1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

63 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh nói riêng ra đời, đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể của các hành vi như Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn 2006, Phân tích và luận giải các quy định củ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỐ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

LÊ THÙY TRANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM LOẠI BỎ

ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sỹ Phạm Hoài Huấn, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ

và động viên để tôi hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thầy Phạm Hoài Huấn đã giúp tôi trong quá trình định hướng và nghiên

cứu!

Người cam đoan

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

UNCTAD United Nation Conference on Trade and

Development

Cooperation and Development

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH 4

1.1 Một vài khái niệm có liên quan về vị trí thống lĩnh thị trường 4

1.1.1 Vị trí thống lĩnh thị trường 4

1.1.2 Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường 6

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với cạnh tranh 9

1.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 9

1.2.1 Khuynh hướng lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 9

1.2.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 29

CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG ĐỂ LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH – THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 30

2.1 Nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 30

2.2 Pháp luật Việt Nam về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 31

2.2.1 Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường 31

2.2.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 34

2.3 Những vấn đề còn tồn tại khi áp dụng pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh tại Việt Nam 38

2.4 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 46

2.4.1 Nguyên tắc khi xây dựng và áp dụng các quy định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 47

Trang 6

2.4.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh 48KẾT LUẬN CHƯƠNG II 53KẾT LUẬN 54

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được xác định là nền tảng cơ bản Sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh là động lực của sự phát triển và tiến bộ xã hội Chính vì vậy, việc xây dựng một môi trường cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh, cụ thể hơn là đảm bảo khuyến khích cuộc chạy đua giữa các chủ thể kinh doanh và kiểm soát độc quyền luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu của các quốc gia và

tổ chức kinh tế trên thế giới

Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi từ chế độ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường chỉ mới diễn ra từ hơn hai thập kỷ trước Việc đẩy mạnh hội nhập và mở cửa thu hút vốn đầu tư đã đưa về những doanh nghiệp nước ngoài có tiềm năng tài chính, công nghệ lớn mạnh cùng với các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn tồn tại – là những chủ thể có khả năng thống lĩnh thị trường Những doanh nghiệp này luôn có

xu hướng hành động nhằm duy trì và củng cố vị thế của mình trên thị trường liên quan, thậm chí là những toan tính hạn chế cạnh tranh và độc chiếm thị phần Đó là nguy cơ tiềm ẩn cho khả năng phá vỡ cấu trúc và tương quan cạnh tranh trên thị trường, triệt tiêu động lực phát triển của nền kinh tế, đe dọa sự ổn định và lành mạnh của xã hội Do đó, việc kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ là một vấn đề có ý nghĩa to lớn với nền kinh tế Mặt khác, Việt Nam vẫn còn gặp nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn khi thực thi các quy định của pháp luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền Xuất

phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh” với mong muốn góp một

tiếng nói vào quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các tác giả Ngay từ khi thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã có hàng loạt những công trình khoa học mang tính định

hướng như “Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam – Viện Khoa học và Gía cả (1994); “Xây dựng pháp luật cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” – Nguyễn Như Phát (1997), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật…

Sau khi Luật Cạnh tranh 2004 ra đời, hàng loạt các công trình nghiên cứu về các hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung và pháp luật chống lạm dụng vị trí thống

Trang 8

lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh nói riêng ra đời, đi sâu vào từng khía cạnh cụ

thể của các hành vi như Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nhà xuất bản Tư pháp; Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Luật cạnh tranh năm 2004 và hành vi lạm dụng quyền lực thị trường để hạn chế cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Nguyễn Ngọc Sơn (2008), Hành

vi Định giá hủy diệt và việc ứng dụng trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp; Trần Hoàng Nga (2011), Pháp luật chống định giá lạm dụng của EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So sánh và kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam, Luận

án Tiến sỹ Luật học; Chế Văn Tấn (2011), Lạm dụng vi trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam – lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật; Phạm Hoài Huấn (2012), Hành vi định giá hủy diệt trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước & pháp luật; Nguyễn Thị Nhàn (2012), Những vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật; Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh về giá, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia; Nguyễn Trần Thủy Ngân (2014), Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường về giá quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 13 Luật Cạnh tranh, Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật…và một số công trình, bài báo có liên

quan

3 Mục đích nghiên cứu

Những công trình, tác phẩm nói trên hầu hết tập trung vào hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh nhưng chưa đi sâu vào phân tích những chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh nhằm độc chiếm thị phần, duy trì và củng cố vị trí thống lĩnh trên thị trường liên quan Do đó, trong phạm vi đề tài này, tác giả đi vào phân tích nhóm những hành vi này trên cơ sở những luận giải kinh tế để thấy được bản chất lạm dụng của chúng Từ việc so sánh các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia phát triển, kết hợp với tình hình kinh tế - xã hội thực tế của nước ta để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi lạm dụng sức mạnh thị trường của doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, duy trì và củng cố vị thế trên thị trường liên quan

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, khóa luận này chỉ tập trung nghiên cứu các

hành vi nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh như định giá hủy diệt, chèn ép lợi nhuận, tạo nên các rào cản tư để duy trì sức mạnh thị trường trong sự so sánh đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới; kết hợp với phân tích một vài

vụ việc trên thực tế và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam để từ đó kiến nghị một

số giải pháp phù hợp Do sự giới hạn về thời gian và khối lượng công trình, những nội dung về căn cứ xác định vị trí thống lĩnh thị trường tác giả chỉ trình bày một cách

khái quát

Về mặt không gian, Khóa luận có sự tìm hiễu pháp luật Cạnh tranh của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Canada, Khối EU … về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khóa luận này được hoàn thành trên cơ sở tiếp thu và vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lenin và các chủ trương, đường lối của Đảng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa Những phân tích và lập luận mà tác giả đưa ra là sự kết hợp các phương pháp: phân tích và bình luận, so sánh đối chiếu, chứng minh… trong đó phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu để làm sáng tỏ các luận điểm chính của quá trình nghiên cứu, cụ thể là sự khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Kết cấu của khóa luận gồm hai chương:

Chương I: Lý luận về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh Trong chương này, tác giả đi vào tìm hiểu, phân tích các quy định của

pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh của một số quốc gia trên cơ sở đánh giá bản chất lạm dụng của hành vi và biểu hiện trên thực tế của chúng Đây là cơ sở cho việc phân tích và so sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam ở chương tiếp theo

Chương II: Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam – thực trạng và hướng hoàn thiện Phân tích cấu

thành các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh theo pháp luật Việt Nam và một số vụ việc trên thực tế để thấy được những hạn chế

và đề xuất một số kiến nghị nhằm giải quyết những vấn đề này

Trang 10

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH

THỊ TRƯỜNG NHẰM LOẠI BỎ ĐỐI THỦ CẠNH TRANH

1.1 Một vài khái niệm có liên quan về vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.1 Vị trí thống lĩnh thị trường

Cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự hình thành và phát triển của kinh

tế thị trường Như Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Như Phát từng nhận định: Nếu quan

hệ cung cầu là cái cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường 1 Thật vậy, dưới tác động của mình, cạnh tranh đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của đời sống xã hội, đem lại cho nền kinh tế sức sống mạnh mẽ cùng những bước chuyển động linh hoạt Cùng với việc thúc đẩy xã hội phát triển, cạnh tranh còn góp phần phân bổ lại các nguồn lực theo hướng tập trung vào những chủ thể sử dụng có hiệu quả, đưa tới sự hình thành các doanh nghiệp có tiềm lực lớn mạnh mà kinh tế học gọi là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (dominant position) đã xuất hiện trong

các quy định và chính sách về Cạnh tranh của nhiều quốc gia và các tổ chức kinh tế như Canada, Ấn Độ, EU, UNCTAD Luật Mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD đưa ra

định nghĩa về vị trí thống lĩnh thị trường là trường hợp “khi một doanh nghiệp bằng chính khả năng của nó hoặc cùng hành động với các doanh nghiệp khác để có được

vị trí có thể kiểm soát một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ” 2 Điều 79 Luật Cạnh tranh Canada quy định chỉ được xem xét hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

khi một hoặc nhiều doanh nghiệp về cơ bản hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình, một phân đoạn kinh doanh, trên toàn lãnh thổ Canađa hay tại bất kỳ khu vực nào của nó” Tòa án Tư pháp Châu Âu trong Án lệ United Brands v Commission3 xác định

đó là vị trí của sức mạnh kinh tế mang lại cho doanh nghiệp thụ hưởng khả năng ngăn cản hiệu quả cạnh tranh được duy trì trên thị trường liên quan và hành động một cách độc lập gây ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ độc quyền hoặc vị trí độc quyền

