1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mức lương tối thiểu vùng theo quy định quy pháp luật việt nam

109 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, tình hình lạm phát đang ở mức cao, chính sách tiền lương đang thể hiện nhiều bất cập, điển hình như hàng năm, Nhà nước đã điều chỉnh mức lương tối thi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

-

HỒ THỊ DIỄM PHÚC MSSV: 1155020198

MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG THEO QUY

ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2011 - 2015

Giảng viên hướng dẫn:

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sỹ Đoàn Công Yên, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

SINH VIÊN THỰC HIỆN

HỒ THỊ DIỄM PHÚC

Trang 3

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG THEO

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM 5

1.1 Khái niệm và vai trò của mức lương tối thiểu vùng 5

1.1.1 Khái niệm về mức lương tối thiểu vùng 5

1.1.2 Vai trò của mức lương tối thiểu vùng 12

1.2 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về mức lương tối thiểu

vùng 16

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986 16

1.2.2 Giai đoạn 1986 đến nay 17

1.3 Quy định của pháp luật hiện hành về mức lương tối thiểu vùng 21

1.3.1 Đối tượng áp dụng 21

1.3.2 Căn cứ xác định mức lương tối thiểu vùng 24

1.3.3 Vai trò của Hội đồng Tiền lương Quốc gia và Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành mức lương tối thiểu vùng 30

1.3.4 Trình tự, thủ tục xây dựng và điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng 31

1.3.5 Xử lý vi phạm liên quan đến mức lương tối thiểu vùng 33

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ CỤ THỂ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG 36

2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của mức lương tối thiểu vùng 36

2.1.1 Những thành tựu đạt được 36

2.1.2 Một số tồn tại trong việc áp dụng pháp luật về mức lương tối thiểu

vùng 42

2.1.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình áp dụng mức lương tối thiểu vùng 50

2.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia 54

2.2.1 Kinh nghiệm từ Singapore 54

2.2.2 Kinh nghiệm từ Hàn Quốc 57

Trang 4

2.3 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về mức lương

tối thiểu vùng ở Việt Nam 60

2.3.1 Mức lương tối thiểu vùng phải được quy định sát với thực tế, loại bỏ dần một số gánh nặng của MLTT vùng với cân đối ngân sách nhà nước 60

2.3.2 Cần xây dựng lại phương pháp phân định vùng để điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp 62

2.3.3 Thành lập Ủy ban Năng Suất Lao động Quốc gia 63

2.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện và điều chỉnh MLTT vùng, đặc biệt giao cho địa phương theo dõi, nghiên cứu báo cáo chuyển vùng đối với những tỉnh, thành phố đủ điều kiện 64

2.3.5 Tăng cường phối hợp cơ chế ba bên trong ban hành chính sách tiền lương tối thiểu 66

2.3.6 Tăng cường hoạt động thương lượng tập thể để đem lại lợi ích cho người lao động 70

2.3.7 Xây dựng lại hệ thống thang, bảng lương 73

2.3.8 Xây dựng Luật Tiền lương tối thiểu 74

2.3.9 Xử lý vi phạm pháp luật về tiền lương tối thiểu vùng 79

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLLĐ

Bộ luật Lao động năm 2012 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012

Trang 6

ra của sản xuất kinh doanh

Trải qua các thời kỳ, chính sách về tiền lương nói chung và chính sách tiền lương tối thiểu nói riêng qua nhiều lần cải cách và cải tiến đã không ngừng hoàn thiện, phù hợp hơn với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, cũng như để thực hiện cam kết khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là nền kinh tế nước ta phải được vận hành theo nguyên tắc thị trường và không phân biệt đối xử Do đó, chính sách tiền lương tối thiểu đã từng bước được đổi mới theo định hướng thị trường, góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển dựa trên nguyên tắc coi tiền lương là yếu tố của sản xuất, là giá cả sức lao động, phù hợp với quan hệ cung – cầu trên thị trường lao động

Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, tình hình lạm phát đang ở mức cao, chính sách tiền lương đang thể hiện nhiều bất cập, điển hình như hàng năm, Nhà nước đã điều chỉnh mức lương tối thiểu (sau đây gọi tắt là “MLTT”) vùng, song nó vẫn chưa thật sự phù hợp với tình hình thực tế, chủ yếu nâng MLTT vùng do áp lực của giá cả, hệ số trượt giá của đồng tiền, các điều kiện kinh tế thay đổi dẫn đến sự chuyển dịch giữa các vùng, mà chưa bảo đảm tiền lương thực tế cho NLĐ dẫn đến tiền lương vẫn chưa đáp ứng mức sống tối thiểu của NLĐ và hầu như không có tác động nâng cao chất lượng của NLĐ Đó là nguyên nhân chính lý giải hàng loạt các cuộc đình công trong khu vực DN, nhất là DN có vốn đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là “FDI”) đòi tăng lương

Mặt khác, về mặt lý luận các tiêu chí để làm cơ sở xây dựng MLTT vùng còn quy định quá chung chung, bao gồm từ cơ chế và nguyên tắc hình thành, xác định MLTT vùng chưa được luật hóa rõ ràng, đầy đủ và thống nhất, đồng bộ, các căn cứ, tiêu chí điều chỉnh MLTT vùng chưa được lượng hóa cụ thể dẫn đến việc điều chỉnh MLTT vùng trên thực tế chưa thực sự dựa trên nguyên tắc của kinh tế thị trường,

Trang 7

2

cũng như thực tiễn áp dụng tại các DN không được thực hiện nghiêm túc vẫn còn thực trạng thỏa thuận trong Hợp đồng lao động dưới mức quy định, việc xây dựng thang, bảng lương chỉ mang tính hình thức, cơ chế ba bên để thương lượng tập thể (sau đây gọi tắt là “TLTT”) tăng cường quyền lợi cho NLĐ vẫn chưa thật sự hiệu quả, chưa góp phần xây dựng mối quan hệ lao động trong các DN ổn định, lành mạnh cùng phát triển

Ở nhiều nước trên thế giới, vấn đề chính sách lương tối thiểu nói chung, đặc biệt MLTT vùng nói riêng được nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, thậm chí là ban hành Luật Tiền lương Tối thiểu để điều chỉnh Ngược lại, ở Việt Nam, MLTT vùng chỉ mới được quan tâm một cách xác đáng gần đây nên vấn đề đặt ra cần có những nghiên cứu toàn diện cả về mặt lý luận và thực tiễn để hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này và mang tính ứng dụng cao, chứ không phải là “luật giấy” Vì lý do

đó tác giả chọn đề tài “Mức lương tối thiểu vùng theo quy định của pháp luật Việt Nam” để làm khóa luận tốt nghiệp cho mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong phạm vi trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tác giả tìm đọc được một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: 1) Huỳnh Văn Dân (2008),

“Pháp luật về tiền lương trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: thực trạng và hướng hoàn thiện (từ thực tiễn Bình Dương)”, Luận văn thạc sỹ; 2) Nguyễn Hải Phượng (2011), “Tiền lương tối thiểu đối với hoạt động của các doanh nghiệp

có vôn đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Luận văn Thạc sỹ

Trong phạm vi cả nước, tác giả tra cứu được một số công trình nghiên cứu như sau: 1) Mai Văn Đời (2011), “Lương tối thiểu chung, Lương tối thiểu vùng - Vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ; 2) Đào Duy Phương (2010),“Chế độ pháp lý về tiền lương tối thiểu và hướng hoàn thiện”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội; 3) Công trình nghiên cứu (2007), “Chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam”, Viện Khoa học Lao động và

Xã hội; 4) Đề tài nghiên cứu khoa học (2007), “Căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng phương án tiền lương tối thiểu và các giải pháp thực hiện”, Vụ Tiền lương-Tiền công, Bộ Lao động Thương binh Xã hội

Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào nghiên cứu chính sách tiền lương tối thiểu ở góc độ kinh tế, mang tầm vĩ mô để thực hiện chính sách chung hoặc chỉ phân tích ở một khía cạnh nhất định về MLTT

mà chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về MLTT vùng, đặc biệt là từ khi Bộ luật Lao động 2012 có hiệu lực với những cơ chế mới và việc điều chỉnh MLTT vùng được đặt ra hàng năm, điều này đã tạo ra sự cần thiết phải nghiên

Trang 8

Đề tài nghiên cứu này hướng đến những mục đích cụ thể như sau:

 Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về MLTT vùng như: Khái niệm, đặc điểm, vai trò của MLTT vùng, lịch sử hình thành và phát triển cũng như chỉ ra

sự khác biệt với các MLTT khác, khái quát chung về những quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh về MLTT vùng;

 Trình bày những thành tựu đạt được và chỉ ra những tồn tại trong việc

áp dụng pháp luật về MLTT vùng trong thực tế và nguyên nhân của những tồn tại đó;

 Đưa ra một số kinh nghiệm của các quốc gia và đề ra một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về MLTT vùng để đảm bảo tính hiệu quả khi áp dụng vào thực tế đời sống

3.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng như

sau: Một số vấn đề lý luận cơ bản về MLTT vùng; các quy định pháp luật Việt Nam

về MLTT vùng; thực trạng áp dụng các quy định MLTT vùng trên thực tế

Về phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo tính chuyên sâu của đề tài, tác giả xác

định phạm vi nghiên cứu như sau:

 Đề tài chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về MLTT vùng tại doanh nghiệp Đề tài không nghiên cứu các quy định về MLTT vùng ở các hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động để đảm bảo tính chuyên sâu

 Đề tài tập trung vào nghiên cứu các quy định về MLTT vùng tại các

DN trong Bộ Luật Lao động đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa 13, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 (sau đây gọi tắt là

“BLLĐ”), văn bản hướng dẫn BLLĐ và các quy định cụ thể của Chính phủ về MLTT vùng có liên quan trực tiếp đến MLTT vùng áp dụng tại DN và các quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (sau đây gọi tắt là “ILO”), pháp luật Singapore và Hàn Quốc có liên quan đến MLTT

 Trong giới hạn của đề tài, tác giả sẽ tập trung vào một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về MLTT vùng tại các DN

Trang 9

4

5 Các phương pháp tiến hành nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx-Lenin, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích để nghiên cứu Những phương pháp này không sử dụng độc lập mà đan xen và kết hợp với nhau

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Đề tài nghiên cứu này sẽ là một đóng góp phần nào vào ý nghĩa lý luận cũng như thực tiễn trong viêc nhận thức một cách hệ thống, đầy đủ hơn về pháp luật, các bất cập của pháp luật cũng như giải pháp hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam

về MLTT vùng tại DN Vì lý do đó, tác giả kỳ vọng khả năng ứng dụng của đề tài

Chương 2: Thực tiễn thực hiện và những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện

pháp luật về mức lương tối thiểu vùng

Trang 10

5

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU VÙNG THEO QUY ĐỊNH

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và vai trò của mức lương tối thiểu vùng

1.1.1 Khái niệm về mức lương tối thiểu vùng

a) Định nghĩa tiền lương

Tiền lương là thước đo giá trị sức lao động dùng để kích thích NLĐ nâng cao năng lực làm việc của mình, phát huy khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế Do đó, tiền lương không chỉ là phạm trù kinh tế mà còn là yếu tố hàng đầu của các chính sách xã hội liên quan trực tiếp đến đời sống xã hội Có thể xem xét khái niệm tiền lương dưới nhiều góc độ:

Dưới góc độ kinh tế, tiền lương là hình thái chuyển hóa của giá trị sức lao

động và là giá cả sức lao động Do vậy, tiền lương còn thuộc phạm trù giá trị, phạm trù trao đổi chịu sự tác động của quy luật cung - cầu về sức lao động được hình thành trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ, là một phần của chi phí sản xuất của NSDLĐ Tiền lương được gọi nhiều thành ngữ khác nhau như: tiền lương, tiền công, tiền thù lao lao động

Theo lý luận về giá trị thặng dư Karl Marx (C Mác) đã chỉ ra: “Tiền lương

là giá cả hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu lao động, lên xuống xoay quanh giá trị của nó - giá trị sức lao động” 1 Cũng như các loại hàng hóa khác, giá trị hàng hóa sức lao động là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó, tức là giá trị những tư liệu sinh hoạt nhằm bù đắp lại sức lao động đã hao phí của NLĐ, gồm 3 loại chi phí sau: (1) chi phí để nuôi sống và duy trì khả năng lao động của bản thân NLĐ với tư cách là người công dân tự do, tự nguyện bán sức lao động (ký kết hợp đồng lao động); (2) chi phí để học tập và đào tạo để trở thành NLĐ và (3) chi phí để nuôi sống gia đình NLĐ2

Dưới góc độ pháp lý, tại Điều 1 Công ước số 95 năm 1949 về bảo vệ tiền

lương quy định:

Tiền lương là sự trả công và sự thu nhập, bất luận tên gọi, cách tính như thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động trả cho

1 Karl Marx (1976), Lao động làm thuê và tư bản, Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr 38 - 39

2 Karl Marx, tlđd (1), tr.40

Trang 11

6

người lao động theo một hợp đồng lao động viết bằng tay hay bằng miệng, cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải làm

Theo quy định pháp luật lao động Việt Nam: “Tiền lương của người lao động

do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định”3

b) Định nghĩa mức lương tối thiểu

Theo một số tác giả các công trình nghiên cứu về quan hệ lao động nói chung và tiền lương nói riêng4, tiền lương tối thiểu nhằm mục đích nâng cao mức lương và nâng cao chất lượng lao động Quốc gia đầu tiên ban hành quy định về tiền lương tối thiểu là New Zealand vào năm 18945.Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, khái niệm tiền lương tối thiểu dần được phổ biến tại nhiều nước trên thế giới Đối với các DN có tổ chức công đoàn thì công đoàn sẽ thực hiện các thỏa thuận chung để đảm bảo tiền lương tối thiểu cho NLĐ nhưng những NLĐ có tay nghề thấp và không được sự hỗ trợ của công đoàn thường phải nhận mức lương rất thấp, không đủ để đảm bảo cuộc sống Nhằm cải thiện và ngăn chặn tình trạng này, các quốc gia đã quy định chế độ tiền lương tối thiểu thành luật Theo nhà nghiên cứu Richart Anker6, chuyên gia kinh tế cao cấp tại ILO, Australia là nước có thu nhập cao đầu tiên ban hành Luật tiền lương tối thiểu Vì vậy, có thể hiểu, tiền lương tối thiểu bao gồm MLTT và các khoản tiền thưởng hoặc phúc lợi xã hội, mức trợ cấp

xã hội, được tính theo thời gian, thường áp dụng cho lao động thành niên không có

kỹ năng, lần đầu tiên tham gia làm việc và có thể được tính theo giờ, ngày, tuần hoặc tháng

Do đó, tiền lương tối thiểu nói chung và MLTT nói riêng là chủ đề quan trọng ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đến cuộc sống NLĐ và phải đảm bảo hài hòa lợi ích của NSDLĐ nên nhận được sự quan tâm của hầu hết các nước trên thế giới, cũng như được nghiên cứu, xem xét theo nhiều quan niệm khác nhau để hình thành nên hệ thống lý luận vững chắc làm nền tảng ban hành các loại MLTT sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng nước

Trước hết ta có thể hiểu, MLTT chính là mức lương thấp nhất mà NSDLĐ trả cho NLĐ nhằm duy trì cuộc sống tối thiểu cho bản thân và gia đình họ Đó là các chi phí về mặt sinh học như: ăn, ở, mặc, nhu cầu bảo vệ sức khỏe và duy trì nòi

3 Xem Khoản 1 Điều 90 BLLĐ 2012

4 Trường Đại học Luật TPHCM (2011), Giáo trình Luật Lao Động, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh,

tr.263

5 Trường Đại học Luật TPHCM (2011), tlđd (4), tr.263

6 Richart Anker, “Estimating a living wage: A methodological review”, Conditions of Work and Employment

Seties No.29, International Labour Office-Geneva, tr.17

Trang 12

7

giống…mà còn cần phải đáp ứng về mặt xã hội như: học tập, giải trí, giao tiếp, đi lại…Tùy thuộc vào từng khu vực địa lý nhất định và những thời kỳ cụ thể mà pháp luật quy định những MLTT phù hợp sao cho đảm bảo được mức sống tối thiểu của NLĐ

Năm 1970, tại Điều 3 Công ước 131 ngày 3/6/1970 về ấn định lương tối thiểu đối với các nước đang phát triển, ILO đã xác định:

Trong chừng mực có thể và thích hợp, xét theo thực tiễn và điều kiện quốc gia, những yếu tố cần lưu ý để xác định mức lương tối thiểu phải bao gồm: (1) những nhu cầu của người lao động và gia đình

họ, xét theo mức lương chung trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an sinh xã hội và mức sống so sánh của các nhóm xã hội khác; (2) những nhân tố về kinh tế, kể cả những đòi hỏi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng lao động cao

Ở Việt Nam năm 1993 khi thực hiện cải cách chính sách tiền lương, MLTT được quan niệm là căn cứ xây dựng hệ thống trả công lao động cho các khu vực, ngành nghề; tính mức lương cho các loại lao động khác nhau Tạo ra lưới an toàn xã hội cho lao động trong cơ chế thị trường; Thiết lập mối quan hệ ràng buộc kinh tế giữa NSDLĐ và NLĐ trong thỏa thuận ký kết hợp đồng lao động (về tiền lương, tiền công) Theo quy định tại Khoản 1 Điều 91 BLLĐ xác định: “Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ Mức lương tối thiểu được xác định theo tháng, ngày, giờ và được xác lập theo vùng, ngành”

Như vậy, MLTT là số lượng tiền thấp nhất do Nhà nước quy định để trả công cho lao động giản đơn nhất trong xã hội trong điều kiện lao động bình thường, nhằm bù đắp sức lao động và một phần tích lũy tái sản xuất mở rộng và được dùng làm căn cứ tính các mức lương cho các loại lao động khác nhau, NSDLĐ không được trả lương cho NLĐ thấp hơn mức do Chính phủ quy định

MLTT được trả theo tháng bao gồm:

 MLTT chung: là MLTT áp dụng cho các cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang nhân dân đảm bảo cuộc sống tối thiểu nhất cho họ và là cơ sở để xây dựng cho toàn bộ hệ thống tiền lương

 MLTT theo ngành: là MLTT áp dụng cho một ngành nào đó, dựa trên cơ sở MLTT vùng và năng suất lao động, khả năng chi trả của

Trang 13

8

DN và quan hệ cung – cầu lao động của từng ngành và do đại diện NLĐ

và NSDLĐ thỏa thuận, quy định trong TƯLĐTT ngành

 MLTT vùng: sẽ được định nghĩa bên dưới

c) Định nghĩa về mức lương tối thiểu vùng

Theo từ điển Tiếng Việt 7 , MLTT vùng là từ ghép gồm 3 cụm từ “mức lương”

nghĩa là tiền công trả định kỳ cho người lao động, “tối thiểu” là mức thấp nhất, không thể thấp hơn được, “vùng” là phần đất hoặc không gian tương đối rộng, có những đặc điểm nhất định về tự nhiên hoặc xã hội Từ đó có thể định nghĩa như sau:

MLTT vùng là tiền công ở mức thấp nhất trả cho người lao động theo định kỳ tại các khu vực có những đặc điểm nhất định về điều kiện tự nhiên, xã hội

Theo giáo trình Luật Lao động: “MLTT vùng là mức lương tối thiểu áp dụng

cho từng vùng nhất định, được xây dựng căn cứ vào nhu cầu sồng tối thiểu của NLĐ và gia đình họ, điều kiện kinh tế-xã hội và mức lương trên thị trường lao động”8

Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Văn Thường:

MLTT vùng đó là mức lương tối thiểu dùng cho một vùng nào

đó phụ thuộc vào nhu cầu tối thiểu của bản thân và gia đình NLĐ trong vùng; mức sống chung đạt được và sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư; mức tiền lương, tiền công chung đạt được

và yếu tố giá cả trong vùng Ngoài ra, tiền lương tối thiểu theo vùng còn phụ thuộc vào các yếu tố chính trị-xã hội của vùng9

Trong nền kinh tế thị trường, MLTT vùng được hiểu là10:

Mức tiền lương thấp nhất trả cho NLĐ làm công việc đơn giản trong điều kiện lao động bình thường mà không một NSDLĐ nào có quyền trả thấp hơn căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, khả năng của

DN tại các vùng khác nhau là khác nhau, trên cơ sở có sự tham gia của đại diện NSDLĐ và NLĐ và trở thành mức sàn thấp nhất theo quy định của pháp luật để trả cho NLĐ trên thị trường

7 Từ điển Tiếng việt, http://tratu.soha.vn/ , [ truy cập ngày 20/6/2015]

8Trường Đại học Luật TPHCM (2013), Giáo trình Luật Lao Động, Nxb Hồng Đức-Hội Luật Gia Việt Nam,

tr.329

9Nguyễn Văn Thường (2002), “Xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở điều tra nhu cầu mức sống dân cư

làm căn cứ cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010”, Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập

cấp nhà nước, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, tr.28

10 Tạ Đức Khánh (2009), Giáo trình Kinh tế Lao động, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr.107

Trang 14

9

Do đó, MLTT vùng phải thõa mãn các yêu cầu như sau:

1 Bảo đảm đời sống tối thiểu cho NLĐ ở trình độ lao động phổ thông, phù hợp với khả năng của nền kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, phải đảm bảo mức sống tối thiểu thực tế cho NLĐ;

2 Được tính đúng, tính đủ để trở thành lưới an toàn chung cho những NLĐ trong toàn xã hội, không phân biệt thành phần kinh tế và khu vực kinh tế;

3 Là yếu tố tác động đến mức tiền công trên thị trường lao động, tạo điều kiện cho các DN tính đủ chi phí đầu vào và đầu tư hợp lý giữa các vùng, ngành, mở rộng môi trường đầu tư và hội nhập;

4 Là công cụ điều tiết của Nhà nước nhằm bảo đảm xã hội đối với NLĐ làm việc trong ngành nghề, khu vực có quan hệ lao động, thiết lập những ràng buộc kinh tế trong lĩnh vực sử dụng lao động, tăng cường trách nhiệm của các bên trong quan hệ lao động

Tóm lại, MLTT vùng được hiểu là mức lương thấp nhất áp dụng tại các vùng lãnh thổ nhất định, dựa trên mức lương cở sở và phụ thuộc vào các yếu tố đặc thù mỗi vùng như: kế hoạch phát triển của vùng, điều kiện kinh tế, mức thu nhập bình quân đạt được của từng vùng, nhu cầu tối thiểu của bản thân và gia đình NLĐ trong vùng; mức sống chung đạt được và sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân

cư Từ định nghĩa trên, cho thấy MLTT vùng có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, MLTT vùng được xây dựng dựa trên các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội khác nhau và các yếu tố đặc thù của mỗi vùng

