1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự thời lê sơ (thế kỷ xv)

61 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 557,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hoặc chỉ nghiên cứu về quyền phụ nữ trong hôn nhân – gia đình, quyền chính trị1… Được biết, chưa từng có đề tài viết về cơ chế bảo đảm quyền của người phụ nữ để nó được công nhận, thực t

Trang 1

BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Niên khóa: 2008 – 2012

Giáo viên hướng dẫn: ThS TRẦN QUANG TRUNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV) 1.1 Tư tưởng về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lịch sử

phong kiến Việt Nam 1

1.1.1 Quyền con người và bảo vệ quyền con người 1

1.1.2 Những quyền cơ bản của người phụ nữ 4

1.1.2.1 Các quyền về nhân thân 5

1.1.2.2 Các quyền về tài sản 8

1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người phụ nữ 10

1.3 Các cơ chế bảo vệ người phụ nữ 14

1.3.1 Trong thủ tục pháp lý 14

1.3.2 Các biện pháp hỗ trợ vật chất của Nhà nước và xã hội 16

1.3.3 Trong các chế định pháp luật hình sự 18

CHƯƠNG II: BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV) 2.1 Khái quát chung về luật hình sự Nhà Lê 21

2.2 Quy định các loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ 23

2.2.1 Quy định các loại tội xâm phạm quyền nhân thân của người phụ nữ 23

2.2.1.1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người phụ nữ 24

2.2.1.2 Các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ 26

2.2.1.3 Các tội xâm phạm những quyền tự do của người phụ nữ 29

2.2.2 Quy định các loại tội xâm phạm quyền tài sản của người phụ nữ 31

Trang 4

2.3 Nguyên tắc xử lý hành vi xâm phạm quyền phụ nữ 32

2.3.1 Phân hóa trách nhiệm hình sự giữa hành vi xâm phạm quyền nhân với hành

vi xâm phạm quyền tài sản của người phụ nữ 32 2.3.2 Trách nhiệm hình sự được xác định theo mức độ, tính chất nguy hiểm và hậu quả đã gây ra cho người phụ nữ 35 2.3.3 Xử lý nghiêm hành vi xâm phạm quyền của người phụ nữ trong trường hợp đặc biệt 37

2.4 Những giá trị cần tham khảo về bảo vệ quyền của người phụ nữ trong pháp luật hình sự thời Lê sơ (1428 - 1527) trong giai đoạn hiện nay 44

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

1) Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài:

Quyền con người đang là vấn đề quan tâm chung của các quốc gia trên toàn thế giới, đồng thời được quy định rõ trong pháp luật dưới những mức độ khác nhau Chính sách pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhưng yếu tố đảm bảo nhân quyền là quan trọng nhất Quyền của người phụ nữ là một bộ phận quan trọng của quyền con người nên cũng cần được quan tâm, bảo vệ Hơn nữa, vấn đề bình đẳng giới còn là một trong những nội dung quan trọng của mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội Với mục đích nhằm xóa bỏ dần hậu quả từ sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo “trọng nam, khinh nữ” tồn tại trong tư duy của người dân Việt khiến kìm hãm các quyền của người phụ nữ trên thực tế

Hiện nay ở nước ta, quyền của người phụ nữ được khẳng định tại Điều 63

Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): “Công dân nữ và nam có quyền

ngang nhau về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình, nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ Xúc phạm nhân phẩm phụ nữ…” Tuy nhiên,

vấn đề này đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp Việt Nam Tiêu biểu, vương triều Lê sơ (1428 - 1527) để lại những dấu ấn rực rỡ về vấn đề thừa nhận và bảo vệ quyền con người Trong đó, đạt đến đỉnh điểm cao nhất là thời vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) với những cố gắng nhất định trong việc bảo vệ quyền

phụ nữ trên phương diện pháp lý lẫn thực tiễn Vì lẽ đó, Tác giả chọn đề tài: “Bảo

vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự thời Lê sơ (thế kỷ XV)” làm đề tài

khóa luận

Trước đó, đã có nhiều bài viết (tạp chí, sách, báo, đề tài nghiên cứu khoa học…) về vấn đề quyền phụ nữ thời Lê sơ nhưng chỉ khai thác chung, bao quát

Trang 6

hoặc chỉ nghiên cứu về quyền phụ nữ trong hôn nhân – gia đình, quyền chính trị1… Được biết, chưa từng có đề tài viết về cơ chế bảo đảm quyền của người phụ nữ để

nó được công nhận, thực thi trên thực tiễn thông qua các quy định cụ thể trong chế định pháp luật hình sự Thông qua đề tài, tác giả phân tích một cách cụ thể hơn về chế định hình sự thời Lê sơ quy định như thế nào về cách thức, cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản về nhân thân và tài sản của người phụ nữ Từ đó, mạnh dạn rút ra những giá trị tiến bộ cần tham khảo, kế thừa trong giai đoạn hiện nay, góp phần bảo vệ người phụ nữ hiệu quả hơn nữa trong thời kỳ đất nước hội nhập

2) Mục đích nghiên cứu đề tài:

Đề tài nghiên cứu nhằm:

- Thứ nhất, đề tài tìm hiểu, phân tích khái quát các quyền cũng như cơ sở

xác lập nên quyền phụ nữ trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhất là thời nhà Lê (thế kỷ XV)

- Thứ hai, từ những quyền cơ bản đã được phân tích ở trên, đề tài tập trung

đi sâu nghiên cứu các cơ chế mà pháp luật hình sự nhà Lê đặt ra và cách thực hiện

nó trên thực tế để bảo vệ người phụ nữ Từ đó, chỉ ra những giá trị tiến bộ của pháp luật hình sự nhà Lê cũng như mạnh dạn đề xuất những kiến nghị về việc tiếp nhận những giá trị bất hủ đó nhằm bổ sung, hoàn thiện pháp luật hình sự hiện đại nói riêng, hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung trong vấn đề bảo vệ người phụ nữ

1

Ba trong số các bài nghiên cứu về vấn đề này là của tác giả Trần Quang Trung – “Quyền phụ nữ trong pháp luật

thời Lê sơ (thế kỷ XV) những kình nghiệm cần kế thừa”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, 2010; Phạm Thị

Ngọc Huyên – “Pháp luật nhà Lê trong việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ”, Tạo chí Khoa học pháp lý số 2/ 2010 và

đề tài luận văn cử nhân Luật – “Quyền phụ nữ trong pháp luật hôn nhân – gia đình thời Lê (thế kỷ XV)” củaTrần

Thế Khanh, khóa 31, Khoa luật Hành chính…

Trang 7

3) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền của

người phụ nữ trong pháp luật hình sự thời Lê thế kỷ XV (1428 - 1527)

- Phạm vi nghiên cứu: trên nền tảng nghiên cứu về quyền của người phụ nữ,

đề tài đi đến nghiên cứu chuyên sâu về cách thức, cơ chế thi hành pháp luật hình sự nhằm đảm bảo thực hiện những quyền của người phụ nữ được pháp luật thời Lê công nhận và bảo vệ

4) Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mác - Lê Nin kết hợp với phương pháp

so sánh, tổng hợp, đánh giá để hoàn thành vì đề tài còn dựa vào nhiều nguồn tài

liệu lịch sử, bài viết, tạp chí… để hỗ trợ nghiên cứu

5) Ý nghĩa của đề tài:

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu lĩnh vực pháp luật này nên kết quả của nó

có ý nghĩa tham khảo trong lĩnh vực học tập, nghiên cứu về lịch sử Nhà nước và pháp luật

6) Bố cục đề tài:

Đề tài gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát về quyền con người và quyền phụ nữ trong xã hội

phong kiến Việt Nam thời Lê thế kỷ XV

Chương 2: Bảo vệ người phụ nữ trong pháp luật hình sự thời Lê (thế kỷ XV)

Ngoài ra, còn có thêm các tiểu mục về phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG XÃ

HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM THỜI LÊ SƠ (THẾ KỶ XV)