(monopoly) được dùng chung để chỉ những thực thể kinh tế mà hành động của nó có

1 Nguyễn Như Phát, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Phân tích và luận giải các quy định của Luật Cạnh tranh về

hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh, Nhà xuất bản Tư pháp,

tr 10

2 UNCTAD: Model Law on Competition, p.2

3 United Brands v Commission, Case 27/76 [1978] ECR 207, [1978] 1 CMLR 429

Trang 11

khả năng loại bỏ cạnh tranh trên thị trường Nhìn chung, dù được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau thì vị trí thống lĩnh thị trường cũng đều được nhìn nhận là vị trí của sức mạnh kinh tế gần như tuyệt đối cho phép doanh nghiệp kiểm soát thị trường, đồng thời gây ảnh hưởng đến các đối thủ cạnh tranh và thoát khỏi cạnh tranh thực chất Liên quan đến vị trí thống lĩnh thị trường, không thể không đề cập đến sức mạnh

thị trường (market power) UNCTAD định nghĩa: “quyền lực thị trường biểu thị khả năng của một hoặc một nhóm các doanh nghiệp nâng giá hoăc duy trì mức giá cao hơn mức phổ biến khi có cạnh tranh trong một khoảng thời gian nhất định” 4 Bộ Tư pháp và Uỷ ban Thương mại công bằng Mỹ đưa ra khái niệm tương tự: “quyền lực thị trường là khả năng duy trì giá cả trên mức giá cạnh tranh trong một giai đoạn đáng kể mà vẫn thu được lợi nhuận” 5 Một doanh nghiệp thống lĩnh phải nắm giữ

sức mạnh thị trường đáng kể trong một khoảng thời gian nhất định thì mới có khả năng chi phối thị trường Thực tế, trong điều kiện cạnh tranh không hoàn hảo, các chủ thể ít nhiều đều có thể tác động đến giá cả sản phẩm Tuy nhiên, để đạt đến mức thao túng thị trường và chi phối giá cả thì sức mạnh kinh tế mà doanh nghiệp sở hữu phải đủ lớn và tồn tại lâu dài Hay nói cách khác, quyền lực thị trường phải được xem xét ở mức độ có thể khuynh đảo cạnh tranh cùng với độ bền của nó Bởi lẽ những tổn thất mà xã hội gánh chịu phải tỷ lệ thuận với khả năng tồn tại quyền lực thị trường của doanh nghiệp thống lĩnh mới là hợp lý Trong tất cả các cuộc điều tra về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vấn đề đầu tiên phải được xem xét đó là xác định sức mạnh thị trường mà doanh nghiệp nắm giữ

Lý luận về Cạnh tranh không chỉ thừa nhận vị trí thống lĩnh thị trường của một doanh nghiệp mà còn nghiên cứu khả năng khống chế thị trường của nhóm các doanh nghiệp cùng hành động Luật mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD đã đề cập đến trường

hợp nhóm các doanh nghiệp cùng hành động để có vị trí có thể kiểm soát trên thị trường liên quan đối với một hoặc một nhóm hàng hóa, dịch vụ nhất định

Xem xét “cùng hành động” dưới góc độ là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

thị trường và trong thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có gì khác biệt? Điểm mấu chốt để phân định giữa hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của nhóm các doanh nghiệp và một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí để hành động tập thể Các doanh nghiệp có quyền lực thị trường hành động tương tự nhằm hạn chế cạnh tranh trong cùng một khoảng thời gian nhưng không có thỏa thuận thì được xem

4 UNCTAD, tlđd (2), Box 8: Abuse dominant position and abuse of market power, p.55

5 Market power & Monopoly power: http://www.justice.gov/atr/public/reports/236681_chapter2.htm , truy cập ngày 10/5/2015

Trang 12

là nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Mặt khác, mục đích mà nhóm

các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hướng đến là một thị trường “độc quyền nhóm, nơi mà hai hoặc nhiều doanh nghiệp kiểm soát phần lớn thị trường, tạo nên và tận hưởng những điều kiện mà họ có thể kiểm soát hoặc điều khiển thị trường như trong trường hợp độc quyền 6

Dưới ảnh hưởng bởi sự vận động của thị trường và nỗ lực cạnh tranh lành mạnh, doanh nghiệp/nhóm doanh nghiệp hoàn toàn có thể đạt được vị thế chi phối và kiểm soát thị trường liên quan Đó là quyền lợi chính đáng mà pháp luật trao cho các chủ thể kinh doanh, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Tuy nhiên, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh – tiêu biểu là việc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh nhằm độc chiếm thị trường là những hành vi cần thiết phải bị lên án và xóa bỏ để đảm bảo một môi trường cạnh tranh bình đẳng

1.1.2 Căn cứ để xác định vị trí thống lĩnh thị trường

1.1.2.1 Thị trường liên quan

Xác định thị trường liên quan là một trong những bước phân tích quan trọng để kiểm tra và đánh giá khả năng gây hạn chế cạnh tranh của một doanh nghiệp Trong các cuộc điều tra về hành vi hạn chế cạnh tranh, nếu thị trường có quy mô nhỏ và doanh nghiệp có mức thị phần lớn thì có thể xác định nó có vị trí thống lĩnh Nói cách khác, thị trường liên quan là cơ sở để đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp

Thị trường liên quan, theo quan điểm của UNCTAD “là những điều kiện chung nhất trong quá trình trao đổi hàng hóa giữa người bán và người mua; nó ngụ ý về những ranh giới xác định của nhóm người mua và người bán một loại hàng hóa cụ thể và không có sự cạnh tranh từ các khu vực khác Nó đòi hỏi sự mô tả về sản phẩm

và khu vực địa lý với một nhóm hàng hóa và những người bán, người mua tương tác với nhau để hình thành nên giá cả và đầu ra Thị trường liên quan bao gồm tất cả những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế nhau một cách hợp lý và những đối thủ cạnh tranh kế cận mà người tiêu dùng có thể chuyển sang trong ngắn hạn nếu có sự hạn chế hoặc tăng giá mang tính lạm dụng”7

Như vậy, thị trường liên quan là một nhóm những hàng hóa, dịch vụ được các doanh nghiệp sản xuất trong một khu vực nhất định Nó được cấu thành từ hai thành

tố cơ bản: thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan

6 UNCTAD, tlđd (2), p.37

7 UNCTAD, tlđd (2), p.4

Trang 13

Thị trường sản phẩm liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan là thị trường của những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Thực chất việc xác định thị trường sản phẩm liên quan là xem xét tính hợp lý của khả năng thay thế và độ co giãn của nhu cầu: Có hay không những sản phẩm tương tự về tính chất được người tiêu dùng sẵn sàng lựa chọn thay thế khi có sự tăng giá sản phẩm trong một thời gian nhất định Tóm lại, những hàng hóa, dịch vụ sẽ được xem xét hai yếu tố sau để xác định khả năng thay thế:

Tính chất của sản phẩm: bao gồm đặc tính và mục đích sử dụng Hàng hóa, dịch

vụ được coi là có thể thay thế nhau về đặc tính nếu nó có nhiều tính chất hóa học, vật

lý, tính năng kỹ thuật, tác dụng phụ đối với người sử dụng giống nhau Việc xem xét này đòi hỏi phải phân tích các yếu tố vật chất cấu thành nên sản phẩm để tìm ra những

đặc trưng lý hóa giống hệt hoặc tương đồng giữa các sản phẩm Tương tự đối với mục đích sử dụng, phải chứng minh được rằng mục đích sử dụng của các hàng hóa, dịch

vụ thay thế là hoàn toàn giống nhau Việc xem xét này phải dựa trên quan điểm của người tiêu dùng – là chủ thể trực tiếp sử dụng các sản phẩm Bản chất của việc xem

xét tính chất của các hàng hóa thay thế là “nhằm mục đích tìm kiếm sự tương tự nhau giữa các sản phẩm khác nhau, từ đó để đáp ứng cho chúng đều có cùng một nhu cầu

thay thế Điều kiện đặt ra cho phép kiểm tra này là các hàng hóa, dịch vụ đã có sự

tương đồng về các đặc tính lý hóa và được người tiêu dùng thừa nhận là có chungmột mục đích sử dụng Trong trường hợp khách hàng cho thấy thái độ sẵn sàng đổi hướng tiêu dùng khi có một sự thay đổi về giá thì kết hợp với sự tương đồng về tính chất, kết luận cuối cùng là các sản phẩm này thuộc cùng một thị trường sản phẩm liên quan

