Đồng thời, cùng với sự phát triển đó là vai trò ngày càng được nâng cao của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.Có thể nói “kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh t
Trang 1ĐOÀN THỊ THU HỒNG
ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN
SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 3hợp đồng thương mại quốc tế
UNCITRAL Uỷ ban của Liên hợp quốc về
luật thương mại quốc tế
Trang 4MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
7 Cơ cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam 5
1.1.1.Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991 6
1.1.2.Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự 1995 8
1.1.3.Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 9
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và nguyên tắc của đề nghị giao kết hợp đồng 10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng 11
1.2.1.1 Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng 11
1.2.1.2.Đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng 13
1.2.2.Phân loại 15
1.2.3.Nguyên tắc của đề nghị giao kết hợp đồng 16
1.3 Quy định của BLDS 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng 19
1.3.1 Thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng 19
1.3.2 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng 22
1.3.3 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 25
1.3.4.Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng 26
Trang 51.3.5.Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng do bên được đề nghị đề xuất 28
1.3.6 Giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự 29
1.4 Những điểm tiến bộ và hạn chế của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005 30
1.4.1.Những tiến bộ của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 31
1.4.2.Những hạn chế của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 32
Kết luận chương 36
CHƯƠNG 2: ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ CỦA VIỆT NAM 37
2.1 Các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong điều ước quốc tế, luật mẫu và pháp luật của một số nước – so sánh với pháp luật dân sự Việt Nam… 37
2.1.1 Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980 và Bộ nguyên tắc UNDRIOT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 37
2.1.1.1 Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng 40
2.1.1.2.Thay đổi, rút lại và hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 48
2.1.1.3 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng 52
2.1.1.4 Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng do bên được đề nghị đề xuất 53
2.1.2 Đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự của một số nước trên thế giới 54
2.1.2.1 Pháp và Đức 55
2.1.2.2 Nhật Bản 58
2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam 59
2.2.1 Kiến nghị về khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng 60
2.2.2 Kiến nghị về rút, hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị 60
Trang 62.2.3 Kiến nghị về các trường hợp chấm dứt hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng 61 2.2.4 Kiến nghị quy định về sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất 62 2.2.5 Kiến nghị về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên trong quá trình đề nghị giao kết hợp đồng 63 2.2.6 Kiến nghị về giá trị của đề nghị giao kết hợp đồng khi người đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự 63
KẾT LUẬN 65
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong cuộc sống của mỗi người, chúng ta không thể tồn tại nếu không thiết lập các mối quan hệ xã hội, chúng ta luôn cố gắng tạo dựng các mối quan hệ với nhau
mà quan hệ vật chất giao dịch là một trong những quan hệ tiền đề và quan trọng Chính những mối quan hệ này đã góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển của chế định hợp đồng nói chung và đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng Đồng thời, cùng với sự phát triển đó là vai trò ngày càng được nâng cao của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.Có thể nói “kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồng càng được coi trọng, càng được hoàn thiện” (Nguyễn Đức Giao), và một vấn đề quan trọng, cần phải được quan tâm và hoàn thiện chính là chế định “đề nghị giao kết hợp đồng”
Trong những năm qua, pháp luật dân sự nói chung, đặc biệt là BLDS 2005 và pháp luật về hợp đồng nói riêng đã có những đóng góp tích cực đối với sự phát triển của nền kinh tế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự Tuy nhiên, bản chất của các quan hệ dân sự là năng động, đa dạng và phong phú, sự phát triển không ngừng nghĩ của các quan hệ xã hội, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã gia nhập WTO như hiện nay thì cơ hội và thách thức đối với đất nước là ngang nhau Nó buộc pháp luật cũng không thể đứng yên, trì trệ mà phải luôn được cải tiến và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình mới Học thuyết Mác-Lênin về mối quan hệ giữa pháp luật và nền kinh tế chỉ ra rằng đây là một mối quan hệ giữa một yếu tố thuộc kiến trúc hạ tầng và một yếu tố thuộc
cơ sở hạ tầng Đề nghị giao kết hợp đồng là cơ sở đầu tiên để thiết lập quan hệ hợp đồng, do đó việc hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này là yêu cầu đầu tiên và cần thiết Sự thay đổi và phát triển của các mối quan hệ kinh tế-dân sự cho thấy các hạn chế trong quy định của pháp luật về vấn đề này, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các chủ thể cũng như sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Đồng thời, nó cũng đã đặt các nhà làm luật trước nhu cầu cần phải hoàn chỉnh hơn nữa quy định của pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng Chính vì vậy,
tác giả đã lựa chọn đề tài “Đề Nghị Giao Kết Hợp Đồng Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, các đề tài, công trình nghiên cứu về lĩnh vực hợp đồng trong BLDS rất
đa dạng, liên quan đến nhiều khía cạnh của hợp đồng như: hợp đồng vô hiệu, hiệu lực của hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng hay hình thức của hợp đồng…
Trang 8Đã có nhiều bài viết, công trình đề cập đến vấn đề đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, những bài viết, công trình này có phạm vi nghiên cứu rộng, bao gồm cả chế định hợp đồng hoặc chỉ dừng lại ở một số quy định mang tính khái quát nên cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về đề nghị giao kết hợp đồng và dường như việc hoàn thiện luật đối với vấn đề này chưa được quan tâm
đúng mức Các công trình đầu tiên trong lĩnh vực này phải kể đến là bài viết “Một
số vấn đề về đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự” của tác
giả Lê Thị Bích Thọ, đăng trên tạp chí Luật học số 4/2001.Tiếp đến là các bài viết
trong cuốn Luật Hợp Đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án của PGS-TS Đỗ
Văn Đại Ngoài ra còn có một số tác giả có bài viết liên quan trong các công trình
của mình như PGS-TS Hoàng Thế Liên trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân
sự năm 2005, tập 2, phần thứ 3: Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; Luật sư Trương Tuấn Anh (chủ biên) trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật dân sự-phần nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự…
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu đề tài, tác giả nhận thấy các đề tài nghiên cứu hầu hết đề cập đến các vấn đề giao kết hợp đồng nói chung, và đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu chuyên biệt về đề nghị giao kết hợp đồng Đây là một đề tài mới trong khóa luận tốt nghiệp của trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng
Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
đề nghị giao kết hợp đồng trên cơ sở các lý luận cơ bản, so sánh với các quy định của các văn bản quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về vấn đề này Từ đó, nêu khái quát các điểm bất cập trong quy định của pháp luật và đưa ra một số kiến nghị
cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Hoàn thiện pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng là vấn đề rất quan trọng, phức tạp, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu kỹ càng và nghiêm túc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung
về đề nghị giao kết hợp đồng, đối chiếu với thực tiễn áp dụng và pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của một số nước để phát hiện những bất cập, thiếu sót trong quy định của pháp luật nước ta, đồng thời cố gắng đưa ra một số kiến nghị cụ thể cho việc hoàn thiện quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS
Xuất phát từ mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ cụ thể sau:
Trang 9- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của đề nghị giao kết hợp đồng; phân tích các quy định của BLDS Việt Nam về đề nghị giao kết hợp đồng; tìm hiểu những ưu điểm và hạn chế của quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này;
có so sánh với các quy định của các quốc gia khác và các văn bản pháp luật quốc
tế về đề nghị giao kết hợp đồng
- Trên cơ sở nghiên cứu trên, nêu ra một số bất cập và vướng mắc trong quy định của pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng Từ đó, đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học pháp lý như: phân tích, tổng hợp, so sánh luật học…để làm sáng tỏ các nội dung của đề tài
Trong mỗi chương, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp đi từ phân tích lý luận, đối chiếu so sánh với pháp luật của các quốc gia khác và các điều ước quốc tế, đến tổng hợp, đánh giá, nêu rõ quan điểm cá nhân về những ưu và nhược điểm của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS hiện hành cũng như đề xuất một số kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện chế định đề nghị giao kết hợp đồng, giải quyết trọn vẹn từng vấn đề cụ thể liên quan đến chế định này trong mỗi chương Luận văn đi từ những vấn đề chung nhất cho đến những vấn đề cụ thể của đề nghị giao kết hợp đồng, vừa đảm bảo mối quan hệ logic giữa các chương, vừa đảm bảo tính toàn diện và tính có hệ thống trong tất cả các nội dung của luận văn
Bằng các phương pháp này, luận văn đã nghiên cứu, làm rõ các nội dung đề tài
về cả chiều rộng lẫn chiều sâu các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của luận văn
6 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi không có tham vọng góp ý xây dựng và hoàn chỉnh toàn bộ các quy định của pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng Đề tài cố gắng nghiên cứu tương đối toàn diện chế định đề nghị giao kết hợp đồng, qua đó giúp đưa ra góc nhìn tổng quan và sâu sắc hơn về các quy định và những hạn chế, vướng mắc của pháp luật dân sự Việt Nam về vấn đề này.Đồng thời, đề tài cũng nêu ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về đề nghị giao kết hợp đồng, tạo điều kiện cho giao lưu dân sự trong xã hội ngày càng phát triển
