Theo đó, WB định nghĩa khái niệm “hưu trí nghề nghiệp” như sau: “Chế độ hưu trí nhận được sự hỗ trợ từ chủ sử dụng lao động trong quá trình tham gia đóng góp của người lao động vào Quỹ
Trang 1KHOA LUẬT DÂN SỰ - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG TRONG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ THU HÀ KHÓA: 37 – NIÊN KHÓA: 2012 - 2016
MSSV: 1253801010081 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TH.S ĐINH THỊ CHIẾN
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 07/2016
Trang 2trong pháp luật Việt Nam” là kết quả nguyên cứu của riêng tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Đinh Thị Chiến – Giảng Viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
về lời cam đoan này
TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 3bảo hiểm hưu trí bổ sung trong pháp luật Việt Nam” là một đề tài luận văn còn mới
mẻ trong lĩnh vực pháp luật bảo hiểm xã hội, do sự hạn chế về tài liệu nghiên cứu cả
về mặt lý luận và thực tiễn nên tác giả gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ rất nhiều phía từ Quý thầy cô; các bác, các anh, chị công tác trong nhiều lĩnh vực và bạn bè sinh viên để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, một điểm nhấn rất quan trọng trong cuộc đời sự nghiệp của tác giả
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến toàn thể Quý thầy
cô Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Quý thầy cô Khoa Luật Dân sự
đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Tác giả xin gửi lời cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất, sự tri ân sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Đinh Thị Chiến – Giảng viên Khoa Luật Dân sự, cảm ơn cô đã nhiệt tình hướng dẫn, định hướng tác giả nghiên cứu đề tài để thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Và đồng kính gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến:
- Tập thể các anh/chị nhân viên Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tân, Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế;
- Tiến sĩ Lê Bạch Dương – Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc;
- Thạc sĩ Trần Dũng Hà – Trưởng Phòng Chế độ Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thạc sĩ Phạm Ngọc Toàn, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin, Phân tích
và Dự báo chiến lược thuộc Viện Khoa học lao động và xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội;
- Bạn bè sinh viên thực tập tại Tòa án nhân dân Quận 4 – Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát Thành phố Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai, Viện kiểm sát Quận Hải Châu - Thành phố Đà Nẵng;
Trang 4trình thực hiện, hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Với vốn kiến thức khoa học pháp lý còn hạn chế trong nền tri thức đồ sộ, đa dạng của nhân loại nên trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình chân thành của tất cả mọi người Đó sẽ là hành trang quý giá giúp tác giả hoàn thiện hơn nữa những nền tảng kiến thức pháp lý sau này
Xin chân thành cảm ơn!
TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5STT CHỮ VIẾT TẮT NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT
3 Bộ LĐTB và XH Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
(Global Retirement Index)
(International Labour Organization)
7 NGAM Tổ chức quản lý tài sản toàn cầu
(Natixis Global Asset Management)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Châu
Âu (Organization for Economic Cooperation and Development)
10
Nghị quyết số
21-NQ/TW
Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020
11 Nghị định số
30/2016/NĐ-CP
Nghị định số 30/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
Trang 6hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện
14 Thông tư số
150/2015/TT-BTC
Thông tư số 150/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 25/08/2015 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 115/2013/TT-BTC ngày 20/08/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện
15 tr
p
trang
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1/ KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG 5
1.1/ Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 5
1.1.1/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung 5
1.1.1.1/ Một số khái niệm liên quan 5
1.1.1.2/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung 7
1.1.2/ Đặc điểm của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 9
1.1.2.1/ Đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động hoặc chỉ riêng người lao động 9
1.1.2.2/ Nguồn hình thành dựa trên sự đóng góp của riêng người lao động hoặc dựa trên sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động 11
1.1.2.3/ Tài khoản đóng góp của cá nhân tham gia được các tổ chức quản lý quỹ quản lý dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân 11
1.1.2.4/ Được Nhà nước ưu đãi về thuế 12
1.1.2.5/ Mục đích của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là nhằm “bổ sung” cho chế độ hưu trí bắt buộc 13
1.1.3/ Vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 14
1.1.3.1/ Đối với người lao động 14
1.1.3.1/ Đối với người sử dụng lao động 14
1.1.3.1/ Đối với Nhà nước 15
1.1.4/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 16
1.1.4.1/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới 16
1.1.4.1/ Lịch sử hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam
18
Trang 81.2/ Kinh nghiệm áp dụng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung của một số nước
22
1.2.1/ Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ 22
1.2.1.1/ Chương trình hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ 23
1.2.1.2/ Chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân của Thụy Sĩ 35
1.2.2/ Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Đan Mạch 39
1.2.2.1/ Trợ cấp hưu trí bổ sung ATP, SP 41
1.2.2.2/ Chương trình hưu trí công cộng 44
1.2.2.3/ Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân tại Đan Mạch 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47
Chương 2/ THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG Ở VIỆT NAM - MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG TẠI VIỆT NAM 48
2.1/ Thực trạng chế độ hưu trí bổ sung ở Việt Nam 48
2.1.1/ Thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 48
2.1.1.1/ Mục tiêu của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là các biện pháp tài chính bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc 48
2.1.1.2/ Đối tượng, hình thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung 49
2.1.1.3/ Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung 50
2.1.1.4/ Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 52
2.1.1.5/ Mức hưởng hưu trí bổ sung 53
2.1.1.6/ Chính sách ưu đãi thuế 53
2.1.2/ Thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tự phát tại Việt Nam 54
2.1.2.1/ Thực trạng tại Công ty Dutch Lady Việt Nam 54
2.1.2.2/ Thực trạng tại Công ty Unilever Việt Nam 56
2.2/ Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam 58
2.2.1/ Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 58
Trang 92.2.2/ Điều kiện hưởng hưu trí bổ sung 59
2.2.3/ Vấn đề chi trả lương hưu bổ sung 62
2.2.4/ Cách thức xử lý lương hưu bổ sung trong trường hợp rủi ro suy giảm khả năng lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chết 62
2.2.5/ Quản lý Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung 64
2.2.6/ Các hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung 66
2.2.7/ Các chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước đối với bảo hiểm hưu trí bổ sung 67
2.2.8/ Các kiến nghị khác 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 70
KẾT LUẬN 71
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH) có nguy cơ bị vỡ trong tương lai Đó là thông tin vừa được BHXH Việt Nam đưa ra trong Hội nghị cung cấp thông tin định kỳ quý về BHXH, Bảo hiểm y tế Quý II năm 2014 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 12/05/2014 Cũng theo thông tin từ hội nghị này, Quỹ hưu trí có nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần do mức đóng chưa tương xứng với mức hưởng, tỷ trọng giữa số tiền chi trả chế
độ so với số thu từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động hằng năm
có xu hướng tăng nhanh Bên cạnh đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) đã nêu rõ chủ trương của Đảng cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với các chính sách, công tác BHXH giai đoạn từ năm 2012 định hướng đến năm 2020 Từ tinh thần đó, mới đây nhất, Quốc Hội đã thông qua Luật BHXH năm 2014 tại kỳ họp lần thứ 08 diễn ra vào ngày 20/11/2014 và Luật này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016 Luật BHXH năm 2014 đã đưa ra rất nhiều quy định mới đối với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện như: Mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, tăng tuổi hưởng lương hưu đối với nhóm lao động bị suy giảm khả năng lao động, thay đổi cách tính mức lương hưu được hưởng khác hẳn so với trước đây v.v và điều đó đồng nghĩa với việc nhiều người lao động trong tương lai sẽ phải nhận mức lương hưu thấp hơn so với quy định hiện nay Bên cạnh các quy định mới, điểm đáng lưu ý trong Luật BHXH năm 2014 là lần đầu tiên Quốc Hội đã bổ sung vào Luật BHXH “chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung”, phù hợp với
tinh thần định hướng của Nghị quyết số 21-NQ/TW về việc: “Áp dụng thêm các loại
BHXH mới phù hợp với nhu cầu của nhân dân Thí điểm chính sách bảo hiểm hưu trí
bổ sung” Đây được xem là mảnh ghép vô cũng mới mẻ trong toàn cảnh bức tranh
BHXH ở Việt Nam hiện nay
Sau khi Luật BHXH được Quốc hội thông qua, trên nhiều diễn đàn, phần lớn các chuyên gia trong lĩnh vực BHXH cũng như người lao động Việt Nam hiện đang xôn xao bày tỏ sự quan ngại của mình về chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước trong việc bổ sung thêm quy định về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung để tăng
Trang 11mức lương hưu cho các đối tượng lao động đang tham gia BHXH bắt buộc, cũng như tránh nguy cơ vỡ Quỹ BHXH trong tương lai gần như dự báo Phần lớn các ý kiến cho rằng: việc thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trong bối cảnh Việt Nam hiện nay là rất khó khăn, hay nếu thực hiện vẫn chỉ mang tính hình thức chứ không thể như đúng bản chất của chế độ Rất nhiều người lao động không khỏi lo lắng không chỉ cho quyền lợi của riêng mình về tương lai sau này khi hết tuổi lao động mà còn liên quan đến toàn cảnh bức tranh chung về thị trường lao động và vấn đề ổn định an sinh xã hội (ASXH) của Việt Nam hiện nay
