1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về hệ thống lưỡng viện trên thế giới và kinh nghiệm trong việc đổi mới tổ chức quốc hội việt nam

89 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Hệ Thống Lưỡng Viện Trên Thế Giới Và Kinh Nghiệm Trong Việc Đổi Mới Tổ Chức Quốc Hội Việt Nam
Tác giả Vũ Thái Phương Vy
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Đỗ Thanh Trung
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đây, có thể hiểu khái quát Nghị viện là một cơ quan có nhiều quyền hạn khác nhau trong bộ máy nhà nước với chức năng quan trọng nhất của cơ quan này là lập pháp, đây là cơ quan được

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

VŨ THÁI PHƯƠNG VY MSSV: 0855040218

TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN TRÊN THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC ĐỔI MỚI TỔ

CHỨC QUỐC HỘI VIỆT NAM

Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật Niên khóa: 2008 – 2012

Người hướng dẫn: Thạc sĩ ĐỖ THANH TRUNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2012

Trang 2

em trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Em cũng xin cảm ơn Thư viện Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, thư viện Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã giúp em có được những tư liệu để hoàn thành luận văn, cảm ơn sự hỗ trợ sinh viên của Khoa Luật Hành chính trong quá trình hoàn thành luận văn

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, sự giúp đỡ và ủng hộ về mọi mặt của gia đình, bạn bè đã góp phần quan trọng để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Trang 3

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

LỜI CẢM ƠN

CHƯƠNG I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỊ VIỆN 1

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nghị viện 1

1.2 Khái niệm Nghị viện 10

1.2 Chức năng của Nghị viện 14

1.3 Cơ cấu của Nghị viện 17

1.4 Vị trí, vai trò của Nghị viện trong bộ máy nhà nước ở một số hình thức chính thể nhà nước 19

CHƯƠNG II – HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 32

2.1 Hệ thống lưỡng viện Anh quốc 32

2.2 Hệ thống lưỡng viện Hoa Kỳ 45

2.3 Hệ thống lưỡng viện Liên bang Nga 55

CHƯƠNG III - KINH NGHIỆM TRONG VIỆC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC QUỐC HỘI VIỆT NAM 64

3.1 Quốc hội Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành 64

3.1.1 Những quy định pháp luật về Quốc hội Việt Nam hiện nay 64

3.1.2 Một số bất cập trong quy định pháp luật về Quốc hội Việt Nam hiện nay 68 3.2 Vấn đề về hoàn thiện Quốc hội Việt Nam hiện nay 71

3.2.1 Nhu cầu đổi mới Quốc hội Việt Nam hiện nay 71

3.2.2 Một số quan điểm định hướng đổi mới Quốc hội hiện nay 72

3.2.3 Một số kiến nghị đổi mới Quốc hội 74

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội Đây là

cơ quan hình thành do bầu cử, có chức năng chủ yếu là lập pháp Sự ra đời của chế định Nghị viện gắn liền với cuộc cách mạng dân chủ tư sản Chế định Nghị viện và nền lập hiến

là thắng lợi của giai cấp tư sản nhằm chống lại chế độ quân chủ chuyên chế của nhà nước phong kiến Cùng với sự thừa nhận nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản, quyền lập pháp được trao cho Nghị viện Nghị viện tồn tại song song bên cạnh Tổng thống, Chính phủ và các cơ quan Tòa án để thực hiện một trong ba quyền lực quan trọng nhất của nhà nước

Nghị viện còn có một số tên gọi khác ở các quốc gia như: Quốc hội ở Mỹ, Việt Nam (trong khi đó Quốc hội ở Pháp là tên gọi của Hạ viện); Xâyim (Ba Lan), Hội đồng dân tộc (Áo, Thụy Sĩ, Slôvakia); Đuma quốc gia (Nga) Với những nước có hệ thống Nghị viện là lưỡng viện thì tùy theo cách đặt tên của từng quốc gia mà Hạ viện và Thượng viện

có những tên gọi khác nhau: Hạ viện có những tên như Viện đại biểu (Braxin, Mỹ, Italia, Inđônêxia, Nhật Bản, Rumani, Cộng hòa Séc); Viện nhân dân (Ấn Độ); Bundextas - Hạ viện và Bundexrat - Thượng viện (Đức)

Nghị viện ở mỗi quốc gia có thể được tổ chức theo mô hình đơn viện hay mô hình lưỡng viện Mô hình lưỡng viện thường được tổ chức phổ biến ở những nước tư sản Các nước xã hội chủ nghĩa với nguyên tắc tập trung quyền làm chủ của nhân dân thông thường lại tổ chức Nghị viện theo mô hình một viện Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa xây dựng cơ quan lập pháp theo mô hình duy nhất một viện

Trong bộ máy nhà nước, Nghị viện giữ vị trí quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia từ các nước tư bản đến các nước xã hội chủ nghĩa, từ các quốc gia đơn viện hay lưỡng viện Nghị viện được lập ra để đại diện cho toàn thể công dân thực hiện quyền dân chủ của mình, là cơ quan lập pháp tối cao, có chức năng giám sát đối với toàn bộ bộ máy nhà nước

Trang 5

2

Nhận thức được vị trí hết sức quan trọng của Nghị viện trong cơ cấu bộ máy nhà nước nên trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, coi trọng Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu cải cách bộ máy nhà nước ta hiện nay thì những kinh nghiệm và thực tiễn

tổ chức, hoạt động của Nghị viện ở các nước theo cơ chế lưỡng viện là hết sức cần thiết và

bổ ích đối với mô hình một viện của Quốc hội nước ta Quốc hội Việt Nam có cần thiết đổi mới tổ chức theo mô hình lưỡng viện hay không? Hệ thống lưỡng viện trên thế giới có những khác biệt gì so với những Quốc hội một viện? Hệ thông lưỡng viện trên thế giới được tổ chức, hoạt động như thế nào? Hệ thống này có những ưu điểm gì để chúng ta học hỏi và những hạn chế nào nên tránh? Xuất phát từ nhu cầu đó, tác giả đã mạnh dạn chọn đề

tài: “Tìm hiểu về hệ thống lưỡng viện trên thế giới và kinh nghiệm trong việc đổi mới tổ chức Quốc hội Việt Nam” để làm đề tài luận văn

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu chính của đề tài:

 Tìm hiểu về sự ra đời, vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức của Nghị viện trên thế giới nói chung và sự ra đời, tổ chức hoạt động, thẩm quyền chức năng hệ thống lưỡng viện nói riêng thông qua mô hình lưỡng viện một số nước cụ thể là Anh, Mỹ và Nga

 Tìm hiểu thực trạng Quốc hội Việt Nam và những kinh nghiệm tổ chức Quốc hội có thể học tập từ hệ thống lưỡng viện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn chủ yếu tập trung đi sâu vào phân tích tìm hiểu về sự hình thành của thiết chế Nghị viện, khái niệm Nghị viện, đặc điểm, chức năng cũng như vị trí, vai trò của cơ quan này trong bộ máy nhà nước Qua đó, nghiên cứu một số mô hình lưỡng viện tiêu biểu như mô hình lưỡng viện của Anh, Mỹ, Nga

Chương 1 đã tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản nhất về Nghị viện: lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm cũng như vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền của Nghị viện Trong chương 2, luận văn đi sâu phân tích các đặc điểm của một số mô hình lưỡng viện một số nước tiêu biểu từ cách thức thành lập cho đến cơ cấu thành phần và cơ chế hoạt

Trang 6

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê tổng hợp, phương pháp phân tích đánh giá … dựa trên những tài liệu tìm hiểu nghiên cứu

5 Kết cấu của luận văn

Kết cấu của luận văn, ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3 chương chính

Chương I: Tìm hiểu về hệ thống lưỡng viện trên thế giới

Chương II: Mô hình lưỡng viện một số nước trên thế giới

Chương III: Kinh nghiệm trong việc đổi mới tổ chức Quốc hội Việt Nam

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều song do hạn chế về thời gian và trình độ bài khóa luận của

em còn có thể có nhiều hạn chế và không tránh khỏi những thiếu khuyết Em mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu từ phía các Thầy, Cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn

Trang 7

4

CHƯƠNG I – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHỊ VIỆN

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Nghị viện

a) Lịch sử hình thành của Nghị viện

Theo Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Đăng Dung: “Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội tư sản Đây là cơ quan hình thành do bầu cử, có chức năng chủ yếu là lập pháp”1 Qua đây, có thể hiểu khái quát Nghị viện là một cơ quan

có nhiều quyền hạn khác nhau trong bộ máy nhà nước với chức năng quan trọng nhất của

cơ quan này là lập pháp, đây là cơ quan được hình thành bằng con đường bầu cử bằng nhiều cách khác nhau, là cơ quan đại diện cho các tầng lớp dân cư khác nhau trong nhà nước Có thể nói, thiết chế Nghị viện theo cách hiểu như ngày nay là sản phẩm của các nhà nước tư bản, chế độ phong kiến với nguyên tắc tập quyền đã hạn chế mọi sự dân chủ, quyền lực nhà nước là của nhà Vua nên không thể tồn tại Nghị viện – một thiết chế mang quyền lực nhà nước Nhà nước tư sản ra đời dựa trên nguyên tắc phân quyền đã phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh quyền lực mà Nghị viện là một trong số đó

Vào thời kì phong kiến, người đứng đầu nhà nước lúc này là Vua, được truyền ngôi

cho con theo nguyên tắc thế tập là người có quyền lực rất lớn trong xã hội Quyền lực nhà nước tập trung hoàn toàn vào trong tay nhà Vua theo nguyên tắc tập quyền Nhà Vua là tối cao, nắm mọi quyền lực nhà nước, toàn quyền trong việc ban hành pháp luật, quản lý xã hội theo chủ kiến cá nhân nhà Vua và phán xét mọi việc trên lãnh thổ nhà nước mình Tiền đề tư tưởng, chính trị thời kỳ này dựa trên tôn giáo, tôn giáo được xem là cơ sở

lý luận cho sự cai trị độc đoán, chuyên quyền của nhà Vua (Trung quốc với Khổng giáo,

Ấn Độ với Hồi giáo, các nước phương Tây với Thiên chúa giáo…) Với sự chuyên chế cao

độ, nhà Vua thường cai trị đất nước một cách hà khắc và bóc lột Lúc này, quyền lực nhà Vua là tuyệt đối, không có một thiết chế nào hay một cơ quan nào có thể kiểm soát quyền lực ấy Do đó, với sự tập trung quyền lực trong tay nhà Vua – người đứng đầu nhà nước, một thiết chế như Nghị viện không thể ra đời

1

Nguyễn Đăng Dung - Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường đại học tổng hợp Hà Nội -

Khoa Luật, 1993, tr 87

Trang 8

5

Về sau, với sự phát triển của kinh tế, một tầng lớp mới của xã hội ra đời, đó là tầng lớp thị dân – tiền thân của giai cấp tư sản ngày nay, càng ngày càng mạnh về kinh tế và có tham vọng về chính trị Do đó, để hạn chế quyền lực vô hạn của nhà Vua, cần có một thiết chế đối kháng với quyền lực ấy, đây cũng là mục đích ra đời ban đầu của Nghị viện Một

số nước Cộng hòa tự quản hay đô thị tự quản cũng xuất hiện các cơ quan dân cử Aixơle là nước có Nghị viện hiện đại đầu tiên với tên gọi là Althing và vẫn được duy trì đến ngày nay Nghị viện Anh hình thành từ năm 1265 Hội nghị tam cấp thành lập năm 1302 là tiền thân của Nghị viện Pháp Các quốc gia châu Âu khác như Bôhêmia (Séc ngày nay), Phổ,

