiện Luật Khiếu nại, tố cáo, công tác giải quyết khiếu nại của các cơ quan nhà nước đã đạt một số kết quả nhất định, tạo cơ sở pháp lý cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, phát huy dân chủ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, đưa công tác giải quyết khiếu nại từng bước đi vào nề nếp, giúp cho các ngành, các cấp nhận thức đầy đủ hơn về trách nhiệm của mình trong việc giải quyết khiếu nại

Tuy nhiên, theo thời gian Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộc lộ nhiều điểm bất cập và không phù hợp với công tác giải quyết khiếu nại Ngày 15/6/2004, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi tắt là Luật 2004), góp phần nâng cao một bước hiệu quả giải quyết khiếu nại, tập trung nâng cao trách nhiệm giải quyết khiếu nại của Thủ tướng, thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và thẩm quyền của Tổng Thanh tra, Chánh Thanh tra các cấp, các ngành, tăng cường đối thoại trong giải quyết khiếu nại và mở rộng một bước thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân

Để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và của các cơ quan trong trường hợp có vi phạm pháp luật, bên cạnh việc giữ nguyên quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc

Trang 39

giải quyết khiếu nại, Luật 2004 qui định bổ sung thêm thẩm quyền của Chủ

tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ở mục 4, khoản 1 , Điều 1: Xem xét lại quyết

định giải quyết khiếu nại cuối cùng có vi phạm pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của Tổng thanh tra

Ngoài ra để phù hợp với Luật Thanh tra mới ban hành, một số cụm từ trong các điều luật được thay đổi Ví dụ: cụm từ “Tổng Thanh tra nhà nước” tại các Điều 63, 64, 84 thay bằng “Tổng Thanh tra”, cụm từ “Thanh tra nhà nước” tại Điều 81 thay bằng cụm từ “Thanh tra Chính phủ”

Tiếp đến, ngày 19/4/2005 Chính phủ ban hành Nghị định số 53/2005/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo

Trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới cùng với sự tác động của nhiều nhân tố, pháp luật về khiếu nại hiện hành ở nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cách mạng trong giai đoạn mới Chính vì vậy, ngày 29/11/2005, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội đã tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006 (gọi tắt là Luật 2005) Ngày 14/11/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo

Luật 2005 không chỉ quy định quyền khiếu nại của công dân mà còn quy định: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có trách nhiệm giải quyết kịp thời, khách quan, đúng pháp luật khiếu nại của công dân; xử lý nghiêm người vi phạm; áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; đảm bảo cho quyết định giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình; quy định cụ thể hơn về nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu so với Luật 2004, cụ thể là bổ sung nội dung khiếu nại, kết quả xác minh nội dung khiếu nại, bỏ khái niệm quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng

2.1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về khiếu nại và giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

2.1.2.1 Đối tượng, thời hiệu khiếu nại

Trang 40

* Đối tượng khiếu nại

Đối tượng khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình; của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, của Giám đốc Sở và cấp tương đương

đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết và giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình

* Thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại là khoảng thời gian mà pháp luật cho phép người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại của mình Nếu hết thời gian mà pháp luật

đã quy định thì người khiếu nại mất quyền khiếu nại của mình Thời gian mà pháp luật quy định không bao gồm những trở ngại khách quan mà người khiếu nại gặp phải

Thời hiệu khiếu nại lần đầu

Điều 9 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: Thời hiệu khiếu nại là 90

ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại

Thời hiệu khiếu nại lần hai

Điều 33 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: Trong thời hạn 30 ngày,

kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 28 của Luật Khiếu nại (tối đa 60 ngày kể từ ngày thụ lý) mà khiếu nại lần đầu không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày

2.1.2.2 Các nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại

Nguyên tắc là những tư tưởng mang tính chỉ đạo xuyên suốt đối với một quá trình hoặc hoạt động, do đó các văn bản pháp luật đã xác định các nguyên tắc cơ bản đặt nền tảng cho hoạt động của các cơ quan nhà nước Trong hoạt động giải quyết khiếu nại, nguyên tắc giải quyết khiếu nại là những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của quá trình giải quyết khiếu nại của cơ

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Chính trị (2008), Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới.DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo kết luận số 130-TB/TW ngày 10/01/2008 về tình hình, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo từ năm 2006 đến nay và giải pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2008
1. Ban Bí thư (2002), Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 06/3/2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay Khác
4. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Khác
6. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) Khác
9. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 Khác
10. Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu tố, tố cáo của công dân năm 1981 Khác
12. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (sửa đổi, bồ sung năm 1998, 2006) Khác
13. Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
14. Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14/6/2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07/8/1999 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
15. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai Khác
16. Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
17. Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
18. Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác
19. Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai Khác
20. Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kh Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác
21. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Khác
22. Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại năm 2011 Khác
23. Thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26/8/2010 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo. đơn phản án, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo Khác
24. Chỉ thị số 26/2001/CT-TTg ngày 09/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nông dân Khác
25. Chỉ thị số 36/2004/CT-TTg ngày 27/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh và tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan hành chính nhà nước trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w