Lựa chọn nghiên cứu về đề tài “Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trong pháp luật Việt Nam”, tác giả mong muốn khẳng định hơn nữa tầm quan trọng của các
chính sách BHXH nói chung, cũng như chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung nói riêng trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình già hóa dân số và sự chuyển dịch mạnh
mẽ của nền kinh tế thị trường trong từng khu vực cũng như trên toàn thế giới Từ đó, thực hiện việc xem xét, đánh giá và đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam
Từ tất cả những phân tích trên, đây là lý do để tác giả lựa chọn vấn đề “Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trong pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho
khóa luận tốt nghiệp cử nhân của mình
2/ Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ASXH ở nước ta hiện nay nói chung cũng như vấn đề BHXH nói riêng
là một vấn đề luôn thu hút đông đảo sự chú ý, quan tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính – bảo hiểm Tuy nhiên, theo tìm hiểu của tác giả thì hiện nay chưa có bất kì luận văn cử nhân, thạc sĩ hay công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về “chế
độ bảo hiểm hưu trí bổ sung” Một số bài viết trên các sách chuyên khảo, tạp chí khoa học có đề cập gián tiếp đến chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung đáng quan tâm như sau:
Trần Hoàng Hải, Lê Thị Thúy Hương, (2011), “Pháp luật an sinh xã hội -
Kinh nghiệm của mội số nước đối với Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật,
Hà Nội
Trang 12 Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn, Nguyễn Bích
Ngọc, Đặng Hà Thu, (2013), “Phát triển hệ thống ASXH ở việt nam đến năm 2020”,
NXB GIZ, Hà Nội
Bùi Sỹ Lợi, (2013),“Cần sớm triển khai thí điểm thực hiện chính sách bảo
hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính – Bảo hiểm, số 03 năm 2014
Nguyễn Hiền Phương, (2008), “Về các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp
luật BHXH”, Tạp chí Luật học, số 06 năm 2008
Nguyễn Thị Hải Đường, (2016), “Nền tảng cơ bản nhất trong hệ thống hưu
trí đa tầng”, Tạp chí BHXH, số 02 tháng 03/2016
Phạm Thị Hồng Điệp, (2014), “Mô hình nhà nước phúc lợi kiểu Đông Á và
những gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, tập
3/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm làm sáng tỏ bản chất của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được quy định trong Luật BHXH năm 2014; tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung cần được áp dụng tại Việt Nam trong lộ trình dài sắp tới
4/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Các vấn đề lý luận của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
Quy định pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung của một số quốc gia trên thế giới như: Thụy Sĩ, Đan Mạch
Các quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
Trang 13 Các kiến nghị cần thiết để hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam
5/ Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luôn dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra còn áp dụng một số phương pháp cụ thể khác như:
Phương pháp phân tích, quy nạp: được sử dụng khi phân tích các vấn đề lý luận pháp lý, các quan điểm, ý kiến trong quá trình nghiên cứu
Phương pháp phân tích, thống kê: áp dụng khi phân tích các số liệu thống kê của Tổ chức lao động thế giới (ILO), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổng cục Thống kê (TCTK), Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTB và XH), Cơ quan BHXH Việt Nam
Phương pháp so sánh luật sử dụng khi tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài
6/ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, luận văn có ý nghĩa tham khảo đối với cá nhân nghiên cứu về các vấn đề lý luận và những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
Về mặt thực tiễn, luận văn có ý nghĩa tham khảo trong việc triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam
7/ Kết cấu tổng quát của khóa luận
Bên cạnh Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được cấu trúc thành hai chương bao gồm:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm hưu trí bổ sung
Chương 2: Thực trạng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam – Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam
Trang 14Chương 1/ KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BỔ SUNG 1.1/ Một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.1/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.1.1/ Một số khái niệm liên quan
Để có cái nhìn toàn diện về khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung”, trước hết cần tìm hiểu các khái niệm liên quan trực tiếp đến nội hàm bảo hiểm hưu trí bổ sung, đó là các khái niệm “bảo hiểm hưu trí”, “hưu trí nghề nghiệp” và “hưu trí tiết kiệm cá nhân”
Bảo hiểm hưu trí
Theo quan điểm của WB đề cập khái niệm “bảo hiểm hưu trí” thông qua việc
xây dựng mô hình hưu trí đa trụ cột như sau: “Bảo hiểm hưu trí là chế độ cung cấp sự
bảo vệ đầy đủ cho tuổi già và có sự phân bố thường xuyên các lợi ích tuổi già, xác định trên ba chức năng tuần hoàn là phân phối, tiết kiệm và bảo hiểm” 1 Bên cạnh đó,
dưới góc độ nhìn nhận của ILO với các khái niệm ASXH2, khái niệm BHXH3 thì khái
niệm “bảo hiểm hưu trí” được nêu rõ: Bảo hiểm hưu trí là “Chế độ cung cấp các lợi
ích cho các thành viên trong tuổi già, dựa trên quá trình làm việc hoặc đóng góp” 4 Theo đó, cách nhìn nhận của ILO cho thấy chế độ “bảo hiểm hưu trí” trong hệ thống BHXH là chế độ cung cấp cho người lao động các lợi ích tuổi già nhằm tránh khỏi những rủi ro của tuổi già như đói nghèo, bệnh tật và cái chết khi hết tuổi lao động Do
đó, theo cách nhìn nhận của WB và ILO các chính sách về bảo hiểm hưu trí dù được vận hành theo từng cơ chế khác nhau ở từng quốc gia khác nhau nhưng vẫn phải đảm
1 WB, (1994), “Averting the old age crisis: policies to protect the old and promote growth”, Washington DC, World Bank Publication, p xiii
2Theo ILO, (1984), “Introduction to Social Security”, 3rd edition 1984, Geneva An sinh xã hội
là “sự bảo vệ mà toàn xã hội có nghĩa vụ cung cấp cho các thành viên trong xã hội đó thông qua
một loạt các chính sách công cộng nhằm chống lại sự khó khăn của nền kinh tế và xã hội do bị ngừng trệ hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi các vấn đề như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và cái chết; đồng thời cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế và các khoản trợ cấp cho các gia đình đông con”
3ILO, (1984), tlđd Bảo hiểm xã hội là “các khoản trợ cấp đến từ xã hội, được tài trợ bởi các
khoản đóng góp trong xã hội, bắt buộc đối với người lao động có thu nhập dù là lao động phổ thông hay lao động trí óc, người già hay trẻ em, nam hay nữ”
4 ILO, (1984), “Introduction to Social Security”, 3rd edition 1984, Geneva
0-1l 11-en-50 -20-about -00-0-1-00-0 4 0-0-11-10-0utfZz-8-
http://www.nzdl.org/gsdlmod?e=d-00000-00 -off-0cdl 00-0 0-10-0 -0 -0direct-10 -4 -00&a=d&c=cdl&cl=CL1.204&d=HASH01b2aaf82c303018424f01a9.9.1
Trang 15bảo các tiêu chuẩn sống, nhu cầu sống đầy đủ cho người già, giúp họ tránh khỏi sự đói nghèo, bệnh tật và cái chết của tuổi già
Hưu trí nghề nghiệp
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hướng đến quá trình xây dựng
mô hình hưu trí đa trụ cột theo định hướng của WB, bao gồm ba trụ cột chính: Chương trình hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý (Mandatory publicly managed pension plans), chương trình hưu trí nghề nghiệp (Occupational pension plans), chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân (Personal saving pension plans) Theo đó, WB định nghĩa
khái niệm “hưu trí nghề nghiệp” như sau: “Chế độ hưu trí nhận được sự hỗ trợ từ chủ
sử dụng lao động trong quá trình tham gia đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp, Quỹ được vận hành dưới hình thức tham gia tự nguyện hoặc bắt buộc tùy thuộc từng Quốc gia, và đóng góp theo mức hưởng xác định hoặc mức đóng xác định, nguồn Quỹ có thể nhận được hỗ trợ tài chính từng mức độ từ Chính phủ của các nước phát triển hoặc các nước đang phát triển”.5 Nhìn chung, các quốc gia phát triển
ở khu vực Châu Âu như Thụy Sĩ, Đan Mạch, Phần Lan… đều đưa ra khái niệm “hưu
trí nghề nghiệp” dựa trên nội hàm như sau: “Chế độ hưu trí kết hợp với chế độ hưu trí
bắt buộc để đảm bảo và duy trì một mức sống đầy đủ trên mức sống tối thiểu cho người già trong những điều kiện sống thích hợp nhất” Ở các nước phát triển, chế độ
hưu trí nghề nghiệp có thể áp dụng hình thức tham gia bắt buộc như tại Úc, Thụy Sĩ, Thụy Điển hoặc bán bắt buộc dựa trên kết quả thỏa ước lao động tập thể tại Đan Mạch Đối với các quốc gia đang phát triển, chế độ hưu trí nghề nghiệp chủ yếu được vận hành dựa trên ý chí tham gia tự nguyện của người lao động Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý đối với chế độ hưu trí nghề nghiệp được áp dụng ở hầu hết các quốc gia là chế độ này không chỉ cung cấp đến người lao động các lợi ích hưu trí của tuổi già thông qua quá trình đóng góp, mà nó còn hỗ trợ đến người lao động những lợi ích bổ sung khi gặp rủi ro thương tật, chết trong quá trình tham gia đóng góp vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp
Hưu trí tiết kiệm cá nhân
Theo WB, đó là: “Trụ cột hưu trí thứ ba trong mô hình hưu trí đa trụ cột nhằm
cung cấp sự bảo vệ bổ sung đối với thu nhập và bảo hiểm tuổi già cho người lao động
5 The World Bank, (1994), tlđd, p 97
Trang 16khi nghỉ hưu”.6 Trong khi đó với Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Châu Âu(OECD), bên cạnh trụ cột “hưu trí bắt buộc” nhằm cung cấp và duy trì một mức sống tối thiểu cho các cá nhân trong xã hội khi đến tuổi nghỉ hưu nhằm đẩy lùi sự nghèo đói của tuổi già thì khái niệm “hưu trí tiết kiệm cá nhân” tồn tại ở trụ cột hưu trí thứ ba
được xem là: “sự mở rộng việc cung cấp các cơ hội tài chính nhằm tạo nên một mức