Ba Lan, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch… cũng từng có các Hội nghị đẳng cấp với vai trò tư vấn và kiềm chế nhà Vua nhưng đến trước cách mạng tư sản, vai trò của các cơ quan này bị giảm sút hoặc bị giải tán do chính quyền phong kiến ngày càng chuyên chế hơn2 Thiết chế Nghị viện lúc này chưa bao hàm đầy đủ ý nghĩa như cách hiểu Nghị viện ngày nay, Nghị viện lúc này chưa có tính chất quyền lực thực thụ, chỉ mang tính chất đại diện, các cuộc họp mang nhiều tính chất tư vấn3, chưa có vai trò lập pháp phổ biến và không có chức năng giám sát các cơ quan nhà nước như ngày nay và các thành phần tham gia Nghị viện lúc này chưa thật sự được hình thành bằng con đường bầu cử

Đến thời kì tư bản chủ nghĩa, Nghị viện với cách hiểu đầy đủ như ngày nay chính thức hình thành Sau các cuộc cách mạng hay cải cách chính trị, các nhà nước tư sản ra

đời Đồng thời với sự ra đời của các bản Hiến pháp tư sản, thiết chế Nghị viện được hình thành với đầy đủ ý nghĩa như ngày hôm nay Phó tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc cũng có quan

điểm: “Sự ra đời của Hiến pháp với tính cách là luật cơ bản gắn liền với thời kỳ giai cấp tư sản giành chính quyền trong cuộc đấu tranh chống lại nhà nước chuyên chế phong kiến Trong cuộc đấu tranh này giai cấp tư sản đã đạt được sự hạn chế quyền lực của vương

2 PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - PGS.TS Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Chu Dương, Thể chế chính trị các nước Châu

Âu, NXB Chính trị quốc gia, 2008, tr 41

3

PGS- TS Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu về nhà nước và pháp luật – Luật Hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai,

1997, tr 140

Trang 9

Về mặt tư tưởng, Nghị viện hình thành và phát triển dựa trên tiền đề là các học thuyết chính trị về sự phân quyền, lý luận về thuyết tam quyền phân lập của các khai sáng như Aristotle, John Locke, Montesquieu, Mongtesquieu, Rousseau Chính các học thuyết này

đã tạo ra tiền đề cho sự phân quyền trong bộ máy nhà nước mà Nghị viện là một nhánh quyền lực nhà nước trong bộ máy đó

 Thứ nhất là học thuyết chính trị của Aristotle

Cội nguồn của tư tưởng phân quyền đã có từ thời cổ đại ở Phương Tây mà điển hình

là nhà nước Athens và Cộng hòa La Mã Tư tưởng phân quyền trong xã hội Hy Lạp cổ đại đã có mầm mống từ Aristotle - nhà bác học vĩ đại của Hy Lạp Theo Aristote, nhà nước quản lý xã hội bằng 3 phương pháp: luật pháp, hành pháp và phân xử Ông quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án, từ đó ông chia hoạt động nhà nước thành ba thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử5 Tuy nhiên, tư tưởng của Aristotle mới chỉ dừng ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước,

4Xem Luật nhà nước Việt Nam, Khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1993, tr 43

5 Viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện thông tin khoa học xã hội, Thuyết “tam quyền phân lập” và bộ máy nhà nước

tư sản hiện đại, Hà Nội, 1991, tr 3

Trang 10

7

chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố

đó

 Tiếp đó là học thuyết chính trị của John Locke

Bên cạnh Aristote, bàn về thuyết ”tam quyền phân lập” còn có John Locke, một nhà triết học người Anh Kế thừa tư tưởng phân quyền của Aristote, Locke cho rằng, quyền lực phải phân chia theo 3 lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp Theo ông, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân Nhân dân nhường một phần quyền của mình cho nhà nước qua khế ước, và để chống độc tài phải thực hiện sự phân quyền6 Ông cho rằng “chỉ

có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, mà tất cả các quyền lực còn lại là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó” Có thể thấy, Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về Nghị viện; Nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng Hoạt động của nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và Vua không có đặc quyền nhất định nào với Nghị viện nhằm không cho phép Vua thâu tóm toàn

bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân

 Thứ ba, cơ sở lý luận quan trọng nhất cho sự phân chia quyền lực nhà nước tư sản - học thuyết chính trị của C.L.Montesquieu

Để tìm hiểu rõ hơn về khái niệm Nghị viện cũng như vị trí, vai trò của nó trong bộ máy nhà nước, cần tìm hiểu Nguyên tắc phân chia quyền lực dựa trên học thuyết phân chia quyền lực (Thuyết Tam quyền phân lập) của J.Locke và C.L.Montesquieu - nguyên tắc nền tảng cho sự hình thành của bộ máy nhà nhà nước tư sản Từ thế kỷ 18, nhà tư tưởng vĩ đại

người Pháp Montesquieu, đã phát triển thuyết tam quyền phân lập trở thành một học thuyết

độc lập Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế, Mongtesquieu xây dựng học thuyết phân quyền với mục đích tạo dựng những thể chế chính trị đảm bảo tự do cho các công dân

Cũng như Aristote và J Locke, Mongtesquieu cho rằng trong mỗi quốc gia có 3 thứ quyền : lập pháp, quyền thi hành những điều phù hợp với công ước quốc tế và quyền thi

6

PGS – TS Lê Minh Quang – Ths Bùi Việt Hương, Về quyền lực trong quản lý nhà nước hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, 2012, tr 34.35

Trang 11

8

hành những đều trong luật dân sự (ông giải thích đó là những quyền hành pháp và tư pháp) Nếu cả ba thứ quyền lực này tập trung trong tay một người hoặc một cơ quan sẽ tạo nên sự lạm dụng quyền lực, là nguyên nhân dẫn đến sự xâm phạm các quyền công dân và quyền con người Thực tế này đặt ra yêu cầu phải tổ chức bộ máy nhà nước sao cho quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được phân chia cho ba hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau, nhưng có thể kiềm chế, đối trọng và tương trợ lẫn nhau Nghị viện là một trong ba cơ quan ấy, nắm quyền lập pháp, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ và quyền

tư pháp thuộc về các cơ quan Tòa án Trong các quyền đó, quyền lập pháp về bản chất là thể hiện ý chí chung của quốc gia, nó thuộc về toàn thể nhân dân, được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân – Nghị viện Cơ quan lập pháp chỉ nên có chức năng làm ra luật và xem xét người ta thực hiện như thế nào (tương tự chức năng lập pháp và giám sát ngày nay) Cơ quan này sẽ có hai bộ phận, một bộ phận đại biểu cho quý tộc, một bộ phận đại biểu cho dân chúng Bộ phận đại biểu cho dân chúng có quyền lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của quốc gia và có quyền công tố đối với các quan chức để trên cơ sở đó bộ phận đại diện cho quý tộc xét xử Bộ phận đại biểu cho quý tộc lại có quyền ngăn cản hay thông qua những quy định mà bộ phận kia đã đề ra mà không có quyền đề ra luật và xét xử những quan chức khi họ phạm pháp

Tư tưởng phân quyền của Mongtesquieu là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa chuyên chế phong kiến và có thể khẳng định ông là người đã phát triển và hoàn thiện thuyết: “tam quyền phân lập” Học thuyết về sự phân chia quyền lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua mà trong đó vai trò của Nghị viện được thể hiện rất lớn7

Trang 12

9

Tiếp nối Montesquieu, J.J Rousseau cùng với tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Rousseau chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lực nhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức toàn thể công dân trong xã hội Nhưng ông lại chỉ ra rằng phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và Chính phủ là cách thức hợp lý duy nhất để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước, cũng như ngăn chặn được xu hướng lạm quyền cách phân quyền của Rousseau không giống với Locke và Montesquieu, ông khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi Theo ông, đỉnh cao của quyền lực tối cao là lập pháp Vua chỉ làm theo ý chí của cơ quan lập pháp, nhân dân làm ra luật và cao hơn ông Vua

Về sau, Chủ nghĩa Mác – Lênin cùng chung một lí tưởng với Rousseau trong việc khẳng định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân Điều này thể hiện ở chỗ, bất kì nước Xã hội chủ nghĩa nào cũng phải có cơ quan đại diện cao nhất là Quốc hội và đó là cơ quan chủ yếu thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Nói đến sự ra đời của Nghị viện nói chung và Nghị viện tư sản nói riêng phải gắn liền với sự ra đời của Nghị viện Anh Nước Anh vốn được nhiều ý kiến xem như là quê

hương của Nghị viện tư sản Sự tồn tại của Nghị viện Anh quốc ngày nay được hình thành

và phát triển qua 4 giai đoạn8:

- Giai đoạn thứ nhất, vào khoảng thế kỉ XIII, XIV, do nhu cầu

chi tiêu của ngân sách hoàng gia, nhà vua thường triệu tập đại diện các vùng lãnh địa để tiến hành các cuộc họp với mục đích tăng thuế so với mức trước

đó Nhu cầu chi tiêu của ngân sách hoàng gia ngày càng tăng, đồng nghĩa với điều này là các cuộc họp như trên sẽ diễn ra nhiều hơn, trở thành thường kì chứ không còn bất thường như trước và kết quả là trở thành tục lệ Có thể thấy, mới đầu các Nghị viện, đại diện cho các đẳng cấp khác nhau, đã nhóm họp để

8 PGS- TS Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước là những con số cộng đơn giản, NXB Lao động, 2009, tr 158-159

Trang 13

10

biểu quyết thuế khóa nộp cho ngân khố Hoàng gia, mà hầu như không có một

sự bàn luận nào cả9

- Giai đoạn thứ hai, đây là giai đoạn không chỉ đáp ứng nhu cầu

tăng thu thuế cho nhà Vua một cách thụ động, đại diện các lãnh địa đã chủ động, khôn khéo yêu cầu nhà Vua cai trị các lãnh địa theo một quy định nhất định chứ không được tùy tiện áp đặt như trước Những quy định yêu cầu này của các đại diện đã bước đầu hình thành nên chức năng làm luật của Nghị viện

và hình thành nên các văn bản luật như ngày nay Việc thông qua các khoản tăng thu thuế đáp ứng chi tiêu cho ngân sách hoàng gia cũng hình thành nên chức năng tài chính cho Nghị viện Nếu xem xét các khoản thu chi ngân sách, tăng thuế cho ngân sách hoàng gia dưới góc độ là những quy định pháp luật thì việc làm luật trở thành một chức năng cơ bản duy nhất của của Nghị viện và để thực hiện tốt hơn nữa chức năng này trên thực tế, Nghị viện cần một chức năng

cơ bản tiếp theo là chức năng giám sát việc thực hiện các văn bản pháp luật mà mình đã ban hành10

- Giai đoạn thứ ba, trải qua một quá trình tiến hóa đến cực điểm

là cuộc cách mạng thế kỷ XVII và XVIII, các Nghị viện đã giành lấy quyền lập pháp và biểu quyết thuế từ tay nhà vua, biến bản thân chúng thành các cơ quan

có chủ quyền thực sự Trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản, việc tăng cường quyền hạn của Nghị viện trở thành một đòi hỏi dân chủ của người dân Anh Việc tăng cường quyền hạn của Nghị viện lúc này cũng là biện pháp cần thiết

để hạn chế quyền lực của nhà vua đại diện cho chế độ phong kiến hết thời

- Giai đoạn cuối cùng, vào thế kỷ XIX, sự đại diện trong Nghị

viện đã vượt ra ngoài phạm vi các nhóm đặc lợi lâu đời để bao gồm toàn thể quần chúng nhân dân, hầu như tất cả mọi người nam cũng như nữ Đây được

9 Nguyễn Đăng Dung - Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường đại học tổng hợp Hà Nội -

Khoa Luật, 1993, tr 137

10Thang Văn Phúc – Nguyễn Đăng Thành, Một số lý thuyết và kinh nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới, NXB