7 Cơ cấu của đề tài
Nội dung của đề tài được trình bày thành 2 chương:
Trang 10Chương 1: Đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam
Chương 2: Đề nghị giao kết hợp đồng trong điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài
và hướng hoàn thiện chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Bộ Luật Dân Sự của Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 1: ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT DÂN
SỰ VIỆT NAM 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong pháp luật dân sự Việt Nam
Đề nghị giao kết hợp đồng xuất hiện kể từ khi chế định hợp đồng xuất hiện, hay nói cách khác nó ra đời cùng với sự ra đời của chế định hợp đồng và diễn ra ngày càng nhiều trong cuộc sống đời thường hiện nay Các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện qua từng thời kỳ gắn liền với sự ra đời của các văn bản pháp lý quan trọng trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt là BLDS
1995 và BLDS 2005 Để hiểu thêm về điều đó, sau đây xin trình bày khái quát về sự
ra đời và phát triển của đề nghị giao kết hợp đồng qua các thời kỳ phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam
Chế định đề nghị giao kết hợp đồng có một quá trình ra đời và phát triển gắn với
sự phát triển của pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ Pháp luật dân sựViệt Nam nói chung và quy định về hợp đồng dân sự nói riêng trước đâyđược thể hiện trong pháp luật của các triều đại phong kiến và pháp luật thời kỳ Pháp thuộc, nổi bật nhất là quy định trong các bộ luật như: Quốc triều hình luật của Nhà Lê, Hoàng Việt luật lệ của Nhà Nguyễn hay trong Bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt trung kỳ thời Pháp thuộc Pháp luật của các thời kỳ này không sử dụng khái niệm hợp đồng mà sử dụng các khái niệm như văn khế, khế ước
Khái niệm hợp đồng không được sử dụng trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ mà thay vào đó là các khái niệm cụ thể như mua, bán, cho, cầm… và có tính khái quát hơn là khái niệm văn khế Mặc dù không có khái niệm về các thuật ngữ nêu trên nhưng các quy định liên quan đến văn khế cho thấy một yếu tố điển hình là “thuận mua, vừa bán” thể hiện tư tưởng “thỏa thuận” bản chất cốt lõi của khế ước và điều này đã được đề cập tới ngay từ pháp luật thời phong kiến Đây là một điểm tiến bộ, đến nay nó vẫn còn phù hợp và được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý có giá trị của lĩnh vực dân sự
Các bộ luật dưới triều Lê, Nguyễn có quy định về chủ thể của khế ước, nguyên tắc giao kết thực hiện khế ước, hình thức của khế ước, điều kiện có hiệu lực hay các loại khế ước cụ thể…nhưng lại không đề cập đến quá trình giao kết khế ước diễn ra như thế nào, lời mời giao kết khế ước được thực hiện ra sao Nói cách khác, pháp luật thời kỳ này không đề cập, không quy định về đề nghị giao kết hợp đồng
Đến thời kỳ Pháp thuộc, nhận thức được vai trò vô cùng quan trọng của khế ước, một trong những căn cứ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, vì thế, các vấn đề chung của khế ước đã được bộ Dân luật Bắc kỳ và Hoàng Việt trung kỳ
hộ luật quy định ngay tại chương I của Thiên I quyển thứ tư Khái niệm pháp lý về
Trang 12khế ước cũng đã được đưa vào hai bộ luật trên1 Khế ước là một hiệp ước của một hay nhiều người cam đoan với một hay nhiều người khác để chuyển giao, để làm hay không làm cái gì Khái niệm này cho thấy, thực chất khế ước là một sự thỏa thuận của ít nhất hai người, từ đó xác lập quyền và nghĩa vụ đối với nhau, khái niệm khế ước trong thời kỳ này về bản chất giống với khái niệm hợp đồng được quy định trong BLDS
Tuy nhiên, cũng giống như các bộ luật của thời kỳ phong kiến, pháp luật thời kỳ nàyvẫn chưa đề cập đến quá trình giao kết khế ước, không có quy định về đề nghị giao kết hợp đồng Thuật ngữ “đề nghị giao kết” khế ước hay hợp đồng vẫn chưa xuất hiện
1.1.1 Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989
và Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991
Cuộc đấu tranh của quân và dân ta giành chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đã toàn thắng với sự thống nhất Nam-Bắc vào ngày 30/4/1975 Để khắc phục hậu quả, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta
đã chú trọng đến việc xây dựng hệ thống pháp luật
Trong số các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 28/9/1989 (sau đây gọi tắt là PLHĐKT) là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về hợp đồng, nó đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển mình to lớn trong việc định hướng phát triển của nền kinh tế, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp sang nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và có ảnh hưởng lớn đến các giao dịch trong xã hội PLHĐKT được xem là một công cụ pháp lý quan trọng thúc đẩy
sự phát triển kinh tế trong giai đoạn đổi mới Tuy nhiên, phạm vi áp dụng của Pháp lệnh này chỉ giới hạn đối với các hợp đồng ký kết giữa các pháp nhân với nhau, hoặc hợp đồng được ký kết giữa pháp nhân với cá nhân kinh doanh2 Mặt khác, PLHĐKT cũng không có đề cập hay sử dụng thuật ngữ “đề nghị giao kết hợp đồng”, thực chất Pháp lệnh không quan tâm nhiều đến trình tự của đề nghị giao kết hợp đồng, quy định về giao kết hợp đồng còn sơ sài, thiếu chi tiết, nhất là hợp đồng giao kết từ xa mà chủ yếu là tập trung vào các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng như chủ thể ký kết hợp đồng, căn cứ ký kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng3
Không có cơ sở pháp lý để ràng buộc các bên trong việc đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, người đưa ra đề nghị có chịu trách nhiệm về đề nghị của mình hay không? Theo nguyên tắc chung là phải chịu trách nhiệm nhưng phải chịu trách nhiệm đến bao giờ? Khi nào thì đề nghị chấm dứt? đều không được quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1 Điều 664 Dân luật Bắc kỳ và Điều 680 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật
2 Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989
3 Điều 9, 10, 11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989
Trang 13Tiếp theo sau PLHĐKT chính là sự ra đời của Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29/4/1991 (sau đây gọi tắt là PLHĐDS) Với bối cảnh đất nước ngày càng phát triển, mở cửa hội nhập và xây dựng nền kinh tế thị trường, PLHĐKT lại chỉ điều chỉnh các hợp đồng ký kết giữa các pháp nhân với pháp nhân hay giữa pháp nhân với các cá nhân có đăng ký kinh doanh, nói cách khác Pháp lệnh này chỉ điều chỉnh các hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế, thương mại Trong khi đó, các hoạt động dân
sự, các hợp đồng dân sự lại diễn ra vô cùng sôi động và phong phú trong cuộc sống hằng ngày Chính vì thế, PLHĐDS đã ra đời để điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng dân sự
Theo PLHDDS thì hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản; làm hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng 4 Điều này cho thấy, hợp đồng dân sự theo Pháp lệnh này khác với hợp đồng
kinh tế quy định trong PLHĐKT Hợp đồng dân sự trước hết chính là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, không phân biệt là pháp nhân hay cá nhân kinh doanh, chủ thể này
có thể là một người bình thường tham gia vào quan hệ dân sự, hợp đồng dân sự Thỏa thuận của các chủ thể này liên quan đến việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự của họ trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng cho tài sản… với mục đích là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng Như vậy, quy định trên cho thấy, PLHDDS điều chỉnh các hợp đồng dân sự phát sinh trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa thuần túy
PLHĐDS đã đặt nền móng cho sự ra đời của chế định giao kết hợp đồng, bằng chứng là Pháp lệnh có hẳn một mục 1 chương 2, từ Điều 11 đến Điều 16 quy định
về giao kết hợp đồng dân sự PLHĐDS còn là văn bản pháp lý đầu tiên sử dụng
thuật ngữ “đề nghị giao kết hợp đồng”, bên đề nghị giao kết hợp đồng mà có nêu rõ những điều khoản chủ yếu của hợp đồng với một cá nhân hoặc một pháp nhân, thì phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình trong thời hạn đã ấn định 5 Điều này thể
hiện, thuật ngữ “đề nghị giao kết hợp đồng” đã chính thức xuất hiện trong pháp luật dân sự Việt Nam từ PLHĐDS Tuy nhiên, trong PLHDDS, đề nghị giao kết hợp đồng cũng chỉ xuất hiện một lần duy nhất tại Điều 11, khoản 1 và cũng không có quy định giải thích thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng Từ quy định này cho thấy,
đề nghị giao kết hợp đồng được đưa ra bởi bên đề nghị và hướng tới hay được gửi tới một cá nhân hoặc một pháp nhân Đồng thời, khi trong đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ những điều khoản chủ yếu của hợp đồng thì bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình trong thời hạn đã ấn định Có thể hiểu rằng, để được coi là đề nghị giao kết hợp đồng thì nó phải chứa đựng các nội dung chủ yếu
4
Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991
5
Khoản 1 Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991
Trang 14của hợp đồng trong tương lai sẽ ký kết, nó có ấn định thời hạn để bên đề nghị trả lời
đề nghị và trong khoảng thời gian này, bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình Từ đó cho thấy, đề nghị giao kết hợp đồng ngay từ lần đầu tiên được quy định trong văn bản pháp lý đã mang những đặc điểm rất quan trọng đó là hướng tới một chủ thể xác định, hay nói cách khác, bên được đề nghị giao kết hợp đồng phải
là một đối tượng xác định, cụ thể Và bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình, cũng như đề nghị phải chứa đựng các nội dung chủ yếu của một hợp đồng Đây là một điểm hết sức tiến bộ của PLHĐDS, điều này đã được các văn bản pháp lý sau này trong lĩnh vực dân sự kế thừa và phát huy, cụ thể là hai BLDS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: BLDS 1995 và BLDS 2005
Tuy nhiên, bên cạnh những tiến bộ đó, các quy định của PLHĐDS liên quan đến
đề nghị giao kết hợp đồng còn nhiều thiếu sót và khá đơn giản Điển hình là Pháp lệnh chưa đưa ra được khái niệm thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng, còn nhiều vấn đề pháp lý về đề nghị giao kết hợp đồng vẫn chưa được đề cập, quy định trong Pháp lệnh như: hiệu lực của đề nghị, quyền thay đổi, rút, hủy bỏ đề nghị, chấm dứt hiệu lực của đề nghị… Đây là những vấn đề pháp lý rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quá trình giao kết hợp đồng, vàcần phải được quan tâm cũng như quy định
cụ thể
Tóm lại, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng dân sự là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về hợp đồng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mặc dù vẫn còn đơn giản và nhiều thiếu sót nhưng chúng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế nói riêng và điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực dân sự nói chung Đây cũng chính là những tiền đề đầu tiên, là cơ sở cho