sống sung túc cho người già”.7 Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân dưới hình thức tham gia tự nguyện, nhằm cung cấp đến người lao động những lợi ích đa dạng trong quá trình thụ hưởng, cho phép từng cá nhân thụ hưởng có cơ hội được hưởng nhiều chế độ cao hơn khi đến tuổi nghỉ hưu như: mua xe, đầu tư bất động sản hoặc đầu tư một hoạt động kinh doanh mới Chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân luôn hỗ trợ người lao động trong việc tích lũy thêm vốn hưu trí với những ưu đãi thuế trong suốt quá trình đóng góp
1.1.1.2/ Khái niệm bảo hiểm hưu trí bổ sung
Thuật ngữ “bảo hiểm hưu trí bổ sung” xuất hiện trong khoa học pháp lý Việt Nam vào thời điểm dự thảo Luật BHXH năm 2006 và chính thức được quy định trong Luật BHXH năm 2014 Đồng thời, xuất phát từ mục tiêu nhằm tìm ra các giải pháp để đảm bảo cuộc sống hưu trí tốt hơn cho những người hưởng lương hưu nên trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết về chế độ hưu trí bổ sung Cụ thể, khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung” được định nghĩa như sau:
“Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm mục đích chính hỗ trợ cho chế độ trợ cấp hưu trí bắt buộc nhằm đảm bảo thu nhập cao hơn cho người về hưu”.8
“Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách BHXH tự nguyện nhằm mục đích bổ sung cho bảo hiểm hưu trí cơ bản, có sự giám sát của Nhà nước bằng pháp luật”9 và
“tạo cơ hội cho những người lao động có điều kiện, mức thu nhập cao hơn sẽ tích lũy
an sinh nhiều hơn, có mức sống tốt hơn khi hết tuổi lao động”.10
6 The World Bank, (1994), tlđd, p 16
7 European Parliament, (2014), "Pension schemes”, p 16
8 Nguyễn Hiền Phương, (2008), “Về các giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật BHXH”, Tạp chí Luật học (Đại học Luật Hà Nội), số 06/2008, tr 37
9 Bùi Sỹ Lợi (2013) ,“Cần sớm triển khai thí điểm thực hiện chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Việt Nam”, Tạp chí Tài chính – bảo hiểm, số 03/2013, tr 18
10 Bùi Sỹ Lợi, (2014), “Những quan điểm lớn và sự cần thiết sửa đổi luật bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (Viện nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội), số 07/2014, tr 23
Trang 17Cả hai định nghĩa nêu trên đều thống nhất ở nội hàm về mục đích của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc Định nghĩa thứ hai có thêm dấu hiệu tự nguyện tham gia và có sự giám sát của Nhà nước bằng pháp luật
Về mặt pháp lý, khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung” lần đầu tiên được quy
định trong Luật BHXH năm 2014 như sau: “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách
BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật”.11 Theo khái niệm này, mục
tiêu chính của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là “bổ sung cho chế độ hưu trí trong
BHXH bắt buộc” Việc thiết lập mục tiêu này phù hợp thách thức chung của thế giới
khi Việt Nam phải đối mặt với quá trình già hóa dân số và sự tác động trong chuyển dịch kinh tế ở từng khu vực và trên toàn thế giới.12
Đồng thời, khái niệm này cho thấy quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được hình thành dựa trên sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, được Nhà nước ưu đãi về các chính sách thuế Hiện nay, mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp so với khu vực Châu Á nói chung và khu vực Asean nói riêng.13
Do đó, với mục tiêu của những chính sách ưu đãi này sẽ thu hút, khuyến khích lực lượng lao động có thu nhập thấp và trung bình trong xã hội tích cực tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung Đồng thời, việc đưa ra những quy định như trên phù hợp xu thế chung của thế giới, khi các quốc gia luôn cung cấp những khoản ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người sử dụng lao động Tuy nhiên, đối với từng quốc gia các khoản ưu đãi về thuế có thể áp dụng khác nhau ở từng giai đoạn khác nhau như: ưu đãi thuế trong giai đoạn đóng góp,
ưu đãi thuế trong giai đoạn chi trả hoặc ưu đãi thuế đối với các khoản lãi suất từ tài khoản đóng góp của người lao động
11 Khoản 7 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
12 Xem Phụ lục 3: Quá trình già hóa dân số trên thế giới, khu vực Asean nói chung và Việt Nam nói riêng
13 Xem Phụ lục 4: Mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với khu vực Châu Á và ASEAN
Trang 18Như vậy, có thể nói thuật ngữ “bảo hiểm hưu trí bổ sung” ở Việt Nam được xây dựng theo mục đích của chế độ bảo hiểm này Thực chất, đây là một trong những trụ cột của chế độ hưu trí đa trụ cột được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới
Trong mô hình hưu trí đa trụ cột do WB và OECD xây dựng thì chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân chính là các chế độ bảo hiểm hưu trí
bổ sung tồn tại song song nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản
lý Thông qua quá trình vận hành chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân sẽ giúp các quốc gia đẩy lùi sự đói nghèo, sự thiếu hụt thu nhập của tuổi già, cung cấp đến người lao động những giá trị lợi ích hưu trí và đảm bảo cả những rủi
ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp Như vậy, khái niệm “bảo hiểm hưu trí bổ sung” dưới góc độ nhìn nhận của WB, OECD và hầu hết các quốc gia trên thế giới là:
sự bổ sung cho những biện pháp tài chính của chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý, đảm bảo việc cung cấp lương hưu bổ sung và các khoản lợi ích đầy đủ khác cho người lao động trong suốt quá trình thụ hưởng Đó là sự chi trả lương hưu bổ
sung sau quá trình lao động và các khoản lợi ích khác khi người lao động gặp rủi ro thương tật, chết trong quá trình tham gia đóng góp vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp và Quỹ hưu trí tiết kiệm cá nhân
Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến lương hưu bổ sung chi trả cho người lao động sau quá trình đóng góp Trong khi đó, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới được hiểu bao gồm sự chi trả lương hưu bổ sung và các khoản lợi ích khác khi gặp rủi ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp của người lao động Do đó, trong giai đoạn đầu chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được triển khai tại Việt Nam chỉ cung cấp đến người lao động những lợi ích hưu trí khi đến tuổi nghỉ hưu, mà vẫn chưa có phạm vi bao phủ toàn diện đối với các lợi ích thương tật, chết khi người lao động gặp rủi ro trong quá trình tham gia chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.2/ Đặc điểm của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.2.1/ Đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động hoặc chỉ riêng người lao động
Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới là sự bao phủ cả hai chế độ hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân Thứ nhất, đối với chế độ hưu trí nghề nghiệp, Nhà nước luôn quy định sự tham gia đóng góp của người lao động và trách
Trang 19nhiệm hỗ trợ đóng góp từ phía người sử dụng lao động Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định quá trình đóng góp này luôn bắt buộc phải có sự tham gia của cả hai chủ thể là người lao động và người sử dụng lao động Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý, đối với một số nước tiêu biểu như Đan Mạch lại quy định sự tham gia của người lao động và người sử dụng lao động có thể là hình thức “bán bắt buộc” Nghĩa là, đối với chế độ hưu trí nghề nghiệp người sử dụng lao động không có nghĩa vụ phải tham gia,
đó là quyền của người sử dụng lao động Trong trường hợp, người sử dụng lao động không tham gia chế độ hưu trí nghề nghiệp nhưng người lao động muốn tham gia thì người lao động thông báo nguyện vọng của mình thông qua quá trình thương lượng với người sử dụng lao động Nhà nước Đan Mạch không yêu cầu sự tham gia bắt buộc của người sử dụng lao động nhưng quy định ràng buộc trong trường hợp: Có yêu cầu của người lao động về việc tham gia chế độ hưu trí nghề nghiệp thì người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia và tạo mọi điều kiện hỗ trợ quá trình tham gia đóng góp của người lao động vào chế độ hưu trí nghề nghiệp Đó là lý do chế độ hưu trí này được vận hành ở Đan Mạch dưới hình thức tham gia “bán bắt buộc”
Thứ hai, đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân, đối tượng tham gia là người lao động và quá trình đóng góp dựa trên ý chí tự nguyện của người lao động, không có
sự tham gia và hỗ trợ trách nhiệm đóng góp từ phía người sử dụng lao động Bởi lẽ, việc tham gia chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân xuất phát từ nhu cầu thụ hưởng cao của từng cá nhân trong xã hội như đảm bảo mức tiêu chuẩn sống sung túc, mua xe, đầu tư bất động sản hoặc đầu tư kinh doanh sau khi nghỉ hưu Và không phải bất kì người lao động nào trong xã hội cũng đòi hỏi và có đầy đủ các điều kiện tài chính để tạo lập nên những nhu cầu thụ hưởng cao Vì vậy, Nhà nước không thể áp đặt quyền lực của mình
để bắt buộc người lao động phải tham gia chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân, mà các quy định của pháp luật khi điều chỉnh chế độ này chỉ dừng lại ở phạm vi khuyến khích người lao động tích cực tham gia đóng góp, còn quyền tự quyết có tham gia hay không
là phụ thuộc ý chí của người lao động và ý chí đó cần được Nhà nước tôn trọng
Ở Việt Nam, trong giai đoạn triển khai chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung đến năm 2020 đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động đang tham gia BHXH bắt buộc, Nhà nước khuyến khích quá trình tham gia đóng góp dựa trên ý chí tự nguyện của mỗi cá nhân Tiếp đó, giai đoạn sau năm 2020 Nhà nước
Trang 20tiến hành chuyển đổi hình thức tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung từ tự nguyện sang bắt buộc
1.1.2.2/ Nguồn hình thành dựa trên sự đóng góp của riêng người lao động hoặc dựa trên sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động
Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được thực hiện trên thế giới bao gồm hai chế
độ hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tiết kiệm cá nhân Trong đó, chế độ hưu trí nghề nghiệp được hình thành dựa trên quá trình đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, nhằm thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động Trách nhiệm hỗ trợ đó có thể dựa trên mức đóng góp 1/2 hoặc 2/3 của người sử dụng lao động trên tổng các khoản đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp Các mức hỗ trợ trách nhiệm đóng góp của người sử dụng lao động được quy định cụ thể tùy thuộc vào pháp luật từng quốc gia, nhưng tối thiểu không thấp hơn mức đóng góp của người lao động vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp
Trong khi đó, chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khác biệt với chế độ hưu trí bắt buộc và chế độ hưu trí nghề nghiệp khi không thể hiện ý chí áp đặt của Nhà nước thông qua quy định bắt buộc sự tham gia đóng góp của cả người sử dụng lao động và người lao động khi họ rơi vào các trường hợp pháp luật quy định Do đó, chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân được vận hành dựa trên ý chí tham gia tự nguyện của người lao động Các tài khoản đóng góp cá nhân chỉ do người lao động thực hiện, không có sự
hỗ trợ trách nhiệm từ phía người sử dụng lao động Vì vậy, trong quá trình tham gia, người lao động được tự do quyết định mức đóng, thời gian đóng, mức lãi suất và những lợi ích ưu đãi khác mà họ mong muốn nhận được sau quá trình đóng góp Chính yếu tố tự nguyện này sẽ giúp chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân mở rộng phạm vi ảnh hưởng và tầm bao phủ đối với hầu hết lực lượng lao động trong xã hội, khi họ mong muốn đạt được một kế hoạch nghỉ hưu đầy đủ với các nguồn tài chính dồi dào
1.1.2.3/ Tài khoản đóng góp của cá nhân tham gia được các tổ chức quản lý quỹ quản lý dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân
Sự khác biệt so với chế độ hưu trí bắt buộc là các khoản đóng góp của người lao động đều thuộc sự quản lý của các tổ chức quản lý quỹ (thường là các công ty bảo hiểm – tài chính, quỹ đầu tư hoặc ngân hàng…), chứ không thuộc sự quản lý trực tiếp
từ cơ quan BHXH của Nhà nước Do đó, việc quản lý Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung là độc lập và riêng biệt đối với Quỹ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý nhằm tạo điều
Trang 21kiện cho các tổ chức quản lý quỹ có thêm cơ hội đầu tư sinh lời trên vốn đóng góp của người lao động Đồng thời, người lao động có thêm cơ hội tài chính khi hưởng mức lãi suất ưu đãi trên tài khoản tiết kiệm hưu trí mà mình đóng góp Ngoài ra, khi người lao động tham gia đóng góp đều được tạo lập một tài khoản tiết kiệm hưu trí cá nhân, các khoản đóng góp sẽ được tích lũy, lưu trữ trong tài khoản tiết kiệm này nhằm cho phép người lao động theo dõi quá trình đóng góp, cập nhật các mức lãi suất trên tài khoản đóng góp cũng như nắm rõ các rủi ro tài chính được đầu tư từ tài khoản tiết kiệm hưu trí của chính mình Bên cạnh đó, hầu hết các tổ chức quản lý quỹ ở hầu hết quốc gia đều thiết lập một công cụ tính toán trên ứng dụng máy tính công cộng ở trụ sở hoặc trên website của tổ chức (thay thế công cụ tính toán thủ công) nhằm giúp người lao động tự tính toán mức hưởng hưu trí bổ sung trong nhiều trường hợp phức tạp và nhiều tình huống giả định khác nhau Qua đó, giúp người lao động tự đánh giá và có cái nhìn tối ưu hóa về tình hình tài chính hưu trí của bản thân Những dữ liệu tính toán này không lưu trữ sau khi được sử dụng, quá trình tính toán mang tính vô danh, việc
kê khai các thông tin cá nhân khi tính toán chỉ riêng mỗi cá nhân biết Do đó, việc tính toán các số liệu hưu trí bổ sung và theo dõi quá trình đóng góp của mỗi cá nhân luôn tạo sự an tâm cho người sử dụng Đó chính là thách thức chung mà cả thế giới đang hướng tới: Minh bạch các vấn đề tài chính trong việc thu chi chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.2.4/ Được Nhà nước ưu đãi về thuế
Theo quan điểm của WB, OECD và hầu hết các quốc gia đang phát triển và phát triển trên thế giới cần thiết lập các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với các bên tham gia trong quá trình đóng góp Ở mỗi quốc gia, các chính sách ưu đãi về thuế có thể được áp dụng khác nhau đối với từng giai đoạn như: ưu đãi thuế trong giai đoạn đóng góp, ưu đãi thuế trong giai đoạn chi trả hoặc ưu đãi thuế đối với các khoản lãi suất trên tài khoản đóng góp của mỗi cá nhân Bên cạnh đó, tùy tình hình kinh tế, bối cảnh xã hội của từng quốc gia mà áp dụng các mức ưu đãi thuế nhất định hoặc thực hiện cả việc miễn thuế đối với từng chế độ hưu trí cụ thể Ở Việt Nam, Nhà nước khuyến khích người lao động tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung thông qua các chính sách
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người sử dụng lao động, thuế thu nhập
cá nhân đối với người lao động ở cả ba giai đoạn: (1) giai đoạn đóng góp, (2) giai
Trang 22đoạn chi trả và (3) ưu đãi thuế đối với các khoản lãi suất thu được trên tài khoản tiết kiệm của người lao động Do đó, với các chính sách ưu đãi thuế thiết thực sẽ giúp chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung đảm bảo mục tiêu khuyến khích người lao động và người sử dụng lao động tích cực tham gia đóng góp, mở rộng diện bao phủ của mô hình hưu trí đa trụ cột và nâng cao mức hưởng lương hưu đầy đủ cho người lao động trong tương lai
1.1.2.5/ Mục đích của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung là nhằm “bổ sung” cho chế độ hưu trí bắt buộc
Trước nguy cơ tồn tại nhiều thách thức tài chính đối với chế độ hưu trí bắt buộc
do Nhà nước quản lý thì chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung (bao gồm chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân) được đặt ra như một biện pháp tài chính hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc Với sự vận hành dựa trên nguồn Quỹ độc lập với Quỹ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý sẽ tạo nên sự hỗ trợ tài chính trong quá trình chi trả lương hưu cho người lao động Bởi lẽ, khi Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung được thiết lập để thu chi độc lập đối với Quỹ hưu trí bắt buộc sẽ giúp các tổ chức quản
lý quỹ có thêm nhiều cơ hội thực hiện các chính sách đầu tư quỹ trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mỗi cá nhân Từ những chính sách đầu tư Quỹ do các tổ chức quản lý quỹ thực hiện sẽ tạo lập thêm các khoản lợi nhuận trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mỗi cá nhân Do đó, người lao động sau quá trình đóng góp sẽ được nhận thêm các khoản hưu trí bổ sung cao hơn lương hưu trí cơ bản do Nhà nước quản lý và chi trả
Tuy nhiên, ở một số quốc gia phát triển như Thụy Sĩ, Phần Lan, Đan Mạch…, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung không chỉ đơn thuần bổ sung cho những lợi ích hưu trí cần chi trả ở chế độ hưu trí bắt buộc, mà nó còn bổ sung cho những rủi ro thương tật, chết… của người lao động và thân nhân người lao động trong quá trình người lao động tham gia đóng góp vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp và Qũy hưu trí tiết kiệm cá nhân Riêng đối với Việt Nam, trong giai đoạn đầu triển khai chế độ bảo hiểm hưu trí
bổ sung chỉ mới cung cấp đến người lao động khoản lương hưu bổ sung, mà chưa có
sự đảm bảo cho những rủi ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp của người lao động
Trang 231.1.3/ Vai trò của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
1.1.3.1/ Đối với người lao động
Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới hiện nay được xây dựng dựa trên mức đóng xác định, nghĩa là mức hưởng tương xứng với mức đóng trên tài khoản hưu trí tiết kiệm cá nhân cùng với các khoản lợi nhuận bổ sung được hưởng trên tài khoản Các chính sách về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung luôn mang tính hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc giúp nâng cao mức lương hưu cơ bản và chất lượng cuộc sống mà người lao động nhận được trong giai đoạn thụ hưởng Đó chính là kết quả tổng hòa của
cả quá trình tích lũy giữa chế độ hưu trí bắt buộc và hưu trí bổ sung trong suốt quá trình đóng góp Do đó, bên cạnh chế độ hưu trí bắt buộc, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được xem là khoản thu nhập chính đáng của người lao động sau khi họ đóng góp sức lao động vào thị trường lao động, đồng thời là chỗ dựa vững chắc nhằm bảo đảm cuộc sống về cả vật chất lẫn tinh thần cho người lao động trong suốt quá trình thụ hưởng Khi người lao động ổn định về mặt tâm lý, yên tâm lao động sản xuất cũng chính là đang góp phần tạo nên sự ổn định trên thị trường lao động và phát triển sự lưu thông buôn bán hàng hóa trên thị trường kinh tế - thương mại toàn cầu
Vì vậy, việc thúc đẩy người lao động trong xã hội tham gia chế độ bảo hiểm này sẽ giúp họ yên tâm hơn trong suốt quá trình lao động, từ đó ổn định hơn nữa cuộc sống cho chính bản thân và gia đình Khi hết tuổi lao động, nếu mong muốn nghỉ hưu người lao động vẫn có được một cuộc sống đầy đủ bởi mức lương hưu sẽ cao hơn khi
có khoản lương hưu bổ sung được chi trả từ Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung Với khoản hưu trí cao người lao động sẽ cảm thấy tự tin hơn, yên tâm hơn trong cuộc sống khi họ được hưởng một mức lương hưu phù hợp sau quá trình miệt mài lao động Trong giai đoạn thụ hưởng, nếu ốm đau, bệnh tật hay tai nạn… người lao động vẫn có đủ các khoản tiền chi trả cho những khoản rủi ro trên, tạo tâm lý ổn định, bớt căng thẳng, lo lắng trước hết cho bản thân, sau đó giúp họ tránh khỏi cảm giác mặc cảm khi là gánh nặng của gia đình và toàn xã hội
1.1.3.2/ Đối với người sử dụng lao động
Thứ nhất, quy định việc thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trước hết phải có sự tham gia của người sử dụng lao động và người lao động nhằm tạo điều kiện
hỗ trợ cho người sử dụng lao động có trách nhiệm cao hơn đối với người lao động không chỉ trong suốt quá trình trực tiếp sử dụng người lao động mà còn trong suốt
Trang 24quãng đời còn lại của người lao động Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ giúp người
sử dụng lao động ổn định thêm các nguồn chi ngay cả khi có các rủi ro lớn xảy ra đối với người lao động như tai nạn, bệnh tật, chết trong quá trình lao động Ngoài ra, các chính sách ưu đãi về thuế của chế độ này sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thêm các khoản chi phí, vì phần tham gia đóng góp của doanh nghiệp cho người lao động được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế
Thứ hai, đối với những lao động có trình độ chuyên môn cao, thông qua các chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ là công cụ hữu hiệu để người sử dụng lao động