Chính trị quốc gia Hà Nội, 2005, tr 78

Trang 14

11

xem là thời kì hoàng kim của Nghị viện Anh, nó có quyền lực chiếm ưu thế hơn hẳn so với các cơ quan nhà nước khác11

Nghị viện Anh được xem là Nghị viện ra đời đầu tiên trên thế giới theo cách hiểu này Nghị viện Anh ra đời cùng với cuộc cách mạng dân chủ tư sản đã đặt nền móng cho các

mô hình Nghị viện các quốc gia khác học tập và kế thừa những kinh nghiệm như Nghị viện Pháp theo Hiếp pháp 1958, Quốc hội Mỹ thành lập theo Hiến pháp 1787…

Tóm lại, dựa trên các học thuyết đã nêu, nguyên tắc tam quyền phân lập do Môngtexkiơ xây dựng vào thế kỉ XVIII ở Pháp với phương châm “dùng quyền lực nhà nước để hạn chế quyền lực nhà nước”đã có ảnh hưởng lớn đến tiền đề cho việc phân chia

quyền lực nhà nước ở các nước Ở kiểu nhà nước tư sản, quyền lực không còn được tập trung một cách tuyệt đối trong tay của một cá nhân nào mà có sự phân chia Theo đó, quyền lực được chia thành ba nhánh cho lập pháp, hành pháp và tư pháp thay vì tập trung trong tay nhà vua như ở chế độ phong kiến Tương ứng với sự phân quyền đó là các cơ quan thực hiện ba quyền đó - Nghị Viện, Chính Phủ và Tòa án Các cơ quan này độc lập với nhau, kiểm soát hoặc kiềm chế và đối trọng lẫn nhau Trong đó, Nghị viện là cơ quan nắm quyền lực nhà nước đại diện cho toàn bộ dân chúng, nắm mọi quyền lập pháp và giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước thuộc nhánh hành pháp và tư pháp

b) Sự phát triển của Nghị viện qua các giai đoạn

Sự phát triển của Nghị viện cũng như sự phát triển của nhà nước và các thiết chế khác đều gắn với sự phát triển của kinh tế, xã hội Theo lịch sử của chế độ tư bản, sự phát triển của Nghị viện được chia làm hai giai đoạn ứng với hai giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản là giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh cùng với giai đoạn chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước và hiện nay12

Giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản – thời kì tư bản tự do cạnh tranh là thời kì hoàng kim của Nghị viện Mặc dù, quyền lực nhà nước vẫn bị chia sẻ cho các thiết chế khác, các

Trang 15

12

cơ quan nhà nước khác nhưng Nghị viện vẫn có một vị trí nhất định chiếm ưu thế hơn hẳn Lúc này, câu nói “Nghị viện có quyền làm được tất cả, chỉ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà” đã trở thành một câu ngạn ngữ của người Anh13 Trong các nhà nước tư sản đang lên lúc này, chế độ xã hội có sự tham gia của Nghị viện trong bộ máy nhà nước có thể được xem là chế độ đại nghị Chế độ đại nghị là chế độ mà ở đó nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực: quyền lực lập pháp, quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp (xét xử) Trong đó, quyền lực lập pháp của Nghị viện có ưu thế hơn hẳn và những thành viên của Nghị viện do nhân dân trực tiếp bầu ra có nhiều đặc quyền, đặc lợi, nhưng lại không chịu trách nhiệm trực tiếp trước cử tri14

Giai đoạn thứ hai, trong thời kì chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước và hiện nay chế

độ đại nghị có phần khủng hoảng so với trước đây Nghị viện một số nước dần trở thành

một cơ quan hoạt động hình thức, bị lấn át quyền lực, thao túng bởi cơ quan hành pháp Tuy nhiên, Nghị viện lại đóng vai trò khá quan trọng trong việc hạn chế sự lạm quyền của

cơ quan hành pháp Do đó, hiện nay, nhiều nước tư sản đã điều chỉnh hoạt động của bộ máy nhà nước và qua đó tăng cường vai trò của Nghị viện, nằm bảo đảm dân chủ cho nhân dân

Tóm lại, cùng với sự thắng lợi của Cách mạng tư sản và dựa trên nền tảng các học

thuyết chính trị về nguyên tắc phân quyền, Hiến pháp ra đời với tư cách là văn bản pháp lý chính thức ghi nhận việc chia sẻ, phân chia quyền lực nhà nước, đánh dấu sự rút lui khỏi vũ đài chính trị của giai cấp phong kiến cùng chế độ cai trị độc đoán, chuyên quyền của nó và thay vào đó là việc hình thành nên chế định dân chủ mới – chế định Nghị viện như ngày nay

1.2 Khái niệm Nghị viện

Mặc dù đã có lịch sử tồn tại lâu đời, Nghị viện cho đến nay vẫn là một khái niệm mở

và có nhiều biến thể, do sự khác biệt về lịch sử xã hội, chính trị và kinh tế giữa các nước có

Trang 16

13

Nghị viện nằm trong bộ máy nhà nước Vì vậy, trên thực tế không có một định nghĩa cụ thể

nào bao hàm được toàn bộ khái niệm Nghị viện Sau đây là một số cách hiểu về khái niệm Nghị viện:

Theo Tiếng pháp, Nghị viện là "parlement", có gốc là "parle" có nghĩa là "nói, bình

luận, cãi vã" hay theo nguồn gốc từ tiếng Latinh là "parlare" có nghĩa là "nói", "bàn luận"15

Theo định nghĩa của Từ điển luật học16

, Quốc hội xuất hiện từ khi xuất hiện nhà

nước tư sản Trong nhà nước tư sản, với nguyên tắc “tam quyền phân lập”, Quốc hội là cơ quan nắm quyền lập pháp, là cơ quan làm việc theo chế độ hội nghị và biểu quyết theo đa

số Vì vậy, Quốc hội còn có tên là Nghị viện Cũng theo từ điển này, Nghị viện là : “cơ

quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội, được lập ra bằng bầu cử, có chức năng chủ yếu là lập pháp”17

Nghị viện không đơn giản là viện, mà nó luôn đồng nghĩa với "Nghị trường", nghĩa

là Nghị viện là cánh cửa mở vào chính trường, ở đó người ta bàn đến những công việc hành pháp rồi thông qua những điều của luật pháp, liên quan trực tiếp đến đời sống của quốc gia Từ Viện nguyên lão của La Mã đến Nghị viện của chế độ đại nghị Anh quốc, người ta thường làm hai việc chính: bày tỏ nguyện vọng của dân chúng và kiểm soát quyền lực của nhà vua, xem vua có thực thi những gì mình cam kết với dân chúng hay không

Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về Nghị viện: Nghị viện là cơ quan cao nhất trong

bộ máy nhà nước có quyền lập pháp, có nhiệm vụ thông qua các đạo luật, giám sát hoạt động của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước cùng một số quyền hạn khác Nghị viện được bầu cử bằng nhiều hình thức, song điểm chung lớn nhất là sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân thông qua kết quả bầu cử này

Từ những cách hiểu này, có thể rút ra được bản chất, đặc điểm của Nghị viện như sau:

Trang 17

14

Một là, Nghị viện là cơ quan cao nhất trong bộ máy nhà nước có quyền lập pháp,

có nhiệm vụ thông qua các đạo luật

Sự ra đời của chế độ Nghị viện gắn liền với cuộc cách mạng dân chủ tư sản Chế độ Nghị viện và nền lập hiến là thắng lợi của giai cấp tư sản nhằm chống lại chế độ Quân chủ chuyên chế của nhà nước phong kiến Do đó, Nghị viện hay còn gọi là Nghị trường được hiểu một cách sơ khai, nguyên thủy là cơ quan lập pháp của các nước dân chủ tư sản Cùng với sự thừa nhận nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản mà người sáng lập ra là John Locke và Charl Montesquieu quyền lập pháp được trao cho Nghị viện Nghị viện tồn tại song song bên cạnh Tổng tống, Chính phủ, Tòa án để thực hiện chức năng lập pháp, một trong ba quyền lực quan trọng nhất của nhà nước Chính vì đặc điểm quan trọng này mà khi nói đến Nghị viện người ta thường gọi dưới một tên gọi khác là cơ quan lập pháp và ngược lại, khi nói đến cơ quan lập pháp, mọi người cũng thường hay nghĩ đến Nghị viện

Hai là, Nghị viện là cơ quan có chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan

khác trong bộ máy nhà nước cùng một số quyền hạn khác

Khái niệm giám sát được hiểu theo nghĩa hẹp là sự hạn chế việc Chính phủ, thành viên Chính phủ vượt quá các quyền hạn do Hiến pháp quy định nhằm bảo vệ quyền của công dân và các tổ chức khác Theo nghĩa rộng thì giám sát lại là sự kiểm tra, kiểm soát của Nghị viện đối với mọi cá nhân, tổ chức trong nhà nước về việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật Cũng giống như Việt Nam, ở các nước, quyền hạn giám sát được thể hiện ở quyền kiểm tra việc thi hành Hiến pháp, luật và các quy định pháp luật của Chính phủ, quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ văn bản trái pháp luật, quyền bãi miễn, bãi nhiệm, quyền kiến nghị, chất vấn… Việc giám sát này có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau như bỏ phiếu tín nhiệm, chất vấn các thành viên Chính phủ hoặc thông qua sự kiểm tra của các cơ quan chuyên môn của Nghị viện như Thanh tra hay các Uỷ ban Nghị viện

Ở chính thể Cộng hòa đại nghị hay Quân chủ đại nghị, hành pháp phải chịu trách nhiệm trước lập pháp Điều này được quy định trong Hiến pháp, Chính phủ hoạt động trên

cơ sở tín nhiệm của Nghị viện Trong trường hợp Chính phủ mất tín nhiệm, Chính phủ sẽ

Trang 18

15

bị giải tán hoặc thay đổi thành phần vì ở hai hình thức này, Chính phủ được thành lập trên

cơ sở Hạ viện18 Trong nhà nước Cộng hòa Tổng thống, tuy Nghị viện không thành lập nên Chính phủ nhưng cách thức tổ chức quyền lực theo cơ chế kiềm chế và đối trọng đã làm cơ

sở pháp lý cho việc hành pháp phải chịu trách nhiệm trước lập pháp19

Điều 49 Hiến pháp nền Cộng hoà thứ V của Pháp quy định: Quốc hội (Hạ viện) có thể đặt vấn đề bất tín nhiệm Chính phủ bằng việc thông qua một nghị quyết khiển trách, dự

án nghị quyết khiển trách Chính phủ được Hạ viện thảo luận chỉ khi có ít nhất 1/10 tổng số

Hạ nghị sĩ có chữ ký đồng ý20 Ở Anh, khả năng Hạ viện buộc Chính phủ phải từ chức là quyền hạn kiểm soát cuối cùng, được thực hiện bằng việc thông qua một nghị quyết về việc

“bất tín nhiệm” Chính phủ buộc phải từ chức cả trong trường hợp khi Hạ viện phản đối một dự án mà Chính phủ coi là vô cùng quan trọng đối với chính sách của mình đến nỗi coi

đó là “vấn đề của sự tín nhiệm” hoặc khi Hạ viện từ chối biểu quyết chi tiền cho hệ thống dịch vụ công cộng

Phương pháp phổ biến khác khi thực hiện hoạt động giám sát của Nghị viện là “chất vấn” Ở Phần Lan, chất vấn của Nghị sĩ được xem là một trong những hình thức kiểm tra

hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước Chất vấn được đưa ra dưới dạng văn bản, nhưng trả lời thì có thể bằng miệng Trong những trường hợp từ chối việc trả lời thì phải thông báo lý do Nếu chất vấn nào được trên 20 Nghị sĩ ủng hộ thì phải trả lời chậm nhất là sau