Do vị trí địa lý đặc thù của đất nước đã tạo ra các địa thế khác nhau, có nơi địa thế hiểm trở kinh tế chậm phát triển, khí hậu khắc nghiệt, có nơi hội tụ nhiều thuận lợi lẫn khí hậu tốt nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các vùng Đồng thời, việc xây dựng MLTT vùng còn dựa trên yếu tố đặc thù như: kế hoạch phát triển của vùng, mức thu nhập bình quân đạt được của từng vùng, mức sống chung đạt được và sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp dân cư, có thể hiểu là mỗi vùng sẽ có những chiến lược phát triển kinh tế khác nhau để được điều chỉnh sang những vùng mới với mức sống cao hơn nhằm nâng cao đời sống cho NLĐ, có tính đến sự chênh lệch mức sống giữa các tầng lớp trong

xã hội vì phần lớp dân cư ở nước ta sống ở nông thôn, từ đó giúp cho vùng nhanh chóng bắt kịp các khu vực phát triển, tạo sự phát triển đồng đều, điều đó còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của của các DN trong vùng, sản xuất càng phát triển và có hiệu quả thì mức sống càng cao

Trang 15

10

Điều này hoàn toàn khác với mức lương cơ sở11 điều chỉnh đối với cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, chiến sỹ, công nhân trong các đơn vị, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang (sau đây gọi là chung là cơ quan, đơn vị) Các đối tượng này được hưởng lương từ nguồn ngân sách Nhà nước và MLTT chung được dùng đảm bảo cho các nguồn trợ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp được áp dụng trên phạm vi toàn lãnh thổ, không phân biệt vùng, ngành kinh tế cũng như quan hệ lao động, các cơ quan được

bố trí từ trung ương đến địa phương đảm bảo cho NLĐ dù làm việc ở đâu cũng được đáp ứng được mức sống tối thiểu, tái sản xuất giản đơn và có tính đến phần tích lũy của NLĐ

Thông thường, mức lương cơ sở là cơ sở để xây dựng MLTT vùng và trong hầu hết các trường hợp MLTT vùng không được thấp hơn MLTT chung, được biểu diễn bởi công thức: MLTT vùng = MLTT chung + x (trong đó: x là biến số thay đổi theo từng vùng)

Thứ hai, MLTT vùng được trả tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất

MLTT vùngcủa NLĐ sẽ được xác định dựa trên trình độ lao động giản đơn nhất, lao động chân tay, không có sự đòi hỏi về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, NLĐ không cần thông qua sự đào tạo trường lớp, về tính chất kỹ thuật phức tạp và không phụ thuộc vào khả năng lao động thực tế của NLĐ đó Đối với NLĐ có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ thông qua sự đào tạo như Cao đẳng, Đại học, Cao học…hoặc có đào tạo tay nghề thì MLTT vùng được dùng làm cơ sở thỏa thuận trong Hợp đồng lao động

Đối với mức lương cơ bản tại DN có thể hiểu là số tiền mà NSDLĐ đặt ra trả cho NLĐ giản đơn nhất theo yêu cầu của DN trên cơ sở thỏa thuận trong hợp đồng lao động gồm: mức lương cơ bản, thưởng, phụ cấp chức vụ, phụ cấp cơm trưa, xăng xe hoặc thu nhập theo chỉ số doanh thu…và có thể thay đổi được dựa vào ý chí của một bên hoặc hai bên Số tiền lương thực lãnh của họ là nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, năng suất lao động, hiệu quả làm việc…trong quá trình lao động

Thứ ba, MLTT vùng xác định tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong môi trường và điều kiện lao động bình thường

Năng suất lao động, sức khỏe của NLĐ và cường độ làm việc của NLĐ có mối quan hệ mật thiết với nhau Cường độ lao động ảnh hưởng trực tiếp tới năng

11 Xem Khoản 2 Điều 3 Nghị định 66/2013/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang

Trang 16

11

suất lao động và sức khỏe của họ Hiện nay chưa có quy định cụ thể nào định nghĩa

về cường độ lao động khi xác định MLTT nói chung và MLTT vùng nói riêng Việc hiểu vấn đề này còn rất chung chung và trừu tượng Vì vậy, ta có thể hiểu cơ bản rằng, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong môi trường điều kiện lao động bình thường là NLĐ làm việc trong một môi trường với mức tiêu hao năng lượng thấp và điều kiện lao động không có yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ Nếu NLĐ làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại hoặc vùng xa xôi, hẻo lánh, khí hậu khắc nghiệt thì NSDLĐ phải trả lương cao hơn MLTT vùng và ngoài

ra còn phải trả thêm những khoản phụ cấp lương nếu có những yếu tố không xác định được hết trong tiền lương tối thiểu như phụ cấp độc hại, nguy hiểm…

Mặt khác, MLTT ngành cũng được thiết lập dựa trên cường độ lao động nhẹ nhàng nhất diễn ra trong môi trường và điều kiện lao động bình thường nhưng có tính đến yếu tố lao động đặc thù của từng ngành nghề như chất lượng và điều kiện lao động theo yêu cầu của ngành, quan hệ cung - cầu, các yếu tố vị trí, vai trò, mức

độ hấp dẫn của ngành…vì vậy, việc xây dựng MLTT ngành ít nhất cũng phải bằng hoặc cao hơn MLTT vùng dựa trên TLTT của một ngành hoặc một nhóm ngành nhất định, có sự tham gia giữa đại diện NLĐ là Công đoàn và đại điện NSDLĐ, căn

cứ trên cơ sở MLTT vùng nhằm đảm bảo tốt hơn khả năng tái sản xuất lao động giản đơn cho NLĐ và gia đình họ với yêu cầu mức độ phức tạp và trình độ tay nghề thấp nhất trong một ngành mà các yếu tố này chưa được thể hiện ở MLTT vùng; điều tiết cung - cầu lao động và loại trừ cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngành

MLTT vùng là nền tảng, cơ sở để thương lượng xây dựng MLTT ngành và trong hầu hết các trường hợp MLTT ngành không thấp hơn MLTT vùng, được biểu diễn bởi công thức: MLTT ngành = MLTT chung + y (trong đó: y là biến số thay đổi theo tùy thuộc vào thương lượng của từng ngành)

Thứ tư, MLTT vùng phải đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của NLĐ và gia đình họ nhằm đảm bảo bù đắp sức lao động và một phần giúp tái sản xuất sức lao động sao cho phù hợp điều kiện ở mỗi vùng khác nhau

Sau khi bỏ sức lao động ra làm việc, NLĐ mong muốn nhận một mức lương

phù hợp và xứng đáng để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho họ và gia đình,

bù đắp những hao tổn sức khỏe và một phần để dành phòng khi ốm đau, bệnh tật, những bất trắc không lường trước được….Tuy nhiên, mỗi thời kỳ, mỗi vùng khác nhau thì nhu cầu tối thiểu nhằm tái tạo sức lao động lại thay đổi theo điều kiện xã hội với xu hướng ngày càng tăng, chủ yếu phụ thuộc vào hai yếu tố: sự khác nhau

về giá hàng hóa, dịch vụ và thói quen tiêu dùng của NLĐ

Trang 17

12

Giá cả hàng hóa, dịch vụ tại các vùng: Trong nền kinh tế thị trường, giá cả

hàng hóa dịch vụ tuân theo quy luật cung cầu của vùng, địa phương đó Tại cùng một thời điểm, ở các địa phương khác nhau luôn có một mức giá khác nhau Đặc biệt là giữa nông thôn, thành thị, giữa các thành phố lớn với các tỉnh khác Vì vậy, một trong những mục tiêu của việc quy định MLTT theo vùng là đảm bảo sức mua của MLTT trong điều kiện các mức giá khác nhau cho cùng một loại hàng hóa này

Thói quen tiêu dùng của NLĐ ở các vùng: do các điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội như khoảng cách xa trung tâm, năng lực giao thông, truyền thông hay các yếu tố kém lợi thế về lịch sử phát triển, văn hóa, dân tộc của từng vùng có thể dẫn tới số lượng hàng hóa dịch vụ để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của mỗi vùng là khác nhau Đối với các địa phương có khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, nhu cầu thiết yếu có xu hướng tập trung vào các mặt hàng lương thực thực phẩm, nhu cầu phi lương thực thực phẩm thường ít được quan tâm hơn, chủ yếu là các nhu cầu cơ bản như: điện, nước, đi lại, nhà ở… Trong khi đó, đối với những địa phương có điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi hơn hay kinh tế xã hội phát triển hơn, nhu cầu thiết yếu của NLĐ có xu hướng cân bằng hơn giữa lương thực, thực phẩm và phi lương thực thực phẩm Ngoài ra, nhu cầu về phi lương thực thực phẩm có thể tăng ở một số khoản mục như giáo dục, y tế…

1.1.2 Vai trò của mức lương tối thiểu vùng

Vai trò của MLTT sớm được khẳng định trong công ước số 26 ngày 30/5/1928 của ILO có giá trị như một văn bản pháp quy đầu tiên về việc luật pháp hóa các quy chế xây dựng MLTT của các nước thành viên Hội nghị Quốc tế của ILO họp ở Thái Lan tháng 12 năm 1990 đã khẳng định vai trò cần thiết của việc thiết lập chế độ tiền lương tối thiểu trong cả nước, nhất là đối với các nước đang phát triển

Do đó, MLTT nói chung và MLTT vùng nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển mỗi vùng Xác định được tầm quan trọng của vấn

đề trong những năm qua Nhà nước ta đã không ngừng cải cách MLTT vùng để phù hợp với nhu cầu cuộc sống, nhất là đối với NLĐ làm công ăn lương

Thứ nhất, đối với NLĐ làm công ăn lương, xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ NLĐ khi tham gia quan hệ lao động, Nhà nước quy định MLTT vùng như là một sự đảm bảo về mặt pháp lý đối với NLĐ trong mỗi vùng lãnh thổ nhất định có tồn tại quan hệ lao động, đảm bảo đời sống tối thiểu cho họ phù hợp với khả năng của nền kinh tế - xã hội, cụ thể:

Trang 18

13

a) MLTT vùng có sự ảnh hưởng đặc biệt hàng ngày đối với NLĐ

Tiền lương là nguồn thu nhập chính mua sắm các tư liệu sinh hoạt thiết yếu của cuộc sống để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân NLĐ

và gia đình họ nhằm tái tạo sức lao động và một phần tái sản xuất mở rộng Ở mỗi thời kỳ khác nhau, chỉ số giá tư liệu sinh hoạt thay đổi dẫn đến nhu cầu ngày một tăng lên cùng với sự phát triễn của xã hội, có nơi chi phí rất cao, có nơi thì thấp Vì vậy, MLTT vùng được xây dựng và điều chỉnh định kỳ đóng vai trò quan trọng, phần nào đã bắt kịp và đáp ứng được đời sống tối thiểu của NLĐ

b) Sự phân phối công bằng, hợp lý hay không sẽ quyết định đến sự tận tâm, tận lực của NLĐ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng

Trong quá trình quản lý lao động, NSDLĐ đã dùng MLTT vùng như là một trong những công cụ kinh tế quan trọng để tạo tinh thần làm việc và làm cho NLĐ quan tâm đến công việc của mình nhiều hơn, từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên Hay nói cách khác, với MLTT vùng phù hợp sẽ là tác động tích cực đến NLĐ, giúp họ yên tâm và tập trung tinh thần tốt nhất vào công việc dẫn đến năng suất tăng lên đáng kể Tuy nhiên, nếu quy định MLTT vùng quá cao sẽ tạo ra mối quan hệ không hợp lý giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độc tăng MLTT vùng, làm cho hiệu quả không tốt ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình sản xuất kinh doanh

Mặc khác, nếu MLTT vùng phân phối không hợp lý, quá thấp so với mức tiền công trung bình, không đảm bảo được cuộc sống tối thiểu của NLĐ, thì MLTT vùng không còn là thu nhập chính của NLĐ và mất tác dụng kích thích họ làm việc, tăng năng suất lao động Bởi vì, MLTT vùng đã không đáp ứng được một cách đầy

đủ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày thì NLĐ phải tìm kiếm những thu nhập khác ngoài lương mà họ nhận được để đảm bảo cuộc sống cho bản thân và gia đình Trong thực tế, NLĐ còn tìm kiếm được cho mình những công việc mang lại nhu nhập cao hơn rất nhiều lần so với tiền lương mà họ nhận được từ NSDLĐ chi trả Đây chính là nguyên nhân làm cho NLĐ không toàn tâm, toàn lực cống hiến hết mình để hoàn thành tốt công việc Đồng thời, với những NLĐ có những suy nghĩ tiêu cực, khi mà tiền lương không đủ sống họ sẽ cải thiện cuộc sống của mình bằng những nguồn thu nhập bất chính tạo nên tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế, chính trị và xã hội

Ngoài ra, việc trả đúng, trả đủ tiền lương cho cũng có tác động đến tâm lý của NLĐ Giúp cho họ cảm thấy được sự công bằng giữa những NLĐ, giữa công sức bỏ ra và cái mà họ nhận được Từ đó tạo ra sự phấn khởi trong lao động, đây chính là yếu tố quan trọng để tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế

Trang 19

sử dụng NLĐ thì cũng chèn ép họ với một mức lương thấp Đây chính là điều kiện

để NSDLĐ không gây ra sức ép cho NLĐ, trả cho họ một mức lương không thấp hơn mức lương họ đáng đươc hưởng, tạo “lưới an toàn” cho NLĐ Vì vậy, ở một mức độ nào đó MLTT vùng là sự điều hòa trong các nhóm NLĐ, đảm bảo cho sự trả lương tương đương cho những công việc tương đương ở tại các DN trong vùng

Do đó, việc quy định MLTT vùng giới hạn rõ hành vi của NSDLĐ trong việc trả lương, đảm bảo sự cân bằng và bảo vệ NLĐ khỏi sự bóc lột trước sức ép của thị trường

Thứ hai, đối với NSDLĐ đây là cơ sở pháp lý để xây dựng thang lương, bảng lương cho NLĐ 12

Một là, DN căn cứ vào quy định của pháp luật tự xây dựng thang lương, bảng lương, phụ cấp lương sao cho mức lương trả cho NLĐ làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng

và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải bảo đảm:

 Không thấp hơn MLTT vùng đối với NLĐ chưa qua đào tạo làm công việc giản đơn nhất;

 Cao hơn ít nhất 7% so với MLTT vùng đối với NLĐ đã qua học nghề Hai là, căn cứ vào MLTT vùng được quy định và các nội dung thỏa thuận trong HĐLĐ với NLĐ, TƯLĐTT hoặc quy chế của DN, DN phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở và NLĐ để thỏa thuận, xác định mức điều chỉnh các mức lương trong thang lương, bảng lương, mức lương ghi trong hợp đồng lao động và mức lương trả cho NLĐ khi tình hình thay đổi do chỉ số giá cả tăng nhanh và năng suất lao động được tăng cường, cùng với sự điều chỉnh MLTT vùng chính thức từ Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ làm việc có nhiều thâm niên và NLĐ mới

ký hợp đồng

Ba là, DN không được xóa bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi NLĐ làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, làm việc trong điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với các chức danh và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động khi MLTT vùng điều chỉnh tăng

Trang 20

15

Bốn là, DN dựa trên cơ sở MLTT vùng để xây dựng các chế độ đãi ngộ tốt hơn để thu hút nhân tài, tạo nguồn động lực cho NLĐ tập trung, phấn đấu hoàn thành tốt công việc từ đó tăng năng suất lao động, đạt hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh

Thứ ba, đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, MLTT vùng còn là công cụ hỗ trợ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước trên phạm vi một vùng lãnh thổ nhất định đặc trưng bởi các yếu tố địa lý, yếu tố kinh tế và xã hội và trong từng cơ

sở kinh tế 13

Đối với các quốc gia đang phát triển, song song với việc xác định các ngành kinh tế trọng điểm và các ngành kinh tế mũi nhọn, việc quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố vệ tinh là một mục tiêu đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, khi xác định MLTT vùng, Nhà nước đã căn cứ vào yếu tố địa lý, trình độ phát triển kinh tế cùng với những thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động sao cho phù hợp với tình hình của mỗi vùng để luôn đảm bảo cho NLĐ có cuộc sống phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở từng vùng trong từng thời kỳ Từ đó, nền kinh tế ngày càng phát triển, tạo nên sự cân bằng và giúp cho các vùng thu hẹp khoảng cách phát triển quá lớn như hiện nay, việc xây dựng các MLTT vùng phù hợp với điều kiện của từng vùng tạo ra những tác động nhất định đối với thị trường lao động của vùng như sau:

Nâng cao chất lượng thị trường lao động với các địa phương phát triển:

Việc quy định MLTT cao hơn đối với những vùng phát triển hơn dẫn tới tính cạnh tranh việc làm, thu hút lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động MLTT vùng tạo nên sự cạnh tranh trên thị trường lao động giữa các vùng khi mà hàng hóa sức lao động dư thừa Cạnh tranh là quy luật chung của thị trường trong điều kiện cung lao động lớn hơn so với cầu lao động và việc dẫn đến sự cạnh tranh giữa các vùng là tất yếu Vì vậy, Nhà nước quy định MLTT vùng

là khung pháp lý quan trọng, đảm bảo cho sự cạnh tranh này luôn ở trong khuôn khổ pháp luật

Tạo ra nhiều việc làm hơn, thúc đẩy tăng trưởng với các địa phương kém phát triển:

MLTT vùng còn góp phần điều tiết cung - cầu lao động, nâng cao hiệu quả

sử dụng lao động, tạo ra dòng di chuyển lao động và dân cư hợp lý giữa các vùng, không tạo ra tình trạng tập trung ồ ạt tại những vùng phát triển dẫn đến thừa lao động gây nên sự phức tạp đến tình hình xã hội, còn những vùng khác đang cần lao

13 Trần Ngọc Trường (2007), “Phương pháp xác định mức lương tối thiểu vùng tại Việt Nam”, Hoạt động

nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học Lao động và Xã hội , số 12 tháng 06/2007, tr.31.

Trang 21

16

động nhưng do mức lương thấp nên lại thiếu lao động, từ đó góp phần điều chỉnh tỷ

lệ thất nghiệp giữa các vùng Với MLTT vùng thấp hơn, các địa phương này có cơ hội thu hút vốn đầu tư, tạo ra nhiều việc làm hơn, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ

Thứ tư, đối với chế độ tiền lương, MLTT vùng có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, nó có cơ sở để xác định các nội dung khác trong chế độ tiền lương

Vai trò đặc biệt quan trọng của MLTT vùng được thể hiện qua một số sau: MLTT vùng là cơ sở, nền tảng để NSDLĐ xác định các mức lương tiếp theo trong thang, bảng lương Vì thế, ở những công việc tương đương NLĐ sẽ được trả mức lương tương đương; MLTT vùng là cơ sở để xem xét tính toán các khoản phụ cấp

và thưởng trả, thực hiện một số chế độ bảo hiểm xã hội, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp cho NLĐ

Có thể nói rằng, MLTT vùng mang một vai trò vô cùng to lớn, nó vừa là yếu

tố phân phối, vừa là yếu tố sản xuất Vì thế, chính sách tiền lương tối thiểu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, việc xây dựng và thực hiện một chính sách MLTT vùng hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ đem lại không chỉ hiệu quả trước mắt, mà còn có hiệu quả tác động lâu dài

1.2 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về mức lương tối thiểu vùng

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1986

Vào những ngày đầu mới thành lập đất nước, chưa có DN nhà nước chỉ có một số DN được trưng thu của chế độ cũ để lại Đồng thời, Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên việc bảo vệ người dân, đặc biệt là NLĐ càng trở nên cấp thiết và trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của đất nước Nhận thức được tầm quan trọng đó, ngày 12/03/1947 Hồ Chủ tịch đã ký công bố Sắc lệnh số 29-SL quy định chế độ lao động trong toàn cõi Việt Nam Tại tiết thứ năm của Sắc lệnh

này đã định nghĩa về tiền công tối thiểu như sau: “Tiền công tối thiểu là số tiền công cho Chính phủ ấn định theo giá sinh hoạt để có một công nhân không chuyên nghiệp sinh sống một mình trong một ngày ở một khu vực nhất định” Sắc lệnh cũng

chỉ rõ căn cứ để xác định tiền công tối thiểu là theo giá sinh hoạt để đảm bảo cuộc sống cho một công nhân và xác định trách nhiệm các bên trong lĩnh vực trả công lao động Đồng thời, Sắc lệnh còn quy định thẩm quyền của các cơ quan trong việc ấn định, công bố MLTT

Các năm 1949 và 1950 là những năm cực kỳ khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp, nên Chính phủ đã tìm nhiều biện pháp để bảo đảm mức sống tối thiểu của công nhân, viên chức Nhưng giá cả tăng nhanh, mỗi biện pháp chỉ được áp

Trang 22

đó MLTT đã được thiết kế trên cơ sở nhu cầu tối thiểu, mức sống tối thiểu và quan

hệ với thu nhập của nông dân Cụ thể bằng việc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết 115-NQTW về cải cách chế độ tiền lương và tăng lương năm 1960 Đại hội đã định hình nền kinh tế nước ta phát triển hoàn toàn theo hướng kế hoạch hóa, mọi vấn đề lao động đều theo kế hoạch trực tiếp của Nhà nước và được triển khai thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính Nhà nước xác định MLTT bằng cách quy định cụ thể các mức lương trong các ngành, tùy thuộc vào tính chất của từng loại công việc Trong mỗi ngành, đều có mức lương thấp nhất, đó chính là mức lương khởi điểm của ngành được trả cho NLĐ ứng với công việc đòi hỏi trình độ lao động thấp nhất và công việc lao động nhẹ nhàng nhất

Như vậy, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương tối thiểu không được quan tâm đúng mức Trên thực tế, người ta quan niệm và coi bậc lương một của ngành là MLTT và chưa có một định hình nào cho MLTT vùng như hiện nay Trong giai đoạn này, cách hiểu về MLTT vùng là chia thành các ngành nghề cụ thể, tương ứng với mỗi ngành là một MLTT riêng.Tuy nhiên, dù có cách hiểu có khác nhau giữa những thời kỳ nhưng MLTT vẫn đảm bảo mức sống tối thiểu cho NLĐ với công việc lao động đơn giản nhất và trình độ lao động thấp nhất Bên cạnh