8 Nguyễn Ngọc Sơn (2005), “Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004”, Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, 11(63)/2005, tr.27

Trang 14

Thị trường địa lý liên quan

Thị trường địa lý liên quan là một trong hai vấn đề mấu chốt cần được làm rõ khi xác định thị trường liên quan Thị trường địa lý liên quan được hiểu là một khu vực nơi bán những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau Nó được giới hạn trong phạm vi một tỉnh – thành phố hoặc một khu vực gồm nhiều tỉnh, thành phố kết

hợp

Tương tự thị trường sản phẩm liên quan, phương pháp xác định thị trường địa

lý liên quan cũng dựa vào nhu cầu của người tiêu dùng Nó bao gồm những cơ sở sản xuất, các đia điểm phân phối hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà khách hàng thường xuyên mua sắm những sản phẩm có khả năng thay thế Câu hỏi đặt ra là liệu khách hàng mua lẻ của doanh nghiệp có chuyển sang mua hàng của các cửa hàng bán lẻ khác trong khu vực nếu như giá bán lẻ được tăng quá 5% hay không9 Ngoài ra, một khu vực được xác định là thị trường địa lý liên quan cũng cần có sự tương đối phù hợp với nhau về các yếu tố như chính sách pháp luật, chi phí vận chuyển hàng hóa

trong khu vực, sở thích của người tiêu dùng v.v…

Thị trường liên quan suy cho đến cùng được giới hạn trong phạm vi một khoảng không gian nhất định, nơi kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ có khả năng thay thế lẫn

nhau “Xác định thị trường liên quan là một giai đoạn rất quan trọng trong các cuộc điều tra về hành vi lạm dụng Bởi lẽ, thị phần chỉ được tính toán khi những ranh giới của thị trường đã được xác định” 10

1.1.2.2 Thị phần

Cùng với thị trường liên quan, thị phần là một yếu tố quan trọng trong việc xác

định doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường “Thị phần của một doanh nghiệp đối với một hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”11 Thị phần của doanh nghiệp phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh

nghiệp trên thị trường liên quan Một doanh nghiệp chiếm phần lớn thị phần sẽ là nhà

9 UNCTAD, tlđd (2), p.9

10 David Harbord và Georg von Gravenitz, Định nghĩa thị trường trong các vụ điều tra cạnh tranh trong

thương mại, Tài liệu hội thảo, Hà Nội, 2004 – Theo Nguyễn Ngọc Sơn, tlđd (8), tr.26

11 Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004

Trang 15

cung ứng/người mua chủ yếu trên thị trường Nhờ đó, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng tác động vào giá cả, kiểm soát sản lượng sản xuất trên thị trường đó Hay nói cách khác, doanh nghiệp sở hữu thị phần lớn sẽ có sức mạnh thị trường đáng kể Pháp luật Cạnh tranh của hầu hết các nước đều sử dụng thị phần làm căn cứ chủ yếu để xác định quyền lực thị trường của doanh nghiệp Mức thị phần đó là bao nhiêu

tùy thuộc vào quan điểm lập pháp của các quốc gia Luật Hà Lan quy định: “Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường khi có thị phần vượt quá 40%; Luật Mông Cổ

và Ukraine xác định mức 50% thị phần trở lên là cơ sở để xác định doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp cùng hành động có vị trí thống lĩnh thị trường” 12

1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với cạnh tranh

Việc nắm giữ phần lớn cung/cầu trên thị trường liên quan đem lại cho doanh nghiệp thống lĩnh vai trò quan trọng đối với cạnh tranh Trong một chừng mực nhất định, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường có khả năng điều tiết cạnh tranh trên thị trường liên quan theo năng lực và nhu cầu của mình Đó được xem là hệ quả của việc nắm giữ mức thị phần lớn Theo hướng tích cực, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường

là người phát động những cuộc chạy đua thu hút khách hàng buộc các doanh nghiệp khác phải tìm ra phương án kinh doanh hiệu quả nhất, cung cấp ra thị trường những sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành thấp, mẫu mã hiện đại Trong trường hợp này, người tiêu dùng là người được hưởng lợi khi có cơ hội tiếp cận với những hàng hóa

giá rẻ và có chất lượng

Tuy nhiên, thực tế đã ghi nhận những trường hợp doanh nghiệp thống lĩnh lạm dụng khả năng chi phối giá cả trên thị trường liên quan để loại bỏ các doanh nghiệp đối thủ, hạn chế cạnh tranh trên thị trường Đó là những hành động như cắt giảm giá thành để đẩy các doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường, duy trì và tạo dựng các rào cản tư nhằm ngăn cản sự gia nhập mới, bán giá cao để bóc lột khách hàng… Trong trường hợp này, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường đã làm giảm, sai lệch và

cản trở cạnh tranh – động lực và nền tảng của sự phát triển kinh tế

1.2 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

1.2.1 Khuynh hướng lạm dụng của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Như đã đề cập, vị trí thống lĩnh thị trường không là đối tượng bị lên án nếu nó

là kết quả của những nỗ lực cạnh tranh lành mạnh Đối tượng mà Pháp luật Cạnh tranh hướng tới là sự lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, gây nguy hại cho môi

12 UNCTAD, tlđd (2), p.48

Trang 16

trường cạnh tranh và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng Phân tích cơ chế định giá của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường so với các doanh nghiệp bình thường sẽ làm rõ được khuynh hướng lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm thu lợi bất chính của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh; trên cơ sở đó lý giải được bản chất của chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường sử dụng để duy trì và củng cố vị thế của mình trên thị trường liên quan

1.2.1.1 Cơ chế định giá của doanh nghiệp

Kinh tế học đã chứng minh rằng, cơ chế định giá của một doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của hai yếu tố: quy luật cung – cầu và chiến lược giá của doanh nghiệp

Quy luật cung – cầu

“Cầu về một loại hàng hóa biểu thị những khối lượng hàng hóa mà người tiêu dùng mong muốn và sẵn sàng mua tương ứng với các mức giá xác định”13 Như vậy, với từng mức giá cụ thể sẽ có một lượng hàng hóa mà người tiêu dùng quyết định mua Cầu thực chất là mối quan hệ giữa các mức giá và lượng hàng hóa mà người tiêu dùng mong muốn và có khả năng chi trả Kinh tế học gọi lượng hàng hóa mà người tiêu dùng sẵn lòng mua ở một mức giá nhất định là lượng cầu hay mức cầu về hàng hóa Người ta dùng biểu đồ sau để mô tả vể mối quan hệ giữa giá cả và lượng

cầu:

Hình 1: Đường cầu về một loại hàng hóa

Tại mức giá P1 lượng cầu là Q1 mức giá P2 lượng cầu là Q2

13 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), Giáo trình Kinh tế vi mô, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.51

Trang 17

Gỉa sử các điều kiện là không thay đổi Hình trên cho ta thấy đường cầu D là một đường thẳng dốc xuống, biểu thị sự phụ thuộc của lượng cầu Q vào mức giá P: khi mức giá P giảm từ P1 xuống P2 thì lượng cầu sẽ tăng từ Q1 lên Q2 Nói cách

khác, lượng cầu về một hàng hóa sẽ tăng khi mức giá của nó giảm xuống và ngược lại Quy luật này được lý giải trên cơ sở Cầu là một đại lượng cho khả năng của người

tiêu dùng Khi giá cả hàng hóa giảm xuống, một cách tương đối giá cả của hàng hóa

đó sẽ giảm so với các hàng hóa khác nên nhu cầu sử dụng hàng hóa đó để thay thế sẽ tăng lên (hiệu ứng thay thế) Mặt khác, giá của hàng hóa giảm nhưng thu nhập của người tiêu dùng không thay đổi nên thu nhập của người tiêu dùng được xác định là tăng so với giá hàng hóa đó, vì vậy mức tiêu thụ hàng hóa đó nhiều hơn (hiệu ứng thu nhập) Ngược lại, khi giá của hàng hóa tăng lên, sẽ là tăng so với thu nhập của người tiêu dùng và tăng so với các hàng hóa tương tự khác, xu hướng chung là lượng cầu của nó sẽ giảm, người tiêu dùng sẽ tìm đến các sản phẩm thay thế

“Cung về một loại hàng hóa cho ta biết số lượng hàng hóa mà nhà sản xuất sẵn sàng cung cấp và bán ra tương ứng với các mức giá khác nhau”14 Gắn với từng mức giá xác định là một lượng hàng hóa mà người bán sẵn lòng cung cấp – kinh tế học gọi đó là lượng cung hay mức cung hàng hóa Thực chất, Cung biểu thị cho mối quan

hệ giữa lượng cung và các mức giá cụ thể Tương tự như Cầu, người ta cũng dùng biểu đồ để biểu thị mối quan hệ giữa hai đại lượng này:

Hình 2: Đường cung về một loại hàng hóa

Với mức giá P1 lượng cung là Q1 mức giá P2 lượng cung là Q2

14 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr 55

Trang 18

Gỉa sử các điều kiện khác được giữ nguyên Lượng cung về một hàng hóa sẽ tăng lên khi mức giá của nó tăng lên và ngược lại Đường cung S là một đường dốc

lên phản ánh sự tăng của lượng cung Q1 lên Q2 tương ứng với mức giá P1 tăng lên P2 Trên phương diện của nhà sản xuất, mục tiêu cuối cùng là thu lợi nhuận Khi mức giá tăng, lợi nhuận của người bán cũng tăng theo và vì thế họ sẽ cung ứng ra thị trường nhiều sản phẩm hơn Mặt khác, lợi nhuận cao sẽ thu hút các nhà đầu tư mới gia nhập thị trường mà ta đang đề cập Ngược lại, nếu giá cả thấp, lợi nhuận ít thì các nhà sản xuất sẽ có xu hướng giảm sản lượng cung ứng

Khái quát từ hai quy luật nói trên, ta đi đến kết luận rằng: xu hướng vận động của người mua và người bán, giữa cung và cầu trên thị trường là trái ngược nhau Với người mua, giá rẻ sẽ mua nhiều, nếu mức giá quá cao sẽ giảm mức hàng hóa mà mình muốn mua Ngược lại, người bán có khuynh hướng tăng sản lượng cung ứng khi giá cao nhằm thu được nhiều lợi nhuận; khi giá thấp sẽ giảm sản lượng Sự tương tác giữa hai lực lượng này làm cho thị trường vận động về trạng thái cân bằng, nơi tổng lượng cung mà nhà sản xuất bán ra bằng tổng lượng cầu của người tiêu dùng Chính

ở đó, hình thành nên mức giá thị trường

Hình 3: Cân bằng cung – cầu trên thị trường

Trên một thị trường có tính cạnh tranh, có nhiều người mua, nhiều người bán, đồng thời không có sự can thiệp của nhà nước, giá cả thị trường sẽ có xu hướng hội

tụ về mức cân bằng – mức giá mà tại đó, lương cầu bằng chính lượng cung 15

15 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr 59

Trang 19

Chiến lược giá của doanh nghiệp

Cơ chế định giá của doanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của quy luật cung – cầu mà còn phụ thuộc vào chiến lược giá của doanh nghiệp trong mỗi thời kỳ nhất định Nếu cung – cầu là các yếu tố thuộc về thị trường thì chiến lược giá lại hình thành trên ý chí chủ quan của doanh nghiệp, trên cơ sở đánh giá chi phí sản xuất và tương quan cạnh tranh trên thị trường

Chi phí sản xuất

Tổng chi phí (Total Cost – TC) để sản xuất một khối lượng hàng hóa nhất định

là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra hay gánh chịu khi sản xuất một số lượng hàng hóa, trong một điều kiện kỹ thuật hay công nghệ nhất định16 Khoản chi phí này thông thường sẽ bao gồm:

1 Nguyên liệu, nhiên liệu

2 Chi trả cho người lao động và các phúc lợi khác

Trong ngắn hạn, tổng chi phí sản xuất sẽ bằng chi phí biến đổi cộng với chi phí

cố định:

TC = VC + FC Trên thực tế khi đề cập đến chi phí sản xuất, người ta luôn nói đến mức chi phí trung bình để tạo ra một đơn vị sản phẩm cụ thể Kinh tế học gọi đây là chi phí bình quân (Average Total Cost) Chi phí bình quân bao gồm chi phí cố định bình quân và chi phí khả biến bình quân hay:

16 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr.139

Trang 20

ATC = AFC + AVC

Tương quan cạnh tranh trên thị trường

Tương quan cạnh tranh trên thị trường là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến chiến lược giá của doanh nghiệp Nó phản ánh mức độ cạnh tranh và giúp doanh nghiệp nhận định được vị trí của mình trong cuộc ganh đua với các đối thủ khác Chính vì vậy, chiến lược giá của mọi doanh nghiệp luôn và phải dựa trên sự phân tích, đánh giá kỹ lưỡng tương quan cạnh tranh trên thị trường

Trên thị trường thiếu vắng cạnh tranh, mức giá mà doanh nghiệp đưa ra sẽ bao gồm chi phí và một khoản lợi nhuận thích hợp Ngược lại, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, chiến lược giá của doanh nghiệp phải vừa đảm bảo lợi nhuận vừa duy trì được vị trí của mình trên thị trường liên quan Doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc một mức giá cạnh tranh được với các đối thủ mà vẫn đảm bảo bù đắp được chi phí sản xuất và có lời Có thể nói, tương quan về cạnh tranh trên thị trường là xuất phát điểm cho những chiến lược giá mà doanh nghiệp xây dựng và thực thi trên thực tế Xu hướng chung của doanh nghiệp khi phải đối mặt với cạnh tranh là bán hàng giá thấp, chấp nhận một mức lợi nhuận ít hơn để bán được sản phẩm Tuy nhiên, sẽ có sự khác biệt giữa hành vi hạ giá của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường và các doanh nghiệp bình thường Tùy vào mong muốn của doanh nghiệp về tương quan cạnh tranh sau khi thực hiện hành vi mà mức giá chỉ dừng lại ở việc gây khó khăn cho đối thủ hay thậm chí là loại bỏ đối thủ ra khỏi thị trường17

1.2.1.2 Bản chất lạm dụng trong hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh

nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường

Sự phân tích ở trên cho thấy dưới sức ép của cạnh tranh, doanh nghiệp muốn tồn tại phải định giá sát với mức cân bằng – là kết quả tương tác giữa tất cả những người bán và người mua trên thị trường Trường hợp doanh nghiệp tăng giá quá cao, người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua của những nhà cung ứng khác với mức giá thấp

hơn Hay nói cách khác, trong điều kiện cạnh tranh, “một đường cầu nằm ngang có tính co giãn hoàn hảo, doanh nghiệp có thể bán tất cả hàng hóa mình muốn với giá thị trường, nhưng nếu nó nâng giá lên cao hơn giá thị trường thì doanh thu sẽ rớt xuống mức số không” 18

17 Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), Pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền để

hạn chế cạnh tranh về giá, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.35

18 E Thomas Sullivan, Jeffrey L.Harrison (2003), Antitrust Economic, Understanding antitrust and its

economic implications, chapter 2

Trang 21

Cơ chế định giá của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường có sự khác biệt cơ bản với các doanh nghiệp bình thường Dưới góc độ kinh tế, khi doanh nghiệp sản xuất

và bán thêm được một đơn vị sản phẩm đầu ra sẽ làm tăng doanh thu, phần tăng lên này được gọi là doanh thu biên Gỉa sử khi bán một lô hàng gồm 10 sản phẩm, doanh nghiệp có thể đặt giá là 10 USD/sản phẩm Tổng doanh thu của lô hàng này là 10 USD/sản phẩm × 10 sản phẩm = 100 USD Trong trường hợp sản xuất thêm một sản phẩm nữa, doanh nghiệp phải đặt giá thấp hơn để đảm bảo sẽ bán hết hàng, cụ thể là 9,5 USD/sản phẩm Khi đó, tổng doanh thu sẽ là 9,5 USD/sản phẩm × 11 sản phẩm

= 104,5 USD Như vậy, doanh thu biên của sản phẩm thứ 11 sẽ là 4,5 USD Có thể thấy, doanh nghiệp phải hạ giá trong trường hợp muốn tăng sản lượng bán ra vì bản chất của đường cung là một đường dốc xuống Qúa một ngưỡng nhất định, khi chi phí biên tăng cùng với đà tăng của sản lượng thì tương ứng doanh thu biên cũng sẽ giảm xuống19 Do đó, doanh nghiệp muốn thu được lợi nhuận cao nhất phải tính toán

mức sản lượng đảm bảo rằng doanh thu biên vẫn tăng

Để xác định chắc chắn mức sản lượng làm tối đa hóa lợi nhuận của mình, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường áp dụng nguyên tắc doanh thu biên bằng chi phí biên20 Với mỗi sản phẩm bán ra, mức gia tăng trong tổng doanh thu từ việc bán một đơn vị hàng hóa lớn hơn mức gia tăng tổng chi phí sản xuất để sản xuất ra đơn vị hàng hóa