15 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn Ở Ấn Độ, các Nghị sĩ thường xuyên giám sát Chính phủ bằng chất vấn Nghị viện dành thời gian đầu giờ các phiên họp buổi sáng để thảo luận các chất vấn, sau đó mới xem xét các vấn đè khác Nếu là chất vấn bằng văn bản thì được công bố trong các ấn phẩm của Nghị viện21

Ba là, Nghị viện là cơ quan đại diện cho quyền dân chủ của công dân và là thiết

chế được hình thành bằng con đường bầu cử

Xem Hiên pháp đệ ngũ Cộng hòa Pháp quốc (4/10/1958) tại PGS- TS Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu về nhà nước và

pháp luật – Luật Hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai, 1997, tr 298

21 Xem Vũ Đình Nam – Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Hoạt động giám sát của Nghị viện một số nước trên

thế giới

http://caicachhanhchinh.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/71/0/109025/0/309/Hoat_dong_giam_sat_cua_Nghi_vien_mot_so_ nuoc_tren_the_gioi

Trang 19

16

Hầu như các Nghị sĩ muốn trở thành thành viên của Nghị viện đều phải ra tranh cử và nhận được đa số sự tín nhiệm của cử tri trong cuộc bầu cử Các cuộc bầu cử đều được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu Các thành viên Nghị viện đều được tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu ngoại trừ Thượng nghị viện một số nước Thượng nghị sĩ Anh - thành viên Thượng viện Anh không phải do bầu cử mà là các Nghị sĩ quý tộc

có sự kế truyền hay các trường hợp khác đương nhiên là Thượng nghị sĩ Anh (các Tổng giám mục, Thẩm phán Tòa án Phúc thẩm đã nghỉ hưu)

Một vấn đề cần lưu ý khi tìm hiểu khái niệm Nghị viện là việc cần làm sáng tỏ giữa tên gọi Nghị viện và các tên gọi khác như Quốc hội, Hội đồng quốc gia, Hội đồng dân tộc…22 Tuy có nhiều tên gọi khác nhau nhưng về bản chất, chúng vẫn là các giống nhau, đều nói đến cơ quan lập pháp của quốc gia Nói đến Nghị viện không chỉ là nói đến khái niệm Nghị viện tư sản hay Quốc hội là tên gọi bắt buộc để chỉ cơ quan lập pháp ở các nước

Xã hội chủ nghĩa

Chính vì Nghị viện ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản thông qua các cuộc cách mạng tư sản nên khi nói đến thuật ngữ Nghị viện người ta thường hiểu là Nghị viện tư sản Điều này không đồng nhất với việc các nước Xã hội chủ nghĩa không có Nghị viện Những quốc gia Xã hội chủ nghĩa vẫn có cơ quan lập pháp có thẩm quyền giám sát nhà nước cũng được gọi là Nghị viện hoặc với một tên gọi khác là Quốc hội Cơ quan lập pháp của các nước xã hội chủ nghĩa thông thường được gọi là Quốc hội Do đó, tên gọi Quốc hội hay Nghị viện đều là tên gọi hướng đến cơ quan lập pháp của mỗi quốc gia – mang tính chất quy ước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ - một đất nước dân chủ tư sản – tổ chức theo mô hình lưỡng viện cũng có thể gọi tên cơ quan lập pháp là Quốc hội

1.2 Chức năng của Nghị viện

Thứ nhất, chức năng quan trọng nhất của Nghị viện mà tất cả các nước đều quy

định trong Hiến pháp là chức năng lập pháp Đây là chức năng cơ bản, gắn liến với sự ra

đời của Nghị viện Nghị viện – Quốc hội với tư cách là cơ quan do nhân dân bầu ra sẽ thay

22 PGS- TS Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu về nhà nước và pháp luật – Luật Hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai,

1997, tr 139

Trang 20

17

mặt nhân dân nắm chủ quyền quốc gia Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội tư sản, có chức năng chủ yếu là lập pháp Phần lớn các nước quy định đây là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm giữ các quyền quan trọng như lập pháp và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Một đất nước được coi là dân chủ khi vai trò của Nghị viện được đề cao, kiểm soát được quyền lực, kiểm soát được luật pháp Có thể thấy, ở các quốc gia khác nhau, với những hình thức chính thể khác nhau, cơ quan lập pháp sẽ được biết đến với những tên gọi khác nhau như Quốc hội, Nghị viện… nhưng dù với tên gọi như thế nào thì bản chất đây vẫn là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội, được hình thành theo con đường bầu cử, có chức năng chủ yếu đúng

như tên gọi của nó là lập pháp

Ngoài chức năng lập pháp, một chức năng cơ bản mà mọi Nghị viện đều phải thực hiện là chức năng giám sát Hoạt động giám sát là hoạt động thực hiện quyền lực nhà

nước Đây là hoạt động mang tính tất yếu khách quan của tất cả các nhà nước, ở mọi thời đại lịch sử Có thể khẳng định, ngay từ khi nhà nước xuất hiện trong lịch sử, bất luận nhà nước nào cũng ban hành pháp luật để quản lý nhà nước và tiến hành hoạt động giám sát đối với toàn xã hội trong việc tuân thủ pháp luật của mình Giám sát việc tuân theo pháp luật là hoạt động có tính đặc trưng của tất cả các nhà nước trên thế giới Không có một nhà nước nào tồn tại và phát triển mà không tiến hành hoạt động giám sát Ngày nay, với sự xuất hiện của Nghị viện trong bộ máy nhà nước, chức năng giám sát tối cao nhà nước được trao cho Nghị viện, trở thành một trong những chức năng cơ bản, quan trọng nhất của cơ quan

này

Chức năng tiếp theo của Nghị viện đó là chức năng đại diện Cơ quan lập pháp đại

diện cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình Thành viên của Nghị viện đại diện cho công chúng, do người dân bầu ra để đại diện cho họ, để bảo vệ lợi ích cho họ Chức năng này cũng xuất phát từ lịch sử nguyên thủy của quá trình hình thành Nghị viện đó là các cơ quan đại diện đẳng cấp Phần lớn dân chúng không có điều kiện trình bày trực tiếp

Trang 21

đại diện hợp pháp của nhân dân và thông thường đây cũng là cơ quan soạn thảo Hiến pháp

Do đó, cơ quan lập pháp cúng có quyền sửa đổi Hiến pháp Khoản 1 điều 84 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định Quốc hội Việt Nam là

cơ quan có quyền hạn sửa đổi Hiến pháp duy nhất24

Ngoài ra, Nghị viện còn có chức năng trong các lĩnh vực khác như ngân sách nhà nước, đối ngoại, phòng thủ quốc gia, tư pháp… Bên cạnh hai vai trò cơ bản, quan trọng

nhất là lập pháp và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, Nghị viện còn có vai trò trong nhiều lĩnh vực khác như: trong lĩnh vực ngân sách, tài chính; trong lĩnh vực đối ngoại

và phòng thủ quốc gia; trong lĩnh vực tư pháp Trong lĩnh vực ngân sách, tài chính Nghị viện có quyền quy định về quản lý tài chính quốc gia, quyết định ngân sách nhà nước, quyết định việc lập và thu các loại thuế Trong lĩnh vực đối ngoại và phòng thủ quốc gia, theo nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân thì Nghị viện – cơ quan dân cử, cơ quan đại diện của nhân dân có quyền quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình Nghị viện quyết định ngân sách quốc phòng, quyết định việc gia nhập các liên minh quân sự, quy định điều kiện gọi phục vụ quân sự Nghị viện có quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ tất cả các hiệp ước

do Chính phủ kí kết Ở Đức, Pháp, Italia, Nghị viện có quyền phê chuẩn hoặc hủy bỏ một

số hiệp ước quan trọng Hiến pháp một số quốc gia còn quy định những Hiệp ước liên quan đến các vấn đề chính trị, quốc phòng, tài chính, lãnh thổ quốc gia và những Hiệp ước có thể dẫn đến sự thay đổi một đạo luật trong nước thì Chính phủ phải được sự chấp nhận của Nghị viện trước lúc kí kết (Hiến pháp Tây Ban Nha, Đan Mạch, Italia)25 Trong lĩnh vực tư pháp, ở đa số các nước tư sản, Nghị viện có quyền luận tội và xét xử Tổng thống cũng như

23 TS Phạm Quang Minh, Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới, NXB Chính trị - Hành chính, 2010, tr 94

24 Xem thêm Hiến pháp 1992 nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Điều 84

25

Xem Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2001, tr 95

Trang 22

19

các quan chức cao cấp của nhà nước theo thủ tục gọi là đàn hạch Ở Anh, Hạ viện đóng vai trò luận tội còn Thượng viện sẽ là cơ quan kết tội Hiến pháp Hoa Kì quy định Hạ viện có quyền buộc tội các quan chức cao cấp của nhà nước còn khi luận tội Tổng thống và Phó Tổng thống Mỹ thì điều khiển phiên họp của Thượng viện là Chánh án Tòa án tối cao và kết quả của việc luận tội thành là sự cách chức đối với quan chức phạm tội Các hình phạt khác theo luật hình sự hay dân sự thì Tòa án xét xử theo thủ tục bình thường26

1.3 Cơ cấu của Nghị viện

Dựa vào hình thức cấu trúc, Nghị viện có thể được tổ chức theo mô hình lưỡng viện hoặc mô hình đơn viện Theo TS Phạm Quang Minh: “Cấu trúc cơ quan lập pháp ở

các nước không giống nhau Cơ quan lập pháp có thể có cấu trúc đơn viện hoặc lưỡng viện Khi chỉ có một viện trong cơ quan lập pháp, thì hệ thống tổ chức của cơ quan lập pháp được gọi là “đơn viện” Khi cơ quan lập pháp được tổ chức thành hai viện, thì được gọi là hệ thống lưỡng viện”27 Việc cơ quan lập pháp được tổ chức theo hình thức nào phù hợp vào từng điều kiện thực tế của từng quốc gia Cơ chế một viện tồn tại ở Hy Lạp, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha…Cơ chế hai viện tồn tại ở Anh, Đức, Pháp, Mỹ,

Nhật…Theo đó:

- Chế độ lưỡng viện là chế độ tổ chức và hoạt động của các cơ quan lập

pháp, theo đó, cơ quan này gồm có hai viện hợp thành Ở những nước mà Nghị viện được tổ chức theo chế độ lưỡng viện thì một viện gồm những đại biểu được bầu ra theo tỉ lệ dân cư (viện dân biểu hay còn gọi là Hạ nghị viện), còn một viện thì gồm các đại biểu được bầu ra đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc được thành lập theo một phương thức riêng (Thượng nghị viện) Chế độ lưỡng viện thường tồn tại ở nhà nước liên bang, Thượng nghị viện thông thường là đại diện của các bang, các lãnh địa, không lấy theo tỉ lệ số dân Các bang, các lãnh địa dù lớn hay nhỏ đều có số Thượng nghị sĩ như nhau Thượng viện Hoa Kỳ gồm đại diện của các bang, mỗi bang dù dân số ít hay nhiều, diện tích lớn hay nhỏ cũng được bầu

26

Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB Bách Khoa – NXB Tư pháp, 2006, tr 96

27 TS Phạm Quang Minh, Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới, NXB Chính trị - Hành chính, 2010, tr 89

Trang 23

20

hai Thượng nghị sĩ Ở nhà nước đơn nhất, Thượng nghị sĩ đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ hoặc đại diện cho tầng lớp quý tộc trong xã hội Hạ nghị viện lại đại diện cho tất cả mọi tầng lớp trong xã hội, đại diện cho nhân dân cả nước không phân biệt bất kì

ai, được bầu theo tỉ lệ dân số

Các đạo luật chỉ được Nghị viện (Quốc hội) thông qua khi được cả hai viện biểu quyết tán thành Hai viện này có quyền hạn khác nhau nhằm hạn chế lẫn nhau Chế độ lưỡng viện được thành lập chủ yếu ở các nhà nước mà việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước theo nguyên tắc phân quyền28