đó, các quy định điều chỉnh MLTT trong thời điểm này còn rất sơ sài, chủ yếu do Chính phủ ấn định mà không có sự tham gia của đại diện NSDLĐ và đại diện NLĐ, không theo định kỳ, chỉ điều chỉnh khi có sự biến động giá cả

Để lý giải cho điều này, ta phải đặt trong hoàn cảnh đất nước vừa mới thành lập và học tập một cách triệt để theo mô hình Xã hội chủ nghĩa, tập trung bao cấp nên không có sự phân định thành các vùng kinh tế khác nhau, tất cả đều “cào bằng”

do Nhà nước hoàn toàn quản lý chia thành các ngành nghề nhất định

1.2.2 Giai đoạn 1986 đến nay

Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1992

Với chủ trương chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh

tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tự do kinh doanh đã trở thành nguyên tắc hiến định trong đường lối quản lý kinh tế của Nhà nước Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý

để giới hạn hành vi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia quan hệ pháp luật ở mọi lĩnh vực trong đó có vấn đề trả lương cho NLĐ Trong giai đoạn này, tiền lương tối

Trang 23

18

thiểu đã được quan tâm đúng mức và thể hiện đầy đủ ý nghĩa của nó, cụ thể năm

1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 235/HĐBT ngày 18/9/1985 về cải cách chế độ tiền lương của công nhân, viên chức và các lực lượng vũ trang Theo đó, MLTT là 220 đồng/tháng Với mức lương này cuộc sống của NLĐ đã được cải thiện đáng kể Đây thật sự là bước chuyển mình của chính sách tiền lương, chế độ bao cấp tiền lương mới thật sự được xóa bỏ

Sau khi xóa bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp, quan điểm về nền kinh tế ở nước ta có nhiều thay đổi Bắt đầu từ việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Từ đó xuất hiện một thành phần kinh tế mới đó là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Lao động làm việc trong khu vực này đòi hỏi phải chịu áp lực cao hơn, đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và cường độ lao động cao hơn so với lao động trong các DN trong nước Cho nên, để đánh giá đúng sức lao động mà NLĐ bỏ ra và đảm bảo sự công bằng đòi hỏi phải có quy định riêng về MLTT cho lao động làm việc trong khu vực FDI Theo quy định của pháp luật thì MLTT của NLĐ trong khu vực FDI là 50 USD/tháng14

Nhìn chung, trong giai đoạn này đã có những tiến bộ vượt bậc trong quá trình cải cách về chính sách tiền lương tối thiểu MLTT đã kịp thời có những thay đổi hợp lý, đảm bảo được cuộc sống của NLĐ Đồng thời cũng đã có sự phân định

rõ ràng về MLTT đối với các DN trong nước và các DN FDI đảm bảo sự công bằng trong việc trả công cho NLĐ Từ đây có thể rút ra kết luận: MLTT được Nhà nước nhận thức chia thành các MLTT theo loại hình DN đầu tư như: Khu vực DN nhà nước, khu vực DN FDI, khu vực dân doanh, giai đoạn này cũng chưa hề xuất hiện khái niệm MLTT vùng

Giai đoạn từ năm 1993 đến cuối năm 2007

Từ khi chuyển đổi cơ cấu kinh tế, việc thay đổi quan điểm về tiền lương cũng là tất yếu của sự phát triển khách quan các quy luật kinh tế Hiến pháp 1992 ra đời đã cho thấy chính sách tiền lương được Nhà nước ngày càng quan tâm Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Quốc hội khóa IX đã đề ra nhiệm vụ cải cách chính sách tiền lương mới, phải làm cho tiền lương trở thành thước đo giá trị sức lao động và thực hiện cuộc cải cách tiền lương vào ngày 01/04/1993 Đặc biệt là MLTT phải thật sự là lưới an toàn cho NLĐ, đảm bảo cho họ duy trì được mức sống tối thiểu cần thiết và tái sản xuất sức lao động

Ngày 23/6/1994 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật Lao động, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt

14 Điều 1 Quyết định số 365-LĐTBXH/QĐ ngày 29/8/1990 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội quy định về mức lương tối thiểu của lao động trong xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 24

Để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành các quy định về MLTT, ngày 31/12/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 197-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương

Sau một thời gian thực hiện chính sách cải cách tiền lương mới năm

1993, MLTT so với nhu cầu của NLĐ và mục tiêu đề ra là quá thấp, không đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của NLĐ Do đó, ngày 27/3/2000 Chính phủ ra Nghị định 10/2000/NĐ-CP quy định MLTT trong các DN trong nước trên toàn lãnh thổ với MLTT chung là 180.000VNĐ/tháng và những văn bản pháp luật sau đó chủ yếu

để điều chỉnh MLTT cho các DN FDI, còn MLTT vùng cho các DN trong nước được xác định bằng cách lấy MLTT chung Nhà nước quy định nhân với hệ số K (hệ

số chênh lệch giữa MLTT của vùng đó với MLTT chung) hoặc có thể tính riêng cho từng vùng nếu không tính phụ cấp riêng cho từng vùng

Giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 5/2011

Nghị định 167/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động

có hiệu lực 01/01/2008 đã đánh dấu mốc lần đầu tiên MLTT vùng được chính thức quy định cụ thể để áp dụng từng vùng bên cạnh việc quy định quy định MLTT vùng đối với NLĐ làm việc cho DN FDI, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và

cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam và từ sau Nghị định này, mỗi năm Chính

15 Điều 56 Bộ luật Lao động năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX,

kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994

Trang 25

Giai đoạn từ 5/2011 đến nay

Đây là mốc thời gian quan trọng đánh đấu bước phát triển vượt trội của quy định về MLTT vùng ở hai khu vực DN trong nước và DN FDI đã được thống nhất thành một mức để áp dụng chung nhằm thể chế hóa các cam kết WTO mà Việt Nam

đã ký kết trước đó nhằm xóa bỏ sự phân biệt, tạo sự công bằng trong việc trả công cho NLĐ trong các DN bằng Nghị định số 70/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ làm việc ở công ty, doanh nghiệp hợp tác xã,

tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động có hiệu lực ngày 05/10/2011 Hiện nay, hàng năm Chính phủ đều có

sự điều chỉnh thay đổi MLTT vùng như sau:

Trang 26

21

Qua phân tích trên, nhìn lại quá trình phát triển và cải cách MLTT vùng đã

có những bước chuyển biến mạnh mẽ cho thấy, từ những quy định sơ khai, tức là MLTT vùng hiểu theo MLTT ngành trong bối cảnh thời kỳ kinh tế tập trung bao cấp chia thành các ngành nghề nhất định cho đến định hình xây dựng được MLTT vùng thành các vùng kinh tế phát triển theo đơn vị hành chính lãnh thổ sắp xếp các quận, huyện, tỉnh có trình độ phát triển như nhau thành một vùng,thể hiện MLTT vùng ngày càng khoa học, hoàn thiện; từ việc điều chỉnh MLTT vùng không theo định kỳ chỉ điều chỉnh khi có biến động giá cả làm chỉ số giá sinh hoạt tăng lên cho đến điều chỉnh MLTT vùng định kỳ hàng năm để tiến đến gần hơn mục tiêu cải thiện cuộc sống tối thiểu của NLĐ và đảm bảo sự duy trì cạnh tranh của các DN trong nền kinh tế đang hội nhập mạnh mẽ Để đạt được những bước phát triển trên, MLTT vùng hiện nay được pháp luật lao động điều chỉnh cụ thể như sau:

1.3 Quy định của pháp luật hiện hành về mức lương tối thiểu vùng

Hiện nay, MLTT vùng được điều chỉnh trực tiếp bởi BLLĐ 2012 và cụ thể hóa trong Nghị định 103/2014/CP-NĐ của Chính phủ quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã,tổ hợp tác, trang trại,

hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (sau đây gọi tắt là Nghị định 103/20014/CP-NĐ) có hiệu lực từ ngày 01/01/2015

1.3.1 Đối tượng áp dụng

Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 103/20014/CP-NĐ thì MLTT vùng có đối tượng áp dụng là DN thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005 (kể cả DN FDI tại Việt Nam không đăng ký lại hoặc chưa chuyển đổi theo quy định tại Điểm a Khoản 2 và Khoản 3 Điều 170 của Luật Doanh nghiệp) Căn cứ vào Điều 1 Luật Doanh Nghiệp 2005 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:

“Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (sau đây gọi chung là doanh nghiệp)” Do đó, DN là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng

ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Trong các niêm giám thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê thì DN là một đơn vị kinh tế độc lập, có đầy đủ tư cách pháp nhân, được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Đầu tư hoặc theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài

Trang 27

22

Về loại hình DN, hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau để xác định loại hình DN như:

a) Xét về quy mô DN thì có thể phân chia các loại hình DN ở Việt Nam thành

DN có quy mô lớn, DN có quy mô vừa, DN có quy mô nhỏ và DN có quy mô siêu nhỏ

Số lao động

Tổng nguồn vốn

đồng trở xuống

từ trên 10 người đến 200người

từ trên 20

đến 100 tỷ đồng

đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20

đến 100 tỷ đồng

đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10

đến 50 tỷ đồng

từ trên 50

100 người

Bảng thể hiện tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ 16

b) Xét theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì DN thuộc các thành

phần kinh tế được bình đẳng, không phân biệt tính chất sở hữu (sở hữu nhà nước hay sở hữu tư nhân, sở hữu trong nước hay sở hữu nước ngoài), thành phần kinh tế

và ngành, nghề kinh doanh Theo đó, các loại hình DN, bao gồm 04 loại: Công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên trở lên); Công ty cổ phần, Công ty hợp danh và DN tư nhân

Việc đổi mới chính sách quản lý DN, đặc biệt là việc ban hành Luật Doanh nghiệp 2005 và chuẩn bị được thay thế bằng Luật Doanh Nghiệp 2015, Luật Đầu tư

và hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan khác đã cơ bản hình thành hệ thống pháp luật thống nhất về tổ chức DN, cải cách thủ tục hành chính nói chung và cải

16 Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ quy định về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ

Trang 28

23

cách thủ tục trong khâu gia nhập thị trường của DN và thực hiện cơ chế một cửa phối hợp giải quyết đăng ký kinh doanh nói riêng, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO đã tạo động lực cho các nhà đầu tư, DN tích cực tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh

DN Việt Nam hiện nay chủ yếu là DN nhỏ và vừa Các DN này đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế Kết quả điều tra DN năm

201117 cho thấy, DN vừa và nhỏ chiếm đến 97,6% tổng số DN trên cả nước, các DN vừa và nhỏ đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm, huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước cho hoạt động sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội Ngoài ra, trong quá trình vận hành, các DN vừa và nhỏ

đã tạo một đội ngũ doanh nhân và công nhân với kiến thức và tay nghề ngày càng được nâng cao và hoàn thiện Thời điểm 31/12/2011 tổng số DN mà Tổng cục Thống kê điều tra thu được là 324.691 DN Theo tiêu chí lao động, số DN lớn là 7.750 DN chiếm 2,4%, số DN vừa và nhỏ chiến 97,6% (trong đó DN vừa là 6.853DN chiếm 2,1%, DN nhỏ là 93.356 DN chiếm 28,8% và DN siêu nhỏ là 216.732 DN chiếm tỷ lệ lớn nhất với 66,8%)