đó Trong điều kiện thiếu vắng cạnh tranh, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường hoàn toàn có thể ấn định một mức giá phù hợp với sản lượng làm tối đa lợi nhuận Bởi lẽ, người tiêu dùng bắt buộc phải mua hàng của doanh nghiệp thống lĩnh, ngay cả khi mức giá đó cao hơn so với giá thị trường vì những nhà cung ứng khác không đáp ứng

đủ nhu cầu Bằng việc nắm giữ phần lớn thị phần trên thị trường liên quan, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đã đặt người tiêu dùng vào thế không còn sự lựa chọn nào khác là phải chấp nhận giá mà nó đưa ra, cho dù đó là mức cao không hợp lý Dễ thấy mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thu được sẽ lớn hơn rất nhiều so với những doanh nghiệp bình thường trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo Tuy nhiên, đó là nguồn lợi bất chính, không phải là kết quả của những nỗ lực kinh doanh hợp pháp như cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động mà thông qua việc lợi dụng tình trạng lệ thuộc của khách hàng để áp đặt các điều kiện thương mại không chính đáng Trong kinh doanh, lợi nhuận luôn là đích đến cuối cùng Nhưng việc thu lợi từ khả năng khống chế các yếu tố của thị trường như nguồn cung, vật liệu, giá cả … là những hành động mang đậm tính bóc lột, đi ngược lại với cạnh tranh, gây nguy hại nghiêm trọng cho sự vận động và phát triển của kinh tế thị trường Đó

19 Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tlđd (13), tr.161

20 Phạm Hoài Huấn, Nhữ Ngọc Tiến (2013), tlđd (17), tr.38

Trang 22

là những hành vi không bao giờ được thừa nhận và cần thiết phải được xóa bỏ để bảo

vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh

Những lợi ích to lớn mà vị trí thống lĩnh thị trường đem lại khiến doanh nghiệp thống lĩnh luôn có ý thức củng cố và duy trì vị thế của mình trên thị trường liên quan trước những đối thủ đang hiện hữu cũng như những doanh nghiệp có ý định gia nhập thị trường Khoản lợi nhuận siêu ngạch từ việc bán hàng giá cao không chỉ khiến các doanh nghiệp khác nâng mức sản lượng mà còn thôi thúc sự tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới Nếu không có những chiến lược loại bỏ và/hoặc ngăn cản gia nhập, khi mức độ tập trung cao của thị trường không còn, doanh nghiệp thống lĩnh sẽ phải đối mặt với cạnh tranh và không thể áp dụng các điều kiện thương mại mang tính bóc lột để thu lợi bất chính từ khách hàng được nữa Một cách khái quát, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh có những

2 Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

có thể không mang lại lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Thật vậy, cấu thành của một hành vi hủy diệt luôn đòi hỏi hai yếu tố: (1) sự

hi sinh những lợi ích ngắn hạn trong hiện tại và (2) khả năng bù đắp trong tương lai Khi thực hiện chiến lược loại bỏ, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường cũng phải gánh chịu những thiệt hại nhất định – chẳng hạn kinh doanh không có lời vì hành vi định giá thấp hơn chi phí Song, doanh nghiệp xem đó là một khoản đầu tư cho việc thu lợi nhuận độc quyền dài hạn sau này Một chiến lược loại bỏ với động lực duy trì, củng cố thế chủ đạo trên thị trường, thậm chí là để vươn đến vị trí độc quyền đòi hỏi

sự hi sinh trong ngắn hạn với hứa hẹn về mức lợi nhuận siêu ngạch trong tương lai sau khi cấu trúc thị trường được tái thiết Trong khoảng thời gian chiến lược được thực hiện, người tiêu dùng chính là chủ thể hưởng lợi duy nhất khi có cơ hội mua hàng hóa, được cung ứng dịch vụ với giá rẻ Nhưng sau khi việc loại bỏ đã thành công, doanh nghiệp quay trở lại bóc lột những giá trị thặng dư mà người tiêu dùng đáng ra được hưởng để bù đắp những mất mát mà nó đã hi sinh trước đó

Trang 23

1.2.2 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh

Một chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh cần có những điều kiện tiền đề sau:

1 Đối tượng của chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh phải là những doanh nghiệp có năng lực yếu hoặc chi phí sản xuất cao Do đó, họ rất nhạy cảm

với những tác động tiêu cực của cạnh tranh và dễ dàng bị doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thao túng Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, một hành động hủy diệt có thể là bất khả thi nếu những nạn nhân của nó dựa vào tiềm lực tài chính để thoát khỏi cắt giảm giá21

2 Cấu trúc thị trường sau khi thực hiện chiến lược loại bỏ phải được tái thiết theo hướng mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường đã dự trù trước Bằng

việc hủy diệt các đối thủ cạnh tranh, thị phần của doanh nghiệp sẽ tăng lên

và sức mạnh thị trường cũng theo đó mà trở nên lớn mạnh, một thị trường

có tính tập trung cao độ sẽ dễ bị chi phối hơn

3 Lợi nhuận độc quyền khi thị trường được tái cấu trúc phải lớn hơn những lợi ích hiện tại mà doanh nghiệp đã hi sinh để thực hiện chiến lược loại

bỏ Như đã trình bày, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thực hiện chiến

lược loại bỏ các đối thủ cạnh tranh với mong muốn sẽ thu được lợi nhuận độc quyền trong tương lai Mức lợi nhuận ấy, phải cao hơn rất nhiều so với những gì họ đã mất đi thì chiến lược loại bỏ mới có ý nghĩa

Một cách khái quát, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để loại bỏ đối thủ cạnh tranh luôn là sự kết hợp chặt chẽ hai chiến lược:

- Chiến lược giá

- Tạo nên các rào càn tư để duy trì sức mạnh thị trường

1.2.2.1 Hành vi định giá hủy diệt (Predatory Pricing)

Dạng phổ biến của chiến lược loại bỏ đối thủ cạnh tranh là định giá hủy diệt

Luật Mẫu về Cạnh tranh của UNCTAD xác định “hành động nhằm hủy diệt đối thủ cạnh tranh, chẳng hạn định giá dưới mức chi phí sản xuất để buộc các doanh nghiệp đối thủ phải rời khỏi thị trường là hành vi nhằm duy trì và củng cố vị trí thống lĩnh thị trường”22 Cùng quan điểm này, OECD cho rằng “định giá hủy diệt là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, áp đặt mức giá thấp đủ để buộc các đối thủ cạnh tranh phải rời bỏ thị trường và/hoặc ngăn cản sự gia nhập của các đối

21 OECD, Predatory Pricing, p.7

22 UNCTAD, tlđd (2), p.39

Trang 24

thủ cạnh tranh mới”23 Đối với Hoa Kỳ, hành vi nhằm duy trì và củng cố thế độc

quyền vi phạm Điều 2 Luật Sherman đòi hỏi ba yếu tố: “(1) hành động hạn chế cạnh tranh,; (2) mục tiêu nhằm kiểm soát giá cả và hủy diệt đối thủ và (3) hậu quả nguy hiểm chắc chắn xảy ra nếu hành vi thành công” 24 Tóm lại, định giá hủy diệt được xác định là hành vi của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường định giá ở mức thấp, nhằm mục đích loại bỏ đối thủ cạnh tranh khỏi thị trường liên quan Những tổn thất từ việc hạ giá sẽ được bù đắp trong tương lai, khi cấu trúc thị trường được tái thiết theo mong muốn của doanh nghiệp

Có hai vấn đề cần phân tích khi có nghi vấn về một chiến lược giá nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp thống lĩnh thị trường: (1) mức giá mang tính hủy diệt và (2) khả năng bù đắp những thiệt hại trong tương lai

Xác định mức giá mang tính hủy diệt

Khi xem xét nghi vấn định giá hủy diệt, người ta làm phép so sánh giữa giá bán của doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường với chi phí sản xuất Khái niệm cơ bản của hầu hết các quốc gia và tổ chức kinh tế về định giá hủy diệt là hành vi định giá thấp hơn chi phí Dưới góc độ kinh tế, chi phí sản xuất một đơn vị sản lượng hay tổng chi phí (ATC) được cấu thành từ chi phí cố định bình quân (AFC) và chi phí khả biến bình quân (AVC) Ngoài ra, phần chi phí tăng lên nếu doanh nghiệp sản xuất thêm một đơn vị sản lượng được gọi là chi phí biên (Marginal Cost – MC) Vấn đề đặt ra là mức chuẩn chi phí nào trong các loại trên là ranh giới giữa mức giá cạnh tranh và giá hủy diệt là hợp lý