- Chế độ một viện là hình thức tổ chức cơ quan lập pháp trong đó tất cả

các đại biểu Nghị viện chỉ làm việc trong một cơ cấu thống nhất, cùng thảo luận và biểu quyết các công việc tại các kì họp Chế độ đại nghị chỉ gồm một viện thường gặp ở các nước đang phát triển Điều này phụ thuộc vào hai yếu tố sau: thứ nhất, cơ cấu lãnh thổ của các nước đang phát triển hầu hết là cơ cấu đơn nhất, không có sự xung đột hay mâu thuẫn giữa lợi ích quốc gia và lợi ích của các khu vực lãnh thổ là thành viên cấu thành của mỗi quốc gia; thứ hai, chế độ một viện làm cho quá trình lập pháp được đơn giản hóa, phù hợp với các nước đang cần nhanh chóng xây dựng hệ thống pháp luật29

Chế độ lưỡng viện và chế độ đơn viện cùng tồn tại song song trên thế giới, tùy theo mỗi quốc gia sẽ có sự lựa chọn cho mình một cấu trúc riêng dựa trên những ưu điểm của nó phù hợp với quốc gia mình Trên thực tế, Nghị viện tồn tại dưới hai hình thức là

hình thức lưỡng viện và hình thức đơn viện Mỗi loại hình này đều có những ưu đểm và nhược điểm riêng Việc lựa chọn hình thức nào cho cơ quan lập pháp của mình phụ thuộc vào mục tiêu, nhu cầu và khả năng của mỗi hệ thống chính trị Trong khi Paraguay chấp nhận một cơ quan lập pháp đơn viện để tập trung kiểm soát chính trị thì Bangladesh lại lựa chọn mô hình này vì mục tiêu kinh tế Thụy Điển lựa chọn mô hình lập pháp đơn viện năm

1971, trong khi Pakistan lại chuyển sang mô hình lưỡng viện vào năm 1973 và Tây Ban

28

Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB Bách Khoa – NXB Tư pháp, 2006, tr 126

29 Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB Bách Khoa – NXB Tư pháp, 2006, tr 126

Trang 24

21

Nha vào năm 197730

Nhìn chung, mỗi mô hình đều có những ưu điểm đáng kể khi các

quốc gia cân nhắc lựa chọn

Về ưu điểm của mô hình đơn viện là cho phép cơ quan lập pháp hoạt động nhanh

chóng, dễ dàng, nhanh chóng thực hiện được quyền làm chủ của người dân, cho phép giữa

cơ quan lập pháp và nội các có sự rõ ràng trong trách nhiệm Việc tổ chức đơn viện sẽ không xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa hai viện, đồng thời chi phí hoạt động cũng ít tốn kém hơn Mô hình này cũng đảm bảo sự ổn định chính trị, thống nhất đất nước khi các cơ quan nhà nước không được phép lật đổ lẫn nhau

Về ưu điểm của mô hình lưỡng viện, mô hình này sẽ tạo sự kiểm tra chắc chắn đối với

những vấn đề khó khăn và phức tạp, đồng thời, tránh tình trạng nóng vội trong quyết định, tránh sự chuyên quyền của một viện Mô hình này cần thiết cho nhà nước liên bang, quy

mô rộng lớn, cần sự đại diện phổ biến cho nhiều giai cấp, nhiều nhóm lợi ích khác nhau31

1.4 Vị trí, vai trò của Nghị viện trong bộ máy nhà nước ở một số hình thức chính thể nhà nước

Nghị viện dù tồn tại dưới hình thức nào, đơn viện hay lưỡng viện, dù có nhiều tên gọi khác nhau như Quốc hội hay Nghị viện nhưng nó vẫn có vị trí, vai trò khá quan trọng trong

bộ máy nhà nước mỗi quốc gia Để thấy được vị trí, vai trò quan trọng ấy của Nghị viện trong bộ máy nhà nước, Nghị viện cần được xem xét trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác ở trung ương và hình thức nhà nước của quốc gia đó Hình thức nhà nước là một vấn đề quan trọng của việc tổ chức nhà nước, việc cơ cấu tổ chức các cơ quan nhà nước, quyền, nghĩa vụ của từng cơ quan, mối quan hệ giữa chúng với nhau, nguồn gốc quyền lực nhà nước đều liên quan đến vấn đề chính thể Ngược lại, vấn đề chính thể cũng

có tác động đến cơ cấu, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau Bản chất của nhà nước quyết định hình thức của nhà nước, bản chất nhà nước là sự xét đến cùng quyết định các hành vi hoạt động của nhà nước Xét cho đến cùng thì mọi hành vi hoạt động của nhà nước đều thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, giai cấp có trong

30

TS Phạm Quang Minh, Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới, NXB Chính trị - Hành chính, 2010, tr 91

31 Sđd tr 91

Trang 25

22

tay quyền lực của nhà nước Có hai loại hình tổ chức nhà nước căn cứ vào cách thức tổ chức quyển lực nhà nước, đó là hình thức tổ chức nhà nước theo cấu trúc lãnh thổ và hình thức chính thể So với hình thức nhà nước theo cấu trúc lãnh thổ thì chính thể là hình thức

tổ chức nhà nước dễ bộc lộ bản chất nhà nước, tức là bản chất của chế độ chính trị hơn Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa lập pháp với hành pháp và tư pháp trong từng hình thức chính thể sẽ cho thấy vị trí vai trò của Nghị viện ở mỗi kiểu hình thức nhà nước khác nhau

đề của nhà nước phải được giải quyết dựa trên cơ sở của Nghị viện

Từ đặc điểm này mà một đặc điểm quan trọng của chính thể Quân chủ đại nghị đã được hình thành: Chính phủ phải được Nghị viện thành lập từ thành phần Hạ Nghị viện Chính phủ chỉ được hoạt động khi vẫn còn sự tín nhiệm của Nghị viện Trong trường hợp không còn sự tín nhiệm của Nghị viện, thì Chính phủ phải từ chức, Nghị viện thành lập ra Chính phủ mới Trong trường hợp không thành lập được Chính phủ mới thì Nghị viện bị giải tán Mặc dù Nghị viện là cơ quan lập pháp, nhưng có một nhiệm vụ quan trọng trên hết

và phải thực hiện trước khi lập pháp là phải thành lập ra Chính phủ, (trong trường hợp

32

PGS.TS Thái Vĩnh Thắng - PGS.TS Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Chu Dương, Thể chế chính trị các nước Châu

Âu, NXB Chính trị quốc gia, 2008, tr 8

Trang 26

23

không thành lập được Chính phủ, Nghị viện có thể phải giải tán) Khác căn bản với chế độ Tổng thống, ngoài việc phải thực hiện chức năng cơ bản của mình là lập pháp, Nghị viện còn phải thành lập Chính phủ và phải giám sát Chính phủ, ở hình thức chính thể này, Chính phủ có thể bị lật đổ theo quyết định của Nghị viện, hoặc có thể tự rút lui theo quyết định của người đứng đầu Chính phủ

Trong Hiến pháp của nhiều nước theo chính thể này, Nghị viện được quy định có quyền luận tội các quan chức có hàm bộ trưởng (Hiến pháp Đan Mạch, Hiến pháp Na Uy, Hiến pháp Thụy Điển…) Thủ tục này còn có tên gọi khác là thủ tục đàn hạch Ở mỗi Quốc gia, thủ tục này có thể có điểm khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là Hạ viện có quyền buộc tội, còn luận tội và kết tội lại thuộc Thượng viện Cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước của chính thể Quân chủ lập hiến không phải ở chỗ có chế độ trách nhiệm hình sự của từng vị bộ trưởng trước Nghị viện mà là chế độ chịu trách nhiệm chính trị của toàn bộ Chính phủ trước Nghị viện33

Từ mối quan hệ quyền lực này, có thể thấy, Chính phủ được thành lập từ đảng phái chiếm đa số ghế trong Hạ viện, cho nên bao giờ Chính phủ cũng không chế Nghị viện Chính phủ và Nghị viện lúc này không khác nào hai cơ quan trực thuộc một đảng phái chính trị cầm quyền

Ở một số nước, Nghị viện còn có mối liên hệ với cơ quan tư pháp Tại Anh quốc, Thượng viện là cấp xét xử cuối cùng Chủ tịch Thượng viện và các thượng nghị sĩ luật hoạt động như Tòa án tối cao của nước Anh Tuy nhiên, họ không xét xử mà đúng hơn là giải thích luật và đưa ra quan điểm về các vụ xét xử.34

Thứ hai - vị trí, vai trò của Nghị viện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước Trung ương ở nhà nước tổ chức theo chính thể Cộng hòa đại nghị

Những quy định về mối quan hệ giữa hành pháp và lập pháp trong Hiến pháp các nước có chính thể Quân chủ đại nghị cũng khá giống với các nước có chính thể Cộng hòa

Trang 27

24

đại nghị Hai hình thức nhà nước này khác nhau ở chỗ, hình thức chính thể Quân chủ đại nghị tồn tại ở những nước có cách mạng tư sản không triệt để, giai cấp tư sản không đủ sức đánh bại hoàn toàn giai cấp phong kiến, Nguyên thủ quốc gia vẫn là những vị Hoàng đế có thể truyền ngôi cho con Còn ở chính thể Cộng hòa đại nghị, Nguyên thủ quốc gia không hình thành bằng phương pháp thế tập mà bằng phương pháp bầu cử

Tại các nước có chế độ Cộng hòa đại nghị, nguyên thủ quốc gia do Nghị viện bầu ra, Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu không chịu trách nhiệm trước nguyên thủ quốc gia mà chịu trách nhiệm trước Nghị viện Tổng thống bổ nhiệm Chính phủ không theo ý mình mà

từ số đại diện của các đảng, liên minh các đảng có đa số ghế trong Nghị viện (hay trong Hạ nghị viện) Nếu Nghị viện không tín nhiệm Chính phủ thì hoặc là Chính phủ phải từ chức tập thể hoặc là Nghị viện bị giải tán trước thời hạn và tiến hành bầu cử Nghị viện mới Việc công nhận nguyên tắc quyền lực tối cao của Nghị viện đã biến các nước này thành chế độ đại nghị Nguyên thủ quốc gia trong chính thể này tuy được Hiến pháp quy định khá nhiều quyền hạn nhưng trên thực tế không trực tiếp tham gia vào việc giải quyết các công việc của nhà nước, trong việc thành lập Chính phủ cũng tham gia một cách hình thức

Theo quy định của Hiến pháp Cộng hòa liên bang Đức, Tổng thống liên bang có quyền đề nghị ứng cử viên Thủ tướng để Hạ viện bỏ phiếu Trong vòng 14 ngày, nếu ứng

cử viên do Tổng thống đề nghị không Hạ viện thông qua bằng đa số tuyệt đối số phiếu thuận thì Hạ viện có quyền bầu ứng cử viên của mình Trong trường hợp vẫn không chọn được Thủ tướng thì Tổng thống có quyền bổ nhiệm Thủ tướng theo ý của mình hoặc giải tán Nghị viện

Vai trò Nghị viện trong hình thức này cũng được đề cao tuyệt đối khi quy định Chính phủ được lập ra trên cơ sở Nghị viện và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Xuất phát

từ nguyên tắc Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện, do đó, Nghị viện có thể lật

đổ Chính phủ và ngược lại, người đứng đầu Chính phủ cũng có khả năng yêu cầu Nguyên thủ quốc gia hoặc tự mình có quyền giải tán Nghị viện