Lao động làm việc trong các DN vừa và nhỏ năm 2011 đạt tới con số 5,06 triệu người, gấp 2,07 lần năm 2006 Khu vực DN vừa và nhỏ ngoài nhà nước là khu vực thu hút nhiều lao động nhất với 4,48 triệu người (chiếm 88.6% trong toàn bộ

DN vừa và nhỏ), gấp 2,23 lần năm 2006, bình quân giai đoạn 2006 – 2011 mỗi năm thu hút thêm 17,4% lao động Tiếp đến khi vực DN FDI thu hút 0,4 triệu lao động (chiếm 8% trong tổng số DN vừa và nhỏ), gấp 1,7 lần năm 2006, bình quân giai đoạn 2006 – 2011 mổi năm thu hút thêm 11,1% lao động Khu vực DN nhà nước số lao động đang giảm xuống chỉ còn 0,17 triệu (chiếm 3,4% toàn bộ DN vừa và nhỏ) giảm 10,1% so với năm 2006, bình quân giai đoạn 2006 – 2011 lao động mỗi năm giảm 2,1%18

Khu vực DN vừa và nhỏ đóng góp quan trọng và tăng khá nhanh vào Ngân sách quốc gia trong những năm qua Năm 2006, DN vừa và nhỏ đóng góp vào ngân sách nhà nước 45 nghìn tỷ đồng, năm 2011 tăng lên 177,8 nghìn tỷ đồng, trong đó các DN vừa và nhỏ khu vực ngoài nhà nước đóng góp 115 nghìn tỷ đồng, chiếm 64,5% trong tổng mức đóng góp của khối DN vừa và nhỏ19

Tựu chung lại, những DN này là những tổ chức kinh tế và phải đáp ứng các điều kiện sau20: Phải được thành lập hợp pháp, nghĩa là phải được thành lập theo

Trang 29

24

đúng trình tự, thủ tục tương ứng do pháp luật quy định cho loại hình mà nhà đầu tư lựa chọn; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nghĩa là phải tồn tại dưới một hình thức nhất định với mục đích rõ ràng, có cơ cấu hoàn chỉnh, thống nhất đồng bộ gồm các cơ quan chuyên môn, cơ quan nghiệp vụ vận hành phối hợp nhịp nhàng dưới sự lãnh đão của Ban lãnh đạo DN; Có tài sản và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh chính mình để thực hiện các giao dịch

Kết quả nêu trên cho thấy, tầm quan trọng và sức ảnh hưởng lớn lao của các

DN đối sự pháp triển kinh tế - xã hội, mỗi khi điều chỉnh MLTT vùng không chỉ tác động đến NLĐ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của DN Bởi vì, khi điều chỉnh MLTT vùng hợp lý, sẽ có những tín hiệu tích cực làm thay đổi những cơ cấu kinh lớn của nền kinh tế, góp phần quan trọng trong việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội, như tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho NLĐ, xóa đói giảm nghèo, khẳng định vai trò đặc biệt của DN trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững kinh tế, giữ vững ổn định đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.2 Căn cứ xác định mức lương tối thiểu vùng

Để xác định MLTT vùng hợp lý cần phải làm rõ hai vấn đề: (i) xác định cách thức phân chia địa bàn theo đơn vị hành chính lãnh thổ để quy định MLTT vùng; (ii) các căn cứ khoa học để xác định MLTT vùng Từ đó, Nhà nước sẽ xây dựng được MLTT vùng vừa đảm bảo các vùng tương đương sẽ được sắp xếp chung một vùng, vừa đáp ứng được mức sống tối thiểu của NLĐ trong các vùng

Xác định cách thức, tiêu chí phân chia địa bàn theo đơn vị hành chính lãnh thổ để quy định mức lương tối thiểu vùng

Theo quy định của BLLĐ 2012 thì Chính phủ công bố MLTT vùng cho từng thời kỳ dựa trên khuyến nghị của Hội đồng Tiền lương Quốc gia (sau đây gọi tắt là

“HĐTLQG”) Căn cứ vào quy định nêu trên, Chính phủ giao cho HĐTLQG xây dựng các MLTT vùng dự kiến và địa bàn phân vùng trong cả nước sau khi tổ chức họp và đối thoại trực tiếp ba bên, hoàn thiện trình Chính phủ quyết định và công bố,

cụ thể hàng năm Bộ LĐTBXH đề nghị Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện một số nội dung sau21:

(i) Đánh giá tình hình thực hiện MLTT vùng thuộc địa bàn quản lý, trong

đó đánh giá mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân kèm theo số liệu tổng hợp

21 Công văn số 2534/BLĐTBXH-LĐTL ngày 18/7/2014 V/v đánh giá tình hình thực hiện và rà soát địa bàn

áp dụng mức lương tối thiểu vùng

Trang 30

Địa bàn để quy định MLTT vùng được phân chia thống nhất theo địa bàn hành chính (tỉnh, thành phố, quận, thị xã) gồm 4 vùng: Vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV22 Nghĩa là, với đặc trưng của cấu trúc địa hình, nước ta chia thành 63 tỉnh chạy dọc từ Bắc xuống Nam, với khí hậu, địa hình, lịch sử phát triển khác nhau đã tạo nên sự đa dạng về điều kiện tự nhiên từ đó hình thành cơ cấu kinh tế khác nhau, các lực lượng xã hội tham gia vào lao động ở các trình độ không như nhau

Vùng I sẽ bao gồm những quận thuộc Thành phố trực thuộc trung ương hoặc những Thành phố có nền công nghiệp phát triển mới nổi Đây là những khu vực có

sự phát triển bậc nhất cả nước, tập trung nhiều công trình quy mô, tập hợp những ngành công nghệ cao, đầu tư nước ngoài nhiều nhất, cường độ lao động và chi phí sức lao động cao, cũng như nơi hấp dẫn NLĐ với trình độ chuyên môn cao hoặc lao động phổ thông ở những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều nhân công như: May mặc, giày dép, xây dựng…ví dụ như các quận huyện của Thành Phố Hồ Chí Minh (trừ Huyện Cần Giờ), một số quận thuộc Thành phố Hà Nội, Thành phố Vũng Tàu, Thành phố Biên Hòa,

Vùng II đa số các thành phố thuộc Tỉnh, vùng này căn cứ vào đặc thù của mỗi tỉnh sẽ phát huy thế mạnh của mình, tập trung một số ngành nghề nhất định, MLTT thấp hơn Vùng I cũng là một lợi thế thu hút vốn đầu tư nước ngoài và hấp dẫn các nhà đầu tư xây dựng các nhà máy vệ tinh bên cạnh trụ sở chính đặt tại Vùng

I Cụ thể, Thành phố Phan Thiết, Nha Trang, Đà Lạt, Huế, Đà Nẵng là những vùng phát triển mạnh mẽ về du lịch nên từ thế mạnh đó đã tạo nên mức sống của vùng chỉ nằm sau Vùng I…

Vùng III gồm những thị xã, thị trấn, những vùng nông thôn mới đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp trên đà phát triển, nơi tập trung một lực lượng lao động dồi dào nhưng chủ yếu là từ nông dân chuyển đổi qua

22 Xem Phụ lục II

Trang 31

26

Vùng IV gồm những quận huyện thuộc các tỉnh còn lại chủ yếu là khu vực trung du, miền núi, cuộc sống còn khó khăn, cũng là vùng có MLTT thấp nhất trong

04 vùng nhằm đảm bảo cuộc sống cho NLĐ tối thiểu nhất cho NLĐ

Việc phân chia các địa bàn theo 4 vùng nêu trên được dựa trên cơ sở 4 nhóm yếu tố cơ bản có liên quan trực tiếp đến vấn đề việc sử dụng lao động, mặt bằng tiền công của từng vùng, đó là: (i) Yếu tố kinh tế gồm: mức tăng trưởng kinh tế GDP, năng suất lao động xã hội và chỉ số giá tiêu dùng; (ii) Yếu tố xã hội gồm: tỷ lệ hộ nghèo, mức chi tiêu dân cư bình quân, mức độ phát triển của thị trường lao động, gồm tỷ lệ lao động làm công ăn lương, mặt bằng tiền công trên thị trường, quy mô DN; Chính sách ưu đãi của Nhà nước theo 8 vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, vùng ưu đãi đầu tư Thông qua nghiên cứu và lượng hóa số liệu thống kê thực tế theo từng yếu tố để xác định các vùng có sự tương đồng về 4 nhóm yếu tố thì nhóm chung vào một vùng

Các căn cứ khoa học để xác định mức lương tối thiểu vùng

Cơ sở để tiến hành xây dựng MLTT vùng là những yếu tố mà dựa vào đó Nhà nước nghiên cứu và xây dựng để đảm bảo tính chất khoa học và phù hợp với thực tế cuộc sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ Vì vậy, việc xác định MLTT vùng phải tuân theo quy luật cung - cầu vận hành theo nền kinh tế thị trường và gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng

Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLLĐ và khoản 1 Điều 4 Nghị định 49/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một

số điều của BLLĐ về tiền lương (gọi tắt NĐ 49/2013/NĐ-CP), thì căn cứ xây dựng gồm:

Thứ nhất, nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ

Hệ thống các nhu cầu này bao gồm nhu cầu về mặt sinh học và nhu cầu về mặt xã hội Nhu cầu về mặt sinh học của con người là nhu cầu được xác định từ sự đòi hỏi tự nhiên như: ăn, mặc, ở, đi lại…còn nhu cầu mang lại tính xã hội học là những nhu cầu được xác định trên cơ sở các hoạt động và đòi hỏi để mỗi cá nhân sống trong cộng đồng với đầy đủ nhân cách như: học hành, văn hóa, giao tiếp , nuôi con, bảo hiểm… những nhu cầu này có sự biến đổi không ngừng theo từng thời kỳ,

nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội Ngày nay, trong thời đại kinh tế thị trường mức sống của con người ngày càng được nâng lên cho nên việc xác định nhu cầu tối thiểu phải căn cứ vào mức sống hiện tại Chính vì thế, khi xây dựng chính sách tiền lương mới, đặc biệt là xây dựng khung MLTT vùng cần có sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng cho phù hợp với từng vùng từng thời kỳ phát triển của đất nước.Tóm

Trang 32

27

lại, nhu cầu tiêu dùng tối thiểu là cơ sở quan trọng để xác định MLTT vùng, nó đảm bảo chức năng xã hội và giúp duy trì cuộc sống của NLĐ và gia đình họ

Thứ hai, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng khác nhau

Tùy thuộc vào các yếu tố về mặt địa lý, năng lực phát triển cũng như chính sách phát triển kinh tế và thu hút đầu tư của mỗi địa phương mà tạo nên những lợi thế khác nhau dẫn đến sự thay đổi khác nhau và góp phần ảnh hưởng đến MLTT vùng, cụ thể như sự chênh lệch khá lớn về mặt bằng tiền lương, thu nhập giữa các vùng khu vực thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa lao động có tay nghề với lao động phổ thông và giữa các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm với các địa phương khác Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn cũng như các tầng lớp dân cư tăng nhanh; khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các vùng không tương đồng nhau Theo chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau23:

-Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống;

-Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;

-Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng đến 520.000 đồng/người/tháng;

-Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng đến 650.000 đồng/người/tháng

Việc xác định chuẩn nghèo phù hợp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển xã hội hiện nay Bởi chuẩn nghèo thể hiện mức sống tối thiểu của các khu vực, vùng miền khác nhau Do nhu cầu cuộc sống của NLĐ ngày càng cao hơn thì việc xác định mức chuẩn nghèo phải tăng lên nhằm đáp ứng được giá trị đồng tiền, sức mua của đồng tiền đối với hàng hóa, dịch vụ giữa các vùng Từ đó, tạo nền tảng cho Nhà nước tính toán sát với thực tế hơn trong việc điều chỉnh MLTT vùng

Thứ ba, mức lương trên thị trường lao động tuân theo quy luật cung - cầu

Trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao động hay còn gọi là thị trường lao động Sức lao động trở thành hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt Lúc này sức lao động tự do mua bán, trao đổi Trong quan hệ mua bán này thì người mua sức lao động là NSDLĐ và người bán sức lao động là NLĐ Do đó,

nó cũng chịu sự tác động của quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường như quy

23 Điều 1 Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng giai đoạn 2011-2015

Trang 33

Một là, nếu trên thị trường lao động tồn tại mối quan hệ cung lao động lớn hơn cầu lao động thì lúc đó nhu cầu của thị trường sức lao động ít hơn so với khả năng đáp ứng của NLĐ, khi ấy NSDLĐ sẽ có nhiều sự lựa chọn

Trong trường hợp này nếu MLTT ở các vùng quy định ở mức càng cao thì NSDLĐ sẽ có xu hướng giảm bớt sử dụng lao động ở trình độ thấp để giảm chi phí đầu vào, dẫn đến thị trường lao động càng chuyển dịch theo hướng cung lao động lớn hơn cầu lao động, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, kéo theo các vấn đề xã hội khác phát sinh Ngược lại, nếu quy định MLTT vùng thấp thì NSDLĐ sẽ có xu hướng sử dụng nhiều lao động, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống Thế nhưng, với mức tiền lương thấp thì cuộc sống của NLĐ sẽ không được đảm bảo, tạo ra tình trạng đói nghèo và khi không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống thì việc không thể bù đắp sức lao động giản đơn để tái sản xuất sức lao động là điều tất yếu Lúc này, lực lượng lao động sẽ chuyển từ thị trường chính thức sang thị trường phi chính thức làm cho ý nghĩa của việc quy định MLTT vùng mất tác dụng, thậm chí còn có tác động ngược lại

Hai là, nếu trên thị trường có cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì lúc đó thị trường sức lao động sẽ trở nên khan hiếm và MLTT sẽ được nâng cao nhờ vào

sự vận động của quy luật thị trường Lần này thì lực lượng lao động sẽ chuyển từ thị trường phi chính thức sang thị trường chính thức Tuy nhiên, ở nước ta đây là trường hợp khó xảy ra, do nước ta là nước có mật độ dân số cao nên có một thị trường lao động dồi dào Hàng năm, lại có thêm một triệu lao động tham gia vào thị trường này Nếu có thì cũng chỉ mang tính chất tạm thời ở một số ngành nghề nhất định, sau đó thị trường dần trở nên cân bằng, thậm chí là chuyển dịch theo hướng cung lớn hơn cầu

Vì vậy, việc tuân theo quy luật cung- cầu mà một yếu tố hết sức quan trọng

và cần được nghiên cứu một cách chi tiết để điều chỉnh MLTT vùng sao cho hợp lý

Thứ tư, chỉ số giá sinh hoạt theo từng thời kỳ

Chỉ số giá sinh hoạt là chỉ số phản ánh mức độ ảnh hưởng của sự biến động

về giá cả hàng hóa và dịch vụ tới mức sống của con người trong một thời kỳ nhất định Để đảm bảo MLTT vùng đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu, những tư liệu

Trang 34

29

sinh hoạt cần thiết cho bản thân và gia đình NLĐ thì MLTT vùng không chỉ xây dựng dựa trên hệ thống nhu cầu tối thiểu, mức lương trên thị trường tuân theo quy luật cung – cầu mà còn phải được tính toán trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt và tỷ lệ trượt giá theo từng vùng từng thời kỳ

Theo tính toán của Bộ LĐTBXH thì khi chỉ số giá sinh hoạt tăng khoảng 10% thì đòi hỏi phải thay đổi MLTT vùng mới đảm bảo được tiền lương thực tế của NLĐ Việc thay đổi này còn mang lại ý nghĩa thực tiễn của MLTT là đảm bảo mức sống tối thiểu, nhu cầu thiết yếu của NLĐ Tuy nhiên, điều chỉnh tăng lương như thế nào thì hiện nay chưa có quy định rõ ràng.Từ đó dẫn đến việc áp dụng quy định của pháp luật về vấn đề này chưa đồng bộ và thống nhất khi có sự trượt giá qua các thời kỳ Hiện nay ở nước ta việc điều chỉnh MLTT vùng còn nhiều vướng mắc cần phải xem xét lại, tránh tình trạng khi giá cả liên tục leo thang, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và khi chỉ số giá sinh hoạt tăng mà MLTT chưa chắc lại tăng Điển hình như giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1997 có chỉ số giá sinh hoạt tăng khoảng 33% trong khi đó MLTT chỉ tăng lên 20% Do đó, cần phải xác định được tỷ lệ hợp lý giữa chỉ số tăng của giá sinh hoạt với chỉ số điều chỉnh MLTT vùng để khi lương tối thiểu tăng thì cuộc sống của NLĐ được đảm bảo trong tình hình mới mà không tạo ra gánh nặng quá lớn cho quỹ lương của NSDLĐ

Mặc khác, khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế24 bị giảm sút, nhu cầu của NLĐ thay đổi do tình trạng lạm phát làm giảm giá trị của đồng tiền, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng cũng cần được xem xét đến trên tinh thần cải thiện đời sống NLĐ nhưng vẫn cân đối khả năng chi trả của

DN Do đó, tùy thuộc vào địa bàn sinh sống và từng giai đoạn mà NLĐ có những nhu cầu tối thiểu thay đổi và chi phí cho những nhu cầu đó phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, cũng như quy luật cung – cầu trên thị trường lao động có sự biến động mà cũng sẽ có những cách tính toán thay đổi

Từ những căn cứ trên, HĐTLQG sẽ tiến hành phân tích tình hình kinh tế - xã hội, mức sống dân cư để xác định, dự báo nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ; đánh giá tình hình thực hiện MLTT vùng, mức tiền lương trên thị trường lao động và khả năng chi trả của DN để xây dựng và khuyến nghị với Chính phủ phương án MLTT vùng hàng năm và từng thời kỳ

24 Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà NLĐ hưởng lương có thể mua được bằng số lương thực lãnh của họ

Trang 35

30

1.3.3 Vai trò của Hội đồng Tiền lương Quốc gia và Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành mức lương tối thiểu vùng

Vai trò của Hội đồng Tiền lương Quốc gia

Căn cứ Khoản 1 Điều 92 BLLĐ 2012, Chương II NĐ 49/2013/NĐ-CP và Quyết định 1055/QĐ-TTg ngày 3/7/2013 Quyết định thành lập Hội đồng Tiền lương Quốc gia do Thủ tướng Chính phủ ký ban hành và đã tổ chức lễ ra mắt vào ngày 6/8/2013 tại Hà Nội

Đây là lần đầu tiên pháp luật lao động thành lập nên một hội đồng chính thức làm cơ quan tư vấn cho Chính phủ về điều chỉnh và công bố MLTT vùng Có thể nói, đây là một cơ chế mới thể hiện được đặc trưng của quan hệ lao động Nhờ vậy tiền lương sẽ được xem xét công khai, toàn diện và phù hợp với tình hình thực tế, với thị trường lao động, thể hiện khá rõ cơ chế lao động ba bên trong lĩnh vực lao động

Đồng thời, quy định này đã và đang tiến gần hơn đến sự hội nhập với các hệ thống pháp luật trên thế giới như:

Ở Anh thành lập Ủy ban Tiền lương (quốc gia) và Ủy ban Trả lương thấp để cố vấn cho Chính phủ về tiền lương; Australia thành lập

Ủy ban Trả lương công bằng; Malaysia thành lập Hội đồng năng suất

và Tiền lương khu vực Đặc biệt, Singapore thành lập Hội đồng Tiền lương Quốc gia, gồm đại diện chung của Chính phủ, NSDLĐ và các nghiệp đoàn và hội đồng này cũng là cơ quan tư vấn có tính chất tham khảo cho Chính phủ Singapore nhưng trên thực tiễn được coi là một mệnh lệnh sau khi được Chính phủ phê chuẩn và công bố25

Về mặt cơ cấu tổ chức, HĐTLQG có 15 thành viên, bao gồm: 05 thành viên đại diện của Bộ LĐTBXH (đại diện cho Chính phủ), 05 thành viên đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (đại diện cho NLĐ) và 05 thành viên đại diện của tổ chức đại diện người sử dụng lao động ở trung ương (đại diện NSDLĐ),

Với thiết chế ba bên được tổ chức bên trên đã tạo sự cân bằng, dân chủ để tiến hành đối thoại trực tiếp nhằm xây dựng, điều chỉnh MLTT vùng một cách hiệu quả, thông qua việc tiến hành các công việc sau:

Tiến hành tổ chức rà soát, đánh giá việc phân vùng địa bàn áp dụng MLTT vùng để khuyến nghị với Chính phủ điều chỉnh, bổ sung phân vùng địa bàn áp dụng MLTT vùng;

25 Phạm Công Trứ (2009), “Quan hệ công nghiệp và kinh nghiệm vận dụng cơ chế ba bên tại một số quốc gia

trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số (258) 10/2009, tr.59

Trang 36

31

Phân tích tình hình kinh tế - xã hội, mức sống dân cư để xác định, dự báo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ; đánh giá tình hình thực hiện MLTT vùng, mức tiền lương trên thị trường lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp để xây dựng và khuyến nghị với Chính phủ phương án MLTT vùng hàng năm và từng thời kỳ

Do đó, HĐTLQG có vai trò là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, khuyến nghị các MLTT vùng cụ thể hàng năm bằng việc đệ trình các văn bản xây dựng, điều chỉnh, MLTT vùng cho Chính phủ mà không được quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh MLTT vùng

Nhận xét: HĐTLQG là những người có chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực lao động, tiền lương; có trình độ, năng lực để xem xét, đề xuất những kiến nghị yêu cầu của cơ quan do mình đại diện và có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐTLQG Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và ủy viên HĐTLQG làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, nhiệm kỳ là 05 năm Qua các quy định về cơ cấu tổ chức nêu trên, cho thấy HĐTLQG vẫn còn phụ thuộc nhiều vào Bộ LĐTBXH từ cơ sở vật chất, cơ cấu

bộ máy giúp việc, ban hành văn bản vẫn sử dụng con dấu của Bộ LĐTBXH, rõ ràng chưa thể hiện rõ nét sự tách bạch độc lập thể hiện sự cân bằng trong việc thực hiện

cơ chế ba bên như bản chất vốn có của nó Chưa có sự quy định rõ ràng các cơ quan chuyên môn để thực hiện nghiên cứu chuyên sâu các căn cứ để xây dựng MLTT vùng Việc đánh giá thực tiễn thực hiện như thế nào và hướng hoàn thiện sẽ được phân tích kỹ ở Chương 2 của đề tài