sự phát triển của pháp luật dân sự sau này
1.1.2 Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 1995
Kế tiếp PLHĐDS sự 1991 là sự ra đời của BLDS 1995 BLDS 1995 được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới được gần 10 năm và đang tiếp tục tiến bước trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển Rõ ràng, sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế và các giao dịch trong đời sống xã hội sau khi đất nước đổi mới (kể từ năm 1986) đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ nhu cầu phải có một Bộ luật Dân sự để điều chỉnh BLDS 1995 là văn bản pháp lý thứ hai trong lĩnh vực dân sự sử dụng thuật ngữ
“đề nghị giao kết hợp đồng” và các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng cũng như các quy định khác trong BL này cũng được bổ sung và quy định chi tiết hơn Cụ thể, chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 1995 được quy định từ Điều
396 đến Điều 399
Điều 396 BLDS 1995 quy định về đề nghị giao kết hợp đồng: “ Khi một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời
Trang 15hạn trả lời, thì không được mời người thứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình” Như vậy, để được coi là một đề
nghị giao kết hợp đồng thì nó phải chứa đựng nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời, đồng thời bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của chính mình với bên được đề nghị là một chủ thể xác định trong thời hạn chờ trả lời
đã được ấn định trong đề nghị giao kết hợp đồng đó Đây là những điểm được kế thừa từ PLHĐDS Bên cạnh đó, BLDS 1995 còn có nhiều quy định mới và cụ thể về
đề nghị giao kết hợp đồng như thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng dân sự; điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự; chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng dân sự6 Đây là những quy định hoàn toàn mới so với PLHĐDS cũng như PLHĐKT Điều này cho thấy, BLDS 1995 đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc hoàn thiện pháp luật dân sự nói chung và quy định về đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng
Tuy nhiên, cũng như PLHĐDS, BLDS 1995 không đưa ra khái niệm thế nào là
đề nghị giao kết hợp đồng, đây là điểm còn thiếu sót của BLDS 1995 cần phải được khắc phục Các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý, chẳng hạn như điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị theo khoản 1 Điều
398: “Khi bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị”, quy định này đã hạn chế
quyền thay đổi, rút lại đề nghị của bên được đề nghị, cũng như quy định về chấm
dứt đề nghị tại điểm a, khoản 1, Điều 399: “Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt
khi bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận hoặc chậm trả lời” Quy định
đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt khi bên nhận được đề nghị chậm trả lời là chưa
hợp lý, bởi vì thực chất trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng khi hết thời
hạn trả lời theo điểm b, khoản 2 Điều 399 BLDS 1995 đã bao hàm cả việc chậm trả
lời Do đó, quy định như vậy là bị trùng lặp
Mặc dù còn nhiều điểm thiếu sót và chưa hợp lý nhưng BLDS 1995 là một bước phát triển quan trọng và cần thiết của pháp luật dân sự cũng như quy định về đề nghị giao kết hợp đồng BLDS 1995 đã đưa ra những quy định đầu tiên và là cơ sở
để BLDS 2005 phát triển và hoàn thiện hơn chế định đề nghị giao kết hợp đồng
1.1.3 Chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005
Bộ luật dân sự 2005 (được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006) ra đời trong bối cảnh đất nước đổi mới được gần 20 năm, thay thế cho Bộ luật dân sự 1995 đã bị lạc hậu so với sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế và các giao lưu trong đời sống xã hội BLDS 2005 có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam Nó thể hiện những quan điểm cơ bản nhất của nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ pháp luật tư, thiết lập các
6 Điều 397, 398, 399 BLDS 1995
Trang 16nguyên tắc quan trọng nhất cho các mối quan hệ trong đời sống dân sự, đồng thời xác lập các quy tắc điều chỉnh cho quan hệ dân sự phát sinh (thậm chí cả những trường hợp được dự liệu có thể phát sinh) Các đạo luật điều chỉnh các khía cạnh khác nhau của quan hệ pháp luật tư (như thương mại, đất đai, tín dụng, sở hữu trí tuệ….) cũng đều phải căn cứ vào các nguyên tắc chung của BLDS
BLDS 2005 kế thừa và phát triển các quy định của BLDS 1995 nói chung cũng như các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng BLDS 2005 đã có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn so với BLDS 1995 về chế định
đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng được quy định từ Điều 390 đến Điều 395 và Điều 398 trong BLDS 2005, trong đó có một số điều được sửa đổi như Điều 390, Điều 392, Điều 394 và một số điều mới được bổ sung như Điều 391, Điều 393, Điều 395, Điều 398 so với BLDS 1995 Những quy định mới trong BLDS 2005 đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn và khắc phục được những khó khăn, hạn chế của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 1995 cũng như các văn bản pháp luật trước đó Khái niệm hợp đồng dân sự trong BLDS hiện hành hoàn toàn giống với quy định tại Điều 394 BLDS 1995 Theo BLDS 2005, hợp đồng dân
sự ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hợp đồng trong lĩnh vực dân
sự, trong đó có cả hợp đồng kinh tế, thương mại Vì thế, BLDS 2005 ra đời đã chấm dứt tình trạng phân biệt giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự như trước đây, điều này thể hiện qua việc PLHĐKT 1989 đã hết hiệu lực khi BLDS 2005 có hiệu lực, đồng thời nó cũng có nghĩa là các quy định về hợp đồng nói chung và đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng trong BLDS 2005 cũng được áp dụng cho các hợp đồng phát sinh trong lĩnh vực kinh tế, thương mại khi luật chuyên ngành không điều chỉnh Các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005 được quy định
cụ thể và chi tiết hơn, góp phần điều chỉnh các quan hệ dân sự được thuận lợi hơn Đặc biệt, điểm tiến bộ của BLDS năm 2005 là đưa ra được khái niệm thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 390 khoản 1 Việc đưa ra khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng giúp chúng ta có thể hiểu rõ hơn về thuật ngữ này Bên cạnh đó, BLDS 2005 cũng đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định mới trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát triển các quy định của BLDS 1995
Nhìn chung BLDS 2005 có nhiều điểm tiến bộ tích cực, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, các quy định về chế định đề nghị giao kết hợp đồng cũng có bước phát triển mới Mặc dù vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhưng BLDS 2005 có vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với cả đời sống xã hội và đời sống pháp luật Đồng thời, BLDS 2005 còn đánh dấu bước phát triển mới
và sự hoàn thiện của pháp luật dân sự Việt Nam
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại và nguyên tắc của đề nghị giao kết hợp đồng
Trang 171.2.1 Khái niệm và đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng
1.2.1.1 Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng
Để có quan hệ hợp đồng, các bên phải tiến hành giao kết hợp đồng, hay nói cách khác khi một bên muốn thiết lập một hợp đồng dân sự với một hoặc một số bên còn lại thì ý muốn đó phải được thể hiện ra bên ngoài thông qua đề nghị giao kết hợp đồng Chỉ khi bên đề nghị thực hiện hành vi này thì phía đối tác mới biết được ý muốn giao kết hợp đồng của bên đề nghị và hợp đồng mới có khả năng được ký kết trên thực tế Do đó, có thể hiểu đề nghị giao kết hợp đồng là việc một bên biểu lộ ý chí của mình trước bên kia bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết ý muốn giao kết
hợp đồng dân sự của mình với họ
Như đã đề cập ở trên, hợp đồng dân sự theo quy định tại Điều 388 BLDS 2005 được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả các hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại và Luật Thương Mại năm 2005 cũng không quy định về việc xác lập hợp đồng cũng như hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại nên dựa trên nguyên tắc “nếu luật chuyên ngành không có quy định thì áp dụng luật chung” mà BLDS năm 2005 là luật chung, vì vậy các vấn đề pháp lý liên quan đến xác lập hợp đồng trong kinh doanh thương mại chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005, theo đó các quy định của BLDS 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng cũng được áp dụng cho lĩnh vực kinh doanh thương mại
Điều 396 BLDS 1995 quy định: “Khi một bên đề nghị bên kia giao kết hợp đồng
có nêu rõ nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn trả lời thì không được mời người thứ ba giao kết trong thời hạn chờ trả lời và phải chịu trách nhiệm về lời mời
đề nghị của mình” BLDS 1995 không đưa ra định nghĩa thế nào là đề nghị giao kết
hợp đồng mà chỉ nêu ra điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng là phải nêu rõ các nội dung chủ yếu của hợp đồng, thời hạn trả lời và quy định về trách nhiệm, sự ràng buộc của đề nghị đối với bên đưa ra đề nghị đó Tuy nhiên, thế nào là các điều khoản chủ yếu của hợp đồng thì BLDS 1995 lại không có quy định Mặt khác, quy định tại Điều 396 BLDS 1995 đã hạn chế quyền đề nghị giao kết hợp đồng với bên thứ ba trong thời gian chờ bên được đề nghị trả lời Đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện tại Điều 390 của BLDS 2005 cho thấy nội dung của nó đã được sửa đổi, bổ sung so với quy định về đề nghị giao kết hợp đồng dân sự tại Điều 396 của BLDS
1995
Tại khoản 1, Điều 390, BLDS 2005 định nghĩa: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”.Điều này cho thấy, đề nghị giao
kết hợp đồng theo BLDS 2005 đã có sự sửa đổi so với quy định tại BLDS 1995, không còn quy định đề nghị phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng và thời hạn
Trang 18trả lời nữa mà chỉ cần thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về
đề nghị này của bên đề nghị đối với đối tượng đã xác định cụ thể Việc sửa đổi như trên là hoàn toàn phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của giao dịch dân sự và thương mại diễn ra vô cùng sôi động và đa dạng
Có thể nói rằng: “Đề nghị giao kết hợp đồng là quyết định đơn phương có chủ ý bày tỏ ý định giao kết hợp đồng và mong muốn được ràng buộc nếu được bên kia chấp nhận”. 7
Điều 390 BLDS 2005 là sự khái quát hóa thực tế đời thường vào trong quy định của pháp luật, giúp chúng ta hiểu đề nghị giao kết hợp đồng theo ngôn ngữ pháp lý