Qua hai hình thức chính thể trên, Quân chủ đại nghị và Cộng hòa đại nghị - đều là những nước có mô hình đại nghị, vị trí, vai trò của Nghị viện trong bộ máy nhà nước khá

Trang 28

25

tương đồng, Nghị viện đều được xem là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đề cao, tối

đa hóa vai trò của Nghị viện so với các cơ quan khác Điều khác nhau cơ bản của hai hình thức này là thẩm quyền của Nghị viện đối với chế định Nguyên thủ quốc gia, ở loại hình chính thể Cộng hòa đại nghị, Nguyên thủ quốc gia do Nghị viện hoặc dựa trên cơ sở của Nghị viện bầu ra

Thứ ba - vai trò của Nghị viện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước Trung ương ở nhà nước tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống

Cùng là mô hình Cộng hòa với nhau, thế nhưng Cộng hòa đại nghị và Cộng hòa Tổng thống lại có cách thức phân chia quyền lực và tổ chức bộ máy nhà nước khác nhau Do đó,

vị trí, vai trò của Nghị viện trong các chính thể này cũng khác nhau Trên thế giới có hơn

40 nước lựa chọn hình thức nhà nước Cộng hòa Tổng thống, mô hình này hầu như đều thực hiện phân quyền một cách triệt để, tuyệt đối hay còn gọi là phân quyền một cách cứng rắn

và tăng cường quyền lực của cá nhân Tổng thống Khác với Tổng thống ở chính thể Cộng hòa Nghị viện, Tổng thống ở chính thể này có thể được nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra do đó thiết chế này có thực quyền hơn Thậm chí Tổng thống còn có khả năng tác động trong lĩnh vực lập pháp khi được quyền phủ quyết các đạo luật do Nghị viện đưa ra Đặc điểm quan trọng của chính thể này là việc áp dụng tuyệt đối nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước, điều này tạo cơ sở cho việc không phải chịu trách nhiệm lẫn nhau giữa lập pháp và hành pháp mà thay vào đó là cơ chế kìm chế và đối trọng giữ các nhánh quyền lực nhà nước Lập pháp và hành pháp sẽ có vai trò tự kiềm chế đối trọng lẫn nhau để không

có cơ quan nào có thể lạm dụng quyền lực nhà nước Nghị viện ở thiết chế này không có thẩm quyền giải tán Chính phủ và ngược lại, Tổng thống – nguyên thủ quốc gia không có quyền giải tán Nghị viện trước thời hạn

Theo quan điểm của không ít nhà luật học, ở chính thể Cộng hòa Tổng thống, phương tiện kiểm tra hoạt động hành pháp của Nghị viện không đa dạng bằng ở chính thể đại nghị nhưng việc kiểm tra này lại có kết quả hơn vì Nghị viện truy cứu trách nhiệm hành pháp đến cùng mà không bị giải thể35 Theo đó, nếu các quy định của Hiến pháp tại các nước

35 Nguyễn Đăng Dung, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, NXB Pháp lí Hà Nội, 1992, tr.103

Trang 29

26

theo chính thể Cộng hòa Tổng thống được thực hiện đầy đủ trên thực tế thì Nghị viện sẽ có thực quyền hơn vì Nghị viện là một thiết chế bền vững hơn

Châu Mỹ La tinh là nơi áp dụng tương đối phổ biến mô hình này mà khuôn mẫu của

nó là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Mỹ là quốc gia điển hình trong mô hình này, tại đây, nguyên thủ quốc gia – người đứng đầu cơ quan hành pháp không có quyền giải tán Nghị viện và cơ chế đảng phái phức tạp cho phép Nghị viện có thực quyền nhiều hơn hẳn nhiều nước đại nghị, bảo đảm cho nó thực thi quyền lực theo đúng quy định của Hiến pháp trong việc lập pháp và kiềm chế hành pháp

Ở chính thể này, nếu Tổng thống và đa số thành viên trong Nghị viện đều cũng một đảng thì quyền lực nhà nước dễ dẫn đến khả năng quyền lực tập trung hoàn toàn trong tay Tổng thống Trái lại, trong trường hợp Tổng thống và đa số Nghị viện không cũng một đảng lại dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực này Trường hợp thứ nhất đã xảy

ra tại một số nước theo hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống ở châu Á và châu Phi, bộ máy nhà nước lại mang tính tập quyền, quyền lực tập trung trong tay Tổng thống, quyền lực Nghị viện lại rất mờ nhạt, mâu thuẫn giữa hai nhánh quyền lực rất dễ xảy ra Tình trạng này có thể dẫn đến sự độc tài, Nghị viện bị giải tán hoặc không còn quyền lực trên thực tế Tóm lại, chính thể Cộng hòa Tổng thống tuy không đề cao vai trò tuyệt đối của nghị viện như hình thức chính thể Quân chủ đại nghị hay Cộng hòa đại nghị nhưng nghị viện vẫn được xem là cơ quan lập pháp và giám sát của nhà nước, một nhánh quyền lực độc lập

ở vị trí ngang bằng kiềm chế đối trọng hai nhánh quyền lực còn lại là hành pháp và tư pháp

Thứ tư - vị trí, vai trò của Nghị viện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước Trung ương ở nhà nước tổ chức theo chính thể Cộng hòa hỗn hợp

Hình thức chình thể Cộng hòa còn một dạng tồn tại nữa trên thực tế là Cộng hòa hỗn hợp hay còn gọi là Cộng hòa lưỡng tính Hình thức chính thể này vừa có đặc điểm của hình thức chính thể Cộng hòa đại nghị vừa có hình thức của chính thể Cộng hòa Tổng thống Sự

ra đời của chính thể này nhằm khắc phục nhược điểm thiếu ổn định của chính thể đại nghị

và nguy cơ độc đoán của chính thể Tổng thống Chính thể này tồn tại ở một số nước như

Trang 30

27

Pháp, Nga, Hàn Quốc, Singapo, Phần Lan, Bồ Đào Nha, Ireland, Aixơlen… cùng là những nước theo hình thức chính thể Cộng hòa hỗn hợp nhưng có nước lại nghiêng về yếu tố Cộng hòa nghị viện, có nước lại nghiêng về yếu tố Cộng hòa Tổng thống trong tổ chức nhà nước Cũng giống như tính chất của hai thể chế nói trên, nước nào mang đặc điểm của Cộng hòa đại nghị nhiều hơn thì cơ quan lập pháp có nhiều quyền hơn vào đảm bảo dân chủ hơn trong bộ máy nhà nước, tránh tập trung quyền vào tay một người, bảo đảm một nền hành pháp lành mạnh Tuy nhiên, Tổng thống lại có quyền giải tán Nghị viện, vì thế vai trò của cơ quan lập pháp bị hạn chế Trong số các nước lựa chọn hình thức chính thể này, mô hình nhà nước Pháp theo nền Cộng hòa thứ V của Hiến pháp 1858 hiện nay và mô hình nhà nước Nga là khuôn mẫu điển hình cho hình thức nhà nước theo chính thể Cộng hòa lưỡng tính

Phần lớn các nước tổ chức nhà nước theo hình thức chính thể này thực hiện cơ chế Tổng thống do nhân dân bầu trực tiếp, cùng Chính phủ (đứng đầu là Thủ tướng) nắm quyền hành pháp còn Nghị viện nắm quyền lập pháp Tại một số nước, Tổng thống do Nghị viện bầu ra (Mônđôva, Libăng…) vì thế chính thể ở những nước này nghiêng về chính thể đại nghị rõ rệt

Tại các nước theo thể chế này, Nghị viện (quốc hội) cũng có vai trò như các quốc gia theo chế độ đại nghị, cơ quan này sẽ thay mặt nhân dân lựa chọn Chính phủ điều hành đất nước đồng thời giám sát, kiềm chế quyền lực của cơ quan này Nghị viện lúc này đóng vai trò trung gian đứng giữa nhà nước và dân chúng, chịu trách nhiệm trước nhân dân khi thực hiện quyền lực của mình

Tổng thống ở chính thể này cũng được trao quyền rất lớn khi có thể giải tán Nghị viện trong trường hợp cần thiết Tổng thống sẽ bổ nhiệm Chính phủ và theo đề nghị của Thủ tướng bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ trên cơ sở đảng chiếm ưu thế trong Nghị viện Tổng thống có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại các dự luật đã được thông qua,

có quyền giải tán Hạ nghị viện Sở dĩ Tổng thống có thể có quyền kiềm chế Nghị viện vì ở hình thức này, Tổng thống không do Nghị viện bầu ra, không chịu trách nhiệm trước Nghị viện mà Tổng thống thường do nhân dân bầu ra, phải chịu trách nhiệm trước nhân dân

Trang 31

28

Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm trước Nghị viện và hoạt động trên cơ sở sự tín nhiệm của Nghị viện nhưng cũng đồng thời phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống Nghị viện vẫn có quyền phế truất Tổng thống thông qua quyền luận tội và kết tội Tổng thống khi Tổng thống

có các dấu hiệu phản bội tổ quốc hay vi phạm Hiến pháp Một số nước theo mô hình này nhưng nghiêng về tính chất của Cộng hòa Tổng thống hơn thì quyền lực Nghị viện cũng bị hạn chế

Thứ năm - vị trí, vai trò của Nghị viện trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước Trung ương ở nhà nước tổ chức theo chính thể nhà nước Xã hội chủ nghĩa

Quốc hội trong những nhà nước này thường tổ chức theo mô hình một viện, là cơ quan quyền lực cao nhất trong nhà nước, đại diện cho chủ quyền nhân dân toàn bộ quốc gia Quốc hội Trung Quốc được Hiến pháp Trung Quốc 1993 quy định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, tổ chức theo chế độ một viện, với 15 nhiệm vụ quyền hạn để thực hiện chức năng của mình36 Tương tự như những Quốc hội khác, Quốc hội những nước này cũng có chức năng lập pháp – ban hành các văn bản pháp luật và chức năng giám sát – giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật của tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân Ngoài ra, Quộc hội còn có những vai trò khác như quyền quyết định những vấn đề quan trọng như xem xét và phê chuẩn ngân sách quốc gia và báo cáo về ngân sách quốc gia; quyết định những vấn đề về chiến tranh và hòa bình… Quốc hội còn có vai trò quan trọng trong các vấn đề quan trọng về nhân sự, bầu và lựa chọn các chức vụ: bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước, quyết định lựa chọn Thủ tướng theo đề nghị của Chủ tịch nước; quyết định lựa chọn các Phó thủ tướng, thành viên các Quốc vụ viện, các Bộ trưởng, tổng Kiểm toán trưởng, Tổng thư kí Quốc vụ viện theo đề nghị của Thủ tướng; bầu Chủ tịch Hội đồng quân sự trung ương và theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng quân sự trung ương phê chuản các thành viên của Hội đồng này; bầu Chánh án Tòa á nhân dân tối cao; bầu Tổng công tố viên trưởng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 62 Hiến pháp 1993 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) Điều 63 Hiến pháp 1993 của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng cho phép Quốc hội có thẩm quyền bãi miễn các chức vụ trên

36 Xem: Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài - Trường Đại học Luật Hà Nội, , NXB Công an nhân dân, tr 335