1.1 Tư tưởng về quyền con người và bảo vệ quyền con người trong lịch sử phong kiến Việt Nam:

1.1.1 Quyền con người và bảo vệ quyền con người:

Vấn đề quyền con người ra đời và phát triển cùng với sự ra đời, phát triển của chế

độ tư hữu, giai cấp, nhà nước và pháp luật Nó là phạm trù mang tính lịch sử cụ thể, sự gắn bó thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” và “quyền xã hội” Trên thế giới, khái niệm “quyền con người” đã dần được sử dụng một cách rộng rãi, luôn là đề tài đáng được quan tâm của nhiều học thuyết, hệ tư tưởng Thế nhưng ở nước ta, với nền nông nghiệp lúa nước gắn liền lối sống gắn bó, giản dị thì khái niệm “quyền con người” không được gọi thành tên mà nó dường như là tiềm thức ăn mòn trong tâm hồn người dân Việt Tình người ấy tồn tại từ rất lâu đời và luôn được trau dồi suốt quá trình phát triển của dân tộc từ ngày sơ khai Nhưng mãi tới giai đoạn gần đây, những quyền cơ bản của con người mới được nhắc tới một cách phổ biến

Nhìn chung, sau hơn 1000 năm Bắc thuộc (179 TCN – 938 SCN) dân tộc Việt Nam vào nửa sau thế kỷ X với các nhà nước Ngô, Đinh, Tiền Lê bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, xác lập và củng cố chính thể quân chủ tuyệt đối Tiếp tục thực hiện mục tiêu khôi phục lại những quyền và lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị phong kiến, đưa ra quyết sách trị vì toàn xã hội Việc lựa chọn Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống đã hình thành nên hình ảnh của Hoàng đế phong kiến

là người của “thiên mệnh” Người được “trời” trao cho quyền đứng trên xã hội, nắm trong tay “vương quyền” kết hợp với “thần quyền” trở thành cỗ máy chà đạp,

vi phạm các quyền con người, trói buộc xã hội phải phục tùng quyền năng tối

Trang 9

thượng đó2 Do vậy, đức vua là tầng lớp tối cao Song bên cạnh quyền uy vua chúa thì “thần dân” cũng có những quyền năng nhất định để đảm bảo cuộc sống, trong

đó quyền sống, lao động, các quyền nhân thân, tài sản luôn được đảm bảo ở mức

cơ bản nhất

Dẫu rằng, vua là đức bề trên song trong xã hội mới vừa dành lại độc lập từ tay kẻ thù dường như cái “tôi” của mỗi người đều co khép lại, nhường chỗ cho những quyền chung của toàn cộng đồng Con người không tồn tại với tư cách cá nhân tự

do, cá thế độc lập mà cái “tôi” riêng rẽ bị hòa tan vào môi trường chung của toàn

xã hội Hơn nữa, “cách “tư duy châu Á” xem nhẹ cá nhân và tự do cá nhân, “chủ

nghĩa cá nhân” không được đề cao, cá nhân luôn phải đi sau và phải luôn vì tập thể” 3 Chính vì lẽ đó, tạo nên một mái nhà chung của đại gia đình đoàn kết, sẻ chia, khiến cho mỗi cá nhân không thể tách rời ra được

Sử gia Ngô Thì Sĩ có viết: “Nước Nam về đời Lạc Hồng vua dân cùng cầy, cha con

cùng tắm, người và giống vật cùng ở nhà sàn, cấy ruộng lạc điền theo nước triều lên xuống Dân sống đời bấy giờ cùng nhau vui vẻ chơi đùa ở trong cõi đất không rét, không nóng… có thể nói đời thì chí – đức, nước thì vực lạc… vua dân thân nhau, dầu vài nghìn năm cũng không thay đổi” 4 Chính môi trường sản xuất nông

nghiệp lúa nước đã gắn kết toàn dân tộc ta với nhau về cả quyền và lợi ích tạo nên một cộng đồng vững mạnh và phát triển

Ở thời nhà Lý – Trần – Hồ, những quy định về pháp luật dân sự như: được sở hữu

tư về ruộng đất, có quy định về các loại hợp đồng (như hợp đồng điển mại, hợp đồng đoạn mại), các lĩnh vực khác về thừa kế và hôn nhân gia đình… đã có sự

Trang 10

quan tâm đến nhân tố con người5 Tuy nhiên, trong chế định luật hình sự còn tồn tại những quy chế pháp lý hạn chế coi thường tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm con người Đặc biệt, những quy định về hình phạt rất nghiêm khắc gồm 5

loại: xuy, trượng, đồ, lưu, tử Đều là những hình phạt mang tính chất dã man, nhục

hình cao, gây đau đớn kéo dài như lăng trì, lục thi… xúc phạm danh dự con người Các hình phạt thích chữ, chặt ngón chân, ngón tay được áp dụng nhằm ngăn ngừa hành vi phạm tội nhưng nó để lại vết tích vĩnh viễn trên cơ thể người phạm tội Ví

dụ: Chiếu 1125 thời Lý Nhân Tông “Kẻ đánh chết người thì xử 100 trượng, thích

vào mặt 50 chữ, đồ làm khao giáp”6 Đến triều Nhà Lê, sự hà khắc dần được giảm nhẹ, trung hòa dần với những quy chuẩn đạo đức được cụ thể hóa trong Quốc triều hình luật Bộ luật thể hiện được tư duy về kỹ thuật lập pháp, thể chế hóa được nhiều khía cạnh thuộc về quyền con người với những nhu cầu và quyền lợi thiết thực Quán triệt được khát vọng sống, tồn tại và phát triển của con người cá nhân trong cộng đồng xã hội, tạo nền tảng vững chắc cho xã hội Cụ thể như:

- Quốc triều hình luật phản ánh rõ nét tư tưởng nhân ái “lá lành đùm lá rách”, không được phân biệt đối xử giữa các tầng lớp trong cùng xã hội Điều 294 quy định phải giúp đỡ kẻ ốm đau, không nơi nương tựa, phải chôn cất người chết đường; Điều 295 phải chăm sóc người cô quả, tần tật không nơi nương tựa… Chính những quy định trên đã gắn kết tình người vào pháp luật, nâng cao ý thức về cách sống, tinh thần nhân đạo sâu sắc trong truyền thống dân tộc Việt Nam

- Bộ luật còn bảo vệ quyền sống, phẩm giá con người giữ gìn cuộc sống bình yên cho dân chúng Ngăn chặn những hành vi làm dụng quyền hạn quan chức ức hiếp

dân lành Điều 300 quy định: “Những quan ty ở trấn ngoài cùng các tướng hiệu mà

tự tiện thu tiền của quân dân để làm vật lễ cung phụng lên vua thì xử biếm một tư,

Trang 11

nặng thì thêm một bậc và bắt trả lại lễ vật cho quân dân” Hay Điều 304 BLHĐ,

cấm quan lại cai quản dân đinh làm việc càn bậy, Điều 306, 312, 453 BLHĐ quy định tội giấu diếm, đem bán nô tỳ, người dân bất hợp pháp… Ngoài ra, pháp luật nhà Lê còn có những quy định cụ thể trong việc bảo vệ quyền và lợi ích cho những đối tượng yếu thế như phụ nữ, nô tỳ, những đối tượng phải sống phụ thuộc vào gia đình như người già, người tàn tật và trẻ em…

Tóm lại, quá trình xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà Lê đã góp phần rất lớn trong vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, đấu tranh vì quyền lợi của người phụ nữ nói riêng Để họ được công nhận, bảo vệ trong xã hội, được tôn trọng trong gia đình với những quyền năng, vai trò cụ thể Từ đó, những người phụ nữ có thêm động lực tiếp tục sống vì chính họ, vì gia đình và hơn hết thể hiện tối đa vai trò chủ chốt trong ổn định đời sống vật chất trong toàn xã hội