Đó là việc thể hiện rõ ý định, chủ đích cũng như mong muốn giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể Như vậy, để được coi là đề nghị giao kết hợp đồng thì phải đáp ứng các yêu cầu sau:
Một là, người đề nghị phải thể hiện rõ mong muốn được giao kết hợp đồng Hai là, đề nghị này phải nhằm vào đối tượng xác định, cụ thể, không chung chung, mơ hồ
Thứ ba, đề nghị phải thể hiện rõ nội dung cần giao kết
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần tránh nhầm lẫn những hành vi sau đây xảy ra rất nhiều trong cuộc sống nhưng chúng không phải là đề nghị giao kết hợp đồng như: phát tờ rơi giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, bày bán hàng công khai…
Ngoài ra, khoản 2 Điều 390 BLDS 2005 còn đề cập đến những ràng buộc pháp lý
với đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời: “Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh” Quy định như vậy buộc mỗi người khi đã đưa ra đề nghị giao kết hợp
đồng thì phải chịu trách nhiệm với đề nghị của mình cho dù nó có thể chỉ là lời nói
So với Điều 396 BLDS 1995, Điều 390 BLDS 2005 đã có sự sửa đổi, bổ sung quy định về đề nghị giao kết hợp đồng, trong đó có quy định về trách nhiệm của bên
đề nghị giao kết hợp đồng Về nguyên tắc, khi đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị sẽ bị ràng buộc bởi lời đề nghị của mình trong một thời hạn nhất định Khi đưa ra đề nghị, bên đề nghị có thể ấn định một thời hạn trả lời và khi đưa ra thời hạn này, bên đề nghị bị ràng buộc bởi thời hạn đó Điều luật không hạn chế bên
đề nghị mời người thứ ba giao kết hợp đồng với cùng một nội dung đề nghị trong
7 Nguyễn Ngọc Đức-Nguyễn Học Lâm (2011), Luật Kinh Doanh, Nhà xuất bản Lao Động, tr 289
Trang 19thời hạn đã đề nghị với người được đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng và người thứ ba trong thời hạn chờ trả lời mà gây thiệt hại cho bên được đề nghị thì bên đề nghị phải bồi thường thiệt hại
Đây mới chỉ là trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng với người thứ ba cùng một nội dung, một điều kiện với đề nghị đã đưa ra cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng Điều luật không khẳng định rõ mức độ ràng buộc của bên
đề nghị đối với lời đề nghị mà mình đưa ra Tuy nhiên, theo quy định về thời điểm
giao kết hợp đồng tại khoản 1 Điều 404 BLDS 2005: “Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận đề nghị” thì có thể thấy,
khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo đúng nội dung, điều kiện và thời hạn nêu trong đề nghị mà bên đề nghị đã đưa ra thì bên này phải thực hiện giao kết hợp đồng
Trên thực tế, các bên tham gia giao kết hợp đồng dân sự không áp dụng cứng nhắc quy định này mà vận dụng các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng một cách linh hoạt hơn
Như vậy, đề nghị giao kết hợp đồng chính là một hành vi đơn phương thể hiện rõ
ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên được đề nghị
1.2.1.2 Đặc điểm của đề nghị giao kết hợp đồng
Đề nghị giao kết hợp đồng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đề nghị giao kết phải có các nội dung chủ yếu của hợp đồng Tùy từng loại hợp đồng mà bên đề nghị đơn phương đưa ra các vấn đề chủ yếu cho phía bên kia xem xét
Thứ hai, thể hiện ý chí của bên đề nghị muốn được ràng buộc nếu bên được đề nghị chấp nhận Điều này có nghĩa là, ý chí của bên đề nghị thông qua đề nghị này phải được thể hiện ra bên ngoài bằng các hình thức cụ thể như lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản như thư, catalogues, áp phích, email, fax, telex… có kèm theo thời hạn trả lời hoặc không
Thứ ba, đề nghị giao kết hợp đồng không được mang tính nước đôi và phải có tính chắc chắn Thông thường người ta thường xem xét đến cách trình bày lời đề nghị, nội dung đề nghị để tìm ý định muốn bị ràng buộc của bên đề nghị Đề nghị càng chi tiết, càng cụ thể thì càng có cơ hội được xem là đã thể hiện mong muốn bị ràng buộc của người đề nghị Tuy nhiên, cũng có trường hợp một lời đề nghị đã nêu rất chi tiết nội dung của hợp đồng dự định giao kết nhưng người đề nghị đưa ra một
số bảo lưu thì nó chỉ được xem là một lời mời đàm phán Trên thực tế, những bản giới thiệu, thậm chí là dự thảo hợp đồng gửi cho đối tác có kèm theo câu: “Các nội
Trang 20dung trong bản chào hàng này không có giá trị như hợp đồng” hay “Bản chào hàng này không có giá trị như đề nghị giao kết hợp đồng”
Thứ tư, đề nghị phải được gửi đến đối tượng xác định, cụ thể, không chung chung, đại khái Trên thế giới có hai quan điểm khác nhau về đề nghị giao kết hợp đồng liên quan đến người được đề nghị Quan điểm thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện, hay gửi đến một chủ thể xác định cũng như đối với công cộng (thông báo, quảng cáo…) Đây là xu hướng của đại đa số các hệthống luật, Bộ nguyên tắc UNDRIOT, Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng cũng theo xu hướng này Quan điểm thứ hai là chỉ chấp nhận đề nghị được gửi đến một hoặc một số đối
tượng xác định, cụ thể Khoản 1 Điều 390 BLDS 2005 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể” Như vậy, chúng ta
đã theo xu hướng thứ hai Một lời đề nghị được gửi đến một đối tượng cụ thể, xác định thì khả năng nó được xác định là một lời đề nghị giao kết hợp đồng cao hơnlà khi nó được gửi đến nhiều đối tượng, không xác định Bởi vì, khi không xác định đối tượng cụ thể màđề nghị giao kết hợp đồng hướng tới thì những lời đề nghị này thường được xem là những lời mời đàm phán, lời mời chào hàng chứ không phải là lời chào hàng, đề nghị giao kết hợp đồng
Để thấy rõ hơn về điều này, chúng ta có thể xem xét ví dụ sau (xem phụ lục):
“Theo các tài liệu có trong hồ sơ tại phiên tòa, ông Tuấn xác nhận “Biên bản cam kết thanh lý quyết toán công trình xây dựng nhà 142A, tổ 195, đường Tân Sơn, Phường 12, Gò Vấp” ngày 10/12/1005 là do ông viết tay, ký tên, và đưa cho
bà Bách, ông Truyền Nhưng ông viết là do bị áp lực của ông Truyền, bà Bách chứ không hoàn toàn tự nguyện
Xét thấy, biên bản trên do ông Tuấn viết tại nhà ông Tuấn, sau đó đưa cho bà Bách Như vậy, không có cơ sở nào xác định ông Tuấn bị áp lực hay ép buộc Trong biên bản trên, ông Tuấn xác định số tiền còn lại là 163.320.000 đồng (trong đó có 20.000.000 đồng tiền mượn), ông đồng ý để lại cho bố mẹ vợ (ông Truyền, bà Bách) không cần thanh toán nữa Như vậy, việc liên quan đến vấn đề này giữa hai gia đình coi như giải quyết xong, không ai nợ ai”.8
Trong trường hợp này, biên bản cam kết thanh lý quyết toán công trình xây dựng thể hiện đề nghị giao kết hợp đồng của ông Tuấn được giao cho, gửi đến hai chủ thể xác định, rõ ràng là ông Truyền và bà Bách Do đó, điều kiện về bên được đề nghị phải được xác định rõ ràng, cụ thể đã được thỏa mãn, được đáp ứng trong vụ án trên
8
Đỗ Văn Đại (2013), Luật Hợp Đồng Việt Nam-Bản án và Bình luận bản án, tập 1, Nhà xuất bản Chính
trị-Sự thật, tr 182
Trang 21Như vậy, môt lời đề nghị được coi là đề nghị giao kết hợp đồng khi nó có đầy đủ các đặc điểm trên, những đặc điểm này được rút ra từ chính khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng quy định tại Điều 390 BLDS 2005
1.2.2 Phân loại
BLDS 2005 không thể hiện rõ các loại đề nghị giao kết hợp đồng, không có quy định về phân loại đề nghị giao kết hợp đồng nhưng căn cứ vào thực tiễn và pháp luật hợp đồng của các quốc gia có nền kinh tế phát triển, thì có thể phân loại đề nghị giao kết hợp đồng dựa vào các tiêu chí sau:
Thứ nhất, dựa vào hình thức, đề nghị giao kết hợp đồng có thể chia ra thành đề nghị giao kết hợp đồng bằng lời nói, đề nghị giao kết hợp đồng bằng hành vi, đề nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản hay các hình thức khác tương tự văn bản như: telex, fax, email…
Thứ hai, dựa vào cách thực thực hiện, đề nghị giao kết hợp đồng có thể chia thành hai loại là: đề nghị trực tiếp (đề nghị được thực hiện trực tiếp giữa các chủ thể với nhau), theo đó hai bên gặp mặt trực tiếp, “mặt đối mặt” để đưa ra đề nghị hợp đồng và thảo luận về việc ký kết hợp đồng; và đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thực hiện bằng hình thức gián tiếp như thông qua thư, điện tín…
Thứ ba, dựa vào khả năng sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị Theo tiêu chí này, đề nghị giao kết hợp đồng được chia làm hai loại là: đề nghị mà bên được đề nghị có thể sửa đổi và đề nghị mà bên được đề nghị không thể sửa đổi (đề nghị hợp đồng) Đề nghị hợp đồng là một văn bản hợp đồng có nội dung hoàn chỉnh được bên đề nghị đưa ra, bên được đề nghị chỉ việc trả lời chấp nhận hay không chấp nhận hợp đồng này Như vậy, đề nghị hợp đồng là một đề nghị chung, không phân biệt người được đề nghị là ai, chỉ cần bên nào trả lời chấp nhận nội dung hợp đồng được đưa ra trong đề nghị đó là trở thành bên ký kết hợp đồng Tuy nhiên, cũng có trường hợp đề nghị hợp đồng hướng tới một đối tượng cụ thể Nói cách khác, đề nghị hợp đồng mà được ký kết là loại hợp đồng không thương lượng với các đặc điểm: (i) Một trong các bên có ưu thế hơn rất nhiều về kinh tế, quyền lực, địa vị xã hội… so với bên kia; (ii) Đề nghị đưa ra cho tất cả các đối tượng với một loạt các hợp đồng tương tự như nhau; (iii) Nội dung hợp đồng được hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn do bên đề nghị soạn thảo
Trên thực tế, việc xác định đâu là đề nghị giao kết hợp đồng, đâu là đề nghị chuẩn bị bàn bạc để thỏa thuận giao kết hợp đồng là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp và cần xem xét thận trọng căn cứ vào các hình thức khách quan, chủ quan trong từng vụ việc cụ thể Tuy nhiên, thực tiễn xét xửtrong và ngoài nước cũng như ý kiến của nhiều nhà khoa học pháp lý không coi các trường hợp sau là đề nghị
Trang 22giao kết hợp đồng: quảng cáo hàng hóa; bán hàng công khai; thông báo công khai cho các doanh nghiệp vận chuyển về tuyến đường, vận chuyển hành khách; phân phát catolô giới thiệu sản phẩm…
1.2.3 Nguyên tắc của đề nghị giao kết hợp đồng
BLDS 2005 cũng như BLDS 1995, không đưa ra nguyên tắc của đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, xuất phát từ việc đề nghị giao kết hợp đồng là một bộ phận, một giai đoạn của quá trình giao kết hợp đồng dân sự và để cho quá trình giao kết hợp đồng, giai đoạn thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các bên được tự do, bình đẳng, hợp pháp thì quá trình đề nghị giao kết hợp đồng cũng cần phải tự do, bình đẳng và hợp pháp Chính vì thế, các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự cũng được
áp dụng cho giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng
Những nguyên tắc chủ đạo của hoạt động giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 395 BLDS 1995 và Điều 389 BLDS 2005 có nội dung như nhau:
“Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1 Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội;
2 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng.”