Hoa Kỳ sử dụng chi phí khả biến bình quân làm mức chuẩn chi phí để xác định

định giá hủy diệt Trong vụ việc Brook Group25, phán quyết của Tòa án Tối cao Hoa

Kỳ đòi hỏi một trong hai điều kiện tiên quyết để có hành vi định giá hủy diệt là “mức giá bị khiếu nại phải thấp hơn một mức chuẩn hợp lý về chi phí trong ngắn hạn của

bị đơn” Phán quyết này được đưa ra trên cơ sở phép kiểm tra Gía và Chi phí do hai giáo sư Areeda và Turner đề xuất Cụ thể, “một mức giá thấp hơn chi phí khả biến bình quân là giá hủy diệt, còn mức giá cao hơn chi phí khả biến bình quân đó thì không phải là giá hủy diệt”26 Cùng quan điểm với Hoa Kỳ, EU cũng sử dụng chi phí khả biến bình quân làm ranh giới giữa giá cạnh tranh và giá hủy diệt Trong vụ Azko

23 OECD, tlđd (21), p.8

24 OECD, tlđd (21), p.41

25 Brook Group Ltd v Brown & Williamson Tobacco Corp., 509 U.S (1993)

26 Areeda Phillip & Turner, Donald, Predatory Pricing and Related Practices Under Section 2 of Sherman Act, (1975) 88 Harv LR 697

Trang 25

v Commission27, Tòa án Tư pháp EU giải thích cho việc sử dụng chi phí khả biến

bình quân: “một doanh nghiệp thống lĩnh thị trường không được lợi ích gì khi áp dụng mức giá đó ngoại trừ việc tiêu diệt đối thủ cạnh tranh để có thể sau đó tăng giá khai thác lợi thế của vị trí độc quyền” Tuy nhiên cũng theo EU, một mức giá cao hơn chi

phí khả biến bình quân nhưng thấp hơn giá thành toàn bộ vẫn có thể bị xem là định giá hủy diệt nhưng đòi hỏi thêm các chứng cứ về mục đích hủy diệt đối thủ28 Phán quyết của Tòa án Tối cao EU trong vụ Tetra Pak29 khẳng định rằng “một mức giá thấp hơn giá thành toàn bộ nhưng cao hơn chi phí khả biến bình quân phải bị xem là định giá lạm dụng nếu xác định được đó là một phần của kế hoạch tiêu diệt đối thủ Mức giá đó có thể đẩy ra khỏi thị trường những doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế tương đương doanh nghiệp thống lĩnh nhưng vì nguồn lực tài chính nhỏ hơn nên không thể chống cự lại một cuộc cắt giảm giá nhằm chống lại họ” Như vậy, hầu hết các quan điểm đều thống nhất rằng nếu mức giá bán bị khiếu nại của doanh nghiệp

có quyền lực thị trường thấp hơn chi phí biến đổi bình quân thì hành vi đó được xem

là định giá hủy diệt Dưới góc độ kinh tế, việc sử dụng chi phí khả biến bình quân làm mức chuẩn là hợp lý, bởi lẽ chi phí biến đổi bình quân là mức chi phí thực tế thấp nhất mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất hàng hóa Với mức giá thấp hơn so với chi phí khả biến bình quân, rõ ràng là doanh nghiệp không thể thu được lợi nhuận và

sẽ là hợp lý khi lý giải cho hành động này bằng một âm mưu loại bỏ đối thủ nhằm độc chiếm thị trường liên quan

Trong thực tế, việc doanh nghiệp định giá thấp để tăng doanh số bán hàng, tiêu thụ sản phẩm tồn kho, vì tính toán sai sản lượng là không hiếm thấy Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia đều thừa nhận một mức giá thấp gây lỗ nhưng có lý do chính đáng là một hành động không vi phạm luật Cạnh tranh Như Tòa án Tối cao Hoa Kỳ

nhấn mạnh rằng “cần thiết phải phân biệt hành vi giảm giá cạnh tranh và hành vi định giá hủy diệt bởi vì hành vi giảm giá nhằm tăng doanh số bán hàng là một hành

vi có tác động thúc đẩy cạnh tranh” 30 Ở nhiều nước, người ta thậm chí còn cho rằng một mức giá chỉ bị xem là định giá hủy diệt khi nó thấp hơn chi phí biên Bởi lẽ, mức

giá này sẽ khiến doanh nghiệp chịu lỗ khi bán thêm một đơn vị sản phẩm Chi phí biên theo kinh tế học tương đương với giá trị tài sản cố định (FC) mà doanh nghiệp

27 EU Law – text, Case & Material – third Edition – Paul Craig, Grainee de Burca – Oxford – Case C – 62/86, Azko Chemie, BV v Commission (1991) ECRI 3359

28 Trần Hoàng Nga (2011), Pháp luật chống định giá lạm dụng theo Pháp luật EU, Hoa Kỳ, Việt Nam – So

sánh và áp dụng kinh nghiệm thực tiễn cho Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Luật Học, tr.99

29 Tetra Pak SA v Commission (1996) C-333/94P

30 UNCTAD, tlđd (2), p.14

Trang 26

bỏ ra để sản xuất sản phẩm Sản lượng càng lớn, chi phí biên càng giảm, chứng tỏ việc khai thác tối đa tài sản cố định Một mức giá thấp hơn chi phí biên thậm chí khiến doanh nghiệp không thể bù đắp chi phí cố định và chịu lỗ nghiêm trọng Nếu bán hàng thấp hơn chi phí khả biến bình quân có thể là hợp lý vì doanh nghiệp muốn bán được hàng do kinh doanh khó khăn thì không có lý giải nào thật sự phù hợp cho một mức giá thấp hơn chi phí biên Tuy nhiên, việc xác định chi phí biên có thể không

dễ dàng nên trong những trường hợp như vậy, nó được giả sử bằng với chi phí khả biến bình quân Cách xác định này có thể làm nảy sinh hạn chế trong trường hợp thiết

bị hoạt động không hết công suất Khi đó chi phí khả biến bình quân sẽ cao hơn chi phí biên nhưng doanh nghiệp chỉ bị kết luận có hành vi định giá hủy diệt nếu giá của

nó tương đương với chi phí biên Trong nhiều trường hợp, việc đặt giá thấp hơn chi phí biên của đối thủ được xem là định giá loại bỏ, nhưng nếu doanh nghiệp định giá thấp hơn chi phí biên của mình thì lại không bị xem là có hành vi hủy diệt31

Như vậy, tùy thuộc vào quan điểm lập pháp và đặc thù của chế độ kinh tế, mỗi quốc gia sẽ có mức chuẩn chi phí khác nhau để nhận dạng định giá hủy diệt Trên cơ

sở đó cùng với việc phân tích mục đích loại bỏ đối thủ của doanh nghiệp, cơ quan quản lý cạnh tranh sẽ đưa ra phán quyết về một mức giá có mang tính hủy diệt hay không Cần lưu ý là việc phân tích này còn dựa trên cơ sở của việc xem xét cấu trúc thị trường cùng những yếu tố khách quan và chủ quan có khả năng tác động đến việc định giá của doanh nghiệp như doanh nghiệp thực hiện hành vi có hoạt động trên nhiều khu vực thị trường hay không, khả năng gia nhập thị trường, tính thuần nhất của sản phẩm, số lượng khách hàng32…

Các học thuyết về định giá hủy diệt luôn xác định hành vi định giá thấp để loại

bỏ đối thủ cạnh tranh là một chiến lược ngắn hạn Điều này hoàn toàn hợp logic kinh

tế bởi việc bán hàng thấp hơn chi phí biến đổi bình quân hay thấp hơn chi phí biên không chỉ gây hại cho đối thủ mà bản thân doanh nghiệp thực hiện cũng phải gánh chịu những tổn thất nặng nề Mặc dù doanh nghiệp xem đó là một khoản đầu tư để thu lợi nhuận siêu ngạch trong tương lai nhưng cũng thật vô lý nếu một chiến lược hủy diệt kéo dài quá lâu Bên cạnh đó, khoản lợi nhuận thu được sau khi loại bỏ thành công phải lớn hơn rất nhiều so với những thiệt hại mà doanh nghiệp đã bỏ ra thì hành

vi hủy diệt mới là hợp lý Nhiều quan điểm cũng thống nhất rằng doanh nghiệp thực hiện định giá loại bỏ phải có sức sống dai dẳng hơn so với các nạn nhân của nó, nhờ

31 OECD, tlđd (21), p.78

32 OECD, tlđd (21), p.21

Trang 27

vào dự trữ tiền mặt, tài chính tốt hoặc trợ cấp chéo từ các thị trường hoặc các sản phẩm khác của nó