1.1.2 Những quyền cơ bản của người phụ nữ:

Theo từ điển Tiếng Việt thì quyền là: “Lợi lộc được hưởng do địa vị mang lại”; trong ngôn ngữ pháp lý, quyền được hiểu là quyền của cá nhân, công dân: “Là khả

năng của công dân được thực hiện những hành vi nhất định một cách tự nguyện, theo ý chí và sự lựa chọn của mình, mà pháp luật không cấm”7 Như vậy, quyền con người là một phạm trù chỉ mối quan hệ xã hội của cá nhân, trong đó họ có ý thức về nhu cầu, khát vọng của mình trong giới hạn mà pháp luật cho phép và phải được thừa nhận bởi xã hội Từ khái niệm về quyền nói chung, quyền con người nói

riêng, chúng ta có thể hiểu quyền của người phụ nữ là: “Khả năng mà pháp luật

cho phép người phụ nữ được lựa chọn cách thức xử sự (thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định) trong khuôn khổ pháp luật để được hưởng những lợi ích nhất định về vật chất, tinh thần, nhân thân”8 Tuy nhiên, quyền con người bắt

7

Đề cương Luật Hiến pháp Việt Nam – Trường Đại học Luật Tp HCM, 2004, Tr 64

8

Trần Quang Trung, Quyền phụ nữ trong pháp luật thời Lê sơ (thế kỷ XV) những kinh nghiệm cần kế thừa, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Trường, 2010, Khoa luật Hành Chính, Tr 14

Trang 12

nguồn từ lý thuyết “pháp quyền tự nhiên”, là những đặc quyền tự nhiên, cái vốn có của con người được tạo hóa ban tặng và được xã hội thừa nhận Cũng chính vì vậy, quyền phụ nữ được hiểu là khả năng được hành động của nữ giới có ý thức, có trách nhiệm; hay từ chối hoặc yêu cầu giành lại cái gì đó nhất là sự tự vệ của bản thân trước mọi thế lực xấu Nhưng tự bản thân “quyền cơ bản”, thiêng liêng này chưa phải là quyền, chưa có giá trị pháp lý Mà chỉ khi được đặt trong sự cộng sinh của cái chung, của cộng đồng xã hội, của sự hợp thức hóa từ pháp luật thì “quyền

tự nhiên” mới được phát huy và bảo vệ Pháp luật đóng vai trò vô cùng to lớn trong mọi thời đại, là công cụ, bước quy chuẩn cho mọi hành vi của con người Trong xã hội phong kiến cũng thế chỉ có pháp luật mới có thể bảo vệ và bênh vực những tâm hồn yếu ớt như người phụ nữ thoát khỏi sự bất công, hà khắc của xã hội, sự gia trưởng của đàn ông, người thân trong gia đình

1.1.2.1 Các quyền về nhân thân: “được hiểu là những quyền gắn với đời sống tinh

thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”9 Tuy nhiên, trong xã hội phong kiến trước nhà Lê sơ (tức trước năm 1427) quyền nhân thân của người phụ

nữ dường như bị hạn chế rất nhiều Người phụ nữ luôn phải gánh chịu nhiều bất công từ bên ngoài xã hội cũng như trong gia đình khi Nhà Lê hình thành đã có nhiều bước đột phá rất tích cực, tiến bộ trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền phụ

nữ hơn so với các triều đại trước

- Các quyền về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ Sự ra đời của

BLHĐ là bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp Việt Nam về vấn đề bảo vệ quyền con người Trong đó, đặt ra hàng loạt quy định tiến bộ bảo vệ tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ Sự tiến bộ ưu việt thể hiện tại các quy định luật như: Điều 1 BLHĐ quy định khi phạm tội đồ hoặc lưu thì phạm nhân nam giới bị đánh bằng trượng, còn nữ giới chỉ phải chịu hình phạt bằng roi Điều 313 xử tội về mua

9

TS Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm và phận loại quyền nhân thân, Tạp chí Luật học số 7/2009, Đại Học Luật Hà Nội

Trang 13

bán phụ nữ: “Con gái tự bán mình mà không có ai bảo lĩnh thì người mua cùng…

thì bị xử tội xuy, trượng như luật (đàn bà đánh 50 roi, đàn ông đánh 80 trượng) ”; Điều 320 bảo vệ người phụ nữ chưa hết tang chồng muốn thủ tiết mà

bị ép gả cho người khác; hay “Hiếp dâm thì xử tội lưu hay tội chết và phải nộp tiền

tạ… nếu làm người đàn bà bị chết thì điền sản của người phạm tội phải trả cho nhà người bị chết” (Điều 403) hoặc tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 404:

“Gian dâm với con gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người con gái thuận tình cũng

xử tội như hiếp dâm” Như vậy, dù quy định trực tiếp hay gián tiếp thì qua cách

“làm luật” và thực thi pháp luật cho thấy quyền lợi của người phụ nữ được đảm bảo một cách hữu hiệu và khả thi nhất

- Quyền được hưởng cuộc sống tự do Quyền cơ bản này nhằm tới đối tượng là

tầng lớp nô tỳ trong xã hội xuất phát từ những người phạm tội, vợ con của những

kẻ phản nghịch, bán nước… Đây là tầng lớp có địa vị thấp hèn trong xã hội, luôn phải chịu những bất công, thậm chí ngay cả tính mạng của họ cũng chịu dưới sự định đoạt của chủ nhân Ngoài một vài quy định để bảo vệ nô tỳ: Điều 291 quy định về việc nô tỳ đã có giấy được trả tự do về làm lương dân nhưng bị cưỡng ép làm tôi tớ hay Điều 341 quy định về nô tỳ nhà nước ban cho là vợ con của kẻ phản nghịch, bán nước theo giặc thì không được bán… thì tại các Điều 480 BLHĐ quy

định vô cùng hà khắc: “Nô tỳ đánh chủ nhà thì xử tội giảo; đánh què, bị thương thì

phải tội chém; ngộ sát thì phải lưu đi châu xa, lỡ làm bị thương thì lưu đi châu ngoài;… ” Thân phận người nô tỳ thấp hèn luôn bị bạc đãi, họ hầu như không có

cơ hội sống sót nếu vi phạm quy tắc của gia chủ, chống trả lại gia chủ thì hình phạt dành cho họ vô cùng nặng nề Mặt khác sự bất công chưa dừng lại ở đó, gia chủ có quyền bóc lột, mắng nhiếc nô tỳ và nếu đánh nô tỳ thì mức hình phạt lại nhẹ hơn

rất nhiều Điều 490 quy định: “Nô tỳ có tội chủ không thưa quan chức trách mà

đánh chết, thì xử biếm ba tư; không có tội mà đánh chết thì xử tội đồ, ” Như vậy,

trong xã hội phong kiến những người phụ nữ lương dân vốn đã chịu nhiều thiệt

Trang 14

thòi trong đời sống vật chất lẫn tinh thần huống chi những người phụ nữ làm nô tỳ _ tầng lớp tận cùng của xã hội Quyền sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí của chủ nhân Do vậy, sự sống và cả mong muốn được giải phóng đối với họ là rất cần thiết Bên cạnh đó, còn cho thấy pháp luật nhà Lê đã tạo được những cơ sở pháp lý nhất định nhằm hạn chế được tình trạng nô tỳ hóa trong xã hội phong kiến, làm cho tính chất của nô tỳ thay đổi, địa vị của họ được cải thiện rất nhiều

- Các quyền trong đời sống hôn nhân – gia đình Trong xã hội phong kiến tập

quyền thì đạo hạnh của người phụ nữ suốt đời phụ thuộc vào người đàn ông trong

gia đình: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Người phụ nữ

dường như phải cam chịu số phận lệ thuộc, không đấu tranh quyết liệt để dành lại quyền được tự do mưu cầu hạnh phúc Nhưng đến thời Lê, pháp luật đã cho phép người phụ nữ được chủ động trong hạnh phúc riêng của mình bằng những quy định thoáng hơn rất nhiều so với pháp luật phong kiến cổ xưa và tư duy cổ hủ, lạc hậu của xã hội Các quan hệ hôn nhân - gia đình trong xã hội dưới thời Lê được điều chỉnh khá toàn diện và thấm đượm những sắc thái riêng biệt, độc đáo; vừa thể hiện được những tiến bộ mang tính nhân đạo đồng thời phù hợp với tập quán truyền thống của dân tộc Việt Nam