Về nguyên tắc thứ nhất, tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội: Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng có nguồn gốc từ thuyết tự
do ý chí trong giao kết hợp đồng từ thế kỷ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng Theo thuyết tự do ý chí thì quyền tự do cá nhân là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm, các bên chủ thể giao kết hợp đồng được quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng mà không ai, tổ chức nào kể cả Nhà nước được quyền can thiệp, làm thay đổi ý chí của các chủ thể Từ đó, có thể suy luận ra, bên đề nghị giao kết hợp đồng có toàn quyền quyết định trong việc đưa ra
đề nghị giao kết hợp đồng và lựa chọn bên đối tác mình mong muốn được hợp tác, tức là bên được đề nghị giao kết Tuy nhiên, sự tự do ý chí của bên đề nghị giao kết hợp đồng “không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”, tức là đề nghị giao kết hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật và các chuẩn mực đạo đức đã được xã hội thừa nhận rộng rãi
Pháp luật của các nước đều thừa nhận nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng Pháp luật hợp đồng của Nhật Bản được xây dựng trên nguyên tắc chủ đạo là tự do giao kết hợp đồng cùng với nguyên tắc tuyệt đối về quyền sở hữu và nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi Luật hợp đồng Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa cũng quy
Trang 23định:“Đương sự có quyền tự nguyện lập hợp đồng theo luật pháp, không đơn vị hoặc cá nhân nào được phép can thiệp bất hợp pháp” 9
Đối với Việt Nam, đây là một trong những nguyên tắc chỉ đạo đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật dân sự về hợp đồng Trước khi BLDS 1995 ra đời,
Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 quy định: “hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, nhưng không được trái pháp luật và đạo đức
xã hội” 10 Quy định này cho thấy, quyền tự do giao kết hợp đồng, tự do đề nghị giao
kết hợp đồng, nguyên tắc cốt lõi, quan trọng nhất của chế định hợp đồng không được phản ánh, quy định trong pháp luật dân sự trước đây Cho đến khi BLDS 1995
ra đời và tiếp đến là BLDS 2005 thì nguyên tắc này mới chính thức được thừa nhận, đây là một sự tiến bộ vượt bậc của pháp luật dân sự Việt Nam
Theo quy định tại khoản 1 Điều 389 BLDS 2005, các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng có quyền “tự do giao kết hợp đồng”, tương tự như vậy các chủ thể có quyền tự do đề nghị giao kết hợp đồng Quyền tự do đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện như sau: (i) Bên đề nghị có quyền tự do trong việc đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng; (ii) Tự do trong việc lựa chọn đối tác mà mình muốn ký kết hợp đồng, tức là bên được đề nghị giao kết hợp đồng; (iii) Tự do lựa chọn hình thức của
đề nghị giao kết hợp đồng
Tuy nhiên, quyền tự do này không phải là quyền tuyệt đối mà là tự do trong khuôn khổ pháp luật, tự do đề nghị giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Sự hạn chế này thể hiện ở tất cả các mặt của quyền tự do giao kết hợp đồng nói chung và đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng Thông thường pháp luật quy định các hạn chế này nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, xét ở mức độ chung nhất, đó cũng chính là biện pháp để nhằm giữ gìn các giá trị đạo đức của dân tộc Nhưng các giá trị đạo đức này luôn luôn biến đổi và không thể bao quát hết trong hệ thống pháp luật nên rất khó có thể xác định
Về nguyên tắc thứ hai, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng: Nguyên tắc này được xác định trên cơ sở bản chất pháp lý của hợp đồng, tự do ý chí nhằm đảm bảo hiệu lực của hợp đồng, đảm bảo hợp đồng trên thực tế phù hợp với ý chí đích thực của các bên Theo đó là sự tự nguyện, thiện chí, hợp tác, trung thực, ngay thẳng của bên đề nghị khi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và tự nguyện chịu sự ràng buộc bởi đề nghị đó đối với bên được đề nghị
Sự bình đẳng giữa các chủ thể trong giao kết hợp đồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng Thực hiện theo nguyên tắc ngang giá trị là đặc trưng và cơ sở của quan hệ trao đổi, đây chính là thước đo để xác định quyền và
9
Điều 4 Luật hợp đồng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
10
Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991
Trang 24nghĩa vụ của các bên khi tham gia vào các quan hệ cụ thể Để đạt được sự thỏa thuận trong các quan hệ này thì pháp luật phải thừa nhận một tiền đề quan trọng và cần thiết là sự bình đẳng, không phân biệt đối xữ giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ Điều này đã được thừa nhận trong Hiến pháp năm 2013, đạo luật cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam11 Nội dung của nguyên tắc bình đẳng trong giao kết hợp đồng thể hiện như sau: (i) Các bên bình đẳng trong việc đưa
ra các điều kiện, nội dung phù hợp với lợi ích của mình để đạt được thỏa thuận chung; (ii) Các bên được hưởng quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau mà các bên
đa thỏa thuận; (iii) Các bên bình đẳng trong việc gánh chịu nghĩa vụ khi vi phạm hợp đồng Sự bình đẳng này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo sự công bằng trong giao kết hợp đồng và quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong cùng một mối quan hệ
Nguyên tắc thiện chí, hợp tác trong giao kết hợp đồng dân sự không ngoài mục đích đảm bảo được bản chất pháp lý của hợp đồng là sự thỏa thuận nhằm thiết lập quan hệ hợp đồng Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên phải tôn trọng ý chí của nhau khi thương lượng, đàm phán, biết thừa nhận lợi ích của nhau một cách công bằng, hợp lý Có như thế các bên mới nhanh chóng đạt được thỏa thuận chung
và tiến tới ký kết hợp đồng
Và cuối cùng là các bên phải trung thực, ngay thẳng Bên đề nghị khi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng cần phải trung thực, thẳng thắn không được lừa dối bên được đề nghị và điều này cũng phải được thực hiện tương tự đối với bên được đề nghị.Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm mục đích đảm bảo hợp đồng được giao kết và có hiệu lực pháp lý Hậu quả của việc không trung thực, không ngay thẳng khi giao kết hợp đồng về mặt pháp lý sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của một bên và thậm chí có thể khiến hợp đồng bị coi là vô hiệu12; về mặt kinh tế, sự thiếu trung thực, ngay thẳng là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu tin tưởng lẫn nhau trong giao kết
hợp đồng, khó có thể hợp tác lâu dài với nhau bởi vì đơn giản là: “một lần bất tín, vạn lần bất tin”, chữ “tín” là điều quan trọng nhất trong làm ăn, một khi đã không
tin tưởng lẫn nhau thì rất khó hợp tác trở thành bạn làm ăn với nhau lâu dài Một ví
dụ đơn giản sẽ giúp hiểu rõ hơn về vấn đề này: Công ty A đưa ra một lời đề nghị giao kết hợp đồng với công ty B, trong lời đề nghị giao kết hợp đồng này, công ty A nêu rõ là sẽ bán cho công ty B một lô gạch ốp tường loại một với giá 20.000 đồng/viên có kích thước là 50cm x 50cm, bên B có thể xem hàng trước khi quyết định ký hợp đồng Tuy nhiên, khi công ty B đến xem hàng tại công ty A thì phát hiện gạch mà công ty A nói trong đề nghị giao kết hợp đồng và gạch thực tế mà
11
Khoản 2 Điều 51 Hiến pháp 2013: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật.” 12
Điều 410, Điều 129, Điều 132 BLDS 2005
Trang 25công ty A cho công ty B xem không giống nhau, thực tế là gạch loại hai bán với giá 15.000 đồng/viên Do đó, công ty B đã quyết định không giao kết hợp đồng với công ty A Như vậy, trong ví dụ trên, công ty A đã không trung thực khi đưa ra lời
đề nghị giao kết hợp đồng với công ty B và hậu quả là công ty B đã không chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng của công ty A, thậm chí sau này khi công ty A
có ý định hợp tác với công ty B thì chưa chắc công ty B đã chấp nhận những lời đề nghị tiếp theo này
Mặc dù Điều 389 BLDS năm 2005 gọi đó là các nguyên tắc giao kết hợp đồng, nhưng xét về bản chất, đó chính là các nguyên tắc hợp đồng đã được pháp luật và khoa học pháp lý của nhiều quốc gia thừa nhận Các nguyên tắc này không chỉ chi phối việc giao kết hợp đồng (bao gồm đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng) mà cả việc thực hiện, giải quyết tranh chấp hợp đồng Quy định này nhằm bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao kết hợp đồng, hướng dẫn xử sự của các chủ thể trong quá trình giao kết, thiết lập và thực hiện hợp đồng một cách đúng pháp luật
1.3 Quy định của BLDS 2005 về đề nghị giao kết hợp đồng
1.3.1 Thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng
Việc đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề rất quan trọng Quy định về thời điểm
có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định sự ràng buộc của bên đề nghị với lời đề nghị của mình Tuy nhiên, trên thực tế, người ta không nói tới thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực, mà người ta thường chỉ nói tới thời điểm hợp đồng có hiệu lực Vì vậy, trước đây khi áp dụng quy định của BLDS 1995, khi tính thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, chúng ta sẽ phải xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn này Việc xác định thời điểm bắt đầu có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng là nội dung rất quan trọng nhưng lại chưa được quy định cụ thể trong Điều 397 BLDS 1995 Do đó, đến BLDS 2005, nhà làm luật đã tách riêng quy định tính thời điểm bắt đầu của thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thành một điều luật riêng với tên gọi là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực tại Điều 391:
“1 Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: a) Do bên đề nghị ấn định;
b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó
2 Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
Trang 26a) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân;
b) Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; c) Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác”
Điều luật này giúp chúng ta xác định rõ thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng phát sinh hiệu lực Trước tiên là do bên đề nghị ấn định khi đưa ra đề nghị giao kết, nghĩa là nó phát sinh hiệu lực tức thì hay một khoảng thời gian sau đó là do sự ấn định của bên đề nghị Tuy nhiên, nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng không ấn định thì đề nghị giao kết có hiệu lực kể từ thời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.Chẳng hạn như trong vụ việc sau, TAND thành phố Hồ Chí Minh đã xác định thời điểm mà đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực là thời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị đó (xem Phụ lục):
“Bản án sơ thẩm căn cứ vào Điều 388 và khoản 1 Điều 391của BLDS năm 2005 cho rằng biên bản cam kết do ông Tuấn lập chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên cùng ký vào biên bản Ở đây, do phía bà Bách, ông Truyền chưa ký vào biên bản nên chấp nhận yêu cầu thay đổi việc tặng cho của ông Tuấn Xét Điều 388 và khoản 1 Điều 391 BLDS năm 2005 không quy định các bên tham gia giao dịch phải thể hiện ý chí bằng việc cùng ký vào biên bản Tại điểm b, khoản 1 Điều 391 quy định: “Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó” Vì thế, khi ông Tuấn đưa bản cam kết ngày 10/12/2005 cho bà Bách, thì phía bà Bách, ông Truyền chấp nhận và không phản hồi, vì thế quyền và nghĩa vụ dân sự của ông Truyền, bà Bách đối với ông Tuấn trong việc xây dựng căn nhà 142A tổ 195, đường Tân Sơn, Gò Vấp đã chấm dứt Như vậy, yêu cầu khởi kiện của ông Tuấn đòi vợ chồng ông Truyền, bà Bách phải trả số tiền xây nhà và tiền mượn còn thiếu là không hợp lý nên không được chấp nhận” 13
Đề nghị giao kết hợp đồng có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,
vì vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà thời điểm nhận được đề nghị cũng khác nhau
và thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng cũng khác nhau Cụ thể như