có thể trọng dụng những người lao động tài năng gắn bó lâu dài, thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp Đồng thời, đối với những lao động phổ thông (hay còn gọi là lao động chân tay), chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung cung cấp một mức lương hưu hấp dẫn sẽ tạo tâm lý yên tâm lao động đối với người lao động và ngay cả đối với người sử dụng lao động Bởi lẽ, khi người lao động ổn định tâm lý làm việc thì sẽ tạo nên sự ổn định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc phân phối các chi phí đến người lao động một cách thích hợp Ngược lại, nếu người lao động cảm thấy bất an trong tâm lý lao động sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng đình công, nghỉ việc ảnh hưởng đến tiến độ làm việc chung của cả doanh nghiệp và tạo nên sự rối loạn, ngừng trệ trong dây chuyền sản xuất kinh doanh
Do đó, với chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ là một bước tiến mới mẻ và hữu hiệu trong chính sách tuyển dụng và trọng dụng người lao động của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên thị trường kinh tế toàn cầu, nhất là đối với thị trường kinh tế của các nước đang phát triển trên thế giới
1.1.3.3/ Đối với Nhà nước
Thứ nhất, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ mở rộng tầm bao phủ của chế độ hưu trí bắt buộc đối với đời sống nhân dân Bởi lẽ, khi hệ thống hưu trí của từng quốc gia được xây dựng trên mô hình hưu trí đa trụ cột với chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân sẽ bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc nhằm đảm bảo tính bền vững, toàn vẹn và sự hiệu quả trong vấn đề mở rộng diện bao phủ tham gia của hầu hết các đối tượng lao động trên thị trường lao động
Thứ hai, chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ góp phần phản ánh rõ nét các giá trị xã hội mang tính nhân văn, nhân đạo của Nhà nước, đây được xem là một trong những nội dung nòng cốt của các chính sách BHXH trong nền tảng ASXH của từng
Trang 25quốc gia Khi những người lao động trong độ tuổi lao động tích cực tham gia chế độ hưu trí bắt buộc và chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tức là người lao động đã cùng với người sử dụng lao động chủ động trong việc tự lo liệu nguồn tài chính cho cuộc sống sau khi nghỉ hưu, giúp tiết kiệm các khoản chi phí chi trả cho ngân sách nhà nước
Thứ ba, việc xây dựng, vận hành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ tạo điều kiện ổn định Quỹ BHXH trong tương lai khi cả thế giới đang đứng trước những rủi ro của quá trình già hóa dân số và sự chuyển dịch mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu Việc vận hành Quỹ BHXH nói chung và Quỹ hưu trí nói riêng ở từng quốc gia là cơ sở
để đánh giá trình độ quản lý rủi ro tài chính và mức độ ASXH mà mỗi quốc gia đạt được trong từng thời kì kinh tế - xã hội khác nhau Với chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ góp phần gia tăng nguồn vốn đầu tư dài hạn trên thị trường vốn làm cho thị trường vốn nói riêng và thị trường kinh tế - tài chính nói chung ngày càng phóng phú,
đa dạng Bởi lẽ, thông qua các tổ chức quản lý quỹ sẽ giúp dòng vốn từ các quỹ hưu trí được tái đầu tư trở lại nền kinh tế, góp phần tạo dựng sự bền vững đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu phát triển
1.1.4/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung 1.1.4.1/ Lịch sử hình thành và phát triển của chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới
Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung được vận hành trên thế giới nhằm bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc trong mô hình hưu trí đa trụ cột bao gồm: Chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân Trong bài viết này, tác giả trình bày về lịch
sử hình thành và phát triển của chế độ hưu trí nghề nghiệp và chế độ hưu trí tiết kiệm
cá nhân để người đọc nhận thức rõ nét và có cách tiếp cận bao quát về lộ trình triển khai, xây dựng và vận hành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên thế giới
Thứ nhất, đối với chế độ hưu trí nghề nghiệp xuất hiện trên thế giới bắt đầu từ
năm 1876 khi tại Hoa Kỳ, Quân đội Mỹ bắt đầu áp dụng chính sách hưu trí này dưới hình thức trợ cấp một khoản chi phí ít ỏi để chi trả thêm cho cuộc sống của những người lính bị thương tật sau khi họ rời khỏi chiến trường trong cuộc chiến tranh cách mạng giành độc lập với Đế quốc Anh Vào đầu thế kỷ 19, chương trình hưu trí nghề nghiệp bắt đầu được áp dụng và mở rộng trong khu vực tư nhân, các chủ sử dụng lao động có thêm hình thức chi trả lương hưu một lần cho nhân viên trên cơ sở khen thưởng khi họ có khoản thời gian làm việc lâu dài, gắn bó mật thiết và trung thành với
Trang 26chủ sử dụng lao động Điều này tương tự được áp dụng trong cả loại hình hộ gia đình
tự kinh doanh ở những quốc gia phát triển
Chương trình hưu trí nghề nghiệp chính thức trở nên phổ biến ở các quốc gia phát triển vào cuối thế kỷ 19, và đặc biệt vào đầu thế kỷ 20 chúng được xem như một công cụ quản lý nhân sự hữu hiệu đối với các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới; nhằm mục đích khuyến khích, trọng dụng những cá nhân có giá trị năng suất lao động cao Đặc biệt trong các lĩnh vực ngân hàng, đường sắt và dầu khí, chính sách này được áp dụng như một sự khuyến khích chi trả lương hưu cao khi người lao động có khoản thời gian làm việc lâu dài, gắn bó mật thiết và thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với doanh nghiệp, trong khi ở các lĩnh vực này các vấn đề về bí mật thông tin, bí mật kinh doanh,
bí mật cạnh tranh… rất dễ bị đánh cắp và xâm phạm Tuy nhiên, trong giai đoạn ban đầu, các chính sách này chỉ được áp dụng tùy thuộc ý chí của chủ sử dụng lao động, không phải là quyền lợi mà người lao động đương nhiên được hưởng và chính sách này chỉ chủ yếu nhắm vào những người lao động là nhân viên lao động cấp cao khối trí
óc, các nhà quản lý trong doanh nghiệp
Sau Chiến tranh Thế giới II, với các cải cách về ưu đãi thuế thu nhập, thay đổi trong cách thức tính thuế thu nhập liên quan đến lương hưu, thiết lập Quỹ hưu trí nghề nghiệp tách biệt với Quỹ hưu trí bắt buộc đã tạo nên sự khuyến khích trong việc mở rộng các chính sách hưu trí nghề nghiệp trên thế giới, nhất là đối với các quốc gia thuộc Tổ chức OECD Hầu hết người lao động đều xem các chương trình hưu trí nghề nghiệp như một mức thay thế hấp dẫn cho một mức lương cao trong quá trình lao động
và người sử dụng lao động yêu thích chương trình này khi họ không phải trả thêm tiền lương cho người lao động cho đến khi người lao động nghỉ hưu Ở các nước phát triển, chương trình hưu trí nghề nghiệp tiếp tục phát triển mạnh mẽ từ hình thức tham gia tự nguyện do ý chí của chủ sử dụng lao động chuyển sang hình thức tham gia bắt buộc tại
Úc, Thụy Sĩ, Thụy Điển… Tiếp đó, trong tiến trình lịch sử, chương trình hưu trí này tiến tới quá trình hoàn thiện như một cánh tay phải đắc lực hỗ trợ cho chế độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý trong hệ thống hưu trí đa trụ cột của mỗi quốc gia
Thứ hai, đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân Trong quá trình vận hành chế
độ hưu trí nghề nghiệp, một số quốc gia trên thế giới bắt đầu có những thử nghiệm mới đối với chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân khi nhu cầu thụ hưởng của người lao động ngày càng được nâng cao Đối với mỗi quốc gia, Quỹ hưu trí tiết kiệm cá nhân được
Trang 27thành lập trong những giai đoạn lịch sử khác nhau phụ thuộc vào từng nền chính trị, tình hình kinh tế và bối cảnh xã hội riêng biệt Chẳng hạn như: đối với các quốc gia phát triển ở khu vực Châu Âu và một số quốc gia phát triển ở Châu Phi thành lập chế
độ này vào đầu những năm 1960, một số quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dương thành lập vào những năm 1970 và 1980 Tuy nhiên, cho đến năm 1994, khi WB đưa ra
mô hình hưu trí đa trụ cột với trụ cột hưu trí thứ ba “hưu trí tiết kiệm cá nhân” tiếp tục
là biện pháp tài chính bổ sung cho chế độ hưu trí bắt buộc thì chế độ này chính thức được thừa nhận trên thế giới Với sự vận hành chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân sẽ cung cấp đến người lao động một tỷ lệ thay thế hấp dẫn so với thu nhập trong thời kì lao động từ quá trình tích lũy lương hưu tiết kiệm dựa trên ý chí tự nguyện của mỗi cá nhân Cùng với chế độ hưu trí nghề nghiệp thì chế độ hưu trí tiết kiệm cá nhân như một cánh tay trái đắc lực hỗ trợ, bổ sung hiệu quả cho những rủi ro tài chính của chế
độ hưu trí bắt buộc do Nhà nước quản lý
1.1.4.2/ Lịch sử hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam
Luật BHXH đầu tiên của nước Việt Nam được Quốc Hội thông qua vào ngày 29/06/2006, các quy định của Luật tiếp tục kế thừa Bộ luật lao động năm 1994 đối với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và đồng thời mở rộng, phát triển cụ thể hơn các quy định pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Đồng thời, mới đây nhất ngày 20/8/2013, Bộ Tài chính chính thức ban hành Thông tư số 115/2013/TT-BTC hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện (Thông tư số 115/2013/TT-BTC)
áp dụng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai bảo hiểm hưu trí tự nguyện tại Việt Nam Riêng đối với chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung, giai đoạn trước khi Luật BHXH năm 2014 được ban hành, các quy định về việc bổ sung chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung vào hệ thống BHXH của Việt Nam chỉ chủ yếu được bày tỏ thông qua ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong nước và ngoài nước, chưa được Quốc Hội xem xét để đưa vào quy định của Luật BHXH Do đó, về mặt pháp lý, trong giai đoạn này các chính sách về bảo hiểm hưu trí bổ sung vẫn chỉ tồn tại bên lề hành lang pháp lý của các Hội nghị góp ý sửa đổi, bổ sung Luật BHXH Tuy nhiên, trên thực tế tại Việt Nam đã có một số doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại Việt Nam như: Công ty Nestle Việt Nam, Dutch Lady Việt Nam, Unilever Việt Nam v v đã triển khai và áp dụng các chính sách trợ cấp hưu trí tương tự như chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung đối với các đối tượng lao động do công ty quản lý Mục đích của việc áp dụng