Người phụ nữ khi chưa lấy chồng có quyền được cha, mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để bảo đảm sự phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ; quyền được tham gia lao động, sản xuất Người phụ nữ đã có chồng thì có nhiều các quyền nhân thân và tài sản hơn tuy nhiên chưa đến mức bình đẳng tuyệt đối so với người chồng Ngoài các quyền nhân thân nêu trên, người phụ nữ còn có quyền ly hôn, tái hôn, quyền được đồng cư với chồng

1.1.2.2 Các quyền về tài sản: Bên cạnh việc bảo vệ quyền nhân thân pháp luật nhà

Lê cũng rất chú trọng đến việc bảo vệ các quyền tài sản cho người phụ nữ cả quyền

được sở hữu tài sản cũng như quyền được hưởng và để lại tài sản thừa kế

Trang 15

Thứ nhất, quyền sở hữu tài sản của người vợ: thông qua 7 điều luật (Điều 374, 375,

376, 391, 395, 396, 397 BLHĐ) được chia ra thành hai loại tài sản như sau:

Một là, tài sản trong quan hệ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Trong mối quan hệ hôn nhân, cả vợ và chồng đều bình đẳng về quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung đó Một trong hai bên vợ hoặc chồng muốn thực hiện giao dịch chuyển nhượng tài sản thì phải nhận được sự đồng ý của bên kia và phải thông qua khế ước rõ ràng dưới sự làm chứng của quan lại địa phương

Hai là, người vợ có quyền đối với tài sản riêng bao gồm của hồi môn khi xuất giá, tài sản nhận thừa kế của cha mẹ đẻ Sau khi kết hôn những tài sản này được nhập vào khối tài sản chung của hai vợ chồng Tuy nhiên, trong trường hợp khi người chồng chết trước hay không còn quan hệ hôn nhân nữa thì toàn bộ khối tài sản đã nhập trước đó sẽ lại thuộc quyền sơ hữu của riêng người vợ

Thứ hai, về quyền được nhận cũng như để lại tài sản thừa kế: BLHĐ quy định khá

cụ thể về các trường hợp cho người phụ nữ được hưởng thừa kế từ chồng (Điều

374, 375, 376), từ cha mẹ chồng Ví dụ, Điều 375 quy định trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng do bố mẹ cho, khi người chồng chết người vợ vẫn được hưởng ½ số tài sản để hưởng suốt đời mà không được làm của riêng, một nửa còn lại thuộc về người thừa tự Đối với tài sản chung vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân, khi người chồng chết trước thì tài sản sẽ được chia ra làm hai phần bằng nhau Phần của người vợ giữ nguyên làm của riêng, phần của người chồng được chia làm 3 phần, cho người thừa tự giữ 1 phần, người vợ hưởng 2 phần làm của nuôi mình mà không được làm của riêng Nếu người vợ chết hoặc cải giá thì phần

ấy thuộc về người thừa tự Hơn nữa, BLHĐ còn quy định một cách chi tiết, tạo nên

sự công bằng trong việc các con được hưởng tài sản thừa kế từ cha mẹ: “Cha mẹ

mất cả, có ruộng đất… anh em chị em tự chia nhau…” (Điều 388) cho phép con

của vợ lẽ, người hầu vẫn được hưởng thừa kế tuy có phần kém hơn Đặc biệt, tại Điều 391 cho phép người con gái trưởng được thừa tự, thừa hưởng hương hỏa thờ

Trang 16

phụng tổ tiên trong trường hợp không có con trai trưởng Tạo nên điểm sáng tạo về quyền thừa kế của người con gái như được biết ở Việt Nam mà không được chấp nhận ở xã hội Trung Quốc Ở xã hội ấy, những người con gái thường bị loại ra khỏi việc phân chia gia sản mà chỉ được một món hồi môn nhỏ khi về nhà chồng Một ngoại lệ duy nhất vào thời kỳ Nam Tống (1127 - 1279) có quy định cho phép con gái được hưởng một phần, bằng một nửa của con trai10 Tuy vậy, vẫn còn tồn tại khoảng cách khá lớn về sự phân biệt “trọng nam khinh nữ”, hạn chế quyền hưởng di sản làm ảnh hưởng đến quyền lợi của phái nữ trong xã hội phong kiến xưa

Tóm lại, việc cho phép người vợ quản lý tài sản gia đình sau khi người chồng mất, người con gái được hưởng phần thừa kế ngang bằng với người con trai… thể hiện

sự tiến bộ rõ nét của BLHĐ đồng thời cho thấy những lợi ích thiết thực của người phụ nữ đã được pháp luật nhà Lê quan tâm, đề cao và bảo vệ tối ưu

1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền của người phụ nữ:

- Thứ nhất, bảo vệ quyền của người phụ nữ là bảo vệ pháp luật, hệ tư tưởng nói

chung của xã hội, góp phần bảo đảm thực thi quyền con người Như chúng ta đã

biết, việc thiết lập hệ thống pháp luật để bảo vệ con người, đảm bảo trước hết cho lợi ích của giai cấp thống trị Song với những tiến bộ trong nhận thức cũng như ảnh hưởng từ hệ tư tưởng Nho giáo đã dần thay đổi tư duy của giai cấp thống trị nói riêng, của xã hội nói chung Hình thành nên những suy nghĩ thoáng hơn rất nhiều

về vị trí của người phụ nữ, công nhận vai trò quan trọng của họ trong đời sống Vì vậy, pháp luật đã đề cập và cơ bản bảo vệ khá nhiều quyền cho người phụ nữ, xóa dần những hủ tục phong kiến đang đè nặng trên vai những người vợ, người mẹ, người con gái yếu ớt Qua đó, góp phần đảm bảo quyền con người được hiện thực hóa, tạo nên sự bình đẳng giới trong xã hội, giúp người phụ nữ thiết lập lại quyền được công nhận và đối xử công bằng trong gia đình Việt Từng bước nâng cao

10

Insun Yu, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, tr 183

Trang 17

tiếng nói, vai trò người phụ nữ trong “xã hội thu nhỏ” của chính mình, khiến những người chồng, người cha gia trưởng không còn quyền ngang nhiên xúc phạm hay xâm hại phụ nữ

Nhìn chung, dù trong xã hội nào cũng không thể phủ nhận vai trò của người phụ

nữ, không thể thiếu sự hiện diện của bàn tay những người vợ, người mẹ Ngay trong chế độ phụ hệ, người đàn ông tuy giữ vai trò quyết định phần lớn công việc

chính nhưng đằng sau đó luôn có sự trao đổi với người phụ nữ “Đằng sau sự thành

công của đàn ông luôn có bóng dáng người phụ nữ” Thậm chí với những người

phụ nữ có bản lĩnh và ý chí tự lập thì họ quyết định hết thảy mọi việc trong gia đình, làm thay nhiệm vụ của người chồng: “Sinh gái thì e gả chồng, sinh trai cưới

vợ mặc lòng thiếp lo” Qua đó, cho thấy các nhà làm luật (hay dân gian) đã xác định được vị trí quan trọng của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Vì vậy, đã thiết lập nên nhiều điều luật bảo vệ quyền cho họ, đề ra cơ chế rõ ràng với những hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm, cản trở người phụ nữ thực hiện quyền của mình

- Thứ hai, Bảo vệ quyền của người phụ nữ là bảo vệ một trong những đối tượng

yếm thế, dễ bị tổn thương Việt Nam cũng như Trung Quốc và một số nước Châu

Á khác chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo Do đó, quan niệm trọng

nam, khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Việt xưa: “nữ nhi ngoại tộc”,

“Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (sinh một con trai thì coi là có, sinh mười con

gái cũng coi như không có)… Vì rất nhiều những trói buộc nên người phụ nữ trong

xã hội phong kiến hầu như không có vai trò gì “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng

phu, phu tử tòng tử” (phụ nữ chưa có chồng thì phải theo cha, lấy chồng phải theo

chồng, chồng chết ở vậy nuôi con) Điều đó khiến cuộc đời người phụ nữ phải trải qua vô vàn cực khổ về đời sống vật chất, tinh thần Họ tồn tại chỉ như những người hầu đi ở đợ, làm lụng quần quật suốt năm tháng mà không hề được công nhận quyền được sống thoải mái, quyền được mưu cầu hạnh phúc riêng…

Trang 18

Nếu ngày nay, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người già yếu… được xếp vào nhóm

“đối tượng dễ bị tổn thương” cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng Thì hơn

500 năm trước, việc lựa chọn tư tưởng Khổng tử, Mạnh tử làm nền tảng của Quốc gia cũng cho thấy quyền lợi của người phụ nữ được bênh vực và bảo vệ bởi rất nhiều điều luật chặt chẽ trong BLHĐ Nhất là của quan chức đối với nhóm người này Đây chính là một trong những điểm tiến bộ, nhân đạo của pháp luật thời Hậu

Lê, tiêu biểu nhất ở thời vua Lê Thánh Tông

Có lẽ chính cuộc đời lam lũ của mình khi cùng mẹ là Tiệp Dư Ngô Thị Ngọc Dao (sau này là hoàng hậu) sống trong cảnh dân dã nơi có đông đảo những con người cùng đinh khốn khổ Hay phải chăng Lê Thánh Tông khi còn là hoàng tử Lê Tư Thành đã lớn lên dưới sự dạy bảo của người mẹ hiền Tuổi thơ lớn lên ở nơi có những người phụ nữ đôn hậu nhưng luôn chịu thiệt thòi, nên khi nắm giữ ngai vàng Người thấy cần phải bênh vực quyền lợi cho những con người này Cũng vì thế, khi quyết định hệ thống lại luật pháp trong BLHĐ đã có những quy định khá

rõ ràng và chính thức có tiếng nói bảo vệ người phụ nữ một cách thỏa đáng, xứng với vai trò quan trọng của họ trong gia đình và xã hội Cho phép người phụ nữ được quyền sống tự do, được giải thoát mình ra khỏi những cuộc hôn nhân không

có hạnh phúc; không buộc phải làm tròn nghĩa vụ đối với người chồng luôn coi rẻ người vợ mà chính họ cưới hỏi về Ngoài ra, những người phụ nữ neo đơn, góa bụa, không chốn nương thân… phải được quan lại địa phương cưu mang, giúp đỡ Hơn nữa, trong gia đình phong kiến xưa người vợ trên lý thuyết bị đòi hỏi phải lệ thuộc vào chồng và không được làm điều gì nếu không có sự chỉ đạo hay đồng ý của chồng Nhưng trên thực tế, địa vị của người vợ - chồng thay đổi nhiều tùy thuộc theo vị trí xã hội và kinh tế của họ Cũng giống như người chồng, người phụ

nữ Việt Nam xưa có tài sản riêng và cũng tham gia các hoạt động kinh tế Đó là điều khác biệt với người phụ nữ Trung Quốc Chính những hoạt động ấy đã phần

Trang 19

nào chứng tỏ pháp luật Việt Nam đã đứng về phía người phụ nữ, lên tiếng bảo vệ những thành phần yếu thế trong xã hội

- Thứ ba, bảo vệ quyền phụ nữ là bảo vệ lực lượng lao động, bảo vệ sức lao động

cho xã hội:

Với nền nông nghiệp lúa nước là chủ yếu, công cụ sản xuất còn vô cùng thô sơ đòi hỏi lực lượng lao động rất lớn Hơn nữa, do ảnh hưởng sâu sắc bởi hệ tư tưởng Nho giáo nhất là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” nên sự phân công lao động trở nên rất cứng nhắc Nam giới giữ vai trò quản lý gia đình, xã hội trong khi trên lý thuyết phụ nữ chiếm 50% thành phần xã hội nhưng là lực lượng lao động sản xuất chính, phải làm lụng vất vả mà hầu như không hề có vị trí, tiếng nói trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, giáo dục…

Ngay từ khi lập quốc, đất nước có chiến tranh đàn ông xung trận đánh giặc, đàn bà

ở nhà làm trụ cột gia đình, làm hậu phương vững chắc cho chiến trường, chung tay bảo vệ Tổ Quốc Trong thời bình, những người vợ, người mẹ, người con gái luôn giữ vững đạo hạnh, cần cù sản xuất, chỗ dựa vững chắc cho đàn ông lo chuyện văn chương thi cử, giúp gia đình ổn định cuộc sống Tính chịu thương chịu khó, đức hi sinh đã giúp phụ nữ khẳng định vai trò của mình trong kinh tế - gia đình, gắn liền với hiện tượng mẫu hệ thời cổ đại, quyết định trong việc bảo đảm sự ổn định đời sống vật chất cho toàn xã hội Xứng đáng với lời nhận xét của các sử gia nước

ngoài về người phụ nữ Việt: “Phụ nữ ở xứ này rất năng động Họ làm nhà làm

gốm, chèo thuyền, bán hàng, bật bông kéo sợi, dệt vải, may vá quần áo, phần lớn công việc là do phụ nữ cáng đáng” 11

Hơn nữa, trong lao động, người phụ nữ được trả công ngang bằng với người thợ

nam, "Không có sự phân biệt về tiền công nhật cho lao động đàn ông với đàn

11

Dẫn theo Lê Thị Nhâm Tuyết, “Những hủ tục bất công trong vòng đời người phụ nữ Việt Nam”, Nxb Thanh

Niên, Hà Nội, 2007, Tr 17

Trang 20

bà”12, Điều 23 trong BLHĐ quy định tiền công nhật cho nô tỳ là 30 đồng Việc trả công ngang bằng như thế rõ ràng cho thấy sức lao động của phụ nữ được đánh giá cao và vị trí của người phụ nữ được tôn trọng trong xã hội

Chính vì thế, không chỉ trong xã hội ngày nay mà ngay trong xã hội phong kiến cổ xưa cũng không thể phủ nhận quyền và lợi ích chính đáng của người phụ nữ trước những đóng góp vô cùng to lớn của họ Cho nên, trong một chừng mực nào đó pháp luật phong kiến đã chú trọng vấn đề bảo vệ người phụ nữ Vừa để đảm bảo tính hợp pháp trong lao động sản xuất, vừa nhằm duy trì nguồn lực (sức lao động) của người phụ nữ để tạo ra đời sống vật chất cho xã hội

Tóm lại, người phụ nữ Việt Nam luôn giữ vai trò không thể thiếu trong đời sống kinh tế gia đình và xã hội Là một nửa của thế giới, tế bào của xã hội thì họ đã hoàn thành tốt các chức năng: sinh sản, văn hóa, giáo dục, kinh tế và dần có vị trí trong chính trị Do đó, dù trong bất kỳ xã hội nào thì người phụ nữ cũng đều xứng đáng được tôn vinh

1.3 Các cơ chế bảo vệ người phụ nữ

Trong pháp luật nhà Lê, về mặt thủ tục pháp lí gần như không có sự ưu tiên nào theo giới tính, tuổi tác hay địa vị xã hội Hầu hết mọi quy định về thủ tục hành chính cũng như các hoạt động tố tụng khác đều thể hiện rõ sự bình đẳng cho cả nam và nữ giới Riêng đối với phụ nữ, pháp luật không dành được nhiều quyền ưu tiên nhưng đối với những quyền như: quyền quyết định hôn nhân cho con, quyền được hưởng thừa kế, để lại thừa kế,… thì họ được hoàn toàn chủ động thực hiện

mà không cần sự can thiệp của bất kỳ chủ thể nào khác Ngoài ra, trong nhiều trường hợp khác người phụ nữ muốn sử dụng và được hưởng quyền pháp lý cần phải thông qua thủ tục pháp lý cụ thể:

12

Hong-Duc.csv (09/01.2010)