sau:
Thứ nhất, đối với đề nghị bằng lời nói trực tiếp hoặc qua điện thoại thì thời điểm nhận được đề nghị là ngay lúc đó, tức là từ thời điểm có cuộc gọi đó, hay buổi làm việc đó Tất nhiên trên thực tế, có trường hợp xác định được chính xác phút, giờ
13
Đỗ Văn Đại (2013), Luật Hợp Đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, tập 1, Nhà xuất bản Chính
trị-Sự thật, tr 183
Trang 27trao đổi, nhưng cũng có trường hợp không thể xác định chính xác được, trong những trường hợp này thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực được tính bằng ngày có cuộc trao đổi để bên đề nghị đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng đó Thứ hai, đối với đề nghị bằng thư gửi qua đường bưu điện hay chuyển phát nhanh, telex, fax thì thời điểm nhận được đề nghị là khi đề nghị đó được chuyển đến nơi cư trú (đối với cá nhân) nơi mà người đó thường xuyên sinh sống, có thể là nơi tạm trú hoặc nơi thường trú, hoặc trụ sở cơ quan làm việc (đối với pháp nhân) Nếu đề nghị được chuyển qua thư điện tử thì thời điểm nhận được lời đề nghị là khi đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được đề nghị Đây
là hình thức được thực hiện thông qua các giao dịch điện tử rất phát triển tại Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XXI Cho đến nay, có rất nhiều doanh nghiệp, cá nhân lập ra các trang web riêng của mình để giới thiệu sản phẩm, quảng cáo, ký kết hợp đồng… Nhiều giao dịch được ký kết không phải do các chủ thể gặp gỡ trực tiếp, mặt đối mặt thảo luận, bàn bạc với nhau mà được thực hiện thông qua mạng internet Thông qua hệ thống internet, các chủ thể có thể trao đổi, đề nghị cùng nhau giao kết hợp đồng.Hình thức này giúp cho các chủ thể tiết kiệm được thời gian, chi phí và dễ dàng kiểm soát được các bên có nhận được đề nghị của mình hay không Luật giao dịch điện tử năm 2005 đã được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 8 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2006) là cơ sở pháp lý để điều chỉnh các giao dịch dân sự thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Theo quy định của Luật giao dịch điện tử năm 2005, bên được đề nghị (bên nhận thông điệp dữ liệu) được xem như đã nhận đề nghị giao kết hợp đồng (thông điệp dữ liệu) nếu đề nghị giao kết hợp đồng được nhập vào hệ thống do bên được đề nghị chỉ định và có thể truy cập được14 Ví dụ như: thư điện tử của người đề nghị đã được gửi đến hộp thư của người được đề nghị, lúc này, dù người được đề nghị đã đọc hay chưa nhưng nếu
nó đã được gửi đến hộp thư của người nhận thì coi như người đó đã nhận được đề nghị Trong trường hợp, trước hoặc trong khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị có tuyên bố: “Email (đề nghị giao kết hợp đồng) này chỉ có giá trị khi có thông báo xác nhận, thì dù thông điệp dữ liệu đó đã được gửi đến hệ thống thông tin của bên được đề nghị, nhưng khi bên được đề nghị chưa gửi lại thông báo đã nhận được
đề nghị thì chưa được coi là bên được đề nghị đã nhận được đề nghị đó Thời điểm
để xác định bên được đề nghị nhận được đề nghị ở đây là thời điểm bên đề nghị nhận được thông báo đã nhận đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị.Nếu bên được đề nghị không gửi thông báo xác nhận thì coi như bên được đề nghị chưa
14
Điều 18 Luật giao dịch điện tử 2005
Trang 28nhận được đề nghị giao kết hợp đồng Giá trị của các thông báo được thực hiện bằng các phương tiện điện tử này có giá trị như đối với văn bản truyền thống15 Cuối cùng, thời điểm nhận được đề nghị là khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các cách thức khác Ví dụ như: lời đề nghị giao kết hợp đồng được chuyển đến bên được đề nghị thông qua một người thứ ba
Bên cạnh đó, BLDS còn đề cập đến trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng được coi là đã nhận được khi nó được chuyển đến trụ sở đối với pháp nhân khi bên đề nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị Nhưng theo Luật Doanh Nghiệp 2005 thì không phải tổ chức nào cũng có tư cách pháp nhân16 Vậy thì, đối với những tổ chức không có tư cách pháp nhân nếu có trụ sở hoạt động rõ ràng và bên đề nghị giao kết hợp đồng đã gửi đề nghị giao kết hợp đồng tới trụ sở này thì có được coi là đã nhận được đề nghị không? Đây là vấn đề mà thực tiễn xảy ra rất nhiều nhưng luật lại không có quy định để điều chỉnh thì giải quyết ra sao? Chính vì thế, đối với trường hợp này cần phải linh hoạt áp dụng tương tự pháp luật, nghĩa là quy định trên cũng nên được áp dụng cho cả các tổ chức không có tư cách pháp nhân, như thế sẽ giải quyết được vướng mắc nêu trên và tạo điều kiện thuận lợi trong giao kết hợp đồng đối với cả hai bên đề nghị và được đề nghị
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định thời điểm mà bên được đề nghị phải trả lời đề nghị giao kết, từ đó liên quan đến việc thay đổi, hủy bỏ hay chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam quy định thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng theo hướng để cho bên đề nghị chủ động ấn định thời gian trong
đề nghị giao kết hợp đồng dân sự, nhưng đồng thời cũng quy định cách xác định thời điểm trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực Quy định này bảo đảm phù hợp với tình hình giao kết hợp đồng dân sự vốn rất đa dạng, phong phú trên thực tế
1.3.2 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng
Để ký kết được hợp đồng, không chỉ đơn giản là một bên đưa ra đề nghị và một bên chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đó là xong; cũng như không chỉ có bên được đề nghị mới có quyền trả lời lại, đưa ra đề nghị mới mà ngay cả bên đề nghị cũng có thể thay đổi, rút lại đề nghị mà mình đã đưa ra Trong thực tế, sau khi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, có thể do không có điều kiện hay
15
Điều 18, Điều 38 Luật giao dịch điện tử 2005
16
Điều 141 Luật Doanh Nghiệp 2005
Trang 29gặp phải những khó khăn khác, người đề nghị không thể thực hiện đúng đề nghị của mình Khi đó, họ có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng
Chẳng hạn như, công ty A gửi cho công ty B một lời đề nghị giao kết hợp đồng
là công ty A sẽ bán cho công ty B 100 ti vi màn hình phẳng 20 inch hiệu LG với giá
7 triệu đồng/1 chiếc (giá này đã có thuế VAT) Tuy nhiên, trong thời gian chờ công
ty B trả lời thì công ty A phát hiện lô hàng ti vi màn hình phẳng này có lỗi kỹ thuật, phải tiến hành kiểm tra lại và không thể xuất xưởng trong thời gian tới Trong trường hợp này, công ty A vẫn có thể rút lại hoặc thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng
Trên cơ sở hai điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng đã được quy định tại BLDS 199517
, trong BLDS 2005, nội dung này đã được sửa đổi, bổ sung với quy định rõ hơn về các trường hợp thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng dân sự nhằm bảo đảm công bằng trong giao lưu dân sự, đảm bảo nguyên tắc tự do,
tự nguyện, bình đẳng trong giao kết hợp đồng Trong thực tiễn cũng có rất nhiều trường hợp có sự thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Tuy nhiên, không phải cứ muốn thay đổi hay rút lại đề nghị giao kết là được, việc này không thể thực hiện một cách tự do mà phải đáp ứng được điều kiện do luật quy định, cụ thể, Điều
392 BLDS 2005 quy định về vấn đề thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng như sau:
“1 Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị;
b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị
có nêu rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh
2 Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi là đề nghị mới.”
Như vậy, bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong hai trường hợp:
Thứ nhất, bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng thời điểm nhận được đề nghị Quy định bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng theo điểm a, khoản 1, Điều 392 là quy định mới được sửa đổi, bổ sung vào BLDS 2005 so với BLDS 1995 Khoản 1
17
Điều 398 BLDS 1995: “Bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong các trường hợp sau đây: 1 Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị; 2 Bên được đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút lại đề nghị”
Trang 30Điều 398 BLDS 1995 quy định bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị
trong trường hợp “bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị” Điều này cho thấy
khả năng để bên đề nghị thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong BLDS 1995 hẹp hơn và khó khả thi hơn so với BLDS 2005 Việc thông báo thay đổi hoặc rút lại thông báo này phải đến được với người được đề nghị trước hoặc cùng lúc với thời điểm người này nhận được đề nghị trước đó Nếu như sau thời điểm trên thì sẽ không được rút lại đề nghị giao kết hợp đồng và việc thay đổi nội dung của đề nghị giao kết được coi là một lời đề nghị giao kết hợp đồng mới Trong trường hợp này bên được đề nghị chưa có ý thức về việc chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị (khi chưa nhận được đề nghị) hoặc chưa có chuẩn bị gì cho việc giao kết hợp đồng (nhận được đề nghị và thông báo thay đổi hoặc rút lại đề nghị cùng một lúc), vì thế, việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị không ảnh hưởng đến lợi ích của bên được đề nghị Dĩ nhiên,trên thực tế nếu như bên được đề nghị nhận được đề nghị rút hoặc thay đổi sau khi họ nhận được đề nghị giao kết hợp đồng mà họ vẫn chấp nhận thì sẽ không
có vấn đề gì phải nói, đây là tự do ý chí của họ Trường hợp này chỉ đặt ra nếu hai bên không thoả thuận được và xảy ra tranh chấp
Để hiểu rõ thêm về điều này thì chúng ta có thể xem xét ví dụ sau: C gửi cho D một đề nghị giao kết hợp đồng thông qua email và thư này đến hộp thư của D vào lúc 15h ngày thứ 2 nhưng D chưa đọc Thứ 3, D nhận được email của C về việc rút lại đề nghị giao kết hợp đồng Ở đây, C không thể rút lại đề nghị vì thời điểm D nhận được đề nghị giao kết là thứ 2 (mặc dù D chưa đọc, nhưng đề nghị giao kết hợp đồng đã được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của D), như vậy C đã rút lại đề nghị sau thời điểm D nhận được đề nghị giao kết hợp đồng
Thứ hai, bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị, thì khi điều kiện đó phát sinh bên đề nghị có quyền thay đổi hoặc rút lại đề nghị
Pháp luật không có quy định việc đề nghị giao kết hợp đồng phải thực hiện bằng hình thức nào, thì sự thông báo về việc thay đổi, rút đề nghị đó phải thực hiện bằng hình thức đó Do đó, mặc dù bên đề nghị gửi cho bên được đề nghị lời đề nghị bằng văn bản và được chuyển qua đường bưu điện thì để đảm bảo cho việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị đến với người được đề nghị trước hoặc cùng lúc với đề nghị đã được gửi trước đó thì bên đề nghị có thể thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị này bằng cách gọi điện thoại trực tiếp hay gửi thư điện tử cho bên được đề nghị, trừ trường hợp trong văn bản đề nghị quy định rõ hình thức của việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị
Mặc dù BLDS 2005 không định nghĩa thế nào là thay đổi hay rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng qua nội dung của Điều 392 chúng ta có thể hiểu: thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng là việc bên đề nghị sửa đổi, bổ sung một hoặc một số nội
Trang 31dung trong đề nghị ban đầu Còn rút lại đề nghị giao kết hợp đồng là việc bên đề nghị không muốn giao kết hợp đồng với bên được đề nghị nữa hoặc bên đề nghị muốn rút lại đề nghị ban đầu để thay thế bằng một đề nghị mới Việc thay đổi hay rút lại đề nghị này được đặt ra sau khi bên đề nghị đã gửi đề nghị giao kết hợp đồng
đi hay nói cách khác là bên đề nghị đã bộc lộ ý định giao kết hợp đồng với bên được
đề nghị Thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện trong hai trường hợp nêu trên được hiểu là bên đề nghị thay đổi một hoặc một số nội dung trong đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị được thay đổi này được xem là đề nghị giao kết hợp đồng mới Rút lại đề nghị giao kết hợp đồng được thực hiện trong hai trường hợp nêu trên được hiểu là trường hợp bên đề nghị rút lại lời đề nghị cũ và coi như không