Trang 28thêm các chính sách hưu trí đa dạng là để doanh nghiệp có thêm cơ hội trong việc trọng dụng đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn cao làm việc lâu dài tại doanh nghiệp
Tháng 11/2012, Nghị quyết số 21-NQ/TW được ban hành nêu rõ chủ trương
của Đảng về việc: “Áp dụng thêm các loại BHXH mới phù hợp với nhu cầu của nhân
dân Thí điểm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung” Đến năm 2014 Luật BHXH được
Quốc Hội thông qua đã quy định thêm chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trong hệ thống
BHXH Việt Nam: “Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách BHXH mang tính chất tự
nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật” 14 Về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật BHXH về chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung (Dự thảo Nghị định bảo hiểm hưu trí bổ sung) được giao Chính Phủ, cụ thể là Bộ LĐTB và XH phối hợp với
Bộ Tài Chính lấy ý kiến ban hành Dự kiến, chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung sẽ được thực hiện theo lộ trình ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 (từ năm 2012 đến năm 2015): Hình thành khung pháp lý, tổ chức thí điểm đối với một số doanh nghiệp trong nước về loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung, đối với các doanh nghiệp khác trong nước chỉ khuyến khích áp dụng dưới hình thức tự nguyện tham gia;
Giai đoạn 2 (từ năm 2015 đến năm 2020): Thông qua công tác thực hiện thí điểm sẽ hoàn thiện khung pháp lý và mở rộng các đối tượng tham gia thụ hưởng đối với loại hình chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung;
Giai đoạn 3 (sau năm 2020): Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý
và thực hiện việc chuyển đổi mô hình từ hình thức tham gia tự nguyện sang bắt buộc đối với loại hình chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung
Theo đánh giá dựa trên quan điểm của tác giả, lộ trình thực hiện chế độ bảo
hiểm hưu trí bổ sung theo ba giai đoạn như trên là đúng đắn và hợp lý Bởi các lý do được trình bày như sau:
Thứ nhất, Chế độ bảo hiểm hưu trí ở nước ta hiện tại chỉ chủ yếu được xây
dựng trên mô hình hưu trí đơn tầng với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và chế độ
14 Khoản 7 Điều 3 Luật BHXH năm 2014
Trang 29hưu trí trong BHXH tự nguyện, riêng tầng hưu trí thứ ba “bảo hiểm hưu trí tự nguyện”
do các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cung cấp chỉ mới được Bộ Tài chính xây dựng khung hàng lang pháp lý cuối năm 2013.15 Do đó, tính đến nay, tầng hưu trí thứ nhất với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc và chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện vẫn đang gánh chịu một sức ép nặng nề về tài chính đối với vấn đề vỡ Quỹ hưu trí trong tương lai Vì vậy, hệ thống hưu trí của Việt Nam rất cần xây dựng thêm chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung dựa trên mô hình hưu trí đa trụ cột do WB xây dựng năm 1994 và ILO xây dựng năm 1999, nhằm đảm bảo độ vững chắc, tính toàn vẹn trong vấn đề chi trả lương hưu cho người lao động Tuy nhiên, khi Việt Nam áp dụng một chính sách bảo hiểm hưu trí mới đối với người lao động cần phải cân nhắc đến nền chính trị, tình hình kinh tế và bối cảnh xã hội trong nước Bởi lẽ, nền chính trị, kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia trong từng khu vực luôn khác nhau, do đó một chính sách bảo hiểm hưu trí dù phù hợp với bối cảnh của nhiều quốc gia nhưng có thể sẽ còn gặp nhiều khó khăn và mang tính rủi ro cao khi áp dụng tại Việt Nam Do đó, trước khi thông qua Luật BHXH năm 2014, Đảng và Nhà nước đã có các chính sách về việc triển khai thí điểm loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung ở một số doanh nghiệp trong giai đoạn đầu từ năm 2012 đến năm 2015 Theo quan điểm của tác giả, trong lộ trình tiến tới việc áp dụng chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung trên toàn dân thì việc triển khai thí điểm chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung ở một số doanh nghiệp trong nước là đúng đắn Bởi lẽ, từ quá trình triển khai sẽ bộc lộ những ưu điểm và hạn chế trên thực tế, chính những điều này sẽ giúp các nhà làm luật, các cơ quan chức năng trong lĩnh vực BHXH
có sự nhìn nhận đúng đắn, vừa bao quát vừa cụ thể và mang tính sát thực về tính thực
tế của loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung khi đưa chính sách này đi sâu vào cuộc sống của từng người dân Việt Nam Từ đó, các quy định của Luật BHXH và Nghị định hướng dẫn thi hành chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung mới có hướng điều chỉnh cụ thể,
rõ ràng, hợp lòng dân, ý dân
Thứ hai, giai đoạn ban đầu khi triển khai các khung hành lang pháp lý đối với
chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung chỉ mới quy định hình thức tham gia là tự nguyện Theo quan điểm của tác giả, lộ trình này là hợp lý Vì giai đoạn trong ba năm từ 2012 đến 2015 thực hiện việc thí điểm bảo hiểm hưu trí bổ sung ở một số doanh nghiệp nhất
15 Phụ lục 1: Mô hình hưu trí đa trụ cột của Việt Nam tính đến năm 2016
Trang 30định nên không thể quy định ngay việc áp dụng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung trên toàn dân là bắt buộc Nếu quy định hình thức tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là bắt buộc nghĩa là Nhà nước đang áp đặt ý chí một chiều lên đời sống lao động của nhân dân Bởi lẽ, sau lần sửa đổi, bổ sung Luật BHXH năm 2014 đã có nhiều quy định về việc tăng mức tuổi hưởng lương hưu đối với nhóm lao động bị suy giảm khả năng lao động, thay đổi cách tính mức lương hưu được hưởng khác hẳn so với trước v.v và điều đó đồng nghĩa với việc nhiều người lao động trong tương lai sẽ phải nhận mức lương hưu thấp hơn so với mức quy định hiện hành Nếu bổ sung thêm loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung vào hệ thống BHXH với hình thức tham gia đóng góp mang tính bắt buộc sẽ tạo tâm lý bất ổn, lo lắng cho hầu hết người lao động Bởi lẽ, thứ nhất, ý nghĩa chính của chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung là bổ sung nguồn lương hưu cho người lao động và mở rộng diện bao phủ toàn bộ lực lượng lao động trong xã hội; tuy nhiên, hầu hết người lao động Việt Nam vẫn còn nhận thức mới mẻ về loại hình bảo hiểm hưu trí này, công tác tuyên truyền chưa rộng rãi, chưa sâu sắc đến từng cá nhân,
hộ gia đình, doanh nghiệp… nên việc quy định người lao động phải tham gia bắt buộc vào loại hình bảo hiểm hưu trí này trong giai đoạn đầu triển khai là không khả thi Thứ hai, thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động hiện nay không cao trong khi các chi phí về sinh hoạt, đời sống luôn có xu hướng tăng.16 Với mức thu nhập hàng tháng thấp, cộng thêm việc đóng hưu trí bắt buộc, nay phải đóng thêm hưu trí bổ sung
sẽ tạo nên tâm lý bất an cho người lao động Bên cạnh đó, tâm lý lao động của hầu hết người lao động làm công hưởng lương tại Việt Nam là theo hướng “làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu”, họ ít nhiều không có tâm lý để dành của cải sau quá trình lao động
Do đó, Nhà nước không thể lập tức đưa ra một chính sách bảo hiểm hưu trí mới mẻ và bắt buộc người lao động phải thực hiện theo ý chí của Nhà nước, trong khi cuộc sống của người lao động còn nhiều khó khăn về các chi phí sinh hoạt, chi phí học hành của con cái, bệnh tật, ốm đau v v Do đó, theo quan điểm của tác giả, đồng tình với lộ trình thực hiện chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung của Nhà nước; trong giai đoạn đầu
từ năm 2012 đến năm 2020, hình thức tham gia loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung tại Việt Nam chỉ nên áp dụng tự nguyện, nhằm mục tiêu khuyến khích người lao động tham gia và tiến tới nhận thức rõ hơn về chính sách này
16 Xem Phụ lục 5: Thu nhập bình quân lao động làm công hưởng lương theo nhóm nghề và theo loại hình sở hữu
Trang 31Tuy nhiên, với xu hướng chung của các nước khu vực Châu Âu (như Đức, Thụy Sĩ, Anh…), khu vực Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore…) hình thức tham gia của loại hình bảo hiểm hưu trí bổ sung là bắt buộc đối với hầu hết người lao động trên thị trường lao động từng quốc gia Do đó, lộ trình sau năm 2020 Việt Nam cần có sự chuyển đổi khéo léo hình thức tham gia loại hình hưu trí bổ sung từ tự nguyện sang bắt buộc
1.2/ Kinh nghiệm áp dụng chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung của một số nước 1.2.1/ Chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ
Thụy Sĩ là một trong những quốc gia hàng đầu ở Châu Âu về chỉ số thụ hưởng
hưu trí Theo Báo cáo mới nhất năm 2015 của Tổ chức quản lý tài sản toàn cầu
(Natixis Global Asset Management – NGAM) về chỉ số hưu trí toàn cầu (GRI)17 cho
thấy: “Thụy Sĩ là quốc gia xếp đầu bảng trong cuộc khảo sát này”.18 Cuộc khảo sát về mức độ thụ hưởng hưu trí giữa các quốc gia được thực hiện trên 20 chỉ số biểu diễn thông qua bốn chủ đề: (1) phúc lợi vật chất, (2) phúc lợi y tế, (3) khả năng tài chính khi về hưu và (4) chất lượng cuộc sống trong quá trình thụ hưởng Báo cáo năm 2015 cho thấy Thụy Sĩ là quốc gia giữ vị trí đầu bảng trong cả bốn lĩnh vực với tổng số điểm 82/100% Đối với chất lượng cuộc sống đạt 91%, đây là mức cao nhất; tiếp đến là phúc lợi vật chất đạt 85%, phúc lợi y tế đạt 83% và khả năng tài chính khi về hưu đạt 70% Xếp sau Thụy Sĩ trong báo cáo của NGAM về chỉ số GRI là Na Uy (xếp thứ hai), Úc (xếp thứ ba), Iceland (xếp thứ tư) và Hà Lan (xếp thứ năm) Trên đây là lý do trình bày về vấn đề vì sao tác giả chọn Thụy Sĩ làm quốc gia thứ nhất trong các nước phát triển ở Châu Âu để nghiên cứu và phân tích kinh nghiệm thực hiện chế độ bảo
hiểm hưu trí bổ sung ở khu vực Châu Âu
Hệ thống hưu trí ở Thụy Sĩ được xây dựng trên mô hình hưu trí đa trụ cột với
ba trụ cột như sau: Trụ cột thứ nhất là hưu trí toàn dân (Universal state pension), trụ cột thứ hai là chương trình hưu trí nghề nghiệp (Occupational retirement plans) và trụ cột thứ ba là chương trình hưu trí tiết kiệm cá nhân (Private saving retirement plans)
Kế hoạch nghỉ hưu của những người lao động ở Thụy Sĩ được dựa trên nguyên tắc
17 Chỉ số hưu trí toàn cầu (GRI) là một công cụ so sánh mức độ thụ hưởng hưu trí giữa các quốc gia trên thế giới, thông qua quá trình so sánh này nhằm đánh giá sự phù hợp của các quốc gia trong việc đáp ứng các kỳ vọng của người dân về mức lương hưu, nhu cầu thụ hưởng và các tham vọng tài chính trong quá trình thụ hưởng