Trang 21

http://www.cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=detail&mabv=4908&/Quyen-loi-nguoi-phu-nu-trong-bo-luat-Một là, thiết lập thủ tục hành chính để bảo vệ những quyền của người phụ nữ –

quyền không mặc nhiên phát sinh mà cần có sự can thiệp của Nhà nước Tức là,

trong một số trường hợp quyền của người phụ nữ không mặc nhiên phát sinh mà cần có sự can thiệp, công nhận của công quyền, được các cơ quan hành chính nhà nước đứng ra bảo vệ họ trước sự bảo đảm của pháp luật Như vậy, cho dù người phụ nữ có chủ động hay tự giác thực hiện quyền của mình mà chưa có xác nhận hay đồng ý của chính quyền địa phương thì hành vi đó vẫn chưa đủ tính khả thi trên thực tế mà phải trải qua các quy định cụ thể về cách thức thực hiện Ví dụ, người phụ nữ có nguyện vọng cần được pháp luật công nhận và bảo vệ thì bước đầu tiên họ phải làm đơn gửi lên cơ quan công quyền nơi cư trú Sau khi nhận đơn nếu thấy có lí do chính đáng, có đủ cơ sở thực tế cũng như pháp luật hiện hành quy định cần bảo vệ thì thể hiện sự chấp thuận ấy trong nội dung quyết định của cơ quan mình Chẳng hạn như, Điều 322 BLHĐ có quy định cho phép người phụ nữ

có quyền hồi hôn trong trường hợp người con trai bị ác tật, phạm tội hoặc phá tán tài sản hay sau khi con gái được gả về nhà chồng nếu con rể lấy chuyện phi lý ra mắng nhiếc cha mẹ vợ thì đem việc thưa quan sẽ cho ly dị (Điều 333 BLHĐ)… Do

đó, những hành vi trên chỉ có giá trị pháp lý khi báo quan sở tại, được quan xem xét đúng lý do và có cơ sở pháp lý rõ ràng Vậy nếu hành vi báo quan không được thực hiện thì việc hồi hôn cũng như ly dị không có giá trị pháp lý, không được pháp luật bảo vệ Khi đó, những người phụ nữ sẽ phải chấp nhận mọi hậu quả cho

dù bất lợi và ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của mình Xuất phát từ nguyện vọng của người phụ nữ về việc được sử dụng, thụ hưởng quyền cơ bản của mình bằng cách thông qua thủ tục pháp lý các quyền đó được pháp luật bảo vệ và đảm bảo thực hiện hóa trên thực tế

Hai là, áp dụng các thủ tục tố tụng để giải quyết khi xảy ra tranh chấp hay khi

người khác cản trở người phụ nữ thực hiện quyền pháp lý Đây là cách làm luật

tiến bộ bởi lẽ vừa bảo vệ, khôi phục kịp thời cơ chế bảo vệ quyền của người phụ

Trang 22

nữ, đồng thời ngăn ngừa không để xảy ra tranh chấp hay cản trở phụ nữ thực hiện quyền mà pháp luật cho phép Trong BLHĐ tại hai chương Điền sản và Hộ hôn các nhà làm luật coi trọng các quyền cá nhân và vai trò của người phụ nữ _ điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm Cụ thể, có 30/722 điều luật (4%) bàn

về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản; 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình13 Những điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong xã hội và trong gia đình Chương Điền sản một mặt cho phép người phụ nữ được quyền để lại thừa kế và hưởng thừa kế mà không phân biệt con trai hay con gái, trong giá thú hay ngoài giá thú… Mặt khác, còn cho họ cái quyền được khởi kiện khi có đồng thừa kế gây tranh chấp, xâm phạm đến quyền hưởng di sản của họ Còn trong Hộ hôn tại Điều 308 BLHĐ có quy định:

“Người chồng xa cách vợ, không lui tới suốt 5 tháng, vợ được phép trình quan sở

tại xin li hôn thì người chồng đó mất vợ … Nếu đã bỏ vợ mà lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ thì phải tội biếm” Nó dường như đánh bật đi quan điểm cổ hủ

“Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” thể hiện cơ chế bảo vệ quyền nhân thân cho người phụ nữ, tránh cho họ bị xâm hại về lợi ích vật chất, lẫn tinh thần Hạn chế các hủ tục, định kiến xã hội để người phụ nữ có thể tự bảo vệ mình hay thuận tiện tiếp cận với cách bảo vệ của cơ quan công quyền và pháp luật Tóm lại, qua cách soạn thảo về nội dung cũng như quy định luật hình thức cho thấy pháp luật nhà Lê có sự tiến bộ vượt bậc, sáng tạo và có giá trị pháp lý cao hơn rất nhiều so với tập quán, lệ làng hay kể cả những hệ thống pháp luật triều đại trước

đó Đặc biệt, người phụ nữ đã được bảo vệ một cách cụ thể, triệt để, tiến bộ và nhân văn hơn

1.3.2 Các biện pháp hỗ trợ vật chất của Nhà nước và xã hội:

13

Hong-Duc.csv (09/01/2010)

Trang 23

Biện pháp này đề cập chủ yếu đến vai trò của các cơ quan công quyền trong việc bảo vệ quyền của người phụ nữ Bởi lẽ, họ thuộc nhóm người dễ bị tổn thương, phải chịu nhiều thua thiệt về điều kiện đời sống vật chất và tinh thần do hoàn cảnh của xã hội phong kiến đem lại Pháp luật cho phép người phụ nữ quyền “cầu cứu” pháp luật, nhờ đến sự can thiệp của chính quyền sở tại Vì thế, vai trò của quan lại địa phương rất quan trọng thay nhà nước làm luật, làm cán cân cho sự công bằng, đưa ra các phán quyết và bảo đảm về mặt pháp lý để phụ nữ được thực hiện quyền của mình Vì vậy, việc giao trách nhiệm cho chính quyền và quan lại địa phương

hỗ trợ thực hiện quyền là rất thiết thực, mang tính nhân văn sâu sắc… Để hơn hết, ngoài những người phụ nữ bình thường thì những người phụ nữ già cả, góa bụa, tật nguyền, nô tỳ… được bảo vệ và bù đắp phần nào thiệt thòi mà số phận đẩy đưa đến cuộc đời họ Trong xã hội phong kiến, quyền được sống, được bảo đảm tính mạng sức khỏe không phải ai cũng được thực hiện đầy đủ mà nó còn bị tác động bởi nhiều yếu tố như vật chất, địa vị xã hội,… Do đó, trong trường hợp người phụ nữ không thể tự đảm bảo được quyền này thì trước hết cần nhờ đến sự quan tâm, hỗ trợ của chính quyền sở tại Theo sử sách ghi lại tại Lệ 50 TNDHT và Điều 295 BLHĐ quy định những người góa bụa, cô độc, nghèo khổ, không có khả năng kiếm sống thì quan sở tại phải nuôi dưỡng, cấp cho họ cơm áo; nếu bỏ rơi thì bị đánh 60 gậy; cắt phần cơm áo của họ thì bị xử theo luật người giữ kho ăn trộm của công… hay tại Lệ 28 HĐTCT và Điều 366 BLHĐ giao trách nhiệm cho xã trưởng bảo vệ những người phụ nữ mang thai, lập giúp và làm chứng cho khế ước tài sản hay chúc thư cho người phụ nữ không biết chữ…

Qua đó, chúng ta nhận thấy pháp luật nhà Lê đã có những bước chuyển biến tiến

bộ trong cơ chế bảo vệ quyền con người nói chung và người phụ nữ nói riêng khi

đề cập đến hầu hết các thành phần phụ nữ trong xã hội bấy giờ Đồng thời, trực tiếp quy định trách nhiệm quan chức địa phương trong việc nắm bắt tình trạng áp

Trang 24

dụng và thực thi pháp luật trên địa bàn nhằm bảo vệ tối ưu quyền cơ bản của người phụ nữ