Vai trò của Chính phủ

Chính phủ là đại diện cao nhất cho lợi ích quốc gia và lợi ích của toàn xã hội

Do vậy, Chính phủ có vai trò vô cùng to lớn quyết định việc ban hành hay không ban hành một chính sách, đặc biệt là chính sách tiền lương tối thiểu Theo quy định của BLLĐ26, Chính phủ có vai trò công bố MLTT vùng trên cơ sở khuyến nghị của HĐTLQG bằng việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh MLTT vùng hàng năm, nghĩa là sau khi xây dựng được MLTT vùng cụ thể, HĐTLQG sẽ trình lên Chính phủ để xem xét lại một cách toàn diện nhiều mặt và có thể được điều chỉnh sao cho phù hợp với chính sách phát triển trong từng thời kỳ trước khi công bố để thi hành trên thực tế

1.3.4 Trình tự, thủ tục xây dựng và điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng

Việc xây dựng và điều chỉnh MLTT vùng phải do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều hành, được cân nhắc kỹ theo nguyên tắc kinh tế thị trường dựa trên các căn cứ khoa học, đối thoại trực tiếp của các bên Do đó, để thực hiện hoạt động trên

26 Xem khoản 2 Điều 91 BLLĐ 2012

Trang 37

Chủ tịch Hội đồng ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng, Bộ phận kỹ thuật và Bộ phận thường trực Các thành viên Hội đồng được sử dụng bộ máy làm việc của cơ quan, tổ chức do mình đại diện để giúp việc cho thành viên thực hiện các nhiệm vụ của Hội đồng28

Bước hai, xây dựng các căn cứ để xác định, điều chỉnh MLTT vùng, tổ chức lấy kết quả điều tra lao động và tiền lương trong các DN và ý kiến của các địa phương để tổng hợp hoàn thiện 29

Sau khi thành lập đầy đủ bộ máy giúp việc cũng như mời các chuyên gia, HĐTLQG sẽ tổ chức thời gian, địa điểm để các bên đại diện NLĐ và đại điện NSDLĐ và đại diện Chính phủ tham gia đối thoại, thương lượng, đưa ra các căn cứ, các phương pháp tính khoa học để tiến tới xây dựng một MLTT vùng mới hợp lý hơn, đảm bảo hài hòa lợi ích các bên thông qua các báo cáo, kết quả điều tra lao động tại các DN và ý kiến của các địa phương tại các vùng

Bước ba, xây dựng các nguyên tắc áp dụng MLTT vùng

Tiếp theo, xây dựng các nguyên tắc áp dụng MLTT vùng để tạo sự thống nhất và hướng dẫn thi hành, cụ thể như sau:

MLTT vùng do Chính phủ công bố là mức “sàn” thấp nhất dùng để trả công đối với NLĐ làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các DN; Tính các mức lương trong thang bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác do DN xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật quy định

Trang 38

33

DN hoạt động kinh doanh trên địa bàn nào thì áp dụng MLTT vùng theo địa bàn đó DN có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có MLTT vùng khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào áp dụng MLTT theo địa bàn đó

Đối với NLĐ có qua học nghề (kể cả lao động do DN tự dạy nghề) thì DN phải cao hơn ít nhất 7% so với MLTT vùng Nhà nước khuyến khích các DN thực hiện MLTT cao hơn MLTT vùng do Nhà nước quy định để trả cho NLĐ phù hợp với năng suất lao động, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh và mức tiền công trên thị trường

Bước bốn, ban hành và tổ chức triển khai trên thực tế

Căn cứ vào kết quả tính toán, khuyến nghị của HĐTLQG, Chính phủ sẽ xem xét và công bố chính thức trước 2 – 3 tháng trước thời điểm áp dụng Việc công bố này đã tạo điều kiện để các cơ quan ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện tuyên truyền, phổ biến; các DN, các nhà đầu tư, NLĐ biết trước để chuẩn bị lập kế hoạch điều chỉnh và triển khai thực hiện

Sau khi Chính phủ công bố MLTT, Bộ LĐTBXH xây dựng và ban hành các Thông tư hướng dẫn thực hiện ngay khi Nghị định điều chỉnh MLTT vùng có hiệu lực thi hành, đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và các nhà đầu tư để tổ chức tuyên truyền, giải thích chính sách, tập huấn nghiệp vụ và xử lý các vấn đề vướng mắc liên quan đến MLTT

Trên cơ sở quy định của Chính phủ và hướng dẫn của các cơ quan Nhà nước, NSDLĐ cùng với các tổ chức công đoàn cơ sở rà soát lại các chế độ, chính sách, TƯLĐTT, hợp đồng lao động của DN với NLĐ hoặc tập thể NLĐ có liên quan đến quyền lợi của NLĐ, lập kế hoạch, phương án và bố trí nguồn kinh phí điều chỉnh mức lương cho NLĐ

1.3.5 Xử lý vi phạm liên quan đến mức lương tối thiểu vùng

Khi tham gia quan hệ lao động, tiền lương là trung tâm thu hút sự quan tâm của NLĐ và NSDLĐ Bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các bên khi xác lập hợp đồng lao động Trên thực tế, các tranh chấp phát sinh giữa NLĐ và NSDLĐ phần lớn bắt nguồn từ tiền lương và tồn tại dưới nhiều dạng vi phạm pháp luật về tiền lương Tuy nhiên trong phạm vi khóa luận này chỉ trình bày vi phạm pháp luật

về MLTT vùng

Thứ nhất, hành vi trả lương cho NLĐ thấp hơn MLTT vùng do Nhà nước quy định Theo Điều 90 BLLĐ: “mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định” Do đó, mọi hành vi trả lương cho NLĐ thấp hơn MLTT về nguyên tắc đều bị coi là vi phạm pháp luật

Trang 39

34

Thứ hai, hành vi trả lương bằng MLTT vùng cho NLĐ làm công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật đã qua đào tạo, hoặc điều kiện lao động không bình thường, hoặc cường độ lao động không nhẹ nhàng nhất Đây là hành vi phổ biến về MLTT vùng hiện nay, bởi NSDLĐ luôn biện minh rằng mình đã trả lương không thấp hơn MLTT vùng do Nhà nước quy định Với loại hành vi này, chỉ cần

có một trong các điều kiện trên đã bị coi là vi phạm pháp luật về MLTT vùng mà không cần phải tồn tại cả 3 điều kiện

Trách nhiệm pháp lý áp dụng khi vi phạm pháp luật có 4 loại chế tài áp dụng cho người có hành vi vi phạm pháp luật lao động là: Chế tài hành chính, chế tài dân

sự, kỷ luật và hình sự Tuy nhiên, với hành vi vi phạm pháp luật về MLTT vùng chỉ mới áp dụng hai chế tài đó là chế tài hành chính và dân sự

Theo Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/08/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Cụ thể, những

hành vi vi phạm MLTT vùng, NSDLĐ phải chịu 02 chế tài: Chế tài dân sự là buộc

trả đủ tiền lương cho NLĐ; và chế tài hành chính Căn cứ vào số lượng NLĐ mà NSDLĐ phải chịu mức phạt chính sau đây: a) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 NLĐ; b) Từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 NLĐ; c) Từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng với vi phạm từ 51 NLĐ trở lên Ngoài ra, NSDLĐ còn chịu hình thức xử phạt

bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 03 tháng

Trang 40

35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

MLTT vùng là vấn đề nhạy cảm, hay biến đổi và luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của các vùng, cũng như quyền lợi của NLĐ Chính vì vậy, việc nghiên cứu lĩnh vực này hết sức quan trọng và cấp thiết để hoàn thiện các chế định pháp luật lao động liên quan đến MLTT vùng Trong Chương 01, tác giả muốn đề cập đến các vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, tác giả đã cung cấp những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vai trò của MLTT vùng để việc nắm bắt nội dung của quy định này sau đó sẽ thống nhất và rõ ràng hơn Ngoài ra, tác giả cũng đưa ra các cơ sở dẫn đến việc hình thành MLTT như thế nào và nêu dẫn những điểm tiến bộ, điểm mới trong việc điều chỉnh MLTT vùng

Thứ hai, tác giả cố gắng phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành liên quan đến MLTT vùng như: đối tượng áp dụng; vai trò của HĐTLQG và

Chính phủ; các tiêu chí cơ bản trong việc xây dựng MLTT vùng; trình tự, thủ tục

xây dựng và điều chỉnh; xử lý vi phạm liên quan đến MLTT vùng

Thứ ba, bên cạnh việc phân tích, trích dẫn các điều luật, tác giả đã đưa ra các nhận xét về cách thức quy định một cách chung nhất để làm nền tảng đảm bảo về mặt liên tục, logic cho việc đánh giá thực tiễn thực hiện như thế nào và đưa ra hướng hoàn thiện, kiến nghị được phân tích kỹ ở Chương 2 của đề tài

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Tạ Đức Khánh (2009), Giáo trình kinh tế lao động, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế lao động
Tác giả: Tạ Đức Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
26. Trường Đại học Luật TP.HCM (2011), Giáo trình Luật Lao Động, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Lao Động
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.HCM
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2011
27. Tổng cục Thống kê (2006), Doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2011, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2006 – 2011
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
28. Viện Lao động và Xã hội (2007), Chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.III. CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, LUẬN VĂN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách tiền lương tối thiểu ở Việt Nam
Tác giả: Viện Lao động và Xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2007
29. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012), “Đổi mới quản lý nhà nước về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp đến năm 2020”, Kỷ yếu đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới quản lý nhà nước về tiền lương trong các loại hình doanh nghiệp đến năm 2020”
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2012
30. Nguyễn Hải Phượng (2011), “Tiền lương tối thiểu đối với hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tiền lương tối thiểu đối với hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài”
Tác giả: Nguyễn Hải Phượng
Năm: 2011
31. Nguyễn Văn Thường (2002), “Xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở điều tra nhu cầu mức sống dân cư làm căn cứ cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010”, Đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Xác định tiền lương tối thiểu trên cơ sở điều tra nhu cầu mức sống dân cư làm căn cứ cải cách tiền lương ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010”
Tác giả: Nguyễn Văn Thường
Năm: 2002
32. Trung tâm thông tin – tư liệu (2010),“Chuyên đề cải cách chế độ tiền lương”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),“Chuyên đề cải cách chế độ tiền lương”
Tác giả: Trung tâm thông tin – tư liệu
Năm: 2010
33. Vụ Tiền lương – Tiền công (2007), “Các nội dung khung làm tiền đề xây dựng Luật Tiền lương Tối thiểu”, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nội dung khung làm tiền đề xây dựng Luật Tiền lương Tối thiểu”
Tác giả: Vụ Tiền lương – Tiền công
Năm: 2007
1. Hiến pháp 2013 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 Khác
2. Bộ luật Dân sự 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009 Khác
3. Bộ luật Lao động 2012 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012 Khác
4. Luật Công đoàn 2013 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 Khác
5. Luật Doanh nghiệp 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 Khác
6. Bộ luật Lao động năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 Khác
7. Nghị định 49/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương Khác
8. Nghị định 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Khác
9. Nghị định 103/2014/NĐ-CP ngày 11/11/2014 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động Khác
10. Nghị định 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động Khác
11. Nghị định 66/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w