18 NGAM, (2015), “An in-depth assessment of welfare in retirement around the world”, p 05-06
Trang 32thực hiện của ba trụ cột hưu trí này nhằm bảo vệ cho những rủi ro tài chính đối với tuổi già Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích các vấn đề cụ thể về chế độ bảo hiểm hưu trí bổ sung ở Thụy Sĩ, bao gồm hai chế độ “hưu trí nghề nghiệp” và
“hưu trí tiết kiệm cá nhân” Bởi lẽ, với mô hình vận hành hệ thống hưu trí đa trụ cột của Thụy Sĩ, hai trụ cột “hưu trí nghề nghiệp” và “hưu trí tiết kiệm cá nhân” được xem
là các chính sách bảo hiểm hưu trí bổ sung nhằm bổ sung cho những rủi ro tài chính
của trụ cột “hưu trí toàn dân”
1.2.1.1/ Chương trình hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ
Luật bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ (Occupational Pension Insurance Law – OPI Law) được Quốc Hội thông qua năm 1982 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1985, kể từ thời điểm này các chính sách về trợ cấp hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ đã ra đời và chính thức đi sâu vào đời sống mỗi người dân Thụy Sĩ Nhìn chung, chương trình này vẫn là một loại trợ cấp hưu trí nằm trong hệ thống BHXH của Thụy Sĩ Theo định nghĩa của Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm
1999: Hưu trí nghề nghiệp là “chương trình hưu trí được xây dựng để bổ sung cho
những thiếu hụt về nhu cầu thụ hưởng lương hưu của các cá nhân nằm trong diện thụ hưởng ở trụ cột một và cho phép những cá nhân đó khi bước vào quá trình thụ hưởng của tuổi già có thể duy trì các tiêu chuẩn sống thỏa đáng và đầy đủ mà họ đã trở nên quen thuộc sau khi nghỉ hưu”.19 Không những vậy, bên cạnh lương hưu bổ sung được chi trả, chương trình hưu trí nghề nghiêp còn hỗ trợ đến người lao động và thân nhân của họ những khoản trợ cấp bổ sung khi gặp rủi ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp, và các khoản trợ cấp này sẽ được tính toán trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mỗi cá nhân với từng công thức riêng biệt Đó là lý do thúc đẩy, khuyến khích người lao động tham gia chương trình này với con số thống kê: trung bình mỗi năm có khoảng 3,7 triệu người lao động tích cực tham gia chương trình hưu trí này thông qua khoảng 2.000 quỹ hưu trí của các tổ chức bảo hiểm được lập tại Thụy Sĩ và gần một triệu người về hưu mỗi năm trên toàn Liên bang Thụy Sĩ.20 Cùng với trụ cột hưu trí toàn dân, chương trình hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ sẽ cung cấp một mức lương hưu tương đương 60% đến 70% mức thu nhập cuối cùng mà người lao động được hưởng trước khi họ về hưu và cho phép họ tiếp tục duy trì các mức tiêu chuẩn sống
19 Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999
20 Olivier Durand, Séverine Gaille, (2013), “Switzerland: Current Retirement System and Future
Prospects” [newsletter], The Geneva Association Publication, (3), p 02
Trang 33đầy đủ như trước đây Nếu một người lao động Thụy Sĩ biết tính toán để tham gia có hiệu quả chương trình hưu trí nghề nghiệp thì họ sẽ có thêm nhiều cơ hội về nguồn tài chính khi nghỉ hưu, cũng như sự bảo vệ chính bản thân và gia đình thông qua các lợi ích được hỗ trợ khi gặp rủi ro thương tật, chết trong quá trình đóng góp
Đối tượng tham gia hưu trí nghề nghiệp
Đối tượng tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ là bắt buộc đối với hầu hết người lao động đang làm việc trên đất nước Thụy Sĩ có thu nhập từ CHF 21,060 trở lên vào năm 2013 và đã thay đổi theo hướng tăng từ CHF 21,150 trở lên vào năm 2015 Tuy nhiên, việc tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp tại Thụy
Sĩ là không bắt buộc đối với những cá nhân sau đây: người lao động tự do21, người lao động có hợp đồng lao động dưới ba tháng, người lao động thương tật từ 70% trở lên, thành viên của hộ gia đình kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp Ngoài ra, việc tham gia vào chương trình hưu trí nghề nghiệp còn được áp dụng tự nguyện đối với cá nhân thuộc diện miễn tham gia chế độ hưu trí toàn dân, đó là các đối tượng thuộc diện thất nghiệp Đối với những đối tượng này, mặc dù họ thuộc diện được miễn tham gia chế
độ hưu trí toàn dân nhưng vẫn được bao phủ bởi hưu trí nghề nghiệp với những điều kiện hưởng hạn chế hơn những đối tượng tham gia thụ hưởng còn lại trong chương trình này, nghĩa là việc bao phủ này nhằm giúp những người thất nghiệp trên đất nước Thụy Sĩ chống lại rủi ro thương tật và cái chết trong quá trình đóng góp nhưng không đương nhiên chống lại những rủi ro của tuổi già Tuy nhiên, trên thực tế tại Thụy Sĩ, hầu hết những người thất nghiệp khi muốn tham gia thụ hưởng lợi ích hưu trí ở chương trình hưu trí nghề nghiệp đều cần có sự liên kết tham gia với chế độ hưu trí toàn dân.22
Thời điểm bắt đầu quá trình tham gia hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ là kể từ khi người lao động tham gia vào quan hệ lao động, sớm nhất là 17 tuổi theo Luật lao động Liên bang Thụy Sĩ Tuy nhiên, trong giai đoạn từ 17 tuổi đến hết năm 24 tuổi, các khoản đóng góp của người lao động chỉ bao phủ những rủi ro về thương tật và cái chết; bắt đầu khi người lao động đủ 25 tuổi các khoản đóng góp mới bao gồm cả chi
21 Điểm b, d Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999
22 The Swiss Federal Social Insurance Office (Federal Department of Home Affairs), (2013),
“Old-Age, Survivors’ and Invalidity Pensions in Switzerland – The Three Pillar System”, p 08
Trang 34trả rủi ro về tuổi già.23 Thời điểm chấm dứt quá trình tham gia hưu trí nghề nghiệp được xác định trong các trường hợp sau: (1) khi hết tuổi lao động theo quy định pháp luật24, (2) nghỉ hưu sớm trong giới hạn luật quy định25, (3) khi thu nhập của các đối tượng tham gia giảm xuống dưới ngưỡng luật định CHF 21,150 Tuy nhiên, một điểm rất đặc biệt của chương trình hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ khác biệt với hầu hết với các quốc gia khác là: Trong chương trình hưu trí nghề nghiệp tồn tại hình thức bảo hiểm hưu trí mở rộng tạm thời Nghĩa là, khi người lao động chấm dứt quá trình tham gia hưu trí nghề nghiệp thì họ vẫn tiếp tục được bảo hiểm để chống lại rủi ro thương tật và cái chết trong vòng một tháng sau khi mối quan hệ hưu trí của họ với tổ chức quản lý quỹ kết thúc Nếu cá nhân đó bước vào một quan hệ lao động mới trước khi kết thúc tháng bổ sung đó thì các tổ chức mới sẽ có trách nhiệm thay thế tổ chức cũ để chi trả các khoản lợi ích trong tháng bổ sung đó khi người lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí nghề nghiệp theo quy định pháp luật
Quỹ hưu trí nghề nghiệp
Nguồn chủ yếu hình thành Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ luôn là sự đóng góp của người lao động và phần đóng góp thể hiện trách nhiệm hỗ trợ của người sử dụng lao động đối với người lao động Mức đóng góp của cả hai đối tượng này được quy định bằng nhau.26 Trong khi, chế độ hưu trí toàn dân được thực hiện theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” (PAYG) nhằm duy trì các mức tiêu chuẩn sống tối thiểu cho cuộc sống của người lao động khi về hưu thì chương trình hưu trí nghề nghiệp lại được thực hiện theo hình thức mức đóng xác định27 và nhận được ít hỗ trợ rủi ro từ Chính phủ so với chế độ hưu trí toàn dân Nghĩa là, trong quá trình tham gia vào chương trình hưu trí nghề nghiệp, mức hưởng lương hưu bổ sung mà người lao động nhận được tương đương với mức đóng góp và thời gian đóng góp Bên cạnh đó, đối với mức đóng
cụ thể của từng đối tượng lao động thì Luật Bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp của Thụy Sĩ
23 The Swiss Federal Social Insurance Office (Federal Department of Home Affairs), (2016),
“Overview of swiss social security”, p 34
24 65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ
25 Không sớm hơn 05 năm so với 65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ
26 OECD, (2008), “Complementary and Private Pensions throughout the World 2008”, OECD
Publishing, Paris, p 431
27 Khoản 3 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999
Trang 35chỉ quy định một mức đóng tối thiểu chung cho toàn Liên bang Thụy Sĩ, mức đóng tối thiểu này được áp dụng khác nhau cho từng độ tuổi lao động, cụ thể như sau28:
Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ vận hành và được quản lý như sau:
Thứ nhất, Quỹ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ không chịu sự quản lý trực tiếp
của Nhà nước, mà được vận hành chủ yếu bởi ba chủ thể sau đây: Thứ nhất là chính quyền tại từng bang của Thụy Sĩ nhằm hỗ trợ cho người dân tại từng tiểu bang, thứ hai
là bởi các công ty tư nhân như các công ty bảo hiểm – tài chính, các tổ chức nghề nghiệp liên quan trong lĩnh vực bảo hiểm – tài chính và thứ ba là thông qua chính công đoàn tại doanh nghiệp của người lao động30 Tuy nhiên, ở Thụy Sĩ tồn tại hình thức các công ty bảo hiểm – tài chính, các tổ chức nghề nghiệp liên quan trong lĩnh vực bảo hiểm - tài chính (sau đây gọi chung là các tổ chức quản lý quỹ) là chủ yếu Theo Luật bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp Thụy Sĩ, các tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp ở Thụy Sĩ muốn vận hành chương trình hưu trí nghề nghiệp trong cơ chế hoạt động của tổ chức cần phải thỏa mãn ít nhất những điều kiện cơ bản sau đây: (1) phải đăng ký chính thức với Chính phủ về dịch vụ cung cấp, vận hành chương trình hưu trí
28 Giuliano Bonoli, Dietmar Braun , Philipp Trein, (2014), “Pensions, health and long-term care in
Switzerland ” [report], p 05
29 OECD, (2015), “Pensions at a glance 2015”, p 358
30 Điểm c Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp liên bang Thụy Sĩ năm 1999
Trang 36nghề nghiệp, (2) phải thành lập trụ sở, (3) phải có văn phòng pháp luật và có sự liên kết với các đơn vị bảo hiểm khác trong khu vực Ngoài ra, các tổ chức này còn phải đáp ứng những quy định riêng biệt ở từng tiểu bang khác nhau mà tổ chức muốn thành lập trụ sở
Thứ hai, Quỹ hưu trí nghề nghiệp được tổ chức dựa trên hình thức tài khoản