1.3.3 Trong các chế định pháp luật hình sự:

Luật hình sự nhà Lê, chủ yếu trong BLHĐ không quy định nhiều quy phạm về quyền của người phụ nữ mà cơ bản chỉ quy định cách thức xử lý hành vi xâm phạm quyền phụ nữ Theo luật, chủ thể được coi là tội phạm (không kể nam hay nữ) khi đủ 7 tuổi và về nguyên tắc pháp luật hình sự nhà Lê có hình thức xử lý rất nghiêm khắc về các hành vi phạm tội Song với ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo lấy tinh thần đức trị, nhân trị để trị vì đất nước thì pháp luật cũng tạo nên những ngoại lệ nhất định thể hiện thông qua các chính sách khoan hồng mang đậm tính nhân văn sâu sắc

Pháp luật hình sự thời Lê coi hành vi xâm phạm quyền của người phụ nữ là tội phạm nên sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu như, pháp luật của các triều đại trước nhà Lê chưa có quy định bảo vệ một cách triệt để quyền cơ bản của người phụ nữ, khiến cho nhóm chủ thể này vẫn phải gánh chịu những thiệt thòi, bất công, thậm chí trong mọi hoạt động của gia đình, xã hội quyền lợi của họ còn bị xâm phạm một cách thô bạo Nhưng những hạn chế đó được pháp luật thời Lê loại bỏ, khắc phục một cách hiệu quả nhất, phá vỡ các vỏ bọc, quan niệm sai trái của hủ tục, lệ làng khắt khe Và hơn hết, những hành vi xâm phạm quyền của người phụ

nữ sẽ bị pháp luật vạch trần, trừng trị bằng các chế tài nghiêm khắc, là “cái giá” mà

họ phải trả cho hành vi phạm tội của mình14 Tùy thuộc vào từng hành vi của tội phạm, hậu quả gây ra cho nạn nhân mà quy kết trách nhiệm hình sự Loạt hình phạt ngũ hình minh chứng cho việc pháp luật đề ra chế tài và sẵn sàng bảo vệ, thực thi một cách nghiêm minh nếu phát hiện hành vi vi phạm pháp luật

Mặt khác, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi xâm phạm quyền của người phụ nữ nhằm mục đích răn đe, ngăn ngừa tội phạm đối với mọi cá

14

Tập bài giảng Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Trường ĐH Luật tp HCM (2008 - 2009), tr 117

Trang 25

nhân trong xã hội Nhất là trong các tội xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm của người phụ nữ sẽ bị xử lý rất nặng, ngoài việc quy kết trách nhiệm cá nhân còn xem xét việc phạm tội có tổ chức, để quy kết trách nhiệm đối với những cá nhân khác trong vai trò giúp sức hoàn thành tội phạm Cũng như, pháp luật cho phép trong các loại tội đều được hưởng khoan hồng và được áp dụng hình thức cho chuộc tội bằng tiền trừ tội xuy – đánh roi vì các nhà làm luật xác định tính chất răn đe, giáo dục người phạm tội thấy xấu hổ mà tự răn đe bản thân Qua đó, thức tỉnh mọi cá nhân trong

xã hội hình thành ý thức tôn trọng và thực thi luật pháp một cách nghiêm túc, triệt

để

Pháp luật hiện đại có sự phân hóa rõ ràng giữa các chế định luật với nhau thì trong pháp luật thời Lê yếu tố này chưa thực sự thể hiện được giới hạn này một cách rõ ràng Trong các điều luật nhà Lê liệt kê, mô tả hành vi phạm tội và hình phạt đính kèm theo, một tội phạm có thể lĩnh án với nhiều hình phạt chính và bổ sung khác nhau tạo nên trách nhiệm vô cùng lớn Từ đó, buộc kẻ gây nên tội ác phải gánh chịu hình phạt thích đáng, tạo nên cái “gương” tác động trực tiếp đến tâm lý của con người trong cộng đồng để răn đe, cảnh tỉnh những cá nhân đang có âm mưu phạm tội nhằm hiệu quả cao nhất trong quá trình phòng, chống tội phạm Với tính chất thỏa thuận, thống nhất giữa các chủ thể trong quan hệ dân sự, hôn nhân – gia đình,… pháp luật ngày nay cho phép mọi cá nhân được thực hiện quyền của mình trong khuôn khổ nhất định Chỉ liệt kê các hành vi cấu thành tội phạm để dựa vào

đó làm căn cứ suy xét, xử lý theo trách nhiệm hình sự bởi trong chính các chế định

ấy không quy định về hình phạt Vì vậy, pháp luật hình sự đóng vai trò là công cụ bảo vệ các quyền đã được ghi nhận trong các chế định luật dân sự, hôn nhân – gia đình, hành chính… và luôn được Nhà nước trao quyền giám sát các hoạt động trên, đảm bảo thi hành trên thực tế bằng hệ thống hình phạt nghiêm khắc Đây là điểm mạnh trong quá trình quản lý Nhà nước bằng pháp luật đi theo định hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tiếp nối trên cơ sở tư duy lập pháp đã được

Trang 26

hình thành từ rất lâu đời trong hệ thống pháp luật thời Lê sơ Tuy rằng, không có phận định rõ nhưng thông qua các điều luật cho thấy rằng pháp luật nhà Lê liệt kê các loại tội phạm và quy định chi tiết các hình phạt thích đáng đối với tội phạm Các nhà làm luật đã nhận thức được chỉ khi có chế tài hình sự rõ ràng mới tăng sự giám sát và thực thi các quyền con người, trong đó những quyền của người phụ nữ

đã được pháp luật thừa nhận sẽ được bảo vệ một cách mạnh mẽ và đạt hiệu quả tối

ưu nhất; không đơn thuần là quy định loạt quyền lợi của người phụ nữ mà bỏ bê việc quản lý, giám sát và xử lý trách nhiệm nếu các quyền đó bị xâm phạm thô bạo Chính vì thế, việc xây dựng hệ thống hình phạt trong pháp luật hình sự thực sự cần thiết, kết hợp với việc Nhà nước đảm bảo cưỡng chế thi hành và trao quyền cho các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người phụ nữ từng bước tạo nên cơ chế bảo vệ hoàn chỉnh nhất, phát huy tối đa tính ưu việt trong chế định luật hình sự Cụ thể hơn về cơ chế bảo vệ người phụ nữ sẽ được thể hiện

rõ trong nội dung được đề cập ở chương sau

Trang 27

CHƯƠNG II BẢO VỆ QUYỀN PHỤ NỮ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ THỜI LÊ SƠ

(THẾ KỶ XV)

2.1 Khái quát chung về luật hình sự Nhà Lê

Bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là Bộ Quốc triều hình luật (hoặc Lê triều hình luật _ tức bộ luật hình của thời Lê) Đây là bộ luật quan trọng của hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, mang đầy đủ đặc điểm, tư tưởng tôn giáo của thời kỳ phong kiến Nhận được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu không chỉ của giới học giả trong nước mà cả các chuyên gia luật học nước ngoài Về thời gian ban hành thì vẫn còn nhiều tranh cãi song đa số các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng BLHĐ

là sản phẩm chung của các đức vua thời Lê sơ15 Trong đó, có sự đóng góp to lớn nhất của vua Lê Thánh Tông (niên hiệu là Hồng Đức, 1470 – 1497) vì vậy đời sau thường gọi là Bộ Luật Hồng Đức16 Tương tự vậy, pháp luật hình sự nhà Lê được thể hiện trong BLHĐ đã phản ánh một cách rõ nét những đặc điểm cơ bản ấy thông qua chế định cụ thể về tội phạm, hình phạt nói chung cũng như về các nhóm tội phạm cụ thể nói riêng Theo lời Phan Huy Chú trong Lịch Triều hiến chương loại

chí đã nhận định: “…Hình luật Hồng Đức thật là cái mẫu mực để trị nước, cái

khuôn phép để trị dân…”

Vào thời điểm BLHĐ ra đời thì đây là bộ luật đồ sộ nhất với 722 điều luật và hệ thống nhất trong tất cả văn bản pháp luật của triều Lê Nó không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của triều đại trước đó mà còn đối với cả Bộ luật

được biên soạn vào triều đại sau: Hoàng Việt luật lệ 17 Sự ra đời của BLHĐ thực sự

là sự kiện có giá trị đặc biệt trong lịch sử thể chế và củng cố pháp chế Hay nói một