có lời đề nghị này; hoặc rút lại lời đề nghị cũ và thay thế nó bằng một lời đề nghị mới
1.3.3 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng
Hợp đồng dân sự vô cùng phong phú và đa dạng, chính vì thế việc thực hiện hay không thực hiện đề nghị giao kết hợp đồng cũng có nhiều trường hợp khác nhau Có thể, sau khi đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng, người đề nghị muốn thay đổi, rút lại đề nghị, cũng có thể người đề nghị muốn hủy bỏ toàn bộ lời đề nghị giao kết hợp đồng của mình trước đó
Điều 393 BLDS 2005 quy định về hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng: “Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” Đây là điều luật mới
được quy định trong BLDS 2005 so với BLDS 1995
Quy định bổ sung này trong BLDS 2005 xuất phát từ thực tế phát sinh trường hợp hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng nhưng nhiều người nhầm lẫn với rút lại đề nghị giao kết hợp đồng và áp dụng các quy định về rút lại đề nghị giao kết hợp đồng cho các trường hợp này Hơn nữa, nếu phân biệt hai trường hợp này cũng không có
cơ sở pháp lý để giải quyết trong trường hợp hủy bỏ hợp đồng, nghĩa là thực tiễn đã xảy ra nhưng chưa có luật điều chỉnh nên BLDS 2005 đã bổ sung thêm quy định này là một sự bổ sung cần thiết và kịp thời, đáp ứng giải quyết được vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự của nước ta Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng là không giao kết nữa, nó khác với việc rút lại
đề nghị giao kết hợp đồng về điều kiện, thời điểm nhận thông báo, cũng như hậu quả pháp lý
Trang 32Thứ nhất, về điều kiện, đối với rút lại đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị có quyền thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong hai trường hợp: (i) bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị hoặc nhận được đề nghị trùng với thời điểm nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút đề nghị; (ii) bên đề nghị có nêu rõ điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong đề nghị giao kết hợp đồng và điều kiện này phát sinh Còn đối với hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, bên đề nghị chỉ có quyền hủy bỏ đề nghị trong một trường hợp duy nhất là bên đề nghị có nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi bên được
đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Như vậy, muốn được hủy bỏ
đề nghị giao kết hợp đồng thì phải hội đủ 2 điều kiện:
- Trước tiên trong đề nghị giao kết hợp đồng trước đó phải nêu rõ bên đề nghị được hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng này Và:
- Bên hủy bỏ phải thông báo cho bên được đề nghị biết về việc hủy bỏ và việc thông báo đó phải trước thời điểm bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết Thứ hai, về thời điểm nhận được thông báo, thông báo về việc rút lại đề nghị có thể đến trước hoặc cùng một lúc với thời điểm bên được đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng Còn đối với trường hợp hủy bỏ hợp đồng, thông báo về việc hủy
bỏ này phải đến bên được đề nghị trước khi họ trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Thứ ba, về hậu quả pháp lý, sau khi rút lại đề nghị, bên đề nghị có thể không giao kết hợp đồng với bên được đề nghị nữa hoặc bên đề nghị thay thế đề nghị bị rút lại bằng một đề nghị mới Nhưng đối với trường hợp hủy bỏ đề nghị, khi đã thông báo
về việc hủy bỏ đề nghị thì bên đề nghị không tiếp tục đề nghị giao kết hợp đồng với bên được đề nghị này nữa
1.3.4 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng
Một đề nghị giao kết hợp đồng có thời điểm bắt đầu có hiệu lực cũng như thời điểm chấm dứt hiệu lực Đề nghị giao kết hợp đồng ràng buộc người đề nghị trong thời hạn đã được nêu trong đề nghị Vì vậy, pháp luật cũng quy định khi nào thì đề nghị được coi là chấm dứt và người đề nghị được giải phóng khỏi trách nhiệm ràng buộc trong quan hệ với người được đề nghị Quy định này không những tạo điều kiện cho bên đề nghị có thể đề nghị giao kết hợp đồng với chủ thể khác mà còn bảo
vệ quyền lợi cho cả bên được đề nghị giao kết hợp đồng
Điều 394 BLDS 2005 nêu ra năm trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng Các trường hợp này được quy định rõ ràng, chính xác hơn so với quy định tại Điều 399 BLDS 1995 Điều 394 BLDS 2005 đã không còn quy định chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên được đề nghị chậm trả lời chấp nhận như trong Điều 399 BLDS 1995 là hoàn toàn hợp lý Bởi vì, khi bên được đề nghị chậm trả lời chấp
Trang 33nhận thì cũng được coi là chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng do hết thời hạn trả lời chấp nhận theo khoản 2 Điều 394 BLDS 2005
Theo Điều 394 BLDS 2005 thì đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận, tức là sau khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng từ bên đề nghị mà bên được đề nghị đã trả lời lại là không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì coi như đề nghị giao kết hợp đồng
đó chấm dứt hiệu lực Việc trả lời không chấp nhận này của bên được đề nghị có thể
do nhiều nguyên nhân khác nhau: do giá cả, chất lượng, số lượng không hợp lý… Nếu bên đề nghị sửa lại đề nghị để đáp ứng yêu cầu của bên được đề nghị thì đề nghị giao kết hợp đồng cũ cũng chấm dứt và đây là lời đề nghị mới
Thứ hai, hết thời hạn trả lời chấp nhận.Đối với những lời đề nghị có ấn định thời gian trả lời, nếu hết thời gian này mà bên được đề nghị không trả lời thì đề nghị giao kết hợp đồng cũng chấm dứt.Trường hợp này bao hàm cả việc bên được đề nghị chậm trả lời hoặc im lặng không trả lời Nếu việc trả lời được thực hiện trực tiếp thì việc xác định thời gian trả lời sẽ rất dễ dàng, nhưng nếu trả lời được chuyển qua đường bưu điện hoặc bằng mạng internet trong trường hợp mạng bị lỗi… mà sự trả lời đó còn đến sau thời hạn trả lời thì phải lấy mốc thời gian mà người gửi thư tín đi theo dấu bưu điện hoặc thời điểm gửi thư đi bằng phương tiện điện tử để xác định sự trả lời đó có đúng thời hạn hay không đúng thời hạn Nếu không chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng, bên được đề nghị có thể trả lờicho bên đề nghị biết là mình không chấp nhận giao kết hợp đồng hoặc im lặng không trả lời Trên thực tế, rất nhiều trường hợp nếu không chấp nhận giao kết hợp đồng, bên được đề nghị thường không chú ý tới nội dung của đề nghị nữa và họ thường im lặng xem như là không chấp nhận giao kết hợp đồng (trừ trường hợp trong đề nghị có nêu rõ nếu bên được đề nghị im lặng trong một khoảng thời gian nhất định thì có nghĩa là bên được
đề nghị đồng ý giao kết hợp đồng) Khi hết thời hạn trả lời mà bên được đề nghị không trả lời thì đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực, bên đề nghị được giải phóng khỏi sự ràng buộc với lời đề nghị đó
Thứ ba, khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực pháp luật, tức là khi nó đã đến với người được đề nghị cùng lúc hoặc trước thời điểm người được đề nghị nhận được đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị trước đó cũng chấm dứt hiệu lực
Thứ tư, khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực pháp luật
Trang 34Thứ năm, theo thỏa thuận của hai bên trong thời gian chờ bên được đề nghị trả lời Nguyên tắc của hợp đồng là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, do đó, trong thời gian chờ đợi sự trả lời của bên được đề nghị, hai bên có thể thương lượng với nhau về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng Khi hai bên thống nhất được với nhau về điều này thì đề nghị giao kết chấm dứt theo sự thỏa thuận đó
Điều 394 BLDS 2005 đã liệt kê các trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng trên cơ sở thừa kế và sửa đổi quy định của BLDS 1995 Nắm vững các quy định về thời điểm chấm dứt của đề nghị giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng
1.3.5 Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng do bên được đề nghị đề xuất
Trong thực tế về giao kết hợp đồng, việc sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng không chỉ là quyền của bên đề nghị mà bên được đề nghị cũng có thể đề xuất sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng
Theo quy định tại Điều 396 BLDS 2005: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” Như vậy, chỉ được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
khi bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị, tức là không đặt ra trường hợp chấm dứt một phần đề nghị của bên đề nghị giao kết hợp đồng
Ở đây, đề cập đến việc sửa đổi đề nghị của bên được đề nghị.Sự sửa đổi đề nghị giữa các bên có thể diễn ra cho tới khi tìm ra được sự thống nhất của hai bên Điều
395 BLDS 2005 quy định: “Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới” Việc sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là thay đổi một phần
hoặc toàn bộ nội dung của đề nghị Sau khi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tức là hợp đồng đã có hiệu lực pháp luật mà bên được đề nghị lại muốn sửa đổi thì đây được coi là một lời đề nghị mới, hay còn gọi là hoàn đề nghị Như vậy, bên được đề nghị được coi là đưa ra đề nghị mới trong hai trường hợp:
Thứ nhất, bên được đề nghị chấp nhận một phần đề nghị nhưng lại đưa ra điều kiện để thực hiện sự chấp nhận đó
Thứ hai, bên được đề nghị chấp nhận một phần đề nghị và đề xuất sửa đổi phần còn lại của nội dung đề nghị
Lúc này, tư cách chủ thể của các bên trong đề nghị giao kết hợp đồng có sự thay đổi, người đề nghị ban đầu trở thành người được đề nghị và người được đề nghị trở thành người đề nghị Đây là trường hợp xảy ra nhiều trong thực tế xuất phát từ quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thể hiện ý chí giữa các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng Có trường hợp các bên phải trao đổi qua lại với nhau rất nhiều
Trang 35đề nghị với nội dung khác nhau và khác với đề nghị ban đầu rồi mới đi đến thống nhất thỏa thuận và ký kết hợp đồng
Quy định tại Điều 395 BLDS 2005 được tách ra từ khoản 3 Điều 399về chấm dứt
đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 199518
Việc tách quy định này thể hiện sự hợp lý, tiến bộ bởi vì đây không phải là trường hợp chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng, đồng thời việc tách ra này còn tạo sự rõ ràng và cụ thể hơn cho các điều luật trong BLDS 2005 so với BLDS 1995
Việc quy định về sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất giúp chúng ta có những nhận thức rõ ràng khi tham gia vào đề nghị giao kết, nhất là khi có đề xuất lại với bên đề nghị để từ đó đưa ra những điều khoản phù hợp, đảm bảo lợi ích của cả hai bên và tránh xảy ra tranh chấp Đồng thời cũng cho thấy sự tiến bộ của pháp luật trong việc đảm bảo thực hiện các nguyên tắc của giao kết hợp đồng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên Tuy nhiên, BLDS không phân biệt nội dung điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị giao kết là nội dung chủ yếu hay không chủ yếu nên bất kỳ điều kiện hoặc sửa đổi nào từ phía bên được đề nghị giao kết hợp đồng đều được coi
là đề nghị mới Điều này là không hợp lý, bởi vì nếu xem tất cả mọi sửa đổi đều như nhau như thế sẽ không công bằng và gây khó khăn cho bên đề nghị, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên này.Trong tương lai nếu sửa đổi BLDS thì nên thay đổi quy định này cho phù hợp hơn
1.3.6 Giá trị pháp lý của đề nghị giao kết hợp đồng khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự
Thực tế cuộc sống có thể thay đổi, biến động và đôi khi cũng xảy ra những sự cố bất ngờ, chẳng hạn như trường hợp sau khi đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng thì bên
đề nghị bị bệnh nặng qua đời hoặc gặp tai nạn dẫn đến tình trạng mất năng lực hành
vi dân sự… Đây là tình huống bất ngờ xảy ra mà cả bên đề nghị và bên được đề nghị đều không thể lường trước được Vậy vấn đề đặt ra là khi đó thì đề nghị giao kết hợp đồng sẽ được xử lý như thế nào, giải quyết ra sao?