tiết kiệm hưu trí của mỗi cá nhân tham gia Nghĩa là, trong quan hệ bảo hiểm hưu trí giữa ba bên người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức quản lý quỹ thì mỗi tổ chức quản lý quỹ đều có trách nhiệm tạo lập và cung cấp đến mỗi cá nhân tham gia một tài khoản tiết kiệm hưu trí Tài khoản tiết kiệm hưu trí mà người lao động nhận được khi đóng góp vào chương trình hưu trí nghề nghiệp sẽ đảm bảo cho số tiền hưu trí nhận được luôn ở trong điều kiện thuận lợi nhất, kể cả khi người lao động nghỉ việc hoặc gián đoạn quá trình đóng góp trong một khoảng thời gian nhất định Sự vận hành tài khoản tiết kiệm cá nhân của người lao động trong suốt quá trình đóng góp gần như luôn diễn ra trong trạng thái “động” và mang tính liên tục Nghĩa là, khi một người lao động bắt đầu tham gia vào quan hệ lao động ở Thụy Sĩ sẽ tự động được bảo hiểm bởi các quỹ hưu trí nghề nghiệp mà người sử dụng lao động có liên kết tham gia, đó là trách nhiệm hỗ trợ bắt buộc của người sử dụng lao động đối với người lao động tại Thụy Sĩ Khi người lao động rời khỏi quan hệ lao động đối với người chủ cũ và tham gia vào quan hệ lao động với người chủ mới thì tài khoản tiết kiệm tích lũy ban đầu sẽ
tự động được chuyển từ quỹ hưu trí nghề nghiệp của người chủ cũ vào quỹ hưu trí nghề nghiệp của người chủ mới Điều này nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho phép người lao động tại Thụy Sĩ nhận được sự thuận lợi trong suốt quá trình tham gia đóng góp vào Quỹ hưu trí nghề nghiệp Bên cạnh đó, tài khoản đóng góp hưu trí nghề nghiệp và mức lãi suất trên tài khoản đóng góp được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động và miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với người sử dụng lao động Tuy nhiên, các khoản chi trả lợi nhuận trên tài khoản hưu trí nghề nghiệp lại thuộc đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động
Thứ ba, Quỹ hưu trí nghề nghiệp được quản lý riêng biệt và độc lập với Quỹ
hưu trí toàn dân do Nhà nước quản lý Bởi lẽ, Quỹ hưu trí toàn dân do Nhà nước quản
lý chịu sự quản lý trực tiếp của Chính phủ, nhưng Quỹ hưu trí nghề nghiệp lại chịu sự quản lý trực tiếp của các tổ chức quản lý quỹ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những
tổ chức này thực hiện quá trình đầu tư sinh lời trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của mỗi
Trang 37cá nhân Mỗi tổ chức quản lý quỹ hoạt động ở Thụy Sĩ được quyền tự do lựa chọn các phương thức tài chính riêng nhưng phải luôn đảm bảo các điều kiện cân bằng quỹ tài chính hưu trí nghề nghiệp trên nhiều nguồn vốn đa dạng khác nhau, mà tổng nguồn vốn đó phải có khả năng chi trả cho những cá nhân thụ hưởng ở hiện tại và trong tương lai
Thứ tư, Mức lãi suất được các tổ chức quản lý quỹ áp dụng trên tài khoản hưu
trí nghề nghiệp là rất đa dạng và linh hoạt Cụ thể như sau, các khoản đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động dựa trên mức đóng xác định đều được tích lũy trong một tài khoản tiết kiệm cá nhân với một mức lãi suất tối thiểu do Luật quy định hiện nay là 1,5% trên tổng giá trị tài khoản Tỷ lệ lãi suất tối thiểu này đã có sự thay đổi theo từng giai đoạn và có xu hướng ngày càng giảm dần theo đơn vị thời gian như sau:
Năm Tỷ lệ lãi suất tối thiểu
và lao động nữ.31 Trong trường hợp người lao động nghỉ hưu sớm hoặc chậm trả các khoản đóng góp trước khi về hưu, tỷ lệ chuyển đổi sẽ được tổ chức quản lý quỹ điều chỉnh giảm từ 0,1% đến 0,15% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi, mức giảm cụ thể do
31 OECD, (2014), tlđd, p 359
Trang 38từng tổ chức quy định Ngoài ra, trong trường hợp ngược lại người lao động nghỉ hưu muộn (nghĩa là họ tiếp tục lao động và trì hoãn việc nhận lương hưu sau khi đạt độ tuổi nghỉ hưu theo luật định 65 tuổi đối với nam và 64 tuổi đối với nữ), tỷ lệ chuyển đổi sẽ được các tổ chức quản lý quỹ điều chỉnh tăng từ 0,1% đến 0,2% cho mỗi năm nghỉ hưu muộn Đây là cách thức khuyến khích người lao động tại Thụy Sĩ tiếp tục lao động sau khi đạt độ tuổi nghỉ hưu luật định để nhận thêm những khoản lương hưu bổ sung cho tuổi già Mặc dù, các tổ chức quản lý quỹ được quyền đưa ra các mức lãi suất hưởng khác nhau trên tài khoản tiết kiệm hưu trí của cá nhân trong trường hợp nghỉ hưu sớm hoặc trì hoãn việc nghỉ hưu nhưng Luật Liên bang Thụy Sĩ đưa ra quy định
về việc nghỉ hưu sớm và trì hoãn nghỉ hưu đối với người lao động không sớm hơn 05 năm và không muộn hơn 05 năm so với tuổi nghỉ hưu pháp luật quy định Khi Luật bảo hiểm hưu trí nghề nghiệp Thụy Sĩ được ban hành năm 1985 quy định tỷ lệ chuyển đổi là 7,2%32, tuy nhiên, thông qua quá trình thực hiện rất nhiều chuyên gia Thụy Sĩ nhận định 7,2% là một mức tỷ lệ chuyển đổi cao Do đó, vào năm 2003 tỷ lệ này đã giảm từ 7,2% xuống còn 6,8% Với những diễn biến xấu của cả quá trình già hóa dân
số và sự tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Chính phủ Thụy Sĩ luôn xem xét liệu các thông số về tỉ lệ chuyển đổi ở Thụy Sĩ đã thật sự hợp lý, có nên tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ lệ này trong tương lai Gần đây nhất là năm 2010, trong cuộc cải cách chế độ hưu trí nghề nghiệp tại Thụy Sĩ, Chính phủ Thụy Sĩ đã đưa ra giải pháp tiếp tục giảm mức tỷ lệ chuyển đổi xuống 6,4% nhưng cải cách này bị phủ quyết bởi 72,7% cử tri cả nước.33
Các chế độ hưu trí nghề nghiệp
Lương hưu bổ sung:
Các tổ chức quản lý quỹ thực hiện việc chi trả lương hưu bổ sung cho người lao động tại thời điểm người lao động đủ độ tuổi nghỉ hưu theo luật định (65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ) Tuy nhiên, người lao động có quyền yêu cầu các tổ chức quản lý Quỹ chi trả lương hưu bổ sung sớm hơn thời điểm luật định, nhưng tối đa không sớm hơn 05 năm trước khi người lao động đạt độ tuổi nghỉ hưu luật định Bên cạnh đó, đối với trường hợp nghỉ hưu muộn, người lao động có quyền yêu cầu trì hoãn việc chi trả lương hưu dựa trên ý chí tự nguyện của mình nhưng luật quy
32 Giuliano Bonoli, Dietmar Braun , Philipp Trein, (2014), tlđd, p 05
33 Giuliano Bonoli, Dietmar Braun , Philipp Trein, (2014), tlđd, p 06
Trang 39định quá trình trì hoãn không được quá 69 tuổi đối với lao động nữ và 70 tuổi đối với lao động nam Hình thức chi trả lương hưu bổ sung từ hưu trí nghề nghiệp được áp dụng chi trả hàng tháng hoặc chi trả một lần Việc chi trả một lần các khoản lương hưu
bổ sung từ Quỹ hưu trí nghề nghiệp chỉ được áp dụng trong ba trường hợp như sau:
(1) Tài khoản tiết kiệm đạt giá trị thấp không đủ điều kiện chi trả hàng tháng; (2) Trở thành lao động tự do và không còn tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp;
(3) Ra nước ngoài định cư
Các khoản lợi ích hưu trí này sẽ được thanh toán một lần bằng tiền mặt nếu có yêu cầu của người lao động
Các chế độ trợ cấp bổ sung khi người lao động gặp rủi ro thương tật, chết trong
quá trình đóng góp: Trong quá trình tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp tại
Thụy Sĩ, người lao động không chỉ được hưởng các khoản lợi ích hưu trí từ Quỹ hưu trí nghề nghiệp khi người lao động đáp ứng đủ các điều kiện luật định, mà chương trình này còn hỗ trợ các khoản lợi ích rủi ro cho người lao động và thân nhân của họ trong hai trường hợp: khi người lao động gặp rủi ro thương tật và khi người lao động chết (đối với rủi ro chết, mức hỗ trợ sẽ chi trả cho thân nhân người lao động)
Trợ cấp “hưu trí thương tật”
Trong phạm vi điều chỉnh của chương trình hưu trí nghề nghiệp, ngoài lương hưu bổ sung mà người lao động được hưởng, Nhà nước Liên bang Thụy Sĩ còn hỗ trợ đến người lao động một khoản thu nhập gọi là trợ cấp “hưu trí thương tật” Theo đó,
khái niệm “thương tật” được định nghĩa như sau: Đó là“việc mất khả năng lao động
để tạo ra thu nhập do sự suy giảm khả năng lao động mặc dù đã áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng và điều trị hợp lý, sự bất lực này có thể một phần hoặc toàn
bộ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hạn hoặc dài hạn”.34 Các mức độ thương tật để làm cơ sở hưởng trợ cấp phải được xác định dựa trên mức thu nhập bị mất của người lao động và phải được tuyên bởi phán quyết của Văn phòng BHXH liên bang Thụy Sĩ (The Swiss Federal Social Insurance Office) Trong trường hợp người lao động tham gia chương trình hưu trí nghề nghiệp và xảy ra tai nạn dẫn đến tình trạng thương tật tối thiểu 40% trước khi đạt độ tuổi nghỉ hưu luật định35 thì sẽ đủ các điều kiện để yêu cầu
34 Luật BHXH liên bang Thụy Sĩ có hiệu lực từ ngày 01/01/2003
35 65 tuổi đối với lao động nam, 64 tuổi đối với lao động nữ
Trang 40được hưởng khoản hỗ trợ này từ Quỹ hưu trí nghề nghiệp Như vậy, Pháp luật Liên bang Thụy Sĩ đặt ra ba điều kiện để một người lao động nhận được khoản trợ cấp “hưu trí thương tật”, đó là: (1) người lao động phải có quá trình tham gia chế độ hưu trí nghề nghiệp, (2) mức độ thương tật tối thiểu bằng 40%, (3) rủi ro thương tật xảy ra trước khi đạt độ tuổi nghỉ hưu theo quy định pháp luật.36
Tại thời điểm người lao động đạt độ tuổi nghỉ hưu theo luật định, mức hỗ trợ sẽ được tính toán để chuyển đổi từ tài sản hưu trí với mức tỷ lệ chuyển đổi 6,8% áp dụng cho cả lao động nam và lao động nữ Bên cạnh đó, mức hỗ trợ này còn được xác định dựa trên mức độ khuyết tật khác nhau của người lao động như sau37:
Mức độ khuyết tật Mức trợ cấp hưu trí thương tật
40 – 49% 25% mức lương hưu bổ sung tối đa
50 – 59% 50% mức lương hưu bổ sung tối đa
60 – 69% 75% mức lương hưu bổ sung tối đa 70% trở lên Toàn bộ lương hưu bổ sung đã tích lũy Ngoài ra, các quy định về trợ cấp “hưu trí thương tật” không chỉ chi trả cho người lao động khi gặp rủi ro thương tật, mà chế độ này còn chi trả một khoản trợ cấp cho con của người lao động (bao gồm con trong giá thú, con ngoài giá thú), với quy định: Mỗi đứa trẻ sẽ nhận được 20% mức hỗ trợ tại thời điểm bố hoặc mẹ chúng đủ điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí thương tật Tuy nhiên, Quỹ hưu trí nghề nghiệp chỉ chi trả trợ cấp đến thời điểm: con dưới 18 tuổi hoặc từ 18 tuổi trở lên chưa tham gia vào quan hệ lao động nhưng việc chi trả không quá 25 tuổi
Trợ cấp “hưu trí sống sót”
Trong phạm vi điều chỉnh của chương trình hưu trí nghề nghiệp, ngoài lương hưu bổ sung mà người lao động được hưởng và mức hỗ trợ trong trường hợp gặp rủi ro thương tật, Nhà nước Liên bang Thụy Sĩ còn hỗ trợ thân nhân người lao động một khoản thu nhập gọi là trợ cấp “hưu trí sống sót” khi người lao động chết trước thời điểm đạt độ tuổi nghỉ hưu theo luật định38
36 65 tuổi đối với lao động nam và 64 tuổi đối với lao động nữ
37 The Swiss Federal Social Insurance Office (Federal Department of Home Affairs), 2016, tlđd, p 36
38 65 tuổi đối với lao động nam, 64 tuổi đối với lao động nữ