Tính hợp lý của việc bù đắp những thiệt hại trong tương lai

Một mức giá thấp luôn mang lại lợi ích cho khách hàng, dù rằng nó chứa đựng khả năng triệt tiêu cạnh tranh trên thị trường Định giá hủy diệt bị lên án không phải

vì việc bán hàng giá thấp mà ở khả năng tăng giá nhằm bóc lột khách hàng sau khi chiến lược loại bỏ thành công Do đó, khả năng tăng giá trong tương lai là điểm mấu chốt để phân biệt giữa hành vi giảm giá cạnh tranh và định giá hủy diệt

Hầu hết các Tòa án đều đồng ý rằng hành vi định giá hủy diệt là hiện hữu nếu như giá thành sản phẩm được bán thấp hơn chi phí biến đổi bình quân Bên cạnh đó, Pháp luật Cạnh tranh của nhiều quốc gia còn yêu cầu chứng minh tính nguy hại của hành vi bằng khả năng tăng giá trong tương lai để bù đắp những tổn thất của định giá hủy diệt Như Hoa Kỳ trong vụ án Brook Group, Tòa án Tối cao đòi hỏi hai yếu tố

tiên quyết khi xác định hành vi định giá hủy diệt: “(1) mức giá bị khiếu nại phải thấp hơn một mức chuẩn hợp lý về chi phí trong ngắn hạn của bị đơn và (2) doanh nghiệp

có khả năng nguy hiểm sẽ thu bù những khoản đầu tư vào việc định giá thấp hơn chi phí” Như vậy, ngoài việc kiểm tra mức giá gây lỗ mà doanh nghiệp ấn định thấp hơn

so với mức chuẩn chi phí, Luật Chống độc quyền của Mỹ còn đòi hỏi một sự kiểm tra quan trọng hơn – xác định tính hợp lý của hành vi dựa trên khả năng thu bù lỗ trong tương lai Xét về mặt logic hành động, doanh nghiệp chấp nhận những thiệt hại trong ngắn hạn phải vì một lợi ích nhất định, khoản lợi này chắc chắn sẽ lớn hơn so với những gì nó đã mất trước đó thì sự hi sinh này mới có ý nghĩa Theo quan điểm

của Tòa Tối cao Hoa Kỳ trong án lệ Brook Group, “đánh giá khả năng thu bù đòi hỏi phải ước tính được chi phí của doanh nghiệp bị cho là định giá hủy diệt và một sự phân tích cặn kẽ về âm mưu mà nguyên đơn đã viện dẫn lẫn cấu trúc và các điều kiện của thị trường liên quan” Việc xác định tính hợp lý của khả năng thu bù lỗ còn có ý

nghĩa trong việc phân biệt giữa giảm giá nhằm cạnh tranh và định giá hủy diệt vì theo

Hoa Kỳ, “điều quan trọng là phân biệt ủng hộ cạnh tranh cắt giảm giá và chống cạnh tranh bán phá giá bởi vì thường xuyên cắt giảm giá để tăng cường hoạt động kinh doanh là bản chất của cạnh tranh” 33

EU và nhiều nước, như Australia có quan điểm khác Điều 46 Luật Thương mại

Australia 1974 quy định: “Nếu doanh nghiệp bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn chi phí liên quan của doanh nghiệp trong việc bán hàng hóa, cung

33 Matsushita Elec Indus Co v Zenith Radio Corp., 475 U.S 574, 594 (1986)

Trang 28

ứng dịch vụ thì hành vi đó bị coi là định giá hủy diệt, bất kể là doanh nghiệp có thu hồi được những lợi ích mà nó đã hi sinh xuất phát từ hành vi giảm giá hay không” Quan điểm của Tòa án Tối cao EU trong vụ Tetra Pak cũng tương tự: “việc yêu cầu chứng cứ chứng minh khả năng thu bù lỗ là không phù hợp Cần phải trừng phạt hành vi định giá hủy diệt bất cứ khi nào có nguy cơ những đối thủ cạnh tranh sẽ bị tiêu diệt” Theo đó, việc chứng minh khả năng thu bù những thiệt hại không có ý

nghĩa tiên quyết để xác định hành vi định giá hủy diệt Chỉ cần doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường ấn định mức giá thấp dưới chi phí khả biến bình quân là đã đủ

cơ sở để kết luận về một chiến lược giá nhằm vào các đối thủ cạnh tranh Khả năng thu bù lỗ không được xem là yếu tố quyết định, mà chỉ được đề cập như một trong những căn cứ bổ sung để làm rõ hành vi hủy diệt đối thủ cạnh tranh bằng chính sách giá Như vậy, pháp luật EU chỉ cần doanh nghiệp thống lĩnh thị trường thiết lập một mức giá thấp hơn chi phí khả biến bình quân, và có cơ sở để tin rằng mức giá đó đủ

để đẩy ra khỏi thị trường những doanh nghiệp có hiệu quả ngang bằng với doanh nghiệp thống lĩnh thì nó được xác định là hành vi nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh khỏi thị trường liên quan

1.2.2.2 Chèn ép lợi nhuận (Margin Squeeze)

Trong thực tế không hiếm những doanh nghiệp hoạt động trên hai khu vực thị trường, vừa là nhà phân phối chủ yếu ở thị trường sơ cấp, vừa tham gia bán lẻ ở thị trường thứ cấp Những doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc như vậy thường bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho các đối thủ cạnh tranh ở thị trường thứ cấp với mức giá cao, trong khi ấn định giá bán lẻ thấp cho các sản phẩm đầu ra, làm cho các đối thủ cạnh tranh bị ép giữa giá phân phối và giá bán lẻ của sản phẩm mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường cung ứng Một dạng khác của ép giá là doanh nghiệp ấn định mức giá phân phối bằng nhau giữa các nhà bán lẻ - bao gồm cho cả bộ phận nội bộ của mình, nhưng định giá sản phẩm đầu ra rất thấp trên cơ sở lấy lợi nhuận từ cung ứng sản phẩm đầu vào để bù đắp

“Chèn ép lợi nhuận xảy ra khi có một biên độ hẹp giữa giá bán vật tư thiết yếu

mà nhà cung ứng tích hợp bán cho đối thủ cạnh tranh và giá bán của nó ở thị trường thứ cấp khiến cho các đối thủ cạnh tranh không thể tồn tại hoặc cạnh tranh hiệu quả Chèn ép lợi nhuận chỉ có thể phát sinh khi (1) một doanh nghiệp ở thị trường sơ cấp

là nhà sản xuất các sản phẩm đầu vào không thể thay thế; (2) doanh nghiệp là nhà cung ứng đầu vào cho một hoặc nhiều doanh nghiệp ở thị trường thứ cấp; và (3) doanh nghiệp cung ứng cũng cạnh tranh với các doanh nghiệp này ở thị trường thứ

Trang 29

cấp” 34 Tóm lại, khi phân tích một hành vi chèn ép lợi nhuận cần lưu ý những đặc điểm nổi bật sau:

1 Chủ thể thực hiện chèn ép lợi nhuận phải là một doanh nghiệp có phạm vi hoạt động rộng, trên cả hai khu vực thị trường Theo đó, nó vừa là nhà cung ứng chủ yếu những nguyên liệu đầu vào cho sản xuất ở phân khúc thứ cấp, vừa tham gia bán lẻ trên thị trường này Nguyên liệu đầu vào mà doanh nghiệp đó cung ứng phải là vật tư không thể thay thế cho sản xuất sản phẩm đầu ra

2 Doanh nghiệp phải có vị trí thống lĩnh trên thị trường sơ cấp Không chỉ có phạm vi hoạt động rộng trên nhiều thị trường, doanh nghiệp còn phải là nhà cung ứng chủ yếu nguồn vật tư không thể thay thế cho sản xuất sản phẩm đầu ra thì mới có khả năng chèn ép lợi nhuận của các đối thủ ở thị trường thứ cấp Mặt khác, đặc điểm này cũng lý giải nguyên nhân của hành

vi chèn ép lợi nhuận Vì có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ cung ứng, thiết đặt mức giá …theo quy định của pháp luật chống lạm dụng trên phân khúc sơ cấp Nói cách khác, nó không thể tối đa lợi nhuận trên thị trường này Nhưng ở thị trường đầu ra, doanh nghiệp không hoặc chịu rất ít những ràng buộc tương tự Trong trường hợp đó, thực hiện hành vi chèn ép lợi nhuận là một chiến lược có lợi nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, và vì vậy mà tăng lợi nhuận thu được từ thị trường thứ cấp ít chịu sự ràng buộc