Vũ Văn Mẫu, Cổ luật Việt Nam và tư pháp sử, Quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973, tr 191 – 192; Cổ luật Việt Nam

lược khảo,Quyển 1, Sài Gòn, 1969

17

Insun Yu, Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, NXB Hà Nội, 1994, tr 68, 78

Trang 28

cách khác, bản thân BLHĐ đã là thành tựu rực rỡ của sự tăng cường pháp chế dưới thời nhà Lê18

Hơn nữa, khi nhắc tới BLHĐ, chúng ta không thể không tìm hiểu về kỹ thuật lập pháp với nhiều điểm tiến bộ vượt bậc so với pháp luật của các triều đại phong kiến xưa Đồng thời, bộ luật cũng đã để lại nhiều giá trị pháp lý bất hủ được pháp luật hiện đại trân trọng, kế thừa và phát triển cho tới nay Được ban hành cách đây hơn

500 năm, nhưng nhìn chung Bộ luật này mang nhiều đặc điểm của Bộ luật hình sự hiện đại BLHĐ phản ánh một cách rõ nét các nguyên tắc chung và đặc thù của pháp luật hình sự Việt Nam từ xưa tới nay Cụ thể, BLHĐ là bộ luật tổng hợp, trong đó điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hầu hết các lĩnh vực như dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân – gia đình, tố tụng Thông qua các chế định luật cho thấy nhà nước phong kiến lấy pháp luật làm căn cứ gốc để cai trị thần dân, hướng người dân sống, làm việc luôn phải tuân theo khuôn khổ pháp luật Từ đó, vạch ra đường lối chính sách rõ ràng hơn trong mọi mặt của đời sống, đảm bảo xã hội đi vào trật tự, dân chúng có tầm hiểu biết hơn về luật pháp để có thể tự bảo vệ mình trước các thế lực xấu Không những thế, qua cách quy định pháp luật theo tinh thần của nguyên tắc pháp chế, nhân đạo đã cho thấy điểm rất tiến bộ trong BLHĐ phản ánh khá rõ quan điểm tôn trọng, bảo vệ quyền con người Tiêu biểu, đảm bảo cho người phụ nữ phong kiến quyền được sống và tự giác thực hiện quyền con người cơ bản bởi lẽ chính pháp luật đã thừa nhận và nhân danh nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho nhóm chủ thể này Ngoài những người phụ nữ là con em Hoàng tộc, quan lại được hưởng sự ưu ái nhất định ngay khi họ là người phạm tội thì các đối tượng như trẻ em gái, người già, neo đơn, người tàn tật, nô tỳ… cũng trở thành nhân tố được pháp luật lên tiếng bênh vực Pháp luật luôn tạo nên công bằng giữa dân chúng với quan lại, rút dần khoảng cách phân biệt đẳng cấp trong xã hội Cũng như sự khoan hồng trong chế định hình phạt được quy định khác nhau,

18

Xem: Quốc triều Hình Luật - Lời nói đầu của Viện sử học Việt Nam, BXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

Trang 29

có sự giảm nhẹ cho tội phạm nữ hơn so với tội phạm là nam giới Những quy định

đó, phần nào nói lên được tư duy làm luật thời kỳ phong kiến đã dự liệu và xác định được vai trò của người phụ nữ, căn cứ vào thể chất mà áp dụng trách nhiệm hình sự hợp pháp, hợp lý, đúng người, đúng tội

Xét về cấu trúc BLHĐ bao gồm hai phần: Phần chung (quy định tại chương Danh Lệ) và phần các tội phạm (các chương còn lại) Phần chung có thể xem đó là nhưng quy định chung nhất, có tính nguyên tắc trong việc xử lý hành vi phạm tội Phần các tội phạm quy định cụ thể các loại hành vi phạm tội và hình phạt cho mỗi loại tội19

Tóm lại, với những giá trị bất hủ của BLHĐ là minh chứng cho thời kỳ pháp luật nhà Lê thịnh trị với nhiều điểm tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp lẫn quan điểm, thái

độ trị vì dân tộc đã để lại nhiều tinh hoa cho muôn đời sau lưu truyền và ca tụng

2.2 Quy định các loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ

2.2.1 Quy định các loại tội xâm phạm quyền nhân thân của người phụ nữ

Như Chương 1 đã phân tích, các quyền nhân thân là những quyền gắn liền với mỗi con người, các quyền này không thể quy đổi thành giá trị vật chất nhưng có ý nghĩa to lớn đối với con người Đối với người phụ nữ, tùy theo tính chất và tầm quan trọng của mỗi quyền nhân thân khác nhau mà pháp luật quy định tội phạm và

hình phạt khác nhau, nếu phạm vào các quyền nhân thân đó

2.2.1.1 Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người phụ nữ

Ngoài những hình phạt khắt khe về hành vi xâm phạm tình dục phụ nữ, pháp luật nhà Lê rất coi trọng việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho nhóm chủ thể này, nhất là đối với phụ nữ đã kết hôn Như đã phân tích ở Chương 1, người phụ nữ có vai trò

vô cùng to lớn trong gia đình và xã hội Sau khi kết hôn, chính họ là người luôn

19

Lê Thị Sơn, Quốc triều hình luật và các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số

8/2010

Trang 30

phải nhẫn nhục, gánh chịu mọi trách nhiệm lớn nhỏ trong gia đình từ đó vô hình tạo nên áp lực lên đôi vai gầy còm của những người mẹ, người vợ, người con dâu đối với gia đình chồng Vốn dĩ trong xã hội phong kiến đầy rẫy hủ tục bất công, không chỉ có xã hội mà chính những người thân trong gia đình cũng có sự kỳ thị, xung đột bất hòa, đối xử thô bạo khiến cho người phụ nữ khó có thể thực hiện các quyền của mình một cách tự do, đầy đủ Thậm chí, quyền của họ còn có nguy cơ

dễ bị xâm phạm, hạn chế

Tại Điều 466 BLHĐ quy định một cách cụ thể về các hành vi cố ý gây thương tích cho người phụ nữ Tùy từng hành vi mà có mức hình phạt cụ thể, thích đáng và ngay cả mức bồi thường thương tích cũng được liệt kê rõ ràng, chi tiết theo từng

mức độ thương tật của nạn nhân Nếu “đánh người khác gãy răng, sứt tai mũi, chột

một mắt, gãy ngón chân lấy nước sôi lửa làm người bị thương và rụng tóc thì xử tội đồ làm khao đinh lấy gươm giáo đâm chém người, dẫu không trúng cũng phải lưu đi châu gần…” Nhưng nếu gây thương tích cho phụ nữ có thai hay làm đọa

thai (sẩy thai) thì bị xử lưu đi châu xa và mức bồi thường đối với thai chưa thành hình làm 30 quan, đã thành hình thì 50 quan Điều luật quy định một cách chi tiết mức hình phạt đối với từng hành vi vi phạm pháp luật, giúp các quan lại dễ dàng hơn rất nhiều trong việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm Khiến những kẻ gây nên tội ác phải lãnh hậu quả nặng nề của pháp luật, đòi lại công bằng và phần nào cứu vớt đau thương cho những người phụ nữ yếu mềm

Đối với hành vi gây ảnh hưởng đến tính mạng con người, tại Điều 467 quy định:

“Đánh nhau mà chết người thì phải tội giảo, lấy gươm giáo cố ý giết người thì

phải tội chém đánh nhau đã xong rồi mỗi bên đi mỗi ngả mà lại trở lại đánh chết, hay làm bị thương người ta, thì xử tội cố sát” Hay Điều 477 BLHĐ quy

định: “ Đánh chết em trai, em gái, cùng là con cháu gái, con rể, con cháu của

anh em, thì bị xử đồ làm chủng điền binh; đánh chết bằng đồ nhọn sắc và cố ý giết thì xử tội lưu đi châu ngoài; Đánh vợ của anh thì xử nặng hơn tội đánh người

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w