Điều 398 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự sau khi bên được đề nghị giao kết hợp đồng trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị” Đây là quy định mới được đưa vào BLDS 2005, BLDS 1995 không có quy
định này Theo đó thì sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị mà bên đề nghị xảy ra sự kiện chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đề nghị giao kết hợp đồng này vẫn có giá trị Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là việc ký kết hợp đồng sẽ do ai thực hiện? Vấn đề này luật không có quy định Theo lẽ thường thì khi bên đề nghị
18
Khoản 3 Điều 399 BLDS 1995: “Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới”
Trang 36chết hay mất năng lực hành vi dân sự, quyền và nghĩa vụ của họ lúc này sẽ do người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện Nhưng vấn đềlà đây mới chỉ là giai đoạn các bên đề nghị giao kết hợp đồng, chưa thực sự ký kết hợp đồng, vậy tại sao khi bên đề nghị giao kết hợp đồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự vẫn buộc các bên phải ký kết hợp đồng, trong khi đó, ngay cả khi ký kết hợp đồng rồi nếu bên thực hiện nghĩa vụ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì hợp đồng đó có thể bị chấm dứt (trong trường hợp nghĩa vụ phải do chính người đó thực hiện) Quy định như vậy có phù hợp không? Và nếu trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ: “nếu bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hảnh vi dân sự thì
đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong mọi trường hợp” thì quy định như vậy có hợp pháp không? Để trả lời cho câu hỏi này cần phải xem xét Điều 4
BLDS 2005: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền và nghĩa
vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội” Do đó, nếu trong đề nghị giao
kết hợp đồng đã xác định rõ đề nghị chấm dứt khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì dù bên đề nghị có trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị đó vẫn chấm dứt hiệu lực
Như vậy, dựa vào nguyên tắc của cơ bản của pháp luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận của các bên (thỏa thuận này phải không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội), khi trong đề nghị đó có quy định về việc chấm dứt đề nghị khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì đề nghị đó không còn giá trị nữa, cho dù bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận đề nghị Còn nếu trong đề nghị không quy định về vấn đề này và bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị này vẫn có giá trị theo quy định tại Điều 398 BLDS 2005
Tuy nhiên, BLDS 2005 lại không có quy định về trường hợp bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, khi đó thì đề nghị này có còn giá trị không hay đương nhiên chấm dứt hiệu lực? Theo quan điểm cá nhân của tác giả thì trong trường hợp này đề nghị giao kết hợp đồng sẽ tự động chấm dứt, không còn giá trị vì chủ thể thực hiện
đề nghị đã không còn hoặc không thể thực hiện đề nghị và hơn nữa lúc này bên được đề nghị vẫn chưa có ý định, sự chuẩn bị cho việc giao kết hợp đồng nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của cả hai bên
Như vậy, theo quy định của BLDS 2005 thì khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự mà bên được đề nghị đã trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị đó vẫn có giá trị
1.4 Những điểm tiến bộ và hạn chế của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005
Trang 371.4.1 Những tiến bộ của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005
Nhìn chung, qua 09 năm thi hành, BLDS 2005 đã có tác động rất tích cực vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nói chung và trong hoạt động của ngành Tòa
án nói riêng Bộ luật dân sự đã cụ thể hóa đại đa số các quan hệ xã hội trên cơ sở của nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của nhà nước vào các quan hệ dân
sự, tôn trọng và phát huy sự tự thỏa thuận, tự quyết định của các chủ thể BLDS
2005 đã phát huy vai trò to lớn trong việc tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích nhà nước và lợi ích công cộng
BLDS 2005 về chế định đề nghị giao kết hợp đồng đã có nhiều sửa đổi, bổ sung
so với BLDS 1995, những sửa đổi, bổ sung này thể hiện quan điểm cơ bản, theo đó BLDS là luật chung về hợp đồng, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng nói chung, điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được xác lập trên nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm Trong trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định riêng thì ưu tiên áp dụng các quy định riêng đó Vì vậy, phạm vi áp dụng các quy định về hợp đồng dân sự trong BLDS được mở rộng và xóa bỏ sự phân biệt hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế Cũng chính vì thế, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã hết hiệu lực và trong Luật Thương Mại 2005 cũng không có quy định chung về hợp đồng mà chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005, các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS được áp dụng cho cả hợp đồng phát sinh trong kinh doanh thương mại Đây chính là ưu điểm thứ nhất và cũng là ưu điểm lớn nhất của BLDS trong toàn bộ chế định hợp đồng nói chung và đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng Thứ hai, BLDS đã đưa ra được khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng.Đây là một điều vô cùng quan trọng và cần thiết Việc đưa ra khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng không chỉ giúp các bên hiểu rõ hơn về điều này mà còn tạo điều kiện để chính các chủ thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, tạo điều kiện để việc giao kết hợp đồng được thuận lợi và đảm bảo hiệu lực của hợp đồng về sau
Thứ ba, BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi về thay đổi, rút lại đề nghị cũng như quy định về chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng Những sửa đổi này hoàn toàn phù hợp
và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn trong bối cảnh lúc bấygiờ, khắc phục được các hạn chế của các văn bản pháp lý trước đó
Thứ tư, BLDS2005 đã bổ sung các quy định về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực; hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng; sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất và giá trị của đề nghị giao kết hợp đồng khi bên đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự Những điều được bổ sung này cho thấy sự tiến bộ và phát triển của BLDS 2005 và cả pháp luật dân sự Việt Nam Chế định đề nghị giao kết hợp đồng đã được quy định một cách cụ thể và chi tiết, cho phép mọi chủ thể khi có
Trang 38ý định giao kết hợp đồng với đối tác đều có thể dựa vào các quy định này để chủ động đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng nhằm tìm kiếm đối tác, bạn làm ăn phục
vụ cho lợi ích của mình Đồng thời các quy định về đề nghị giao kết hợp đồng còn giúp cho bên được đề nghị an tâm hơn, có lòng tin hơn về lời đề nghị mà bên đề nghị đưa ra, bởi nó có giá trị ràng buộc đối với bên được đề nghị và bên này phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình
Thứ năm, quy định cho phép bên được đề nghị cũng có quyền đưa ra điều kiện, sửa đổi đề nghị giao kết hợp đã tạo cơ hội cho bên được đề nghị đưa ra đề nghị mới hướng tới một thỏa thuận có lợi cho các bên Bởi lẽ, để tiến tới giao kết hợp đồng, xác lập quyền và nghĩa vụ với nhau thì các bên phải có được tiếng nói chung, mà để làm được điều đó thì hai bên phải tiến hành đàm phán, không ngừng đưa ra các lời
đề nghị để tìm ra được lời đề nghị giao kết hợp đồng có lợi cho tất cả các bên Do
đó, quyền đưa ra đề nghị không chỉ là quyền của bên đề nghị mà bên được đề nghị cũng có quyền này Quy định như vậy sẽ tạo ra sự công bằng cũng như đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Thứ sáu, các trường hợp về chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 394 BLDS 2005 rõ ràng, chính xác hơn so với quy định tại Điều 399 BLDS
1995 Điều 394 BLDS 2005 đã không còn quy định chấm dứt hợp đồng trong trường hợp bên được đề nghị chậm trả lời chấp nhận như trong Điều 399 BLDS
1995 là hoàn toàn hợp lý Bởi vì, khi bên được đề nghị chậm trả lời chấp nhận thì cũng được coi là chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng do hết thời hạn trả lời chấp nhận theo khoản 2 Điều 394 BLDS 2005 Do đó, việc bỏ đi quy định chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng khi chậm trả lời là hợp lý, giảm bớt quy định trùng lặp, chồng chéo lên nhau, gây trở ngại cho quá trình áp dụng pháp luật
Thứ bảy, quy định về việc thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng theo khoản
1 Điều 392 BLDS 2005 đã mở rộng phạm vi, khả năng được thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng của bên được đề nghị so với BLDS 1995 Điều này, giúp cho bên đề nghị chủ động hơn trong việc đưa ra đề nghị và bảo vệ quyền lợi của mình mà không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên được đề nghị
Tóm lại, trên đây là những ưu điểm của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005, những ưu điểm này đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế-xã hội nói chung và hoàn thiện pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng
1.4.2 Những hạn chế của chế định đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005
Bộ luật dân sự 2005 ra đời trong thời điểm nước ta cần hoàn tất các bước cần thiết cho việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó có việc rà soát
và điều chỉnh pháp luật cho phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ
Trang 39tổ chức này Cũng chính vì được ban hành khá nhanh chóng và trong bối cảnh như vậy nên đây là một nguyên nhân khiến Bộ luật dân sự 2005 ra đời nhưng chưa dựa trên những nghiên cứu đầy đủ và còn rất nhiều vấn đề cần phải được bàn thảo, từ kỹ thuật lập pháp đến nội dung các quy định cụ thể Với tình hình kinh tế-xã hội ngày càng phát triển, nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, đây vừa là
cơ hội vừa là thách thức lớn đối với nước ta trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, do đó nhiều quy định của BLDS còn bất cập, chưa phù hợp với điều kiện hiện tại và cần phải được sửa đổi, hoàn thiện hơn nữa, trong đó có các hạn chế của quy định về đề nghị giao kết hợp đồng như sau:
Thứ nhất, khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 390 khoản 1 còn chung chung, chưa rõ ràng và dễ gây tranh chấp cho các chủ thể trong quá trình
đàm phán giao kết hợp đồng.Điều 390 khoản 1 BLDS quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể” Vấn đề là ở chỗ sau
đó BLDS không giải thích và không quy định thế nào là bên đã được xác định cụ thể và thế nào là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng, ngoài BLDS ra cũng không có bất cứ một văn bản nào hướng dẫn về vấn đề này Cách hành văn trong quy định này cũng gây ra sự khó hiểu, vì trong thực tế, việc gửi đề nghị giao kết hợp đồng (còn gọi là gửi chào hàng cố định hoặc gửi đặt hàng cố định) của bên đề nghị thường dễ bị nhầm lẫn với gửi báo giá hay gửi lời mời đề nghị giao kết hợp đồng, lời mời chào hàng (còn gọi là chào hàng tự do) Sự khác nhau giữa một đề nghị về việc giao kết hợp đồng với một báo giá hay yêu cầu tham khảo giá là ở chỗ
đề nghị về việc giao kết hợp đồng được gửi đích danh cho một chủ thể hoặc một số chủ thể và do đó người gửi đề nghị giao kết hợp đồng phải tự ràng buộc mình với những nội dung đã đưa ra trong đề nghị đó, còn báo giá hay yêu cầu tham khảo giá không gửi đích danh cho ai cả, nó mới chỉ là một sự thăm hỏi chung chung và do đó
nó không ràng buộc người báo giá, người gửi tham khảo giá Để giúp các chủ thể hiểu rõ mục đích và bản chất của đề nghị giao kết hợp đồng, khái niệm này cần được trình bày một cách rõ ràng hơn
Thứ hai, điểm b Khoản 1 Điều 392 BLDS quy định trường hợp bên đề nghị có thể rút lại đề nghị nếu điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị nói rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh Quy định như trên đã tạo ra ưu thế pháp lý tuyệt đối cho bên đề nghị, khi bên
đề nghị có thể áp đặt ý chí của mình đối với bên được đề nghị bằng cách ấn định trước điều kiện thay đổi, rút lại đề nghị.Trước khi hợp đồng được ký kết, vào bất cứ thời điểm nào mà điều kiện về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị (do bên đề nghị đã
ấn định sẵn) phát sinh thì đề nghị này sẽ bị coi như là bị thay đổi hoặc rút lại Quy