3 Mục đích của hành vi nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khỏi thị trường bán lẻ, chiếm lĩnh phần lớn thị phần nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch trên thị trường này Nói cách khác, hành vi loại bỏ đối thủ cạnh tranh diễn

ra trên thị trường thứ cấp Thông qua việc đặt giá bán nguyên liệu ở mức cao, doanh nghiệp khiến các đối thủ lâm vào tình thế hoặc phải hạ giá bán

lẻ, chấp nhận chịu lỗ để giữ chân khách hàng hoặc phải giảm sản lượng và

từ đó, chiếm đoạt thị phần của họ Bản chất của ép giá thực tế là chèn ép biên lợi nhuận của các đối thủ - thông qua việc tăng chi phí sản xuất khiến

họ phải giảm sản lượng, từ đó dần loại họ ra khỏi thị trường do lợi nhuận giảm sút

Dạng tồn tại phổ biến của chèn ép lợi nhuận là làm tăng chi phí của đối thủ (Rising Rivals costs) Một doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc là nhà cung ứng sản phẩm đầu vào không thể thay thế, đồng thời cũng tham gia cạnh tranh trên thị trường

34 OECD, Margin Squeeze, Excutive Summary, p.7

Trang 30

bán lẻ có thể ấn định mức giá cao cho các nguyên liệu thiết yếu làm tăng chi phí sản xuất của các đối thủ cạnh tranh ở phân khúc thứ cấp, đồng thời áp dụng giá bán lẻ thật thấp cho các sản phẩm đầu ra của mình Các doanh nghiệp đối thủ muốn cạnh tranh thì phải định giá bán lẻ tương đương và như thế thì biên lợi nhuận của họ bị chèn ép giữa giá phân phối và giá bán lẻ của doanh nghiệp thực hiện hành vi nên không có lời; ngược lại, nếu các doanh nghiệp này áp dụng mức giá cao hơn để bù đắp chi phí sản xuất thì khách hàng sẽ không lựa chọn sản phẩm của họ Như vậy, dù hành động theo hướng nào thì các doanh nghiệp này vẫn không thể thu được lợi nhuận

và trong dài hạn phải rút lui khỏi thị trường vì thua lỗ

“Hành động làm tăng chi phí của đối thủ có thể ít tốn kém hơn so với định giá hủy diệt như một công cụ để loại bỏ đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường, bởi nó không đòi hỏi những thiệt hại trực tiếp cho lợi nhuận của doanh nghiệp thống lĩnh” 35

Cụ thể là khi thực hiện hành vi, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường không phải hi sinh lợi nhuận của mình để loại bỏ đối thủ cạnh tranh ở thị trường thứ cấp Những thiệt hại từ việc bán lẻ giá thấp sẽ được bù đắp bởi lợi nhuận từ mức giá cao khi doanh nghiệp bán nguyên liệu đầu vào cho các đối thủ cạnh tranh Do đó, sẽ là vướng mắc cho một số quốc gia áp dụng các quy định chống định giá hủy diệt để xử lý vi phạm

về chèn ép lợi nhuận Vấn đề càng phức tạp hơn khi doanh nghiệp định giá bán ở đầu vào cao làm tăng chi phí của đối thủ, trong khi đặt giá bán lẻ ở thị trường thứ cấp ở

mức đủ để bù đắp các chi phí của nó Trong trường hợp này, điều kiện “mức giá bị khiếu nại là giá thấp hơn chi phí khả biến bình quân” không thỏa mãn nên không thể

áp dụng các quy định chống định giá hủy diệt để điều chỉnh Uỷ ban Châu Âu cho

rằng: “Trong khi định gía hủy diệt đòi hỏi doanh nghiệp phải có thiệt hại ở hiện tại, cái mà sẽ được bù đắp sau này; điều tương tự không đúng với chèn ép lợi nhuận Chèn ép lợi nhuận thực chất là một chiến lược có lợi cho doanh nghiệp thống lĩnh thị trường ngay trong thời gian nó thực hiện…” 36 Điều đó cũng lý giải vì sao Hoa Kỳ

chỉ xử lý chèn ép lợi nhuận trong trường hợp mức giá mà doanh nghiệp thống lĩnh thị trường tích hợp theo chiều dọc ấn định thấp hơn mức chuẩn chi phí để xác định “định giá hủy diệt” Hay nói các khác, theo Luật Sherman và các Án lệ của Hoa Kỳ, doanh nghiệp không có nghĩa vụ phải bán hàng ở mức giá có lợi cho đối thủ Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với thực tế thị trường và thậm chí có tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp cải tiến sản xuất, nâng cao năng lực của mình để giành được ưu thế cạnh tranh

35 OECD, A Framework for design and implementation of competition law and policy, Rising rivals costs, p.78

36 OECD, tlđd (34), p.9

Trang 31

Dạng thứ hai của chèn ép lợi nhuận mà các doanh nghiệp hay sử dụng để loại

bỏ các đối thủ cạnh tranh là từ chối giao dịch (Refusal to deal) Theo đó, doanh nghiệp nắm giữ sản phẩm đầu vào thiết yếu sẽ thiết lập một mức giá cao – như một cách ngầm từ chối cung ứng vật tư cho hoạt động sản xuất của đối thủ cạnh tranh ở thị trường bán lẻ; hoặc chỉ cung ứng độc quyền các sản phẩm đó cho các công ty con của mình nhằm đẩy các đối thủ vào thế bất lợi Các lý thuyết kinh tế về chèn ép lợi nhuận đặc biệt nhấn mạnh đến trường hợp doanh nghiệp sản xuất thực hiện việc mua lại nhà cung ứng – chủ thể vừa cung ứng vật tư cho nó và các đối thủ cạnh tranh của nó (vertical foreclosure) nhằm giảm giá mua vật liệu cho hoạt động sản xuất, đồng thời cũng làm tăng chi phí và giảm sản lượng của các đối thủ cạnh tranh như một chiến lược loại bỏ để tạo thế độc quyền trên thị trường đầu ra Khi đã nắm giữ nguồn cung

về vật tư thiết yếu cho sản xuất, việc từ chối cung ứng của doanh nghiệp không chỉ làm các đối thủ cạnh tranh trực tiếp phải rút lui khỏi thị trường mà nó còn tạo nên rào cản ngăn chặn sự gia nhập của các doanh nghiệp mới Một ví dụ điển hình cho trường hợp này là trong ngành công nghiệp ô tô của Nhật Bản, công ty GM là nhà sản xuất

xe ô tô và có xu hướng mở rộng theo chiều dọc, nó đã mua lại hoặc tìm cách sáp nhập các nhà cung ứng những linh kiện quy chuẩn – nguồn vật tư không thể thiếu cho việc sản xuất các dòng xe khác nhau, thành các công ty con của mình Với cách làm này,

GM không chỉ làm giảm chi phí sản xuất của mình mà còn đe dọa đến các nhà sản xuất khác (như Toyota, Mitsubishi v.v…) khi không cho các công ty con cung ứng các linh kiện, thiết bị hoặc chấp nhận cung ứng nhưng ở mức giá cao – qua đó làm đối thủ cạnh tranh bị giảm sản lượng và lợi nhuận37

Trong một số trường hợp, những hành vi có cấu thành tương tự chèn ép lợi nhuận có tác động tích cực trong việc thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường Một doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc có thể hạn chế các rào cản xã hội, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh về công nghệ v.v…Việc định giá bán lẻ thấp tạm thời có thể kích thích sức hút của các sản phẩm mới hoặc sản phẩm sáng tạo khi mà khách hàng không biết giá trị của nó trước khi dùng thử Nếu bắt buộc các doanh nghiệp ở thị trường thứ cấp tăng giá có thể làm tăng giá bán lẻ cho khách hàng và người tiêu dùng và từ bỏ những

lợi ích mà liên kết dọc đem lại Cơ quan quản lý cạnh tranh của Hà Lan cho rằng:

“một liên kết dọc giữa nhà sản xuất và nhà cung ứng có thể làm tăng hiệu quả của quy mô và sức mạnh tổng hợp Hiệu quả này làm tăng phúc lợi cho người tiêu dùng

và không có nguy cơ dẫn đến một trường hợp lạm dụng vị trí thống lĩnh” 38

37 Chèn ép trong KD: http://lythuyettrochoi.wikispaces.com/Ch4.+Ch%C3%A8n+%C3%A9p+trong+kinh+doanh, truy cập ngày 15/5/2015

38 OECD, tlđd (34), p.8

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w