Trang 32

29

Theo như các quy định trên, có thể nhận thấy, Quốc hội trong hình thức nhà nước này được đặt ở vị trí tối thượng vì nó là cơ quan đại diện cao nhất của toàn thể nhân dân, vai trò của cơ quan này rộng khắp, bao phủ trên toàn bộ các lĩnh vực, qua đó, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Tuy nhiên, hiện nay, các hình thức chính thể nhà nước trên đã không còn thể hiện đúng bản chất ban đầu của mình mà đã có sự thay đổi nhất định theo hoàn cảnh Sự biến dạng của các chính thể đã dẫn đến sự đến sự thay đổi vị trí, vai trò của các cơ quan trong

bộ máy nhà nước trong đó có Nghị viện

- Đầu tiên, ở chính thể đại nghị, Chính phủ được thành lập dựa vào thành phần cơ sở của Nghị viện Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện nhưng trên thực tế, với đa số ghế trong Nghị viện, đảng cầm quyền sẽ đứng ra thành lập Chính phủ đồng thời chi phối hoạt động của Nghị viện Ở đây, sự phân chia quyền lực giữa hành pháp và lập pháp không còn theo như quy định của Hiến pháp mà thay vào đó dường như là sự phân chia giám sát giữa một đảng cầm quyền

và một đảng đối lập

Sự biến đổi như trên ở chính thể đại nghị là hậu quả từ sự hình thành của một chế độ lưỡng đảng Hệ thống lưỡng đảng này đã làm thay đổi cơ bản ý nghĩa của sự phân quyền của chế độ đại nghị, thay đổi vai trò của Nghị viện trong nhà nước Trong đời sống chính trị của những quốc gia này, hai chính đảng thường được tổ chức, hoạt động với kỉ luật chặt chẽ, đủ khả năng đảm bảo hành động thống nhất của chính đảng trong Chính phủ cũng như Quốc hội

Trong các cuộc bầu cử Hạ viện, cử tri không chỉ bầu ra người đại diện cho mình mà còn là sự lựa chọn ra chính đảng cầm quyền, lựa chọn ra Chính phủ Thủ lĩnh đảng cần quyền thông thường đương nhiên là người đứng đầu bộ máy hành pháp của nhà nước Vấn

đề tín nhiệm của Quốc hội đối với Chính phủ lúc này thực chất sẽ chuyển sang là sự tín nhiệm đối với chính đảng đang cầm quyền Trên thực tế, điều này khó xảy ra, dù đảng đối

Trang 33

30

lập có đặt vấn đề tín nhiệm thì với một kỉ luật đảng chặt chẽ, Hạ viện sẽ không bao giờ bỏ phiếu quá bán để thông qua việc này

Cũng tương tự như vậy, vấn đề giải tán Nghị viện cũng chỉ mang tính lý thuyết Khi

đa số thành viên của Chính phủ và Nghị viện cùng một đảng thì khó có sự mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp Giải tán Quốc hội hiện nay trên thực tế hầu như không còn đúng với ý nghĩa ban đầu của nó nữa, đảng cầm quyền thường lợi dụng quy định này để giả tán Quốc hội trước thời hạn, tiến hành tổng tuyển cử trước thời hạn, qua đó kéo dài sự nắm giữ quyền lực nhà nước trong tay đảng của mình

Mối tương quan giữa lập pháp và hành pháp đã biến thành mối tương quan giữa “hai

cơ quan” của một đảng cầm quyền, nhiều người còn cho rằng đây là mối quan hệ giữa Ban chấp hành trung ương (những thành viên của Chính phủ) với các đảng viên, quần chúng (những nghị sĩ trong Hạ nghị viện)37

- Hình thức chính thể đại nghị được xem là hình thức phân quyền mềm dẻo còn hình thức chính thể Cộng hòa Tổng thống là hình thức

áp dụng tuyệt đối học thuyết phân chia quyền lực nhà nước (phân quyền cứng) Theo quy định trong Hiến pháp các nước này, hành pháp

và lập pháp độc lập với nhau, hành pháp mà đứng đầu là Tổng thống không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Tổng thống không có quyền giải tán Nghị viện và Nghị viện cũng không có quyền lật đổ Tổng thống

Tuy nhiên, trên thực tế, giữa hai nhánh quyền lực này không hoàn toàn độc lập nhau, cũng như mọi sự tồn tại khác, không chỉ đơn thuần tồn tại độc lập, chúng vẫn có mối quan

hệ phụ thuộc tác động lẫn nhau Lập pháp không thể thực hiện được ý chí của mình nếu như hành pháp luôn chống đối, các quyết định lập pháp không thể được ban hành nếu Tổng thống phủ quyết Tổng thống không thể điều hành được đất nước nếu không có sự thỏa thuận, nhượng bộ với Quốc hội Muốn điều hành đất nước, Tổng thống phải cần đến pháp

37

Xem Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản , Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, , NXB Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2001, tr 138

Trang 34

31

luật, ngân sách, thuế… những phương tiện mà Quốc hội đang nắm giữ Hơn nữa, thời gian tuyển cử Quốc hội và Tổng thống được Hiến pháp quy định rất ngắn, hai năm một lần bầu lại Hạ nghị viện và 1/3 Thượng nghị viện, 4 năm bầu Tổng thống một lần, trong thời gian đương nhiệm, cả Quốc hội lẫn Tổng thống đều bị cử tri giám sát chặt chẽ Do đó, họ phải thực hiện tốt vai trò của mình để tái cử hoặc giành sự ủng hộ cho đảng phái của mình, họ không thể luôn luôn chống đối nhau

Có thể thấy, những điều này đã phần nào trái với mục đích phân quyền cứng rắn của hình thức chính thể này Giữa cơ quan lập pháp và hành pháp không hoàn toàn độc lập với nhau, chúng vẫn có sự phụ thuộc, thỏa thuận, trao đổi, chịu trách nhiệm lẫn nhau…tương

tự chế độ Nghị viện, chỉ có khác là mối liên hệ này nằm ngoài pháp luật nên tình trạng này còn được gọi dưới cái tên “đại nghị hành lang”

- Chế độ hỗn hợp vừa mang những nét đặc trưng của chế độ đại nghị, vừa mang những nét độc đáo của chế độ Tổng thống Đồng thời, chế độ hỗn hợp cũng đi kèm với những hạn chế của hai hình thức trên Việc cân bằng giữa yếu tố Tổng thống và yếu tố đại nghị, giữa Tổng thống và Nghị viện khó có thể thực hiện trên thực tế Nếu hình thức hỗn hợp được tổ chức nghiêng về yếu tố Tổng thống dễ dẫn đến tình trạng chuyên quyền, độc tài Ngược lại, sự thiên về yếu tố đại nghị lại dẫn đến sự chuyên chính của đảng cầm quyền

Nhiều nước thuộc Đông Âu cũ, Liên Xô cũ hoặc châu Phi sau những cải cách chính trị đã áp dụng chính thể này Vai trò của cơ quan lập pháp được đẩy cao hơn, song quyền lực lại rơi vào tay Tổng thống (chứ không phải quyền hành pháp giữa Tổng thống với Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu) Điều đó cho thấy các nước này tập trung quyền lực nhiều vào một người chứ không hoàn toàn cân bằng như mục đích vốn có của hình chế độ hỗn hợp

- Thêm vào đó, Nghị viện hay Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân cả nước, bảo vệ cho lợi ích của toàn dân kể cả những nhóm người thiểu số, yếu thế nhất, thế nhưng, Nghị viện các nước tư sản hầu

Trang 35

32

như do các đảng tư sản khống chế, do đó, nó phục vụ trước tiên cho lợi ích của giai cấp tư sản Có ý kiến cho rằng, chế độ Nghị viện hiện nay ngày càng thể hiện rõ nét sự khủng hoảng Quyền hạn của Nghị viện bị giảm trong tất cả các lĩnh vực làm luật, quyết định về ngân sách và kiểm tra hoạt động của Chính phủ Tại các nước xã hội chủ nghĩa, Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm trước nhân dân Hoạt động của Quốc hội các nước Việt Nam, Trung Quốc ngày càng trở nên thực quyền hơn

Tóm lại, qua sự tìm hiểu trên có thể thấy, Quốc hội – Nghị viện, hai cách gọi khác

nhau nhưng đều chỉ chung một cơ quan duy nhất là cơ quan lập pháp của quốc gia Tùy theo mỗi chính thể, mỗi điều kiện của từng nước mà Quốc hội có vị trí và vai trò khác nhau Tuy nhiên, tựu chung lại, đó vẫn là cơ quan quyền lực nhà nước, có chức năng cơ bản là lập pháp và giám sát việc thực hiện pháp luật đó, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng khác của đất nước Vị trí, vai trò của Quốc hội ở mỗi quốc gia là khác nhau nhưng đều là những cơ quan không thể thiếu của các nhà nước dân chủ ngày nay

Trang 36

33

CHƯƠNG II – HỆ THỐNG LƯỠNG VIỆN MỘT SỐ NƯỚC

TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Hệ thống lưỡng viện Anh quốc

Mô hình Quân chủ Anh quốc được coi là xuất phát điểm của mọi mô hình tổ chức nhà nước hiện nay Có thể nói rằng, mọi thể chế dân chủ đương đại đều có gốc tích từ Anh quốc, Anh quốc có thể được xem như là quê hương của các thiết chế dân chủ cổ điển và Nghị viện là một trong số đó

Quá trình hình thành hệ thống lưỡng viện Anh quốc

Dưới thời vua Giôn (1189 - 1216), mâu thuẫn giữa nhà vua và các tầng lớp cư dân trở nên vô cùng gay gắt Vua Giôn tiến hành chiến tranh với Pháp, vị vua này ra sức vơ vét tiền của giáo hội, thị dân, kỵ sĩ, nông dân để chi phí cho chiến tranh Các phong trào đấu tranh chống lại nhà vua ngày càng mạnh mẽ

Năm 1215, vua Giôn phải kí vào bản yêu sách của những người khởi nghĩa, đó là bản

“ Đại hiến chương tự do” Magna Charta nổi tiếng trong lịch sử Văn bản này có ảnh hưởng lớn đến luật hiến pháp hiện đại, nó ảnh hưởng đến thông luật và những văn bản pháp lý quan trọng như Hiến pháp Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền Mỹ và được coi là văn bảng pháp

lý quan trọng nhất trong lịch sử dân chủ Sự ra đời của nó gắn liền với việc giải quyết sự bất đồng giữu Giáo hoàng Innocent III, Vua Giôn và các quý tộc Anh về thẩm quyền của nhà Vua Đây là văn bản hạn chế một số quyền, đòi nhà vua phải tuân thủ các thủ tục pháp luật và chấp nhận rằng nhà vua cũng phải tuân thủ và bị giới hạn bởi luật pháp Văn bản 63 điều này là bản giao kèo giữa nhà vua và thần dân (quý tộc, thị dân, nông dân) nhằm hạn chế sự độc đoán của nhà vua, xác nhận quyền tự trị của các thành phố và quyền tự do đi lại buôn bán Nội dung của nó mang tính tiến bộ nhưng vua Giôn và các vua sau đó luôn tìm cách không thực hiện, nên nhiều quý tộc liên hợp với kỵ sĩ, thị dân và nông dân khởi nghĩa

Trang 37

Theo chế độ bầu cử lúc bấy giờ, bất cứ chủ sở hữu tài sản nào, không phụ thuộc vào dòng dõi, nhưng phải có chứng chỉ hiệp sĩ thì mới được ứng cử vào Hạ nghị viện Ở Anh

có 180 thành thị lớn nhỏ nhưng trên thực tế chỉ có 80 thành phố được quyền tham gia Hạ nghị viện39 Và cũng trên thực tế, các đại diện của thành phố tham gia vào Hạ nghị viện không hoàn toàn do bầu cử mà do một nhóm các quan chức hoặc giới quý tộc thành phố lựa chọn

Nghị viện Anh dù mới hình thành nhưng vẫn nắm khá nhiều quyền lực Vua không được thu các loại thuế trực tiếp hoặc gián tiếp nếu chưa được Nghị viện nhất trí Vua bị tước quyền thu thuế, việc quyết định ngân sách thuộc thẩm quyền của Nghị viện: dần dần, Nghị viện còn là hội đồng thẩm phán tối cao Nghị viện Anh lúc này chưa hoàn toàn nằm trong tay giai cấp tư sản Cơ quan đại diện đẳng cấp lúc này bảo vệ quyền lợi của những

Trang 38

35

người giàu có trong xã hội, đại diện cho lãnh chúa, kỵ sĩ và thị dân Nên người ta gọi hình thức này là chế độ Quân chủ đại diện đẳng cấp

Giai đoạn này, tầng lớp thị dân giàu có bắt đầu xuất hiện và ngày càng có thế lực kinh

tế mà vua chúa phong kiến không thể không tính đến Tầng lớp thị dân đó trở thành một tầng lớp quan trọng trong xã hội, tầng lớp này là tiến thân của giai cấp tư sản sau này, bắt đầu khao khát quyền lực nhà nước Tuy nhiên, chế độ phong kiến nước Anh thời kì này vẫn ở trạng thái phân quyền cát cứ, quyền lực của các lãnh chúa phong kiến vẫn còn rất lớn

Thế kỉ XIV, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển đã hình thành nên giai cấp tư sản40 Sự ra đời của giai cấp tư sản với tiềm lực kinh tế mạnh một phần nào đó ảnh hưởng đến quyền lợi kinh tế, đe dọa sự tồn tại của các lãnh chúa phong kiến cho nên, các lãnh chúa phong kiến thường dùng nhiều biện pháp hạn chế sự phát triển của tầng lớp thị dân Giai cấp tư sản đã tìm cách liên kết tầng lớp nông nô đứng

về phía nhà vua chống lại các lãnh chúa, các lãnh chúa nhỏ với sức ảnh hưởng và lãnh địa không lớn cũng tham gia vào cuộc đấu tranh này Sự thua cuộc của các lãnh chúa phong kiến trong cuộc đấu tranh này đã chuyển tình trạng phân quyền cát cứ ở Anh lúc này sang một hình thức mới – hình thức Quân chủ chuyên chế

Thế kỷ XVII, ở Anh nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Đầu thế kỷ XVII, Anh là nước có nền kinh tế phát triển nhất châu Âu Sản xuất công trường thủ công đã chiếm ưu thế hơn so với sản xuất phường hội Tư sản Anh giàu lên nhanh chóng nhờ sự phát triển của ngoại thương, chủ yếu là buôn bán len dạ và buôn nô lệ da đen Sự phát triển này bị chế độ phong kiến kìm hãm, do đó, một cuộc cách mạng tư sản đã bùng nổ để lật đổ quan hệ sản xuất lạc hậu,

mở đường cho lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Do sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đến thế kỷ XVII, xã hội Anh phân hóa thành những giai cấp sau:

40 Sđd, tr 133

Trang 39

36

 Giai cấp tư sản là những đại diện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ Tuy nhiên, giai cấp tư sản có thế lực kinh tế nhưng không có thế lực về chính trị, nên muốn giành lấy địa vị thống trị về chính trị Thêm vào đó, do sự phát triển của chủ nghĩa

tư bản trong nông nghiệp, một số địa chủ kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa Công nghiệp len dạ phát triển làm cho nghề nuôi cừu trở nên có lợi nhất Nhiều địa chủ vốn là quý tộc đã chuyển hướng kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa đuổi tá điền đi, biến ruộng đất thành đồng cỏ rồi thuê nhân công nuôi cừu lấy lông cung cấp cho thị trường Bộ phận quý tộc này đã giàu lên nhanh chóng, dần dần tư sản hóa trở thành tầng lớp quý tộc mới, từ đó xuất hiện trong xã hội Anh tầng lớp quí tộc mới Quí tộc mới liên minh chặt chẽ với tư sản để chống lại chế độ chuyên chế

 Tầng lớp nông dân gồm: nông dân tự do, tá điền, cố nông Nông dân Anh lao động cực khổ và phải đóng góp nhiều nghĩa vụ phong kiến nặng nề, vì vậy nông dân là lực lượng chủ yếu trong cuộc đấu tranh chống phong kiến

 Ðối lập với tầng lớp quí tộc mới là quí tộc phong kiến với nguồn sinh sống chính là địa tô và lương bổng chức vụ Chúng dựa vào nhà vua để duy trì sự bóc lột của mình Quí tộc phong kiến ra sức bảo vệ trật tự phong kiến, vì vậy, tầng lớp này trở thành đối tượng của cách mạng

Lúc này, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Anh là mâu thuẫn giữa quí tộc phong kiến với giai cấp tư sản và quí tộc mới Mâu thuẫn này thể hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa tiến bộ và quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời Chế độ phong kiến với chỗ dựa là tầng lớp quý tộc và giáo hội Anh ngày càng cản trở sự kinh doanh và làm giàu của của tư sản và quý tộc mới Charles I đặt ra nhiều thứ thuế, duy trì nhiều đặc quyền phong kiến làm cho đời sống nhân dân hết sức cơ cực Đặc điểm tình hình trên đã làm cho mâu thuẫn giữa tư sản, quý tộc mới và các thế lực phong kiến bảo thù ngày càng thêm gay gắt Đây chính là nguyên nhân sâu xa làm bùng nổ cách mạng tư sản Anh

Giữa thế kỷ XVII, Anh đặt dưới sự cai trị của Vương triều Stuart mà người đại diện là James I, rồi đến Charles I Chế độ Quân chủ chuyên chế này chuyển từ thời kỳ được sự ủng

hộ của Quốc hội dưới triều Tudor sang thời kỳ xung đột công khai với Quốc hội Vì Vua

Trang 40

37

cần tiền, Quốc hội được triệu tập liên tiếp trong những năm 1625, 1626, 1628 Trong những năm này; đã xảy ra sự xung đột giữa nhà vua và Quốc hội vì Quốc hội không chấp nhận những đề nghị của nhà vua Vua đóng cửa Quốc hội, và cai trị trong 11 năm không cần Quốc hội Năm 1640 vì cần tiền để tiến hành chiến tranh với Scotland, vua triệu tập Quốc hội, nhưng Quốc hội không thỏa mãn những đề nghị của nhà vua, mâu thuẫn giữa nhà vua và Quốc hội tiếp tục diễn ra, sự xung đột giữa phe nhà vua và phe Quốc hội làm cho tình thế cách mạng chín muồi, cách mạng tất yếu bùng nổ

Trải qua nhiều giai đoạn, cách mạng tư sản cũng đi đến thắng lợi cuối cùng, chế độ Quân chủ chuyên chế bị xóa bỏ và thay vào đó là chế độ Quân chủ lập hiến hay còn gọi là Quân chủ đại nghị Cách mạng tư sản Anh là cuộc cách mạng không triệt để Chế độ phong kiến chưa bị xóa bỏ hoàn toàn, nhà Vua vẫn còn tồn tại Lý giải điều này, có quan điểm cho rằng, thời kì đầu, cách mạng tư sản Anh không đủ sức đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ phong kiến do đó, giai cấp tư sản buộc phải chia sẻ quyền lực cho giai cấp phong kiến mà người đại diện là Hoàng đế Thêm vào đó, với bản chất hoài cổ, bảo thủ của người dân Anh, việc tồn tại của Hoàng đế sẽ tượng trưng cho một sự thống nhất, bền vững quốc giai Việc tồn tại của nhà Vua cũng giúp giai cấp tư sản ngăn ngừa phong trào cách mạng quần chúng do chính phong trào cách mạng tư sản dựng lên Nhiều học giả cho rằng đây là mong muốn của giai cấp tư sản, họ muốn giai cấp thống trị cũ thích ứng với phương thức cai trị mới Và để hạn chế quyền lực có thể về tay nhà Vua một lần nữa, Nghị viện ra đời Nghị viện là biểu hiện dân chủ của vương quốc Anh, nắm quyền lực nhà nước, giành lấy quyền lập pháp và quyết định vấn đề ngân sách thuế khóa từ tay nhà vua Theo thời gian, Nghị viện còn có chức năng giám sát bộ máy nhà nước Chính vì quyền hạn to lớn của Nghị viện đã biến hình thức Quân chủ lập hiến ở Anh còn một tên gọi khác là Quân chủ đại

nghị GS.TS Nguyễn Văn Huyên cũng cho rằng: “Chính Nghị viện chứ không phải Vua hay tòa án hoặc bát kì thể chế nào khác có quyền lực tối cao trong hệ thống chính trị Anh”41

41

Nguyễn Văn Huyên, Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ, NXB Lý luận chính trị, 2007, tr 19

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Cảnh Bình (dịch và giới thiệu), Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào?, NXB Thế giới, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào
Nhà XB: NXB Thế giới
2. Lê Văn Cảm, Học thuyết về nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga, NXB “ Sáng tạo”, Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tại Liên Bang Nga,1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết về nhà nước pháp quyền và thực tiễn của nó ở Liên bang Nga", NXB “ Sáng tạo
Nhà XB: NXB “ Sáng tạo”
3. Nguyễn Đăng Dung - Bùi Xuân Đức, Luật Hiến pháp của các nước tư bản, NXB Trường đại học tổng hợp Hà Nội - Khoa Luật, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hiến pháp của các nước tư bản
Nhà XB: NXB Trường đại học tổng hợp Hà Nội - Khoa Luật
4. Nguyễn Đăng Dung, Tìm hiểu về nhà nước và pháp luật – Luật Hiến pháp nước ngoài, NXB Đồng Nai, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về nhà nước và pháp luật – Luật Hiến pháp nước ngoài
Nhà XB: NXB Đồng Nai
5. Nguyễn Đăng Dung - Nguyễn Chu Dương, Lược giải tổ chức bộ máy nhà nước các quốc gia, NXB Tư pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược giải tổ chức bộ máy nhà nước các quốc gia
Nhà XB: NXB Tư pháp
6. Nguyễn Đăng Dung, Chế ước quyền lực nhà nước, NXB Đà Nẵng, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế ước quyền lực nhà nước
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
7. Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước là những con số cộng giản đơn, NXB Lao động, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước là những con số cộng giản đơn
Nhà XB: NXB Lao động
8. Nguyễn Đăng Dung - Trương Đắc Linh - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang - Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
9. Trần Ngọc Đường (Chủ biên), Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. Trần Ngọc Đường – Ngô Đức Mạnh, Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
11. Nguyễn Văn Huyên, Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ, NXB Lý luận chính trị, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị Anh, Pháp, Mỹ
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
12. Phan Trọng Hòa - Lê Quốc Hùng, Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, NXB Văn hóa thông tin, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
13. Phan Trung Lý, Quốc hội Việt Nam - Tổ chức hoạt động và đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội Việt Nam - Tổ chức hoạt động và đổi mới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
14. Phạm Quang Minh, Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới, NXB Chính trị - Hành chính, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thể chế chính trị thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
15. Bùi Ngọc Sơn, Thể chế chính trị, NXB Lý luận chính trị, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
16. Bùi Ngọc Sơn, Những góc nhìn lập pháp, NXB Chính trị quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những góc nhìn lập pháp
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
17. Thang Văn Phúc – Nguyễn Đăng Thành, Một số lý thuyết và kinh nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lý thuyết và kinh nghiệm tổ chức nhà nước trên thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
18. Tô Huy Rứa (Chủ biên), Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị một số nước trên thế giới
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
19. Thái Vĩnh Thắng, Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại - lý luận và thực tiễn, NXB Tư pháp Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật tư sản đương đại - lý luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Tư pháp Hà Nội
39. Website Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/vi/index.html 40. Website Bộ Ngoại giao Anh http://ukinvietnam.fco.gov.uk 41. Website Chính phủ Việt Nam http://www.chinhphu.vn 42. Website Quốc hội Việt Nam http://www.na.gov.vn Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w